Theo Quy chế về tươns trợ tư pháp quốc tế về các vấn đề dân sự nsày 19/10/1956, thì tương trơ tư pháp quốc tế về các vụ việc dàn sự còn được hiểu là mọi sự trợ siúp của các cơ quan nhà n
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
KHOA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ
-* * *
-ĐỂ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP c ơ SỞ
“ MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ TRONG TƯƠNG TRỢ Tư
TRUNG TÂM THÔNG TIN THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐAI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI■ ■ ■ • KHOA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ
:Ịc >ĩC
ĐỂ TÀI NGHIÊN c ứ u KHOA HỌC CẤP c ơ s ỏ■
“ MỘT SÔ' VẤN ĐỀ PHÁP LÝ TRONG TƯƠNG TRỢ Tư PHÁP
VỂ DÂN Sự GIỮA VIỆT NAM VÀ CÁC NƯỚC”■ ■
' Chủ nhiệm đề tài: TS Nguyễn Hồng Bắc, Trưởng bộ môn Tư pháp quốc tế, Khoa pháp luật quốc tế, Đ ạ i học Luật Hà Nội.
Thư ký đê tài: ThS Nguyễn Bá Bình, G iảng viên Khoa pháp luật quốc tế, Đ ại học L u ậ t Hà Nội.
Các cộng tác viên tham gia đế tài:
1 TS Hoàng Phưốc Hiệp, Vụ trưởng Vụ pháp luật quốc tế, Bộ Tư pháp.
2 C h uyên viên chín h Hồ Văn Phú, Vụ pháp luật quốc tế, Bộ Tư pháp Ị
3 TS Trần Ngọc V iệ t, Thẩm phán Tòa phúc thẩm, Tòa án nhân dân tối cao.
4 ThS Lưu Thị K im Dung, Trường đào tạo và bồi dưỡng cán bộ kiểm sát.
5 ThS Trần M inh N gọc, Khoa pháp luật quốc tế, ĐH Luật Hà Nội.
6 ThS Nguyễn Thái Mai, Khoa pháp luật quốc tế, ĐH Luật Hà Nội.
7 ThS Hà Việt Hưng, Khoa pháp luật quốc tế, ĐH Luật Hà Nội.
8 ThS Vũ Thị Phương Lan, Khoa pháp luật quốc tế, ĐH Luật Hà Nội.
9 ThS Bùi Thị Thu, Khoa pháp luật quốc tế, ĐH Luật Hà Nội.
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT■
AS E A N Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
B LTT D S Bộ luật tố tụng dân sự V iệt Nam 2004
C H D C N D Cộng hòa dân chủ nhân dân
C H X H C N Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Trang 5Trang
PHẦN THỨ NHẤT: TổNG QUAN VỀ ĐỂ TÀI NGHIÊN c ứ u 01
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu 01
2 Tình hình nghiên cứu đề tà i 02
3 Mục đích nghiên cứu của đề tà i 02
4 Phạm vi nghiên cứu đề tà i 03
4 Phương pháp nghiên cứu đề tà i 03
PHẦN THỨ HAI: KẾT QUẢ NGHIÊN c ứ u ĐỀ TÀI 05
1 Một số vấn đề lý luận trong tương trợ tư pháp quốc tế về dân s ự 05
2 Tương trợ tư pháp quốc tế về dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam và một số nước 18
3 Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong tương trợ tư pháp quốc tế về dân s ự 35
PHẦN THỨ BA: CÁC CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN c ứ u THUỘC ĐỀ TÀI 58•
1 Chuyên đề 1: Cơ sở lý luận của hoạt động tương trợ tư pháp về dân sự giữa các nư ớc 61
2 Chuyên đề 2: Vấn đề tống đạt các giấy tờ, tài liệu trong tương trợ tư pháp về dân sự 73
3 Chuyên đề 3: Vấn đề thu thập chứng cứ ỏ nước ngoài và ủy thác tư pháp quốc tế trong tương trợ tư pháp về dân sự 87
4 Chuyên đề 4: vấn đề cồng nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của tòa án nước n g o à i 99
5 Chuyên đề 5: Vấn đề công nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài 111
6 Chuyên đề 6: Vấn đề miễn hợp pháp hóa giấy tờ, tài liệu trong tương trợ tư pháp về dân sự 120
7 Chuyên đề 7: Trách nhiệm và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam trong thực hiện tương trợ tư p h á p về dân s ự 133
8 C huyên đề 8: Hợp tác quốc tế đa phương trong tương trợ tư pháp về dân sự 143
Trang 69 Chuyên đề 9: Hợp tác quốc tế song phương trong tương trợ tư pháp về dân sự 153
10 Chuyên đề 10: Tương trợ tư pháp về dân sự theo pháp luật của Cộng hòa P háp 164
11 Chuyên đề 11: Tương trợ tư pháp về dân sự theo pháp luật của các nước theo hệ thống pháp luật chung Anh-Mỹ (Common Law) 175
12 Chuyên đề 12: Tương trợ tư pháp về dân sự ở Nhật Bản 183
13 Chuyên đề 13: Tinh hình thực hiện tương trợ tư pháp về dân sự của các
cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho các cơ quan có thẩm quyền nước ngoài 194
14 Chuyên đề 14: Tình hình thực hiện tương trợ tư pháp về dân sự của các
cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cho các cơ quan có thẩm quyền Việt Nam 209
Trang 71 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu
Hiện nay, chủ trương của Đảng, mục tiêu, chính sách của của Nhà nước về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tương trợ tư pháp theo phương châm Việt Nam sẵn sàns là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi; xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN) của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; bảo đảm quyền con người, quyền tự do dân chủ của nhàn dân Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộns như hiện nay, các nhu cầu về tương trợ tư pháp ngày càng sia tănơ, trons đó có không
ít vấn đề phát sinh trong quan hệ với các nước mà Việt Nam chưa kí kết Hiệp định tươns trợ tư pháp (HĐTTTP) hoặc chưa có các thỏa thuận, cam kết quốc tế liên quan cần được giải quyết Để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, công dân Việt Nam ở nước ngoài cũns như ở trong nước, phục vụ tốt hơn quá trình hội nhập quốc tế, Nshị quyết số 48/NQ-TVV ngày 24.5.2005 của Bộ chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thốns pháp luật việt Nam đến năm 2010, định hướns đến năm 2020; N shị quyết số 49/QĐ-
TW n sà y 2.6.2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
đã nhấn mạnh vấn đề tương trợ tư pháp
Hiện nay, vấn đề tương trợ tư pháp nói chung và tương trợ tư pháp về dân sự nói riêng được điều chỉnh trong một số điều ước quốc tế (sons phươns và đa phươns) mà Việt Nam là thành viên và được quy định trons vãn bản pháp luật do Việt Nam ban hành, đặc biệt có một số quy định về tươna trợ tư pháp trons Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 và Luật tương trợ tư pháp nãm 2007 Nói chunsỉ các
Trang 8quy định của pháp luật tronơ nước về tươns trợ tư pháp đã sóp phần thực hiện các yêu cầu về tương trợ tư pháp một cách nhanh chóns, hợp lí và có hiệu quả; 2Óp phần bảo vệ lợi ích của nhà nước Việt Nam, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhàn Việt Nam; bảo vệ các quvển cơ bản của côns dân Việt Nam; bảo vệ phát huy quyền con người Tuy nhiên, hệ thốns pháp luật trons nước của Việt Nam còn chưa đầy đủ, chưa đồng bộ, khôns tương thích với các quy định của các điều ước quốc tế và thông lệ quốc tế về tương trợ tư pháp.
Vi vậy, việc nshiên cứu “Mộr s ố vấn đ ề pháp lí trong tương trợ tư pháp về
clân sự giữa Việt N am và các nước” là hết sức cần thiết tronơ giai đoạn hội nhập
kinh tế quốc tế hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Hoạt động tương trợ tư pháp là một vấn đề có tính thời sự, được sự quan tâm, tìm hiểu của nhiều siới, nhiều ngành, nhất là trong giai đoạn hiện nay Việt Nam ngày càng hội nhập sâu, rộng Có thể kể tên một số công trình, hội thảo khoa học
nghiên cứu về vấn đề này như: Tọa đàm “vế tương trợ tư pháp” do Bộ tư pháp tổ chức từ nsày 05 đến ngày 07-11.2001 tại Hà Nội; Hội thảo “vế tương trợ tư pháp”
do nhà pháp luật Việt - Pháp tổ chức nơày 4-5.12.2006; Hội thảo “vế tương trợ tư
p há p về hình s ự ' do Bộ tư pháp tổ chức từ ngày 06 đến nsàv 07.12.2006 tại Hà
Nội Tuy nhiên, các công trình khoa học trên chỉ đề cập đến tương trợ tư pháp nói c h u n s và hình sự nói riêng mà chưa có công trình khoa học nào đi sâu tìm
hiểu cụ thè về tươna trợ tư pháp về dân sự VI vậy, việc nghiên cứu đề tài "Một sô'
vấn đ ề pháp lí tương trợ tư pháp về dân sự giữa Việt Nam và các nước” sẽ làm rõ
hơn những vấn đề mà các công trình khoa học khác đã 2ỢĨ mở
3 M ục đích nghiên cứu của đề tài
M ục đích nghiên cứu đ ề tài:
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng rõ những quv định của pháp luật Việt Nam, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên quv định về tương trợ
tư pháp về dân sự; từ đó đánh giá đúng nhữna điểm chưa phù hợp của pháp luật Việt Nam trona lĩnh vực này để đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam cho phù hợp với chuấn mực quốc tế Đồns thời, qua việc nghiên cứu dề tài dưa ra
Trang 9nhĩmơ giải pháp để nâna cao hiệu quả của hoạt độns tươns trợ tư pháp vể dàn sự
ở Việt Nam trons siai đoạn hiện nay
Thực hiện thành công mục đích trên, đề tài sẽ có ỷ nghĩa lí luận và thực tiễn:
- N âns cao nhận thức của cán bộ làm công tác nghiên cứu và thực thi pháp luật về tươns trợ tư pháp, đặc biệt đối với năns lực của thẩm phán toà án trong quá trình thực hiện các hành vi tương trợ tư pháp giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài Qua đó bảo vệ tốt hơn các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của mối giao lưu dân sự quốc tế
- Kết quả của đề tài nehiên cứu có thể được dùng làm tài liệu để phổ biến, phục vụ cho việc giảng dạy ở Trườns Đại học Luật Hà Nội (nhất là tron® giai đoạn hiện nay trường đã đưa môn học Tư pháp quốc tế vào đào tạo theo học chế tín chỉ), cũns như cho các cơ sở đào tạo pháp luật, viện nghiên cứu cũng như cho các đối tượng khác có quan tâm
- Góp phần hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực tươns trợ tư pháp
Với mục đích trên đề tài được bố cục thành 3 phần với các nội dung sau:
1 Những vấn đề lí luận trong tương trợ tư pháp quốc tế về dân sự;
2 Quy định của pháp luật Việt Nam và một số nước tronơ tương trợ tư pháp quốc tế về dân sự;
3 Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong tươnẹ trợ tư pháp quốc tế về dàn sự;
4 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Đây là đề tài tươns đối rộng, do vậy đề tài khồns có tham vọns nghiên cứu tất cả các vấn đề liên quan đến tươns trợ tư pháp về dân sự mà chỉ chủ yếu đề cập đến một số hoạt động tương trợ tư pháp phổ biến trong thực tế hiện nay Trons các hoạt động tương trợ tư pháp đó, đề tài chủ yếu đề cập đến quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên điều chỉnh hoạt
đ ộ n s tương trợ tư pháp Từ việc đánh giá thực trạne của hoạt độns tương trợ tư pháp, đề xuất siải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Đế thực hiện đề tài chúng tôi đã sử dụns tổng hợp các phươns pháp nghiên cứu: Tổng hợp phân tích, thốna kê khái quát hoá và đặc biệt là phươns pháp so
Trang 10sánh Phương pháp so sánh được sử d ụ n ơ trono một số chuyên đề của đề tài nhằm tìm ra nhữnơ điểm siố n s nhau, nhất là những điểm khác nhau giữa quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật các nước cũns như các điều ước quốc tế quy định về hoạt độnơ tươns trợ tư pháp.
