Tuy nhiên sau nhiều năm, trước đòi hỏi của sự phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ mới, các quy định của pháp luật về thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp đã có những chuyển biến và th
Trang 1ĐINH THU TRANG
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THOÁI VỐN NHÀ NƯỚC TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ VÀ KINH DOANH
VỐN NHÀ NƯỚC (SCIC)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60380107
Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Đặng Hải Yến
HÀ NỘI - 2017
Trang 2Tôi xin cam đoan đâylà công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn trung thực, có nguồn gốc rõ rang, được trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này
Tác giả luận văn
Đinh Thu Trang
Trang 3Chương 1 9 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THOÁI VỐN NHÀ NƯỚC TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG THOÁI VỐN NHÀ NƯỚC TẠI CÁC DOANH NGHIỆP 9 1.1 Khái quát về thoái vốn nhà nước tại các doanh 9 1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của vốn nhà nước tại doanh nghiệp 9 1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp 12 1.1.3 Mục đích của thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp 15 1.2 Khái quát pháp luật điều chỉnh hoạt động thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp 17 1.2.1 Khái niệm pháp luật điều chỉnh hoạt động thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp 17 1.2.2 Các bộ phận cấu thành của pháp luật điều chỉnh hoạt động thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp 18 Chương 2 23 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG THOÁI VỐN NHÀ NƯỚC TẠI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN NHÀ NƯỚC CỦA TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ VÀ KINH DOANH VỐN NHÀ NƯỚC (SCIC)
VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TẠI TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ
VÀ KINH DOANH VỐN NHÀ NƯỚC (SCIC) 23 2.1 Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp có vốn nhà nước của Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) 23 2.1.1 Khái quát hệ thống pháp lý đặc thù điều chỉnh hoạt động thoái vốn nhà nước tại SCIC 23 2.1.2 Quy định về nguyên tắc thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp 24 2.1.3 Quy định về thẩm quyền quyết định thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp 27
Trang 42.1.6 Quy định về thanh tra, kiểm tra hoạt động thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp 33 2.2.Thực tiễn áp dụng pháp luật về thoái vốn nhà nước tại Tổng công ty đầu
tư và kinh doanh vốn nhà nước SCIC 34 2.2.1 Khái quát về Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước 34 2.2.2 Những thuận lợi và khó khăn trong áp dụng pháp luật điều chỉnh hoạt động thoái vốn nhà nước tại SCIC 38 Chương 3 51
KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNHHOẠT ĐỘNG THOÁI VỐN NHÀ NƯỚC TẠI CÁC DOANH NGHIỆP 51 3.1 Yêu cầu cơ bản đối với pháp luật điều chỉnh hoạt động thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp 51 3.2 Sự cần thiết của việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp 52 3.3 Những đề xuất cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp 54 PHẦN KẾT LUẬN 59 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trước yêu cầu phát triển của nền kinh tế - xã hội giai đoạn hiện nay, đặc biệt là các tác động của nền kinh tế thế giới với nền kinh tế nước nhà, nhiệm vụ đổi mới và sắp xếp các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) để phù hợp với nền kinh tế thị trường – định hướng xã hội chủ nghĩa là một trong những ưu tiên hàng đầu của Chính phủ Việt Nam
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 tái khẳng định nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo Để khắc phục các hạn chế còn tồn đọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của loại hình doanh nghiệp này, phát huy tiềm lực cũng như vận dụng các tiến bộ của khoa học, kỹ thuật, kinh tế vào chính hoạt động sản xuất kinhg doanh của các DNNN, thoái vốn được xác định là giải pháp tối ưu nhất trong giai đoạn hiện nay
Pháp luật Việt Nam về thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp hình thành và phát triển cùng với đòi hỏi phải bán vốn loại hình DNNN ngay từ những ngày đầu thực hiện cải cách nền kinh tế những năm 1986 Qua hơn 30 năm, pháp luật về thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp đã có nhiều thay đổi để đáp ứng các yêu cầu của tình hình mới Tuy nhiên, cho đến nay, các quy định của pháp luật về thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp vẫn chưa khắc phục được những bất cập còn tồn đọng và vẫn còn những khó khăn trong quá trình thoái vốn, khiến quá trình này diễn ra còn chậm, chưa đảm bảo tiến độ cũng như kết quả mà Đảng và Nhà nước đề ra
Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) được thành lập theo Quyết định số 151/2005/QĐ-TTg ngày 20/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ (sau đây gọi là Quyết định số 151/2005/QĐ-TTg) Với chức năng quản lý, đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước, sự ra đời của SCIC nằm trong
Trang 7tiến trình cải cách kinh tế nói chung và cải cách doanh nghiệp nhà nước nói riêng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhà nước Một trong những nhiệm vụ quan trọng mà SCIC được giao phó đó là thực hiện việc thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp Với tư cách là một chủ thể đặc biệt, hoạt động thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp do SCIC thực hiện thời gian qua đã đạt được những kết quả tích cực Thông qua SCIC, thông qua thoái vốn, các doanh nghiệp đã được cải tổ, từ đó nâng cao giá trị doanh nghiệp mình, tiền thu được từ thoái vốn cũng theo đó mà tăng lên Tuy nhiên, việc thoái vốn vẫn tồn tại một số những hạn chế, như việc SCIC thường chỉ hoàn thành và vượt kế hoạch bán vốn về giá trị mà không hoàn thành được kế hoạch về số lượng do số lượng doanh nghiệp thuộc đối tượng khó bán còn cao
Để góp phần hoàn thiện pháp luật về thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động thoái vốn tại Tổng công ty
Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC), tác giả lựa chọn đề tài “Thực
trạng pháp luật về thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp và thực tiễn thực hiện tại Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC)”cho luận
văn tốt nghiệp Có thể nói trước yêu cầu về việc đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp không trọng yếu được xem là cấp thiết
2 Tình hình nghiên cứu
Pháp luật về thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của giới luật học nước ta ngay từ những ngày đầu thực hiện cải cách nền kinh tế Vấn đề này đòi hỏi những quan điểm, những nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau với nhiều khía cạnh và góc nhìn khác nhau Thực tế vấn đề này cũng được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu với nhiều công trình, bài viết có giá trị
Trước hết phải kể đến một số công trình nghiên cứu chuyên sâu của các tác giả Việt Nam như:
- Sách tham khảo “Cải cách doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam sau
Trang 8gần 30 năm đổi mới: thực trạng và giải pháp” của tác giả GS TS Nguyễn
Quang Thuấn, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 2004
-Luận án tiến sĩ “Ảnh hưởng của cổ phần hóa đến hiệu quả tài chính
của các doanh nghiệp nhà nước Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Xuân
Hồng, Hà Nội 2017
Ở nhiều nước trên thế giới, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu đề cập tới việc thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp, có thể kể đến những công trình nghiên cứu sau:
- “State-owned enterprises in Brazil: History and lessons” của tác giả
Aldo Musacchio và Sergio G Lazzarini được trình bày tại buổi làm việc về các doanh nghiệp nhà nước trong giai đoạn phát triển của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD)
- Tài liệu “State owned enterprises in China: reviewing the evidence”
của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD)
- “Challenges Ahead in China’s Reform of State-Owned Enterprises”
của tác giả TS Wendy Leutert
- “State-Owned Enterprises Catalysts for public value creation?” của
Price Waterhouse Coopers, hay còn gọi là PwC, là một trong bốn công ty kiểm toán hàng đầu thế giới
Các nghiên cứu nói trên đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau với phạm vi khác nhau về việc thoái vốn nói chung và cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước nói riêng, có ý nghĩa quan trọng trong lý luận và thực tiễn thực hiện việc thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp ở Việt Nam
Tuy nhiên sau nhiều năm, trước đòi hỏi của sự phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ mới, các quy định của pháp luật về thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp đã có những chuyển biến và thay đổi rõ rệt mà chưa có công trình nào giai đoạn gần đây nghiên cứu, đặc biệt là đề xuất những giải pháp
áp dụng với một doanh nghiệp cụ thể khi thực thực hiện thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp có vốn nhà nước
Trang 9Với tình hình trên, đề tài "Thực trạng pháp luật về thoái vốn nhà nước
tại các doanh nghiệp và thực tiễn thực hiện tại Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC)" sẽ được nghiên cứu ở cấp độ luận văn thạc sỹ
một cách tương đối toàn diện, đầy đủ và đảm bảo được tính logic, không có
sự trùng lặp với các công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố
3 Phạm vi nghiên cứu
Trên cơ sở kế thừa những thành tựu nghiên cứu của các công trình
khoa học đã công bố, luận văn với đề tài “Thực trạng phap luật về thoái vốn
nhà nước tại các doanh nghiệp và thực tiễn thực hiện tại Tổng công ty đầu tư
và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC)” có đối tượng và phạm vi nghiên cứu cụ
thể như sau:
- Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là:Hệ thống các quan điểm, quy định của pháp luật hiện hành về thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp (bao gồm mục tiêu, yêu cầu của thoái vốn; đối tượng và điều kiện để thực hiện thoái vốn; hình thức thoái vốn; một số nội dung trong các trình tự thoái vốn tập trung vào các điểm sau đây: lập kế hoạch thoái vốn, thoái vốn lần đầu
và quản lý, sử dụng tiền thu từ thoái vốn, đối tượng và điều kiện mua cổ phần, chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp và người lao động trong doanh nghiệp trong hoạt động mua cổ phần của doanh nghiệp.)
- Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu vào những quy định cơ bản của pháp luật về thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp, thực tiễn thực hiện và đề xuất một số giải pháp áp dụng trong quá trình thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp của Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC)
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn với đề tài “Thực trạng pháp luật về thoái vốn nhà nước tại
các doanh nghiệp và thực tiễn thực hiện tại Tổng công ty Đầu tư và kinh
Trang 10doanh vốn nhà nước (SCIC)” có mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể
như sau:
- Mục đích:
+ Về mặt lý luận, nhận thức được vai trò chủ đạo của loại hình doanh nghiệp có vốn nhà nước trong nền kinh tế thị trường – định hướng xã hội chủ nghĩa nhiều thành phần hiện nay (dẫn dắt nền kinh tế và khắc phục các khuyết tật của thị trường); nắm vững được các quy định cơ bản của pháp luật hiện hành về thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp đặt trong mối quan hệ
so sánh với các quy định trước đây để từ đó nhận diện được những thay đổi tích cực của pháp luật trước đòi hỏi của thực tế, từ đó góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật điều chỉnh vấn đề thoái vốn nhà nước của các doanh nghiệp ở Việt Nam
+ Về mặt thực tiễn, trên cơ sở đã thoái vốn nhà nước thành công tại một số doanh nghiệp, đề xuất những giải pháp khắc phục những khó khăn mà SCIC đã, đang và sẽ gặp phải trên con đường thực hiện việc thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp theo chủ trương, chính sách của Đảng, nhà nước
- Để đạt được các mục đích trên, luận văn phải giải quyết những nhiệm
vụ sau:
+ Tìm hiểu những vấn đề lý luận về vai trò của vốn nhà nước tại các doanh nghiệp, những nội dung cơ bản của pháp luật về thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp đặt trong mối quan hệ so sánh với quy định của pháp luật giai đoạn trước đây
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp nói chung, thực trạng thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp trong thời gian qua; trên cơ sở đó chỉ ra một số bất cập còn tồn đọng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp này
- Đưa ra định hướng và các giải pháp góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật điều chỉnh vấn đề thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp và
áp dụng trong quá trình thực tiễn thực hiện tại SCIC
Trang 115 Phương pháp nghiên cứu
Để giái quyết nhiệm vụ nghiên cứu mà đề tài đặt ra, luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
- Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước về đổi mới, sắp xếp khu vực kinh tế nhà nước qua từng giai đoạn
- Phương pháp bình luận, phương pháp lịch sử được sử dụng trong Chương 1 nghiên cứu những vấn đề chung về doanh nghiệp có vốn nhà nước
và thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp
- Phương pháp phân tích, phương pháp so sánh luật học, phương pháp đối chiếu, phương pháp đánh giá được sử dụng trong Chương 2 nghiên cứu những nội dung cơ bản của pháp luật về thoái vốn nhà nước, bán cổ phần doanh nghiệp, từ đó nghiên cứu xác lập định hướng và đưa ra những giải pháp cụ thể góp phần hoàn thiện pháp luật về vấn đề này
- Phương pháp tổng hợp, phân tích, đánh giá được sử dụng trong Chương 3 để đưa ra một số giải pháp cụ thể áp dụng khi thực hiện thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp của SCIC
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Những đóng góp của luận văn thể hiện trên một số phương diện sau đây:
Thứ nhất: Vấn đề thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp được
nghiên cứu một cách tương đối có hệ thống và tương đối toàn diện
Thứ hai: Trên cơ sở tổng hợp kết quả nghiên cứu, luận văn đề xuất
một sốgiải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện một vài quy phạm pháp cơ bản về thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả của việc thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệptrên thực tế thực hiện tại SCIC
Trang 127 Kết cấu của luận văn
Ngoài mục lục, lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo; luận văn được kết cấu thành 3 Chương cụ thể:
- Chương 1 Những vấn đề lý luận về thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp và pháp luật điều chỉnh hoạt động thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp
- Chương 2 Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp của Việt Nam và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC)
- Chương 3 Kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp
Trang 13
Chương 1
TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG THOÁI VỐN NHÀ NƯỚC TẠI CÁC DOANH NGHIỆP 1.1 Khái quát về thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp.
Theo Karl Marx, kinh tế thị trường là một giai đoạn phát triển tất yếu
của lịch sử mà bất cứ nền kinh tế nào cũng phải trải qua để đạt tới nấc thangcao hơn trên con đường phát triển và nền kinh tế tư bản chủ nghĩa chính lànền kinh tế thị trường phát triển đến trình độ phổ biến và hoàn chỉnh Sựthành công của nền kinh tế thị trường ở nhiều nước từ Tây Âu đến Bắc Mỹ
và cảChâu Á đã chứng minh cho tính tất yếu của nền kinh tế thịtrường trong
sự phát triển của các quốc gia Tuy nhiên, mô hình kinh tế thị trường vẫnchứa đựng nhiều yếu tố chưa thuyết phục và chưa được mọi quốc gia chấpnhận một cách dễdàng Các yếu tốđó bao gồm: (i) Luôn luôn có nguy cơ mất
lợi ích toàn cục, lợi ích cộng đồng (gây ô nhiễm, phá hoại môi trường, trốn
Trong bối cảnh đó, sự can thiệp của nhà nước xuất hiện như một lẽ tất yếutạo ra sự hoạt động có hiệu quả, có định hướng của nền kinh tế thị trường.Lịch sử đã chứng minh rằng, các nền kinh tế thị trường thành công nhất đềukhông thểphát triển một cách tựphát nếu thiếu sựcan thiệp và hỗtrợ của nhànước1
Thật vậy, một nền kinh tế không thể "cất cánh" được trừ phi nó cóđược một thượng tầng vững chắc Vì thế, ở nhiều quốc gia, nhà nước bỏ vốn
1
Theo Lê Nguyễn Hương Trinh, Về vai trò Nhà nước trong nền kinh tế thị trường, Tạp chí Triết học (2006) http://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-cuu/vaitro_nhanuoc_kttt.html
Trang 14vào đầu tư vào các doanh nghiệp tại các lĩnh vực nhà nước cần độc quyền, hoặc các lĩnh vực mà các thành phần kinh tế khác không muốn làm hoặc không thể làm nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế, đồng thời góp phần ổn định kinh tế vĩ mô Việc nhà nước đầu tư vốn vào các doanh nghiệp
đã hình thành nên khái niệm vốn nhà nước tại doanh nghiệp
Ở Việt Nam, khái niệm vốn nhà nước tại doanh nghiệp được ghi nhận
cụ thể tại Khoản 8 Điều 3 Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào
sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp 2014: “Vốn nhà nước tại doanh
nghiệp bao gồm vốn từ ngân sách nhà nước, vốn tiếp nhận có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước; vốn từ quỹ đầu tư phát triển tại doanh nghiệp, quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp; vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và vốn khác được nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp”
Tại Điều 4 giải thích từ ngữ Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 quy định:
"Vốn Nhà nước bao gồm vốn ngân sách Nhà nước; công trái quốc gia, trái
phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương; vốn hỗ trợ phát triển chính th c, vốn vay ưu đ i của các nhà tài trợ; vốn từ quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp; vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; vốn tín dụng
do Chính phủ bảo l nh; vốn vay được bảo đảm b ng tài sản của Nhà nước; vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước; giá trị quyền sử dụng đất.”
