1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chế độ, quyền lợi người lao động khi cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước

251 73 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 251
Dung lượng 26,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiến hành CPH trong giai đoạn hiện nay không phải là tìm kiếm các hình thức sở hữu khác, làm giảm bớt vai trò của kinh tế Nhà nước mà là quá trình đổi mới thực sự để DNNN phát huy được s

Trang 2

T r ư ờ n g đ ạ i h ọ c l u ậ t h à n ộ i

K H O A P H Á P LU Ậ T K IN H T Ê

ĐỂ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CÂP TRƯỜNG

CHẾ ĐỘ, QUYẾN LỢI NGUdl LAO Đ$NG

KHI CỔ PHAN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NUỖC

I T H Ư V Ị Ê N 71TRƯỜNG ĐA! HỌC LUẬÍ HÀ NỘỈ PHÒ NG ĐỌC _ M í

MÃ SỐ: LH 07 - 02/ĐHL

Trang 3

NHỮNG NGƯỜI THAM GIA THỰC HIỆN ĐỂ TÀI

1

TS Nguyễn Hữu Chí Giám đốc TTNC Luật LĐ,

TM & ĐT - Khoa PLKT, Đại học Luật Hà Nội

Chủ nhiệm đề tài; tác giả Chuyên đề 1

2

TS Đồng Ngọc Ba Phó giám đốc TTNC Luật

LĐ, TM & ĐT - Khoa PLKT Đại học Luật Hà Nội

Thư ký đề tài; tác giả Chuyên đề 6

3 TS Lun Bình Nhưỡng Phó CN Khoa Pháp luật Kinh

tế - Đại học Luật Hà Nội

5 TS Trần Thuý Lâm Đại học Luật Hà Nội Tác giả Chuyên đề 11

6 ThS Nguyễn Hiền Phương Đại học Luật Hà Nội Tác giả Chuyên đề 3

7 ThS Nguyễn Xuân Thu Đại học Luật Hà Nội Tác giả Chuyên đề 4

8 T hS HÈ>Ô Thị Dung Đại học Luật Hà Nội Tác giả Chuyên đề 5

9 Nguyễn Đức Sơn UNND Thành phố Hà Nội Tác giả Chuyên đề 7

10 c v c Cao Thế Việt Bộ Xây Dựng Tác giả Chuyên đề 8

11

Nguyễn Văn Nam Phó vụ trưởng Vụ TCCB - Bộ

Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Trang 5

Khái quát sự phát triển pháp luật về chế độ, quyền

Chuyên đề 4

Chính sách, pháp luật hiện hành về quyền lợi của

Chuyên đề 5

Vai trò của tổ chức công đoàn trong việc bảo vệ

Trang 6

Chuyên đề 12

Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách, pháp luật bảo vệ quyền lợi NLĐ trong quá trình CPH DNNN

210

Chuyên đề 13

Điều tra xã hội học về tác động của CPH DNNN với

Trang 7

PHẨN THỨ NHẤT

MỞ ĐẨU.

1 Tính cấp thiết của đề tài.

Sự triển khai có tính chất toàn cầu quá trình CPH, được bắt đầu mạnh

mẽ từ những năm 80 đến nay đã chứng tỏ rằng hầu hết Chính phủ các nước đều thấy sự cần thiết phải xem xét và xác lập lại mối quan hệ giữa khu vực kinh tế nhà nước và khu vực kinh tế tư nhân theo hướng giảm bớt mức độ sở hữu và kiểm soát trực tiếp của Nhà nước, giành được sự điều tiết mạnh mẽ hơn cho cơ chế thị trường Sự khắc phục những hiện tượng trì trệ trong nền kinh tế do hoạt động kém hiệu quả của khu vực kinh tế Nhà nước, thâm hụt ngân sách kéo dài và gánh nặng nợ của Nhà nước ngày càng tăng đã buộc hầu hết các chính phủ có khu vực kinh tế nhà nước chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tư bản xã hội đều phải tìm cách giảm bớt một tỷ trọng nhất định trong nền kinh tế bằng các phương pháp tư nhân hoá và CPH

Tiến irình đổi mới kinh tế của Việt Nam không thể không có nội dung cơ cấu lại nền kinh tế, trong đó có vấn đề thu hẹp sở hữu nhà nước và hạn chế sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần với sở hữu tư nhân và sở hữu hỗn hợp, coi trọng hơn vai trò điều tiết của cơ chế thị trường Vì vậy, tiến hành CPH các DNNN ở Việt Nam là một nội dung quan trọng của công cuộc đổi mới và cũng là một đòi hỏi khách quan để chuyển sang nền kinh tế thị truờng dựa trên động lực của thị trường và vai trò định hướng của Nhà nước.Trên thực tế, Nhà nước Việt nam cũng đã có một chương trình tổng thể đổi mới khu vực kinh tế nhà nước, trong đó CPH là một biện pháp quan trọng Theo đó, mỗi năm chỉ tiêu phải tiến hành CPH khoảng 150 doanh nghiệp và Chính phủ cũng đã chỉ đạo mỗi bộ, ngành phải xây dựng chỉ tiêu

cụ thể hàng năm về số lượng các doanh nghiệp CPH Do đó, việc tiến hành

Trang 8

CPH bây giờ không sẽ chỉ là sự tự nguyện đăng ký như trước đây nữa Điều này chứng tỏ Việt Nam, ngoài kinh nghiệm bản thân cũng đã có nhiều học hỏi để hoà nhập theo xu thế chung, phổ biến của thế giới và của thời đại Hơn nữa, xu thế đổi mới các DNNN trong khu vực đang diễn ra mạnh mẽ Một số nước trong khu vực và nhiều nước láng giềng của ta đã thực hiện CPH DNNN thành công và hiệu quả là Trung Quốc, Indonesia Điều này đã tác động đến việc tiến hành CPH DNNN của chúng ta Những nhân tố này đã tập trung đầy đủ ở Việt Nam từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20, tạo cơ sở cho việc

ra đời và phát triển loại hình doanh nghiệp cổ phần Hơn nữa, do hậu quả của chính sách tập trung, bao cấp nên khu vực DNNN nắm giữ toàn bộ các ngành, lĩnh vực then chốt trong nền kinh tế của Việt Nam Tuy nhiên, vai trò

và hiệu quả của DNNN chưa tương xứng với nguồn lực của mình và đã bộc

lộ nhiều yếu kém như: DNNN làm ăn chổng chéo, manh mún dẫn đến thua lỗ

và nợ đọng nhiều Trong khi đó thì DNNN không linh hoạt được trong khả năng thu hút vốn, không được đầu tư đổi mới kỹ thuật, công nghệ và khả năng quản lý còn hạn chế Những yếu tố này hạn chế khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập và mở cửa kinh tế và nhiều khi trở thành gánh nặng cho ngân sách Nhà nước Chính vì vậy, thực hiện CPH DNNN đã được Đảng và Chính phủ xác định rõ từ Đại hội VI của Đảng

CPH còn tạo điều kiện để những người góp vốn, NLĐ trong doanh nghiệp có cổ phần, thông qua đó tăng cường vai trò làm chủ thực sự của NLĐ

và hiện thực hoá quyền tự do kinh doanh của NLĐ Đây thực sự là những định hướng đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình mở cửa kinh

tế để dần dần từng bước giải phóng các doanh nghiệp do Nhà nước quản lý, tránh tình trạng Nhà nước phải gánh chịu những thiệt hại lớn do các DNNN quản lý kinh doanh thua lỗ, làm cho người sản xuất và nhà quản lý phải có trách nhiệm cao hơn trong công việc, đồng thời tăng cường được sức sáng tạo

Trang 9

của mỗi cá nhân trong doanh nghiệp Nhu' vậy, CPH không chỉ là bắt kịp với

xu thế chung của thế giới mà còn kịp thời đáp ứng đòi hỏi đổi mới của nước

ta hiện nay Tiến hành CPH trong giai đoạn hiện nay không phải là tìm kiếm các hình thức sở hữu khác, làm giảm bớt vai trò của kinh tế Nhà nước mà là quá trình đổi mới thực sự để DNNN phát huy được sức mạnh của mình, làm tốt vai trò chủ đạo của nền kinh tế nhiều thành phần trong một xu thế đa phương hoá, đa dạng hoá và mở rộng môi trường cạnh tranh.Tuy nhiên, CPH cũng dẫn đến một số lượng lao động nhất định không thể tiếp tục thực hiện quan hệ lao động, theo báo cáo của Bộ Tài chính, đến nay, cả nước có hơn 3.550 doanh nghiệp nhà nước CPH và theo Bộ Lao động - Thương binh và

Xã hội, quá trình sắp xếp lại doanh nghiệp đã có 180.000 lao động dôi dư1, vì vậy phải có chính sách, chế độ thoả đáng đối với họ Song, mặc dù trong nhiều năm qua chúng ta liên tục có sự điều chỉnh, bổ sung chính sách, quy định về chế độ, quyền lợi NLĐ nhưng đến nay vẫn còn nhiều bất cập cả về quy định của pháp luật và tổ chức thực hiện nên hiệu quả về mọi phương diện kinh tế - xã hội, pháp lý, chính sách với NLĐ đều chưa đạt hiệu quả như mong muốn Đây cũng là môt trong những nguyên nhân làm cho tốc độ CPH DNNN ở nước ta trong thời gian qua chưa đạt được theo như lộ trình và kế hoạch đặt ra Sự bất cập này thể hiện trong việc giải quyết chế độ với NLĐ không chỉ đã chấm dứt quan hệ lao động mà cả với những người tiếp tục làm việc, không chỉ trong quá trình CPH mà cả sau khi doanh nghiệp đã CPH Mặt khác, việc giải quyết chế độ, quyền lợi với NLĐ khi CPH DNNN không chỉ là những vấn đề về tài chính, việc làm, thất nghiệp mà còn là những vấn đề tư tưởng, tâm tư hay nói cách khác không chỉ là nội dung kinh tế mà còn là vấn đề xã hội, là sự kết nối và kế thừa giữa quá khứ và hiện tại, là sự thực hiện những “tuyên ngôn” về nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa Thêm nữa, trong nội dung giảng dạy của bộ môn Luật lao động,

1 Báo Lao động ngày 03/01/2008

Trang 10

mặc dù đây là một vấn đề đang được xã hội quan tâm, xong do cơ cấu của chương trình giảng dạy nên không có điều kiện thực hiện, hiện nay chỉ trong chương trình đào tạo Sau đại học có giảng về chuyên đề này cho học viên cao học Do đó, việc nghiên cứu đề tài này không chỉ có ý nghĩa nhằm hoàn thiện pháp luật về giải quyết chế độ, quyền lợi cho NLĐ khi CPH DNNN mà còn cung cấp tài liệu tham khảo trong quá trình đào tạo, nghiên cứu của chuyên ngành pháp luật lao động.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài.

