Thạc sĩ, tiến sĩ, chuyên đề, luận văn, khóa luận, đề tài
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Toàn cầu hóa, quốc tế hóa ngày nay đang trở thành xu thế tất yếu đối vớibất kỳ quốc gia nào muốn phát triển kinh tế, Việt Nam cũng không phải làngoại lệ Quá trình này tạo ra những cơ hội phát triển nhưng không phải đồngđều nhau giữa các nước, đồng thời cũng đem lại những thách thức to lớn choquá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia
Từ năm 1986, Đảng ta đã xác định: "Phát triển nền kinh tế nhiều thànhphần và khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước, thừa nhận vàkhuyến khích sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân có lợi cho quốc kếdân sinh; cải cách kinh tế theo hướng thị trường có sự điều tiết của Nhà nước;
mở cửa và có sự chủ động hội nhập với nền kinh tế thế giới; giữ vững ổn địnhchính trị xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với công bằng xã hội", đã tạo ramột sân chơi bình đẳng cho các thành phần kinh tế cùng phát triển
Bàn về kinh tế tư nhân, có nhiều vấn đề rất nhạy cảm, phức tạp cả về vấn
đề lý luận và thực tiễn chính trị - xã hội Bởi lẽ, mặc dù chủ trương của Đảng
về phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa xuyênsuốt từ các kỳ Đại hội lần thứ VI, VII, VIII, IX; Quốc hội đã ban hành nhiềuluật có liên quan đến việc khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển; Chính phủ
đã có nhiều chính sách cụ thể hoá chủ trương đường lối của Đảng và luậtpháp nhằm khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển Nhưng cho đến nay thựctiễn phát triển kinh tế tư nhân đang còn nhiều ý kiến thảo luận, cần được tiếptục nghiên cứu cả về mặt lý luận và giải pháp thực tiễn
Khu vực kinh tế tư nhân trong những năm qua đã có những đóng góptích cực vào phát triển kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân, góp phần giữvững ổn định chính trị - xã hội đất nước, tạo thêm nhiều việc làm và nhiều
Trang 2của cải xã hội Nhìn chung khu vực kinh tế tư nhân có ưu thế nổi trội: suấtđầu tư thấp, dễ chuyển đổi phương hướng sản xuất phù hợp với kinh tế thịtrường Tốc độ tăng trưởng của khu vực kinh tế tư nhân khá ổn định trongthời gian qua.
Trong thập kỷ 90 (thế kỷ XX), toàn tỉnh Thừa Thiên - Huế chỉ có 331doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân hoạt động, gồm 296 doanh nghiệp tưnhân, 29 công ty trách nhiệm hữu hạn và 6 công ty cổ phần với tổng số vốnđăng ký kinh doanh 90,2 tỷ đồng Bình quân mỗi năm có 33 doanh nghiệpthành lập mới, vốn đăng ký bình quân là 0,27 tỷ đồng/đơn vị Những con sốnày so với mặt bằng chung của cả nước và so với chính tiềm năng của địaphương quả thật còn quá nhỏ bé
Dấu hiệu tăng tốc bắt đầu xuất hiện khi Luật doanh nghiệp có hiệu lựcvào năm 2000, cùng với việc bãi bỏ hơn 100 loại giấy phép, số lượng cácdoanh nghiệp đăng ký trong tỉnh tăng lên khá nhanh so với những năm trước.Đến ngày 30-6-2003, toàn tỉnh đã có 1.074 doanh nghiệp đăng ký kinh doanhvới số vốn đăng ký là 1.368,676 tỷ đồng Trong đó có 746 doanh nghiệp tưnhân, 215 công ty trách nhiệm hữu hạn, 53 công ty cổ phần (trong đó có 13công ty chuyển đổi từ doanh nghiệp Nhà nước) Chỉ cần một phép so sánhnhỏ cũng có thể thấy sự tăng trưởng đột phá của khối doanh nghiệp khu vựckinh tế tư nhân Trong vòng hơn 3 năm (từ năm 2000 đến ngày 30-6-2003),riêng số doanh nghiệp mới đã gấp hơn 2 lần tổng số đăng ký của 10 nămtrước đó
Không chỉ đơn thuần tăng về số lượng, ngành nghề kinh doanh của cácdoanh nghiệp cũng được mở rộng hơn do không bị hạn chế bởi quy định vềvốn pháp định cũng như điều kiện kinh doanh Từ 01-01-2000 đến nay, toàntỉnh đã có 215 doanh nghiệp đăng ký bổ sung ngành nghề, 85 doanh nghiệpđăng ký thay đổi vốn với số vốn tăng thêm là 93,2 tỷ đồng
Trang 3Được khuyến khích phát triển, lực lượng doanh nghiệp khu vực kinh tế
tư nhân đã góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế của tỉnh ThừaThiên - Huế Năm 2001, khối doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân đã đónggóp hơn 42,3% GDP toàn tỉnh; tham gia 58,2% trong tổng mức bán lẻ hànghoá của tỉnh; giải quyết việc làm cho hơn 400 nghìn lao động, chiếm 88% laođộng của tỉnh Chỉ tính 9 tháng đầu năm 2003, giá trị sản xuất công nghiệpcủa khu vực này tăng trưởng cao, đạt 269,9 tỷ đồng Kết quả này có được là
do nhiều doanh nghiệp đã đầu tư đổi mới thiết bị, nâng cao năng lực sản xuất,
đa dạng hoá sản phẩm, mở rộng thị trường tiêu thụ, ký được nhiều hợp đồngdài hạn với các đối tác trong và ngoài nước
Vướng mắc lớn nhất hiện nay là việc đánh giá vai trò và tác dụng củakinh tế tư nhân chưa được khuyến khích mạnh mẽ, vai trò, vị trí của kinh tế tưnhân chưa được khẳng định dứt khoát Quan điểm của Đảng trên một số vấn
đề cụ thể về kinh tế tư nhân chưa được làm rõ để tạo được sự thống nhất cao.Một số cơ chế, chính sách của Nhà nước chưa phù hợp với đặc điểm của kinh
tế tư nhân, đại bộ phận là doanh nghiệp vừa và nhỏ; quản lý nhà nước có phầnbuông lỏng và sơ hở, đặc biệt là sự mất công bằng trong các chính sách ưu đãigiữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp của tư nhân vẫn còn tồn tại.Trong bối cảnh chung của khu vực kinh tế tư nhân trong cả nước nhưvậy, kinh tế tư nhân ở Thành phố Huế cũng không là ngoại lệ Xuất phát từthực tế đó, để góp phần đánh giá đúng đắn thực trạng phát triển cũng như đểthấy được những khó khăn, vai trò, vị trí của các doanh nghiệp thuộc khu vựckinh tế tư nhân trong giai đoạn hiện nay, từ đó có thể đề xuất một số giải pháp
để phát triển khu vực này ở Thành phố Huế, chúng tôi đã chọn đề tài: "Thực trạng và giải pháp phát triển Kinh tế tư nhân ở Thành phố Huế".
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Hệ thống hoá những lý luận về phát triển các doanh nghiệp khu vựckinh tế tư nhân
Trang 4- Đánh giá thực trạng các doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân trên địabàn Thành phố Huế trong thời gian vừa qua.
- Đề xuất các phương hướng và giải pháp nhằm phát triển các doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu: là các doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhântrên địa bàn Thành phố Huế
- Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu tình hình hoạt động kinh doanh củacác doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân trên địa bàn Thành phố Huế
Trang 5CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN
1.1 KHÁI NIỆM VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN
Bàn về Kinh tế tư nhân, có nhiều vấn đề rất nhạy cảm, phức tạp cả vềvấn đề lý luận và thực tiễn chính trị - xã hội Bởi lẽ, mặc dù chủ trương củaĐảng về phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩaxuyên suốt từ các kỳ Đại hội lần thứ VI, VII, VIII, IX; Quốc hội đã ban hànhnhiều Luật có liên quan đến việc khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển;Chính phủ đã có nhiều chính sách cụ thể hoá chủ trương đường lối của Đảng
và luật pháp nhằm khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển Nhưng cho đếnnay thực tiễn phát triển kinh tế tư nhân đang còn nhiều ý kiến thảo luận, cầnđược tiếp tục nghiên cứu cả về mặt lý luận và giải pháp phát triển
Xét về mặt sở hữu, kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân đềuthuộc cùng loại hình sở hữu tư nhân, khác với sở hữu toàn dân, sở hữu tậpthể Nhưng về mặt lý luận quan điểm thì kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tưbản tư nhân là hai thành phần kinh tế khác nhau; khác nhau về trình độ pháttriển lực lượng sản xuất và bản chất quan hệ sản xuất Tuy nhiên trong thực tếviệc phân định ranh giới rạch ròi đâu là kinh tế cá thể, tiểu chủ đâu là kinh tế
tư bản tư nhân không phải là việc làm đơn giản bởi sự vận động biến đổikhông ngừng của hai thành phần kinh tế này và ảnh hưởng của nhiều yếu tốthời đại, đặc điểm ngành nghề, lĩnh vực sản xuất kinh doanh
Thực tế ở nước ta hiện nay chưa xác định được tiêu chí thế nào là kinh tế
cá thể, tiểu chủ thế nào là kinh tế tư bản tư nhân nên cũng chưa thể phân định
rõ ranh giới giữa hai thành phần kinh tế này Mặc dù vậy, Nghị quyết đại hội
Trang 6IX của Đảng đã khẳng định: Kinh tế tư nhân là một trong 6 thành phần kinh tếcủa nước ta, kinh tế nhà nước phát huy vai trò chủ đạo, kinh tế tập thể pháttriển với nhiều hình thức, trong đó hợp tác xã là nòng cốt; kinh tế cá thể, tiểuchủ ở cả nông thôn và thành thị có vị trí quan trọng lâu dài; kinh tế tư bản tưnhân được khuyến khích phát triển trong tất cả các ngành nghề mà luật phápkhông cấm; kinh tế tư bản Nhà nước phát triển đa dạng dưới nhiều hình thứcliên kết, liên doanh; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được tạo lập môi trườngphát triển thuận lợi Như vậy, kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọngcủa nền kinh tế thị trường Việt Nam bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh
tế tư bản tư nhân, hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loạihình doanh nghiệp của tư nhân
Tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, kinh tế tư nhân đượchiểu bao gồm các loại hình doanh nghiệp: doanh nghiệp tư nhân (DNTN),Công ty trách nhiệm hữu hạn (CTTNHH) và Công ty cổ phần (CTCP) đượcthành lập theo Luật doanh nghiệp tư nhân, Luật Công ty (từ năm 1991 đếnnăm 1999) và Luật Doanh nghiệp (từ năm 2000) do Nhà nước ban hành
1.1.1 Doanh nghiệp tư nhân
Theo điều 99 Luật Doanh nghiệp năm 1999, Doanh nghiệp tư nhân đượcđịnh nghĩa như sau:
Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tựchịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanhnghiệp [1]
Định nghĩa trên đã cho thấy rõ các đặc điểm của doanh nghiệp tư nhân
đó là:
- Do một cá nhân làm chủ, tức là do một người bỏ vốn đầu tư và làmchủ Người đó trở thành chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp Nhưng khôngphải bất kỳ cá nhân nào cũng có quyền thành lập doanh nghiệp mà chỉ nhữngngười thoả mãn điều kiện Luật định mới được quyền thành lập Với tư cách là
Trang 7chủ sở hữu duy nhất, mọi hoạt động của doanh nghiệp tư nhân đều do chủdoanh nghiệp quyết định Chủ doanh nghiệp có thể trực tiếp quản lý, điều hànhdoanh nghiệp hoặc thuê người khác làm Giám đốc, quản lý điều hành doanhnghiệp Nhưng dù có thuê người khác làm Giám đốc thì chủ doanh nghiệp vẫn
có toàn quyền đối với doanh nghiệp và phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về hoạtđộng của doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp vẫn là đại diện trong tranh chấptrước toà
- Tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của mình về mọihoạt động của doanh nghiệp: Tức là chủ doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm
vô hạn về các khoản nợ trong kinh doanh của doanh nghiệp Nếu kinh doanh
bị thua lỗ hay gặp rủi ro, chủ doanh nghiệp sẽ phải chịu trách nhiệm về cáckhoản nợ bằng toàn bộ tài sản của mình, bao gồm cả tài sản bỏ ra kinh doanh
và các tài sản thuộc sở hữu cá nhân khác
- Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân: Doanh nghiệp tưnhân không được thừa nhận có tư cách pháp nhân vì nó không thoả mãn đầy
đủ tất cả các điều kiện của một pháp nhân theo quy định tại điều 94 Bộ luậtdân sự
Doanh nghiệp tư nhân được đăng ký thành lập và chủ doanh nghiệp cóthể thiết lập một cơ cấu tổ chức chặt chẽ nhưng doanh nhiệp tư nhân vẫnkhông được công nhận có tư cách pháp nhân, vì không có sự tách bạch giữatài sản của doanh nghiệp tư nhân và tài sản của chủ doanh nghiệp Chủ doanhnghiệp có thể dùng tài sản của doanh nghiệp để chi dùng cho cá nhân và cóthể dùng các tài sản khác để chi dùng cho doanh nghiệp Do không có sự táchbạch giữa tài sản bỏ ra kinh doanh và các tài sản khác nên chủ doanh nghiệp
tư nhân sẽ phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ của doanhnghiệp
1.1.2 Công ty trách nhiệm hữu hạn
Trang 8Khác với các chủ thể kinh doanh khác, công ty trách nhiệm hữu hạnkhông được hình thành trên cơ sở thực tiễn kinh doanh của các thương gia,
mà nó là sản phẩm của hoạt động lập pháp Tức là, mô hình CTTNHH do cácnhà làm luật xây dựng nên mà trước đó chưa có mô hình trên thực tế Nhưvậy, việc hình thành CTTNHH ngược với sự ra đời của các loại công ty trước
đó là có mô hình trên thực tế và pháp luật chỉ thừa nhận khi quy định vào luật.Theo Luật Doanh nghiệp 1999, CTTNHH ở Việt Nam gồm hai loại:CTTNHH một thành viên và CTTNHH có từ hai thành viên trở lên
Công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên
Theo điều 26 Luật Doanh nghiệp CTTNHH có từ hai thành viên trở lên
là doanh nghiệp trong đó:
- Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sảnkhác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanhnghiệp
Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng cho người kháckhông phải là thành viên nếu các thành viên còn lại của công ty không muahoặc không mua hết
- Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượtquá năm mươi (50)
Từ quy định của luật, chúng ta có thể định nghĩa CTTNHH có từ haithành viên trở lên như sau: CTTNHH là doanh nghiệp có hai đến không quánăm mươi thành viên góp vốn thành lập và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản
nợ trong phạm vi số vốn góp vào công ty
CTTNHH mang các đặc điểm sau:
- Có tư cách pháp nhân CTTNHH có tư cách pháp nhân kể từ ngày đượccấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
- Thành viên công ty không nhiều và thường là quen biết nhau Để trởthành thành viên CTTNHH thì phải có phần vốn góp, mà muốn mua được
Trang 9phần vốn góp thì phải được Hội đồng thành viên hoặc có các thành viên bánvốn góp mà các thành viên khác không mua, điều này rất khó nếu các thànhviên công ty không muốn cho người ngoài gia nhập và thường họ chỉ nhậnnhững người mà họ biết rõ.
- Thành viên có trách nhiệm hữu hạn đối với các khoản nợ của công ty
- Vốn góp được xác định theo tỷ lệ phần trăm Khi thành lập công ty cácthành viên phải góp vốn đúng hạn và đầy đủ Vốn góp của các thành viênphải được ghi nhận thành phần trăm vốn góp vào vốn điều lệ của công ty Cácquyền lợi và nghĩa vụ vật chất của thành viên sẽ được xác định theo tỷ lệ phầnvốn góp như: lợi nhuận của công ty sẽ được phân chia theo tỷ lệ vốn góp; việcphân chia tài sản khi giải thể, phá sản công ty cũng được xác định trên cơ sở
tỷ lệ vốn góp; việc quyết định các chức danh quản lý của công ty
- Thành viên chỉ được chuyển nhượng phần vốn góp cho người khôngphải là thành viên nếu các thành viên còn lại của công ty không mua hoặckhông mua hết
- CTTNHH không được quyền phát hành cổ phiếu
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Theo khoản 1 điều 46 Luật Doanh nghiệp, CTTNHH một thành viên là
DN do một tổ chức làm chủ sở hữu; chủ sở hữu chịu trách nhiệm về cáckhoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của DN trong phạm vi số vốn điều lệcủa DN [1]
Khái niệm trên cho thấy CTTNHH một thành viên mang các đặc điểmsau:
- Một chủ sở hữu, nhưng chủ sở hữu phải là một tổ chức có tư cách phápnhân
- Có tư cách pháp nhân, tài sản của công ty độc lập với tài sản của chủ sởhữu, mặc dù đó là công ty một chủ sở hữu
Trang 10- CTTNHH một thành viên mặc dù cũng là loại hình DN một chủ nhưDNTN, nhưng nó có chế độ pháp lý khác với DNTN xuất phát từ sự khácnhau về chủ thể làm chủ sở hữu DNTN là DN do một cá nhân làm chủ Đã làmột cá nhân thì không thể tách bạch rõ giữa tài sản bỏ ra kinh doanh và cáctài sản khác, còn đối với CTTNHH một thành viên, chủ sở hữu là một phápnhân Một pháp nhân đầu tư để thành lập một DN khác có tư cách pháp nhânthì rõ ràng tài sản giữa hai pháp nhân phải hoàn toàn độc lập với nhau mặc dùmột bên là chủ sở hữu.
- Chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ khác của
DN trong phạm vi số vốn điều lệ của DN
- Chủ sở hữu có quyền chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần vốn điều
lệ của công ty cho tổ chức, cá nhân khác
- Quyền định đoạt là một trong những quyền cơ bản của chủ sở hữu, nênchủ sở hữu có quyền định đoạt số vốn điều lệ đã đầu tư vào công ty Chủ sởhữu CTTNHH một thành viên có thể chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phầnvốn điều lệ của công ty cho tổ chức hoặc cá nhân khác
- Không được quyền phát hành cổ phiếu
1.1.3 Công ty Cổ phần
Theo khoản 1 điều 51 Luật Doanh nghiệp năm 1999 thì Công ty cổ phầnđược định nghĩa như sau:
CTCP là DN trong đó:
- Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần
- Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trongphạm vi số vốn đã góp vào DN
- Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho ngườikhác, trừ cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyểnnhượng cổ phần ưu đãi biểu quyết cho người khác và trong 3 năm đầu, cổphần phổ thông của cổ đông sáng lập có thể chuyển nhượng cổ phần cho
Trang 11người không phải là cổ đông nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổđông và phải đảm bảo các cổ đông sáng lập cùng nhau nắm giữ ít nhất 20%
số cổ phần phổ thông được quyền chào bán
- Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba vàkhông hạn chế số lượng tối đa
Trên cơ sở định nghĩa của Luật, chúng ta có thể định nghĩa ngắn gọn vềCTCP như sau: CTCP là DN mà vốn điều lệ được chia ra làm nhiều phầnbằng nhau gọi là cổ phần do từ ba thành viên trở lên nắm giữ gọi là cổ đông,các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của DNtrong phạm vi số vốn đã góp vào DN [1]
Từ khái niệm trên chúng ta có thể thấy CTCP mang các đặc điểm sau:
- Vốn điều lệ của công ty được chia làm nhiều phần bằng nhau gọi là cổphần Đây là đặc trưng quan trọng nhất của CTCP, là đặc điểm để phân biệtvới CTTNHH và quyết định các vấn đề khác của CTCP như: việc chuyểnnhượng vốn góp, số lượng thành viên, cách thức huy động vốn, cơ cấu tổchức
- CTCP có tài sản riêng độc lập với các chủ thể khác và tài sản của cácthành viên công ty Công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tàisản khác của công ty bằng chính tài sản riêng của mình
- Các thành viên công ty chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn đối với các khoản
nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vàocông ty
- CTCP có tư cách pháp nhân
- CTCP được phát hành các loại chứng khoán ra thị trường để huy độngvốn trong công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán Đây là
Trang 12đặc điểm huy động vốn của CTCP xuất phát từ đặc trưng về vốn CTCP cóthể dễ dàng huy động vốn thông qua việc phát hành cổ phiếu ra thị trường,nhưng pháp luật cũng có quy định chung cho hoạt động phát hành chứngkhoán của CTCP nhằm đảm bảo sự lành mạnh về tài chính của công ty và sự
ổn định của thị trường chứng khoán
1.2 NHẬN THỨC VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở NƯỚC TA
Từ Đại hội lần thứ VI đến Đại hội lần thứ IX của Đảng, nhận thức vềnền kinh tế nhiều thành phần đã không ngừng được phát triển, đồng bộ với sựphát triển về tư duy kinh tế, đổi mới cơ chế quản lý nền kinh tế và hình thànhkhái niệm về mô hình tổng quát nền kinh tế nước ta trên con đường đi lên chủnghĩa xã hội Có thể tổng hợp quá trình vận động của tư duy lý luận và nhậnthức thực tiễn trong Đảng ta qua 4 kỳ Đại hội bằng bảng 1 [28]
Bảng 1: Quá trình vận động của tư duy lý luận và nhận thức thực
tiển qua 4 kỳ đại hội Đảng Đại hội VI
của V.l.Lênin, nền kinh
tế có cơ cấu nhiều thành
phần là một đặc trưng
của thời kỳ quá độ
- Tiếp tục xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và đổi mới cơ chế quản
lý kinh tế.
