luận văn, khóa luận, đề tài, chuyên đề, thạc sĩ, tiến sĩ
Trang 1CHƯƠNG 1
PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 Tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu
Nghèo đói đã, đang và trong tương lai vẫn có thểtiếp tục hoành hành Thế giới này Nghèo đói tự thânnó không có giới hạn, tồn tại mọi nơi và đặc biệtnghiêm trọng hơn ở các nước đang phát triển, trong đócó nước cộng hoà dân chủ nhân dân Lào Hậu quả củanghèo đói, tất nhiên là nghiêm trọng, nó không chỉ ảnhhưởng trực tiếp đến số phận của những người dân
bị lâm vào tình trạng cùng khổ mà còn làm suy yếusự thịnh vượng của một Quốc gia Đó là lí do màtất cả mọi quốc gia trên Thế giới, từ giàu đến nghèođều xem mục tiêu xoá đói giảm nghèo là quốc sáchnhằm tạo ra sự phát triển bền vững Mục tiêu nàycàng trờ nên quan trọng hơn đối với các nước đang theođuổi con đường Xã hội chủ nghĩa như Lào Chính vìthế giải quyết vấn đề nghèo đói luôn được Đảng vàNhà nước Lào đặt song hành với quá trình phát triểnkinh tế - xã hội của đất nước “Cùng với đẩy mạnhphát triển kinh tế, Đảng đã chủ trương giải quyết tốtcác vấn đề xã hội, coi đây là một hướng chiến lượcthể hiện bản chất ưu việt của chế độ ta”.Trong đóphải “thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèothông qua những biện pháp cụ thể, sát với tình hình
Trang 2từng địa phương, sớm đạt được mục tiêu không cònhộ đói, giảm mạnh các hộ nghèo” tiến tới “cơ bảnxoá hộ đói, giảm tỉ lệ hộ nghèo xuống còn 50% vàonăm 2005 và xoá bỏ đói nghèo được vào năm 2010 [23].
Chuyển từ nền kinh tế tự nhiên sang nền kinhtế thị trường, cùng với những tiến bộ về mặt kinhtế, nghèo đói và sự phân hoá giàu nghèo là mộtthực tế tất yếu mà Lào không thể tránh khỏi
Tuy nhiên với đường lối đổi mới của Đảng là pháttriển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hộichủ nghĩa có sự quản lí của Nhà nước, tức là pháttriển kinh tế nhưng cần phải đảm bảo các mục tiêu xãhội, từng bước nâng cao đời sống của các tầng lớpdân cư, nhất là làm thể nào để giảm được số lượngngười nghèo đói Thực tiễn qua hơn 10 năm đổi mớicho thấy Lào đã đạt được những thành tựu đáng kểtrong phát triển nền kinh tế, đồng thời đã khôngngừng cải thiện đời sống kinh tế cho người dân, thựchiện có hiệu quả các chương trình xoá đói giảmnghèo
Những năm gần đây, nhờ chính sách đổi mới nềnkinh tế nước Lào đã tăng trưởng nhanh, đời sống đạibộ phận nhân dân đã được nâng lên một cách rõ rệt,xoá đói giảm nghèo đã trở thành phong trào ở tất cảcác tỉnh và thành phố trong cả nước Qua 4 năm thựchiện, tỉ lệ đói nghèo giảm đáng kể, từ năm 2002-2006số hộ nghèo đói của cả nước giảm trung bình
Trang 33,1%/mỗi năm Nhiều mô hình xoá đói giảm nghèothành công đã xuất hiện và được nhân rộng trong sựphối hợp lồng ghép với các chương trình kinh tế, xãhội khác của đất nước.
Tuy vậy, công tác xoá đói giảm nghèo trong nhữngnăm qua chưa được đồng đều ở các địa phương, đóinghèo vẫn là thách thức lớn đối với nước Lào, tínhđến năm 2005, trong cả nước vẫn còn hơn 1,5 triệungười nghèo Như vậy, số hộ nghèo đói còn khá lớnvà khó giải quyết hơn vì hơn 60% tập trung ở nông thôn,nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng núi cao và đồng bàodân tộc thiểu số, là những nơi kinh tế kém phát triển,trình độ dân trí thấp, cơ sở hạ tầng hết sức yếukém, và là những nơi lại thường xuyên gặp thiên tai,môi trường bị xuống cấp nghiêm trọng Vì thế, việctiến công vào đói nghèo là rất khó khăn phức tạp, màtoàn bộ xã hội phải đặc biệt quan tâm, tập trung mọinguồn lực thực hiện bằng được mục tiêu xoá đóigiảm nghèo, nhằm góp phần cải thiện đời sống nhândân, ổn định và phát triển bền vững đất nước. 26
Huyện Pa Thum Phon tỉnh Chăm Pa Sắc ở phía Namcủa Lào nên cũng chịu ảnh hưởng rất lớn của khí hậuthời tiết khắc nghiệt, bị chiến tranh tàn phá nặng nềvà thường xuyên bị thiên tai đe doạ Thực trạng đờisống nhân dân còn rất thấp kém, nhất là một số nơi
ở vùng núi và vùng trung du, các điều kiện về đườngsá, văn hoá, giáo dục, y tế đang gặp rất nhiều khókhăn
Trang 4Xoá đói giảm nghèo đang là vấn đề bức xúc vàđang được địa phương quan tâm Do vậy, nghiên cứuvề thực trạng nhằm tìm ra những giải pháp xoá đóigiảm nghèo có tính khả thi đối với điều kiện xã hội ởđịa phương là vấn đề có ý nghĩa trong chiến lượcphát triển kinh tế của huyện Pa Thum Phon nói riêng vàtỉnh Chăm Pa Sák nói chung Xuất phát từ tình hìnhcấp thiết nói trên, chúng tôi chọn đề tài: ”Một số giảipháp xoá đói giảm nghèo cho các hộ nông dân ở huyện
Pa Thum Phon tỉnh Chăm Pa Sák”
1.2 Mục đích nghiên cứu
1.2.1 Mục đích chung
Phân tích, đánh giá thực trạng nghèo đói, tìm ranhững nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp chủyếu để xoá đói giảm nghèo cho các hộ nông dân ởhuyện Pa Thum Phon
1.2 2 Mục đích cụ thể
- Hệ thống hoá các vấn đề cơ bản có tính chất lýluận và thực tiễn về nghèo đói
- Đánh giá tình hình nghèo đói ở huyện Pa ThumPhon
- Phân tích nguyên nhân của tình trạng nghèo đói, kémphát triển của nông hộ
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu có tính khảthi phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của huyệnnhằm góp phần xoá đói giảm nghèo cho các hộ nôngdân trên địa bàn huyện
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Trang 5Đề tài này liên quan đến các vấn đề thu nhập vàtình trạng nghèo đói của người dân, do đó đối tượngnghiên cứu chính của đề tài là các hộ gia đình nôngdân.