Như đã trình bày, CPH DNNN là một vấn đề được xã hội rất quan tâm,

do đó đã có nhiều công trình nghiên cứu và bài viết về vấn đề này nhưng chủ yếu tiếp cận dưới góc độ kinh tế Dưới góc độ pháp luật lao động, trong phạm

vi nghiên cứu khoa học của Trường Đại học Luật Hà Nội mới chỉ có một khoá luận tốt nghiệp của sinh viên KT26 viết về đề tài này Ngoài ra, có m ột

số bài v iế t trê n các tạ p c h í n g h iê n cứu liê n q u a n trự c tiế p đến vấn

đề này như:

- “Bảo vệ lợi ích chính đáng của NLĐ trong các doanh nghiệp nhà nước

Cổ phần hóa ” của tác giả Nguyễn Thị Hằng trên Tạp chí Lao dộng và xã hội

số tháng 5B - 2006;

- "Những tình tiết mới sau cổ phần h o á ” của tác giả Đặng Quang Điều

và Hải Lý trên Tạp chí Lao động và xã hội số tháng 7B - 2006;

- “ Đẩy nhanh và nâng cao chất lượng cổ phần hoá doanh nghiệp nhà

nưók” của tác giả PGS-TS Đặng Văn Thanh trên Tạp chí Nghiên cứu Lập

phátp số tháng 10 - 2007;

- “ Về c h ế độ, quyền lợi NLĐ khi c ổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước”

củai lác giả TS Nguyễn Hữu Chí trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số tháng

10 -2 0 0 7 ; vvv

Trang 11

Và một số các bài viết khác trên Tạp chí Cộng sản, Báo Lao động, Báo NLO trong năm 200 7 Đó là những tài liệu bổ ích giúp chúng tôi tham khảo khi^iết đề tài.

Nói chung, các công trình, bài viết nói trên chủ yếu tập trung vào những khí; cạnh, vấn đề cụ thể của việc cổ phần hoá và tại những thời điểm nhất địnl với chế độ, chính sách, quy định pháp luật cho giai đoạn đó mà chưa có

sự (ánh giá, tổng kết toàn diện và đặc biệt chưa đặt việc nghiên cứu trong mối liên hệ giữa việc hoàn thiện pháp luật với công tác nghiên cứu, giảng dạy phá) luật lao động

3 Phương pháp nghiên cứu.

Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống của khoa học

xã lội như: Phương pháp luận cơ bản của triết học Mác - Lê nin; đường lối, quai điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế thị trường nói chuig về CPH DNNN nói riêng

Các phương pháp cụ thể được sử dụng nghiên cứu gồm: Phân tích, tổng hợp so sánh, thống kế, dự báo, điều tra xã hội h ọ c

4 Mục đích và phạm vi nghiên cứu.

4.1 Mục đích nghiên cứu.

Mục đích chủ yếu của đề tài là nghiên cứu hệ thống quan điểm, chính sácl, quy định pháp luật về chế độ, quyền lợi NLĐ khi CPH DNNN và thực tiễn áp dụng trong thời gian qua trên cơ sở đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoài thiện pháp luật về chế độ, quyền lợi NLĐ khi CPH DNNN Dưới góc độ

so íánh, đề tài cũng đề cập đến quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện về vấn đề này ở một số nước điển hình để so sánh và rút ra những bài học cần thiê cho Việt Nam

Trang 12

4.2 Phạm vi nghiên cứu.

Để thực hiện mục đích nghiên cứu nói trên, đề tài xác định phạm vi nghiên cứu như sau:

- Sự cần thiết bảo vệ quyền lợi NLĐ khi CPH DNNN;

- Kinh nghiệm một số nước về giải quyết chế độ, quyền lợi NLĐ khi CPH DNNN và bài học với Việt Nam;

- Chính sách, pháp luật về giải quyết chế độ, quyền lợi NLĐ khi CPH DNNN và thực tế áp dụng;

- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật giải quyết chế độ, quyền lợi NLĐ khi CPH DNNN

5 Đóng góp của đề tài.

Việc nghiên cứu đề tài đã đạt những kết quả sau đây:

- Đánh giá một cách tổng quát và tương đối toàn diện quan điểm, chính sách, pháp luật giải quyết chế độ, quyền lợi NLĐ khi CPH DNNN ở nước ta trong khoảng 15 năm qua;

- Bảo đảm chế độ, quyền lợi NLĐ không chỉ trước, trong mà còn cả sau khi CPU DNNN; không chỉ là những vấn đề kinh tế mà còn phải lưu ý các thiết chế như tổ chức đại diện, quản trị doanh nghiệp

- Cơ sở lý luận và thực tiễn để hoàn thiện pháp luật về chế độ, quyền lợi NLĐ khi CPH DNNN và một số giải pháp cụ thể nhằm đảm bảo tính khả thi và nâng cao hiệu quả thực hiện của pháp luật lao động về vấn đề này

6 Tổ chức thực hiện.

Sau khi ký Hợp đồng Nghiên cứu khoa học với Hiệu trưởng Trường Đại học Luật Hà Nội, Chủ nhiệm đề tài đã triển khai các công việc cần thiết để thực hiện đề tài Cụ thể bao gồm:

- Chủ nhiệm đề tài đã chỉ định TS Đồng Ngọc Ba - giảng viên Bộ môn Luật Thương mại làm thư ký đề tài;

Trang 13

- Tổ chức các phiên họp triển khai, thực hiện đề tài và thống nhất về phương pháp nghiên cứu cũng như yêu cầu nội dung và thời hạn hoàn thành của các chuyên đề;

- Các tác giả thu thập tài liệu và triển khai viết các chuyên đề của đề tài;

- Tổ chức các buổi họp trao đổi chuyên môn liên quan đến đề tài;

- Thu thập bản thảo, đọc, biên tập chuyên môn và chế bản;

- Viết báo cáo phúc trình;

- Đóng quyển và nộp đề tài cho Phòng quản lý khoa học

Toàn bộ quá trình thực hiện từ khi ký Hợp đồng Nghiên cứu khoa học cho đến khi hoàn thành là 12 tháng

Trang 14

PHẨN THỨ HAI

BÁO CÁO PHÚC TRÌNH NỘI DUNG ĐỂ TÀI

Thực hiện Hợp đồng Nghiên cứu khoa học số 02/HĐ-QLKH-TCKT ký ngày 24/01/2007 với Hiệu trưởng Trường Đại học Luật Hà Nội về việc thực

hiện nghiên cứu đề tài: “C hếđộ, quyền lợi người lao động khi cổ phần hoá

doanh nghiệp nhà nước”, TS Nguyễn Hữu Chí với tư cách là chủ nhiệm đề tài

đã cùng các cộng tác viên hoàn thành việc thực hiện đề tài theo đúng thoả thuận trong hợp đồng

Nội dung chủ yếu của đề tài “C h ế độ, quyền lợi NLĐ khi cổ phần hoấ

doanh nghiệp nhà nước” được thể hiện thông qua 13 chuyên đề có thể chia

làm 4 nhóm vấn đề như sau:

Nhóm 1: Sự cần thiết bảo vệ quyền lợi NLĐ khi CPH DNNN, kinh nghiệm một sô nước và bài học với Việt Nam.

Nội dung này được triển khai với 2 chuyên đề: 1, 2

* Chuyên để 7: Sự cần thiết bảo vệ quyền lợi NLĐ khi CPH DNNN.

Trên cơ sở phân tích bản chất của CPH DNNN dưới một số góc độ khác nhau, trong đó nhấn mạnh cách tiếp cận của Kinh tế chính trị Mác - Lênin, xuất phát từ tính chất của các quan hệ kinh tế (quan hộ sở hữu về tài sản, vốn ) thì không thể đồng nhất CPH với tư nhân hoá và CPH DNNN tức là chuyển doanh nghiệp từ chỗ chỉ có một chủ sở hữu Nhà nước thành có nhiều

chủ sở hữu Nghĩa là CPH là quá trình thực hiện xã hội hoá sở hữu tại doanh

nghiệp Trên cơ sở điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể của Việt Nam và quy

định của pháp luật, chuyên đề rút ra một số đặc trưng cơ bản của CPH theo pháp luật của Việt Nam như: Hình thức pháp lý doanh nghiệp khi CPH; vấn

đề sở hữu và mối tương quan tỷ lộ sở hữu giữa nhà nước và các cổ đông khác nói chung, NLĐ nói riêng; thủ tục bán đấu giá cổ phần cạnh tranh trên thị trường và cổ phần ưu đ ã i Toàn bộ các nội dung nói trên có tính chất đề dẫn

Trang 15

cho rội dung chính của chuyên đề này là sự cần thiết bảo vệ quyền lợi NLĐ

khi CPH DNNN

rh ô n g qua việc đ ánh giá sự tác đ ộ n g của CPH tới NLĐ,

c h u )ên đề n hấn m ạnh sự cần th iế t bảo vệ q uyền lợi NLĐ trong

m ột số lĩnh vực chủ yếu sau đây:

- Đối với việc làm của NLĐ: Thực tế cho thấy CPH DNNN gắn liền với

việc sắp xếp, tổ chức lại doanh nghiệp làm cho NLĐ dễ mất việc làm Mặc

dù, trong hơn 15 năm qua đã có nhiều chế độ, chính sách, quy định của pháp

luật nhằm giúp đỡ, tạo điều kiện để giải quyết việc làm cho NLĐ nhưng vấn

đề việc làm vẫn là một thách thức rất lớn trước cũng như sau khi CPH doanh

nghiép Trong thực tế, lấy lý do CPH nhiều đơn vị đã cho NLĐ thôi việc với

những lý do không phải bao giờ cũng thuyết phục Ngoài ra, với nhóm đối

tượng lao động dôi dư đã có thời gian tham gia BHXH từ 15 đến dưới 20 năm

nhưng vì tuổi cao (nam trên 55; nữ trên 50) có thể nói không có cơ hội tìm

việc làm mới.Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng sau khi CPH với những đòi hỏi,

yêu cầu mới về quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh, NLĐ phải nỗ lực và có ý

thức rất nhiều về chuyên môn, ý thức tổ chức kỷ luật Trên cơ sở phân tích và

những ví dụ minh họa từ thực tiễn chuyên đề rút ra nhận xét là: i/ trong vấn đề

việc làm NLĐ không chỉ có nhu cầu được bảo vệ trước, trong khi CPH mà còn

sau khi CPH; ii/ Chế độ, chính sách, pháp luật cần hướng đến ở đây là tạo sự

ổn định về việc làm cho những NLĐ tiếp tục làm việc; định hướng nghề

nghiệp, đào tạo, hướng dãn sử dụng khoản trợ cấp vào việc tạo và giải quyết

việc làm cho đối tượng lao động dôi dư Song cũng cần chú ý đến nhu cầu về

chất lượng và số lượng sử dụng nhân lực của doanh nghiệp CPH

- Đối với thu nhập của NLĐ: Thu nhập (bao gồm tiền lương, phúc lợi,

tiền thưởng) là một trong những vấn đề NLĐ quan tâm khi CPH Theo các số

liệu điều tra, nói chung thu nhập của NLĐ sau khi CPH là cao hơn so với

9

Trang 16

trước khi CPH Tuy nhiên, vấn đề NLĐ quan tâm đó là việc phân phối lợi ích

từ quỹ lương, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi khi doanh nghiệp CPH đây là nguồn tài chính hỗ trợ cho NLĐ để mua cổ phần ưu đãi Mặc dù đã có những quy định của pháp luật để giải quyết vấn đề này, song thực tế thực hiện cho thấy còn nhiều bất cập, Trên cơ sở đánh giá thực tiễn, chuyên đề rút ra kết luân: khi CPH doanh nghiệp việc công khai hoá phương án CPH đến tập thể lao động và đặc biệt là sự minh bạch về tài chính, tài sản của doanh nghiệp là một trong những điều kiện tiên quyết để bảo vệ NLĐ về thu nhập

- Đối với vấn đề sở hữu cổ phần của NLĐ: Chuyên đề khẳng định đây là một trong những mối quan tâm chính của nhà nước và NLĐ khi CPH DNNN Bởi một trong những mục tiêu quan trọng của CPH là tạo điều kiện để đông đảo NLĐ trở thành chủ sở hữu của doanh nghiệp, trực tiếp tham gia vào việc quản lý doanh nghiệp, tổ chức sản xuất kinh doanh Tuy nhiên từ thực tế thực hiện, chuyên đề đưa ra nhận xét trong khoảng 15 năm qua mặc dù đã có rất nhiều sự thay đổi, điều chỉnh về mặt chế độ, chính sách và quy định pháp luật nhưng đến nay vẫn chưa đạt được hiệu quả như mong muốn xét ở mức

độ điều chỉnh hài hoà lợi ích, sự hài lòng của nhà nước, doanh nghiệp, các cổ đông và NLĐ - đặc biệt đối với chế độ, quyền lợi của NLĐ về mua cổ phần

ưu đãi thì cho thấy là hết sức phức tạp và chuyên đề khẳng định: phương hướng ở đây là việc CPH doanh nghiệp nhà nước phải đảm bảo lợi ích của nhà nước, xã hội, của nhà đầu tư, NLĐ Tuy nhiên, không chỉ dừng lại ở góc

độ kinh tế đơn thuần mà còn phải tập trung vào các vấn đề khác như công bằng xã hội, lợi ích NLĐ, việc làm, trợ cấp thất nghiệp

* Chuyên đ ề 2 : Pháp luật một sô nước về quyền lợi NLĐ khi CPH DNNN

Trên cơ sở trình bày kinh nghiệm CPH DNNN nói chung và việc giải quyết chế độ, quyền lợi cho NLĐ khi CPH ở một số quốc gia khác nhau có tính đến yếu tố đặc thù và điển hình như: Anh, Mỹ, Pháp (các nước phát

Trang 17

triển); Hunggari, Liên bang Nga (các nước có nền kinh tế chuyển đổi ở Đông Âu); Trung Quốc, Hàn Quốc (Châu Á) - Chuyên đề rút ra một số kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình CPH nói chung và bảo vệ quyền lợi NLĐ nói riêng khi CPH DNNN, cụ thể:

- Quá trình CPH phản ánh các sắc thái khác nhau về mục tiêu, cách tổ chức, bước đi và các biện pháp cụ thể do những đặc điểm về hoàn cảnh chính trị, kinh tế, xã hội của mỗi nước cũng như quan niệm xây dựng và phát triển nền kinh tế của mỗi chính phủ quy định Sự tương đổng về quá trình CPH ở mỗi nước chủ yếu là những vấn đề có tính kỹ thuật về tài chính, phương pháp

và các điều kiện thực hiện, còn những vấn đề về quan điểm tổ chức và vận dụng thì hết sức khác nhau và linh hoạt ở mỗi nước

- Quan niệm về vai trò và các lĩnh vực cần được khu vực kinh tế nhà nước nắm giữ cũng như hình thức tổ chức các DNNN đều có sự khác nhau,

do đó, dẫn đến vấn đề CPH các doanh nghiệp này cũng khác nhau, tuỳ theo đặc điểm của mỗi nước

- ở Việt Nam xét theo yêu cầu cấu trúc lại khu vực kinh tế Nhà nước để

duy irì vai trò chủ đạo và định hướng sự phát triển nền kinh tế thị trường ở

nước ta, Nhà nước phải tiến hành đồng thời các hệ thống giải pháp tương ứng với các nhóm DNNN khác nhau Việc sắp xếp lại các DNNN ở Việt nam gắn chặt với cơ chế quản lý và chính sách như cơ chế xuất nhập khẩu, vốn, thuế,

tỷ giá, tín dụng và đầu tư Việc triển khai hình thành thị trường chứng khoán sẽ tạo điều kiện thúc đẩy CPH và sự năng động cho thị trường vốn của V iệt Nam

- Xác định trước những khoản chi phí không thể cắt giảm được, nhất là đào tạo lại, bảo hiểm xã hội, trợ cấp cho NLĐ bị mất việc làm và tìm kiếm nghề mới, những chi phí do bán giá thấp nhằm ưu đãi những tầng lớp dân cư nhất định theo những mục tiêu chính trị, xã hội của Chính phủ, những chi phí

Trang 18

cho bộ máy thực hiện và các cơ quan môi giới, tư vấn, quảng cáo tóm lại, cần chấp nhận những khoản phí tổn cần thiết cho sự nghiệp CPH để mun cầu ích lợi cơ bản và lâu dài hơn là ích lợi trước m ắt của việc thu hồi vốn đối với nhà nước.

Nhóm 2: Pháp luật về chê độ, quyền lợi NLĐ khi CPH DNNN, thực trạng thực hiện và một sô đề xuất nhằm nâng cao tính khả thi và hiệu quả điều chỉnh của pháp luật.

Nhóm này bao gồm các chuyên đề 3, 4, 7, 8, 9, 10, 12, 13

Tiếp đó Hội đồng Bộ trưởng có Quyết định số 202/CT (08/6/1992) về

“Tiếp tục làm thí điểm chuyển một số DNNN thành CTCP”, ngày 07-5-1996, Chính phủ ban hành Nghị định số 28/CP về "Chuyển một số doanh nghiệp nhà nước thành CTCP" Chưa đầy một năm sau, Chính phủ lại ban hành tiếp Nghị định số 25/CP ngày 26-3-1997 sửa đổi một số điều của Nghị định số 28/CP, ngày 29-6-1998, Chính phủ ban hành Nghị định số 44/CP về chuyển DNNN thành CTCP nhằm đẩy mạnh tiến trình CPH DNNN

Tuy nhiên, về chế độ, quyền lợi của NLĐ khi CPH DNNN trong giai đoạn này nhìn chung không có gì đặc biệt NLĐ vẫn tiếp tục làm việc tại

Trang 19

doanh nghiệp trừ số lao động tự nguyện chấm dứt hợp đồng Quyền lợi của NLĐ (đặc biệt là vấn đề việc làm) về cơ bản vẫn được đảm bảo, riêng đối với lao động nghèo được hưởng ưu đãi trong việc mua cổ phần của doanh nghiệp

- Pháp luật về quyền lợi NLĐ khi cổ phần hoá DNNN giai đoạn 2002-2006

Nhằm tăng cường hơn nữa việc CPH DNNN Ban chấp hành TW Đảngkhoá IX đã ban hành Nghị quyết số 05/NQ-TW ngày 24/9/2001 về tiếp tục sắp xếp, đổi mới DNNN, tiếp đó ngày 19/6/2002 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 64/2002/NĐ-CP về chuyển DNNN thành CTCP thay thế cho Nghị định 44/1998/NĐ-CP Theo đó, doanh nghiệp cổ phần chỉ có trách nhiệm sắp xếp, sử dụng tối đa số lao động có tại thời điểm CPH, chứ không phải sắp xếp, sử dụng hết số lao động của doanh nghiệp, NLĐ mua cổ phần được giảm giá 30%; NLĐ nghèo được mua cổ phần giảm giá và trả dần trong

10 năm; Tổng giá trị cổ phần ưu đãi không quá 20 - 30% và có chính sách riêng đối với lao động dôi dư (những lao động phải nghỉ việc do CPH DNNN) Nghị định 41/2002/NĐ-CP ngày 11/4/2002 của Chính phủ đã quy định về vấn đề này Đây là văn bản pháp lý đầu tiên đề cập đến quyền lợi của đối tượng lao động dôi dư khi CPH DNNN Theo đó, NLĐ bị mất việc làm do CPH DNNN ngoài những quyền lợi chung mà NLĐ được hưởng như trong Bộ luật Lao động (tức là trợ cấp mất việc làm), NLĐ còn được hưởng một số các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, từ thực tế thực hiện chuyên đề rút ra nhận xét việc áp dụng chế độ trợ cấp đối với lao

_ _ _ , /động dôi dư trong các DNNN tại NĐ 41/2002/CP có the tạo ra sự không công bằng trong việc giải quyết chế độ giữa những NLĐ cùng bị mất việc /

làm vì lý do kinh tế ở các thành phần kinh tế khác nhau.