- Phát huy thế mạnh của các thành phần kinh tế, vừa cạnh tranh vừa hợp tác, bổ sung cho nhau nền kinh tế quốc dân thống nhất.
- Thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần
- Thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh
tế nhiều thành phần.
- Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều
là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng
Trang 13xã hội chủ nghĩa Số
tế phi xã hội chủ nghĩa :
tiểu sản xuất hàng hóa,
kinh tế tư bản tư nhân,
kinh tế tư bản Nhà
nước, kinh tế tự nhiên,
tự cấp, tự túc.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội xác định
5 thành phần kinh tế :
- Kinh tế quốc doanh;
Xác định 5 thành phần kinh tế :
- Kiểm tra Nhà nước;
- Kinh tế hợp tác;
- Kinh tế tư bản Nhà nước ;
- Kiểm tra cá thể, tiểu chủ;
- Kinh tế tư bản
tư nhân.
Xác định 6 thành phần kinh tế :
- Kinh tế Nhà nước ;
- Kinh tế tập thể ;
- Kinh tế cá thể, tiểu chủ;
- Kinh tế tư bản tư nhân;
- Kinh tế tư bản Nhà nước ;
- Phân biệt sở hữu Nhà nước với hình thức doanh nghiệp Nhà nước.
- Khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước.
- Doanh nghiệp Nhà nước được xác định quy mô vừa và lớn, công nghệ tiến bộ, kinh doanh có hiệu quả, tạo nguồn thu lớn cho ngân sách.
- Khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước.
- Doanh nghiệp Nhà nước giữ những vị trí then chốt, đi đầu trong ứng dụng tiến
bộ khoa học và công nghệ; nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh
tế - xã hội và chấp hành pháp luật.
- Cơ chế thị trường có sự quản
lý của Nhà nước.
Cơ chế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước.
Trang 14cứ của kế hoạch hóa.
- Thị trường vừa
là đối tượng, vừa
là căn cứ của kế hoạch hóa.
đi lên chủ nghĩa xã hội
(Hội nghị Trung ương
sáu, khóa VI, 3-1989)
Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
Nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa.
Trong các văn kiện của Đảng, việc xác định các thành phần kinh tế trongnền kinh tế Việt Nam đã có nhiều thay đổi, trong đó kinh tế tư nhân từ chỗ bịphủ nhận đã được thừa nhận là một bộ phận cấu thành quan trọng trong nềnkinh tế quốc dân Từ Đại hội VI đến Đại hội IX đều khẳng định sự tồn tại củacác thành phần kinh tế thuộc kinh tế tư nhân tuy dưới các tên gọi, cách phânchia khác nhau Đại hội IX khẳng định: các thành phần kinh tế của Việt Namgồm kinh tế Nhà nước; kinh tế tập thể; kinh tế cá thể, tiểu chủ; kinh tế tư bản
tư nhân; kinh tế tư bản Nhà nước; và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Sựkhuyến khích kinh tế tư nhân phát triển được thể hiện khá rõ trong Văn kiệnHội nghị Trung ương lần thứ năm khóa IX: “Kinh tế tư nhân là một bộ phậncấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân Phát triển kinh tế tư nhân làvấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định
Trang 15hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụtrung tâm là phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao nộilực của đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế” Như vậy, cho đến nay, vềmặt quan điểm, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã khẳng định sự có mặt củakhu vực kinh tế tư nhân không chỉ là sự tồn tại khách quan trong khi pháttriển kinh tế thị trường, mà còn là sự cần thiết để huy động mọi nguồn lực cho
sự phát triển, đi đúng hướng kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế.Xuất phát từ quan điểm trên, các cơ chế chính sách của Nhà nước đối vớiphát triển kinh tế tư nhân trong những năm qua đã có sự chuyển hướng rõ rệt.Khu vực kinh tế này bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tưnhân, hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanhnghiệp của tư nhân, chủ yếu hoạt động thông qua Luật doanh nghiệp tư nhân(1990), Luật Công ty (1990), Luật khuyến khích đầu tư trong nước sửa đổi(1998) và Luật doanh nghiệp (2000) (Luật doanh nghiệp đã thay thế Luậtdoanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty từ 1.1.2000)
Trong gần 20 năm qua (từ năm 1986), bảng phân loại thành phần kinh tếtrong công tác thống kê đã được xây dựng và điều chỉnh 3 lần tương ứng vớitừng giai đoạn cụ thể [28]
Giai đoạn 1986 - 1990
Trong thời kỳ này, mặc dù Nghị quyết Đại hội VI của Đảng - Đại hộiđánh dấu sự nghiệp đổi mới tư duy kinh tế của Đảng - đã khẳng định trongđiều kiện kinh tế của nước ta, các thành phần kinh tế: cá thể, tiểu chủ, tư bản
tư nhân vẫn cần thiết lâu dài cho nền kinh tế , nhưng về phía Nhà nước vẫnchưa cụ thể hóa các hình thức hoạt động của các thành phần kinh tế nên trongcông tác thống kê, các thành phần kinh tế được phân loại vẫn dựa trên cáchình thức và cơ sở kinh tế tồn tại trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung Cụ thểgồm có các hình thức và thành phần như sau:
Trang 16- Kinh tế Nhà nước: Bao gồm các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh,các Công ty kinh doanh thương nghiệp, xí nghiệp vận tải, xây dựng và dịch
vụ phục vụ đời sống của Nhà nước Thành phần kinh tế này chiếm tỷ trọnglớn trong thu nhập quốc dân và thu ngân sách của Thành phố
- Kinh tế tập thể: Bao gồm các Hợp tác xã sản xuất kinh doanh cácngành nghề, các tổ hợp tác Thành phần kinh tế này cũng đóng một vai tròquan trọng trong phát triển sản xuất và phục vụ đời sống nhân dân trong thời
kỳ này
- Kinh tế cá thể, tiểu chủ: Bao gồm các hộ cá thể sản xuất các ngànhnghề tiểu thủ công nghiệp, tiểu thương kinh doanh buôn bán và dịch vụ ănuống, phục vụ đời sống Thành phần kinh tế này cũng đóng góp một phầnkhông nhỏ trong công cuộc phát triển kinh tế thời kỳ này
Giai đoạn 1991-2000
Thời kỳ này đánh dấu sự phát triển mạnh của các thành phần kinh tếtrong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Trong thời kỳ này, bướcphát triển của các thành phần kinh tế thể hiện như sau:
Tiếp tục đường lối đổi mới được khởi xướng từ Đại hội VI của Đảng,Đại hội Đảng lần thứ VII (năm 1991), lần thứ VIII (1996) đều khẳng định:nền kinh tế nước ta phát triển với 5 thành phần kinh tế, đó là: Kinh tế Nhànước (Đại hội VII gọi là kinh tế quốc doanh), kinh tế hợp tác, kinh tế tư bảnNhà nước, kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân Khu vực kinh tế
có vốn đầu tư nước ngoài chỉ là một bộ phận của kinh tế tư bản Nhà nước
Giai đoạn từ 2001 đến nay
Đại hội lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định rõ trongnền kinh tế thời kỳ quá độ của nước ta, có 6 thành phần kinh tế cùng đượckhuyến khích phát triển, đó là: kinh tế Nhà nước; kinh tế tập thể; kinh tế cáthể, tiểu chủ; kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản Nhà nước; kinh tế có vốnđầu tư nước ngoài
Trang 17Về phía Nhà nước, ngay từ khi ban hành Luật doanh nghiệp (có hiệu lực
từ 1.1.2000), đã có hành lang pháp lý cho việc ra đời nhiều pháp nhân với cáchình thức sở hữu vốn đa dạng, đồng thời cũng có nhiều văn bản pháp quynhằm đẩy mạnh sắp xếp lại hệ thống doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệpcủa các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội theo hướng đa dạng hóa các hìnhthức nhằm phát huy tối đa mọi nguồn vốn của xã hội vào quá trình phát triểnđất nước Trước những chính sách thay đổi trên, bảng phân loại thống kê vềloại hình và thành phần kinh tế cũng được thay đổi cho phù hợp và cụ thể nhưsau :
- Kinh tế Nhà nước: Bao gồm các doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệpcủa các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các loại hình doanhnghiệp mà Nhà nước chiếm giữ cổ phần chi phối hoặc chiếm giữ 100% vốn;các đơn vị, cơ quan Nhà nước, cơ quan thuộc các tổ chức chính trị, chính trị -
xã hội, xã hội nghề nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực hành chính, sựnghiệp
- Kinh tế tập thể: bao gồm các tổ chức hoạt động theo nguyên tắc hợptác, vốn hoạt động do các thành viên cùng đóng góp
- Kinh tế cá thể : bao gồm các hộ sản xuất kinh doanh dịch vụ hoạt độngtrong các lĩnh vực của nền kinh tế, không tham gia Hợp tác xã được thành lậptheo Luật Hợp tác xã và chưa đăng ký thành lập doanh nghiệp
- Kinh tế tư nhân: bao gồm toàn bộ hoạt động của các doanh nghiệp đanghoạt động theo Luật doanh nghiệp mà vốn chủ sở hữu là của các thế nhânhoặc pháp nhân trong nước, vốn đó có thể là của tư nhân, của một pháp nhânkhông phải Nhà nước hoặc của một pháp nhân mà vốn Nhà nước < 50% vốn
cổ phần hoặc Nhà nước không nắm cổ phần chi phối hoặc cổ phần đặc biệt.Thành phần kinh tế này bao gồm :
+ Doanh nghiệp tư nhân được thành lập và hoạt động theo Luật doanhnghiệp
Trang 18+ Công ty trách nhiệm hữu hạn có một thành viên mà chủ sở hữu vốnkhông phải là Nhà nước; hoặc Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viêntrở lên là thể nhân và pháp nhân không phải Nhà nước được thành lập và hoạtđộng theo Luật doanh nghiệp.