4
Trang 11B PHẦN THỨ HAI
KẾT QUẢ NGHIÊN c ứ u ĐỂ t à i
1 M ột sô vấn để lí luận trong tương trợ tư pháp quốc tê về dân sự
1.1 Tổng quan về tương trợ tư pháp
nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác eiữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc khẳng định các quốc gia phải có nghĩa vụ hợp tác với nhau Xuất phát từ nguyên tắc này, tươne trợ tư pháp giữa các nước về các vấn đề dân sự được coi là một trong n h ữ n s nội dunơ quan trọng của nghĩa vụ hợp tác giữa các quốc gia thành viên Liên hợp quốc
N ghĩa vụ hợp tác eiữa các quốc eia nsày càn® được đề cao Điều đó dễ hiểu bởi lẽ, trước tiên, có những vấn đề mang tính toàn cầu muốn giải quyết có hiệu quả thì cần phải có sự hợp tác chặt chẽ của nhiều nước khác nhau trên các khu vực địa cầu; một nước hoặc một nhóm nước không thể giải quyết được hoặc không đủ thẩm quyền quốc tế và quốc nội để giải quyết Mặt khác, nhu cầu phát triển quan hệ quốc tế, mở rộns siao lưu giữa các dân tộc đã đặt ra sự hỗ trợ lẫn nhau trong xử lý các vấn đề pháp luật về dân sự vốn thuộc thẩm quyền nội bộ của nước này nhưng lại bị siới hạn bởi chủ quyền quốc sia của nước khác
N hu cầu hỗ trợ, siúp đỡ lẫn nhau siữa các nước tronơ giải quyết các vấn đề pháp luật về dân sự ngày càng trở nên bức thiết Tươns trợ tư pháp ngày càng có vai trò quan trọng tr o n s quả trình hợp tác nhiều mặt giữa các nước Điều đó được giải thích bởi xu hướng xích lại ngày càng aần hơn trong đời sống kinh tế - xã hội của các nước, xu hướnơ hội nhập kinh tế quốc tế, naày càns có nhiều người nước ngoài cư trú, làm ăn, sinh sốns trên lãnh thổ của mỗi quốc gia Trons các siao dịch clân sự, kinh tế-thương mại hàns nsàv 2Ĩữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân các nước khác nhau với các cơ quan, tổ chức, cá nhàn nước sở tại đã làm phát sinh không ít vụ việc dân sự, kinh tế - thương mại, đòi hỏi phải được pháp luật điều chỉnh kịp thời Khi toà án hoặc các cơ quan có thẩm quyền của nước sở tại thụ lý giải quyết các vụ việc có yếu tố nước ngoài đó thì các cơ quan này khôns chỉ căn
cứ vào pháp luật của nước mình, điều ước quốc tế mà nước đó là thành viên, mà trong nhiều trườn2 hợp còn phái dựa vào sự phối hợp, giúp đỡ của các toà án, các
cơ quan có thẩm quyền cúa nước nsoài liên quan trone tiến hành một số hành vi
Trang 12tố tụns riêns biệt cần thiết cho việc siải quyết các vụ việc cụ thê đó Do vậy, tương trợ tư pháp trong thời đại nsày nay phái được nhìn nhận như một đòi hòi khách quan, một nhu cầu tất yếu trong sự phát triển nsày càng mạnh mẽ của các trào lưu quan hệ quốc tế siữa các quốc 2Ĩa nói chung, của các siao dịch dân sự, kinh tế - thươna mại siữa các tổ chức, cá nhân các nước khác nhau nói riêns.
Xu hướns mờ rộnơ và tăng cường quan hệ tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự đã và đang trở thành vấn đề thời sự đối với nhữns nước có số lượng khá lớn người nước ngoài nhập xuất cảnh, cư trú, làm ăn sinh sốns ở đây, cũ n s như đối với các nước có nhiều côns dân của họ xuất nhập cảnh, cư trú, làm ăn sinh sống ở nước nsoài Đồna thời, với xu hướns mở rộns quan hệ hợp tác quốc tế và hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu, thì nhu cầu tươne trợ tư pháp càng trở nên bức thiết Xét về mặt lý luận, quốc gia có quyền tối cao trong phạm vi lãnh thổ của mình để thực hiện mọi hành động lập pháp, hành pháp, tư pháp và quản lý cần thiết đối với các cơ quan, tổ chức, cồng dân của mình trên mọi phươnơ diện, đặc biệt là quyền tài phán Nhưng quốc sia khó có thể thực hiện thành công quyền tài phán đó của mình đối với các cơ quan, tổ chức, công dân của mình trong phạm vi lãnh thổ nước khác, nếu không có sự cho phép, sự tương trợ tư pháp cần thiết (có thể là tốno đạt giấy tờ, tiến hành thu thập chứng cứ, thi hành án ) của các cơ quan Nhà nước nước nsoài hữu quan Tuy nhiên, phạm vi, mức độ, trình tự thủ tục tươnơ trợ tư pháp và các vấn đề khác liên quan đên hoạt động tươns trợ tư pháp phần lớn lại phụ thuộc vào ý chí chủ quyền của các quốc gia liên quan mà trước tiên là phụ thuộc vào ý chí chủ quyền của quốc gia được yêu cầu Do vậy, xét về mặt này trên phương diện quốc tế, thì tươns trợ tư pháp còn được hiểu như một biểu hiện cụ thể của chủ quyền quốc gia và các quốc gia khác phải hết sức tôn trọns, không được ép buộc hoặc áp đặt để can thiệp vào côn® việc nội bộ của quốc gia khác dưới bất cứ hình thức nào Chính vì vậy, các nước
có các luật khác nhau về tương trợ tư pháp để khẳng định rõ nội duns chủ quyền
đó của mình tron® quan hệ quốc tế, tuyên bố rõ với cộns đồng quốc tế những hành vi tố tụng riêns biệt khôns đươc tiến hành, nhữns hành vi tố tựns riêng biêt dược phép tiến hành, cũna như nhĩmơ quy chuẩn tối thiểu phải tuân theo tronơ thực hiện các hoạt độna tương trợ tư pháp Như vậy dưới góc độ pháp luật quốc
tế, việc cho phép tiến hành hoặc khôns cho phép tiến hành nhữns hành vi tố tụns rièns biệt trons hoạt độns tươns trợ tư pháp chính là sự biểu hiện về mặt đối
6
Trang 13ngoại của quyền chủ quyền quốc sia, chứ khôns aiản đơn là một nội duns cùa nghĩa vụ hợp tác quốc tế.
1.2 Các quan niệm về tương trợ tư pháp
1.2.1 Quan niệm vê tương trợ tư pháp quốc t ế trong hệ thống pháp luật lục địa Châu Âu
Các nước thuộc hệ thống pháp luật lục địa Châu Âu, về cơ bản, có chung quan niệm về tương trợ tư pháp quốc tế, cho dù việc giải thích thuật ngữ này cùa một vài tác eiả có khác nhau
truyền thống tư pháp Đức đó là việc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền của các nước khác nhau trợ giúp lẫn nhau trong tống đạt giấy tờ, tài liệu tư pháp và thực hiện các hành vi tố tụng riêng biệt khác để thu thập chứns cứ trong một vụ việc tố tụns tư pháp quốc tế Sau này, khi gia nhập Cộng đồng kinh tế Châu Âu, quan niệm truyền thốnơ tư pháp quốc tế đó về tươns trợ tư pháp được mở rộng để bao gồm cả việc trợ giúp lẫn nhau trong nhận - gửi thông tin pháp luật nước nsoài, tốns đạt tài liệu, giấy tờ bổ trợ hoạt động tư pháp quốc tế, các thông báo của toà
án và của các cơ quan nhà nước khác, thậm chí cả việc thi hành các quyết định về thu án phí Theo Quy chế về tươns trợ tư pháp quốc tế về các vấn đề dân sự nsày 19/10/1956, thì tương trơ tư pháp quốc tế về các vụ việc dàn sự còn được hiểu là mọi sự trợ siúp của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc giải quyết các vụ việc dân sự quốc tế, cho dù việc trợ giúp đó là nhằm mục đích tươns trợ cho một toà án hoặc một cơ quan tư pháp nước nsoài trons tiến hành một số hành
vi tố tụns dàn sự riêns biệt tại Đức theo yêu cầu của nước nsoài, hoặc nhằm mục đích tươne trợ cho một toà án hoặc một cơ quan tư pháp nước Đức trong tiến hành một số hành vi tố tụns dân sự riêns biệt tại nước ngoài theo yêu cầu của toà án hoặc cơ quan tư pháp Đức
Cộns hoà Pháp cũ n s có quan niệm về tươns trợ tư pháp quốc tế cơ bản siốns như Đức; phạm vi tương trợ tư pháp quốc tế còn bao 2ồm cả việc trợ siúp lẫn nhau trons tống đạt giấy tờ và thực hiện các uỷ thác tư pháp về thu tiền cấp dưỡns, thu lệ phí tư pháp từ, thu cược án phí (bảo chứng nsoại kiều án quỹ) từ nơười nước nsoài, thực hiện các hoạt động chứng minh chứng cứ tư pháp, siám định tư pháp trên cơ sở pháp luật nước nsoài côna nhận và thi hành các bán án quyết định dân sự
Trang 14Pháp luật Nhật Bán Italv và một số nước khác thuộc hệ thốns pháp luật Châu Âu lục địa cũng có cách hiểu về khái niệm tương trợ tư pháp quốc tế tương
tự cách hiểu nói trên của Đức và Pháp Bên cạnh đó, Thuỵ Điển còn coi tươns trợ
tư pháp tronơ lĩnh vực dân sự và thươns mại quốc tế là một bộ phận quan trọng của tư pháp quốc tế và được hiểu theo hai nghĩa rộns - hẹp khác nhau, nhưng chủ yếu vẫn bao gồm các nội dung về trợ siúp lẫn nhau trong tống đạt giấy tờ, tài liệu
tư pháp, thu thập chứng cứ trong các vụ việc dân sự - thương mại quốc tế, trợ giúp lẫn nhau trong áp dụng đúng pháp luật nước ngoài, công nhận và thi hành bản án, quyết định của toà án và quyết định của trọng tài nước ngoài, trao đổi thông tin pháp luật, hỗ trợ trong việc miễn hợp pháp hoá các eiấy tờ
ịC om m on Law)
Các nước thuộc hệ thống pháp luật án lệ Anh-Mỹ (Common Law) không có cách quan niệm chung về tương trợ tư pháp quốc tế, khôns có quan niệm tương trợ tronơ các hoạt độnẹ tố tụng như các nước Châu Âu lục địa Tron® hệ thống pháp luật án lệ Anh-Mỹ, tương trợ tư pháp quốc tế trước hết được hiểu đơn giản là các hoạt động dịch vụ (Service) trong tốnơ đạt oiấy tờ, tài liệu tư pháp và hoạt động thu thập chứng cứ ở nước nsoài (evidence abroad) Trong thực tiễn tư pháp, toà án các nước thuộc hệ thống pháp luật án lệ Anh - Mỹ thường thực hiện việc lấy lời khai của nhân chứns ở nước ngoài thông qua một người được toà án hoặc
cơ quan nhà nước có thẩm quvền uỷ nhiệm làm việc đó dưới tên gọi là Commissioner (Ưv nhiệm viên) Khi thẩm vấn trực tiếp hoặc đối chất, hoặc lấy lời khai của đương sự nsười làm chứns, n h ữ n g naười có quyền và lợi ích liên quan, phải có đại diện của các bên tham gia và cùng tiến hành hoạt động Các bản ghi chép (hoặc biên bản lấy lời khai) phải được ghi chép hoặc lập theo sự thoả thuận giữa các bên hữu quan và phải được sửi cho toà án hoặc cơ quan có thẩm quyền
đã chỉ định Uỷ nhiệm viên Trong sách báo lý luận pháp luật quốc tế, trườnơ hợp khôns phản đối việc lấy lời khai của một Ưỷ nhiệm viên như vậy được coi là một dạng tươns trợ tư pháp quốc tế thụ động Mặt khác, tương trợ tư pháp quốc tế trons thực tiễn tư pháp các nước thuộc hệ thống pháp luật án lệ Anh - Mỹ còn được hiểu là việc các toà án, cơ quan tư pháp các nước khác nhau giúp đỡ lẫn nhau trong tiến hành một số hoạt độn® tố tụng riêns biệt trong điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án dân sự quốc tế cũng như hình sự quốc tế
8
Trang 151.2.3 Quan niệm vê lương trợ tư pháp quốc t ế trong hệ thống pháp luật các nước x ã hội chủ nghĩa
cơ bán tươns tư giống cách quan niệm về tươns trợ tư pháp quốc tế của các nước thuộc hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa Phụ thuộc vào phạm vi nội dunơ các vấn đề được quy định trons pháp luật của các nước và các điều ước quốc tế liên quan, tương trợ tư pháp quốc tế được hiểu là việc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền của các nước khác nhau trợ giúp lẫn nhau trong thực hiện các hành vi tố tụng riêns biệt để thu thập chứng cứ trons một vụ việc tố tụng tư pháp quốc tế, thực hiện uỷ thác tư pháp về dân sự của Toà án nước ngoài, tống đạt giấy tờ Các hành vi tố tụ n s riêng biệt ở đây thường bao gồm: lập, tống đạt siấy tờ; điều tra thu thập chứng cứ; cônơ nhận và thi hành án dân sự của Toà án và quyết định của trọng tài nước nsoài;
Ớ Việt Nam, khái niệm tương trợ tư pháp quốc tế cho đến nay chủ yếu vẫn được hiểu trên cơ sở phạm vi các vấn đề được đặt ra trong thực tiễn tư pháp với các nước, trên cơ sở các quy định trong pháp luật nước ta và các điều ước quốc tế, các hiệp định tươns trợ tư pháp mà Việt Nam đã ký kết với nước ngoài Bộ luật
