Thạc sĩ, tiến sĩ, chuyên đề, luận văn, khóa luận, đề tài
Trang 1PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Wriston, cựu Chủ tịch Ngân hàng lớn thứ hai của Mỹ – Citycorp đã từng
nói: “Cuộc sống luôn hàm chứa rủi ro Điều quan trọng là phòng ngừa và kiểm soát rủi ro chứ không triệt tiêu rủi ro” Đúng vậy, cuộc sống luôn tồn tại
một mặt trái của vấn đề mà buộc chúng ta phải quan tâm, không có con đườngnào thật sự là lý tưởng và hoàn hảo để chúng ta không phải lo nghĩ Kinhdoanh là phải chấp nhận rủi ro, nhưng nếu chúng ta không phòng ngừa vàkiểm soát nó thì đó sẽ là con đường dẫn đến mọi sự sụp đổ trong tương lai.Trong nền kinh tế thị trường, hệ thống Ngân hàng được ví như hệ thầnkinh của cả nền kinh tế Hệ thống Ngân hàng quốc gia hoạt động thông suốt,lành mạnh và hiệu quả là tiền đề để các nguồn lực tài chính luân chuyển, phân
bổ và sử dụng đúng mục đích, kích thích tăng trưởng kinh tế một cách bềnvững Nhất là trong giai đoạn hiện nay, việc đẩy nhanh công cuộc đổi mớinhằm phấn đấu hoàn thành các mục tiêu kinh tế, xã hội; từng bước thực hiệnthành công sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước đã được Đảng
và Nhà nước ta hết sức quan tâm.(29)
Cùng với sự đổi mới chung của đất nước, ngành Ngân hàng cũng đã cónhững bước tiến đáng kể trong tổ chức và hoạt động nhằm làm lành mạnh hoá
hệ thống Ngân hàng, góp phần quan trọng vào thắng lợi của sự nghiệp côngnghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước Để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ đặt
ra, ngành Ngân hàng cần phải tiếp tục đổi mới, phát triển mạnh mẽ, toàn diện.Trong đó vấn đề có tính thời sự cấp bách là bảo đảm an toàn và không ngừngnâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng Nhiều vấn đề, nhiều quy trình cần phảiđược tiếp tục phát triển, hoàn thiện để phù hợp hơn với hoạt động của Ngânhàng trong cơ chế thị trường hiện nay
Trang 2Không giống như bất kỳ ngành kinh doanh nào, Ngân hàng là ngànhgánh chịu nhiều rủi ro và đối mặt với nhiều nguy cơ, thách thức Hơn nữa,Ngân hàng là ngành kinh tế nhạy cảm Hoạt động của Ngân hàng với bản chất
là kinh doanh tiền tệ nên chịu ảnh hưởng của rất nhiều loại rủi ro như: Rủi rotrong lĩnh vực tín dụng; rủi ro trong lĩnh vực thanh toán; rủi ro trong lĩnh vựchối đoái; rủi ro trong lĩnh vực công nghệ và hoạt động thị trường; rủi ro tronglĩnh vực lãi suất, trong lĩnh vực điều hành và các hoạt động ngoại bảng Tuynhiên, tập trung nhất vẫn là rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng thường phát sinh
từ nhiều phía, rủi ro tín dụng càng lớn sẽ làm thất thoát nguồn vốn của Ngânhàng và có thể Ngân hàng phải đi đến đóng cửa Chính vì tầm quan trọng củavấn đề nêu trên nên tôi chọn đề tài: (28)
"Một số giải pháp nhằm ngăn ngừa, hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh tại chi nhánh Ngân hàng No & PTNT Nam sông Hương Thừa Thiên Huê" làm luận văn thạc sỹ của mình.
4 Nội dung nghiên cứu
Hệ thống hóa lý luận về công tác quản trị rủi ro trong ngành Ngân hàngPhân tích ưu điểm, hạn chế trong công tác quản trị rủi ro tại chi nhánhNo& PTNT Nam Sông Hương
Để xuất một số giải pháp tăng cường công tác quản trị rủi ro, ngăn ngừa
Trang 35 Phương pháp nghiên cứu
- Thu thập thông tin
+ Thu thập số liệu từ các báo cáo tài chính, kết quả hoạt động kinhdoanh của đơn vị, của ngành, các thông tin trên báo, tạp chí …
- Phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu
Phương pháp luận duy vật biện chứng: vận dụng hai nguyên lý, ba quyluật và sáu cặp phạm trù trong nghiên cứu sự vật hiện tượng kinh tế
Phương pháp tiếp cận cụ thể (duy vật lịch sử) đặt sự vật hiện tượng tronghoàn cảnh lịch sử cụ thể để nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
Phương pháp nghiên cứu tại bàn: sử dụng các thông tin thu thập từ các tổchức và các ngành liên quan, từ các báo cáo, trên cơ sở đó tiến hành phân tíchtheo nhiều tiêu chí khác nhau, tổng hợp và đúc rút kết luận
6 Kết cấu luận văn
Luận văn gồm 4 chương
Chương 1 Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu
Chương 2 Tổng quan về hoạt động của Ngân hàng No&PTNT Nam
Sông Hương
Chương 3 Phân tích tình hình rủi ro tín dụng tại Ngân hàng No & PTNT
Nam Sông Hương
Chương 4 Một số giải pháp ngăn ngừa, hạn chế rủi ro tại Ngân hàng
No&PTNT Nam Sông Hương
Trang 4PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1. Vai trò của Ngân hàng trong nền kinh tế thị trường
Có thể nói rằng sự hoạt động có hiệu quả của Ngân hàng gắn liền với sựhưng thịnh của nền kinh tế Ngày nay trong nền kinh tế thị trường phát triển,Ngân hàng được hiểu là loại hình tổ chức tín dụng kinh doanh toàn bộ hoạtđộng Ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan Các định chế tài chínhNgân hàng tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau với nhiều chức năng kinhdoanh khác nhau, nhưng về cơ bản Ngân hàng vẫn thực hiện vai trò của mộttrung gian tài chính Tức là làm trung gian giữa những chủ thể cần vốn vànhững chủ thể có vốn nhàn rỗi Hệ thống Ngân hàng là một kênh dẫn vốn rấtquan trọng trong nền kinh tế Sự phát triển và tính hiệu quả của hệ thốngNgân hàng có ảnh hưởng quyết định tới nền kinh tế theo cơ chế thị trườnghiện nay.(12)
Mặc dù hiện đang trong giai đoạn chuyển tiếp với nhiều thay đổi, ngànhNgân hàng vẫn đòi hỏi những con người làm việc trong lĩnh vực này phải hội
tụ đầy đủ các phẩm chất đặc biệt mà không phải bất cứ cá nhân nào cũng có.Trong đó, sự trung thực, độ tin cậy, tính cẩn thận và tinh thần sẵn sàng tiếpthu những ý tưởng mới trong quá trình đáp ứng các nhu cầu về dịch vụ củakhách hàng luôn là những nội dung quan trọng nhất Các nhà quản lý Ngânhàng phải không ngừng học hỏi, tìm tòi, sáng tạo bởi vì công nghiệp Ngân
Trang 5hàng phát triển, đổi mới hàng ngày và khách hàng của họ luôn muốn Ngânhàng là những người tiên phong cho dù mọi thứ có thay đổi nhanh đến đâu.
1.1.2. Tổ chức hệ thống Ngân hàng hiện nay
Cũng như các chủ thể kinh tế khác, các Ngân hàng hoạt động kinh doanhtrong nền kinh tế thị trường đều chịu tác động của các quy luật kinh tế như:Quy luật cạnh tranh, quy luật cung – cầu, quy luật giá trị … Tuy nhiên, thịtrường vẫn tồn tại những khuyết tật không thể khắc phục đựơc mà cần phải có
sự điều chỉnh phù hợp từ phía Nhà nước để phát huy tối đa năng lực của cácngân hàng cũng như tránh khỏi những ảnh hưởng tiêu cực của nền kinh tế thịtrường mà cụ thể nhất là khủng hoảng kinh tế.(21)
Hiện nay, Việt Nam đang áp dụng mô hình tổ chức hệ thống Ngân hàngtheo hai cấp:
* Cấp 1 (cấp quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh Ngân hàng).Gồm có Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nướctrong lĩnh vực kinh doanh Ngân hàng, thực thi chính sách tiền tệ …
* Cấp 2 (cấp kinh doanh)
Gồm có các tổ chức tín dụng (Ngân hàng & phi Ngân hàng) thực hiệnhoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng nhằm mục đích lợi nhuận.Theo tính chất và mục tiêu hoạt động có các loại hình Ngân hàng như:
- Ngân hàng thương mại
- Ngân hàng đầu tư
- Ngân hàng phát triển
- Ngân hàng chính sách …
1.1.3. Chức năng của Ngân hàng thương mại
Nghiệp vụ kinh doanh của Ngân hàng thương mại rất đa dạng và phongphú Bên cạnh những nghiệp vụ truyền thống là huy động tiền gửi dưới nhiềuhình thức để cho vay thì trong thời gian gần đây các Ngân hàng thương mại
Trang 6còn cho ra đời nhiều loại hình kinh doanh mới như: Phát hành thẻ tín dụng,cung cấp dịch vụ kiểm toán đối với các Công ty, tín dụng thuê mua, dịch vụtrả tiền tự động (ATM), môi giới chứng khoán, cho thuê két sắt…Như vậy,tầm quan trọng của các Ngân hàng thương mại được thể hiện qua các chứcnăng cơ bản của nó.