+ Công ty cổ phần mà các bên góp cổ phần là tư nhân hoặc Công ty cổphần được cổ phần hóa từ doanh nghiệp Nhà nước mà Nhà nước giữ cổ phần
< 50% hoặc không nắm giữ cổ phần chi phối hoặc cổ phần đặc biệt đượcthành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp
+ Công ty hợp danh được thành lập và hoạt động theo Luật doanhnghiệp
- Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: thành phần này bao gồm các doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động theo Luật đầu tư nước ngoài tạiViệt Nam hình thành một pháp nhân mới và các tổ chức quốc tế và văn phòngđại diện các cơ quan nước ngoài tại Việt Nam
1.3 VỊ TRÍ VAI TRÒ CỦA KINH TẾ TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM
Lịch sử phát triển kinh tế thế giới đã cho thấy: chưa có nước nào thànhcông trong phát triển kinh tế thị trường lại thiếu vắng khu vực kinh tế tư nhân.Kinh tế tư nhân như một động lực thúc đẩy sự phát triển của kinh tế hàng hoá,kinh tế thị trường Ngược lại kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường chính là môitrường hoạt động và phát triển của nhiều thành phần kinh tế, trong đó có kinh
tế tư nhân
Trước thời kỳ đổi mới, giai đoạn khôi phục kinh tế ở miền Bắc 1957), Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam đã chủ trương duytrì và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó có kinh tế cá thể, tiểuchủ và tư bản tư nhân Nghị quyết Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Namtháng 9-1954 xác định "phải hết sức coi trọng công tác phục hồi công thươngnghiệp, làm cho các xí nghiệp công tư hiện có tiếp tục kinh doanh" Nhờ có
Trang 19(1955-chính sách đúng đắn đó, kinh tế miền Bắc Việt Nam đã khôi phục nhanhchóng, kinh tế cá thể tiểu chủ và tư bản tư doanh phát triển rầm rộ Năm
1955 công nghiệp tư doanh và tiểu thủ công nghiệp ở miền Bắc có tới 51.688
cơ sở với 128.622 công nhân Năm 1956 đã tăng lên thành 54.985 cơ sở với161.241 công nhân Trong giai đoạn này thương nghiệp tư nhân chiếm tỉtrọng khá cao, 71,8% tổng mức bán buôn và 79,7% tổng mức bán lẻ
Từ 1958 Việt Nam chuyển sang thời kỳ phát triển kinh tế với mục tiêu làxây dựng chủ nghĩa xã hội Trong thời gian này với quan niệm cho rằng chủnghĩa xã hội là công hữu hoá về tư liệu sản xuất, là sự thống trị của kinh tếquốc doanh và kinh tế tập thể Vì vậy Đảng và Nhà nước Việt Nam đã đặt ranhiệm vụ là phải cơ bản hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với côngthương nghiệp tư bản tư doanh, tiểu thủ công nghiệp, cũng như với nhữngngười làm ăn cá thể Trong những năm 1958-1960 có thể nói thành phần kinh
tế tư bản tư nhân ở miền Bắc Việt Nam đã bị xoá bỏ hoàn toàn
Tình hình như vậy đưa đến kinh tế tư nhân không được tôn trọng về mặt
xã hội Một tâm lý xã hội đã được hình thành ở Việt Nam lúc bấy giờ là khinhghét những người làm kinh tế tư nhân Luật pháp không đảm bảo cho tư nhânquyền tự do kinh doanh, tự do lập nghiệp
Mặc dù trong hoàn cảnh như vậy, kinh tế tư nhân vẫn tồn tại và cónhững đóng góp quan trọng vào nền kinh tế quốc dân Kế hoạch 5 năm 1976-
1980 chủ trương tiếp tục công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nhữngngười sản xuất nhỏ ở miền Bắc và triển khai mạnh mẽ ở miền Nam Việt Nam,nhưng trong công nghiệp vẫn có trên 60 vạn người sản xuất cá thể, chiếm20% tổng số lao động ngành công nghiệp và tạo ra khoảng trên dưới 15% giátrị sản lượng toàn ngành Số người kinh doanh thương nghiệp trong nhữngnăm 80 ở mức 60 vạn Trong nông nghiệp, hộ nông dân là xã viên hợp tác xãnông nghiệp thu nhập từ kinh tế tập thể thường chỉ chiếm 30- 40%, kinh tếphụ gia đình - thực chất là khu vực kinh tế tư nhân - chiếm từ 60- 70%
Trang 20Cùng với những diễn biến đó trong thực tiễn phát triển kinh tế tư nhân ởViệt Nam, thì tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng từng bướcbiến đổi theo Tiến trình này được thể hiện qua các kỳ Đại hội của Đảng Cụthể:
Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 12-1986) đã đánh dấumột bước ngoặt trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội đồng thời cũngđánh dấu một bước ngoặt đối với sự phát triển của kinh tế tư nhân
Với tư duy Đổi mới, Đại hội đã xác định cải tạo xã hội chủ nghĩa lànhiệm vụ thường xuyên, liên tục trong suốt thời kỳ quá độ với những hìnhthức và bước đi thích hợp, cần có chính sách sử dụng và cải tạo đúng đắn cácthành phần kinh tế Phải phát triển cơ cấu kinh tế nhiều thành phần và coi đó
là giải pháp có ý nghĩa chiến lược lâu dài nhằm giải phóng mọi năng lực sảnxuất và khai thác mọi tiềm năng của đất nước
Để triển khai các quan điểm của Đại hội VI, Đảng và Nhà nước còn banhành các nghị quyết, các bộ luật, các văn bản nhằm định hướng và tạo môitrường pháp lý cho sự phát triển của kinh tế tư nhân Điển hình là: Nghị quyết
15 của Bộ Chính trị ngày 15 tháng 7 năm 1988 về đổi mới chính sách và cơchế quản lý đối với các cơ sở kinh tế ngoài quốc doanh; Luật Doanh nghiệp
tư nhân và Luật Công ty được Quốc hội thông qua ngày 21-12-1990
Đại hội lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam một lần nữa lại khẳngđịnh sự nhất quán đối với chính sách kinh tế nhiều thành phần Đại hội đã xácđịnh cơ cấu các thành phần kinh tế ở Việt Nam bao gồm: kinh tế quốc doanh,kinh tế tập thể, kinh tế cá thể và tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tưbản nhà nước, xác định rõ hơn quan điểm của Đảng đối với kinh tế tư nhân là:kinh tế cá thể và kinh tế tư bản tư nhân được khuyến khích và phát triển,không hạn chế việc mở rộng kinh doanh và có thể áp dụng nhiều hình thứcliên doanh với các doanh nghiệp khác trong các ngành nghề mà Nhà nước vàpháp luật không cấm Tiếp đó Quốc hội đã thông qua các luật mới có liên
Trang 21quan chặt chẽ với sự phát triển của kinh tế tư nhân như: Luật Đất đai, LuậtPhá sản, Luật Lao động, Luật Đầu tư trong nước
Đến Đại hội VIII Đảng Cộng sản Việt Nam, một lần nữa đã làm rõ thêmquan điểm đẩy mạnh phát triển kinh tế tư nhân, đặc biệt trong lĩnh vực sảnxuất, theo sự quản lý, hướng dẫn của Nhà nước, trong đó kinh tế cá thể vàtiểu chủ có phạm vi hoạt động tương đối rộng ở những nơi chưa có điều kiện
tổ chức kinh tế tập thể, hướng dẫn tư bản tư nhân phát triển theo con đường tưbản Nhà nước dưới nhiều hình thức
Báo cáo chính trị tại Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam lại mộtlần nữa khẳng định "Thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tếnhiều thành phần Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộphận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa" [3] Đối với kinh tế tư nhân, Đại hội xác định: "Kinh tế cá thể, tiểu chủ
cả ở nông thôn và thành thị có vị trí quan trọng lâu dài Nhà nước tạo điềukiện và giúp đỡ để phát triển Khuyến khích phát triển kinh tế tư bản tư nhânrộng rãi trong những ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật khôngcấm Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý để kinh tế
tư bản tư nhân phát triển trên những định hướng ưu tiên của Nhà nước Xâydựng quan hệ tốt giữa chủ doanh nghiệp và người lao động”
Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá IX đã ra Nghịquyết 05-NQ/TW "Về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích vàtạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân" [3] Trên cơ sở đánh giá tình hình,Nghị quyết đã xác định phương hướng, giải pháp nhằm tạo điều kiện thuậnlợi, hỗ trợ, khuyến khích tối đa sự phát triển kinh tế tư nhân ở những ngành,những lĩnh vực mà luật pháp không cấm, đồng thời chú trọng nâng cao hiệuquả quản lý nhà nước đối với hoạt động của kinh tế tư nhân, đảm bảo định
Trang 22hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế nhằm đáp ứng tốt hơn các yêu cầucủa hội nhập kinh tế quốc tế và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Trong thời kỳ đổi mới, Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều chínhsách, biện pháp để phát triển kinh tế tư nhân Hơn 15 năm đổi mới vừa qua,kinh tế tư nhân ở Việt Nam bao gồm kinh doanh cá thể, tiểu chủ và tư bản tưnhân hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanhnghiệp của tư nhân như doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn,công ty cổ phần, công ty hợp danh đã phát triển nhanh và đã thu hút đượcđông đảo các tầng lớp dân cư tham gia
Cùng với kinh tế cá thể, tiểu chủ, các doanh nghiệp tư nhân, công tytrách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần có sự phát triển rất nhanh Từ 132doanh nghiệp năm 1991 lên đến 70.000 doanh nghiệp năm 2001 Trong cơ cấu các loại hình doanh nghiệp đã đăng ký kinh doanh, sốlượng doanh nghiệp tư nhân chiếm tỷ trọng lớn nhất: 58,76%; công ty tráchnhiệm hữu hạn chiếm 38,68%, còn lại là công ty cổ phần và hợp doanh Qua