- Pháp luật về quyền lợi NLĐ khi cổ phần hoá DNNN giai đoạn 2007 đến nay.Trong giai đoạn này đã có điều chỉnh về chế độ, quyền lợi NLĐ khi CPHDNNN, cụ thể: Chính phủ đã ban hành Nghị đinh số 187/2004/NĐ-CP thay thế

Trang 20

cho Nghị định 64/2002/NĐ-CP Theo đó, NLĐ được mua cổ phần giảm giá 409Í so với giá đấu thầu; Tổng giá trị cổ phần ưu đãi không quá giá trị phần vốn nhà 1ƯỚC tại DN Chính sách, chế độ đối với lao động dôi dư cũng có nhiều thay đổi Vgày 26/6/2007, Chính phủ đã ban hành nghị định số 110/2007/NĐ-CP về chím sách đối với lao động dôi dư do sắp xếp lại công ty nhà nước thay thế Ngh định 41/2002/NĐ-CP Theo đó, chế độ, quyền lợi đối với lao động dôi dư được xác định phụ thuộc vào loại HĐLĐ mà họ giao kết Ngoài ra, NLĐ có ngu\ện vọng học nghề thì được đào tạo tối đa 6 tháng tại các cơ sở dạy nghề

Về gai đoạn này, chuyên đề đánh giá việc giải quyết chế độ, quyền lợi NLĐ khi CPH DNNN chỉ có tính chất thời điểm để thực hiện chính sách của nhà nước trong nhữrg giai đoạn lịch sử nhất đinh chứ không phải là áp dụng ổn định lâu dài

* Chuyên đề 4 : Chính sách, pháp luật hiện hành vê quyền lợi của NLĐ khiC P H D N N N

Dựa trên cơ sở các quy định hiện hành của Bộ luật Lao động, Nghị định của Chính phủ số 109/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành CTCP, Nghị định 110/2007/NĐ-CP ngày 26/ố'2007, Thông tư 18/2007/TT-BLĐTBXH ngày 10/9/2007 thì quyền lợi của NLĐ khi CPH DNNN bao gồm:

- Quyền mua cổ phần ưu đãi và trở thành cổ đông của CTCP

Khi doanh nghiệp CPH thì NLĐ nếu có tên trong danh sách thường xuyên của doanh nghiệp vào thời điểm công bố giá trị tài sản của doanh nghiìp CPH đều thuộc diện được hưởng chính sách ưu tiên trong việc mua cổ phần và trở thành cổ đông của CTCP'0

NLĐ được mua tối đa 100 cổ phần (mỗi cổ phần mệnh giá 10.000 đồng) cho mỗi năm thực tế làm việc tại khu vực nhà nước với giá ưu đãi, bằng 60% giá đấu thành công bình quân được xác định trên cơ sở giá bán cổ phần theo

(1) Xem Điều 10 Nghị định của Chính phủ số 109/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 về chuyển doanh nghiệp 100% /ốn nhà nước thành CTCP

Trang 21

phíơng thức đấu giá công khai do Nhà nước quy định NLĐ được chia số dư bằig tiền của Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi (bao gồm cả giá trị tài sản dùig trong sản xuất, kinh doanh đầu tư bằng nguồn Quỹ khen thưởng, Quỹ phic lợi) để mua cổ phần NLĐ tiếp tục làm việc tại CTCP còn được hưởng qu7ền lợi thông qua việc mua cổ phần của tổ chức Công đoàn cơ sở.

- Quyền lợi của NLĐ tiếp tục làm việc tại CTCP sau khi cổ phần hoá

Sau CPH, những NLĐ tiếp tục làm ở CTCP sẽ được hưởng các quyền lợi

củc NLĐ khi làm việc tại Công ty này Quyền lợi của những NLĐ sẽ được xác địrh theo các quy định của Nhà nước, theo HĐLĐ đã giao kết với Công ty nhà nươc trước đó, theo thoả ước lao động tập thể của CTCP (nếu có) và theo Nội qu7, Quy chế lao động của CTCP Đối với những NLĐ mua cổ phần tại Công ty

họ sẽ đóng tư cách kép trong quá trình làm việc sau này: vừa là NLĐ hưởng các qu/ển lợi của NLĐ khi làm việc tại CTCP, vừa là Gổ đông - chủ sở hữu của CTCP và hưởng những quyền lợi của một cổ đông theo quy định của pháp luật

và Điều lệ hợp pháp của Công ty

- Quyền lợi của của NLĐ đủ điều kiện nghỉ hưu

Vào thời điểm công bố giá trị của DNNN tiến hành CPH, những NLĐ sẽ đư;c hưởng lương hưu hàng tháng theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và các văn bản hướng dẫn thi hành

- Quyền lợi của NLĐ dôi dư ( bị mất việc làm)

Khi CPH DNNN, việc dôi dư lao động và phải giải quyết cho NLĐ thôi việc là điều khó tránh khỏi Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật hiện hành, chính sách đối với lao động dôi dư khi CPH DNNN chỉ áp dụng trong những trường hợp nhất định

Trên cơ sở nghiên cứu chính sách, pháp luật hiện hành về quyền lợi của NLĐ khi CPH DNNN, chuyên đề đã rút ra một số nhận xét:

Trang 22

- CPH DNNN là một chủ trương đúng song tác động không nhỏ tới đời sống của NLĐ và các thành phần khác trong xã hội Vì vậy việc thực hiện CPH DNNN cần tiến hành khẩn trương, dúi điểm theo đúng tiến độ đã đề ra để bảo đảm quyền lợi cho NLĐ, tránh tình trạng trong một thời gian không dài (từ năm 2002 đến nay) quyền lợi của NLĐ dôi dư khi CPH không được giải quyết một cách thống nhất do sự thay đổi quá nhanh của các văn bản pháp luật điều chỉnh vấn đề này.

- Việc bán cổ phần cho tổ chức Công đoàn và bán cổ phần ưu đãi cho NLĐ đã làm việc tại doanh nghiệp thực hiện CPH hiện còn có nhiều bất cập nên trong một số trường hợp ý nghĩa kinh tế - xã hội không được thực hiện

Vì vậy, Nhà nước cần phải có những biện pháp thích hợp và để bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng cho NLĐ

- Chế độ, chính sách áp dụng đối với các lao động dôi dư khi CPH DNNN không bảo đảm tính công bằng giữa các thành phần kinh tế với nhau cũng như giữa NLĐ trong DNNN cổ phần hoá, do đó cần có những quy định nhằm đảm bảo sự công bằng giữa những NLĐ bị dôi dư khi CPH DNNN với nhảu và với những trường hợp tương tự khác không phải là DNNN

lợi NLĐ khi CPH DNNN tại một địa phương (Thành phố Hà Nội) và ba ngành, lĩnh vực kinh tế khác nhau và có tính tương đối phổ biến, điển hình (ngành xây dựng, thuỷ sản, quân đội), với sự phân tích những đặc thù về mặt kinh tế, nghề nghiệp, con người và thông qua chủ trương, đường lối CPH DNNN của các bộ, ngành, địa phương - các chuyên đề nói trên rút ra một số kết luận chung liên quan đến chế độ, quyền lợi NLĐ khi CPH DNNN:

- Về nhận thức: Cần thống nhất về nhận thức sự cần thiết và tính tất yếu của việc CPH DNNN trong đội ngũ lãnh đạo cũng như NLĐ Một số doanh nghiệp không thuộc danh mục Nhà nước cần giữ lại để củng cố phát triển,

Trang 23

nhưng vẫn còn trông chờ vào sự bao cấp của Nhà nước nên tìm cách trì hoãn Việc tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách CPH cho cán bộ lãnh đạo, quản lý và NLĐ làm chưa có chất lượng trong thời gian qua Lãnh đạo chủ quản vẫn có nơi muốn níu kéo sự quản lý trực tiếp của mình với doanh nghiệp nhằm mưu cầu lợi ích kinh tế, cán bộ quản lý trong doanh nghiệp e ngại mất vị trí công tác khi chuyển sang CPH Còn NLĐ chưa thấy rõ quyền lợi và trách nhiệm của mình nên khi CPH còn nhiều băn khoăn, lo ngại, không tích cực ủng hộ Do đó, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động để NLĐ thấy được việc CPH doanh nghiệp là một xu thế tất yếu không chỉ đem lại lợi ích cho xã hội mà còn vì lợi ích lâu dài của chính NLĐ.