1.1.3.1 Chức năng tín dụng
Đây là chức năng quan trọng nhất của một Ngân hàng Với những lợi thếcủa mình, Ngân hàng đứng ra làm trung gian giữa người có nhu cầu cho vay
và đi vay Ngân hàng sẽ tiến hành huy động các nguồn vốn nhàn rỗi, trên cơ
sở đó tập hợp nên các quỹ để tiến hành tài trợ cho các đối tượng có nhu cầu
1.1.3.2 Chức năng thanh toán
Với chức năng này, Ngân hàng thực hiện các hoạt động thanh toán trongnền kinh tế mà cơ bản là thanh toán không dùng tiền mặt Hệ thống thanhtoán này đã và đang phát triển từ nhiều thế kỷ nay Sự đổi mới cơ chế thanhtoán chính là khâu then chốt thúc đẩy hệ thống thanh toán phát triển Cụ thể là
cơ chế thanh toán tiền giấy ra đời thay cho tiền kim loại đã hình thành nên hệthống thanh toán dựa trên cơ sở tiền giấy Không dừng lại ở đó, trên cơ sở nhucầu tiện lợi trong thanh toán mà séc đã ra đời tạo ra cơ chế thanh toán khôngdùng tiền mặt Trong những năm gần đây đã có những đổi mới quan trọng vàđược đưa vào sử dụng, đó là nghiệp vụ thanh toán và chuyển tiền điện tử
1.1.3.3 Chức năng huy động tiết kiệm
Các Ngân hàng thương mại thực hiện một dịch vụ rất quan trọng đốivới tất cả các khu vực của nền kinh tế bằng cách cung ứng những điều kiệnthuận lợi cho việc gửi tiền tiết kiệm của dân chúng Người gửi tiền tiết kiệmđược nhận một khoản tiền thưởng với danh nghĩa lãi suất trên tổng số tiền gửitiết kiệm ở các Ngân hàng với mức độ an toàn và khả năng thanh khoản cao
Trang 7vay vốn của các doanh nghiệp, cá nhân nhằm mở rộng khả năng sản xuất vàcác mục đích khác như tiêu dùng hay mua nhà cửa Phần lớn tiền gửi tiếtkiệm được huy động qua hệ thống Ngân hàng thương mại.
1.1.3.4 Chức năng tạo tiền
Tạo tiền là một chức năng quan trọng phản ánh rõ bản chất của Ngânhàng thương mại Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như một yêu cầu chínhcho sự tồn tại và phát triển của mình, các Ngân hàng thương mại với cácnghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô hình dung thực hiệnchức năng tạo tiền cho nền kinh tế Các nghiệp vụ kinh doanh đặc thù ấychính là nghiệp vụ tín dụng và đầu tư trong mối liên hệ chặt chẽ với Ngânhàng trung ương Sức mạnh của hệ thống Ngân hàng thương mại nhằm tạo ratiền mang ý nghĩa kinh tế to lớn Hệ thống tín dụng năng động là điều kiệncần thiết cho sự phát triển kinh tế trên cơ sở của một mức tăng trưởng vữngchắc Nếu tín dụng Ngân hàng không tạo được tiền để mở ra những điều kiệnthuận lợi cho quá trình sản xuất thì có thể gây ra sự ứ đọng vốn lưu thông choquá trình sản xuất đó
1.1.3.5 Chức năng tài trợ ngoại thương
Mặc dù ngoại thương được hình thành và bắt nguồn từ các hoạt độngmua bán quốc tế nhưng chúng có sự khác nhau đáng kể Sự khác nhau này là
do khác biệt về hệ thống tiền tệ ở mỗi nước, năng lực tài chính của người mua
và người bán thuộc các nước khác nhau Chính từ sự khác nhau này, các Ngânhàng thương mại cần thiết cung ứng các nghiệp vụ Ngân hàng quốc tế đối vớicác hoạt động ngoại thương như: Chiết khấu hối phiếu, bảo lãnh, tín dụng thư.Bên cạnh việc tài trợ cho hoạt động ngoại thương, tín dụng của các Ngânhàng thương mại còn góp phần vào quá trình tự do hoá ngoại thương giữa cácnước với nhau với một chi phí hợp lý
Trang 81.1.3.6 Chức năng ủy thác
Việc thu nhập tăng lên đã tạo ra khả năng tích luỹ lành mạnh và chínhkhả năng đó đã góp phần vào việc phát triển các dịch vụ ủy thác của Ngânhàng thương mại Trong bối cảnh như thế, mỗi cá nhân có thể tích luỹ mộtkhối lượng tài sản lớn thậm chí chỉ ở mức trung bình cũng có thể xuất hiệnnhu cầu muốn phân chia tài sản đó trước khi qua đời Với hình thức ủy thác,người ủy thác, các văn phòng ủy thác có trách nhiệm sử dụng vốn để đầu tư
và quản lý số vốn này, kể cả phân phối thu nhập theo các điều khoản của hợpđồng ủy thác
1.1.3.7 Chức năng bảo quản an toàn vật có giá
Nhờ ưu thế của các Ngân hàng thương mại là nơi kiên cố dùng để bảoquản tiền bạc và các vật có giá khác nên các Ngân hàng thương mại có điềukiện thực hiện chức năng bảo quản an toàn vật có giá của khách hàng Côngviệc bảo quản vật có giá được phân thành hai bộ phận khác nhau của mộtNgân hàng Đó là cho thuê két sắt bảo quản ký thác và trực tiếp bảo quản vật
có giá của khách hàng
Với két sắt bảo quản ký thác, khách hàng có quyền kiểm tra tài sản củamình vào bất cứ lúc nào và các Ngân hàng thương mại chỉ đơn thuần cungcấp kho bảo quản và các phương tiện cần thiết nhằm đảm bảo an toàn cho cáctài sản của khách hàng
Khác với hình thức trên, việc bảo quản vật có giá liên quan trực tiếp đếnviệc bảo quản các chứng khoán như: Trái phiếu và cổ phiếu được giữ lại làmvật thế chấp cho các khoản nợ vay Các chứng khoán được bảo quản theochức năng làm nghiệp vụ ủy thác
Nhìn chung do tính chất đặc thù của nghiệp vụ này mà chức năng bảoquản chỉ diễn ra ở các Ngân hàng lớn Một thực tế khá phổ biến là các chứng
Trang 9ở các Ngân hàng thương mại Trong nhiều trường hợp, nhiều khách hàngkhông chỉ thực hiện bảo quản các chứng khoán tại Ngân hàng mà còn yêu cầuNgân hàng làm dịch vụ thu lãi chứng khoán và tự động chuyển lãi đó vào tàikhoản của họ tại Ngân hàng.
1.1.3.8 Chức năng môi giới
Với chức năng này, Ngân hàng thực hiện công việc môi giới cho việcmua bán chứng khoán trên thị trường Việc môi giới chứng khoán diễn ra trênthị trường đòi hỏi phải có kỹ thuật và chuyên môn nghiệp vụ Vì vậy, nếungười mua và người bán là những cá nhân hoặc tổ chức không có đủ điềukiện để thực hiện các nghiệp vụ này thì họ phải thông qua các nhà môi giới.Trong số những nhà môi giới chứng khoán thì Ngân hàng là một thành viênquan trọng
MẠI
Để có một nền kinh tế lành mạnh, tốc độ tăng trưởng cao, bền vững đòihỏi các định chế tài chính phải luân chuyển vốn từ những người tiết kiệm đếnnhững đầu tư sản xuất Như vậy thông qua hoạt động huy động vốn và chovay lại, các định chế tài chính thu được chênh lệch lãi suất, bảo đảm an toàn
và góp phần tăng trưởng kinh tế Hiện nay ở hầu hết các quốc gia, các quy chếhoạt động kinh doanh Ngân hàng luôn là những quy chế riêng mang tính đặcthù Do có tính đặc thù nên hoạt động kinh doanh Ngân hàng ảnh hưởng rấtlớn đến toàn bộ nền kinh tế và ảnh hưởng của nó mang tính dây chuyền, lâylan và sâu rộng
1.2.1. Nghiệp vụ huy động vốn
Nghiệp vụ huy động vốn tạo nên phần tài sản nợ chủ yếu của bất cứNgân hàng nào, nó phản ánh nghĩa vụ tài chính của Ngân hàng đó đối với các
Trang 10Công ty, các hộ gia đình và Chính phủ Trong trường hợp thanh lý Ngânhàng, khoản thu nhập được từ bán tài sản được sử dụng đầu tiên để hoàn trảcác khoản tiền gởi Những chủ nợ khác và chủ sở hữu Ngân hàng chỉ đượcnhận phần tài sản còn lại.