số liệu thống kê, khu vực kinh tế tư nhân nói chung và doanh nghiệp tư nhânnói riêng hoạt động tập trung trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ Cụ thể, sốdoanh nghiệp kinh doanh thương mại và dịch vụ chiếm 59,34%, còn lại là cácngành khác như xây dựng, giao thông vận tải chiếm tỷ trọng 17,03% Trongtổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ xã hội, năm 1990 kinh tế tư nhân chiếm
tỷ trọng 69,9% đến năm 1998 tăng lên 78%
Quy mô của các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân ở ViệtNam hiện nay chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa Số doanh nghiệp lớn cònrất hiếm Trong các doanh nghiệp phi nông nghiệp, số doanh nghiệp có dưới
200 lao động chiếm 97,7%, số doanh nghiệp có vốn thực tế sử dụng dưới 10
tỷ đồng chiếm 94,9% [28]
Trang 23Nhìn một cách khách quan, sự hồi sinh và phát triển khu vực kinh tế tưnhân ở Việt Nam trong quá trình đổi mới chuyển sang nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa đã góp phần đáng kể vào phát triển kinh tế, huyđộng các nguồn lực xã hội cho sản xuất kinh doanh, tạo thêm việc làm, cảithiện đời sống nhân dân, tăng ngân sách Nhà nước, thực hiện mục tiêu dângiàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
1.4 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN
Kinh tế tư nhân chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như chính sách củaNhà nước, thị trường, vốn đầu tư, nguồn nhân lực Các yếu tố này tác độngtới sự phát triển của Kinh tế tư nhân không phải một cách riêng lẻ mà trongmột thể thống nhất mang tính hệ thống chặt chẽ Giữa các yếu tố có mối quan
hệ mật thiết với nhau Chính vì thế cần nghiên cứu kỹ các yếu tố trong nhữngđiều kiện nhất định để từ đó có sự tác động thích hợp tạo ra các mối tươngquan hợp lý nhằm thúc đẩy Kinh tế tư nhân phát triển một cách hiệu quả nhấttrong những điều kiện nguồn lực nhất định
1.4.1 Chính sách của Nhà nước
Trong quản lý Nhà nước, quản lý Nhà nước về kinh tế giữ vị trí đặc biệtquan trọng, bởi vì lịch sử phát triển kinh tế thế giới đã khẳng định rằng khôngkhi nào và không ở đâu có Nhà nước phi kinh tế, đứng bên trên hay bên ngoàikinh tế Các hoạt động của Nhà nước (người đại diện trực tiếp là Chính phủ)đều hoặc là tác động thúc đẩy hoặc là kìm hãm sự vận động của nền kinh tế;mặt khác bất cứ nhà nước nào cũng đều có vai trò quản lý nền kinh tế quốcdân thông qua các công cụ quản lý và can thiệp bằng thể chế, chính sách đểđiều khiển nền kinh tế sao cho nền kinh tế tự thân vận động nhằm đạt tới mụctiêu mong muốn và theo quỹ đạo đã lựa chọn
Thật vậy, hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước có ảnh hưởngrất lớn tới sự phát triển hay suy vong của các doanh nghiệp khu vực kinh tế tư
Trang 24nhân Các cơ chế chính sách phát triển khu vực kinh tế tư nhân chưa đồng bộ,chưa nhất quán, gây những khó khăn, vướng mắc nhất định cho các doanhnghiệp tư nhân Chẳng hạn, những quy định về việc vay vốn của các doanhnghiệp không có tài sản thế chấp là phải đảm bảo có lãi trong hai năm liền làkhông phù hợp với những doanh nghiệp mới thành lập Những thay đổithường xuyên về chính sách thuế nhập khẩu cũng gây bị động và thiệt hại chocác doanh nghiệp tư nhân Khung giá nhà đất để định giá tài sản thế chấpchưa phù hợp và chưa được thị trường hóa Những quy định về thuế thu nhậpdoanh nghiệp đang gặp nhiều vướng mắc về xác định chi phí hợp lý để tínhthuế (chẳng hạn như chi phí tiền lương, tiền công) dẫn đến xác định lợi nhuậnkhông thực tế Thuế giá trị gia tăng còn tạo nhiều sơ hở cho việc trốn, lậuthuế Chế độ kế toán, kiểm toán, còn nhiều phức tạp, không phù hợp và thiếulinh hoạt khi áp dụng cho các loại hình doanh nghiệp nhỏ Các doanh nghiệp
tư nhân còn gặp rất nhiều khó khăn trong việc vay tín dụng ưu đãi vì khônghiểu biết về thủ tục vay và hoàn thiện hồ sơ vay Tất cả những khó khăn đóđang là lực cản đối với các doanh nghiệp tư nhân khi tham gia hoạt động đầu
tư, sản xuất kinh doanh ở Việt Nam
Có thể khẳng định rằng, trong nền kinh tế thị trường và toàn cầu hóahiện nay, nền kinh tế đất nước nói chung và Kinh tế tư nhân nói riêng có pháttriển được hay trì trệ suy thoái là tùy thuộc rất lớn vào định hướng và cácchính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước Nếu không có định hướng đúng đắn,không có các chính sách phù hợp với quy luật, phù hợp với lòng dân thìchúng ta sẽ không thể đạt được những mục tiêu đã định trước Hơn nữa, khi
đã có các chính sách đúng, thì việc vận dụng và tổ chức thực hiện chính sáchcũng như việc khắc phục những mặt trái, kẽ hở của chính sách là việc làm có
ý nghĩa thực tiễn to lớn quyết định sự thành công của chính sách
1.4.2 Môi trường đầu tư
Trang 25Cơ chế và bộ máy hành chính quan liêu, cơ cấu quản lý phức tạp làmcho việc ra đời và phát triển các doanh nghiệp tư nhân còn gặp nhiều khókhăn Trước hết là hệ thống các văn bản pháp luật quá phức tạp và phân biệtđối xử Hiện nay chúng ta có đến 5 luật khác nhau: Luật doanh nghiệp Nhànước áp dụng cho các doanh nghiệp Nhà nước, Luật doanh nghiệp áp dụngcho các doanh nghiệp tư nhân và hộ gia đình, Luật Hợp tác xã áp dụng chocác doanh nghiệp tập thể, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam áp dụng chocác doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Luật khuyến khích đầu tư trongnước áp dụng cho các nhà đầu tư trong nước Như vậy, trong luật pháp đã có
sự phân biệt giữa doanh nghiệp Nhà nước với doanh nghiệp tư nhân, giữadoanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài Thủ tục hành chínhrườm rà và quá nhiều quy định cũng là một trở ngại, không những tạo ra kẽ
hở cho nạn tham nhũng, mà còn cản trở đầu tư tư nhân Con số thống kê củaPhòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho thấy hiện nay có tới 140văn bản khác nhau về thanh tra, kiểm tra và có đến 30 loại hình hoạt độngthanh tra, kiểm tra doanh nghiệp Doanh nghiệp có số lần kiểm tra nhiều nhất
là 170 lần; trung bình là 10 lần Mặc dù một số loại giấy phép đã được loại
bỏ, nhưng trong thời gian gần đây đã có hơn chục văn bản pháp luật được banhành có nội dung không phù hợp với Luật doanh nghiệp, hoặc việc đặt ra cácloại giấy phép mới, khôi phục lại các loại giấy phép cũ dưới hình thức khác,hoặc đặt ra những điều kiện hành chính mới Sự chồng chéo, phức tạp trênđang tạo ra nhiều sơ hở và yếu kém về mặt quản lý hành chính, gặm nhấmdần tính hiệu lực của Luật doanh nghiệp, phục hồi và phát triển thêm cơ chếxin - cho, gây mất lòng tin cho các doanh nghiệp
1.4.3 Đất đai và mặt bằng sản xuất kinh doanh
Khả năng tiếp cận đất đai vẫn đang là một trong những rào cản lớn nhấttác động đến sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam Luật Đấtđai được sửa đổi thông qua tháng 10/2003 có cải thiện tình trạng này, song
Trang 26trên thực tế khả năng tiếp cận đất đai của khu vực tư nhân vẫn còn khó khăn
do vấn đề khan hiếm quỹ đất, chi phí, thủ tục hành chính
Trên thực tế, 100% đất thành thị và nông nghiệp hiện nay đã được giaocho các cá nhân hoặc tổ chức sản xuất ổn định, hoàn toàn không còn đất đểkhông Vì vậy, nguồn duy nhất cho các doanh nghiệp cần đất mới chỉ có thể
là xin chính quyền tỉnh phê duyệt cho thuê đất (chủ yếu trong các khu côngnghiệp) hoặc mua, thuê lại trực tiếp từ những người hiện đang có đất Tuynhiên, để doanh nghiệp tư nhân có thể tiếp cận đất bằng cách xin UBND tỉnhcho thuê đất là việc khó khăn và có thể mất vài năm Những khó khăn đó đãlàm hạn chế khả năng huy động đất hiệu quả và dẫn đến tình trạng thiếu hụtnghiêm trọng đất công nghiệp, trong khi vẫn còn khá nhiều đất chưa sử dụnghết được quy hoạch sử dụng vào những mục đích khác Giải pháp tình thế chocác doanh nghiệp tư nhân hiện nay là mua hoặc thuê lại từ những người sửdụng hiện tại Tuy nhiên cũng rất khó tiếp cận đất đai bằng cách này bởi đa sốngười sử dụng những diện tích đất công nghiệp thích hợp là DNNN vốnkhông có động cơ cũng như hành lang pháp lý hợp pháp để chuyển nhượngcho doanh nghiệp tư nhân thuê lại đất Song hình thức này lại có nguy cơ rấtlớn ở chỗ trong tương lai đất này có thể bị trưng thu nếu chính quyền cấp caohơn có kế hoạch sử dụng đất vào mục đích khác Bên cạnh đó, vì DNNNkhông thể cho thuê lại tài sản một cách chính thức nên họ không thể cung cấphoá đơn chính thức Do đó, các doanh nghiệp tư nhân không thể kê khai tiềnthuê nhà vào chi phí kinh doanh Một rủi ro khác mà các doanh nghiệp tưnhân có thể phải chịu đó là bất kể chủ cho thuê là DNNN hay tư nhân thì hìnhthức thuê kiểu này thường ngắn hạn và không ổn định Thời hạn thuê thôngthường là một năm, không đảm bảo năm sau có tiếp tục hay không Cá biệt,
có nhiều chủ cho thuê hiểu những khó khăn của doanh nghiệp khi phải dichuyển địa điểm (mất liên hệ với khách hàng, mất vị trí kinh doanh thuận lợi,mất khoản tiền đầu tư cơ sở vật chất, văn phòng ) còn lợi dụng để tăng giá
Trang 27thuê bất hợp lý Vì vậy, việc tạo điều kiện thuận lợi hoặc khuyến khích đầu
tư tư nhân trong lĩnh vực xây dựng diện tích văn phòng cho các công ty tưnhân thuê với vị trí thuận tiện, giá cả hợp lý sẽ là hình thức thiết thực màChính phủ có thể làm để giúp đỡ các doanh nghiệp địa phương