1.1.1.2 Đặc điểm của vốn nhà nước tại doanh nghiệp
Như vậy, theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, vốn nhà nước tại doanh nghiệp được đặc trưng bởi các nội dung sau:
Thứ nhất, về chủ sở hữu của vốn nhà nước tại doanh nghiệp
Chủ sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp là nhà nước Đây là đặc điểm thể hiện sự khác biệt căn bản của vốn nhà nước tại doanh nghiệp với vốn đầu tư của các chủ sở hữu khác Tính chất đặc biệt của chủ sở hữu nhà nước được thể hiện ở những điểm sau:
Trang 15(i)Việc xác định tư cách chủ sở hữu phức tạp, khó xác định: nhà
nước là một hệ thống phức tạp bao gồm nhiều cơ quan và bộ máy quản lý ở nhiều cấp khác nhau Do đó, khi bàn tới nhà nước như một chủ thể sở hữu thì chủ thể này rất khó xác định cụ thể như trường hợp của các chủ sở hữu là cá nhân và pháp nhân khác Nhiều quốc gia trên thế giới quan niệm cơ quan hành pháp (Chính phủ) là chủ thể thực hiện các chức năng chủ sở hữu đối với vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp Tuy nhiên, về bản chất, Chính phủ cũng chỉ là chủ sở hữu được ủy quyền, không có đầy đủ các đặc điểm và quyền như những chủ sở hữu đích thực
(ii) Việc thực hiện quyền của chủ sở hữu nhà nước phải thực hiện thông qua các chủ thể được ủy quyền: Về bản chất, nhà nước là chủ sở hữu
Tuy nhiên, chủ thể sở hữu nhà nước lại có nhiều cấp quản lý từ trung ương đến địa phương nên việc thực hiện quyền quản lý, giám sát sử dụng vốn, tài sản nhà nước, thu nhập từ tài sản nhà nước thường được thực hiện thông qua
bộ máy hành chính, làm việc theo chế độ công chức Cơ chế trách nhiệm cá nhân, động cơ để đạt được mục tiêu và áp lực kiểm tra giám sát thường không rõ ràng như các chủ thể sở hữu khác thộc sở hữu tư nhân
Thứ hai, về mục tiêu của chủ sở hữu đối với vốn nhà nước tại doanh nghiệp
Nếu như đối với các nhà đầu tư (chủ sở hữu vốn) thông thường, vốn dùng vào đầu tư, kinh doanh nhằm mục đích sinh lời thì vốn nhà nước tại doanh nghiệp không chỉ có mục tiêu kinh tế mà còn có mục tiêu chính trị, an ninh, văn hóa, xã hội Cụ thể, theo Điều 5 Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp 2014, mục tiêu đầu tư,
quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệpbao gồm: (i) Thực hiện định
hướng, điều tiết, ổn định kinh tế vĩ mô mang tính chiến lược trong từng thời
kỳ, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước theo định hướng xã hội
chủ nghĩa; (ii) Đổi mới, nâng cao hiệu quả đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp; (iii) Nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh
doanh của doanh nghiệp Như vậy, chủ sở hữu vốn nhà nước đầu tư vốn nhà
nước tại doanh nghiệp gồm nhiều mục tiêu khác nhau, chính vì vậy, tính mục
Trang 16tiêu trong việc đầu tư, sử dụng vốn, tài sản nhà nước của chủ sở hữu nhà nước thường khó phân định rõ ràng
Thứ ba, quy mô vốn nhà nước tại doanh nghiệp lớn, mang tính ổn định cao, có khả năng chi phối lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội
Theo quy định tại Điều 5, Điều 1, Điều 16 Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp 2014, nhà nước
đầu tư vốn vào các doanh nghiệp theo nguyên tắc: (i) Đầu tư vốn nhà nước
để hình thành và duy trì doanh nghiệp ở những khâu, công đoạn then chốt trong một số ngành, lĩnh vực mà các thành phần kinh tế khác không tham
gia; (ii) Đầu tư vốn nhà nước để thành lập oanh nghiệp cung ng sản
phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội, Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh, Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực độc quyền tự nhiên, Doanh nghiệp ng dụng công nghệ cao, đầu tư lớn, tạo động lực phát triển nhanh cho các ngành, lĩnh vực khác và
nền kinh tế; (iii) Đầu tư bổ sung vốn nhà nước để tiếp tục duy trì tỷ lệ cổ
phần, vốn góp của nhà nước tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên trong trường hợp không thu hút được các nhà đầu
tư Việt Nam và nước ngoài đối với doanh nghiệp cung ng các sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội; hoặc cần thiết phải duy trì để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh
Như vậy, những lĩnh vực mà nhà nước đầu tư vốn đều là những lĩnh vực đòi hỏi mức vốn đầu tư lớn, yêu cầu tính ổn định cao mà ít nhà đầu tư tư nhân nào có thể đáp ứng được Chính vì vậy, khác với vốn đầu tư của các nhà đầu tư khác, vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp có quy mô lớn và mang tính ổn định cao hơn
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp
1.1.2.1 Khái niệm thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp
Trong suốt quá trình ra đời, tồn tại và phát triển của mình, khu vực kinh tế nhà nước đã có những đóng góp to lớn vào sự phát triển của đất nước Nhưng khi bước vào công cuộc đổi mới đất nước những năm 1986 và đắt đầu
Trang 17chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khu vực này đã bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém và chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tế Trước tình hình đó, yêu cầu đặt ra là phải đổi mới, cải cách khu vực kinh tế nhà nước, trong đó chú trọng tới các doanh nghiệp có vốn nhà nước Tuy nhiên áp dụng giải pháp nào cho loại hình doanh nghiệp này phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia
Thực tế cho thấy hình thức thoái vốn, bán cổ phần đã xuất hiện từ rất sớm, từ thế kỷ XV, XVI và phát triển rất mạnh từ thế kỷ XVIII Ngày nay thoái vốn đã trở thành hình thức kinh tế phổ biến, đặc trưng của các nền kinh
tế hiện đại Hình thức thoái vốn liên kết các nhà đầu tư hợp vốn thành lập công ty cổ phần, xã hội hóa nguồn vốn, trực tiếp thúc đẩy nhanh lực lượng sản xuất, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ
Rút kinh nghiệm từ công cuộc cải cách ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu những năm 70, 80 của thế kỷ trước, từ sự thành công của quá trình bán cổ phần ở Trung Quốc, Việc Nam xác định bán cổ phần là giải pháp tối
ưu trong quá trình sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp có vốn nhà nước
Vậy, thoái vốn là gì? Thoái vốn là một hình thức rất phổ biến trong đầu tư, khi mà các nhà đầu tư cá nhân hay tổ chức muốn rút vốn đầu tư của mình Vậy chúng ta có thể hiểu một cách đơn giản "thoái vốn" chính là cách
cá nhân hay tổ chức tham gia hùn vốn với doanh nghiêp hay với một công ty
để kinh doanh mà bây giờ mình quyết định không tham gia nữa, và sẽ rút lại phần vốn của mình thì được gọi là thoái vốn Đối với người thoái vốn thì họ cảm nhận được rằng khoản đầu tư của mình đã đến lúc thu thành quả, nhưng đối với tổ chức bị thoái vốn thì họ cần phải làm gì để tránh tác động rút vốn ảnh hưởng đến hoạt động công ty Vậy thì cách tốt nhất để đối phó với vấn đề thoái vốn chính là doanh nghiệp nên chuẩn bị trước để đối phó với tình trạng thoái vốn, tránh rơi vào thế bị động Việc thoái vốn, dù muốn hay không, vẫn
ít nhiều gây nên những xáo trộn trong nội bộ doanh nghiệp
Trang 18Vậy còn thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp là gì? Theo góc độ pháp lý, thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp là việc nhà nước rút phần vốn góp đã đầu tư tại các ngành, lĩnh vực sản xuất kinh doanh
Dưới góc độ sở hữu, thoái vốn nhà nước là quá trình chuyển đổi doanh nghiệp từ có vốn sở hữu của nhà nước sang hình thức sở hữu của nhiều thành phần kinh tế thông qua hình thức bán cổ phần, bán vốn