Cấu trúc tài sản nợ của Ngân hàng cũng quan trọng như chất lượng tàisản có xét từ góc độ phân tích sự lành mạnh của Ngân hàng Quản trị tài sản
* Nhóm tiền gửi:
Có 3 loại tiền gửi chính sau:
Tiền gửi thị trường tiền tệ: Mức lãi suất phụ thuộc vào sự cạnhtranh trên thị trường
Tiền gửi kỳ hạn: Chủ yếu là chứng chỉ tiền gửi, bao gồm nhữngchứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng với số dư lớn được Ngân hàng pháthành để tăng vốn
Tiền gửi tiết kiệm: Có mức lãi suất thấp, thường là tuỳ ý và ngườigửi có thể rút trước hạn
* Nhóm tiền vay:
Ngày nay những Ngân hàng càng lớn càng có xu hướng sử dụng nhiềuhơn phương thức đi vay, huy động vốn phi tiền gửi Một trong những lý dokhiến cho các Ngân hàng tích cực đi vay nhiều hơn là do hầu hết các khoản đi
Trang 11vay không bị tham gia dự trữ bắt buộc, do đó làm giảm một phần chi phí tiềnvay, mặt khác các Ngân hàng có thể tiếp cận thị trường tiền tệ để dàn xếp mộtkhoản vay trong vòng vài phút và tiền được chuyển ngay vào tài khoản củaNgân hàng đi vay.
1.2.2. Nghiệp vụ tín dụng
Tín dụng Ngân hàng là một nghiệp vụ kinh doanh mang lại phần lớnnguồn thu nhập cho Ngân hàng và nó quyết định tới sự thành công hay thấtbại của Ngân hàng trên thị trường Như vậy dưới góc độ Ngân hàng, tín dụng
được hiểu là: “Một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay và bên đi vay Trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay
sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán” Việc hoàn trả vô điều kiện này chính là các hợp đồng tín dụng, các khế
ước nhận nợ, các giấy tờ có giá khác
1.2.2.2 Phân loại
Ngân hàng thực hiện cho vay đối với nhiều đối tượng khác nhau vớinhiều hình thức khác nhau và với nhiều thời hạn khác nhau Vì vậy, cáckhoản cho vay có thể được phân loại bằng nhiều cách
a) Căn cứ vào mục đích
Theo căn cứ này, cho vay thường được chia ra làm các loại sau:
Cho vay bất động sản: Là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm
và xây dựng bất động sản nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực côngnghiệp, thương mại và dịch vụ
Cho vay công nghiệp và thương mại: Là loại cho vay ngắn hạn để
bổ sung vốn lưu thông cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp,thương mại và dịch vụ
Trang 12 Cho vay nông nghiệp: Là loại cho vay để trang trải các chi phí sảnxuất như phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây, thức ăn gia súc, lao động, nhiênliệu
Cho vay cá nhân: Là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêudùng như mua sắm các vật dụng đắt tiền Ngày nay, Ngân hàng còn thực hiệncác khoản cho vay để trang trải các chi phí thông thường của đời sống thôngqua phát hành thẻ tín dụng
Cho thuê tài chính và các loại khác
b) Căn cứ vào thời hạn cho vay
Theo căn cứ này, cho vay được chia ra 3 loại sau:
Cho vay ngắn hạn: Đây là loại cho vay có thời hạn dưới 12 tháng
và được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp
và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân Đối với Ngân hàng thương mại,tín dụng ngắn hạn thường chiếm tỷ trọng cao nhất
Cho vay trung hạn: Theo quy định hiện nay của Ngân hàng Nhànước Việt Nam, cho vay trung hạn có thời hạn từ 1 – 5 năm, còn đối với cácnước trên thế giới cho vay loại này có thời hạn đến 7 năm Tín dụng trung hạnchủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổimới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự ánmới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh Trong nông nghiệp, chủyếu cho vay trung hạn để đầu tư vào các đối tượng sau: Máy cày, máy bơmnước, trồng cà phê …
Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm (ViệtNam) và trên 7 năm (đối với các nước trên thế giới)
Trang 13Tín dụng dài hạn là loại tín dụng được cấp để đáp ứng các nhu cầu dàihạn như xây dựng nhà cửa, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn,xây dựng các xí nghiệp mới.
c) Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng
Theo căn cứ này, cho vay được chia làm 2 loại:
Cho vay không đảm bảo: Là loại cho vay không có tài sảnthế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba mà việc cho vay chỉ dựavào uy tín của bản thân khách hàng Đối với những khách hàng tốt, trung thựctrong kinh doanh có khả năng tài chính lành mạnh, quản trị có hiệu quả thìNgân hàng có thể cấp tín dụng dựa vào uy tín của bản thân khách hàng màkhông cần một nguồn thu nợ thứ hai bổ sung
Cho vay có đảm bảo: Là loại cho vay được Ngân hàng cungứng khi khách hàng phải có tài sản thế chấp hoặc cầm cố hoặc phải có sự bảolãnh từ một bên thứ ba Đối với các khách hàng không có uy tín cao, khi vayvốn đòi hỏi phải có đảm bảo Sự đảm bảo này là căn cứ pháp lý để Ngân hàng
có thêm một nguồn thứ hai bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắcchắn
d) Căn cứ vào hình thái giá trị của tín dụng
Theo căn cứ này, cho vay được chia làm 2 loại:
Cho vay bằng tiền: Là loại cho vay mà hình thái giá trị củatín dụng được cung cấp bằng tiền Đây là loại cho vay chủ yếu của các Ngânhàng và việc thực hiện bằng các kỹ thuật khác nhau như: tín dụng ứng trước,tín dụng thời vụ, tín dụng trả góp …
Cho vay bằng tài sản: Là hình thức cho vay bằng tài sản rấtphổ biến và đa dạng, riêng đối với Ngân hàng cho vay bằng tài sản được ápdụng phổ biến đó là cho thuê tài chính Theo phương thức cho vay này, Ngânhàng hoặc các Công ty thuê mua (Công ty con của Ngân hàng) cung cấp trực
Trang 14tiếp tài sản cho người đi vay được gọi là người đi thuê và theo định kỳ người
đi thuê hoàn trả nợ vay bao gồm cả vốn gốc và lãi
e) Căn cứ vào phương pháp hoàn trả
Theo căn cứ này, cho vay được chia làm 2 loại:
Cho vay trả góp: khách hàng phải hoàn trả vốn gốc và lãi theođịnh kỳ Loại cho vay này chủ yếu được áp dụng trong cho vay bất động sản,nhà ở, cho vay tiêu dùng, cho vay đối với những người kinh doanh nhỏ, chovay trang bị kỹ thuật trong nông nghiệp Thông thường có 4 phương pháp trảgóp sau:
Phương pháp trả vốn gốc và lãi bằng nhau trong tất cả các định kỳ
Cho vay phi trả góp: được thanh toán một lần theo kỳ hạn
đã thoả thuận
f) Căn cứ vào xuất xứ tín dụng
Theo căn cứ này, cho vay được chia làm 2 loại:
Cho vay trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người
có nhu cầu, đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho Ngân hàng
Trang 15 Cho vay gián tiếp: Là khoản cho vay đựơc thực hiện thôngqua việc mua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thờihạn thanh toán.
Các Ngân hàng thương mại cho vay gián tiếp theo các loại sau:
Chiết khấu thương phiếu
Mua các phiếu bán hàng tiêu dùng trả góp
Mua các khoản nợ doanh nghiệp
g) Căn cứ vào tín dụng bằng chữ ký
Theo căn cứ này, cho vay có các loại sau:
Tín dụng chấp nhận: Là việc khách hàng phát hành một hốiphiếu mà trong đó Ngân hàng đóng vai trò là người thụ lệnh Khách hàngdùng hối phiếu này để chiết khấu ở một Ngân hàng khác để nhận tiền Trướckhi hối phiếu đến hạn thanh toán, khách hàng phải thanh toán cho Ngân hàngthụ lệnh để Ngân hàng này chi trả cho Ngân hàng chiết khấu
Trong quan hệ này, Ngân hàng không phải là người thiếu nợ mà Ngânhàng cho mượn uy tín của mình để khách hàng được vay vốn
Tín dụng chứng từ: Ngân hàng mở tín dụng chứng từ cho kháchhàng là nhà nhập khẩu và người thụ hưởng là nhà xuất khẩu ở ngước ngoài.Điều này có nghĩa là Ngân hàng đã cam kết trả tiền khi nhà xuất khẩu đã gửihàng và xuất trình các chứng từ theo đúng các điều kiện của thư tín dụng
Trang 16 Bảo lãnh của Ngân hàng: Loại tín dụng này đang được áp dụngkhá phổ biến Để đảm bảo thực hiện một nghĩa vụ của khách hàng, Ngân hàngđứng ra bảo lãnh cho khách hàng bằng việc phát hành các chứng thư bảo lãnh.Chứng thư bảo lãnh là giấy cam kết của Ngân hàng sẽ thực hiện nghĩa vụthay cho người được bảo lãnh nếu người này không thực hiện nghĩa vụ củamình.