- Về tổ chức: Cần có kế hoạch và lộ trình cụ thể việc CPH doanh nghiệp

và quyết tâm chính trị của các đơn vị chủ quản để thực hiện kế hoạch đã đặt

ra Thực trạng thực hiện CPH DNNN ở tất cả các địa phương, bộ, ngành trong thời gian qua cho thấy hầu như không có một địa phương, bộ, ngành nào hoàn thành lộ trình CPH Có nhiều nguyên nhân khác nhau để giải thích cho tình trạng này nhưng trong đó phải kể đến nguyên nhân từ công tác tổ chức

- Về quy định của pháp luật: Cần có sự ổn định của các quy định pháp luật về giải quyết chế độ, quyền lợi NLĐ khi CPH doanh nghiệp với những quy định thuận lợi hơn cho NLĐ như: cách tính thời gian công tác, mua cổ phiếu ưu đãi khi CPH doanh nghiệp và đặc biệt là tính đến yếu tố đặc thù nghề nghiệp của NLĐ để giải quyết chế độ, quyền lợi khi CPH doanh nghiệp

- Về tài chính: Phải thống nhất các phương thức xác định nguồn tài chính để giải quyết quyền lợi NLĐ khi CPH doanh nghiệp vì thực tế cho thấy đâiy là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng tiêu cực đến việc CPHDNN trong thời gian qua

củia CPH DNNN với chế độ, quyền lợi NLĐ (chuyên đề 12) đề tài đưa ra một

V • Ị 8*“ ’ *

17

Trang 24

số gải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách, pháp luật bảo vệ quyền lợi MuĐ trong quá trình CPH DNNN (chuyên đề 13).

Điều tra xã hội học về tác động của CPH DNNN với chế độ, quyền lợi NLĐ được thực hiện tại một số doanh nghiệp thuộc Thành phố Hồ Chí Minh

và thh Đổng Nai trên một số các lĩnh vực chính như:

- Tác động tới việc làm của NLĐ;

- Cổ phần hoá và vấn đề sở hữu cổ phần của NLĐ;

- Tác động của CPH tới thu nhập của NLĐ;

- Tác động CPH tới nội dung quan hệ lao động

Nhìn chung, sau khi CPH chế độ, quyền lợi NLĐ được Ihực hiện theo chiềi hướng tích cực, tạo sự yên tâm, phấn khởi cho NLĐ Tuy nhiên, cũng còn một số bất cập, tồn tại ảnh hưởng ở các mức độ nhất định với những nhóm NLĐ khác nhau từ đó tác động đến tâm tư, nguyện vọng, chế độ, quyén lợi của NLĐ Cụ thể:

- Sau khi CPH DNNN, các doanh nghiệp đều phải tiến hành sắp xếp lại lao lộng Kết quả là có gần 20% số lao động trong các doanh nghiệp thực hiên sáp xếp lại thuộc diện dôi dư phải rời khỏi dây chuyền sản xuất, dẫn đến phải luân chuyển và bố trí lại lao động nhằm đảm bảo cho các doanh nghiệp hoại động kinh doanh bình thường Thêm nữa tình trạng thiếu việc làm thưcng rơi vào những người có trình độ chuyên môn thấp, không có (hoặc có ít) cổ phần Do đó, tâm lý bất an về việc làm đã xảy ra với một bộ phận nhất định NLĐ

- Các số liệu điều tra cho thấy số NLĐ không có cổ phần chiếm tỷ lệ khá cao Điều này dãn tới những mâu thuẫn và xung đột về lợi ích giữa NLĐ

có cổ phần và NLĐ không có cổ phần Có sự phân hóa giàu nghèo trong nội

bộ NLĐ, NLĐ có cổ phần nhiều sẽ có cổ tức lớn, dẫn đến giàu lên nhanh hơn nhũng người không có cổ phần hoặc có ít cổ phần NLĐ có cổ phần có quyền được tham gia quản lý công ty thông qua việc tham gia họp đại hội cổ đông,

Trang 25

đề cử úng cử vào HĐQT, Ban kiểm soát, được biểu quyết để quyết định và thông qua nhũng vấn đề quan trọng trong CTCP v.v Còn NLĐ không có cổ phần thì ngược lại hoàn toàn không có các quyền trên Số người sở hữu cổ phần có giá trị dưới 10 triệu chiếm tỷ lệ khá lớn Điều này cho thấy đa số NLĐ hiện nay còn nghèo, thu nhập thấp, không có tích luỹ nên không có tiền đầu tư mua cổ phần Số NLĐ sở hữu trên 50 triệu đồng là rất ít, đa số là những người

có trình độ chuyên môn cao, làm công tác điều hành quản lý trong doanh nghiệp hoặc trong CTCP Việc phân phối quỹ phúc lợi và quỹ khen thưởng cho NLĐ để đầu tư mua cổ phần là không đáng kể và không có vai trò trong việc làm tăng tỷ lệ cổ phần của NLĐ trong CTCP (số NLĐ được chia hai quỹ trên với mức 6 triệu đồng trở lên chiếm tỷ lệ rất thấp 3%)

- Về thu nhập, nói chung ở hầu hết các doanh nghiệp CPH có tăng lên nhưng số NLĐ có trình độ chuyên môn thấp thì có xu hướng bất lợi về thu nhập

Về vấn đề tiền thưởng của CTCP cho thấy có những kết quả khác nhau và còn

có tới 22% số người cho rằng tiền thưởng thấp hơn Đặc biệt 11% số người nói rằng sau CPH họ không có tiền thưởng hàng năm

- Về quan hệ lao động, bcn cạnh sự quan tâm đến việc ký kết, thực hiện

hợp đồng lao động thì sau khi chuyển đổi thành CTCP số doanh nghiệp ký thoả ước lao động tập thể giảm 10% so với khi còn là doanh nghiệp nhà nước

Về tình hình tham gia BHXH, bảo hiểm y tế của NLĐ sau khi DNNN chuyển thành CTCP, kết quả điều tra cho thấy hầu hết NLĐ ở các doanh nghiệp CPH đều tham gia 2 loại hình bảo hiểm là BHXH và bảo hiểm y tế Tuy nhiên trong quá trình thực hiện nghĩa vụ BHXH, bảo hiểm y tế đã nảy sinh một số vướng mắc giữa CTCP và cơ quan BHXH địa phương Vì hầu hết các CTCP đều tiếp tục vận dụng thang, bảng lương dành cho DNNN để thực hiện việc trả lương cho NLĐ và làm căn cứ nộp BHXH Một số CTCP đã tự xây dựng được thang, bảng lương cho mình, có đăng ký tại cơ quan quản lý nhưng vẫn gặp khó khăn

Trang 26

tron' đóng BHXH vì BHXH địa phương chưa linh hoạt mà đòi hỏi phải có xếp hạnị doanh nghiệp như khu vực nhà nước.

Trên cơ sở điều tra xã hội học về sự tác động của CPH DNNN, cũng như

từ sí phân tích thực trạng việc giải quyết chế độ, quyền lợi NLĐ khi CPH DNNN của một số chuyên đề nói trên, đề tài đưa ra một số giải pháp nhằm nân*; cao hiệu quả của chính sách, pháp luật bảo vệ NLĐ khi CPH DNNN Chủ yếu bao gồm:

- Hoàn thiện và giải thích đầy đủ các quy định của pháp luật về CPH Trong đó cần chú trọng xem xét những vấn đề sau:

+ Bổ sung các quy định về trường hợp tính thời gian để NLĐ được mua

cổ phần ưu đãi Thời gian để NLĐ được tính để mua cổ phần ưu đãi phải bao gồm cả thời gian NLĐ phải ngừng việc không do lỗi của họ

+ Bổ sung quy định buộc người sử dụng lao động phải thanh toán tiền lưcmg ngừng việc cho NLĐ trong thời gian đã buộc NLĐ phải nghỉ việc thụ động do doanh nghiệp không lo được công ăn việc làm cho NLĐ

+ Cần sửa đổi quy định về việc bán cổ phần ưu đãi cho NLĐ Hiện nay theo quy định NLĐ được mua tối đa 100 cổ phần cho mỗi năm thực tế làm việc trong khu vực nhà nước với giá ưu đãi sau khi đã đấu giá thành công bình quân Giá ưu đãi là giá đã giảm trừ 60% so với giá bình quân Mặc dù

đã có “ưu đãi” nhưng quy định này đã đẩy NLĐ vào hoàn cảnh khó khăn là: giá cổ phần sẽ là giá đã đấu giá thành công chứ không phải là “mệnh giá ban đầu” như quy định tại Nghị định 64/2002 Và vì là giá cao (thường là cao) nên NLĐ không có khả năng mua hết số cổ phần ưu đãi

- Tổ chức tuyên truyền, thực hiện pháp luật về CPH

Để nâng cao hiệu quả của chính sách, pháp luật bảo vệ NLĐ khi CPH DNNN, một trong những biện pháp cần thực hiện thường xuyên là tổ chức tuyên truyền sâu rộng trong công nhân, viên chức để họ nắm được, hiểu được

Trang 27

mục liêu, cách thức, biện pháp, đặc biệt là các quyền lợi của họ khi tiến hành CPH doanh nghiệp của chính họ.

- Nâng cao vai trò của tổ chức công đoàn trước, trong cũng như sau khi thực hiện CPH DNNN

- Cần động viên và có chính sách khuyến khích NLĐ tham gia các chương trình đào tạo, bổi dưỡng và đào tạo lại nghề, chuyên môn, nghiệp vụ

để tiếp tục làm việc tại doanh nghiệp CPH Các trường hợp chấm dứt hợp đồng, nghỉ hưu cũng cần được quan tâm thích đáng, đặc biệt là chính sách bán cổ phần,

tổ chức đại hội cổ đông để NLĐ được thể hiện vai trò làm chủ của họ

- Bên cạnh những giải pháp cụ thể cần phải đảm bảo thực hiện quá trình CPH một cách công bằng, dân chủ, công khai, có sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả hơn nữa giữa các ngành, cơ quan hữu quan Đồng thời cần kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định về CPH một cách nghiêm ngặt nhằm khắc phục những thiếu sót và sơ hở tạo điều kiện cho nhiều đối tượng lợi dụng chính sách CPH để trục lợi và xâm hại quyền lợi của NLĐ

Nhóm 3: Vai trò của tổ chức đại diện lao động và quản trị doanh nghiệp trong việc bảo vệ NLĐ khi CPH DNNN.