1.4.4 Thị trường
Thị trường chính là môi trường sống còn của các doanh nghiệp Thôngqua thị trường, các sản phẩm hàng hóa được thừa nhận hay không thừa nhận,thị trường có khả năng điều tiết, kích thích các hoạt động sản xuất và tiêudùng cũng như cung cấp những thông tin về các sản phẩm hàng hóa cho cảkhách hàng và người sản xuất Còn C.Mác khi bàn về thị trường đã viết: “Thịtrường nghĩa là lĩnh vực trao đổi, mở rộng ra thì quy mô sản xuất cũng tănglên, sự phân công lao động cũng sâu sắc hơn” [22] Trong điều kiện máy móc,trang thiết bị lạc hậu , vấn đề thị trường càng trở nên bức xúc hơn Như vậy,thị trường luôn là yếu tố quyết định cho sự phát triển kinh tế đặc biệt là Kinh
Thông tin về thị trường trong nước cũng như thị trường quốc tế còn hạnchế là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sức cạnh tranh kém và
bỏ lỡ nhiều cơ hội kinh doanh của các doanh nghiệp tư nhân
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, để mở rộng thị trường,đáp ứng yêu cầu cạnh tranh cần hiểu biết về thông tin thị trường, chính sáchxuất khẩu của Nhà nước, chất lượng sản phẩm, thương hiệu và điều cần quantâm hơn cả là quy cách chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn xuất khẩu quốc
tế Trong khi đó, hiện nay nhiều doanh nghiệp tư nhân tỏ ra lúng túng hoặc
Trang 28mơ hồ về những tiêu chuẩn chất lượng, rào cản kỹ thuật và thông tin thịtrường xuất khẩu
- Thị trường cung cấp vật tư, máy móc thiết bị đầu vào còn phụ thuộcnhiều vào bên ngoài Chính sự phụ thuộc này khiến cho các doanh nghiệp tưnhân không chủ động trong sản xuất, kinh doanh của mình
- Quản lý Nhà nước đối với thị trường còn bị buông lỏng và nhiều bấtcập Hàng hoá lưu thông trên thị trường hiện nay rất phong phú, đa dạng.Người tiêu dùng có thể lựa chọn bất cứ hàng hoá nào phù hợp với yêu cầu củamình Tuy nhiên, sự kiểm tra, kiểm soát hàng hoá lưu thông trên thị trường,nhất là của các doanh nghiệp tư nhân bị buông lỏng và rất yếu kém Tìnhtrạng hàng nhái, hàng giả khá phổ biến Sự vi phạm bản quyền, vi phạm bảo
hộ sở hữu công nghiệp đã trở thành vấn đề trong các tệ nạ xã hội Nhiềudoanh nghiệp bị phá sản, hàng hoá khong tiêu thụ được, đình trệ sản xuất dotình trạng xâm phạm bản quyền và sở hữu công nghiệp
1.4.5 Vốn đầu tư
Vốn là một nhân tố cơ bản không thể thiếu của quá trình sản xuất kinhdoanh Nhờ có vốn mới có thể kết hợp được lao động với những tiềm năngkinh tế hiện thực để tạo ra quá trình sản xuất kinh doanh Điều này đã đượcnhiều học giả nghiên cứu và đã được thực tế chứng minh
J M Keynes trong “Lý thuyết đầu tư và mô hình số nhân” đã chứngminh rằng đầu tư sẽ bị bù đắp những thiếu hụt của “cầu tiêu dùng”, từ đó làmtăng việc làm, tăng thu nhập, tăng hiệu quả “cận biên” của tư bản và kíchthích sản xuất phát triển Bổ sung cho lý thuyết “số nhân”, các nhà kinh tế Mỹđưa ra thuyết “Gia tốc”; lý thuyết này chứng minh mối liên hệ giữa tăng sảnlượng sẽ làm đầu tư tăng lên như thế nào và sau đó đầu tư sẽ làm tăng sảnlượng với nhịp độ nhanh hơn Còn Harrod-Domar cũng đưa ra mô hình đểxem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng và nhu cầu về vốn bằng việc xác định
Trang 29hệ số ICOR (hệ số gia tăng vốn đầu ra) Theo Harrod-Domar thì muốn tăngtrưởng ở một mức nào đó thì phải cần tới một lượng đầu tư nhất định, lượngđầu tư này ít phụ thuộc vào hệ số gia tăng đầu ra (ICOR) Thực tế các nướcNICs đã có một chiến lược đầu tư cao được thực hiện trong những năm đầucông nghiệp hóa, có nước đạt 40% GDP như Singapore, các nước còn lại trên30% GDP, và kết quả là họ đã đạt được một tốc độ tăng trưởng “thần kỳ” đưa
họ trở thành những nước công nghiệp mới Nhưng vấn đề ở chỗ là đầu tư vàođâu, lấy ở đâu ra vốn để đầu tư và đầu tư vào ngành nào, đầu tư như thế nàođang là vấn đề bức bách hiện nay
Khu vực kinh tế tư nhân còn gặp rất nhiều khó khăn về vốn, trong khichính sách đầu tư- tín dụng Nhà nước cho khu vực kinh tế tư nhân còn nhiềubất cập Mặc dù, vốn đầu tư của khu vực kinh tế tư nhân ngày càng tăngtrưởng và chiếm tỷ trọng lớn hơn trong tổng đầu tư xã hội song về phươngdiện vốn đầu tư khu vực kinh tế tư nhân đang đối diện với nhiều khó khăn,
mà nổi bật là quy mô vốn nhỏ, cơ cấu vốn thiếu cân đối và chưa linh hoạt Tàisản chủ yếu của các doanh nghiệp tư nhân thường dưới dạng bất động sản,tính thanh khoản thấp Vốn chủ sở hữu thường không lớn trong tổng vốn kinhdoanh của doanh nghiệp
Chính sách đầu tư - tín dụng của Nhà nước thực hiện trong thời gian quavẫn còn nhiều bất cập, chưa thực sự hướng đến khu vực kinh tế tư nhân, thểhiện qua một số khía cạnh như:
Thứ nhất, chính sách phân bổ nguồn vốn từ ngân sách chưa chú ý tới khu
vực kinh tế ngoài nhà nước
Thứ hai, các cơ hội và điều kiện tín dụng chính thức chưa tạo thuận lợi
cho các doanh nghiệp, đơn vị kinh doanh trong khu vực kinh tế tư nhân
Trang 30Thứ ba, khả năng đáp ứng nhu cầu tín dụng trung và dài hạn của ngân
hàng cũng còn rất hạn chế, một phần do sự co hẹp nguồn vốn tự có của ngânhàng, một phần do các khoản nợ quá hạn đang tăng lên
Thứ tư, khu vực kinh tế tư nhân rất khó tiếp cận đối với các nguồn vốn
đầu tư từ nước ngoài Hiện nay, các đối tác Việt nam tham gia trong các công
ty liên doanh chủ yếu là các doanh nghiệp Nhà nước Pháp luật hiện nay chưacho phép các nhà đầu tư nước ngoài sở hữu cổ phần trong các doanh nghiệp
tư nhân của Việt Nam
1.4.6 Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực có vai trò quan trọng quyết định đối với sự phát triểnnền kinh tế - xã hội nói chung và Kinh tế tư nhân nói riêng Chính vì vậy, Banchấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã giành riêng một kỳ hội nghị để bàn
về vấn đề giáo dục và đào tạo nhằm phát triển nguồn nhân lực
Hiện nay, nguồn nhân lực cho Kinh tế tư nhân rất dồi dào nhưng chấtlượng chưa cao, sử dụng nguồn nhân lực chưa được hợp lý và có hiệu quả.Đặc biệt, nguồn nhân lực cho Kinh tế tư nhân vẫn còn thấp, cơ cấu chưa hợp
lý Theo TS.Lê Mạnh Hùng thì đến năm 1998 cả nước vẫn có 14% lao độngchưa qua đào tạo với cơ cấu bất hợp lý là: 1 đại học - 1,5 trung học và 3,5công nhân, trong khi đó cơ cấu lý tưởng về lao động của một quốc gia đangphát triển tương ứng là 1 - 5 - 20 Mặc khác, khi Kinh tế tư nhân phát triển,nếu không có các nhà kỹ thuật, công nhân lành nghề thì không thể tiếp thu vàứng dụng công nghệ một cách có hiệu quả
Cơ chế sử dụng lao động hiện nay vẫn còn nhiều bất cập Kinh nghiệmmột số quốc gia cho thấy cơ chế sử dụng nhân lực có hiệu quả nói chung là cơchế thị trường, tuy nhiên cần có sự ưu tiên lựa chọn của Nhà nước Điều nàyhiện nay chúng ta chưa làm được
1.4.7 Khoa học và công nghệ
Trang 31Ngày nay, công nghệ được hiểu là “tập hợp những hiểu biết để tạo ra cácgiải pháp kỹ thuật được áp dụng vào sản xuất” bao gồm trang thiết bị, kỹnăng tay nghề, kinh nghiệm của người lao động, các thông tin, dữ liệu, bíquyết sản xuất và cả yếu tố tổ chức Trình độ công nghệ quyết định tới chấtlượng giá thành sản phẩm, năng suất lao động càng cao Hơn nữa chỉ có côngnghệ hiện đại mới tạo ra được những sản phẩm cao cấp Những nghiên cứucủa nhiều học giả đã chỉ ra “ở Mỹ trong những năm 1950 - 1980 công nghệ
đã đóng góp vào tăng năng suất từ 30 - 50%, tương tự ở Nhật Bản trong thời
kỳ 1995 - 1979, công nghệ đã đóng góp tới 40% tăng trưởng kinh tế ngànhchế tạo máy” Hiện nay, công nghệ của Kinh tế tư nhân Việt Nam còn rất lạchậu Để có thể cạnh tranh trên thị trường cần có chính sách đầu tư đổi mới,trang bị mới công nghệ cho Kinh tế tư nhân Việt Nam theo hướng chủ yếu làtận dụng lợi thế của người đi sau, tiếp thu những công nghệ hiện đại của thếgiới, phù hợp với điều kiện của từng địa phương Để làm được điều đó cần cóchính sách mạnh, đồng bộ từ phía Nhà nước, đặc biệt là chính sách nguồnnhân lực Tránh tình trạng biến Kinh tế tư nhân thành bãi rác công nghệ củacông nghiệp nước ngoài
Ngoài các yếu tố quan trọng phân tích ở trên thì vẫn còn một số yếu tốkhác cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển của Kinh tế tư nhân, như:
Thứ nhất, định kiến xã hội đối với khu vực kinh tế tư nhân còn rất nặng
nề, gây áp lực tâm lý xã hội và những rào cản vật chất và phi vật chất khóđịnh lượng và khó vượt qua cho sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân
Thứ hai, sự liên kết, hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình sản xuất
kinh doanh giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau vàngay cả trong từng thành phần kinh tế, kể cả các thành phần kinh tế trong khuvực kinh tế tư nhân đang còn rất lỏng lẻo, thiếu tổ chức, thiếu hiệu quả
Thứ ba, hoạt động của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các hiệp hội
ngành nghề và các tổ chức quần chúng khác (kể cả tổ chức công đoàn) còn
Trang 32chưa được quan tâm, xây dựng, phát triển và hoạt động có hiệu quả trong khuvực kinh tế tư nhân.