Bảo lãnh Ngân hàng có các loại thông dụng sau đây:
Bảo lãnh thuế quan;
Bảo lãnh khoản tiền giữ lại;
Bảo đảm hoàn thanh toán các khoản tạm ứng;
1.2.3.1 Khái niệm và ý nghĩa quy trình tín dụng
Trong các quan hệ giao dịch trong lĩnh vực kinh doanh luôn tồn tạinhững rủi ro bất trắc do các bên tham gia không nắm rõ thông tin về nhau.Trong quan hệ tín dụng Ngân hàng cũng vậy, khi thực hiện cho vay Ngânhàng luôn tìm cách khai thác tối đa những thông tin về khách hàng để làm rõnăng lực sử dụng vốn vay và khả năng hoàn trả vốn vay của Ngân hàng đểlàm cơ sở cho những quyết định cho vay đối với khách hàng.(2)
Việc Ngân hàng nắm những thông tin không đầy đủ, bị bóp méo vềkhách hàng là nguyên nhân dẫn đến việc hình thành rủi ro tín dụng Để giảiquyết vấn đề này, các Ngân hàng thường xây dựng một quy chế cho vaychung mô tả chi tiết toàn quá trình bao gồm các bước, các nguyên tắc thựchiện khi xét duyệt cho vay và được gọi là quy trình tín dụng
Trang 17Một quy trình tín dụng được xây dựng luôn nhắm tới 3 mục tiêu, đó là:
o Lợi nhuận của Ngân hàng (lợi tức);
o An toàn ít rủi ro (thanh khoản);
o Sự lành mạnh của các khoản tín dụng
Một quy trình tín dụng hiệu quả luôn luôn giúp các nhân viên Ngân hàngtrả lời các câu hỏi như: Quy mô của các khoản cho vay là bao nhiêu?, thời hạncho vay bao nhiêu là thích hợp?, sử dụng các hình thức cho vay nào?
1.2.3.2 Nội dung quy trình tín dụng
Về mặt thời gian, quy trình tín dụng được chia làm ba giai đoạn: Trướckhi cấp tín dụng, trong khi cấp tín dụng và sau khi cấp tín dụng Về mặt tácnghiệp, quy trình tín dụng được chia ra làm các bước cụ thể sau:
Bước 1: Lập hồ sơ đề nghị cấp tín dụng
Bước 2: Phân tích tín dụng
Bước 3: Quyết định tín dụng
Bước 4: Giải ngân
Bước 5: Giám sát và thanh lý tín dụng
Việc xây dựng quy trình tín dụng hợp lý sẽ góp phần nâng cao hiệu quảcủa hoạt động quản trị nhằm giảm thiểu rủi ro và nâng cao lợi nhuận Quytrình tín dụng được xây dựng hợp lý sẽ có tác dụng:
Thứ nhất, quy trình tín dụng sẽ làm cơ sở xây dựng mô hình tổ chứccông việc hợp lý trong Ngân hàng Theo đó nhiệm vụ của các cá nhân, phòngban liên quan đến hoạt động kinh doanh sẽ được quy định cụ thể
Thứ hai, quy trình tín dụng giúp Ngân hàng thiết lập thủ tục hành chínhtối ưu trong quá trình thực hiện cho vay đối với từng nhóm khách hàng Điềunày có ý nghĩa quan trọng trong việc tiết kiệm thời gian và hạ thấp chi phígiao dịch cho cả hai bên trong khi vẫn đảm bảo tuân thủ những quy định của
Trang 18pháp luật cũng như đảm bảo các mục tiêu về an toàn trong kinh doanh củaNgân hàng.
Thứ ba, quy trình tín dụng tạo cơ sở cho việc kiểm soát quá trình thựchiện cho vay đối với khách hàng Thông qua đó các nhà quản trị Ngân hàngnhanh chóng xác định những khâu còn yếu kém cần điều chỉnh cho hợp lý.Hơn thế nữa, việc kiểm soát còn giúp Ngân hàng phát hiện và giải quyết triệt
để những rủi ro ngay từ khi mới phát sinh
1.2.3.2.1. Lập hồ sơ đề nghị cấp tín dụng
Về mặt kinh tế, trong giai đoạn này quan hệ tín dụng chưa hình thànhnhưng đây là giai đoạn quan trọng vì để phân tích, đánh giá khách hàng vayvốn được chính xác Ngân hàng phải dựa vào nguồn thông tin từ những tàiliệu, giấy tờ của khách hàng cung cấp trong giai đoạn này Đây là giai đoạnchuẩn bị những điều kiện cần thiết để quan hệ tín dụng lành mạnh được thiếtlập Việc lập hồ sơ đề nghị cấp tín dụng đòi hỏi phức tạp hay đơn giản nó phụthuộc vào các nhân tố sau:
Loại khách hàng: Tuỳ thuộc vào khách hàng thuộc nhómnào, nhóm đã có quan hệ tín dụng với Ngân hàng trước đó hay nhóm mới cóquan hệ tín dụng với Ngân hàng lần đầu mà hồ sơ yêu cầu phải có ít haynhiều loại giấy tờ
Loại và kỹ thuật cấp tín dụng, với mỗi loại và kỹ thuật cấptín dụng khác nhau mà đòi hỏi hồ sơ thay đổi phù hợp yêu cầu về mặt thôngtin đối với kỹ thuật và loại hình cho vay đó
Quy mô nhu cầu tín dụng: Quy mô món vay càng lớn thìyêu cầu thông tin từ hồ sơ tín dụng càng tăng Bên cạnh đó, thời hạn món vaycàng dài thì yêu cầu từ thông tin hồ sơ càng nhiều
Trang 19Về cơ bản thông tin mà khách hàng cần cung cấp trong hồ sơ đề nghị cấpthuộc bốn nhóm sau đây:
Những tài liệu chứng minh năng lực pháp lý của khách hàng;
Những tài liệu chứng minh năng lực sử dụng vốn vay và khảnăng hoàn vốn vay của khách hàng;
Những tài liệu liên quan đến đảm bảo tín dụng hoặc những điềukiện cấp tín dụng đặc thù như trường hợp cho vay tín chấp;
Giấy đề nghị cấp tín dụng của khách hàng
1.2.3.2.2. Phân tích tín dụng
Với vô số rủi ro khi cho vay xuất phát từ nhiều yếu tố có thể dẫn đếnviệc không thanh toán được nợ khi đến hạn Nguyên nhân đó có thể do thiêntai, thay đổi về nhu cầu tiêu dùng hoặc về kỹ thuật của một ngành côngnghiệp nào đó, sự suy thoái kinh tế dẫn đến việc làm ăn thua lỗ của các Công
ty cũng là một nguyên nhân khách quan Để quyết định có chấp nhận cho vayhay không Ngân hàng cần phải ước lượng rủi ro kể trên Rủi ro này có thểđược dự đoán bằng phương pháp phân tích tín dụng
Mục tiêu phân tích tín dụng
Mục tiêu chính của phân tích tín dụng là xác định khả năng và ý muốncủa người vay trong việc hoàn trả tiền vay, phù hợp với các điều khoản tronghợp đồng tín dụng Một Ngân hàng phải xác định mức độ rủi ro có thể chấpnhận trong mỗi trường hợp và mức cho vay có thể được chấp nhận với mứcrủi ro có thể có Một số yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của người vayrất khó đánh giá nhưng chúng phải được xem xét sát với thực tế thông quaviệc xem xét hồ sơ kinh tế của người đi vay Việc cho vay không nên hoàntoàn chỉ dựa vào lịch sử và danh tiếng của người đi vay
Về căn bản phân tích tín dụng giống nhau trong tất cả các Ngân hàng.Quá trình phân tích tín dụng gồm các bước:
Trang 20Bước 1: Thu thập thông tin;
Bước 2: Chuẩn bị và phân tích thông tin thu thập được;
Bước 3: Sưu tầm và lưu lại thông tin để sử dụng trong tương lai
Các yếu tố xem xét khi phân tích tín dụng
Năng lực vay nợ:
Các Ngân hàng không chỉ quan tâm đến khả năng hoàn trả của người vay
mà còn quan tâm đến tư cách pháp lý của họ khi đi vay Tư cách người đạidiện của bên xin vay (nếu là một tổ chức) cũng được xem xét cụ thể Quyềnđòi nợ của Ngân hàng cũng cần được phân tích cụ thể Ngân hàng có thểkhông xét cho vay đối với một số trường hợp bên vay không ưu tiên quyềnđòi nợ của Ngân hàng Tức là Ngân hàng chỉ sẵn sàng cho Công ty vay vớiđiều kiện là các cổ đông và các chủ nợ khác đồng ý cho Công ty trả nợ trướccho Ngân hàng trong trường hợp kinh doanh bị phá sản
Khái niệm uy tín có liên quan đến các giao dịch tín dụng, không chỉ có ýnghĩa là sự sẵn lòng trả nợ mà còn có ý nghĩa phản ánh sự kiên quyết thựchiện tất cả các giao ước trong hợp đồng tín dụng của người vay Uy tín quantrọng nhất là tính thật thà và liêm chính của bên vay Hồ sơ quá khứ của mộtngười xin vay trong việc thực hiện các hợp đồng của họ thường có giá trị khiđánh giá uy tín về tín dụng
Khả năng sinh lợi:
Nếu khoản vay được trả từ lợi nhuận thì điều quan trọng là phải đánh giáđược khả năng của người vay trong việc tìm kiếm lợi nhuận để trả nợ Đối với
cá nhân khả năng tạo ra lợi tức tuỳ thuộc vào các yếu tố như: Giáo dục, sứckhoẻ, năng lực, kỹ năng, tuổi tác, nghề nghiệp … Đối với một hãng kinhdoanh, việc tạo ra lợi tức tuỳ thuộc vào các yếu tố ảnh hưởng đến doanh thu,giá thành và chi phí … Những yếu tố này bao gồm chất lượng hàng hoá, khả
Trang 21năng cạnh tranh, trình độ tay nghề, nguyên vật liệu và chất lượng quản lý.Nhiều người cho rằng chất lượng quản lý như là khả năng của Công ty trongviệc thu hút nhân sự, nguyên liệu và quỹ vốn để sản xuất một loại hàng hoá vàdịch vụ với lợi nhuận thoả thuận.