T ố tụng dân sự năm 2004, Luật tương trợ tư pháp năm 2007 đã đưa ra một phạm
vi nhất định những vấn đề thuộc phạm trù tươns trợ tư pháp quốc tế trons quan hệ giữa Việt Nam và các nước cho phép chúns ta xác định được quan niệm của nước
ta về tương trợ tư pháp quốc tế hiện nay Phạm vi các vấn đề được đưa vào các Hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam đã ký với các nước xã hội chủ nshĩa trước đây khá rộng và khá thốns nhất, bao gồm các vấn đề mà các cơ quan nhà nước có thẩm quyền của các nước ký kết trợ giúp lẫn nhau trong áp dụng đúns các quy định của pháp luật nội dung, pháp luật tố tụng, trợ siúp lẫn nhau trons thực hiện các hành vi tố tụng riêng biệt để tống đạt các giấy tờ, tài liệu tư pháp, thu thập chứns cứ tro n s một vụ việc tố tụns tư pháp Tuy vậy, trong thời sian Sần đày, một số điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết với nước nsoài trona lĩnh vực này chi tập truns vào các vấn đề pháp luật tố tụng, định ra thể thức cho các cơ quan tư pháp có thẩm quyền của các nước ký kết trợ siúp lẫn nhau trona thực hiện các hành vi tố tụns riêns biệt trong lĩnh vực dân sự Nsoài ra một số công trình nchiên cứu khoa học, một số giáo trình pháp luật quốc tế của Trườns đại học luật Hà Nội Trườn2 đại học luật thành phố Hồ Chí Minh Khoa luật Đại
9
Trang 16học quốc gia Hà Nội và cùa một số cơ sở nghiên cứu, đào tạo luật khác cũn2 có quan niệm về tương trợ tư pháp quốc tế theo nghía rộnacủa phạm trù pháp lý này.Qua nghiên cứu cơ sở lv luận pháp luật và thực tiễn tư pháp cùa Việt Nam và một số nước về tươns trợ tư pháp, có thể quan niệm chuna nhất về tươns trợ tư pháp như sau:
Tương trợ tư pháp được hiểu là việc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền của các nước khác nhau trợ siúp lẫn nhau trons thực hiện các hành vi tố tụng tư pháp quốc tế riêng biệt theo những trình tự, thủ tục, thể thức nhất định để thi hành pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của cơ quan, tố chức,
cá nhân mỗi nước trên lãnh thổ của nhau, thúc đẩy phát triển quan hệ hợp tác quốc tế
Từ khái niệm trên, có thê rút ra một số điểm cần lưu ý như sau:
- T h ứ nhất, thực chất của hoạt động tương trợ tư pháp quốc tế từ trước đến
nay là sự hợp tác siúp đỡ lẫn nhau oiữa các quốc sia trong giải quyết thoả đáns các vấn đề tư pháp quốc tế mà các bên quan tâm Các vấn đề tư pháp quốc tế ở đày nếu được hiểu theo nghĩa hẹp thì chỉ bao 2ồm các hành vi tố tụng riêns biệt
do các bên thoả thuận hợp tác siúp đỡ cho nhau Điều này cũng đồng nghĩa với bản chất của vấn đề tương trợ tư pháp quốc tế là việc hỗ trợ cho nhau tronơ thực hiện các hành vi tố tụng riêng biệt (như tốns đạt siấy tờ, thực hiện uỷ thác điểu tra, thu thập chứng cứ, dẫn độ tội phạm, thi hành án ) Còn hiếu theo nghĩa rộns, thì các vấn đề tư pháp quốc tế ở đây còn bao 2ồm cả tươns trợ về quy chế bảo hộ pháp lý, giải quvết xuns đột pháp luật và xunơ đột quvền tài phán, trao đổi thông tin pháp luật tron2 việc thực hiện tươns trợ tư pháp quốc tế
- T h ứ hai, cơ sở pháp lý hay nguyên tắc thực hiện tươne trợ tư pháp là điều
ước quốc tế (song phươns hoặc đa phương) giữa các nước và pháp luật các nước liên quan về tương trợ tư pháp Điều ước quốc tế siữa các nước liên quan về tương trợ tư pháp sẽ được ưu tiên áp dụng; nếu không có điều ước quốc tế liên quan thì tương trợ tư pháp quốc tế được thực hiện theo pháp luật của nước được yêu cầu thực hiện, chủ yếu tuân theo nguyên tắc có đi có lại - nguyên tắc phổ biến trong pháp luật tập quán quốc tế được nhiều nước áp dụng
- T h ứ ba, lĩnh vực tươns trợ tư pháp quốc tế bao aồm cả lĩnh vực pháp luật tố
tụng dân sự quốc tế theo nghĩa rộns kê cả các vấn đề lao độns kinh tế - thươns mại
10
Trang 17- Bốn là, cơ quan thực hiện tươns trợ tư pháp quốc tế, về nguvên tắc đều do
pháp luật của mỗi quốc gia quv định, sons thông thường là cơ quan tư pháp, ở Việt Nam, thời sian qua các cơ quan thực hiện tương trợ tư pháp về dân sự bao aồm Bộ Tư pháp Toà án nhân dàn tối cao, Bộ Ngoại siao, các Cơ quan đại diện Việt iNam ở nước ngoài, các toà án nhân dân cấp tỉnh, các Uỷ ban nhân dân cấp tinh và một số cơ quan khác liên quan
- Cuối cùng, mục đích của hoạt động tươns trợ tư pháp quốc tế là nhằm bảo
vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân của nước này trên lãnh thổ của nước kia Đươna nhiên, việc tiến hành các hoạt đ ộ n a tương trợ tư pháp quốc tế như vậv còn góp phần củns cố và tãng cườnơ phát triển quan hệ hữu nshị, hợp tác siữa các quốc sia hữu quan
1.3 Phạm vi điều chỉnh của pháp luật về tương trợ tư pháp
Pháp luật về tươns trợ tư pháp quốc tế của các nước có phạm vi điều chỉnh khổng siống nhau Điều đó chủ yếu do ch ế độ chính trị, kinh tế-xã hội các nước khác nhau, cơ sờ lý luận và thực tiễn tươns trợ tư pháp quốc tế của các nước khác nhau Tuy vậy nhìn chung, pháp luật các nước về tương trợ tư pháp quốc tế thường quy định cách điều chỉnh các vấn đề cơ bản trong tương trợ tư pháp về dân
sự Nội duns cơ bản tronơ tươns trợ tư pháp quốc tế về dân sự tổng quát như sau:
Th ứ nhất, các quy đỉnh chung về tươnẹ trơ tư pháp
Phần các quv định chuns về tương trợ tư pháp thường phải có các quy định
về các nguyên tắc tương trợ tư pháp; quy tắc xác định chế độ bảo hộ pháp lý; phạm vi tươns trợ tư pháp; cách thức liên hệ khi thực hiện tươna trợ tư pháp; cơ quan đầu mối và cơ quan có trách nhiệm thực thi tươns trợ tư pháp; các quy định
về tính hợp pháp và giá trị pháp lý của các tài liệu, giấy tờ trons tương trợ tư pháp; quy định về trao đổi thôns tin pháp luật
T h ứ hai, các qux định cụ th ể về tương trợ tư pháp
Phần các quy định cụ thè trong tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự thườn® có các quv định về nsuvén tắc tươns trợ tư pháp trons tố tụns dàn sự; quy tác giải quyết x u n s đột pháp luật và xung đột quyền tài phán dân sự quốc tế; các quy định khác nhau liên quan đến các loại uỷ thác tư pháp, hình thức pháp lý của các uỷ thác tư pháp: các quy tắc thực hiện và pháp luật áp dụng để thực hiện các
uv thác tư pháp quốc tế; các quv định liên quan đến chi phí cho thực hiện các uỷ thác tư pháp quốc tế: các quv định liên quan đến công nhận và thi hành các bán
Trang 18án, quyết định dãn sự của toà án, côns nhận và thi hành các quyết định của trọng tài nước ngoài
1.4 Các điều ước quốc tế quan trọng về tưoĩig trợ tư pháp
Cơ sở pháp lý quốc tế quan trọng nhất của hoạt độns tương trợ tư pháp giữa các nước là điều ước quốc tế Tuy nhiên, xuất phát từ quan điểm thực tiễn cho nên đến nay vẫn chưa có một điểu ước quốc tế nhiều bên thốne nhất điều chỉnh tất cả các vấn đề thuộc phạm vi tương trợ tư pháp mà các nước đã sử dụnơ trong thực tiễn tư pháp quốc tế Do vậy, cộng đồng quốc tế đã soạn thảo và thôns qua nhiều điều ước quốc tế về từng nhóm vấn đề cụ thể
1.4.1 Các điều ước quốc t ế đa phương về tương trợ tư pháp
Các điều ước quốc tế đa phươne quan trọns về tươna trợ tư pháp quốc tế chủ yếu bao aồm:
- Côn2 ước La Hay ngày 01.3.1954 về các vấn đề tố tụns dân sự Côns ước này điều chỉnh các vấn đề liên quan đến tống đạt các giấy tờ, tài liệu của toà án tư pháp và các tài liệu khác của cơ quan nhà nước liên quan đến tố tụna dân sự; điều chỉnh các vấn đề liên quan đến thực hiện các uỷ thác tư pháp của toà án về tiến hành một số hành vi tố tụ ns riêng biệt; quy định các điều kiện, tiêu chí được sử dụng để quyết định việc miễn nộp cược án phí, bảo chứng ngoại kiều án quỹ đối với một nsười nước ngoài cụ thế khi người đó khởi kiện tại một nước ngoài; điều chinh n hữns trườns hợp tươns trợ tư pháp miễn phí và một số vấn đề khác Đã có nhiều nước thuộc hệ thốns pháp luật Châu Âu lục địa và các nước XHCN Đổnơ
âu tham gia Côna ước này N soài ra, trên cơ sở Công ước này, nhiều nước đã ký kết với nhau các điều ước quốc tế song phương về các vấn đề tố tụns dân sự quốc tế
- Công ước La Hay n sà y 15.11.1965 về tống đạt các giấy tờ, tài liệu của toà
án và của các cơ quan nhà nước khác liên quan đến pháp luật dân sự và thương mại Công ước này được thông qua tại Hội nghị La Hay lần thứ 10 về Tư pháp quốc tế, thành viên của C ôns ước chủ yếu là các nước đã tham gia Côns ước La Hay nsày 01.3.1954 Để thực hiện tương trợ tư pháp quốc tế, Công ước La Hay nsày 15.1 1.1965 quy định mỗi nước thành viên phải thành lập một hoặc một số
cơ quan tru n s ươna: việc tương trợ tư pháp quốc tế được thực hiện thông qua các
cơ quan trun s ương này (chứ khôns thôns qua cơ quan lãnh sự của các nước) Tuy nhiên Côns ước La Hay ngày 15.11.1965 khôns quv định các quy tắc thực
Trang 19hiện các uỷ thác tư pháp; mỗi nước tự quyết định các quy tắc pháp luật và thực tiễn tư pháp quốc tế của mình để thực hiện các uỷ thác tư pháp của nước ngoài trên lãnh thổ của mình, nếu các quy tắc pháp luật và thực tiễn tư pháp được dùng
dế thực hiện các uV thác tư pháp đó khôn2 bị các nước thành viên Côns ước phản
- C ô n s ước La Hay ngày 18.3.1970 về thu thập chứns cứ ở nước ngoài cũng đưa ra một số quy tắc chuns trong thu thập chứng cứ ở nước ngoài Tuy vậy, chỉ
có một số ít nước tham gia Công ước La Hay neày 18.3.1970, trong số đó có Anh,
Mỹ, CHLB Đức Theo quy định của C ô n s ước La Hay n sày 18.3.1970, việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của nhân chứng, đươns sự ở nước ngoài được thực hiện thông qua viên chức Lãnh sự hoặc "Uỷ nhiệm viên" do Toà án có thẩm quyền chỉ định
- C ô n s ước Cộns đồng Châu Âu naày 27.9.1968 về trách nhiệm quốc t ế và thi hành các quyết định dân sự của Toà án nước ngoài Công ước này, về nguyên tắc, khôns quy định nhữnơ vấn đề chuna về tương trợ tư pháp, mà dẫn chiếu đến các cam kết của các nước thành viên theo các thoả thuận liên quan Tuy nhiên, liên quan đến việc thi hành án, Công ước Cộng đồng Châu Âu nsày 27.9.1968 cho phép thực hiện một số uỷ thác nhất định của nước được yêu cầu, kể cả việc tốns đạt tài liệu, siấy tờ để đảm bảo cho việc thi hành án
- Cồng ước New York nảm 1958 về cô n s nhận và thi hành các quyết định của trọna tài nước ngoài Côns ước này quv tụ được nhiều nước trên thế siới tham gia, trons đó có Việt Nam Côns ước nàv quy định phạm vi các quyết định của trọng tài nước ngoài được côno nhận đê cho phép thi hành; điều kiện cần thiết để một quyết định của trọng tài nước nsoài được công nhận và cho phép thi hành: phạm vi quyền tài phán quốc sia trons giải quyết các vấn đề côns nhận và thi hành các quyết định của trọng tài nước nsoài
kí tại La Hay ngày 5.10.1961 và có hiệu lực nsày 24.1.1965 Tính đến năm 2006
đã có 91 nước tham aia Côns ước1
Mục đích của Công ước là tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu chuyển, sử cỉụna giấy tờ côns vụ aiữa các nước thành viên của Côns ước Ban đầu, các nước