Như vậy, bản chất của thoái vốn nhà nước là phương thức thực hiện xã hội hóa sở hữu, chuyển doanh nghiệp một chủ thành doanh nghiệp nhiều chủ, tức là chuyển từ hình thức sở hữu đơn nhất sang sở hữu chung thông qua việc chuyển một phần hoặc toàn bộ tài sản của doanh nghiệp cho các thành phần kinh tế khác Nói cách khác, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp là hành vi mua và bán, trong đó nhà nước sẽ thu được tiền bán phần vốn góp của doanh nghiệp, các nhà đầu tư sẽ được quyền sở hữu và định đoạt toàn bộ hoặc một phần hoạt động kinh doanh cũng như hưởng các lợi nhuận sau khi đã làm nghĩa vụ nộp thuế với nhà nước
1.1.2.2 Đặc điểm thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp
Với những quan niệm về thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp như trên có thể đưa ra một số đặc điểm của thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp như sau:
Thứ nhất, chủ thể thực hiện hoạt động thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp
Thủ tướng Chính phủ là chủ thể ban hành quyết định danh mục doanh nghiệp nhà nước thoái vốn, kèm theo danh sách và chủ trương, lộ trình thoái vốn doanh nghiệp nhà nước Các Bộ quản lý ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố, Ngân hàng Nhà nước, Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước căn cứ vào tiêu chí phân loại, doanh nghiệp theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Đề án tái cơ cấu doanh nghiệp, xây dựng phương
án thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp thuộc quyền đại diện chủ sở hữu, gửi Bộ Tài chính, Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp để tổng
Trang 19hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định Ngược lại, việc thoái vốn của các nhà đầu tư tại doanh nghiệp thì chủ thể thực hiện chính là những
cá nhân sở hữu phần vốn này và chủ sở hữu doanh nghiệp Đây là đặc điểm quan trọng để phân biệt việc nhà nước thoái vốn tại các doanh nghiệp với việc các nhà đầu tư thoái vốn
Thứ hai, phương thức thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp phải tuân thủ nghiêm ngặtcác quy định pháp luật
Các cơ chế, phương thức thoái vốn nhà nước gồm: đấu giá công khai toàn bộ số lượng cổ phần, bán đấu giá một phần số lượng cổ phần, bán cả lô toàn bộ số vốn của nhà nước tại doanh nghiệp thông qua đấu giá công khai, chào bán cạnh tranh, bán thỏa thuận, Trong khi cá nhân chủ sở hữu vốn tại các doanh nghiệp khi muốn thoái phần vốn của mình sẽ được toàn quyền quyết định phương thức bán, giá bán sao cho không trái với pháp luật hiện hành, thì việc thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp hoàn toàn không được thực hiện linh hoạt như vậy Việc lựa chọn phương thức thoái vốn nhà nước, giá bán cổ phần được nhà nước quy định cụ thể tại Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014 (sau đây gọi là Luật Doanh nghiệp), Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp số 69/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014 (sau đây gọi là Luật Quản lý, Sử dụng vốn nhà nước), Nghị định số 91/2015/NĐ –
CP ngày 13 tháng 10 năm 2015 do Chính Phủ ban hành về đầu tư vốn nhà nước và doanh nghiệp và quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp (sau đây gọi là Nghị định số 91/2015/NĐ-CP), và tại những quy chế bán vốn tại những tổ chức bán vốn như Quyết định số 06/QĐ-ĐTKDV.HĐTV ngày 11 tháng 4 năm 2016 Ban hành quy chế bán cổ phần của Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước do Hội đồng thành viên Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước ban hành (sau đây gọi là Quy chế bán vốn số 06) Tùy vào từng quy mô, loại hình kinh doanh của doanh nghiệp mà chọn phương thức thoái vốn cho phù hợp
1.1.3 Mục đích của thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp
Trang 20Trong nền kinh tế thị trường, các quy luật quan trọng nhất chi phối là quy luật giá trị và giá trị thặng dư, quy luật cạnh tranh Các chủ thể kinh tế tiến hành sản xuất, kinh doanh đều hướng đến đạt mục tiêu sinh lợi, giá trị tạo ra giá trị thặng dư Dưới tác động của quy luật giá trị, muốn đạt mục tiêu
đó, các chủ thể không có cách nào khác phải cạnh tranh để chiếm ưu thế trên thị trường, để tiêu thụ hoàng hóa và đạt lợi nhuận
Khi nền kinh tế thị trường còn đang ở trình độ thấp, cơ cấu của nền kinh tế thị trường chủ yếu là các xí nghiệp vừa và nhỏ, sức cạnh tranh còn yếu và nhu cầu về vốn kinh doanh chưa nhiều, các rủi ro trong kinh doanh cũng ở mức độ thấp Nhưng khi nền kinh tế thị trường càng phát triển, các chủ thể kinh tế muốn tồn tại và phát triển thì quy mô doanh nghiệp phải lớn, trình độ công nghệ càng phải cao, trình độ quản lý phải tốt mới có điều kiện nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ để đáp ứng yêu cầu không ngừng tăng lên của người tiêu dùng Theo đó thoái vốn nhà nước, bán cổ phần được xác định là giải pháp tối ưu nhất trong quá trình sắp xếp lại doanh nghiệp có vốn nhà nước tại Việt Nam
Thứ nhất, thoái vốn nhà nước giúp bổ sung nguồn ngân sách nhà nước
Về nguồn thu được từ việc thoái vốn, tiền thu về chắc chắn sẽ được sử dụng theo quy định của Chính phủ Một phần sẽ được đầu tư trở lại các DN
mà nhà nước xác định cần nắm giữ theo quy định tại Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại DN Một phần khác sẽ được đưa vào cân đối ngân sách Nhà nước để chi cho đầu tư phát triển theo đúng quy định của Luật Ngân sách nhà nước Hay bổ sung cho chi đầu tư phát triển một số công trình quan trọng, có ý nghĩa lớn về xã hội như „‟Gói 20 ngàn tỷ chống quá tải” cho 5 bệnh viện tuyến tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh;
bổ sung vốn chương trình xây dựng nông thôn mới, hay hỗ trợ vốn dự án chống biến đổi khí hậu
Thứ hai, thoái vốn góp phần phòng, chống tham nhũng, tăng trưởng kinh tế và phát triển thị trường chứng khoán
Trang 21Trong công ty cổ phần, mỗi bộ phận và mỗi thành viên đều có lợi ích riêng gắn với lợi ích và mục tiêu của doanh nghiệp, điều này tạo ra động lực bên trong mỗi hoạt động quản lý do có sự ràng buộc và giám sát lẫn nhau, hạn chế các hành vi vụ lợi như khi doanh nghiệp đang thuộc hoàn toàn sở hữu của nhà nước
Trong công ty cổ phần, với tư cách vừa là người lao động, vừa là người sở hữu, người lao động trong công ty cổ phần có điều kiện làm chủ thực sự doanh nghiệp, họ có thể tham gia vào việc quyết định các vấn đề quan trọng của công ty, nâng cao tính chủ động, tích cực của mình để góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động doanh nghiệp
Với các doanh nghiệp có tiềm lực lớn, thông qua việc phát hành cổ phiếu trên thị trường chứng khoán sẽ góp phần phát triển thị trường vốn quan trọng này đối với nền kinh tế trong giai đoạn hiện nay
Thứ ba, thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp là giải pháp hữu hiệu trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Theo cam kết của Việt Nam khi trở thành thành viên chính thức của WTO (tháng 11/2006) cũng như tỏng các hiệp định song phương và đa phương về thương mại, Việt Nam phải bảo đảm sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, như vậy sẽ không còn tình trạng bao cấp của nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn nhà nước, yêu cầu đặt ra là các doanh nghiệp này phải thực sự mạnh để có thể cạnh tranh và tồn tại trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay
1.2.Khái quát pháp luật điều chỉnh hoạt động thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm pháp luật điều chỉnh hoạt động thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp
Sự ra đời và tồn tại của hoạt động thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp như một tất yếu nhằm hỗ trợ doanh nghiệp nhà nước thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, khắc phục những hạn chế của nền kinh tế