1.5 THỰC TRẠNG KINH TẾ TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM
1.5.1 Một số kết quả phát triển của khu vực kinh tế tư nhân thời gian qua ở nước ta
Tính đến đầu tháng 5/2003, cả nước có trên 106 ngàn doanh nghiệp đanghoạt động theo Luật doanh nghiệp, với vốn đầu tư trên 126 ngàn tỷ đồng(tương đương trên 8 tỷ USD), chưa kể số vốn đầu tư bổ sung hàng năm Tỷtrọng đầu tư của khu vực doanh nghiệp tư nhân trong tổng đầu tư xã hội đangtăng từ 20% năm 2000 lên 23% năm 2001 và 28,8% năm 2002, tức là còn caohơn tổng số vốn đầu tư của các doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp FDIcùng thời kỳ (tỷ trọng đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước trong tổng đầu tưtoàn xã hội tương ứng các năm là 18,25%, 19,3% và 17,8%) [28]
Các doanh nghiệp tư nhân cũng đang tạo ra số việc làm cho xã hội tươngđương với các doanh nghiệp Nhà nước Có thể nói, ở nhiều địa phương, kinh
tế tư nhân đang và sẽ ngày càng trở thành nguồn đầu tư, động lực phát triểnkinh tế chủ yếu và có hiệu quả cao (năm 2002, ở Thành phố Hồ Chí Minh,đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân chiếm 38% tổng đầu tư xã hội, trong khi
tỷ trọng tổng cộng của đầu tư từ các doanh nghiệp Nhà nước và ngân sáchNhà nước trên địa bàn chỉ đạt 36,5%) Theo kết quả điều tra của Tổng cụcThống kê đến ngày 1.7.2002, tổng nguồn vốn của các doanh nghiệp ở nước takhoảng 1.066,7 ngàn tỷ đồng, tăng 4,2 lần so với năm 1995, trong đó cácdoanh nghiệp Nhà nước chiếm 58,6% (tăng 3,5 lần so với năm 1995), doanhnghiệp FDI chiếm 27,75% (tăng 5,8 lần) và doanh nghiệp tư nhân chiếm15,65% (tăng 10,8 lần)
Như vậy, trên bình diện cả nước, tổng giá trị vốn đầu tư của các doanhnghiệp tư nhân mới chỉ bằng khoảng 1/4 của các doanh nghiệp Nhà nước và1/2 của các doanh nghiệp FDI
Trang 331.5.2 Thành tựu
Thứ nhất, kinh tế tư nhân có tốc độ phát triển nhanh hơn các thành phầnkinh tế khác trong nền kinh tế Tốc độ tăng trưởng GDP trung bình của cảnước trong giai đoạn 1995-2000 là 6,9%/năm, của khu vực kinh tế tư nhân là7,2%/năm Đặc biệt là sau khi Luật doanh nghiệp ra đời, kinh tế tư nhân đạttốc độ tăng trưởng GDP 8,6% năm 2000 (cả nước đạt 6,8%), các năm 2001 và
2002 đạt gần như ở tốc độ tăng gấp đôi so với tốc độ tăng trưởng bình quâncủa cả nước, 13,2% năm 2001 so với cả nước 6,9%, và 13,8% năm 2002 sovới cả nước 7,0%
Thứ hai, quy mô của khu vực kinh tế tư nhân ngày càng được mở rộng.Năm 1991 cả nước mới có 270 doanh nghiệp tư nhân, năm 1998 đã tăng lên18.750 doanh nghiệp, tăng gần 70 lần trong vòng 7 năm Đặc biệt, khi Luậtdoanh nghiệp được Quốc hội thông qua vào năm 1999 và có hiệu lực thi hành
kể từ năm 2000, thì tính đến tháng 12/2000 (sau khi Luật doanh nghiệp cóhiệu lực 1 năm), đã có thêm 13.500 doanh nghiệp tư nhân đăng ký thành lập(tăng gấp 5 lần số doanh nghiệp được thành lập năm 1999) Tính đến cuốinăm 2001, tổng số doanh nghiệp tư nhân trên cả nước là 74.393 doanhnghiệp, cao hơn gấp nhiều lần so với số doanh nghiệp tư nhân đăng ký tronggiai đoạn 1991 - 1998 Trong đó, doanh nghiệp tư nhân chiếm 58,8%, Công
ty trách nhiệm hữu hạn chiếm 38,7% và Công ty cổ phần chỉ chiếm hơn 2%.Điều này cho thấy mô hình Công ty cổ phần chưa được phát triển mạnh mẽ ởViệt Nam Bên cạnh đó, số doanh nghiệp tăng thêm đầu tư, mở rộng thêmquy mô và địa bàn kinh doanh dưới nhiều hình thức như mở thêm chi nhánh,
mở văn phòng đại diện, đầu tư thêm vốn, sử dụng thêm lao động cũng tăngđột biến sau khi Luật doanh nghiệp đi vào thực hiện Đây là hiện tượng mớichưa từng có trong giai đoạn 1991-1999 Trong 2 năm 2001-2002, cả nước cókhoảng 9.200 chi nhánh, 900 văn phòng đại diện đăng ký thành lập Các
Trang 34doanh nghiệp đăng ký mới và bổ sung thêm vốn tổng cộng là 55.000 tỷ đồngvốn, không thấp hơn số vốn đăng ký đầu tư của khu vực FDI cùng thời kỳ.
Sự sống động của khu vực kinh tế tư nhân được bộc lộ rõ nhất trong bốnnăm kể từ khi thực hiện Luật doanh nghiệp Tính đến cuối tháng 9 năm 2003,
số doanh nghiệp đăng ký theo Luật doanh nghiệp trên cả nước Việt Nam lêntới gần 80.000 doanh nghiệp, với tổng vốn đăng ký mới và bổ sung khoảng 10
tỷ USD, đưa tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trên cả nước lên 120.000doanh nghiệp, trong đó 96% là doanh nghiệp vừa và nhỏ Luật doanh nghiệpmới đã tạo ra một môi trường ổn định và thuận lợi cho sự tăng trưởng củakinh tế tư nhân
Thứ ba, cơ cấu kinh doanh của các doanh nghiệp tư nhân có những thayđổi theo hướng ngày càng mở rộng hoạt động kinh doanh trong lĩnh vựcthương mại dịch vụ Trong điều tra của Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tếTrung ương, năm 1996 doanh nghiệp tư nhân hoạt động trong lĩnh vực sảnxuất công nghiệp chiếm 27%, lĩnh vực vận tải, kho bãi, thông tin liên lạcchiếm 9%, thương mại dịch vụ chiếm 38,8% và các lĩnh vực khác chiếm26% Năm 2002, cơ cấu ngành nghề của khu vực kinh tế tư nhân là: sản xuấtcông nghiệp 20,8%; nông - lâm - ngư nghiệp 12,4%; vận tải 8,3% và thươngmại dịch vụ 51,9% Cơ cấu này cho thấy, phần lớn doanh nghiệp tư nhân hoạtđộng trong lĩnh vực thương mại dịch vụ, trái lại tỷ lệ các doanh nghiệp đầu tưtrong lĩnh vực sản xuất công nghiệp có xu hướng giảm Điều này phản ánhkinh tế tư nhân ở Việt Nam hầu hết là có quy mô nhỏ, hoạt động trong nhữnglĩnh vực dễ thu hồi vốn, có khả năng sinh lời nhanh Về phân bố, kinh tế tưnhân tập trung chủ yếu ở các tỉnh phía Nam: 73% (riêng Thành phố Hồ ChíMinh chiếm 25%), các tỉnh phía Bắc chiếm 18% và khu vực miền Trungchiếm 9%
Thứ tư, kinh tế tư nhân góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập chongười lao động Tính đến cuối năm 2000, khu vực kinh tế tư nhân đã thu hút
Trang 35được trên 4,6 triệu lao động, chiếm 70% trong tổng lao động xã hội trong khuvực sản xuất ngoài nông nghiệp Nếu so với khu vực kinh tế Nhà nước, thì sốviệc làm trong khu vực kinh tế tư nhân gấp 1,36 lần Trong những năm gầnđây, lao động trong khu vực kinh tế tư nhân tăng rất nhanh So với năm 1996,năm 2000 lao động của toàn khu vực kinh tế tư nhân tăng 20,1%, trong đó sốlao động làm việc ở các doanh nghiệp tư nhân tăng 137,6%, ở các hộ cá thểtăng 8,3% Trong hai năm 2000 và 2001, khu vực kinh tế tư nhân đã giảiquyết khoảng 650.000 đến 750.000 việc làm, chiếm khoảng 1/3 số lao độngmới tăng thêm hàng năm trong nền kinh tế Trong tương lai, số lao động trongkhu vực kinh tế tư nhân sẽ tăng lên rất nhanh do Luật doanh nghiệp phát huyhiệu quả và do quy mô nhỏ, chi phí đào tạo lao động thấp và tốc độ tăng độtbiến của các doanh nghiệp tư nhân.