dự định xoá bỏ yêu cầu hợp pháp hoá siấv tờ nhưns sau đó đã thay thế yêu cầu đó
1 Ki vếu hội th á o tươna trợ tư pháp, iransỉ 27.
Trang 20bằns m ót thủ tục đơn siản hơn và áp dụns thốns nhất siữa các nước, đó là thủ tục xác nhậíi bằng "Apostille" Do vậy, Côns ước Còns ước La Hay nsày 5.10.1961 được gọi là Công ước Apostille Với tổng số 15 điều, Côns ước la Hay 1961 đã đề cập một Số vấn đề cơ bản sau liên quan đến hợp pháp hoá: Phạm vi áp dụns của
Công ưỚQ được quy định rõ tại Điều 1, theo đó, những văn bản, siấy tờ có thể
được cấp "Apostille" phải là giấy tờ cô n s vụ; thẩm quyền cấp "Apostille" quy định Điều 6 của Công ước Ngoài những nội duns trên, Công ước năm 1961 còn
có quy địfih nhằm ngăn ngừa gian lận, đó là cơ quan đã cấp "Apostille" có trách nhiệm lập và lưu trữ sổ đăng kí hoặc cơ sở dữ liệu về các trường hợp đã cấp
"Apostillể”
N sơằi ra, vấn đề tương trợ tư pháp quốc tế còn được quy định trons nhiều điều ước quốc tế quan trọng khác như: Công ước La Hay ngày 01/02/1971 về công nhận và thi hành bản án dân sự và thương mại nước ngoài; Công ước năm
1932 giữa các nước Bế \ u về công nhận và thi hành bản án; Công ước Brúcxen năm 1968 về thẩm q u v và thủ tục thi hành các bản án dân sự và thương mại; Công ước nâi 1979 giữa các nước châu Mỹ về giá trị pháp lý ngoài lãnh thổ của các bản án V; các quyết định của trọng tài nước nsoài; Công ước Viên năm 1961
về quan hệ n-uại siao; Công ước Viên năm 1963 về quan hệ lãnh sự
Ị.4,2 C ác điều ước q u r ế song phương về tương trợ tư pháp
- Cắc t i u p ' P so n s phương siữa các nước XHCN thườnơ có phạm vi khá
bị kết án đê 1 hành h phạt: điều chỉnh cả vấn đề trao đổi thông tin pháp luật,
cả vấn đề gKii quvết xung đột pháp luật và xuns đột quyền tài phán tư pháp Các hiệp định tươnp tư nháp nàv thườnơ điều chỉnh các vấn để cơ bản sau: quy tác xác định e h t báo họ pháp lý; phạm vi tươnơ trợ tư pháp; cách thức liên hệ khi thực hiện tưí-ng trợ tư pháp; cơ quan đầu mối trona tương trợ tư pháp; các quy định liên quan đến các uỷ thác tư pháp; các quy định về tính hợp pháp và giá trị pháp lý của các tài liệu, giấy tờ trong tươnơ trợ tư pháp; quy định về thôna tin pháp luật; các quv định về giải quyết xung đột pháp luật dân sự và xung đột quyền tài phán dãn sự; các quy định liên quan đến công nhận và thi hành các bản
14
Trang 21án, quyết định dân sự của toà án, công nhận và thi hành các quyết định của trọng tài nước nsoài.*—
Tuy nhiên, các HĐTTTP được ký kết giữa các nước có chế độ chính trị - xã hội khác nhau thường có phạm vi điều chỉnh hẹp hơn Mỗi hiệp định như vậy thường tập trung siải quyết một nhóm quan hệ pháp lý quốc tế độc lập, chẳng hạn như các vấn đề tố tụns trong tương trợ tư pháp về các vụ việc dân sự, hoặc các vấn
đề tố tụng trong tươns trợ tư pháp về các vụ việc hình sự, hoặc điều chỉnh các quy tắc, thủ tục liên quan đến dẫn độ tội phạm, hoặc chuyển siao người bị kết án để thi hành hình phạt
T r o n g thực tiễn thời gian qua, N h à nước ta đã k ý với các nước cả hai loại hiệp định tương trợ tư pháp sons phương với phạm vi điều chỉnh rộng, hẹp khác nhau như vậy Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24.5.2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 nhấn mạnh việc tiếp tục xây dựnơ các điều ước quốc tế trong lĩnh vực tương trợ tư pháp trong thời sian tới với tính cách là nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện hệ thốns pháp luật Việt Nam phục vụ hội nhập kinh tế quốc
ị /
tế
1.5 Sự cần thiết của các hoạt động tương trợ tư pháp ở Việt Nam
1.5.1 Tương trợ tư pháp là m ột đòi hỏi khách quan trong tiến trình hội nhập kinh t ế quốc tế.
C h ú n s ta đều biết, trons quá trình đổi mới toàn diện các lĩnh vực của đời sống đất nước, phát triển nền kinh tế thị trường định hướnơ XHCN, hội nhập kinh
tế quốc tế, thì việc nắm bắt và hiểu đúns, sử dụng đún2 "luật chơi" ch un s của cộng đồns quốc tế luôn đóng vai trò quan trọng trons phát triển hiệu quả nhiều mặt của đất nước Để đạt được điều đó, cần phải xây dựng và phát triển hệ th ố n s pháp luật quốc gia sao cho hài hoà với các chuẩn mực quốc tế, trên nền tảng văn hoá pháp lý thực tại quốc gia, không bị lạc hậu so với thế giới
Lĩnh vực tương trợ tư pháp quốc tế ở nước ta cũns có nhữns đòi hỏi tươnơ tự như vậy Tương trợ tư pháp quốc tế từ lâu đã được coi là một yêu cầu, đòi hỏi hết sức khách quan, là một xu hướns vận độns tất yếu, khôns thể thiếu được trong bối cảnh m ở rộng quan hệ quốc tế, phát triển kinh tế thị trườn2 và hội nhập kinh
tế quốc tế Chính vì vậy mà ngày càng có nhiều nước quan tâm đến các hoạt độns
Trang 22tương trợ tư pháp trons phát triển quan hệ với các nước và phát triển kinh tế nước mình.
Tươns trợ tư pháp quốc tế đana ngày càns trở thành hoạt động khôns thể thiếu được của cơ quan tư pháp bất kỳ quốc gia nào Trợ giúp về mặt pháp luật và
tư pháp trong quan hệ siữa các quốc gia với nhau khôna nhữns chỉ là một hoạt độns thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác cùng có lợi siữa các nước cùns phát triển, mà thực sự còn là nhu cầu nội tại của bản thân mỗi nước, thông qua đó, các
cơ quan nhà nước và đội ngũ công chức thực hiện côns tác này có thể trao đổi, học tập kinh nghiệm, mở rộng sự hiểu biết về công tác chuyên môn này trên các lĩnh vực cụ thể Điều đó là hoàn toàn cần thiết và có lợi cho sự nghiệp hội nhập kinh tế quốc tế, củns cố và nâng cao hơn vai trò và vị thế của các cơ quan tư pháp của quốc gia nói riêng trên trườns quốc tế
1.5.2 Tương trợ tư pháp là một hoạt động không th ể thiếu của Toà án và các
cơ quan tư pháp Việt N am
Trong quá trình Toà án và các cơ quan tư pháp Việt Nam tiến hành các hoạt độns tố tụ n s liên quan đến các vụ việc có yếu tố nước ngoài, cho dù đó là vụ việc dân sự, thương mại, hay hình sự, để đảm vệ đầy đủ các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan trong tố tụng, thì các hoạt động tương trợ tư pháp quốc tế đóng một vai trò k h ô n s thể thiếu và có thể nói là hết sức quan trọng trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Nó có thê hỗ trợ cho các cơ quan tư pháp và pháp luật Việt Nam vượt qua được nhữnơ khó khăn, phức tạp trong giải quyết nhữns vụ việc tranh chấp dàn sự thương mại có yếu tố quốc tế hiện nay và thời gian tới Thẩm phán thực hiện nguyên tắc độc lập xét xử không có nghĩa là hoàn toàn thụ động và tự tin vào khả năng, kiến thức có được và kinh nghiệm xét xử của mình trong việc đưa ra phán quyết cuối cùne trên cơ sở hồ sơ vụ việc có được qua các chứns cứ pháp lý và lời khai của đươns sự và nhữns nsười liên quan có mặt trên lãnh thổ nước mình, mà bỏ qua lời khai của nhàn chứng, bỏ qua chứng cứ và những tình tiết, sự kiện ở nước ngoài do khôna thể thu thập được hoặc kh ô n s được tiến hành vì các lý do khác nhau cho dù được biết những chứns cứ, tình tiết,
sự kiện ở nước ngoài đó có liên quan chặt chẽ đến vụ việc đang thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan tư pháp Việt Nam Càna khó khãn và phức tạp hơn cho quá trình tố tụns nếu một trong các bên đương sự hoặc bị cáo lại đang cư trú ở nước nsoài Ngoài ra còn rất nhiều vấn đề quan trọng khác cần thiết cho quá
16
Trang 23trình ttố tụns của Toà án Việt Nam (như trưng cầu giám định pháp y nước ngoài, thônỉ tin về nội duna và thực tiễn pháp luật nước ngoài liên quan khi pháp luật Việt N a m dẫn chiếu đến việc áp dụng đúng pháp luật nước ngoài đó ) nhưng có thể k h ô n s thể đáp ứns được trons trường hợp không có sự hợp tác, tươns trợ tư pháp g iữ a các cơ quan tư pháp các nước liên quan.
R õ ràns, tươnơ trợ tư pháp quốc tế tronơ các vụ việc có yếu tố nước ngoài là một htoạt độne khôns thể thiếu được của bất kỳ Toà án và cơ quan tư pháp nào của mước ta Thực tiễn hoạt động xét xử của các Toà án nước ta, nhất là đối với các T<oà án Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và những nơi có số lượns lớn các vụ việc c ó yếu tố nước ngoài cho thấy, tươns trợ tư pháp quốc tế là một nhu cầu không thể thiếu được và nsày cànơ trở thành vấn đề cấp bách trong hoạt động tư pháp ỉnước ta Mặc dù nhận thức được như vậy, nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau, kể cả nguyên nhân chủ quan và neuyên nhân khách quan, nên trên thực tế trong nhiều trường hợp Toà án cấp tỉnh vẫn ơặp rất nhiều khó khăn, trở ngại khi tiến hành giải quyết các vụ việc có yếu tố nước ngoài, đó là chưa nói đến việc các Toà án cấp huyện sẽ phải đảm nhận nhiều vụ việc dân sự, thương mại có yếu tố nước ng o ài theo quy định của Bộ luật tố tụna; dân sự
1 5.3 Pháp luật quốc t ế và pháp luật quốc gia là cơ sở pháp lý quan trọng đảm b ảo thực hiện có kết quả hoạt động tương trợ tư pháp.