Trang 22thị trường, đảm bảo công bằng xã hội và thực hiện sử dụng nguồn vốn nhà nước một cách hiệu quả nhất Có thể nói, với vai trò đã được chứng minh rõ ràng trên thực tế hoạt động của các doanh nghiệp sau khi thoái vốn nhà nước đối với sự phát triển của nền kinh tế, xã hội, pháp luật điều chỉnh hoạt động thoái vốn nhà nước đóng vai trò quan trọng trong hệ thống pháp luật Do đó, việc nghiên cứu, đánh giá các quy định pháp luật này là cần thiết và không thể thiếu trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật ở Việt Nam hiện nay Xuất phát từ sự cần thiết nói trên, việc đưa ra khái niệm pháp luật điều chỉnh hoạt động thoái vốn nhà nước có ý nghĩa quan trọng, đây chính là cơ sở, là nền móng cho việc hoàn thiện các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý và sử dụng vốn nhà nước ở Việt Nam hiện nay
Một cách khái quát, pháp luật điều chỉnh hoạt động thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp bao gồm các quy định cụ thể điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thoái vốn nhà nước Các quan hệ phát sinh trong quá trình thoái vốn nhà nước bao gồm nhiều nhóm Đó là quan hệ phát sinh trong quá trình lập kế hoạch thoái vốn nhà nước; là quan hệ phát sinh trong quá trình sử dụng nguồn vốn nhà nước sau khi thoái để thực hiện các mục tiêu hoạt động đã được xác định trước Ngoài ra, chúng còn là quan hệ phát sinh trong quá trình Nhà nước thực hiện hoạt động kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp Như vậy, các quan hệ
xã hội phát sinh trong quá trình thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp rất
đa dạng và phức tạp, trải rộng Theo đó, có thể đưa ra khái niệm Pháp luật điều chỉnh hoạt động thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp như sau:
“ Pháp luật điều chỉnh hoạt động thoái vốn nhà nước là tổng hợp các quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành
nh m điều chỉnh các quan hệ x hội phát sinh trong quá trình thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp”
1.2.2 Các bộ phận cấu thành của pháp luật điều chỉnh hoạt động thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp
Trang 23Pháp luật điều chỉnh hoạt động thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp thường bao gồm những bộ phận cơ bản sau đây:
(i) Quy định về nguyên tắc thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp
Nguyên tắc là những điều cơ bản được tổ chức đặt ra dựa trên những quan điểm tư tưởng nhất định đòi hỏi các tổ chức và cá nhân phải tuân theo Nguyên tắc của pháp luật là những tư tưởng cơ bản, mang tính xuất phát điểm, cấu thành một bộ phận quan trọng nhất, thấm nhuần toàn bộ nội dung cũng như hình thức của hệ thống pháp luật, là cơ sở chỉ đạo toàn bộ hoạt động xây dựng pháp luật cũng như thực hiện pháp luật.2
Hoạt động thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp cũng vậy, để có thể thoái vốn hiệu quả nhất cần những nguyên tắc nhất định Đó có thể là nguyên tắc công khai, minh bạch để tránh triệt để lợi ích nhóm; có thể là nguyên tắc hiệu quả để hạn chế tối đa tổn thất đầu tư và bảo toàn vốn nhà nước ở mức cao nhất Để đảm bảo thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp hiệu quả, hạn chế thất thoát, tiêu cực
có thể xảy ra thì việc thoái vốn nhà nước theo những nguyên tắc pháp lý là cần thiết Với ý nghĩa này, các nguyên tắc pháp lý trong quá trình thoái vốn nhà nước đã được xác lập ở hầu hết các hoạt động thoái vốn nhà nước, và trở thành kim chỉ nam, nền tảng cho việc quy định nội dung hoạt động thoái vốn nhà nước cũng như quá trình thoái vốn nhà nước trên thực tế
(ii) Quy định về thẩm quyền quyết định thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp
Nhà nước là một hệ thống phức tạp bao gồm nhiều cơ quan và bộ máy quản lý ở nhiều cấp khác nhau Do đó, khi bàn tới nhà nước như một chủ thể
sở hữu thì chủ thể này rất khó xác định cụ thể như trường hợp của các chủ sở hữu là cá nhân và pháp nhân khác Chủ thể sở hữu nhà nước lại có nhiều cấp quản lý từ trung ương đến địa phương Vì vậy, cần phải có những văn bản pháp luật quy định cụ thể thầm quyền quyết định thoái vốn nhà nước tại các
22
Nguyễn Cửu Việt, Chủ biên – Giáo trình Nhà nước và pháp luật đại cương, NXB Đạo học Quốc gia Hà Nội, 2000 (Trang 152)
Trang 24doanh nghiệp của từng cấp để các cấp có thể hiểu được rõ vai trò và trách nhiệm của mình, phối hợp được với nhau trong hoạt động thoái vốn nhà nước, cũng như là ý thức được trách nhiệm của mình đến đâu trong quá trình thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp
(iii)Quy định về phương thức thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp
Với những đặc trưng của vốn nhà nước, việc thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp cũng mang những đặc trưng tương tự, khác với việc thoái vốn tại các doanh nghiệp có vốn tư nhân Phương thức thoái vốn tại các doanh nghiệp có vốn nhà nước theo đó cũng cần phải được quy định cụ thể tại những văn bản đặc thù, mà không áp dụng các phương thức bán cổ phần như các doanh nghiệp thông thường được
(iv)Quy định về trình tự, thủ tục thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp
Khác với việc thoái vốn tại các doanh nghiệp thông thường, thoái vốn tại các doanh nghiệp có vốn nhà nướccần sự tham gia của các cơ quan quyền lực nhà nước, phải tuân theo những trình tự, thủ tục, điều kiện được quy định chặt chẽ trong Luật Quản lý, Sử dụng vốn nhà nước Việc thoái vốn nhà nước cũng được thực hiện theo Quy chế bán vốn của Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước Tùy vào quy mô doanh nghiệp, loại hình kinh doanh mà nhà nước có trình tự, thủ tục thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp khác nhau Tuy nhiên các quy định về trình tự, thủ tục thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp đều hướng tới mục tiêu chung nhất là đảm bảo phần vốn góp của nhà nước được thoái một cách có hiệu quả, hạn chế tiêu cực, thất thoát
(v) Quy định về thanh tra, kiểm tra hoạt động thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp
Việc thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp không phải do “ông chủ thực sự” của doanh nghiệp thực hiện mà phải thông qua các chủ thể đại diện, mặt khác, cơ chế hoạt động của hoạt động thoái vốn lại mang tính linh hoạt
Trang 25cao, điều này rất dễ dẫn tới tiêu cực trong quá trình quản lý, thoái vốn cũng như làm thất thoát nguồn vốn, sử dụng lãng phí, không hiệu quả nguồn vốn
Để hạn chế tiêu cực này Pháp luật đã có quy định về thẩm quyền, trình tự thủ tục, cũng như trách nhiệm của các chủ thể liên quan trong quá trình tiến hành thanh tra, kiểm tra hoạt động thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp Đảm bảo phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh các hành vi sai phạm trong quá trình thoái vốn làm thất thoát, lãng phí tài sản của nhà nước, ảnh hưởng tới lợi ích của nhà nước, của doanh nghiệp và người lao động
1.3 Kết luận chương 1
Từ những nghiên cứu về bản chất của hoạt động thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp, pháp luật điều chỉnh hoạt động thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp, luận văn đưa ra một số kết luận như sau
Thứ nhất, Vốn Nhà nước tại doanh nghiệp bao gồm vốn từ ngân sách Nhà nước, vốn tiếp nhận có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước; vốn từ quỹ đầu tư phát triển tại doanh nghiệp, quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp; vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn khác được Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp.Thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp là việc nhà nước rút phần vốn góp đã đầu tư tại các ngành, lĩnh vực sản xuất kinh doanh Thoái vốn nhà nước là quá trình chuyển đổi doanh nghiệp từ có vốn sở hữu của nhà nước sang hình thức sở hữu của nhiều thành phần kinh tế thông qua hình thức bán cổ phần, bán vốn