Tài sản thế chấp:
Tài sản thế chấp cũng là một điều kiện không thể thiếu trong việc xét cấptín dụng Tín dụng sẽ không được cấp nếu Công ty không đủ tài sản đảm bảocho các khoản vay nợ Giá trị thực của Công ty (chủ yếu là vốn chủ sở hữu) làthước đo sức mạnh tài chính của họ và thường là yếu tố quyết định khối lượngtín dụng mà một Ngân hàng sẵn sàng cấp cho doanh nghiệp Tài sản thế chấp
sẽ đảm bảo cho các khoản vay được trả nợ trong trường hợp khả năng kiếmlời của người vay không đủ để trả nợ Mặc dù tài sản thế chấp giảm bớt đượcrủi ro nhưng Ngân hàng vẫn muốn vốn vay được trả từ thu nhập của doanhnghiệp
Một số điều kiện khác
Các điều kiện kinh tế cũng ảnh hưởng đến khả năng hoàn trả của ngườivay nhưng chúng thường vượt quá sự kiểm soát của người vay lẫn người chovay Các điều kiện kinh tế tạo ra môi trường hoạt động cho các tổ chức và các
cá nhân Trong đó, người vay có thể có uy tín tốt, khả năng tạo ra lợi nhuận rõràng và đủ tài sản thế chấp nhưng các điều kiện kinh tế bất lợi vẫn có thể dẫntới rủi ro tín dụng ngoài ý muốn Kỳ hạn của khoản nợ càng dài thì việc dựbáo kinh tế càng trở nên quan trọng
Phân tích báo cáo tài chính
Các báo cáo tài chính của người vay nằm trong số những nguồn thôngtin quan trọng nhất mà nhân viên tín dụng cần phải có Người cho vay sửdụng các báo cáo tài chính để ước lượng nhu cầu vốn của người xin vay, đánh
Trang 22giá khả năng trả nợ, ước lượng thiệt hại có thể có khi người vay không hoàntrả và quyết định các điều khoản cho vay nếu có.
Tuy nhiên, thông tin từ các báo cáo tài chính trước đó cần phải đượcsàng lọc thận trọng vì thông tin trong quá khứ không hoàn toàn tin cậy chonhững dự báo trong tương lai Giá trị chủ yếu của các báo cáo tài chính làgiúp đánh giá hợp lý các dự báo về ngân quỹ và lợi nhuận của người vay
Ví dụ: Nếu thu nhập trước thuế của người vay trong những năm gần đâytăng bình quân 5% và không bao giờ vượt quá 6% thì dự báo mức tăng thunhập trước thuế trong thời gian tới 8% là đáng nghi vấn
Các báo cáo tài chính cần phải được kiểm toán đầy đủ Tuy nhiên, vớicác báo cáo đã được kiểm toán cũng cần có nhiều cách đánh giá khác nhau vềgiá trị kế toán của các tài sản cũng như lợi nhuận Nếu phải dựa trên các dựbáo ngân quỹ và các báo cáo tài chính tạm thời của người vay, nhân viên tíndụng phải xem xét thận trọng các yếu tố quan trọng liên quan đến lợi nhuậncũng như khối lượng hàng hoá, giá bán, mức lương, chi phí bán hàng và chiphí quản lý doanh nghiệp
Đánh giá các khoản mục trong báo cáo tài chính;
Đánh giá các khoản mục tài sản;
Đánh giá nguồn vốn và vốn chủ sở hữu;
Đánh giá báo cáo lợi tức;
Đánh giá báo cáo về sự thay đổi tình hình tài chính
Phân tích tài chính thông qua các chỉ tiêu
Về cơ bản, phân tích tài chính có 4 loại chỉ tiêu sau:
Thanh khoản;
Hoạt động kinh doanh;
Sức mạnh tài chính;
Doanh lợi
Trang 23Qua hệ thống chỉ tiêu đó, tình hình tài chính của doanh nghiệp đượcphác họa rất khái quát và rõ nét.
về chất lượng và tính phức tạp của quá trình phân tích không cao
Trong trường hợp phẩm chất đạo đức hay chuyên môn của nhân viên tíndụng không tốt sẽ dẫn tới rủi ro mang tính chủ quan
B ng 1: Ch tiêu đánh giá tình hình tài chính c a doanh nghi p ảng 1: Chỉ tiêu đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp ỉ tiêu đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp ủa doanh nghiệp ệp
Loại chỉ tiêu Tên chỉ tiêu Phương pháp xác định
1.Thanh khoản Thanh toán ngắn hạn Tài sản lưu động Nợ ngắn hạn
2.Thanh khoản Thanh toán nhanh Vốn bằng tiền và
các khoản phải thu
Nợ ngắn hạn
3.Hoạt động KD Hiệu suất sử dụng tài
sản
Doanh thu thuần Tổng tài sản
4.Hoạt động KD Hiệu suất sử dụng tài
sản cố định
Doanh thu thuần Tài sản cố định ròng
5.Hoạt động KD Thời hạn thu tiền
bình quân
Các khoản phải thu Doanh thu bình quân
1 ngày 6.Hoạt động KD Vòng quay hàng tồn
10.Cơ cấu tài chính Cơ cấu tài sản TSCĐ hoặc TSLĐ Tổng tài sản
11.Cơ cấu tài chính Phạm vi chi phí cố
định
Lợi nhuận gộp (lãi gộp)
Chi phí cố định + Thuế
12.Doanh lợi Hệ số sinh lợi doanh Lợi nhuận trước Doanh thu thuần
Trang 24thu thuế 13.Doanh lợi Hệ số sinh lợi của tài
Lợi nhuận sau thuế Vốn chủ sở hữu
( Nguồn: Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn trung ương )
Thứ hai, quá trình phân tích tín dụng được chuyên môn hoá theo đó sẽ cónhững bộ phận chuyên môn cụ thể thực hiện các khâu trong quá trình phântích tín dụng
Bộ phận phân tích đảm bảo tín dụng: Đánh giá các tiêuchuẩn tài sản, đảm bảo về mặt pháp lý, giá trị, thị trường, quyền sở hữu vàquyền sử dụng hợp pháp
Bộ phận phỏng vấn: Đánh giá các yếu tố định tính để đưa rakết luận về thái độ trả nợ của khách hàng
Bộ phận này thực hiện chức năng liên hệ và tiếp xúc khách hàng trongsuốt thời gian tồn tại của quan hệ tín dụng
Bộ phận rủi ro: Thực hiện đánh giá rủi ro của món vay bằngcác phương pháp chuyên môn như chấm điểm, ước lượng …
Bộ phận dự báo: Thực hiện các dự báo bằng phương phápkinh nghiệm kết hợp với phương pháp toán học (như thống kê, mô hình bàitoán tối ưu …) để đưa ra những số liệu tương lai có ảnh hưởng đến món vaynhư: lãi suất, lạm phát, tỷ giá, tăng trưởng kinh tế, tình hình đầu tư nướcngoài và các xu hướng kinh tế quan trọng khác
Bộ phận tín dụng: Thực hiện khâu quan trọng nhất của quátrình phân tích tín dụng đó là đánh giá ý tưởng kinh doanh, đánh giá tài chính
và cuối cùng là lên tờ trình đề xuất vay sau khi đã tham khảo ý kiến phân tíchcủa các bộ phận chuyên môn khác gửi về bằng văn bản
1.2.3.2.3. Quyết định tín dụng
Trang 25Sau khi quá trình phân tích tín dụng kết thúc, bộ phận tín dụng chuyểnlên tờ trình đề xuất cho vay cùng biên bản thẩm định, Ngân hàng đứng trướcquyết định có cho vay hay không? Để ra quyết định cho vay, ngoài thông tin
có được từ giai đoạn trước, Ngân hàng cần dựa vào những cơ sở sau:
Thông tin từ bên ngoài: từ trung tâm thông tin tín dụng củaNgân hàng Nhà nước hay từ các Công ty chuyên môn xếp hạng tín dụngdoanh nghiệp;
Thông tin từ chính sách tín dụng của Ngân hàng, những quyđịnh quản lý hoạt động cho vay từ phía Ngân hàng Nhà nước;
Các nguồn vốn có thể huy động được để thực hiện cho vayđối với khách hàng
Trong giai đoạn này, các Ngân hàng phân cấp thực hiện quyền ra quyếtđịnh tín dụng Đối với những món vay nhỏ có thể giao cho nhân viên tín dụng
ra quyết định, đối với những món vay trung bình thì hội đồng cho vay củaNgân hàng ở cấp chi nhánh quyết định và hội đồng cho vay của Ngân hàng
mẹ sẽ quyết định những món vay lớn
Kết quả của giai đoạn này, được thể hiện trong 2 trường hợp sau:
Nếu từ chối cho vay thì phải có văn bản thông báo và nêu lý
do từ chối Đại diện cấp ra quyết định tín dụng phải ghi ý kiến từ chối lêngiấy đề nghị cấp tín dụng của khách hàng
Nếu chấp nhận cho vay thì Ngân hàng tiến hành ký kết hợpđồng tín dụng với khách hàng, chính thức hình thành quan hệ tín dụngvới khách hàng về mặt pháp lý
Kể từ thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng, Ngân hàng thành lập bộ hồ sơtín dụng bao gồm các giấy tờ hình thành từ hai giai đoạn trước cùng với bảnhợp đồng vừa mới được ký kết Hồ sơ tín dụng là cơ sở pháp lý quan trọngchứng minh sự hình thành, tồn tại và kết thúc quan hệ tín dụng với khách
Trang 26hàng Vì vậy, nó luôn được bổ sung thường xuyên trong các giai đoạn tiếptheo và được bảo quản nghiêm ngặt Đặc biệt, các giấy tờ liên quan đến tàisản đảm bảo được giao cho bộ phận ngân quỹ và được bảo quản như tiền mặt.