Sự phát triển quan hệ hợp tác giữa các quốc gia trons các lĩnh vực và ở các cấp độ khác nhau làm phát sinh hàng loạt các vẫn đề dân sự, kinh tế, thươns mại, lao động có yếu tố nước nsoài Để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các
cơ quan, tổ chức, cá nhân nước mình trên lãnh thổ nước ngoài, cũn® như các quyền và lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân nước nước ngoài trên lãnh thổ nước mình, thúc đẩy phát triển các quan hệ kinh tế, thương mại, dân sự, văn hoá, xã hội giữa các nước mỗi một quốc gia nsoài việc hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan của mình, còn phải thực hiện sự hợp tác cần thiết với các quốc
2Ìa khác về vấn đề đó trên cơ sở các quy định của pháp luật và thôns lệ quốc tế.Tươns trợ tư pháp quốc tế giữa các quốc 2Ìa có thể được tiến hành trên cơ sở pháp luật tron® nước theo nguyên tắc có đi có lại hoặc trên cơ sở pháp luật quốc
tế theo các điều ước quốc tế mà các bên là thành viên Sự hợp tác tươns trợ tư pháp đó siữa các quốc sia thườns hướns vào việc đảm bảo sự cùns côna nhận và tuân thủ các quyén nhân thân và quvền tài sán hơp pháp của các cơ quan, tổ chức
trung tâm thông tin thư ViỆM
Trang 24cá nhàn nước mình trên lãnh thổ nước ngoài, cũns như các quyền và lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân nước nước ngoài trên lãnh thổ nước mình.
Các điều ước quốc tế điều chỉnh sự hợp tác tương trợ tư pháp đó siữa các cơ quan tư pháp của các nước thường tập trung vào các vấn đề: bảo hộ pháp lý; phàn định thẩm quyền của các Toà án và các cơ quan tư pháp; các quy tắc áp dụng pháp luật; đảm bảo các quyền tố tụns của các cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài tại các Toà án và các cơ quan tư pháp nước mình; các quy định về các uỷ thác tư pháp quốc tế; cône nhận và thi hành các bản án, quyết định dân sự, thương mại của Toà án hoặc các quyết định của trọng tài nước nsoài; công nhận và chuyển trao các tài liệu tư pháp và các vấn đề khác
Trong tất cả các vấn đề nói trên, có nhóm vấn đề hoàn toàn thuộc lĩnh vực hoạt đ ộ n s tương trợ tư pháp trên cơ sở pháp luật quốc tế theo các điều ước quốc
tế, đó là: thực hiện các uỷ thác tư pháp quốc tế; công nhận và thi hành các quyết định của trọng tài nước neoài; xác nhận và chuyển giao các tài liệu tư pháp Quốc gia được yêu cầu có thể xem xét thực hiện tương trợ tư pháp về các vấn đề đó trên
cơ sở các nguyên tắc và quy chuẩn tối thiểu của pháp luật quốc tế Việc thực hiện các hoạt động tươns trợ tư pháp đó được coi là hành vi xử sự bình thườns của các quốc gia trons quan hệ quốc tế Nhóm vấn đề còn lại thường được giải quyết trên
cơ sở các quy định của pháp luật quốc gia có kết hợp với các quv định cụ thể trong các điều ước quốc tế m à nước đó là thành viên Việc nội luật hoá các cam kết quốc tế là xu hướng vận động chính hiện nay trong thực tiễn lập pháp của các nước trên thế giới
2 Tương trợ tư pháp quốc tè về dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam và một số nước
2.1 Tương trợ tư pháp quốc tẽ về dân sự theo quv định của pháp luật Việt Nam
2.1.1 Pháp luật tron g nước
Hoạt đ ộ n s tương trợ tư pháp quốc tế về dàn sự ở Việt Nam có thê chia thành các giai đoạn sau:
a Giai đoạn trước năm 1980: Phù hợp với đặc điểm chung của thời kì này sự
hợp tác quốc tế về pháp luật và tư pháp mới hình thành, cho nên pháp luật về tương trợ tư pháp còn rất sơ khai, mặc dù thực tế cuối nhữna năm 1970 đã bắt đầu phát sinh các yêu cầu về tươns trợ tư pháp Trong các văn bản pháp luật thời kì
18
Trang 25này phái kể đến Thôns tư số 11/TATC ngày 12.7.1974 của Toà án nhân dân tối cao hướns dẫn một sò' vấn đề về về nsuyên tắc và thu tục giải quyết việc li hôn có yếu tố nước ngoài, trons đó có quy định về việc thực hiện uỷ thác tư pháp quốc tế Tuy nhiên, phạm vi các vấn đề thuộc lĩnh vực tươns trợ tư pháp còn rất hẹp, chủ yếu liên quan đến vấn đề li hôn Đối với những vụ việc tương trợ tư pháp cụ thể nảy sinh, các toà án và các cơ quan tư pháp nước ta chủ động giải quyết trên cơ sở pháp luật Việt Nam, nếu cần thiết hợp tác với nước nsoài thì yêu cầu cơ quan đại diện ngoại siao, lãnh sự thực hiện thông qua con đường neoại 2Ĩao Trong giai đoạn này Việt Nam và các nước chưa kí kết các HĐTTTP Do đó, chưa hình thành
cơ sở pháp ỉuật quốc tế và các neuyên tắc cơ bản của sự hợp tác quốc tế điều chỉnh các vấn đề phát sinh trong lĩnh vực này
b G iai đoạn từ năm 1980 đến năm 1992
Hiến pháp nước C H X H C N Việt Nam năm 1980 được Quốc hội thông qua đã đánh dấu bước ngoặt quan trọne trong sự phát triển của đất nước, kể cả đối nội và đối ngoại Trone quan hệ quốc tế, việc kí kết các HĐTTTP với các nước XHCN
đã chính thức tạo cơ sở pháp lí quốc tế cho hoạt độns tương trợ tư pháp ở nước ta Việc thực hiện các HĐTTTP đặt ra cho các cơ quan chức năng của Nhà nước yêu cầu mới là phải có cơ sở pháp lí để thiết lập một cơ chế phối hợp, bảo đảm việc tuân thú các điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp Vì vậy, ngày 12.3.1984 liên neành Toà án, Bộ nội vụ Bộ nsoại giao đã kí Thông tư số 139/TTLN quy định về việc thi hành các HĐTTTP siữa nước ta với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) Thôn2 tư này đã xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của từns cơ quan trong việc thực hiện các HĐTTTP đã kí kết Cũng trons thời kì này, Toà án nhân dân tối cao đã ban hành m ột số văn bản hướng dẫn giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhìn và gia đình có yếu tố nước ngoài Tuy nhiên, trong thời kì này chúng
ta chưa có cơ sở pháp luật tr o n s nước đủ đảm bảo cho việc thực hiện một cách
th ố n s rhất trong côns tác tương trợ tư pháp quốc tế phát sinh ngày càng nhiều với tính chít ngày càns phức tạp và phạm vi đa dạns
c.G iai đoạn từ năm 1992 đến nay
Nim 1992, Nhà nước ta ban hành Hiến pháp mới, tạo cơ sở pháp lí vữno
ch ắc cho việc tiếp tục công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế Tronỵ hời kì này nhiều văn bản quy phạm pháp luật về tương trợ tư pháp hoặc có nội durs liên quan đến lĩnh vực này được ban hành như: Pháp lệnh côna nhận thi
Trang 26hành bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài năm 1993, Pháp lệnh cồng nhận thi hành tại Việt Nam quvết định của trọnơ tài nước nsoài năm 1995 Đặc biệt là việc ban hành Bộ luật tố tụns dàn sự nãm 2004 Bộ luật này đã kế thừa và
bổ suns những quy định và nsuvên tắc của hai Pháp lệnh trên Theo Điều 343 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, Việt Nam sẽ công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam theo nguyên tắc:
Tòa án Việt Nam xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài trons các trường hợp sau đây:
+ Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài mà Việt Nam và nước đó
đã ký kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế về vấn đề này;
+ Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài được pháp luật Việt Namquy định công nhận và cho thi hành (khoản 1)
Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước neoài cũng có thể được Tòa án Việt Nam xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam trên cơ sở có đi có lại c •
mà không đòi hỏi Việt Nam và nước đó phải ký kết hoặc gia nhập điều ước quốc
tế về vấn đề đó (khoản 3) Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam và không có đơn yêu cầu khôns cône nhận thì đương nhiên được côns nhận tại Việt Nam theo điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc aia nhập (khoản 5) Tòa án Việt Nam chỉ xem xét việc không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam khi có đơn yêu cầu khổns côns nhận (khoản 6)
Ngoài ra, Bộ luật còn quy định về các trường hợp bản án quyết định dân sự của toà án nước nsoài không được côns nhận và thi hành tại Việt Nam, thủ tụcc- c • U icông nhận và việc cho thi hành các bản án quyết định dân sự đã được côna nhận
và cho thi hành tại Việt Nam
Đặc biệt, Bộ luật tố tụns dân sự năm 2004 quy định nhữns vấn đề cơ bản của hoạt độna tương trợ tư pháp như: nguyên tắc thực hiện uỷ thác tư pháp quốc tế; cách thức, trình tự thực hiện uỷ thác tư pháp
Ngày 21 tháng 11 năm 2007, tại kì họp thứ 2 Quốc hội khoá 12 đã thôns qua Luật tương trợ tư pháp Đây là văn bản pháp luật có giá trị pháp lí cao, đáp ứng được sự phát triển của hoạt động tương trợ tư pháp ở nước ta Ngoài nhữns quy định chuns, tại chương II Luật đã quy định tươnơ trợ tư pháp về dân sự, 2ồm 7 Điều (từ Điều 10 đến Điều 16) Luật tươns trợ tư pháp đã tạo cơ sở pháp lí vữns
2 0
Trang 27chắc cho hoạt độns tươns trợ tư pháp quốc tế ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Luật tươna trợ tư pháp năm 2007 quy định nhữnơ vấn đề cơ bản sau:
a N guyén tấc tương trợ tư pháp
- Tương trợ tư pháp được thực hiện trên nguyên tắc tôn trọnơ độc lập, chủ quyền,
toàn vẹn lãnh thô quốc aia, khôns can thiệp vào côn2 việc nội bộ của nhau, bình
đ ẳ n s và các bẽn cùna có lợi, phù hợp với Hiến pháp, pháp luật của Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
- Đối với các nước chưa ký kết hoặc gia nhập với Việt Nam điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp, thì hoạt động tương trợ tư pháp được thực hiện trên nguyên tắc
có đi có lại theo quy định của pháp luật Việt Nam và phù hợp với pháp luật và tập quán quốc tể (Điều 4 Luật tươns trợ tư pháp)
b H ình thức thực hiện tương trợ tư pháp
Tương trợ tu pháp được thực hiện trên cơ sở yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thôns qua các uỷ thác tư pháp theo quy định của pháp luật nước được yêu cầu thực hiện uv thác hoặc theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên (Điều 7 Luật tươns trợ tư pháp)
c P hạm vi tương trợ tư pháp vê dân sự
Cơ quan có thẩm quvền tiến hành tố tụng của Việt Nam yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thực hiện hoặc thực hiện yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài tươns trợ tư pháp về dân sự trong phạm vi:
- Tống đạt siấy tờ, tài liệu liên quan đến tươns trợ tư pháp;
- Triệu tập người làm chứns người siám định:
- Thu thập chứns cứ;
- Các yêu cầu tươns trợ tư pháp khác về dàn sự
d Yêu cầu tương trợ tư pháp về dân sự dối với nước ngoài (Điều 13)
Cơ quan có thẩm quyền cùa Việt Nam trons quá trình giải quyết các vụ việc dân sự có thế vêu cầu cơ quan có thẩm quvền nước ngoài thực hiện tươns trợ
tư pháp trona các trườn2 hợp sau đày:
- Tống đạt siấy tờ, tài liệu cho người đ an2 ở nước được yêu cầu;
- Triệu tập ne ười làm chứng, nsười giám định đang ờ nước được yêu cáu:
- Thu thập, cun2 cấp chứns cứ ớ nước được yêu cầu để siái quyết vụ việc dân sự tại Việt Nam:
Trang 28- Các trườns hợp khác theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Yêu cầu tương trợ tư pháp về dân sự với nước ngoài phải được lập thành văn bán dưới hình thức uỷ thác tư pháp về dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam và phù hợp với pháp luật của nước được yêu cầu Ngoài ra, Luật tươns trợ tư pháp còn quy định cụ thể về: Thủ tục uỷ thác tư pháp về dân sự cho nước ngoài (Điều 14); Thủ tục tiếp nhận và xử lý uỷ thác tư pháp về dân sự của nước ngoài (Điều 15)
2.1.2 Đ iều ước qu ốc té
Đê đáp ứ n s yêu cầu nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp lý các mối quan hệ dân sự theo nghĩa rộng nói r i ê n ơ và các quan hệ xã hội có yếu tố nước ngoài nói chung, bên cạnh việc ban hành nhiều văn bản pháp quy trons nước, Việt Nam đã
ký kết hoặc tham sia nhiều điều ước quốc tế song phương đê điều chỉnh các quan
hệ này
Tính đến nay tron° lĩnh vực dân sự, Việt Nam đã ký kết 15 hiệp định tương trợ
tư pháp và pháp lý với các nước trên th ế giới Việc ký kết HĐTTTP với các nước của Việt N am có thể được chia thành hai siai đoạn chính:
* Các hiệp định ký kết vào những năm 80
Vào n h ữ n s năm cuối 70 đầu 80, khi chiến tranh Việt Nam kết thúc thì cuộc chiến tranh lạnh trên th ế giới lại ở vào thời kỳ quyết liệt Quan hệ đối ngoại của Việt Nam chưa được m ở rộ n s do phải chịu ảnh hưởng của chính sách bao vây, cấm vận của một số nước thù địch Nền tảng trong chính sách đối ngoại của Việt Nam lúc bấy giờ chủ yếu là phát triển quan hệ với Liên Xô và các nước Đ ô n s Âu XHCN anh em Vì đặc điểm của quan hệ đối ngoại của Việt Nam vào thời điểm
đó mà đối tượns để ký các điều ước quốc tế với Việt Nam (không chi các HĐTTTP m à n say cả các hiệp định lãnh sự) được ký kết vào thời điểm này chủ yếu là với các nước XHCN
Việc ký kết HĐTTTP nói riêng cũng như các điều ước quốc tế khác nói chuna trong siai đoạn này trước hết được xuất phát từ yêu cầu chính trị nhằm tăng cường, củng cố tình đoàn kết trong phe X H C N anh em và từ yêu cầu của tình hình thực tế là số lượng công dân Việt Nam sana các nước này để học tập, lao độns, côns tác n s à y một đ òns Tinh hình đó làm cho các mối quan hệ có yếu tố nước nsoài nói c h u n s và các quan hệ dân sư có vếu tố nước nsoài nói riêng nảy sinh ngày càns nhiều và để siải quyết có hiệu quá các mối quan hệ này, tất yếu phái
Trang 29có sự hợp tác giữa các nước liên quan Xuất phát từ tình hình hợp tác trons khối XHCN lúc đó mà các HĐTTTP mà Việt Nam ký với các nước xã hội chủ nghĩa (Hungari Bunsari C uba ) có nội duns siố n s nhau và có phạm vi thườnơ rất rộns Trong lĩnh vực dân sự các vấn đề chính được Hiệp định đề cập đến là: các vấn đề về bảo vệ pháp lý, giải quvết x u n s đột pháp luật và x u n o đột thẩm quyền, tươns trợ tư pháp
* Các hiệp định được ký kết từ những năm 1990 cho đến nay
Từ những năm 1990 trở lại đây, Việt Nam đã mở rộng phạm vi ký kết các HĐTTTP, khôns chỉ tập chuns ở các nước XHCN như trước đây mà chúng ta ký với cả các nước ngoài khối XHCN Điều này phù hợp với đường lối đối nsoại của
chúng ta “V iệt Nam muốn làm bạn với tất cả các quốc gia trên th ể giớ i” do đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đề ra trons chiến lược phát triển nền kinh tế của Việt Nam trons thời kỳ côn2 nơhiệp hoá hiện đại hoá
Khôns chỉ khác về phạm vi mà về nội dung cuả các Hiệp định cũns có sự thay đổi: Xuất phát từ xu hướng khi ký kết HĐTTTP các nước chỉ tập chung vào phạm vi hẹp theo từng lĩnh vực chuyên ngành (hoặc chỉ chuyên về hình sự, dẫn độ hoặc chuyên về tố tụng dân sự), không quy định xen kẽ, lồng ghép nhiều lĩnh vực
(Hiệp định giữa Việt Nam với Trunơ quốc, với Cộng hoà Pháp) trong lĩnh vực dân
sự chủ yếu tập chuns vào các lĩnh vực chính của tố tụna dân sự như: Lập và chuyển siao hổ sơ: tống đạt giấy tờ, công nhận và thi hành các quyết định của toà
án, của trọng tài : trao đổi thông tin, tài liệu pháp luật
Các nội dung cơ bản
Tuy có nhữns điểm khác nhau nhất định, nhưns nhìn chung nội duns các HĐTTTP mà Việt Nam ký kết với các nước trong lĩnh vực dân sự thường tập chung vào một vấn đề cơ bản như sau như sau:v _ •
a Báo hộ pháp /v chữ công dân pháp nhân của nước ký kết này trên phạm vi lãnh th ổ của nước kỷ kết kia
Vấn đề bảo hộ pháp lý thường được nhấn mạnh trons các HĐTTTP siữa Việt Nam với nước ngoài đặc biệt là các nước trong khối XHCN trước đây v ề vấn đề này thông thườns các Hiệp định đều qui định việc bảo hộ pháp lv cho côns dân cúa các nước kv kết hiệp định đều dựa trên chế độ đối xử quốc sia (nsuyên tấc NT)
Trang 30Việc áp dụng chế độ đối xử quốc gia (đãi ngộ như công dân) trons íĩnh vực
tố tụ n g dân sự quốc tế đã tạo ra một sự bình đẳng pháp lý cho côns dân của nước
ký kết này sống trên lãnh thổ của nước ký kết kia khi tham sia vào quan hệ dân sự
có yếu tố nước ngoài
b Qui định luật áp dụng diều chỉnh các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài liền quan đến công dân và pháp nhản của hai nước kỷ kết
Việc xác định luật áp dụng để điều chỉnh các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng
có yếu tố nước nsoài là một trons những nội dung quan trọng của tư pháp quốc
tế Các quan hệ mà Tư pháp quốc tế điều chỉnh thường liên quan tới ít nhất là hai
hệ th ố n s pháp luật Trong khi đó pháp luật của các nhà nước khác nhau thì khác nhau, do vậy việc áp dụns hệ th ố n s pháp luật này hay hệ thống pháp luật kia có thể đưa lại những kết quả khác nhau Để cho việc giải quyết được thống nhất, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên chủ thể, trons hầu hết các HĐTTTP mà Việt Nam ký kết đều có hệ thống các qui pham xung đột qui định các nguyên tắc chọn luật để điều chỉnh các quan hệ thừa kế, hôn nhân gia đinh, năng lực pháp luật, năng lực hành vi của người nước ngoài (gọi tắt là các quan
hệ dân sự theo nhĩa rộng có yếu tố nước ngoài) Cụ thể để xác định luật áp dụng trong việc điều chỉnh các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước nsoài các Hiệp định thườns sử dụns các hệ thuộc cơ bản sau: Luật quốc tịch, Luật nơi
cư trú, Luật nơi có tài sản, Luật nơi thực hành vi, Luật toà án hoặc kết hợp giữa các hệ thuộc luật trên
c Xác định thẩm quyền xét x ử dân sự quốc t ế đối với các vụ việc dân sự có
xếu t ố nước ngoài liên quan đến công dân và pháp nhân của hai nước ký kết
Xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế cũns là một trong các nội dung quan trọng được qui định trons hầu hết các HĐTTTP mà Việt Nam ký kết với nước ngoài Khi các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài phát sinh việc các cơ quan tư pháp của các nhà nước khác nhau đều có thẩm quyền giải quyết và đưa ra cúc bản án các quyết định khác nhau là trường hợp rất phổ biến Khắc phục tinh trạng này trons hầu hết các HĐTTTP Việt Nam với nước naoài đều có các hệ thốn2 các qui phạm qui định các dấu hiệu (qui tắc) đê xác định thẩm quyền xét
xử quốc tế (qui phạm xác định thẩm quyền) Để xác định thẩm quyền xét xử dân
sự quốc tế của cơ quan toà các nước ký kết tro nu hầu hết các hiệp định đều 2hi nhận các qui tấc sau: Qui tắc (dấu hiệu) quốc tịch của các bên đươns sự qui tắc
24
Trang 31(dấu hiệu) nơi cư trú (thườnơ là nơi thườns trú của các bèn đươnư sự), qui tắc (dấu hiệu) nơi có tài sán qui tắc (dấu hiệu) xảy ra hành vi gây hại Thỏna thườnơ các qui tắc (dấu hiệu) xác định thẩm quyền trons các HĐTTTP thườnơ được qui định theo với từng lĩnh vực cu thể.
d Qưx định vê nguyên tắc, trình tự cách thức thực hiện ủy thác tư p h á p quốc t ế
Uỷ thác tư pháp quốc tế cũns là một trong các nội duna quan trọng của các HĐTTTP Theo qui định của hầu hết các HĐTTTP mà Việt Nam đã ký kết việc thực hiện uỷ thác tư pháp được thực hiện chủ yếu thông qua các cơ quan tư pháp trung ươnơ (Bộ Tư pháp và Viện kiêm sát nhân dân tối cao) Ngoài ra, các HĐTTTP Việt Nam ký kết đều cho phép cơ quan đại diện nsoại giao, cơ quan lãnh sự của nước cử được tống đạt giấy tờ hoặc lấy lời khai của công dân nước cử tại nước tiếp nhận Tất nhiên cơ quan ngoại siao và lãnh sự khônơ được phép áp dụng các biện pháp cưỡng chế khi thực hiện các hành vi tố tụng nói trên
e Qui định về nguyên tắc, điều kiện, trình tự đ ể công nhận và thi hành bản
án, quyết định dân sự cửa tòa án và các quyết định của trọng tài của nước ký kết này trên phạm vi lãnh th ổ của nước ký kết kia
Hầu hết các HĐTTTP Việt Nam đã ký kết và đang có hiệu lực thi hành đều quy định đầy đủ các điéu kiện cơ bản cho việc công nhận và thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án đã được tuyên trên phạm vi lãnh thổ của nước kí kết này tại lãnh thổ của nước ký kết kia
Đối với việc cô n s nhận và thi hành các quyết định của trọns tài được tuyên tại nước hữu quan này trên lãnh thổ của nước hữu quan khác các hiệp định đều cam kết tuân thủ các qui định tại Côns ước New York ngày 10/06/1958 về c ô n s nhận và thi hành các quyết định của trọns tài nước naoài
Ngoài việc kí kết điều ước quốc tế song phương, Việt Nam còn tham sia điều ước quốc tế đa phương tron g đó có quy định về tươna trợ tư pháp quốc tế, đó
là Côns ước New York ngày 10/06/1958 về côns nhận và thi hành các quyết định của trọng tài nước nsoài
2.2 Tương trợ tư pháp quốc tê về dân sự theo quv định của pháp luật một sô nước
2.2.1 Tưong trợ tư pháp vé dân sự theo pháp luật của Cộng hòa ph áp
2.2.1.1 Pliáp luật trong nước
Trang 32ở Cộng hòa Pháp, tươnơ trợ tư pháp quốc tế được quy định tại Luật số 2004 -
204 ngày 10.3.2004 (thiên X) và Bộ luật tố tụng dân sự
Luật số 2004-204 quy định về việc thực hiện tươns trợ tư pháp của các cơ quan tư pháp Cộng hòa Pháp cho cơ quan tư pháp nước ngoài và tương trợ tư pháp của các cơ quan tư pháp nước ngoài cho cơ quan tư pháp Cộng hòa Pháp
Ngoài Luật số 2004-204 ngày 10.3.2004, tương trợ tư pháp ở Cộnơ hòa Pháp còn được quy định trona Bộ luật tố tụng dân sự Bộ luật này quy định cụ thể về các hành vi thực hiện tươns trợ tư pháp như: Tống đạt các giấy tờ tư pháp và naoài tư pháp, thu thập chứng cứ, công nhận và thi hành các bản án, quyết định dân sự của tòa án nước nsoài, phán quyết của trọng tài nước ngoài
a Tống đ ạt các giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp; chuyển giao giấy tờ.