Thứ hai, thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp có 02 đặc điểm:(i) Chủ thể quyết định và quản lý hoạt động thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp; (ii) Phương thức thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật
Thứ ba, thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong việc: (i) Giúp bổ sung nguồn ngân sách nhà nước (ii) Góp phần phòng, chống tham nhũng, tăng trưởng kinh tế và phát triển thị trường chứng khoán (iii) Là giải pháp hữu hiệu trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 26Thứ năm, pháp luật điều chỉnh hoạt động thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp là tổng hợp các quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp
Thứ sáu, pháp luật điều chỉnh hoạt động thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp thường bao gồm những bộ phận cơ bản như: (i) Quy định về nguyên tắc thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp; (ii) Quy định về thẩm quyền quyết định thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp;(iii) Quy định về phương thức thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp; (iv) Quy định về trình
tự, thủ tục thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp; (v) Quy định về trình tự, thủ tục trong quá trình quản lý Quỹ; (vi) Quy định về thanh tra, kiểm tra hoạt động thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp
Trang 27Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG THOÁI VỐN NHÀ NƯỚC TẠI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN NHÀ NƯỚC CỦA TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ VÀ KINH DOANH VỐN NHÀ NƯỚC (SCIC) VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TẠI TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ VÀ KINH DOANH VỐN NHÀ NƯỚC (SCIC) 2.1.Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp có vốn nhà nước của Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC)
2.1.1 Khái quát hệ thống pháp lý đặc thù điều chỉnh hoạt động thoái vốn nhà nước tại SCIC
Các loại văn bản pháp luật mà SCIC sử dụng điều chỉnh hoạt động thoái vốn nhà nước bao gồm:
+ Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014 + Luật Chứng khoán số 70/2006/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006
+ Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014
+ Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16 tháng 6 năm 2010 + Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vảo sản xuất, kinh doanh tại
doanh nghiệp số 69/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014
+ Nghị định số 57/2014/NĐ-CP ngày 16/06/2014 về Điều lệ tổ chức và hoạt động của SCIC
+ Nghị định số 91/2015/NĐ-CP ngày 13 tháng 10 năm 2015 Về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp
+ Nghị định số 71/2013/NĐ-CP ngày 11 tháng 7 năm 2013 quy định về Đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý tài chính đối với doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ
Trang 28+ Nghị định số 87/2015/NĐ-CP ngày 06 tháng 10 năm 2015 về giám sát đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp; giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả hoạt động và công khai thông tin tài chính của doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn nhà nước
+ Quyết định số 2344/QĐ-TTg ngày 2/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án tái cơ cấu SCIC giai đoạn đến 2015
+ Nghị định số 151/2013/NĐ-CP ngày 1/11/2013 về chức năng nhiệm vụ
và cơ chế hoạt động của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước(SCIC)
+ Quyết định số 152/2005/QĐ-TTg ngày 20 tháng 6 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Điều lệ và hoạt động của Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước
+ Nghị định số 59/2011/NĐ-CP về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần
+ Quyết định số 151/2005/QĐ-TTg ngày 20 tháng 6 năm 2005 về việc thành lập Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước
+ Quyết định số 06/QĐ-ĐTKDV.HĐTV ngày 11 tháng 4 năm 2014 Ban hành quy chế bán cổ phần của Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước tại doanh nghiệp
+ Quyết định số 51/2014/QĐ-TTg ngày 15 tháng 9 năm 2014 Quyết định một số nội dung về thoái vốn, bán cổ phần và đăng ký giao dịch, niêm yết trên thị trường chứng khoán của doanh nghiệp nhà nước
+ Thông tư số 194/2009/TT-BTC ngày 2 tháng 10 năm 2009 Hướng dẫn chào mua công khai cổ phiếu của công ty đại chúng, chứng chỉ quỹ của quỹ đầu tư chứng khoán đại chúng dạng đóng
2.1.2 Quy định về nguyên tắc thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp
Trang 29Theo quy định tại khoản 1 Điều 38 Nghị định 91/2015/NĐ-CP và Điều
4 Quy chế bán vốn số 06 của SCIC thì thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
Thứ nhất, theo đúng tiêu chí, danh mục phân loại doanh nghiệp nhà nước do Thủ tướng Chính phủ quyết định
Việc chuyển nhượng vốn nhà nước phải có phương án được cấp có thẩm quyền phê duyệt và đúng tiêu chí phân loại doanh nghiệp theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, không thuộc phạm vi ngành, lĩnh vực được nhà nước đầu tư bổ sung vốn để duy trì tỷ lệ cổ phần, vốn góp của nhà nước được quy định tại Điều 12 Nghị định 91/2015/NĐ-CP
Thứ hai, bảo toàn, phát triển giá trị vốn nhà nước
Bảo toàn và phát triển giá trị vốn đối với các doanh nghiệp có vốn nhà nước mang ý nghĩa cốt lõi Khi nhà nước góp vốn vào các doanh nghiệp, giao cho doanh nghiệp chủ động trong quá trình sử dụng vốn và hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời gắn trách nhiệm của doanh nghiệp đối với việc bảo toàn và phát triển vốn nhà nước giao Sau khi thoái vốn, sự bảo toàn và phát triển giá trị vốn nhà nước tại doanh nghiệp thể hiện ở kết quả thoái vốn: thoái được vốn với giá cao, thoái được vốn cho nhà đầu tư chiến lược, nhà đầu tư nước ngoài, hạn chế tối đa tổn thất đầu tư trong trường hợp chuyển nhượng vốn dưới mệnh giá Để bảo đảm nguyên tắc bảo toàn, phát triển giá trị vốn nhà nước, các doanh nghiệp cần: thực hiện đúng chế độ quản lý sử dụng vốn, tài sản, phân phối lợi nhuận, chế độ quản lý tài chính khác và chế
độ kế toán theo quy định của pháp luật; mua bảo hiểm tài sản theo quy định của pháp luật; xử lý kịp thời giá trị tài sản tổn thất, các khoản nợ không có khả năng thu hồi và trích lập các khoản dự phòng rủi ro Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty có trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn của doanh nghiệp
Thứ ba, đảm bảo công khai, minh bạch, phù hợp với quy định pháp luật, tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển
Trang 30Bảo đảm theo nguyên tắc thị trường công khai, minh bạch Doanh nghiệp phải đăng tải công khai, kịp thời trên cổng thông tin điện tử của doanh nghiệp các nội dung về hoạt động của doanh nghiệp, trong đó có hoạt động thoái vốn Cơ quan đại diện chủ sở hữu đăng tải công khai, kịp thời trên cổng thông tin điện tử của cơ quan đại diện chủ sở hữu về hoạt đồng đầu tư, quản
lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp đối với doanh nghiệp do mình quyết định thành lập hoặc được giao quản lý Ví dụ: theo quyết định số 06 Quy chế bán vốn số 06 của SCIC, Văn phòng điều hành phối hợp với Ban Quán lý vốn thông báo, quảng bá trên các phương tiện thông tin đại chúng danh mục bán cổ phần của SCIC, tổ chức các buổi hôi thảo, giới thiệu cơ hội đến các nhà đầu tư; đối với các trường hợp bán cổ phần theo hình thức đấu giá, SCIC phải đăng thông báo bán đấu giá tại báo địa phương và báo trung ương, đảm bảo thông tin minh bạch, công khai đến các nhà đầu tư, người lao động trong doanh nghiệp