1.2.3.2.4. Giải ngân
Sau khi hợp đồng tín dụng được ký kết, Ngân hàng sẽ tiến hành giảingân (thông thường bộ phận kế toán sẽ thực hiện chức năng này) theo hạnmức tín dụng đã được cam kết trong hợp đồng Như vậy, giải ngân là việcNgân hàng tiến hành chi tiền cho khách hàng theo mức cho vay được duyệttrong hợp đồng tín dụng Khi thực hiện giải ngân, nhân viên Ngân hàng phảiluôn chú ý tới nguyên tắc tiền vay chi ra phải luôn có hàng hoá đối ứng vàtiền vay sử dụng phù hợp với mục đích vay trong hợp đồng tín dụng Tuỳ vàohình thức và quy mô của món vay cụ thể mà Ngân hàng sẽ áp dụng cácphương thức giải ngân phù hợp nhưng nhìn chung Ngân hàng thường tiếnhành giải ngân theo hai cách, đó là:
Giải ngân một lần: Là tiền vay được phát cho khách hàngmột lần vào đầu kỳ hạn vay tiền Phương thức này thường được áp dụng chonhững món vay nhỏ, thời hạn vay ngắn
Giải ngân nhiều lần: Là tiền vay được phát cho khách hàngthành nhiều đợt theo hạn mức tín dụng đã được ký duyệt Phương thức nàyđược áp dụng cho những trường hợp món vay lớn, thời hạn vay dài hoặc việc
sử dụng vốn vay của khách hàng phục vụ cho sản xuất kinh doanh có tínhchất phức tạp Thông qua việc giải ngân nhiều lần, Ngân hàng có thể tiếnhành giám sát việc sử dụng vốn vay của khách hàng
1.2.3.2.5. Giám sát và thanh lý tín dụng
Đây là khâu cuối cùng của quy trình tín dụng, ở khâu này Ngân hàng sẽthực hiện các công việc sau:
Trang 27o Giám sát trực tiếp: Ngân hàng trực tiếp cử người tới cơ sởcủa khách hàng để kiểm tra, thu thập thông tin về khách hàng.
o Giám sát gián tiếp: Ngân hàng thực hiện theo dõi kháchhàng thông qua các thay đổi tài khoản tiền vay, tiền gửi của khách hàng, quacác báo cáo tài chính định kỳ do khách hàng gửi tới, qua việc khách hàng trảlời các phiếu điều tra, phỏng vấn của Ngân hàng hoặc qua các nguồn thông tinkhác như thông tin từ trung tâm phân tích, dự báo của các cơ quan quản lýnhà nước trong lĩnh vực tài chính Ngân hàng, kế toán …
Tái xét khách hàng: Là việc đánh giá và phân loại lại kháchhàng dựa trên kết quả của việc giám sát Việc tái xét khách hàng thường nhằmvào các mục tiêu phát hiện, ngăn ngừa những rủi ro liên quan đến việc kháchhàng suy yếu trong năng lực trả nợ Do đó, công tác tái xét được thực hiện vớicác nội dung chủ yếu là dự báo và đưa ra những phương án xử lý khi năng lựctài chính của khách hàng có thay đổi, khi hiệu quả kinh doanh của khách hàngthay đổi, khi đảm bảo tín dụng của khách hàng thay đổi…
Thu nợ: Khách hàng và Ngân hàng thoả thuận phương thứctrả nợ tiền vay cụ thể và được quy định trong hợp đồng Việc trả nợ cũng cóthể được thực hiện theo nhiều cách như trả một lần vào cuối kỳ hạn vay, trảdần trong suốt thời hạn vay, trả theo tài khoản vãng lai…
Trang 28Khi khách hàng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ với Ngân hàng thìNgân hàng sẽ tiến hành làm thủ tục hoàn trả lại tài sản đảm bảo tiền vay chokhách hàng.
Khi khách hàng không trả đủ số nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng tiếnhành chuyển số nợ đó qua nợ quá hạn Khoản nợ quá hạn sẽ chịu lãi suất quáhạn cao hơn mức thông thường
Trong trường hợp khách hàng không trả nợ đúng hạn do nguyên nhânkhách quan, nếu Ngân hàng thấy chính đáng thì có thể thực hiện gia hạn nợ
1.2.4. Bảo đảm tín dụng
Trong quan hệ tín dụng, Ngân hàng cho vay dựa trên mức độ tín nhiệmđối với khách hàng Tuy nhiên, chỉ điều này thôi là chưa đủ, Ngân hàng cònquan tâm tới sự bảo đảm bằng vật chất về khả năng hoàn trả nợ đúng hạn củakhách hàng Như vậy, với tài sản của mình khách hàng cho Ngân hàng thấyđược rằng nếu mình vì một lý do nào đó mà không trả nợ đúng hẹn thì Ngânhàng có thể thu hồi tài sản đó để thu nợ Điều này có ý nghĩa giúp Ngân hàngtránh được những rủi ro ngay cả trong trường hợp khách hàng bị phá sản donhững lý do bất khả kháng Ngoài ra, tài sản đảm bảo còn là động lực giúpkhách hàng ý thức tốt hơn về việc trả nợ và hạn chế những khách hàng có ýđịnh lừa đảo, chiếm đoạt vốn vay của Ngân hàng
Trang 29Trong phần này, chúng ta nghiên cứu những hình thức đảm bảo tín dụng
Về mặt bản chất, thế chấp là việc Ngân hàng tiến hành phong toả quyềnđịnh đoạt tài sản của khách hàng dùng làm thế chấp trong suốt quá trìnhkhách hàng vay tiền của Ngân hàng bằng cách khách hàng viết giấy chuyểngiao và giao giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu tài sản cho Ngân hàng Trên cơ
sở giấy tờ đó, Ngân hàng cất giữ và bảo quản tại kho quỹ như tiền mặt nhưngkhông có quyền định đoạt tài sản đó nếu như khách hàng không có dấu hiệu
vi phạm những cam kết trong hợp đồng tín dụng Việc trả lại giấy tờ về tài sảncho khách hàng chấm dứt sự phong toả quyền định đoạt tài sản được gọi làgiải chấp Giải chấp được thực hiện trong các trường hợp sau:
Khách hàng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ;
Thay thế tài sản đảm bảo bằng một tài sản đảm bảo khác hay bằng bảolãnh;
Khi có sự chuyển hoá từ cho vay có đảm bảo sang cho vay không cóđảm bảo
Về mặt hình thức, thế chấp tài sản được thể hiện dưới dạng văn bản làmột hợp đồng thế chấp Trong hợp đồng thế chấp, tài sản phải mô tả cụ thểquyền và nghĩa vụ của các bên … Hợp đồng thế chấp phải được xác nhận củacông chứng nhà nước
1.2.4.1.2. Quy trình thế chấp tài sản
Trang 30Bước 3: Theo dõi tài sản
Ngân hàng đăng ký giao dịch tài sản đảm bảo, cử nhân viên theo dõi tàisản và đưa ra những biện pháp điều chỉnh nếu giá thị trường của tài sản giảm.Cuối cùng là thanh lý tài sản trong trường hợp cần thiết
Dễ tiêu thụ trên thị trường trong khoảng thời gian cầm cố;
Thuộc diện được cấp phép lưu thông mua bán trên thị trường
Cũng như tài sản thế chấp, quyền định đoạt đối với hàng hoá cầm cốcũng sẽ được phong toả Việc này được thực hiện dưới những hình thức quản
Trang 31 Quản lý tại kho của Ngân hàng Theo cách này hàng hoáđược chuyển tới cất giữ tại kho của Ngân hàng Tuy nhiên, Ngân hàng khôngđược phép sử dụng số hàng đó trong thời gian cầm cố Cách này gây tốn kémchi phí cho Ngân hàng nên hiện nay ít được sử dụng.