Nội dung này được triển khai ở chuyên đề 5, 6

* Chuyên đ ề 5: Vai trò của tổ chức công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi NLĐ khi C P U DNNN.

Thông qua việc phân tích vai trò của tổ chức công đoàn trong việc bảo

vệ quyền lợi NLĐ khi CPH DNNN theo quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn thực hiện, cụ thể bao gồm:

- Vai trò của tổ chức công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi NLĐ khi tham gia xây dựng chính sách CPH DNNN,

Trang 28

- Vai trò của tổ chức công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi NLĐ trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện CPH tại các DNNN, iii/vai trò của tổ chức công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi NLĐ sau khi DNNN chuyển thành CTCP.

Trên cơ sở đó, chuyên đề đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao vai trò của

tổ chức công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi NLĐ khi CPH DNNN Cụ thể:

- Nâng cao chất lượng và hiệu quả tham gia xây dựng chính sách CPH DNNN của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, đặc biệt là chú ý đến các vấn

đề như: chính sách ưu đãi đối với NLĐ nghèo; Cơ chế để NLĐ giữ được cổ phần; Có chính sách để tổ chức công đoàn đại diện cho NLĐ tham gia Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát CTCP; Tiếp tục thực hiện chính sách đối với NLĐ dôi dư sau CPH; Bổ sung quy định về đào tạo, đào tạo lại NLĐ để bố trí việc làm mới trong CTCP

- Nâng cao trình độ, năng lực về mọi mặt cho cán bộ công đoàn làm công tác xây dựng chính sách bằng các biện pháp như: bồi dưỡng thường xuyên những kiến thức pháp luật liên quan đến CPH, đến quyền lợi NLĐ, bồi dưỡng nghiệp vụ công đoàn, rèn luyện kỹ năng soạn thảo văn bản và các kỹ năng Ihưyết phục, bảo vệ ý kiến, thường xuyên đi thực tế đổ nắm bắt kịp thời những bức xúc nảy sinh và những phát sinh trong quá trình CPH D N N N

- Tăng cường phối hợp hoạt động giữa công đoàn với các cơ quan hữu quan và tăng cường phối hợp hoạt động giữa các cấp công đoàn

- Đổi mới hoạt động của công đoàn trong CTCP Có thể nói, mô hình quản lý trong CTCP về cơ bản khác với DNNN Vì vậy, hoạt động của tổ chức công đoàn cơ sở không thể như hoạt động công đoàn trong DNNN, mà cần năng động hơn, mềm dẻo hơn

* Chuyên đề 6: Một sô vấn đề vê quản trị CTCP sau CPH DNNN ở Việt Nam.

Quản trị doanh nghiệp có ý nghĩa quyết định sống còn không chỉ đối với doanh nghiệp sau CPH, mà đối với tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế Thêm nữa, với yêu cầu bảo vệ quyền lợi NLĐ sau khi CPH thì

Trang 29

vấn đề quản trị doanh nghiệp cần được tiếp cận trong sự cân bằng với nhiều mối tương quan.

Thông qua việc trình bày một số nội dung pháp lý cơ bản về quản trị CTCP sau CPH theo pháp luật hiện hành như: Cơ cấu bộ máy tổ chức quản lí công ti cổ phần; Thẩm quyền và thể thức hoạt động của các cơ quan trong bộ máy tổ chức quản lí công ti; Nghĩa vụ của người quản lí công ti cổ phần; Kiểm soát giao dịch tư lợi Và nêu lên một số bất cập trong thực tiễn quản trị CTCP sau CPH ở Việt Nam như: bộ máy quản trị ở nhiều CTCP sau CPH vẫn ở tình trạng "bình mới, rượu cũ"; Vai trò của cổ đông đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại các công ty CPH chưa rõ ràng, hoặc mờ nhạt, hoặc quá lạm dụng, tiềm ẩn nguy cơ nảy sinh các xung đột lợi ích, dẫn đến sự can thiệp thường xuyên và bất hợp lý của các cơ quan quản lý Nhà nước vào quản trị công ty; Tinh trạng thiết lập và thực hiện các giao dịch trục lợi tồn tại ở nhiều công ty (phổ biến là các giao dịch như cho thuê tài sản, mua sắm máy móc thiết bị, đấu thầu, bảo hiểm .); Vai trò của cổ đông là NLĐ chưa được phát huy hiệu quả; tình trạng vi phạm quyền của cổ đông thiểu số trong các CTCP sau cổ phần hóa khá phổ biến; Trong một số CTCP hình thành từ CPH, quyền tư do chuyển nhượng cổ phần của các cổ đông phổ thông bị hạn chế trái pháp luật Trên cơ sở đó chuyên đề đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp sau CPH ở Việt Nam hướng đến việc bảo vệ quyền lợi NLĐ như: Khi tiến hành CPH, cần có giải pháp đổi mới bộ máy quản trị của công ty, tạo ra những nhân tố mới, tích cực trong bộ máy quản trị của công ty sau CPH; Các cổ đông phải nhận thức đúng đắn, đầy đủ và tích cực về vị trí, vai trò của mình trong việc thiết lập bộ máy quản trị của công ty phù hợp với quy định của pháp luật và điều kiện cụ thể của công ty; Đảm bảo sự minh bạch

và dân chủ trong tổ chức quản lý công ty sau CPH; Nâng cao hiểu biết pháp luật về doanh nghiệp nói chung và về quản trị CTCP nói riêng cho bộ máy lãnh đạo công

ty, cho các cổ đông và toàn thể NLĐ trong công ty; Tăng cường giám sát việc thực

Trang 30

hiện các nghĩa vụ của người quản lý doanh nghiộp trước quyền và lợi ích họp pháp của các cổ đông; Bảo vệ và tạo điều kiện thực hiện các quyền của các cổ đông; Đảm bảo sự đối xử bình đẳng đối với mọi cổ đông, trong đó có cổ đông thiểu số và

cổ đổng nước ngoài; Các bên có quyền lợi liên quan, bao gồm cả NLĐ và đơn vị đại diện cho họ phải có quyền tự do thể hiện những lo ngại về những việc làm không hợp pháp hoặc không phù hợp với lợi ích chính đáng của công ty trước hội đồng quản trị và Đại hội cổ đông; Công bố thông tin và đảm bảo tính minh bạch trong quản tĩị công ty với các vấn đề cơ bản như: tình hình tài chính, tình hình hoạt động, sở hữu và quản lý công ty

Nhóm 4: Tranh chấp và giải quyết tranh chấp về quyền lợi NLĐ khi CPH DNNN

Nội dung này được nghiên cứu tại chuyên đề 11

Thông qua thực tiễn giải quyết tranh chấp về quyền lợi của NLĐ khi CPH DNNN có thể thấy nếu căn cứ vào nội dung (các vấn đề) tranh chấp, tranh chấp về quyền lợi NLĐ khi doanh nghiệp CPH gồm có rất nhiều loại

Cụ thể, bao gồm những tranh chấp sau: Tranh chấp về việc mua cổ phần của doanh nghiệp khi CPH; Tranh chấp về việc làm; Tranh chấp về bảo hiểm xã hội; Tranh chấp về các loại trợ cấp

Tranh chấp xảy ra khi doanh nghiệp CPH về quyền lợi của NLĐ chủ yếu xảy ra đối với lao động dôi dư Những tranh chấp này xảy tương đối phức tạp

và cũng rất khó giải quyết Trên cơ sở thực trạng tranh chấp về quyền lợi của NLĐ và việc giải quyết tranh chấp đối với một số vụ việc cụ thể tại Toà án nhân dân chuyên đề rút ra nhận xét:

- Tranh chấp về quyền lợi NLĐ khi CPH DNNN chủ yếu chỉ nảy sinh trong một thời điểm nhất định (khi chúng ta thực hiện CPH DNNN)

- Tranh chấp về quyền lợi của NLĐ khi CPH DNNN là loại hình tranh chấp tương đối phức tạp và mang tính nhạy cảm Những NLĐ dôi dư do việc

Trang 31

CPH lại thường là những lao động làm việc lâu năm trong doanh nghiệp, hơn nữa, những lao động này trình độ lại có hạn nên họ rất khó có thể tìm kiếm việc làm ở nơi khác Vì vậy, các chính sách, chế độ giải quyết quyền lợi cho NLĐ cần phải thông thoáng nhằm bảo vệ quyền lợi cho NLĐ, đặc biệt là điều kiện nghỉ hưu cho các đối tượng này.

- Chính sách, chế độ với NLĐ dôi dư khi CPH cần có sự công bằng giữa các lao động thuộc các thành phần kinh tế khác nhau Cùng là trường hợp NLĐ mất việc làm vì lý do kinh tế, nhưng NLĐ thuộc đối tượng lao động dôi

dư do CPH DNNN được hưởng ưu đãi hơn rất nhiều so với các trường hợp khác Hơn nữa nếu ưu đãi quá, cũng sẽ dẫn đến tình trạng có một số đối tượng lợi dụng các chính sách này làm thiệt hại đến lợi ích của doanh nghiệp

để các nhà hoạch định chính sách, cơ quan chuyên môn tham khảo nhằm hoàn thiện và bảo vệ quyền lợi NLĐ không chỉ trong mà còn sau khi CPH DNNN Ngoài ra, đề tài còn là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích trong hoạt động nghiên cứu, giảng dạy môn luật Lao động nói riêng và Pháp luật kinh

tế nói chung

Trang 32

uỷ quyền kinh doanh hoặc cho phép tư nhân thực hiện những dịch vụ công cộng hoặc cho tư nhân thuê các tài sản công.