Thứ tư, việc xác định giá khởi điểm khi bán cổ phần phải đảm bảo phản ánh đầy đủ giá trị thực tế phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp, trong
đó bao gồm cả giá trị quyền sử dụng đất giao theo quy định của pháp luật
Việc xác định giá khởi điểm đối với phần vốn nhà nước trước khi tổ chức bán đấu giá công khai hoặc thỏa thuận được thực hiện thông qua tổ chức có chức năng thẩm định giá theo quy định của pháp luật về thẩm định giá đảm bảo xác định đầy đủ giá trị thực tế phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp bao gồm cả giá trị được tạo bởi giá trị quyền sử dụng đất giao hoặc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp phát theo quy định của pháp luật
về đất đai và giá trị các quyền sở hữu trí tuệ (nếu có) của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật tại thời điểm chuyển nhượng vốn Việc chuyển nhượng vốn nhà nước có liên quan đến quyền sử dụng đất phải tuân thủ quy định của pháp luật về đất đai
Thứ năm, về việc thuê tổ chức có chức năng thẩm định giá
Cơ quan đại diện chủ sở hữu lựa chọn và ký hợp đồng thuê tổ chức có chức năng thẩm định giá xác định giá khởi điểm đối với phần vốn nhà nước
Trang 31chuyển nhượng, thuê tư vấn xây dựng phương án chuyển nhượng vốn theo quy định Cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định và chịu trách nhiệm trước pháp luật về mức chi phí thuê tổ chức thẩm định giá, tư vấn xây dựng phương
án chuyển nhượng vốn và được trừ vào tiền thu từ chuyển nhượng vốn nhà nước
2.1.3 Quy định về thẩm quyền quyết định thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp
Căn cứ Nghị định 91/2015/NĐ-CP, thẩm quyền quyết định thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp được quy định như sau:
Thứ nhất, Thủ tướng Chính phủ có trách nhiệm:
Thủ tướng Chính phủ quyết định việc chuyển nhượng vốn nhà nước tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên được chuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định việc chuyển nhượng vốn nhà nước đối với công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên được chuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước do cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định thành lập hoặc được giao quản lý sau khi có ý kiến tham gia của Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Thứ hai, Bộ Tài chính có trách nhiệm:
Bộ Tài chính có trách nhiệm trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo Quyết định để thực hiện có kết quả, phối hợp với các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các tập đoàn kinh tế, tổng công
ty, doanh nghiệp nhà nước hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra việc cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp, kịp thời đề xuất xử lý những vấn đề phát sinh
Thứ ba, về các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Hội đồng thành viên các tập đoàn kinh tế, tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước có trách nhiệm:
Trang 32Tập trung chỉ đạo triển khai các giải pháp thúc đẩy cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo Nghị quyết này.Định kỳ hàng quý báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện Đề án tái cơ cấu của tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước (tập trung vào cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp) thuộc phạm vi quản lý, đồng gửi
Bộ Tài chính để tổng hợp chung báo cáo Thủ tướng Chính phủ
Thứ tư, Bộ trường Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có trách nhiệm:
Chủ trì, phối hợp với Bộ quản lý ngành, Bộ Tài chính triển khai các nhiệm vụ thuộc phạm vi, lĩnh vực quản lý liên quan
Thứ năm, Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp có trách nhiệm:
Giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước đẩy mạnh cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước; định kỳ hàng quý báo cáo Thủ tướng Chính phủ tình hình thực hiện
Thứ sáu, DNNN thực hiện cổ phần hóa có trách nhiệm:
Xây dựng phương án cổ phần hóa gắn với giao dịch và niêm yết trên thị trường chứng khoán;Thực hiện cổ phần hóa theo Phương án đã được cấp
có thẩm quyền phê duyệt
Thứ bảy, Hội đồng thành viên, Chủ tịch của công ty mẹ - tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, công ty mẹ trong mô hình công ty mẹ - công ty con, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên độc lập thuộc các Bộ quản lý ngành, UBND cấp tỉnh có trách nhiệm:
Quyết định phương án chuyển nhượng vốn nhà nước dưới mệnh giá hoặc dưới giá trị sổ sách kế toán theo quy định tại Quyết định này;Quyết định chuyển nhượng vốn theo phương thức bán thỏa thuận sau khi có chấp thuận của Bộ quản lý ngành;Lựa chọn và thuê tổ chức tư vấn có chức năng thẩm định giá xác định giá khởi điểm làm cơ sở thực hiện chuyển nhượng vốn;Tổ
Trang 33chức triển khai, hoàn thành tiến độ chuyển nhượng vốn nhà nước theo phương án đã được phê duyệt;Trường hợp chuyển nhượng vốn không thành công, báo cáo chủ sở hữu nhà nước trong thời gian 05 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc chuyển nhượng vốn;Chỉ đạo người đại diện phần vốn tại các doanh nghiệp khác có vốn góp của doanh nghiệp xây dựng phương án chuyển nhượng vốn;Báo cáo chủ sở hữu vốn nhà nước kết quả thực hiện phương án chuyển nhượng vốn nhà nước định kỳ hàng quý, hàng năm
2.1.4 Quy định về phương thức thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp
Theo quy định tại Khoản 3 Điều 58 Nghị định 91/2015/NĐ-CP và Điều 15 Quy chế bán vốn số 06 của SCIC thì thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp được thực hiện bằng các phương thức sau:
Thứ nhất, phương thức đấu giá công khai toàn bộ phần vốn nhà nước
Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước sẽ tổ chức đấu giá công khai bán toàn bộ số lượng phần vốn nhà nước dự kiến bán tại doanh nghiệp Bộ Tài chính sẽ chỉ đạo SCIC căn cứ vào tình hình thị trường để lựa chọn thời điểm thoái, cách thức thoái, giá cả thoái, đối tượng thoái như thế nào cho hiệu quả, ổn định và chắc chắn Lộ trình do SCIC đề xuất và sẽ căn
cứ vào tình hình thực tế để làm Tuy nhiên, việc thoái vốn tại các doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt với các doanh nghiệp đang hoạt động hiệu quả và được nhiều nhà đầu tư quan tâm, dứt khoát phải đấu giá công khai Nếu không công khai và minh bạch sẽ tạo dư luận không tốt, thậm chí các nhà đầu
tư quốc tế cũng sẽ cân nhắc việc đầu tư vào Việt Nam hay không nếu hoạt động thoái vốn tại các doanh nghiệp này không diễn ra như nhà đầu tư mong đợi
Thứ hai, phương thức bán đấu giá một phần số lượng vốn nhà nước
dự kiến bán
Bán đấu giá một phần số lượng cổ phần dự kiến bán, phần còn lại bán cho cán bộ công nhân viên doanh nghiệp (cán bộ chủ chốt và người lao động)
Trang 34và/hoặc nhà đầu tư chiến lược theo giá không thấp hơn giá đấu thành công thực tế thấp nhất của đợt đấu giá Trong phương thức này, số lượng cổ phần bán đấu giá công khai do lãnh đạo doanh nghiệp quyết định tùy theo quy mô vốn bán ra tại từng doanh nghiệp, nhưng không thấp hơn 30% tổng số lượng