Thứ năm, khu vực kinh tế tư nhân đang thu hút một khối lượng vốn ngàycàng lớn của toàn xã hội, góp phần nâng cao nội lực, đẩy mạnh sự phát triểnsức sản xuất và có những đóng góp không nhỏ vào ngân sách Nhà nước Năm
1996 khu vực kinh tế tư nhân đóng góp cho ngân sách Nhà nước 5.242 tỷđồng, năm 2000 là 5.900 tỷ đồng và năm 2001 là 6.370 tỷ đồng Vốn đầu tưphát triển của khu vực kinh tế tư nhân năm 1996 chỉ đạt mức tăng 3,8%(trong khi mức tăng của cả nước là 14,9%), nhưng năm 2003 đã đạt mức tăng25%, cao hơn nhiều so với mức tăng của cả nước là 18,4% và cao nhất trong
số các thành phần kinh tế Bên cạnh đó, hiệu quả đầu tư (tính bằng hệ sốICOR) của khu vực kinh tế tư nhân cũng cao hơn các khu vực kinh tế khác(xem bảng 2) Điều này cho thấy, mặc dù với quy mô vốn còn nhỏ bé, kinh tế
tư nhân tỏ ra có khả năng cạnh tranh trên thị trường hơn các thành phần kinh
tế khác trong cả nước Đó một phần là do kinh tế tư nhân đang có một đội ngũdoanh nhân có năng lực, trình độ và có tác phong kinh doanh năng động, nhạybén với kinh tế thị trường
Bảng 2 : Hệ số ICOR của các thành phần kinh tế ở Việt Nam
Trang 36Năm Nền kinh tế KV Nhà nước KV tư nhân KV FDI
Nguồn: Niêm giám thống kê Việt Nam 2001
Ghi chú : Hệ số càng cao, hiệu quả đầu tư càng thấp
1.5.3 Hạn chế
Mặc dù kinh tế tư nhân đạt được những thành tựu đáng kể sau hơn mộtthập kỷ phát triển, nhưng khu vực kinh tế này đang gặp phải rất nhiều hạnchế, vướng mắc trong việc phát huy tiềm năng vốn có của nó Cụ thể là :
- Khu vực kinh tế tư nhân có quy mô nhỏ, tốc độ đầu tư cầm chừng và có
xu hướng giảm tỷ trọng trong nền kinh tế Về quy mô, có tới 95% tổng sốdoanh nghiệp tư nhân là các doanh nghiệp vừa và nhỏ; số doanh nghiệp cóvốn dưới 100 triệu đồng chiếm khoảng gần 1/3 80% số doanh nghiệp tư nhân
có số lao động dưới 50 người trong khi đó số doanh nghiệp Nhà nước quy môlao động hơn 200 người chiếm hơn 50% tổng số doanh nghiệp Bảng 3 chothấy trong cơ cấu GDP, khu vực kinh tế tư nhân có xu hướng giảm tỷ trọng từ68,2% năm 1990 xuống 48% năm 2002 Trong cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội,khu vực kinh tế tư nhân có xu hướng giảm từ 46,7% năm 1990 xuống 23,5%năm 2001 (tuy có sự tăng nhẹ vào năm 2002 và 2003 sau khi Luật doanhnghiệp ra đời), nhưng so với mức tăng của khu vực kinh tế Nhà nước (từ40,2% lên 56,5%) thì đây là điều đáng lo ngại Thực tế đó cho thấy, cơ cấukinh tế của Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào khu vực kinh tế Nhà nước vốn cóhiệu quả đầu tư ngày càng thấp (bảng 2), trong khi những khu vực kinh tế cóhiệu quả vốn cao nhất như khu vực kinh tế tư nhân lại chưa được chú trọng
- Mức độ trang bị vốn/lao động của khu vực kinh tế tư nhân nhìn chungcòn rất nhỏ Trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, các hộ cá thể chỉ có mức
Trang 37vốn là 11,4 triệu đồng/lao động, và các doanh nghiệp tư nhân là 63,2 triệuđồng/lao động Đa phần vốn tư nhân bỏ ra là để thuê mặt bằng sản xuất, máymóc, các công cụ lao động và được huy động chủ yếu nhờ vào các nguồn vốnphi chính thức như vay mượn bạn bè, người thân Do vậy, 90% số doanhnghiệp tư nhân vẫn sử dụng công nghệ lạc hậu, hoạt động trên những lĩnh vực
có thời gian quay vòng vốn nhanh Tại Thành phố Hồ Chí Minh, 37,7% sốdoanh nghiệp tư nhân đang sản xuất thủ công, 43,2% sản xuất bán cơ khí, bán
tự động Tại Đồng Nai có tới 93% số doanh nghiệp tư nhân đang sử dụngnhững công nghệ trung bình và lạc hậu Cũng do tỷ lệ đầu tư thấp nên đónggóp của khu vực kinh tế tư nhân vào ngân sách Nhà nước còn chưa cao.Trong giai đoạn 1996 - 2000 kinh tế tư nhân mới đóng góp khoảng 9,1% vàongân sách Nhà nước Trong tình hình nền kinh tế có những chuyển biến cơcấu rõ rệt theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cơ cấu kinh tế của khuvực kinh tế tư nhân còn gặp nhiều điều không ổn, chưa tương xứng với tiềmnăng và yêu cầu của đất nước
Bảng 3 : Tỷ trọng đầu tư và tỷ trọng GDP của các thành phần kinh tế
Trang 38- Nhiều doanh nghiệp tư nhân chưa thực hiện tốt những quy định củapháp luật về lao động, hợp đồng lao động, chế độ bảo hiểm, tiền lương, tiềncông, bảo hộ lao động, giờ làm việc đối với người lao động Tình trạng trốnthuế, buôn lậu, kinh doanh trái phép vẫn diễn ra tràn lan Xét về trình độ quản
lý của chủ doanh nghiệp, đa số các chủ doanh nghiệp tư nhân chưa qua cáchình thức đào tạo Khảo sát ở Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy 42,1% sốGiám đốc doanh nghiệp tư nhân không có bằng cấp về chuyên môn Trongđiều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay, trình độ thấp của cácchủ doanh nghiệp tư nhân cả về chuyên môn, luật pháp, thị trường đang làmột thách thức gay gắt, là một nguyên nhân đẩy nhiều doanh nghiệp tư nhânvào tình trạng nợ nần, phá sản và vi phạm pháp luật
1.5.4 Nhận dạng, đánh giá và dự báo xu hướng phát triển kinh tế tư nhân
Căn cứ tình hình đăng ký kinh doanh và hoạt động của các doanh nghiệptheo Luật doanh nghiệp trong thời gian qua, và trên cơ sở xem xét đặc điểmtâm lý, trình độ tổ chức kinh doanh, xu hướng cải cách hành chính, đổi mớiphương thức quản lý kinh tế của Nhà nước, cũng như tính đến các yêu cầu,cam kết hội nhập kinh tế quốc tế, đến xu hướng phát triển doanh nghiệp trongnước và trên thế giới có thể dự báo:
Thứ nhất, các hoạt động sản xuất - kinh doanh dưới các loại hình màLuật doanh nghiệp đã đề cập sẽ ngày càng phát triển mạnh cả về số lượng vàchất lượng, cả bề rộng lẫn bề sâu, sẽ gia tăng cả về quy mô lẫn hiệu quả Thứ hai, các loại hình doanh nghiệp được lựa chọn ở nước ta trong thờigian tới là: công ty cổ phần (kể cả loại đa sở hữu); công ty TNHH có từ haithành viên trở lên
Thứ ba, các doanh nghiệp đang ngày càng mở rộng địa bàn đầu tư vàquan hệ sản xuất, kinh doanh trong và ngoài nước Ranh giới giữa doanhnghiệp Nhà nước và doanh nghiệp tư nhân, giữa doanh nghiệp đầu tư trongnước và doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài hay doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài sẽ giảm thiểu sự khác biệt , tự nó tạo ra môi trường thúc đẩy
Trang 39hình thành "sân chơi" bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp, không phânbiệt chế độ sở hữu.
Thứ tư, lĩnh vực kinh doanh của các doanh nghiệp sẽ ngày càng đa dạngtrong mỗi doanh nghiệp cũng như toàn bộ khu vực doanh nghiệp
Thứ năm, doanh nghiệp sẽ ngày càng đòi hỏi lực lượng lao động có trình
độ, chất lượng cao Các doanh nghiệp cũng đòi hỏi được quyền tự chủ nhiềuhơn về tuyển dụng, trả lương, khen thưởng, kỷ luật, đào tạo và thay thế laođộng theo cơ chế thị trường
Thứ sáu, cùng với sự lớn mạnh và thành công của nhiều doanh nghiệp vànhiều tập đoàn doanh nghiệp, khu vực kinh tế tư nhân sẽ ngày càng trở thànhđộng lực chủ yếu đẩy nhanh và đảm bảo sự phát triển ổn định kinh tế đấtnước
1.6 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở MỘT SỐ NƯỚC VÀ VÙNG LÃNH THỔ
1.6.1 Kinh nghiệm của Nhật Bản
Kinh nghiệm nổi bật và đánh giá nhất trong quản lý Nhà nước đối vớikhu vực kinh tế tư nhân của Nhật Bản là việc hỗ trợ các Công ty tư nhân lựachọn phát triển các ngành, sản phẩm chủ lực ngày càng được chế biến sâu,hướng về xuất khẩu, thích hợp với nhu cầu thị trường thế giới và lợi thế sosánh của Nhật Bản (chuyển dần trọng tâm từ các ngành sợi tổng hợp, hóa dầu,luyện thép và điện tử sang các ngành cơ khí chế tạo ô tô, máy móc, thiết bịđiện tử sinh hoạt và rôbốt )
Chính phủ Nhật Bản giữ vai trò quan trọng, trước hết trong việc khơithông thị trường quốc tế cho các Công ty tư nhân Nhật Bản bằng các hiệpđịnh liên chính phủ và cấp các khoản ODA cho các thị trường tiềm năng, tăngcường cung cấp thông tin thị trường
Nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp và sản phẩm xuấtkhẩu là ưu tiên hàng đầu của Nhật Bản Chính phủ tích cực chỉ đạo các ngân
Trang 40hàng cấp ưu đãi thuế, tín dụng cho doanh nghiệp, nhưng giảm dần “liềulượng” ưu đãi để sớm đặt các doanh nghiệp Nhật Bản trong sự cạnh tranh thịtrường đầy đủ, lành mạnh hơn Ngoài việc cấp những ưu đãi trên, Chính phủkhuyến khích doanh nghiệp nhập khẩu và “nội địa hóa” công nghệ nướcngoài Mặt khác, Chính phủ tích cực khuyến khích, dàn xếp “dỡ bỏ” cácdoanh nghiệp yếu, kết nối các doanh nghiệp lại thành những Công ty lớn hơn
và các tập đoàn doanh nghiệp để đủ sức đối phó với các Công ty đa quốc gia
ở thị trường trong và ngoài nước
Tuy nhiên có thể nói, xúc tiến thương mại, đặc biệt là xúc tiến xuất khẩumới thực sự là trọng tâm ưu tiên và chìa khóa quan trọng cho sự thành côngcủa Nhật Bản trong suốt quá trình hoàn thiện sự hỗ trợ và tăng cường quản lýNhà nước đối với khu vực kinh tế tư nhân
Cuối cùng, để tăng cường sức cạnh tranh cho khu vực doanh nghiệp,Nhật Bản rất quan tâm đến việc thành lập các hiệp hội và tổ chức hỗ trợ toàndiện các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhất là về tín dụng và bảo lãnh tín dụng, tưvấn; tạo “thị trường ngách” cho doanh nghiệp (thông qua các hợp đồng giacông giữa các Công ty lớn với các doanh nghiệp nhỏ, tăng cường viện trợ và
ký kết các hiệp định kinh tế - thương mại với các Chính phủ nước ngoài để
mở đường cho doanh nghiệp Nhật Bản thâm nhập thị trường thế giới ); đổimới giáo dục nhận thức và đào tạo nghề cho công nhân, tạo cơ hội phát triểnnhững ngành công nghệ mới, linh hoạt hóa thị trường lao động Đặc biệt,trong những năm gần đây, Nhật Bản đẩy mạnh hơn bao giờ hết các lĩnh vựchàng hóa, lao động, tài chính, xây dựng và đầu tư , cải thiện môi trườngpháp lý văn hóa và kinh doanh của mình phù hợp cam kết, tiêu chuẩn vàthông lệ quốc tế Cải tổ cơ cấu kinh tế tạo ra sự liên quan và thống nhất chặtchẽ cả “dọc” và “ngang”, trong nước và quốc tế Coi tiếng Anh là môn họcbắt buộc từ cấp tiểu học Năm 1967, Nhật Bản bắt đầu từng bước tự do hóađầu tư; năm 1969 tự do hóa mậu dịch và hối đoái song phải đến những năm
1990 quá trình tự do hóa, mở cửa thị trường (nhất là thị trường tài chính) mới