1.4 Phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Về mặt không gian
Đề tài trực tiếp nghiên cứu thực trạng nghèođói và các giải pháp xoá đói giảm nghèo tại huyện PaThum Phon tỉnh Chăm Pa Sắc, Lào
1.4.2 Về mặt thời gian
Phân tích đánh giá số liệu trong 3 năm từ
2002-2004, thời gian nghiên cứu từ tháng 6/2005 đến 01/2006
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận về vấn đề nghèo đói
2.1.1 Một số khái niệm về nghèo đói
Nghèo đói là một vấn đề mang tính toàn cầu.Nếu vấn đề nghèo đói không giải quyết được thìkhông mục tiêu nào mà cộng đồng Quốc tế, Quốc giađặt ra như hoà bình, ổn định, công bằng xã hội cóthể giải quyết được Nghèo đói là vấn đề kinh tế xãhội có quá trình hình thành gắn với lịch sử phát triển
Trang 6của loài người và tuỳ vào từng giai đoạn phát triểncụ thể mà người ta có những định nghĩa về nghèođói khác nhau Các quan điểm khác nhau về nghèo đóicủa con người được trình bày dưới đây sẽ cho thấymột bức tranh rộng lớn hơn về tình trạng thiếu thốn,trong đó bao gồm nhiều yếu tố khác nhau.
Vào cuối những năm 1980 và đầu năm 1990, nhàxã hội học Wilson đã đưa ra thuật ngữ Underclass(tầng lớp hay giai cấp dưới) để chỉ nhóm xã hội củanhững người nghèo Theo đó họ được gọi là nhữngngười không có trình độ và kĩ năng, luôn chịu sự táchbiệt xã hội, không có khả năng tiếp cận hoặc khôngcó được các mối liên hệ với các cá nhân khác, vớinhững thể chế có thể đem lại cho họ nguồn lợi vềkinh tế và các vị thế về xã hội [10]
Theo một cách nhìn khác, Solages (1996) đã chorằng nghèo khổ cùng cực là một điều kiện sống bịhạn chế bởi suy dinh dưỡng, mù chữ, bệnh tật, môitrường bị ô nhiễm, tỉ lệ tử vong của trẻ sơ sinh cao vàtuổi thọ thấp, còn tệ hại hơn so với bất kỳ địnhnghĩa nào khả dĩ chấp nhận được về một cuộcsống bình dị nhất của một con người
WB (1998) đã đưa ra một khái niệm nghèo mangtính khái quát tương đối cao Theo đó, “nghèo không chỉlà thu nhập thấp mà còn có điều kiện sống, sứckhoẻ, giáo dục, điều kiện vệ sinh ở mức thấp, khôngcó quyền lực và nghề nghiệp”.[10]
Trang 7Đối với Lào mặc dù trong nhiều năm qua, các nhàkhoa học và xã hội đã có nhiều nỗ lực trong việcđưa ra một định nghĩa chính xác về nghèo, nhưng dotính tương đối về mặt không gian và thời gian, cũngnhư tính nhiều mặt của nhiều vấn đề nghèo mànhững định nghĩa mới chỉ đứng lại ở mức tương đối.[22].
Tóm lại, nghèo là tình trạng của một số bộphận dân cư có các điều kiện vật chất và tinh thầnđể duy trì cuộc sống gia đình dưới mức tối thiểutrong điều kiện chung của cộng đồng Mức sống tốithiểu ở đây được hiểu là các điều kiện ăn, ở, mặcvà các nhu cầu khác như văn hoá, y tế, giáo dục, giaotiếp, đi lại chỉ đạt mức duy trì cuộc sống bìnhthường Mức sống tối thiểu của mỗi nước sẽ khácnhau tuỳ thuộc vào khí hậu, những đặc điểm tựnhiên và một phần lớn là tuỳ thuộc vào mức độ vănminh đã đạt được của từng thời đại và của mỗiquốc gia, như Marx 1960 [6] đã kết luận: “Đối với mộtnước và một thời đại nhất định, mức độ cần thiếtvề những tư liệu sinh hoạt cũng nhất định” Về cơbản người nghèo là người phải sống dưới mức đượcđịnh nghĩa như là chuẩn thấp nhất có thể chấpnhận được trong một khoảng thời gian và không gianxác định Cốt lõi của khái niệm này là thiếu mộtmức độ tối thiểu về nhân lực và vật lực để cóthể đạt được một mức sống hợp lý.[10]
Trang 8Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng, nghèo là một kháiniệm động hơn là tĩnh Nhưng người nghèo không phảilà tầng lớp xã hội tĩnh, hay không có sự dịch chuyển.Trên thực tế, sau một thời gian, nhiều cá nhân, nhiềugia đình đã vượt lên trên ngưỡng nghèo, trong khi mộtsố khác lại bị trượt xuống dưới của sự nghèo đói.
Do đó các ước tính về nghèo đói luôn mang tính nhạycảm
2.1.2 Nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối
Nghèo còn được thể hiện trên hai khía cạnh khácnhau là nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối
2.1.2.1.Nghèo tuyệt đối
Nghèo tuyệt đối là việc không thoả mãn nhu cầutối thiểu để nhằm duy trì cuộc sống của một conngười Thuật ngữ nghèo tuyệt đối là để chỉ mộtmức tồn tại tối thiểu mà bất kỳ một cá nhân haymột hộ gia đình nào đang sống dưới mức này Đó làtình trạng của một bộ dân cư không được hưởng vàthoả mãn những nhu cầu cơ bản của cuộc sống conngười mà những nhu cầu này được thừa nhận tuỳtheo trình độ phát triển kinh tế, xã hội và phong tụctập quán của từng địa phương
2.1.2.2 Nghèo tương đối
Nghèo tương đối là tình trạng không đạt mứcsống tối thiểu tại một thời điểm, trong một khônggian xác định nào đó Thuật ngữ nghèo tương đối chỉ
Trang 9một mức độ của điều kiện sống mà ở đó nhữngngười của tầng lớp dưới được xem là kém phát triểnhơn trong tương quan so sánh với những người thuộctầng lớp khác.