* Tống đạt các giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp
Ớ Pháp tống đạt giấy tờ bao gồm: Tốns đạt giấy tờ ra nước ngoài và tống đạt giấy tờ của nước ngoài trên lãnh thổ của Pháp
V ề tống đạt giấy tờ ra nước ngoài, đó là việc tống đạt các siấy tờ liên quan
đến một vụ việc được tòa án Pháp giải quyết và nsười được tống đạt đang cư trú ở nước nsoài Theo Bộ luật tố tụnơ dân sự Pháp, các thủ tục bắt buộc phải được thực hiện trên lãnh thổ Pháp trước khi tiến hành tống đạt ra nước ngoài Thủ tục này được quy đinh tại Điều 688 Bộ luật tố tụ n g dân sự mới Theo Điều 688, các thủ tục này vẫn phải thực hiện đầy đủ ngay cả khi đươns sự cư trú tại Pháp nhưns được hưởns quyền miễn trừ Tuy nhiên, có thể k h ô n s cần tiến hành các thủ tục này nếu đương sự mặc dù cư trú ở nước ngoài nhưns đans lưu trú nsắn ngày ở Pháp hoặc đã lựa chọn trước nơi cư trú trên lãnh thổ Pháp
Theo quy định tại Điều 693 Bộ luật tố tụ n s dân sự Pháp, việc tống đạt đuợc coi là là đã thực hiện kể từ ngày giấy tờ được giao cho Viện côns tố
Vẽ tống đạt giấy tờ của nước ngoài trên lãnh th ổ của Pháp Việc tống đạt
giấy tờ của nước ngoài trên lãnh thổ của Pháp được quy định trono Bộ luật tố tụns dân sự từ Điều 688-1 đến Điều 688-8 Việc tống đạt siấy tờ của nước ngoài trên
lãnh thổ của Pháp được thực hiện bằng hai con đường: Thứ nhất, thông qua cơ quan cảnh sát hoặc quân cảnh Thứ hai, do thừa phát lại có thẩm quyền theo phạm
vi lãnh thổ thực hiện, ơ Pháp cũng có thê thực hiện việc tốns đạt thôns qua con đườns bưu điện nếu hình thức này được quy định trons pháp luật của nước nơi sửi
tố n2 đạt (ví dụ như ở MT)
Trang 33* Vấn đề chuvển siao giấy tờ
Quy trình chuyên siao truvển thốns là thôns qua con đường nsoại giao (kênh nsoại giao) Để đơn siản hóa quy trình chuvển siao siấy tờ nhằm đẩy nhanh việc chuyển giấy tờ cần tống đạt cũns như việc gửi trả các tài liệu liên quan đến thực hiện yêu cầu tốns đạt, Pháp đã kí kết các điều ước quốc tế đa phươns và so n s phương về tươns trợ tư pháp Các phươns thức chuvển giao được quy định trons các điều ước quốc tế như: thông qua bưu điện, Viện công tố, viên chức tư pháp, các cơ quan lãnh sự, Bộ Tư pháp hoặc một cơ quan chuyên trách (cơ quan tru n s ươn2) Nhữnơ vấn đề liên quan đến thủ tục của yêu cầu tốns đạt, lệ phí tống đạt (có thể có), ngôn ngữ của văn bản phải tốna đạt được quy định cụ thể trong các điều ước quốc tế
b Thu thập chứng cứ trong lĩnh vực dân sự
Theo pháp luật của Pháp, thu thập chứns cứ được thực hiện thông qua cách thức uỷ thác tư pháp Nội dung cùa ủy thác tư pháp quốc tế được quy định tronơ
Bộ luật tố tụng dân sự từ Điều 733 đến Điều 748 Các nsuyên tắc ghi nhận tro n s các điều này đều nhằm củng cố vai trò giám sát của Viện công tố trong việc thực hiện ủy thác tư pháp và phần nào hài hòa hóa các quy định của pháp luật Pháp và quy định trong các điều ước quốc tế cơ bản như Cônơ ước La hay n sà y 18.3.1970
Ở Pháp, uỷ thác tư pháp được thực hiện thôns qua 3 con đường:
- T h ứ h a i, thực hiện ủy thác tư pháp thông qua cơ quan đại diện ngoại siao hoặc
lãnh sự của nước ủy thác
- T h ứ ba, thực hiện ủy thác tư pháp quốc tế thôns qua cá nhân được ủy thác.
c C ônạ nhận và thi hành quyết định nước ngoài trong lĩnh vực tư pháp
Pháp luật chung của Pháp về hiệu lực quốc tế các quyết định nước ngoài là một hệ thốns nsuvên tắc không được shi nhận trons văn bán luật mà chủ yếu được hình thành từ án lệ (duy nhất chỉ có Điều 509 Bộ luật tố tụng dân sự mới quy định hết sức ngắn oọn về vấn đề này)
Theo án lệ Pháp, cơ chế công nhận hiệu lực quốc tế của quyết định nước ngoài áp dụng đối với mọi quyết định của cơ quan có thẩm quyền xét xử nước nsoài (tòa án, cơ quan hành chính ) trons lĩnh vực tư pháp, khồns phân biệt bản chất cùa các cơ quan ra quyết định Theo quy định tại Điều 509 Bộ luật tố tụ n s
27
Trang 34dán sự mới, cơ chế này cũ n s được áp dụns đối với các văn bản của cơ quan Nhà nước nước ngoài, kể cả các văn bản pháp lí thuộc lĩnh vực tư pháp (như văn bản
c ồ n s chứng) Việc C Ô I12 nhận các quyết định trọng tài được tiến hành theo một cơ chế độc lập (Điều 1498 và 1507 Bộ luật tố tụns dân sự)
Theo pháp luật chuns của Pháp, việc công nhận hiệu lực quốc tế của quyết định nước ngoài còn phải bảo đảm các điều kiện về tính hợp pháp của quyết định Nhìn chuns, việc kiểm tra tính hợp pháp của của một quyết định được tiến hành trong thủ tục công nhận bản án nước ngoài hoặc trong thủ tục khởi kiện yêu cầu tuyên bố quyết định vô hiệu Tuy nhiên, tr o n g một số trường hợp đặc biệt, có thể kiểm tra hợp pháp của một quyết định nước ngoài trong suốt quá trình tố tụns Kể
từ ngày 7.1.1964 pháp luật của Pháp nghiêm cấm việc xem xét lại nội dung của một quyết định nước ngoài Các điều kiện về tính hợp pháp quốc tế bao gồm:
1 Thẩm quyền của cơ quan nước ngoài ban hành quyết định
2 Tính phù hợp quyết định nước ngoài với các quy phạm xuns đột của Pháp
3 Tính phù hợp của quyết định nước ngoài với các qưy định về trật tự công cộng quốc tế của Pháp (trật tự công về mặt nội duns và trật tự công về mặt thủ tục)
4 Khống có dấu hiệu gian lận
5 Không xuns đột hoặc không có nguy cơ xung đột với một quyết định đã có hiệu lực tại Pháp hoặc với một vụ việc tạm thời chưa được giải quyết tại Pháp
Ngoài pháp luật trona nước quy định về công nhận quyết định nước ngoài, Pháp còn kí kết các điều ước quốc tế về vấn đề này Nhìn chung, các điều ước quốc tế s o n ơ phươns và đa phươns đều hướng tới việc xây dựns một cơ chế côns nhận và cho thi hành quyết định nước ngoài thuận lợi hơn cơ chế quy định trong pháp luật chung của mỗi nước kí kết Tuy nhiên, trong một số trườns hợp, các điều ước quốc tế lại có phần chặt chẽ hơn pháp luật trong nước, đặc biệt là khi pháp luật chung được xây dựnơ theo hướns tự do hơn các điều ước quốc tế
2.2.1.2 Điền ước quốc t ế
Cộns hòa Pháp là nước có quan hệ hợp tác quốc tế rất phons phú, thê hiện qua việc kí kết điều ước quốc tế đa phương c ũ n s như song phương Theo phán II báo cáo năm 2006 của tham chính viện Pháp, tính đến năm 2005 Pháp tham gia khoáng 7400 điều ước quốc tế hiện đang có hiệu lực, trons đó 1700 diều ước
28
Trang 35quốc tế đa phưong và 5700 điều ước song phươns ỏ Pháp hiện nay số lượng các cuộc đàm phán ký kết điều ước quốc tế nsàv càng gia tăns Thực tế ở Pháp cho thấy, trons giai đoạn từ 1881 đến 1949 mỗi năm chỉ có dưới 15 cuộc đàm phán quốc tế liên quan đến nước Pháp, con số này tăng lên 80 cuộc đàm phán mỗi năm tron" giai đoạn 1949- 1959 Còn hiện nay, mỗi năm Pháp có thêm gần 200 vãn bản pháp luật quốc tế mới Riêns trong lĩnh vực tương trợ tư pháp về dân sự và thương mại, hiện đano có gần 50 văn kiện pháp lí quốc tế ràng buộc Pháp với các nước2.
Về tốns đạt giấy tờ trong tương trợ tư pháp, trong khuôn khổ đa phương, Pháp cũng tham aia 3 Côns ước La hay: Côns ước nsày 15.11.1965 về tống đạt ra nước nsoài giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự và thương mại, Công ước La hay ngày 18.3.1970 về thu thập và đánh RĨá chứng cứ, Công ước La Hay năm 1961 về miễn hợp pháp hóa giấy tờ Pháp hiện đang tham gia Quy c h ế của Liên m inh Châu Âu về tống đạt giấy tờ giữa 24 nước thành viên (trừ Đ an Mạch) Trong khuôn khổ song phương, Pháp cũng đã kí kết 27 Hiệp định so n s phương, trong số đó một vài điều ước trên thực tế liên quan nhiều nước chứ k h ô n s chỉ 2 nước Ví dụ, các điều ước quốc tế Pháp đã kí trons thời s ia n trước đây với khối Liên Hiệp Anh hoặc Liên bang Nam Tư và sau này các quốc gia độc lập tách
ra từ liên bang đã kế thừa các diều ước quốc tế đó
2.2.2 Tương trợ tư ph áp về dân sự theo ph áp luật của các nước Com m on Law
Tươns trợ tư pháp về dân sự theo pháp luật của các nước Common Law, điển hình là Anh - Mĩ, có nhiều điểm đặc trưns cho hệ thống luật án lệ ở các nước này, thuật ngữ “tương trợ pháp lí” (legal assistance) hoặc “hợp tác tư pháp” (judicial cooperation) chỉ bao gồm các hoạt động qua lại, hỗ trợ lẫn nhau tro n s lĩnh vực điều tra, tố tụns và thi hành bản án về dân sự theo n shĩa rộnơ có yếu tố nước ngoài Mục tiêu chính của sự hợp tác về tư pháp quốc tế chỉ là nhằm thực thi tốt pháp luật hoặc hỗ trợ thi hành pháp luật
ở Anh tươna trợ tư pháp được quy định trong các văn bàn pháp luật như: Luật về trọng tài năm 1975 Luật về di chúc năm 1963, Luật về nuôi con nuôi «- 7 năm 1968 Luật về côns nhận quyết định về li hôn và li thân năm 1971, Luật về
: Ki yếu hội th á o vé tư ơ n 2 trợ tư pháp H à Nội n ° à y 4- 5 12.20 0 6 tr ana 4.
29
Trang 36chứng cứ trons tô' tụna năm 1975 Luật về miễn trừ quốc gia năm 1978 Ngoài ra các tập án lệ (như tập án lệ Daixi) cũng là nguồn rất quan trọng về tươns trợ tư pháp quốc tế ở Vương quốc Anh.
ơ Mĩ, trong các đạo luật về tư pháp quốc tế của các bang đều có các quy định về tươns trợ tư pháp Một trong các luật mới nhất là Luật tư pháp quốc tế đước ban hành tại bang Luidiana năm 1991 (có hiệu lực ngày 2.1.1992) cũng dành một phần quy định về tươns trợ tư pháp Nsoài ra, cũng giống như ở Anh, các tập án lệ được biên soạn tại Mĩ cũns là nguồn quan trọng về tươnơ trợ tư pháp, trong đó phải kể tới tập tổng luật về xung đột pháp luật (sồm 3 tập) được xuất bản năm 1971
ở các nước trong hệ thống pháp luật Common Law, phạm vi tương trợ tư pháp về dân sự chủ yếu bao gồm việc thực hiện ủy thác tư pháp về chuyển siao giấy tờ, tài liệu; côns nhận và thi hành bản án, quvết định dân sự và thương mại của tòa án nước ngoài hoặc trọng tài nước ngoài (trên cơ sở điều ước quốc tế hoặc nguyên tắc có đi có lại) Hệ thống pháp luật Anh - Mĩ, việc tốne đạt giấy tờ, tài liệu và ủy thác tư pháp về thu thập chứng cứ thôns thường chỉ được coi là ‘địch vụ” và “ thu thập chứns cứ” Tòa án Anh và tòa án Mĩ thực hiện việc lấy lời khai của những người làm chứng hiện đang cư trú ở nước ngoài thông qua các viên chức cao cấp của tòa án có thẩm quyền bằng hình thức thẩm vấn thẳng và thẩm vấn chéo đại diện của các bên Kết quả thẩm vấn (thường là thỏa thuận của đại diện các bên) được siử cho tòa án có thẩm quyền
Như vậy, tươns trợ tư pháp theo pháp luật của Anh - Mì chỉ được hiểu là việc
hỗ trợ lẫn nhau giữa tòa án các nước trons hoạt độns tố tụng (điều tra, truy tố, xét xử) và thi hành án về dân sự và hình sự
Tươns trợ tư pháp về dân sự nsoài việc được quy định trons các văn bản pháp luật tr o n g nước và tập án lệ còn được điều chỉnh theo các điều ước quốc tế Một điểm đáng chú ý là ở các nước trong hệ thốns pháp luật Common Law ít kí kết các điều ước quốc tế sons phương về tươns trợ tư pháp mà vấn đề này thường được quy định trong các điều ước quốc tế đa phương Đây chính là cơ hội tiến tới nhất thể hóa các hoạt động tương trợ tư pháp của các quốc gia thành viên và tạo
cơ sở để cho hoạt độns này của các nước xích lại sẩn nhau, sóp phần vào việc siải quyết xuns đột pháp luật 2Íữa các nước trona lĩnh vực này Có thể kể một số
Trang 37điểu ước đa phương mà Anh MT là thành viên: Côns ước La hav ngày 15.11.1965
về tống đạt các giấv tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dàn sự và thương mại, Công ước La hay nsàv 18.3.1970 về thi' thập chứna cứ ờ nước ngoài
2.2.3 Tương trợ tư p h á p về dàn sự ở N hật bản
ở Nhật bản tưcms trợ tư pháp về dàn sự được quy định trong một số văn bản pháp luật trong nước và được quy định tr o n s các điều ước quốc tế sons phươns và
đa phươns mà Nhật Bản là thành viên
2.2.3.] Tương trợ tư p háp về dán sự theo quy định pháp luật trong nước.