Theo nghĩa hẹp thì tư nhân hoá được hiểu là quá trình chuyển DNNN sang doanh nghiệp tư nhân Theo nghĩa rộng thì có thể hiểu là “nới lỏng hay

bỏ bớt các hạn chế pháp lý dưới nhiều hình thức khác nhau đối với sự cạnh tranh chống lại các doanh nghiệp công cộng”; nó “bao gồm mọi chính sách

để khuyên khích khu vực tư nhân tham gia vào việc cung cấp dịch vụ công cộng, cơ sở hạ tầng và có khuynh hướng loại trừ hoặc thay đổi vị trí độc quyền của các DNNN”

Liên hiệp quốc cũng đã đưa ra quan niệm “Tư nhân hoá là sự biến đổi tương quan giữa Nhà nước và thị trường trong đời sống kinh tế của một nước theo hướng ưu tiên thị trường” Quan niệm này cho thấy toàn bộ những chính sách, luật lệ, thể chế nhằm khuyến khích, mở rộng và phát triển khu vực kinh

Trang 33

tế tư nhân hay các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, giảm bớt sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước vào các hoạt động kinh doanh của các đơn vị cơ

sở, dành cho thị trường vai trò điều tiết rộng hơn qua tự do hoá giá cả Thực chất quan niệm nêu trên mong muốn giảm bớt vai trò của Nhà nước và mở rộng khu vực tư nhân, đồng thời làm cho các DNNN phải chịu sức ép lớn hơn của thị trường Việc giảm bớt vai trò của Nhà nước có thể thực hiện bằng nhiều cách khác nhau, trong đó có biện pháp bán DNNN dưới hình thức bán

cổ phần cho công chúng hay còn gọi là CPH DNNN Như vậy về một giác độ nào đó CPH là tư nhân hoá

Song, theo cách tiếp cận của Kinh tế chính trị Mác - Lênin, xuất phát từ tính chất của các quan hệ kinh tế (quan hệ sở hữu về tài sản, vốn ) thì không

thể đồng nhất CPH với tư nhân hoá Trong thực tế, ở một số nước đã diễn ra

quá trình doanh nghiệp tư nhân thuần tuý hoặc doanh nghiệp của một nhóm chủ thông qua phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn của các chủ sở hữu khác ngoài xã hội để chuyển thành CTCP (CTCP), chủ sở hữu doanh nghiệp không còn là cá nhân riêng lẻ nữa mà đã trở thành tập thể các cổ đông Quá trình này cũng diễn ra trong các DNNN Nhà nước (mà trực tiếp là một cơ quan có thẩm quyền được Nhà nước giao) dựa trên cơ sở giá trị thực tế của doanh nghiệp cần được chuyển thành CTCP, xác định số lượng cổ phần, giá trị mỗi

cổ phần, các loại cổ phiếu, phương thức phát hành phiếu, sau đó bán cổ phiếu cho các tổ chức kinh tế, xã hội và công chúng Như vậy tức là chuyển doanh nghiệp từ chỗ chỉ có một chủ sở hữu Nhà nước thành có nhiều chủ sở hữu trong quá trình CPH DNNN Nghĩa là CPH không chỉ diễn ra tại các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty liên doanh, mà còn

diễn ra tại các DNNN CPH là quá trình thực hiện xã hội hoá sở hữu tại

doanh nghiệp Đây là thực chất của CPH nói chung.

Tuy nhiên, để làm rõ hơn nữa thực chất của CPH DNNN, cần phải theo dõi nội dung mà các DNNN chuyển thành CTCP như thế nào? Thực tế cho

Trang 34

thấy, DNNN chuyển thành CTCP thông qua hai cách sau đây: 1/ bán toàn bộ hoặc một phần tài sản hiện có thuộc sở hữu Nhà nước tại doanh nghiệp cho các tổ chức kinh tế, xã hội và các cá nhân bằng phương thức phát hành cổ phiếu; 2/ giữ nguyên toàn bộ giá trị vốn hiện có của Nhà nước tại doanh nghiệp, phát hành cổ phiếu ra công chúng để thu hút thêm vốn mở rộng doanh nghiệp Đây chính là các hình thức khác nhau của CPH DNNN Đồng thời với việc chuyển sở hữu Nhà nước tại doanh nghiệp sang sở hữu tập thể

cổ đông là việc chuyển quản lý doanh nghiệp từ trực tiếp của chủ sở hữu Nhà nước sang gián tiếp của các cổ đông thông qua Hội đồng quản trị Với tính chất trên không thể quan niệm CPH DNNN là tư nhân hoá, cũng không nên phiến diện cho rằng CPH DNNN chỉ là quá trình chuyển tài sản thuộc sở hữu nhà nước sang sở hữu của các cổ đông, bởi vì ngoài hình thức này, còn có cả hình thức DNNN thu hút thêm vốn để trở thành CTCP v ề hình thức, CPH DNNN là quá trình Nhà nước bán một phần hoặc toàn bộ tài sản của mình tại doanh nghiệp cho các tổ chức kinh tế, xã hội và cá nhân trong và ngoài nước hoặc bán cho cán bộ, công nhân làm việc tại doanh nghiệp bằng đấu giá công khai hay thông qua thị trường chứng khoán để hình thành CTCP v ề thực chất, CPH DNNN chính là phương thức thực hiện xã hội hoá sở hữu, chuyển thành hình thái kinh doanh một chủ với sở hữu nhà nước trong doanh nghiệp thành CTCP với nhiều chủ sở hữu để tạo ra một mô hình doanh nghiệp phù hợp với nền kinh tế thị trường và đáp ứng được yêu cầu của kinh doanh hiện đại Như vậy về mấu chốt để phân biệt CPH với tư nhân hoá DNNN là sự phân biệt quyền sở hữu, quyền sử dụng và quản lý doanh nghiệp sau khi doanh nghiệp chuyển thành CTCP hay công ty tư nhân CPH DNNN không phải là tư nhân hoá mà là hai quá trình khác nhau

1.2 Những đặc trưng cơ bản của CPH theo pháp luật Việt Nam

Trang 35

- Doanh nghiệp CPH đăng ký hoạt động dưới hình thức pháp lý là CTCP hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, chứ không theo Luật doanh nghiệp nhà nước áp dụng đối với các DNNN.

- Sở hữu đa dạng: c ổ phần bán cho nhà đầu tư chiến lược và nhà đầu tư khác nói chung không thấp hơn 25% vốn điều lệ Số cổ phần bán cho nhà đầu

tư khác không thấp hơn 50% số cổ phần nêu trên Đối với doanh nghiệp quy

mô lớn có vốn nhà nước trên 500 tỷ đồng hoặc hoạt động kinh doanh trong những lĩnh vực, ngành nghề đặc thù (bảo hiểm, ngân hàng, bưu chính viễn thông, hàng không, khai thác mỏ quý hiếm) thì tỷ lệ cổ phần đấu giá bán cho nhà đầu tư do cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định cụ thể Tổ chức công đoàn tại doanh nghiệp CPH được sử dụng nguồn quỹ hợp pháp của công đoàn tại doanh nghiệp CPH (không huy động, vay vốn) để mua cổ phần nhưng không quá 3% vốn điều lệ Số cổ phần này do công đoàn nắm giữ nhưng không được chuyển nhượng Ngoài ra, NLĐ trong doanh nghiệp được mua cổ phần ưu đãi.2

- Cổ phần, về nguyên tắc chung được bán theo thủ tục bán đấu giá cạnh tranh trên thị trường

- NLĐ và người quản lý của doanh nghiệp thường là các chủ sở hữu lớn hoặc ít nhất là được sở hữu một số lượng nhất định

- Nhà nước thường giữ lại một phần cổ phần, rất ít trường hợp Nhà nước

là cổ đông lớn hoặc không có cổ phần

' Các bên thứ ba thường sở hữu một số lượng cổ phần nhưng rất ít khi là người sở hữu chính

Đây chính là sự khác biệt sâu sắc giữa CPH với chính sách tư nhân hoá bởi vì NLĐ trong doanh nghiệp dù không có tiền vẫn được mua cổ phần ưu đãi để từ đó tham gia quản lý các hoạt động trong công ty, điều này tăng

2 Nghị định 109/2007/NĐ-CP ngày 26/06/2007 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thành CTCP

Trang 36

cường khả năng lao động, sáng tạo và làm chủ cho NLĐ Trái với chính sách

tư nhân hoá là chế độ tư hữu về tài sản, con người, tư liệu sản xuất chỉ có lợi cho những cá nhân có tiền

2- Tác động của CPH tới NLĐ và sự cần thiết bảo vệ NLĐ khi CPH DNNN.

2.1 Đôi vói việc làm của NLĐ.