Như vậy, sự phân biệt giữa nghèo tuyệt đối vànghèo tương đối ở chỗ: nghèo tuyệt đối đề cập đếntiêu chuẩn về các nhu cầu cần thiết tối thiểu củamột con người, trong khi đó nghèo tương đối nói đến
vị trí ở dưới mức sống phổ biến trong một cộngđồng
2.1.3 Vòng luẩn quẩn nghèo đói
Vòng luẩn quẩn của nghèo đói là sự luân chuyểntừ tình hình kinh tế, xã hội, đời sống, văn hoá, phongtục tập quán ảnh hưởng lên cuộc sống của họ làmcho họ không thoát khỏi được cảnh nghèo khổ Đó lànhững vòng quay mà những người nghèo khổ khóthoát được vòng quay đó Muốn thoát được nhữngnỗi khổ đó thì phải có chính sách tối ưu để pháttriển chung
2.1.4 Ngưỡng đánh giá đói nghèo
Trong khi các khái niệm đói nghèo về con ngườicho thấy một bức tranh rộng lớn về tình trạng thiếuthốn ở một quốc gia, nghèo về thu nhập hoặc nghèovề chi tiêu lại là một công cụ mang tính thực tiễnnhiều hơn và dễ lượng hoá hơn nhằm mô tả về tìnhtrạng nghèo theo thời gian và không gian Nghèo thu
Trang 10nhập hay chi tiêu được xác định thông qua một giớihạn gọi là ngưỡng nghèo.
Theo WB, một người nào đó có mức sống dướimức sống tối thiểu tại một thời điểm nào đó đượcgọi là nghèo Giới hạn tối thiểu này dựa trên mộtrổ các loại hàng hoá, dịch vụ được dùng để thỏamãn nhu cầu cơ bản tối thiểu bao gồm: dinh dưỡng,nhà ở, quần áo, giáo dục và chăm sóc sức khoẻ cánhân Giá trị (chi phí) của rổ hàng hoá này được gọilà ngưỡng nghèo [28]
2.1.4.1 Ngưỡng nghèo theo thu nhập
Nghèo thuần tuý dựa trên tiêu chí thu nhập làcách tiếp cận thông qua thu nhập để đo lường mứcđộ nghèo dựa trên một ngưỡng nghèo về thu nhập
Một người được xem là nghèo nếu có mức thunhập thấp hơn mức tối thiểu cần phải có để đápứng đủ những nhu cầu cơ bản của một người bìnhthường Mức thu nhập tối thiểu này được gọi làngưỡng nghèo theo thu nhập
Ngưỡng nghèo theo thu nhập là tiêu chí chính thứcmà Lào đã sử dụng để đánh giá tình trạng nghèothông qua việc ấn định ngưỡng nghèo của Tổng CụcThống kê và Bộ Lao động Thương binh và Xã hội chotừng giai đoạn cụ thể
2.1.4.2 Ngưỡng nghèo theo chi tiêu
Trang 11Hiện nay, để đo lường mực độ nghèo của mộtquốc gia, người ta thường dựa trên tiêu chí tiêu dùng.
Cơ sở đo lường là xác định ngưỡng nghèo theo chi tiêu.Đây là cách tiếp cận tương đối phổ biến của các tổchức như: IMF, WB, OXFAM
Theo WB, ngưỡng nghèo theo chi tiêu là giới hạn tốithiểu về chi tiêu để đạt được một phúc lợi nhằmthoả mãn nhu cầu cần thiết tối thiểu cho conngười[28]
a.Ngưỡng nghèo chi tiêu lương thực thực phẩm
Điểm xuất phát để xây dựng một ngưỡng nghèolương thực thực phẩm là thức ăn tiêu thụ phải đápứng đủ nhu cầu về dinh dưỡng Chỉ tiêu cơ bản vềlượng dinh dưỡng đưa vào cơ thể là lượng calory tiêudùng cần thiết theo đầu người là 2.100 calories mỗingày Đây được xem là ranh giới nghèo lương thựcthực phẩm về mặt dinh dưỡng đang dùng phổ biếntrên thế giới Như vậy tiêu chí tiêu dùng lương thựcthực phẩm để bảo đảm để có một lượng 2.100calories mỗi ngày, theo giá cả phù hợp với từng vùng,trong từng khoảng thời gian nhất định được gọi làngưỡng nghèo về lương thực thực phẩm
b.Ngưỡng nghèo theo chi tiêu chung
Ngưỡng nghèo về lương thực thực phẩmthường thấp, bởi vì nó không tính đến chi tiêu cho cácsản phẩm phi lương thực tối thiểu để con người tồn
Trang 12tại trong xã hội Do đó WB đã đưa ra khái niệmngưỡng nghèo chung trên cơ sở kết hợp mức nghèolương thực thực phẩm và phần chi tiêu tối thiểungoài lương thực thực phẩm Ở mức ngưỡng nghèochung thì phần tiêu dùng cho các sản phẩm lương thựcthực phẩm chiếm khoảng 70% tổng chi tiêu; 30% cònlại là các sản phẩm, dịch vụ phi lương thực [15].
2.1.5 Tiêu chuẩn phân định nghèo đói
2.1.5.1 Quan niệm của thế giới
a Chỉ tiêu đánh giá giàu nghèo đối với cấp cộng đồng
Khi xem xét đánh giá nghèo đói, chúng ta phải dựatrên việc xem xét các yếu tố thành phần của nhu cầu
cơ bản thiết yếu cho sự tồn tại của con người như:lương thực, thực phẩm, vải vóc, nhà ở, y tế, giáodục, giao thông đi lại Còn khi xem xét về sự nghèođói của một quốc gia thường thì chúng ta phải dựatrên việc xem xét các yếu tố nguồn lực và cơ sở hạtầng, môi trường và vị trí địa lí của quốc gia đó caohay thấp, có yếu kém hay không, có thuận lợi tronggiao lưu buôn bán Có nghĩa là phải xem xét tổng hợpcác yếu tố tổng thu nhập quốc dân (GDP) và cácchính sách phân phối sản phẩm hay là sự công bằngxã hội trong quốc gia đó về sự đáp ứng các yêu cầutối thiểu của con người
Hiện nay, Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra các chỉtiêu đánh giá về giàu nghèo của các quốc gia bằng
Trang 13mức thu nhập quốc dân bình quân tính theo đầungười, với hai cách tính đó là: theo phương pháp Atlastức là theo tỷ giá hối đoái và tính theo USD; theophương pháp PPP (Purchasing Power Parity) là phươngpháp sức mua tương đương, cũng tính bằng USD.