Để điều chỉnh hoạt đ ộ n s tương trợ tư pháp, Nhật Bản đã ban hành một số văn bản pháp luật quan trọng sau: Bộ luật tố tụng dân sự (Luật số 109, 1996), Luật thi hành án dân sự (Luật số 4, 1979), Luật về tương trợ tư pháp theo yêu cầu cùa tòa
án nước ngoài (Luật số 63, 1905)
Theo các văn bản pháp luật trên, để yêu cầu tương trợ tư pháp về dàn sự, Nhật Bản cũns như hầu hết các nước trên thế giới đều thực hiện thông qua kênh ngoại giao hoặc th ô n ơ qua cơ quan có thẩm quyền theo quv định của hiệp định song phương hoặc đa phươns để đề nghị các cơ quan có thẩm quyền của nước đó
hỗ trợ thực hiện Việc thực hiện tươns trợ tư pháp quốc tế đối với các nước không
có điều ước quốc tế được thực hiện theo nguyên tắc có đi có lại Các cơ quan lãnh
sự của Nhật ở nước ngoài cũng thực hiện hoạt độnơ tốns đat tài liêu và lấv lời khai của đối với c ô n s dân Nhật Bản ở nước ngoài trong trường hợp nước có lãnh
sự quán Nhật Bản đó k h ô n s phản đối Theo Luật tố tụng dàn sự của Nhật Bán, Toà án Nhật Bản nơi tiến hành giải quyết vụ việc có thẩm quyền quyết định áp dụng nguyên tắc có đi có lại đối với từng trường hợp cụ thể Việc áp dụnơ nsuvên tắc này cũng được vận dụng một cách linh hoạt nhằm tránh tình trạng các bàn án, quyết định của toà án Nhật Bản đưa ra khôns được thực hiện ở nước nsoài và ngược lại
Pháp luật vể tương trợ tư pháp về dân sự của Nhật Bán bao aồm các vấn để
cơ bán sau đây:
T h ứ n hất, điều kiện để tòa án của Nhật thực hiện tương trợ tư pháp của tòa án
nước ngoài Theo quv định của pháp luật Nhật Bản (Điểu 1.2 Luật số 63, 1905) tòa án có thẩm quyển của Nhật Bán thực hiện tươns trợ tư pháp của tòa án nước ngoài với các điều kiện sau:
- Các yêu cầu về tươns trợ tư pháp phái được lập qua kênh naoại siao
51
Trang 38- Yêu cầu tốn2 đạt siấy tờ được lập thành văn bản nêu tên quốc tịch và quê quán hoặc nơi cư trú của người sẽ nhận tống đạt.
- Yêu cầu thu thập chứng cứ được lập thành văn bủn nêu tên của các bèn tham gia tranh tụng, biện pháp thu thập chúms cứ, tên, quốc tịch, quê quán hoặc nơi cư trú của rmười sẽ bị kiểm tra và các vấn đề cần được điều tra
- Trong trườns hợp văn bản yêu cầu và các tài liệu kèm theo không được lập bàns tiếng Nhật Bản thì bản dịch ra tiếns Nhật của các giấy tờ này sẽ được gửi kèm theo bản eốc
- Cơ quan có thẩm quyền của nước có tòa án đưa ra yêu cầu cam kết thanh toán các chi phí phát sinh trons quá trình thực hiện yêu cầu
- Cơ quan có thẩm quyền của nước có tòa án đưa ra yêu cầu bảo đảm thực hiện việc tương trợ tư pháp trong những vấn đề tươnơ tự khi tòa án Nhật bản yêu cầu
Nơoài ra, Điều 2 Luật này còn quy định: trong trường hợp việc thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp không thuộc thẩm quyền của tòa án mà yêu cầu được chuyển đến thì tòa án này sẽ chuyển văn bản yêu cầu đến tòa án có thẩm quyền Văn bản yêu cầu sẽ được thực hiện phù hợp với pháp luật của Nhật bản (Điều 3 Luật về tươns trợ tư pháp theo yêu cầu của tòa án nước ngoài)
T h ứ hai, phạm vi tương trợ tư pháp, theo pháp luật Nhật Bản tươns trợ tư
pháp về dân sự bao gồm hai nội dung: Tốns đạt giấy tờ, tài liệu và thu thập chứng
cứ ở nước ngoài Cụ thể như sau:
Vấn đ ề thứ nhất: Tống đạt các siấy tờ, tài liệu cho đươns sự ở nước nsoài
Theo Điều 108 Bộ luật tố tụns dân sự Nhật Bản: Việc tống đạt các giấy tờ, tài liệu cho đươns sự được thực hiện ở nước nsoài sẽ được thực hiện theo cách thức thẩm phán chủ tọa phiên tòa ủy thác cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài này hoặc ủy quyền cho đại sứ, côns sứ hoặc tham tán Nhật bản ở nước ngoài nàv thực hiện
Vấn đ ề thứ hai: Thu thập chứns cứ và kiểm tra chứns cứ ờ nước ngoài Theo
Điều 184 Bộ luật tố tụns dân sự thì việc kiểm tra chứng cứ ở nước nsoài sẽ đượcl _ • • c - k—
ủy thác cho cơ quan chính phủ có thẩm quyền của nước ngoài đó hoặc sẽ được ủy quyền cho đại sứ công sứ hoặc tham tán Nhật Bản tại nước đó thực hiện (khoản 1) Việc kiểm tra chứns cứ ở nước ngoài sẽ dược côns nhận có giá tri nếu như' cr •— c o .
Trang 39việc kiểm tra đó phù hợp với pháp luật Nhật, ngay cả khi nó trái với pháp luật của nước ngoài đó (khoán 2 Điều 184).
Về vấn đề còng nhận và thi hành bản án, quyết định của tòa án nước ngoài Tại Nhật Bản, vấn đề công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của toà
án nước ngoài được coi là một quy trình riêng, khỏns nằm trong hoạt độns tương trợ tư pháp mặc dù nó cũng liên quan mật thiết đến hoạt đ ộ n ơ này C ũ n ơ như pháp luật các nước khác, pháp luật Nhật Bản quy định các điều kiện để bản án của tòa án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài được công nhận và thi hành tại Nhật Bản Theo Điều 118 Bộ luật tố tụne dân sự, bản án của tòa án nước ngoài sẽ có hiệu lực chỉ khi đáp ứng toàn bộ các điều kiện sau:
+ Thẩm quyền của tòa án nước nsoài được công nhận theo pháp luật hoặc theo hiệp định;
+ Bên bị đơn thua kiện đã nhận tố n s đạt eiấy triệu tập;
+ Nội dunơ của bản án và thủ tục tranh tụng khôns trái với trật tự cô n s cộnơ
và đạo đước xã hội của Nhật Bản
+ Tuân thủ sự có đi có lại
Theo Luật thi hành án dân sự Nhật Bản (Luật số 4, 1979) thẩm quyển xét đơn yêu cầu thi hành bản án của tòa án nước ngoài sẽ thuộc thẩm quyền của tòa
án nơi người phải thi hành có nơi cư trú, trong trường hợp không có nơi cư trú thì thẩm quyền giải quvết thuộc tòa án nơi diễn ra việc thi hành án hoặc nơi có tài sản của người phai thi hành có thể bị kê biên (Điểu 24 khoản 1) Cũnơ theo Luật này thì tòa án có thẩm quyền có thể ra quyết định thi hành bản án mà không cần kiểm tra tính thích hợp của bản án được thi hành (khoản 2 Điều 24) Theo pháp luật Nhật Bản, đơn yêu cầu thi hành bản án của tòa án nước ngoài sẽ bị bác bỏ nếu như khôns đáp ứns được các điều kiện được quy định tại Điều 118 Bộ luật tố tụns dân sự (khoản 3 Điều 24)
Khi tiến hành xem xét công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của toà
án nước ngoài, Toà án Nhàt Bản sẽ k h ô n s xem xét lại nội dung vụ việc.7 c .
2 2.3 2 Tươno trợ rư pháp về dân sự trong diều ước quốc t ế giữa N hật Bân
Trang 40- Tốna dạt các tài liệu tư pháp, thay mật tòa án cùa nhà nước sửi vêu cầu,hoặc
- Thu thập chứng cứ/lời khai, thay mặt tòa án hoặc hội đổng xét xử khác hoặc
c ơ quan có thẩm quyền của nước gửi vêu cầu hoặc
- Làm lễ tuyên thệ đối với một nsười bất kì tại nước nhận yêu cầu phù hợp với pháp luật của nước nhận yêu cầu và theo cách thức không trái với pháp luật của nước nhận yêu cầu
Ngoài ra, Nhật bản cũng đã tham ơia hai công ước La hay về tốns đạt giấy tờ
và thu thập chứnơ cứ (Công ước La Hay năm 1965 và Công ước La Hay năm 1970)
Tóm lại: Qua nghiên cứu pháp luật của một số nước trên thế siới về tươns
trợ tư pháp có thể rút ra một số điểm nhận xét sau:
T h ứ nhất, đối với nhiều nước, việc thực hiện tươns trợ tư pháp được thực hiện
trên cơ sở các điều ước quốc tế và pháp luật tronơ nước Các điều ước quốc tế luôn giữ vai trò quan trọns trong hoạt đ ộ n s tươns trợ tư pháp ngày nay Pháp luật trong nước có nhiệm vụ cụ thể hoá các quy định của điều ước quốc tế và bổ sung những vấn đề mà các bên không thể đạt được thoả thuận đê đưa vào điều ước quốc tế hoặc chưa có điều kiện để kí kết các điều ước quốc tế loại đó
T h ứ hai, Trong hệ thốns pháp luật của các nước phát triển, kể cả các nước
theo truyền thống pháp luật lục địa (Civil Law) và những nước theo truyền thống luật án lệ (Common Law), các quy định về tươns trợ tư pháp có một vị trí quan trọna Tương trợ tư pháp trons khuôn khổ các nước trons hệ thốns pháp luật án lệ không có nữns điểm khác nhau căn bản so với tươns trợ tư pháp trong khuôn khổ các nước theo hệ thống pháp luật Châu âu lục địa Điểm “xích lại sẩn nhau” của hai hệ thống luật này về tương trợ tư pháp là phạm vi các vấn đề thuộc hoạt độns tương trợ tư pháp cũng như cơ sở pháp lí của hoạt đ ộ n s này về cơ bản là siố n s nhau
T h ứ ba, phạm vi tương trợ tư pháp và thực tiễn tư pháp của các nước về cơ
bản là giống nhau Sự khác nhau về phạm vi các vấn đề thuộc hoạt độna tươns trợ
tư pháp chỉ xuất phát từ các đặc điểm hệ thốns pháp luật và truyền thốns tư pháp của các nước cụ thể Điều đó phan ánh một thực tế là trona điều kiện mở rộns quan hệ hợp tác quốc tế về nhiều mặt giữa các quốc gia thì xu hướng nhất thể hoá các vấn đề thuộc phạm vi tươns trợ tư pháp đan2 trở thành hiện thực
3 4