CPH DNNN gắn liền với việc sắp xếp, tổ chức lại doanh nghiệp làm cho NLĐ dễ mất việc làm Theo báo cáo của Bộ Tài chính, đến nay, cả nước có hơn 3.550 doanh nghiệp nhà nước CPH và theo Bộ Lao động - Thương binh

và Xã hội, quá trình sắp xếp lại doanh nghiệp đã có 180.000 lao động dôi dư3 Mặc dù, trong hơn 15 năm qua đã có nhiều chế độ, chính sách, quy định của pháp luật nhằm giúp đỡ, tạo điều kiện để giải quyết việc làm cho NLĐ nhưng không thể phủ nhận, đối với xã hội nói chung và NLĐ nói riêng thì vấn đề việc làm là một thách thức rất lớn trước cũng như sau khi CPH doanh nghiệp Trong thực tế, lấy lý do CPH nhiều đơn vị đã cho NLĐ thôi việc với những lý do không phải bao giờ cũng thuyết phục Với số lượng 180.000 NLĐ dôi dư nói trên, ống Đặng Như Lợi (Phó chủ nhiệm Ưỷ ban các vấn đề

xã hội của Quốc hội) cho rằng: “ 180.000 người này có đúng dôi dư không? thực tế, trước, trong và sau khi CPH, một lực lượng lớn lao động đã bị mất việc vì nhiều lý do Có thật sự dôi dư không khi cho nghỉ việc 180.000 nhưng sau đó doanh nghiệp lại tuyển thêm rất nhiều? ,” Hoặc có nhiều trường hợp sau khi CPH các doanh nghiệp huy động vốn để đầu tư công nghệ hiện đại,

cơ cấu lại sản xuất nên mặc dù NLĐ thuộc đối tượng được giữ lại làm việc theo phương án lao động khi CPH lại tiếp tục bị mất việc làm, hay như CTCP Sông Hương ASC (Thừa Thiên - Huế) chỉ sau năm tháng CPH gần 200 công nhân bị chấm dứt hợp đồng lao động với lý do “thu hẹp sản xuất, giảm chỗ

3 Báo NLĐ ngày 03/01/2008

Trang 37

làm /iệc” hoặc tại CTCP Xuất, nhập khẩu Da giày Sài gòn sau khi hoàn tất việc “mua lúa non” cổ phần ưu đãi của NLĐ với giá chỉ 2500đ/cổ phiếu, công ty lập tức giải thể xưởng sản xuất, cho NLĐ nghỉ việc4 Ngoài ra, với nhón đối tượng lao động dôi dư đã có thời gian tham gia BHXH từ 15 đến dưới 20 năm nhưng vì tuổi cao (nam trên 55; nữ trên 50) có thể nói không có

cơ hội tìm việc làm mới.Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng sau khi CPH với nhữr.g đòi hỏi, yêu cầu mới về quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh, NLĐ phải nỗ lực và có ý thức rất nhiều về chuyên môn, ý thức tổ chức kỷ luật Nói cách khác, nếu có nhận thức đúng thì NLĐ sẽ có một việc làm ổn định và bền vững Như vậy, trong vấn đề việc làm NLĐ không chỉ có nhu cầu được bảo vệ trước, trong khi CPH mà còn sau khi CPH Chế độ, chính sách, pháp luật cần hướng đến ở đây là tạo sự ổn định về việc làm cho những NLĐ tiếp tục làm việc; định hướng nghề nghiệp, đào tạo, hướng dẫn sử dụng khoản trợ cấp vào việc tạo và giải quyết việc làm cho đối tượng lao động dôi d ư Song cũng cần chú ý đến nhu cầu về chất lượng và số lượng sử dụng nhân lực của doanh nghiệp CPH (xem thêm chuyên đề số 13)

2.2 Đối vói thu nhập của NLĐ.

Khi CPH doanh nghiệp, một trong vấn đề NLĐ quan tâm đó là thu nhập (bao gồm tiền lương, phúc lợi, tiền thưởng) Theo các số liệu điều tra (xem chuyên đề 13), nói chung thu nhập của NLĐ sau khi CPH là cao hơn so với trước khi CPH Tuy nhiên, vấn đề NLĐ quan tâm đó là việc phân phối lợi ích

từ quỹ lương, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi khi doanh nghiệp CPH đây là nguồn tài chính hỗ trợ cho NLĐ để mua cổ phần ưu đãi Mặt khác, theo quy định tài sản đang dùng trong sản xuất, kinh doanh đầu tư từ nguồn quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi của doanh nghiệp được tính vào giá trị doanh nghiệp và chuyển thành cổ phần thuộc sở hữu của NLĐ tuỳ theo thời gian thực tế NLĐ

4 Báo NLĐ ngày 03/01/2008

Trang 38

đã làn việc tại doanh nghiệp Song, thực tế thực hiện vấn đề này cho thấy còn ihiều bất cập, chẳng hạn: tại Công ty Thực phẩm TH (quận 12, Thành phố rĩồ Chí Minh), khi CPH, Chính phủ đồng ý cho công ty giữ lại 10,6 tỷ đồng từ quỹ lương thừa và gần 500 triệu đổng quỹ phúc lợi để NLĐ mua cổ phiếi, nhung thực tế NLĐ không hề biết về khoản tiền này và cũng không được hưởng đồng nào Tương tự, tại CTCP Xuất nhập khẩu Da giày Sài Gòn, khi CPH hơn 8 tỷ đồng quỹ lương của NLĐ bị “bốc hơi” Chỉ sau này, khi báo :hí phanh phui, doanh nghiệp mới trả lại cho N L Đ \ Điều này cho thấy khi CPH doanh nghiệp việc công khai hoá phương án CPH đến tập thể lao độn£ và đặc biệt là sự minh bạch về tài chính, tài sản của doanh nghiệp là một trong những điều kiện tiên quyết để bảo vệ NLĐ về thu nhập.

2.3 Đối với vấn đê sở hữu cổ phần của NLĐ.

Có thể nói đây là một trong những mối quan tâm chính của nhà nước và NLĐ khi CPH DNNN Bởi một trong những mục tiêu quan trọng của CPH là tạo điều kiện để đông đảo NLĐ trở thành chủ sở hữu của doanh nghiệp, trực tiếp tham gia vào việc quản lý doanh nghiệp, tổ chức sản xuất kinh doanh,

v ể vấn đề này, trong khoảng 15 năm qua đã có rất nhiều sự thay đổi, điều chỉnh về mặt chế độ, chính sách và quy định pháp luật (xem chuyên đề 3, 4) nhimg đến nay vẫn chưa đạt được hiệu quả như mong muốn xét ở mức độ điều chỉnh hài hoà lợi ích, sự hài lòng của nhà nước, doanh nghiệp, các cổ đông và NLĐ Riêng đối với chế độ, quyền lợi của NLĐ về mua cổ phần ưu đãi thì nếu như Nghị định số 28/CP ngày 07/05/1996 thực hiện chính sách cấp không một số cổ phiếu để hưởng cổ tức, nhưng không được chuyển nhương và chính sách cho vay trả chậm với lãi suất trong thời gian 5 năm, tổng sức mua chịu không vượt quá 15%-20% giá trị doanh nghiệp, thì đến Nghị định 44/1998/NĐ-CP đã thay thế bằng chính sách giảm giá 30% đối với

5 Bác NLĐ ngày 03/01/2008

Trang 39

số cổ phần được mua theo giá ưu đãi cho NLĐ trong doanh nghiệp Số lượng

cổ phần ưu đãi mà NLĐ được mua, được tính theo thâm niên công tác của

họ, cứ mỗi năm làm việc cho nhà nước, NLĐ được mua tối đa 10 cổ phần, trị giá mỗi cổ phần là lOO.OOOđ mà chỉ trả 70.000Ổ NLĐ có quyền sở hữu cổ phần của mình và có thể chuyển nhượng, thừa kế Tuy nhiên, trong thực tế thực hiện, đa số NLĐ không được mua đủ 10 cổ phần ưu đãi cho một năm công tác, vì có quy định tổng giá trị ưu đãi cho NLĐ không được vượt quá 20% giá trị phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp Quy định này dãn đến bất hợp lý là những doanh nghiệp có vốn lớn, lao động ít thì NLĐ được mua đủ

10 cổ phần ưu đãi cho số năm công tác Ngược lại, những doanh nghiệp có vốn nhỏ, lao động nhiều (loại hình doanh nghiệp phổ biến ở địa phương) thì giá trị cổ phần ưu đãi theo quy định chỉ đủ bán cho NLĐ cứ mỗi năm công tác được 6-8 cổ phần, thậm chí có những doanh nghiệp còn thấp hơn Để khắc phục tình trạng trên, Nghị định 64/2002/NĐ-CP đã xoá bỏ việc khống chế này và quy định doanh nghiệp có thể bán cổ phần ưu đãi cho NLĐ đến khi hết phần vốn của nhà nước tại doanh nghiệp Đặc biệt, đối với lao động nghèo còn được mua cổ phần theo giá ưu đãi nhưng được hoãn trả trong 3 năm đầu để hưởng cổ tức và trả dần trong 7 năm tiếp theo không phải chịu lãi suất Nghị định 187/2004/NĐ-CP của Chính phủ trên cơ sở tính đến lợi ích của nhà nước, doanh nghiệp và NLĐ bằng việc tăng số cổ phần ưu đãi tối đa, NLĐ có thể mua lên 100 cổ phần (mỗi cổ phần có giá trị lO.OOOđ), với giá giảm 40% so với giá bình quân bán cho các nhà đầu tư khác (nhà đầu tư trong nước, đầu tư nước ngoài, đầu tư chiến lược) Tuy nhiên, trong thực hiện cho thấy với giá bán cổ phiếu ưu đãi theo giá bình quân thì nhiều NLĐ không

có khả năng mua Do đó, Nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành CTCP thay thế NĐ 187/2004/NĐ-CP quy định NLĐ được mua tối đa 100 cổ phần (mỗi cổ phần

Trang 40

mệnh giá 10.000 dồng) cho mỗi năm thực tế làm việc tại khu vực nhà nước với giá ưu đãi, bằng 60% giá đấu thành công bình quân được xác định trên cơ

sở giá bán cổ phần theo phương thức đấu giá công khai do Nhà nước quy định Đối với những doanh nghiệp đặc biệt khó khăn ở vùng sâu, vùng xa giá bán cổ phần ưu đãi cho NLĐ có thể thấp hơn theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ Nội dung trình bày ở trên cho thấy vấn đề đảm bảo quyền lợi của NLĐ trong việc hưởng cổ phần ưu đãi khi CPH doanh nghiệp nhà nước là hết sức phức tạp và chắc chắn phải tiếp tục hoàn thiện trong tương lai Phương hướng ở đây là việc CPH doanh nghiệp nhà nước phải đảm bảo lợi ích của nhà nước, xã hội, của nhà đầu tư, NLĐ Tuy nhiên, không chỉ dừng lại ở góc

độ kinh tế đơn thuần mà còn phải tập trung vào các vấn đề khác như công bằng xã hội, lợi ích NLĐ, việc làm, trợ cấp thất nghiệp./

Ngày đăng: 11/03/2019, 20:44

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w