Theo phương pháp Atlas được phân ra làm 6 loạivề sự giàu nghèo của các nước (lấy mức thu nhậpnăm 1999):
+ Thu nhập bình quân đầu người > 25.000USD/ nămlà cực giàu
+ Từ 20.000USD/ năm đến dưới 25.000USD/ năm lànước giàu
+ Từ 10.000USD/ năm đến dưới 20.000USD/ năm lànước khá giàu
+ Từ 2.500USD/ năm đến dưới 10.000USD/ năm lànước trung bình
+ Từ 500USD/năm đến dưới 2.500USD/ năm tức lànước nghèo
+ Dưới 500USD/ năm là nước cực nghèo.[1]
Chỉ tiêu đánh giá mức độ giàu nghèo nêu trên cònphiến diện, bởi vì trong thực tế còn nhiều nước cómức thu nhập bình quân đầu người rất cao, nhưngchưa đạt được sự phát triển hoàn hảo, vẫn còn tìnhtrạng thất nghiệp, nghèo đói, thiếu việc làm, ônhiễm môi trường và những bất công khác
Trang 14Ngoài ra, từ năm 1990 chương trình phát triển củaLiên hợp quốc (UNDP) đã đưa ra chỉ tiêu và chỉ số nhânbản HDI (Human Development Index) Chỉ số này gồm 3loại tiêu chí như: phúc lợi kinh tế, xã hội cơ bản GDPbình quân đầu người (a), chỉ số phản ánh trình độgiáo dục, dựa theo tỉ lệ (%) dân cư biết chữ (b), vàchỉ số phản ánh tiến bộ xã hội về y tế, sức khoẻ,đó là tuổi thọ bình quân (c) Sau khi xem xét 198 nướctrên thế giới, Liên hợp quốc đã chia thành 3 nhóm sau:+ Nhóm các nước kém phát triển, gồm 42 nước,có a=227 USD; b= 32%; c= 49 tuổi.
+ Nhóm các nước đang phát triển, gồm 130 nước,có a= 921USD; b=89%; c= 59 tuổi
+ Nhóm các nước phát triển gồm 26 nước, có a=15.610USD; b=99%; c= 75 tuổi [9]
Lào nếu xét đơn thuần về mặt kinh tế thì vẫnthuộc nhóm cực nghèo, nhưng nếu xét theo chỉ sốHDI thì được xếp vào nhóm các nước đang phát triểnbởi vì tuy có giá trị a thấp, nhưng lại có giá trị b và ccao
Gần đây, Viện nghiên cứu phát triển xã hội củaLiên Hợp Quốc (UNRISD) đã đưa ra các chỉ số xã hộiđể đo thực chất sự phát triển xã hội và qua đó chophép đánh giá mức độ giàu nghèo Các chỉ số nàyvừa bổ sung cho chỉ số thu nhập quốc dân tính theođầu người vừa là giải pháp để khắc phục tính hạnchế không chuẩn xác của các phương pháp truyền
Trang 15thống nêu trên Những chỉ số này bao gồm: Tuổi thọbình quân tương lai của trẻ sơ sinh khi đã được mộttuổi; mức tiêu dùng protêin; tỉ lệ xoá mù ở người lớnvà chỉ số khả năng đảm bảo tự do và phát triển cánhân, trên cơ sở những chỉ số này có thể đánh giá, sosánh giữa các Quốc gia: “Các nhà kinh tế coi đây là chỉsố nhân văn (HI) được xây dựng từ phương pháp tiếpcận tổng hợp hệ thống nghiên cứu và đánh giá pháttriển xã hội dưới ánh sáng của lý thuyết phát triển”.[9].
Tuy nhiên, các chỉ số này rất khó vận dụng vàothực tế, nhất là các nước chậm phát triển Vì vậy,Hội đồng phát triển Hải ngoại của Mỹ (ODC) đã đưa rakhái niệm chất lượng vật chất cuộc sống (PQLI) vàsử dụng những chỉ số này như những số đo Chỉ số(PQLI) tập trung vào 3 chỉ tiêu: tuổi thọ trung bình,tương lai trẻ sơ sinh và tỉ lệ xoá mù chữ Theo chỉ sốnày các nước giàu nhất chưa chắc đã là nước cóchất lượng cuộc sống cao nhất
Tóm lại, để đánh giá được nước giàu và nước
nghèo trên thế giới hiện nay thì chỉ tiêu chính vẫn làthu nhập quốc dân bình quân đầu người và kết hợpvới các chỉ số HDI và PQLI sẽ cho phép đánh giá nướcgiàu, nước nghèo chính xác và khách quan hơn
b Chỉ tiêu đánh giá nghèo đói cấp hộ gia đình
Để xây dựng thước đo sự nghèo khổ đối vớidân cư trong một nước, người ta dùng khái niệm giớihạn hay ngưỡng nghèo khổ Giới hạn này được biểu
Trang 16hiện dưới dạng thu nhập bình quân đầu người củacác hộ gia đình Nếu gia đình nào có thu nhập bìnhquân một người ở dưới mức giới hạn nghèo khổ thìđược coi là nghèo Còn quy mô sự nghèo khổ thìđược tính theo tỉ lệ số hộ nghèo trên tổng số hộ(có thể vùng hay quốc gia) Trên thế giới hiện nay phổbiến có 2 cách tính:
Một là, giới hạn nghèo khổ tương đương với mứcthu nhập của những người làm dịch vụ xã hội trongnhững năm đầu của thập kỷ 60
Hai là, lấy mức tiêu dùng lương thực, thựcphẩm đủ sống cho một gia đình nhân với ba sẽ ra mứcgiới hạn nghèo khổ (hay còn gọi là thu nhập tốithiểu của đời sống)
Với cách tính nêu trên, chẳng hạn một gia đình phinông nghiệp ở Mỹ, gồm 4 người, mức thu nhập nàynăm 1963 là: 3000USD; năm 1984 là 10.600USD Như vậynăm 1963 số người nghèo ỏ Mỹ là 35,7 triệu người,chiếm 14,2% dân số so với năm 1984, con số này tănghơn 10 triệu người[1], người ta căn cứ vào lượng calotối thiểu cung cấp cho cơ thể đủ sống để tìm giớihạn nghèo khổ (dưới mức đó là người khổ) Chỉ sốnày cũng khác nhau theo vùng và khu vực do nhữngkhác biệt về nhu cầu đáp ứng của cơ thể sinh học
Ngân hàng Thế giới đã đưa ra tiêu chí xác định thunhập ở mức nghèo là 1USD/ ngày cho một người tứclà thu nhập cần thiết để duy trì 2150 calo mỗi ngày:
Trang 17Theo ESCAP “ từ những năm 1980 đến nay đường ranhgiới nghèo (Poverty line) của các nước đang phát triểnđược xây dựng bằng số tiền chi phí cho nhu cầuthiết yếu về ăn, mặc, ở mà trước hết là lươngthực, thực phẩm để duy trì sự sống với mức tiêudùng nhiệt lượng từ 2.100calo đến2.300calo/ngày/người” Chẳng hạn Inđônêxia, đầunhững năm 1980 lấy mức 2.100 calo; ở Trung Quốc,năm 1990 lấy 2150 calo Ở Lào theo Tổng Cục Thống kêlấy mức tiêu dùng nhiệt lượng là 2.100 calo, trong khiđó những năm 1985 Ấn độ lại lấy ở mức1750calo/ngày/người.[9]
Tóm lại: những quan niệm đói nghèo do cách
tiếp cận khác nhau nên có những kiến giải khác nhau.Sự nghèo khổ là một khái niệm tương đối và cótính phổ biến Điều quan trọng về mặt nhận thứckhoa học, khái niệm này là định được giới hạn củasự nghèo khổ, từ đó được lượng hoá bằng các chỉsố có giá trị xác định Các chỉ số đó cũng lại phảnánh sự nghèo khổ không phải một cách cứng nhắc,bất biến mà biến đổi một cách tương ứng theo độchênh lệch khác biệt giữa các vùng Như vậy, có thểkết luận rằng quan niệm nghèo đói ở các nước, cácquốc gia, khu vực khác nhau là không giống nhau vànghèo đói chỉ là quan niệm có tính chất tương đối
2.1.5.2 Quan niệm của Lào
Trang 18Xuất phát từ đời sống thức tiễn đời sống xãhội cũng như sinh hoạt của cộng đồng dân cư hiệnnay, việc đưa ra một quan niệm đúng đắn về nghèođói có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, nhất là trong giaiđoạn đổi mới Hiện nay, Lào đang tiến hành phát triểnkinh tế theo cơ chế của thị trường có sự quản lí củaNhà nước Cơ chế thị trường mặc dù có nhiều ưuđiểm như kích thích sản xuất phát triển, phát huy caođộ về khả năng và trí tuệ của mọi tầng lớp nhân dân,tận dụng được mọi tiềm năng và tạo ra của cải choxã hội Tuy nhiên cơ chế thị trường cũng có nhiềumặt trái, nhất là sự phân hoá giàu nghèo nếu khôngcó quan niệm đúng thì khó đưa ra chính sách và biệnpháp thích hợp để từng bước xoá đói giảm nghèo
Nghị Quyết Đại hội lần thứ VII của Đảng và kếhoạch phát triển kinh tế, xã hội của Nhà nước tronggiai đoạn 5 năm (2005-2010), đã đề ra nhiều chích sáchvà biện pháp để thực hiện đúng đắn các điều kiệnthực tế của từng vùng và cả nước Trong đó Đảng vàNhà nước đã chỉ ra rất rõ cách giải quyết vấn đềnghèo đói: “(1) Giải quyết nghèo đói cần phải đi cùngvới việc xây dựng cơ sở chính trị, phát triển nông thônmọi mặt, cải thiện đời sống nhân dân nhất là nhândân vùng sâu, vùng xa càng ngày càng tốt lên, (2) Giảiquyết vấn đề nghèo đói cần phải thực hiện từngbước, tạo ra các chương trình, kế hoạch, có mục tiêu
Trang 19và thời gian nhất định và yêu cầu phải có sự tham giatích cực của người dân“.[23].
Căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội của nước Làovà đời sống trung bình phổ biến của dân cư hiện nay,các nhà khoa học, các cơ quan nghiên cứu đã xác lậpcác chỉ tiêu đánh giá mức độ nghèo đói như sau:
Thu nhập, nhà ở và các tiện nghi sinh hoạt, tưliệu sản xuất và vốn để dành Trong bốn chỉ tiêu nàycần phải đặt biết chú ý đến chỉ tiêu thu nhập, nhà ởvà tiện nghi sính hoạt Hai chỉ tiêu này phản ánh trựctiếp, mức sống hay mức độ thực hiện các nhu cầu
cơ bản tối thiểu của đời sống con người Còn hai chỉtiêu tư liệu sản xuất và vốn để dành cũng có ý nghĩakhông nhỏ, nó cho thấy rõ hơn tình cảnh thật sự củangười nghèo và các hộ đói nghèo, nhất là ở nông thôn.Trong thực tế đã lâm vào cảnh đói nghèo thì việctrang bị tư liệu sản xuất rất hạn chế, kém giá trị sửdụng và khai thác để làm ra của cải, đồng thời vốnliếng cũng oe hẹp, hầu như không có vốn để tích luỹcho sản xuất và tái sản xuất
Thông qua hai chỉ tiêu này chúng ta nhận diện rõhơn các hộ giàu và nghèo ở các vùng nông thôn vàthành thị
a Chỉ tiêu về thu nhập và nguồn thu nhập
Thu nhập bao gồm tất cả các nguồn thu nhậpchính được tính bình quân theo đầu người trên tháng.Mức thu nhập của các đối tượng khác nhau thì sẽ
Trang 20khác nhau Chẳng hạn thu nhập của công chức khácvới thu nhập của nông dân, thu nhập của người laođộng ở thành thị sẽ khác với thu nhập lao động ở nôngthôn Sở dĩ có sự khác nhau về thu nhập là do mứcthu nhập của công chức nhà nước được chi trả bằngngân sách nhà nước với mức ổn định hàng tháng trongnăm, còn thu nhập của người nông dân hoàn toàn phụthuộc vào điều kiện sản xuất và sự biến động củathị trường Mực độ thu nhập của nông thôn và thànhthị cũng khác nhau là do giá trị ngày công lao động,sức mua bán trên thị trường, lợi thế giữa kinh tế nôngthôn và thành thị cũng có sự khác biệt Ở Lào, do đặcđiểm là ngoài một số cán bộ công chức và một sốlao động ở thành thị ra, còn lại khoảng 90% dân số lànông thôn, nên thu nhập chủ yếu là từ nông nghiệp Dođó, để tránh sự biến động về giá cả theo thời gianvà sự chênh lệch giữa các địa phương, người ta dùnggạo để làm đơn vị tính toán và so sánh mức độnghèo đói.