Quản lý tại kho của khách hàng Theo cách này hàng hoáđược đặt tại một kho của khách hàng nhưng Ngân hàng là người duy nhất giữchìa khoá và được phép vào kho
Quản lý tại kho của bên thứ ba Theo cách này hàng hoáđược quản lý tại kho của một bên thứ ba, có thể là một doanh nghiệp chuyênkinh doanh cho thuê bến bãi kho tàng Bên thứ ba này phải tham gia ký hợpđồng cầm cố với cam kết bảo quản tốt hàng hoá cầm cố và chỉ được chuyểngiao hàng hoá trong thời hạn cầm cố khi có sự đồng ý của Ngân hàng
Cho vay bằng cầm cố chứng khoán là một hình thức cho vay rất phổ biếntrên thế giới Trong hình thức này, người đi vay dùng chứng khoán thuộc sởhữu của mình để đảm bảo khả năng trả nợ vay cho Ngân hàng
Các loại chứng khoán được đem cầm cố tại Ngân hàng có thể là côngtrái, tín phiếu kho bạc, cổ phiếu, trái phiếu Công ty …
Tuy nhiên, việc nhận các chứng khoán là tài sản cầm cố tại Ngân hàngcũng có nhiều rủi ro vì chứng khoán phần lớn được xác định theo thị giá màgiá cả chứng khoán biến động trên thị trường rất khó dự báo Điều này có tácđộng lớn tới các khoản cho vay cầm cố tại Ngân hàng
Trong nhiều trường hợp khách hàng có thể sử dụng bảo lãnh của mộtbên thứ ba để đảm bảo khả năng trả nợ vay cho Ngân hàng Bên thứ bathường là Chính phủ, Ngân hàng khác, Công ty Bảo hiểm, các Công ty lớn có
uy tín … Để có thể đứng ra bảo lãnh các khoản vay, phía bảo lãnh ít nhất cầnphải có những điều kiện như:
Trang 32Có uy tín trong lĩnh vực bảo lãnh;
Có truyền thống về năng lực tài chính lành mạnh;
Có năng lực pháp lý theo quy định của pháp luật
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Trong nền kinh tế thị trường, kinh doanh và rủi ro là hai phạm trù cặpđôi Kinh tế thị trường làm đa dạng hoá các thành phần kinh tế, bình đẳng hoáhoạt động của các thành phần này và thúc đẩy cạnh tranh lẫn nhau Rủi ro tuy
là sự bất trắc gây ra mất mát thiệt hại, là một sự bất trắc cụ thể liên quan đếnmột biến cố không mong đợi, song lại là hiện tượng đồng hành với các hoạtđộng kinh doanh trong cơ chế thị trường, trong quá trình cạnh tranh, rủi roxuất hiện ở những điểm yếu kém hiệu quả, mất cân đối trong phát triển kinh
tế Rủi ro vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả của những hoạt động kinh tếkhông có hiệu quả Nó tạo tiền đề cho quá trình đào thải tự nhiên các doanhnghiệp yếu kém, thúc đẩy sự chấn chỉnh sự thích nghi của các doanh nghiệp,tạo xu hướng phát triển ổn định và có hiệu quả cho nền kinh tế.(21)
Trong điều kiện kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh của các Ngânhàng cũng không nằm ngoài sự tác động trên Thậm chí với hoạt động Ngânhàng hầu như không có lọai nghiệp vụ nào, không có lọai dịch vụ nào củaNgân hàng là không có rủi ro Bởi lẽ Ngân hàng được coi là một tổ chức kinhdoanh tiền tệ, mà hoạt động chủ yếu là nhận tiền gởi từ khách hàng với tráchnhiệm hoàn trả, sử dụng số tiền này để cho vay, thực hiện các dịch vụ Ngânhàng và kinh doanh chứng khoán Với các đặc trưng cơ bản như vậy, hoạtđộng kinh doanh Ngân hàng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như môi trườngkinh tế xã hội, pháp lý, cơ chế chính sách vĩ mô, vi mô Ngân hàng là mộttrung gian tài chính Vai trò trung gian của Ngân hàng thể hiện qua việc Ngân
Trang 33hàng là đầu mối kết nối giữa các chủ thể của nền kinh tế Trong đó, một phía
là chủ thể có tiền, còn phía kia là chủ thể cần tiền Trong vai trò trung gian,Ngân hàng có thể “hứng chịu” rủi ro đến từ hai phía Hay nói cách khác kinhdoanh Ngân hàng chính là chấp nhận rủi ro đổi lại có lợi nhuận Để hạn chếnhững rủi ro vốn có này, việc quản lý rủi ro là vấn đền thiết yếu trong kinhdoanh Ngân hàng, đặc biệt trong môi trường kinh tế hoà nhập, toàn cầu hoánhư hiện nay, thị trường tài chính phát triển với sự đa dạng hoá các công cụtài chính, các dịch vụ Ngân hàng ngày càng phát triển thì quản lý rủi ro trongkinh doanh Ngân hàng là một vấn đề được quan tâm hàng đầu trong quản trịNgân hàng
1.3.1. Khái niệm về rủi ro
Bàn về khái niệm rủi ro theo từ điển Tiếng Việt – Hà nội 1995 thì: Rủi ro
là điều không lành, không tốt, bất ngờ xảy đến Theo quan điểm truyền thốngthì rủi ro là những thiệt hại, mất mát nguy hiểm, hoặc các yếu tố liên quan đếnnguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người.Nhưng theo quan điểm của trường phái trung hòa thì rủi ro là sự bất trắc cóthể đo lường được.(29)
Rủi ro có nhiều loại: Rủi ro do môi trường thiên nhiên (hiện tượng thiênnhiên), rủi ro do môi trường văn hoá (phong tục tập quán tín ngưỡng), rủi ro
do môi trường xã hội (chuẩn mực cấu trúc xã hội, hành vi con người ), rủi
ro do môi trường chính trị xã hội (ổn định, không ổn định), rủi ro do môitrường pháp lụât (khung luật pháp với kinh doanh), rủi ro do môi trường hoạtđộng của các tổ chức, rủi ro do nhân thức của con người Rủi ro về tài sản, rủi
ro về nhân lực, rủi ro về trách nhiệm pháp lý
1.3.2. Các loại rủi ro
Những loại rủi ro mà Ngân hàng thương mại thường được đề cập đến,bao gồm:
Trang 341.3.2.1 Rủi ro về lãi suất
Như chúng ta đã biết, đặc trưng cơ bản trong kinh doanh của NH là rủi
ro về thu nhập và là huy động tiền gởi có thời hạn ngắn để tài trợ cho cáckhoản cho vay có thời hạn dài hơn lợi tức, tính chất rủi ro này gắn liền vớinhững thay đổi trong các lãi suất trên thị trường và sự mất cân đối giữa tài sản
nợ và tài sản có về các loại tài sản nhạy cảm với lãi suất Sự không cân xứng
về kỳ hạn giữa tài sản có và tài sản nợ làm cho Ngân hàng phải hứng chịu rủi
ro về lãi suất hay nói cách khác rủi ro về lãi suất là do Ngân hàng huy độngvốn với lãi suất cao nhưng cho vay với lãi suất thấp
Thường xảy ra trong hai trường hợp:
Huy động vốn ngắn hạn, đầu tư cho vay dài hạn
Huy động vốn dài hạn, đầu tư cho vay ngắn hạn
1.3.2.2 Rủi ro hối đoái
Là rủi ro do sự biến động về tỷ giá giữa đồng tiền trong nước và đồngtiền nước ngoài Rủi ro này nảy sinh do sự biến động lạm phát, lãi suất v.v ởcác Quốc gia khác nhau sẽ làm cho cơ hội đầu tư vào các đồng tiền khác nhau
và làm biến động tỷ giá; do năng lực dự báo các yếu tố kinh tế tác động đếngiá trị đồng tiền, và các biến động ngắn hạn của các loại tiền của cán bộ kinhdoanh ngoại hối; do sự duy trì trạng thái ngoại hối ròng thấp
Các trung gian tài chính ngày càng nhận ra rằng những khoản đầu tưnước ngoài trực tiếp và gián tiếp đều có thể tăng thêm được lợi ích về kinh tế
và giảm được rủi ro so với trường hợp chỉ đầu tư ở trong nước Do các mứclợi tức từ đầu tư nước ngoài có mối tương quan không chặt chẽ với nhau(không đồng thời cùng tăng hoặc cùng giảm), do đó việc đa dạng hoá danhmục đầu tư quốc tế mang lại lợi ích với Ngân hàng là rất lớn Do các nguyênnhân sau:
Trang 35 Trình độ công nghệ đặc trưng giữa các nền kinh tế khácnhau là khác nhau.