cổ phần dự kiến bán Số lượng cổ phần bán cho cán bộ công nhân viên/hoặc nhà đầu tư chiến lược tối đa bằng 70% số lượng cổ phần dự kiến bán (không bao gồm số cổ phần chưa bán trong cuộc đấu giá) Nhà đầu tư chiến lược và cán bộ công nhân viên phải cam kết mua và nộp tiền đặt cọc mua cổ phần theo mức do doanh nghiệp quy định và trong thời hạn doanh nghiệp quy định, trước ngày công bố thông tin để tổ chức đấu giá Để bảo đảm bán hết vốn nhà nước, doanh nghiệp có thể yêu cầu nhà đầu tư chiến lược và/hoặc cán bộ công nhân viên phải cam kết: mua hết số lượng cổ phần còn lại (ngoài
số lượng cổ phần đăng ký mua) do nhà đầu tư đã trúng giá nhưng không mua (bỏ tiền đặt cọc) và số cổ phần bán đấu giá không hết theo giá không thấp hơn giá đấu thành công thực tế thấp nhất nếu số cổ phần này bằng hoặc nhỏ hơn 50% số lượng cổ phần bán đấu giá; mua toàn bộ số cổ phần chào bán của doanh nghiệp (kể cả khối lượng dự kiến ban đầu) theo giá khởi điểm trong trường hợp đấu giá không thành công Trường hợp cán bộ công nhân viên và/hoặc nhà đầu tư chiến lược không mua theo cam kết sẽ không được nhận lại tiền đặt cọc
Thứ ba, phương thức bán cả lô toàn bộ số vốn nhà nước tại doanh nghiệp thông qua đấu giá công khai giữa các nhà đầu tư
Phương thức này nhằm đảm bảo thành công khi cần bán hết vốn tại doanh nghiệp, hạn chế khả năng nhà đầu tư chỉ tham gia đấu gia mua một phần cổ phần của doanh nghiệp để đạt tỷ lệ chi phối tại doanh nghiệp Phương thức này được áp dụng trong trường hợp có nhiều hơn một nhà đầu
tư quan tâm và muốn trở thành nhà đầu tư chiến lược tại doanh nghiệp thông qua việc mua cổ phần Phương thức thực hiện áp dụng như đối với trường hợp bán đấu giá cổ phần thông thường, tuy nhiên nhà đầu tư phải đăng ký và nộp tiền đặt cọc mua toàn bộ số cổ phần chào bán của doanh nghiệp Trường
Trang 35hợp có nhiều hơn một nhà đầu tư trả cùng mức giá cao nhất, thì doanh nghiệp yêu cầu công ty tư vấn tiếp tục thực hiện chào giá cạnh tranh bằng hình thức
bỏ phiếu kín giữa các nhà đầu tư tham gia đấu giá với giá khởi điểm không thấp hơn mức giá cao nhất trong phiên đấu giá trước cho đến khi chọn được nhà đầu tư giá cao nhất là nhà đầu tư trúng giá Trường hợp nhà đầu tư trúng giá không nộp tiền mua hết toàn bộ số cổ phần bán đấu giá của doanh nghiệp
sẽ không được mua cổ phần và không được thanh toán lại tiền đặt cọc
Thứ tư, phương thức chào bán cạnh tranh
Phương thức này được thực hiện trong trường hợp vốn nhà nước tại doanh nghiệp chưa niêm yết có tổng mệnh giá cổ phần nhỏ hơn hoặc bằng
100 triệu đồng; hoặc trường hợp doanh nghiệp bán cả lô toàn bộ số cổ phần
mà nhà đầu tư trúng giá không nộp tiền mua hết toàn bộ số cổ phần đó; hoặc trường hợp bán cổ phần không thành công; hoặc trường hợp tổ chức thực hiện bán thỏa thuận
Thứ năm, phương thức bán thỏa thuận
Bán thỏa thuận trong trường hợp đấu giá không thành công hoặc bán không hết cổ phần theo giá bán Bán thỏa thuận trong trường hợp người mua
là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu với nguyên tắc bảo toàn vốn nhà nước theo pwhowng án được Bộ Tài chính chấp thuận Thỏa thuận hóa đổi cổ phần, vốn góp thuộc sở hữu của Tổng công ty tại các doanh nghiệp theo phương án được Bộ Tài chính chấp thuận Bán thỏa thuận theo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ
2.1.5 Quy định về trình tự, thủ tục thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp
Căn cứ Điều 23, Điều 24, Điều 25, Điều 26 Quyết định số ĐTKDV.HĐTV, trình tự, thủ tục thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp cơ bản được thực hiện như sau:
06/QĐ-Thứ nhất, trình tự, thủ tục thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp theo phương thức đấu giá
Trang 36Sau khi nhận được quyết định thoái vốn nhà nước và phê duyệt giá khởi điểm của Thủ tướng Chính phủ, doanh nghiệp chuẩn bị các hồ sơ sau: tài liệu về xác định công nợ và thu hồi công nợ; giấy xác nhận quyền sở hữu
cổ phần; tài liệu và danh sách các nhà đầu tư chiến lược (trường hợp bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược), danh sách người lao động mua cổ phần; hợp đồng tư vấn giữa doanh nghiệp và công ty tư vấn; quy chế đấu giá, bản công
bố thông tin và tài liệu khác liên quan đến đấu giá; ý kiến của tổ chức tư vấn Sau khi hoàn thành các hồ sơ trên, doanh nghiệp tiến hành tổ chức bán đấu giá phần vốn góp nhà nước, đồng thời, đăng thông báo bán đấu giá tại báo địa phương và báo Trung ương Sau khi kết thúc phiên đấu giá, doanh nghiệp tiến hành báo cáo tổng kết tình hình đăng ký tham gia đấu giá; biên bản đấu giá, báo cáo kết quả bán đấu giá; thông báo kết quả đấu giá Cuối cùng, doanh nghiệp cần có xác nhận của bộ phận Tài chính kế toán về việc đã nhận
đủ tiền bán cổ phần và ủy nhiệm chi chuyển tiền bán đấu giá của nhà đầu tư (nếu có)
Thứ hai, trình tự, thủ tục thoái vốn tại các doanh nghiệp theo phương thức bán thỏa thuận
Lãnh đạo doanh nghiệp phê duyệt chủ trương và phương án bán cổ phần cho nhà đầu tư theo nguyên tắc bảo toàn vốn, có hiệu quả, phê duyệt kết quả đàm phán bán cổ phần, thực hiện bán cổ phần, thu tiền bán cổ phần, hoàn tất thủ tục chuyển nhượng Hồ sơ bán thỏa thuận gồm: Công văn chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ (trường hợp bán thỏa thuận theo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ) hoặc văn bản chấp thuận của Bộ Tài chính (trường hợp bán thỏa thuận cho người mua là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu hoặc bán thỏa thuận theo hình thức hoán đổi cổ phần); tờ trình bán cổ phần; quyết định bán cổ phần; tài liệu về xác định công nợ và thu hồi công nợ; giấy xác nhận quyền sở hữu cổ phần; ý kiến của các phòng, ban (nếu có); hợp đồng bán cổ phần hoặc các văn bản tương đương (trừ trường hợp bán thỏa thuận trong trường hợp đấu giá không thành công hoặc đấu giá chưa bán hết)
Trang 372.1.6 Quy định về thanh tra, kiểm tra hoạt động thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp
Hoạt động thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp cần phải thực hiện theo đúng các mục tiêu, nguyên tắc, trình tự thủ tục mà pháp luật đặt ra Có như vậy mới đảm bảo là nguồn vốn nhà nước trước và sau khi thoái được sử dụng có hiệu quả, không xảy ra thất thoát, tiêu cực trong quá trình thoái và sử dụng sau này Để đảm bảo tính tuân thủ trong quá trình thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp thì hoạt động thanh tra, kiểm tra trong quá trình thoái vốn là hoạt động không thể thiếu
Theo Nghị định số 87/2015/NĐ-CP Về giám sát đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp; giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả hoạt động và công khai thông tin tài chính của doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn nhà nước ngày 06 tháng 10 năm 2015 do Chính phủ ban hành (sau đây gọi là Nghị định số 87/2015/NĐ-CP), Luật Quản lý sử dụng vốn nhà nước, Nghị định số 91/2015/NĐ-CP, việc thanh tra, kiểm tra hoạt động thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp được quy định như sau:
Thứ nhất, về chủ thể thanh tra, kiểm tra
Cơ quan đại diện chủ sở hữu thực hiện chức năng giám sát thông qua Người đại diện đối với công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có vốn góp của Nhà nước Hằng năm, Bộ Tài chính tổng hợp báo cáo giám sát tài chính của các cơ quan đại diện chủ sở hữu để báo cáo Chính phủ về hiệu quả hoạt động và thực hiện nhiệm vụ công ích được giao của các doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ; báo cáo Chính phủ về hiệu quả đầu tư vốn nhà nước tại các doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ không quá 50% vốn điều lệ; Sở Tài chính các tỉnh, thành phố
là đầu mối giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổng hợp báo cáo giám sát đối với các doanh nghiệp có vốn nhà nước thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Thứ hai, về nội dung thanh tra, kiểm tra