Về đói cũng có hai quan niệm là thiếu đói và đóigay gắt Thiếu đói là bộ phận dân cư có mức sốngdưới mức tối thiểu chỉ đủ khả năng đảm bảo cóđược số lượng lương thực bữa đói, bữa no và cókhi đứt bữa kéo dài từ 1, 2, 3, tháng trong 1 năm (calocung cấp hàng ngày/người trong khoảng 1.500 đến2.000 calo) Đói gay gắt là một bộ phận dân cư cómức sống dưới mức sống tối thiểu, chịu đói ăn, chịu
Trang 21đứt bữa từ trên 3 tháng trở lên (calo được cung cấphàng ngày/người dưới 1.500 calo) Tổng Cục Thống kêđã đưa ra” giới hạn đói nghèo” là mức thu nhập bìnhquân đầu người tương đương 16,2kg gạo/tháng và cơcấu sử dụng thu nhập cho 3 loại nhu cầu tối thiểulà:
+ Ăn
+ Mặc và ở (chi phí sửa chữa nhà cửa)
+ Văn hoá, y tế, giáo dục, đi lại
Như vậy theo cơ cấu này thì nghèo tuyệt đối làtình trạng dân cư có thu nhập ở dưới mức tối thiểu:16,2 kg/người/tháng Nếu mức thu nhập ở dưới giớihạn này là lâm vào cảnh đói và mức càng xa thì càngđói gay gắt Mức thiếu đói là tình trạng dân cư cómức thu nhập dưới 12kg gạo/người tháng[18] Tuynhiên mức lượng hoá các chỉ tiêu này cũng có sự thayđổi theo các vùng và theo thời gian
Tiêu chuẩn giàu nghèo quy định qua các thời kỳđược sử dụng cho toàn quốc Các tỉnh thành phố đãdựa vào chỉ tiêu trên để xác định tiêu chuẩn cho phùhợp với mỗi địa phương Địa phương nào có đủ 3 điềukiện sau đây thì có thể đưa ra chuẩn đói nghèo của địaphương cao hơn chuẩn đói, nghèo tối thiểu trên
+ Thu nhập bình quân đầu người của địa phươngcao hơn thu nhập bình quân của cả nước
+ Có tỷ lệ nghèo đói thấp hơn tỷ lệ bình quâncủa cả nước
Trang 22+ Tự cân đối được ngân sách và tự giải quyếtđược các chính sách đói nghèo
theo tiêu chuẩn tự nâng lên của địa phương Ngoài ra,còn dựa vào mức độ thiếu ăn một tháng, hai, ba,bốn, năm tháng để xác định tình trạng nghèo đói
Tóm lại, ở các nước nói chung và Lào nói riêng
việc xác định chuẩn mực đói nghèo dựa vào chỉ tiêuthu nhập bình quân đầu người, có nhiều quan điểm khácnhau
b Chỉ tiêu về nhà ở và tiện nghi sinh hoạ
Đây cũng là một chỉ tiêu quan trọng để xem xétđánh giá nghèo đói Những người nghèo đói thườngsống trong những căn hộ tồi tàn, nhà tranh vách đất.Đồ dùng sinh hoạt không có gì ngoài giường gỗ, tre,chõng và vài thứ khác ở dưới mức trung bình vềlượng và tồi tàn về chất Tuy nhiên, có một sốngười tuy nghèo đói vẫn có thể ở nhà xây, có vài đồdùng khác, đó là tài sản do cha, ông để lại hoặc làdấu tích của một thời khá giả còn lại trước khi rơi vàonghèo khổ [18]
c Chỉ tiêu về tư liệu sản xuất
Tư liệu sản xuất cũng là một yếu tố để đánhgiá mức độ nghèo đói Nói chung, tư liệu sản xuấtcủa họ thường rất ít, các công cụ sản xuất phần lớnlà thô sơ, các thứ khác là đất đai, vườn tược, aochuồng thường ít hoặc không có để làm phương tiện
Trang 23làm ăn sinh sống Chỉ một số rất hạn hữu có tư liệusản xuất khá nhưng do kém hiểu biết, không có kinhnghiệm hoặc lười nhác mới dẫn đến nghèo đói.
d Chỉ tiêu về vốn
Thông thường những người đã lâm vào cảnh nghèođói không có vốn để dành Họ thường phải vay mượnđể mua lương thực cứu đói hoặc phải vay mượn đểđầu tư cho sản xuất
Họ thường bị động trong cuộc sống, phải bánlúa hoặc hoa màu non hoặc phải gán ruộng vườn, vaymượn với lãi suất cao, phải làm thuê trả nợ, lần hồikiếm sống cho qua ngày đoạn tháng Do vậy, họchính là bộ phận dân cư dễ rơi vào các tệ nạn xãhội như trộm cắp, cướp giật, mại dâm, nếu khôngcó các chính sách xã hội để trợ giúp những ngườinghèo khổ thì dễ làm cho mâu thuẫn xã hội trở lêngay gắt, thậm chí rối loạn
Qua việc xem xét đánh giá những chỉ tiêu trên,chúng ta nhận diện vấn đề nghèo đói rõ ràng hơn,nhất là tính chất kinh tế, xã hội của hiện tượng đóinghèo Các hậu quả tiêu cực của đói nghèo, xét từbình diện xã hội, đều bắt nguồn và phát sinh trựctiếp từ căn nguyên kinh tế Từ đó chúng ta tìm ranhững nguyên nhân để tìm ra những biện pháp xoá đói,giảm nghèo có hiệu quả
2.2 Thực trạng nghèo trên Thế giới và ở Lào
2.2.1 Tổng quan về nghèo đói trên thế giới
Trang 24Xu hướng toàn cầu hoá đang mang lại cho conngười nhiều cơ hội hơn trong việc hội nhập với Thếgiới, đồng thời cũng tạo ra những thách thức mới.Một trong những thách thức đó là sự gia tăng của tìnhtrạng nghèo đói, đồng thời sự phân cực ngày càngtỏ ra sâu sắc giữa các quốc gia cũng như trong nội bộcủa từng quốc gia Ngày nay, vấn nạn nghèo đói đangthực sự trở thành một vấn đề bức xúc của nhiềuquốc gia trong khu vực và trên toàn thế giới.