Sự biến động về tỷ giá hối đoái giữa các đồng tiền không cómối tương quan chặt chẽ với nhau
Chúng ta cần lưu ý cho dù giá trị tài sản có và tài sản nợ bằng ngoại tệ làcân xứng với nhau đối với từng loại ngoại tệ thì Ngân hàng cũng chỉ mới loạitrừ được rủi ro tỷ giá, còn rủi ro lãi suất ngoại tệ vẫn phát sinh nếu các kỳ hạncủa của tài sản có và tài sản nợ bằng ngoại tệ không cân xứng với nhau Dovậy, Ngân hàng có thể tận dụng việc các tỷ giá và các mức lãi suất giữa cácquốc gia có mối tương quan không chặt chẽ bằng cách đa dạng hoá cơ cấu tàisản có và tài sản nợ bằng ngoại tệ nhằm giảm rủi ro hối đoái
1.3.2.3 Rủi ro về lạm phát
Là do giá trị đồng tiền trượt giá, làm cho nguồn vốn huy động bị giảmsút gây thiếu hụt nguồn vốn trong kinh doanh của Ngân hàng
1.3.2.4 Rủi ro thanh khoản
Rủi ro thanh khoản xảy ra khi cung về tiền ít hơn cầu về tiền, rủi rothanh khoản liên quan đến khả năng chuyển các tài sản tài chính thành tiềnmột cách nhanh chóng mà không phải chịu thất thoát về giá cả Điều này cực
kỳ quan trọng, vì khó có thể dự đoán nhu cầu rút tiền trong tương lai Vấn đềthanh khoản cũng liên quan đến công cụ tài chính có thể chuyển thành tiềnmặt sự phát triển của thị trường thứ cấp v.v Tuy nhiên, một vấn đề là công
cụ nào càng có tính thanh khoản cao thì thường mức độ sinh lời càng kém vàảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp Rủi ro này mang tính thườngnhật, chỉ những trường hợp đặc biệt rủi ro thanh khoản mới đe dọa đến khảnăng thanh toán cuối cùng của Ngân hàng Khi những người gửi tiền nhậnthấy Ngân hàng gặp rắc rối về thanh khoản (có thể do tin đồn nhảm, cạnhtranh không lành mạnh …) họ sẽ đồng loạt rút tiền của mình ra khỏi Ngân
Trang 36hàng đó ngay lập tức Hành động rút tiền của những người gửi tiền lại có tínhlây lan và phản ứng dây chuyền nhanh chóng, rộng khắp cho nên một trongnhững nhiệm vụ quan trọng hàng đầu đối với nhà quản lý Ngân hàng là đảmbảo khả năng thanh toán một cách thường xuyên, liên tục và đầy đủ.
1.3.2.5 Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng được hiểu là những tổn thất do khách hàng không trảđược nợ hoặc sự giảm sút chất lượng tín dụng của những khoản vay, là tìnhtrạng người đi vay không có khả năng hoàn trả nợ lãi hoặc nợ gốc hoặc cả hai.Rủi ro do đọng vốn: Đó là rủi ro khi người vay sai hẹn trong thực hiện nghĩa
vụ trả nợ theo hợp đồng, bao gồm vốn gốc và (hoặc) lãi vay Rủi ro do mấtvốn: Đó là rủi ro khi người vay sai hẹn trong thực hiện nghĩa vụ trả nợ theohợp đồng, bao gồm vốn gốc và lãi vay Sự sai hẹn này là do không thanh toán.Nói đến tín dụng là nói đến mối quan hệ vay mượn dưới dạng tiền tệ cóhoàn trả gốc và lãi giữa người có vốn (Ngân hàng) và người thiếu vốn (doanhnghiệp, cá nhân) Như vậy, hoạt động tín dụng “hiệu quả” hay “bất trắc” phụthuộc rất nhiều vào chữ tín ở người vay tiền Theo nghĩa rộng, chữ tín này baohàm cả năng lực tài chính và sự sẵn sàng trả tiền của người đi vay hay không.Hoạt động tín dụng là hoạt động tiêu biểu của hầu hết các Ngân hàng, hoạtđộng này đòi hỏi các Ngân hàng phải tìm mọi cách để kiểm soát được khảnăng hoàn trả nợ của khách hàng, ít nhất cũng là dự tính và phán đoán khảnăng này Tuy nhiên, dự tính này không phải lúc nào cũng chính xác tuyệtđối Mặc dù các khoản tín dụng giữa Ngân hàng và khách hàng đều được xáclập theo các điều khoản của hợp đồng tín dụng nhưng cũng có nhiều kháchhàng ngang nhiên tuyên bố không trả nợ (!) Điều đó có nghĩa là, một khi còn
có hoạt động Ngân hàng thì còn có rủi ro trong hoạt động tín dụng
Rủi ro trong hoạt động tín dụng không chỉ xảy ra đối với các khoản tíndụng bình thường mà còn xảy ra đối với các khoản tín dụng ngoại bảng như
Trang 37bảo lãnh L/C Hầu hết các Ngân hàng có kinh nghiệm đều thiết lập một khoảntiền gọi là quỹ dự phòng rủi ro để bù đắp khi có vấn đề xảy ra.
Rủi ro tín dụng được biểu hiện dưới 2 hình thức:
Rủi ro do mất vốn tức là Ngân hàng cho vay nhưng khôngthu hồi được vốn về hoặc thu hồi được nhưng với lượng thấp hơn
Rủi ro do nợ quá hạn tức là Ngân hàng không thu hồi được
nợ đúng hạn với thời hạn đã thoả thuận với khách hàng, ảnh hưởng đến việcluân chuyển vốn trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
Rủi ro tín dụng thường xuyên xảy ra ở tất cả các Ngân hàng Tuỳ theonăng lực quản lý của Ngân hàng mà rủi ro xảy ra nhiều hay ít Mặt khác,những biến động trong nền kinh tế – xã hội cũng ảnh hưởng rất nhiều đến rủi
ro tín dụng
1.3.3. Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
1.3.3.1 Nguyên nhân từ phía Ngân hàng
Quy trình cho vay không tuân thủ theo đúng quy định của Ngân hàng;
Cán bộ tín dụng có mối quan hệ đặc biệt với khách hàng;
Sự giám sát của các cấp quản lý trong Ngân hàng thiếu sát sao;
Lãnh đạo Ngân hàng độc đoán khi phê duyệt khoản vay;
Bỏ qua tình trạng thấu chi, không coi đó là một tín hiệu bất ổn về tài chínhcủa người vay;
Không thể kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất tài sản kinh doanh của người vay;Cho vay dựa trên giá trị sổ sách giả của doanh nghiệp, không kiểm toán vàxác minh các báo cáo tài chính của người vay;
Không thể thu thập hoặc bỏ qua những báo cáo của bộ phận thông tin tín dụnghoặc những nguồn tham khảo tín dụng khác;
Không thể đánh giá chính xác hoặc đánh giá quá cao hoặc không quản lý hợp
lý tài sản thế chấp;
Trang 38Giải ngân trước khi hoàn thành chứng từ;
Cán bộ tín dụng thực hiện khoản vay một cách không hợp lý, bỏ qua Hộiđồng tín dụng, chỉ dựa vào mối quan hệ giữa cán bộ cho vay và người vay;Khoản vay được thực hiện với doanh nghiệp mới có chủ sở hữu hoặc ngườilãnh đạo thiếu kinh nghiệm;
Cho vay mới có giá trị cao hơn nhưng không có thêm tài sản thế chấp thíchđáng;
Đảo nợ;
Không phân tích lưu chuyển tiền mặt và khả năng trả nợ của người vay;
Cán bộ cho vay không thể kiểm tra tình trạng khoản vay thường xuyên;
Vốn cho vay được sử dụng sai mục đích do cán bộ tín dụng không cố gắngxác định xem mục đích vay của khách hàng là gì;
Chất lượng trao đổi thông tin với khách hàng kém;
Kế hoạch trả nợ không rõ ràng và không được quy định bằng văn bản;
1.3.3.2 Các nguyên nhân từ phía khách hàng
Rủi ro tín dụng là bởi sự phá sản của doanh nghiệp vay nợ Sự phá sảnnày do tác động của các yếu tố sau:
38
Quản lý kém Suy thoái
kinh tế
Tình hình chính trị bất ổn định Cạnh tranh
Trang 391.3.3.3 Các nguyên nhân khác
Do thay đổi của cơ chế chính sách
Thay đổi giá cả thị trường từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến đầu ra của sảnphẩm mà khoản vay đó đầu tư;
Khoản vay ưu đãi, chỉ định của Chính phủ;
Khoản vay theo chương trình kinh tế
Như vậy, ta có thể phân các nguyên nhân trên thành hai dạng là:
Nguyên nhân có thể kiểm soát được
Nguyên nhân không thể kiểm soát được
39
Thất thoát trong cho vay
Dùng quỹ dự phòng rủi ro để xóa sổ
Mất dần vốn của Ngân hàng
Ngân hàng đi đến đóng cửa
Nguyên nhân có thể kiểm soát được
1 Xem xét không kỹ khi cho vay;
2 Không nhận biết được rủi ro;
3 Không kiểm soát hay theo dõi;
4 Không xử lý kịp thời;
Nguyên nhân không thể kiểm soát được
1 Sự đổ vỡ trong kinh doanh của người đi vay;
2 Biến động chính trị và các nguyên nhân khác.
Trang 40a) Ngân hàng còn có khả năng thanh toán
b) Ngân hàng mất khả năng thanh toán do gặp rủi ro lớn trong
Số dư tiền gửi KH Vốn
Tín dụng có khả năng thu hồi Tín dụng khó đòi