Hội nghị cấp cao toàn Thế giới bàn về các vấnđề xã hội tại Compenhaghen, Đan Mạch vào tháng 3năm 1995 đã công bố: trong số 5,5 tỉ người trên toànthế giới, có tới 1,3 tỉ người đang phải sống dưới mứcnghèo với mức chi tiêu mỗi người một ngày thấp hơn1USD [10]
Mặc dù trên toàn thế giới đang nỗ lực tìm kiếmcác giải pháp nhằm làm giảm thiểu vấn nạn nghèođói hiện nay, nhưng tình hình vẫn chưa có gì sáng sủa.Theo báo cáo của WB năm 2000 về “Tấn công nghèođói” cho biết, trong 6 tỉ người trên thế giới thì cókhoảng 2,8 tỉ người, tức gần một nữa sống mộtngày với mức chi tiêu bình quân dưới 2USD, khoảng 1,3
tỉ người có mức chi tiêu chưa đến 1USD một ngày.Nghèo đói hầu như hiện diện khắp mọi nơi, đặc biệtnghiêm trọng tại các nước ở khu vực Nam Á, tiểuvùng sa mạc Sahara và khu vực Đông Á - Thái BìnhDương (bảng 2.1)
Bảng 2.1: Phân bố dân số trên thế giới sống dưới 1 USD một ngày (1,2 tỉ người)
Trang 25Nam Á 43,5
Tiểu vùng sa mạc Sahara - Châu
Phi
24,3
Đông Á - Thái Bình Dương 23,2
Châu Mỹ Latinh và vùng Caribê 6,5
Nguồn: [3]
Nghèo đói không chỉ tồn tại ở các nước chậmphát triển, đang phát triển mà nó còn là một vấnnạn tương đối phổ biến ở các nước phát triển cao.Theo UNFPA (2000), một đất nước có thu nhập bìnhquân đầu người thuộc nhóm cao nhất thế giới nhưMỹ, cũng là một nước có tỉ lệ sống dưới mức nghèocao nhất trong các nước phát triển 16,5% Hiện trạngnày đã chỉ ra rằng, trình trạng nghèo trong một xãhội không chỉ là hậu quả của mức thu nhập thấp,mà còn là hệ quả của sự phân phối thu nhập bấtcông trong chính xã hội đó
2.2.2 Tình trạng phân hoá giàu nghèo trên thế giới
Theo báo cáo của Oxfam về tình trạng nghèo trên thếgiới, vào năm 1960 có một phần năm những ngườigiàu nhất thế giới đang sống trong quốc gia côngnghiệp phát triển với thu nhập bình quân gấp 30 lần
so với một phần năm những người nghèo nhất đangsống trong những nước đang phát triển Đến năm
1990, họ có mức thu nhập gấp 60 lần Cách tính theoPPP của IMF làm giảm bớt sự chênh lệch, nhưng khoảng
Trang 26cách này vẫn còn lớn hơn 50 lần Trong đó, thu nhậpcủa nhóm 50 nước nghèo nhất đã tụt xuống ở mứcchỉ còn bằng 2% thu nhập của Thế giới, những quốcgia này là của một phần năm dân số thế giới [10].
Báo cáo phát triển con người của Liên hợp Quốcnăm 1995 cũng đã cho thấy một bức tranh tương phảngiàu nghèo giữa các nước khá rõ nét Theo đó, khoảngcách giữa thu nhập bình quân đầu người theo PPP củacác nước phát triển so với các nước chậm phát triểncao hơn 16 lần
Bảng 2.2: Thu nhập bình quân đầu người một
Sự phân hoá giàu nghèo không chỉ diễn ra giữacác nhóm nước trên phạm vi toàn cầu, mà nó còn là
Trang 27vấn nạn ở trong mỗi quốc gia Một cách tổng quan,chúng ta có thể xem xét qua thực trạng phân hoá giàunghèo đại diện cho nhóm nước có nền kinh tế chậmphát triển, đang phát triển, nền kinh tế chuyển đổi vànền kinh tế phát triển.
2.2.2.1 Phân hoá giàu nghèo ở một số nước Châu Á
a Thái Lan
Thái Lan là một trong nước phát triển nhất củakhu vực Đông Nam Á, từ nhiều năm trước đây Thái Lanđã thành công trong việc phát triển kinh tế và đã giảmđược số người nghèo từ 57% xuống chỉ còn 13,7%năm 1992 Tuy vậy, sự phân hoá giàu nghèo vẫn còn ởmức khá cao, mặc dù trong những năm gần đâykhoảng cách giàu nghèo đang có xu hướng giảm Năm
1996 khoảng cách giữa nhóm có thu nhập cao nhất(nhóm V) và nhóm có thu nhập thấp nhất (nhóm I) làhơn 15 lần; đến năm 1996, khoảng cách chênh lệch vẫncòn hơn 12 lần (Bảng 3)
Bảng 2.3: Tỉ lệ thu nhập theo nhóm 20% số hộ gia đình
từ thấp đến cao ở Thái Lan Nhóm thu nhập 1992 1994 1996
b Singapore
Trang 28Singapore là một quốc gia năm trong nhóm cácnước phát triển nhất của Châu Á, với mức thu nhậpbình quân đầu người năm 1997 là 32,940 USD/ năm Tuynhiên không vì thế mà sự phân hoá giàu nghèo lạithấp, 20% dân số giàu nhất chiếm tới 40% tổng thunhập quốc gia; trong khi đó 20% dân số nghèo nhất chỉchiếm có 5% tổng số thu nhập quốc gia [3].
2.2.2.2 Phân hoá giàu nghèo ở các nước Mỹ La Tinh và vùng Caribê
Tổ chức OEA cho biết năm 2000 có khoảng 270triệu người, chiếm 60% tổng số người dân Mỹ La Tinhđang sống dưới mức nghèo Sự bất công trong phânphối nguồn của cải xã hội làm giảm sút thu nhập củacác tầng lớp có mức sống trung bình và đẩy hàngchục triệu người vào cảnh bần cùng Tại các nướcMỹ La Tinh và vùng Caribê, 20% số người nghèo có thunhập chỉ chiếm từ 2,4% đến 5,5% tổng thu nhập,trong khi 10% dân số người giàu chiếm từ 33,4% đến42% tổng thu nhập toàn quốc [10]
2.2.2.3 Phân hoá giàu nghèo ở các nước Châu Phi
Châu Phi là một lục địa giàu có về tài nguyên củathế giới, nhưng một nghịch lý đó lại là lục địa nghèonhất thế giới Chiến tranh sắc tộc, bất ổn về chínhtrị; đại dịch về bệnh tật, thiên tai và vấn nạn nghèođói là những gì khi nói đến Châu Phi Đồng hành với nólà sự phân hoá giàu nghèo diễn ra một cách sâu sắc
ở các quốc gia này
Trang 29Nhận xét về tính trạng bất bình đẳng ở cácnước Châu Phi, Solages (1996) đã cho rằng một hệthống bất bình đẳng và thống trị mới đang ngự trịtrong các chế độ chính trị ở các nước Châu Phi, ở thờiđiểm phi thực dân hoá, khoảng cách thu nhập khôngmấy chốt đã mở rộng thêm đến độ vượt quá giớihạn an toàn của nó Tình trạng bất bình đẳng ở cácnước Châu Phi có thể nhìn thấy rõ ở bảng 2.4 Trong khihệ số Gini được coi là tốt nếu xoay quanh giá trị 0,3thì các nước Châu Phi được khảo sát, hầu hết đều cóhệ số Gini cao hơn 0,5 Điều đó cho thấy, mức độphân hoà giàu nghèo ở các nước Châu Phi là rấtcao[12].
Bảng 2.4: Hệ số Gini ở một số nước Châu Phi Quốc gia Năm khảo sát Hệ số Gini
2.2.2.4 Phân hoá giàu nghèo ở nước Nga
Thực tiễn ở các nước Đông Âu cho thấy, cáccuộc cải cách kinh tế định hướng thị trường tự dokiểu tư bản chủ nghĩa đã gây ra những hậu quả vềmặt xã hội Một trong những hậu quả đó là sự giatăng không ngừng của tình trạng nghèo và sự phânhoá nghèo mà nước Nga là một ví dụ tiêu biểu nhất.Trong khoảng thời gian từ năm 1991-1994, mức chênh
Trang 30lệch thu nhập giữa nhóm người giàu và nhóm ngườinghèo đã gia tăng một cách chóng mặt, hơn 3 lần Cụthể năm 1991 khoảng chênh lệch thu nhập bình quângiữa người giàu và nghèo ở Nga là 4,5 lần; đến năm
1994, khoảng cách này đã tăng lên tới 14 lần [3]
2.2.2.5 Phân hoá giàu nghèo ở nước Mỹ
Đánh giá giàu nghèo ở Mỹ được xác định bằngmức tổng thu nhập từ các nguồn lương, lợi nhuậnkinh doanh, lãi từ ngân hàng, khoản trả chuyển nhượngvà các khoản thu nhập tài trợ khác Theo đó, khoảngcách thu nhập bình quân giữa nhóm thượng lưu vànhóm hạ lưu của nước Mỹ vào năm 1993 là 14 lần,chưa tính phần tài sản Cụ thể trong 20% dân sốthuộc nhóm thượng lưu, có thu nhập bình quân đầungười hơn 90.000USD một năm; 25% dân số thuộcnhóm hạ lưu với thu nhập đầu người dưới 25.000USDmột năm [3]
2.2.3 Tổng quan về tình trạng nghèo và phân hoá giàu nghèo ở Lào
Theo số liệu kiểm tra sự tiêu và chi tiêu các hộcủa LECS I năm 1992/1993 và LECS II năm 1997/1998 đãcho thấy về tình hình nghèo đói, xu hướng và cácđiều kiện của sự nghèo đói ở Lào
2.2.3.1 Xu hướng giảm nghèo đói ở Lào
Thủ đô Viêng Chăn là nơi giàu nhất Lào (tính theo chitiêu đầu người) còn miền Bắc là nghèo nhất Năm1992/1993 - 1997/1998 hệ số tiêu dùng ở Thủ đô tăng lên
Trang 3110, 8% cao hơn 20 lần so với miền khác trong nước.Mặc dù miền Bắc nghèo nhất nhưng hệ số chi tiêuđầu người đã tăng nhanh hơn miền Trung và miền Nam.Các bảng số liệu sau đã phản ánh tình hình nghèo đói
ở Lào hiện nay:
Qua phân tích tình hình nghèo đói của Lào (tháng5/2002) cho thấy: tổng số chi tiêu thực tế đầu ngườităng 5,8%/năm, cao hơn so với hệ số tăng của GDP 4,5%/năm, từ đó có thể thấy rằng các hộ đã có lợi ích từsự phát triển của kinh tế mang lại
Bảng 2.5: Chi tiêu/ đầu người (Kíp) chia theo vùng
sinh thái Vùng 1992-93
(Kíp)
1997-98 (Kíp)
Hệ số tăng (%)
Thủ đô Viêng
Bảng 2.6: Chi tiêu/đầu người (Kíp) chia theo vùng
và theo khu vực, tháng 03/1997-02/1998
Vùng
Thành thị Nông thôn
92-93(Kíp)
97-98(Kíp)
Hệsốtăng(%)
92-93(Kíp)
97-98(Kíp)
Hệ sốtăng (%)
Trang 32do tốc độ tăng trưởng của thu nhập (đầu người) khácnhau
Kết quả phân tích đã cho thấy rằng, trong năm1992/1993 tỉ lệ nghèo đói của cả nước là 45%, đếnnăm 1997/1998 tỉ lệ nghèo giảm còn 38,6% Như thếthấy rằng trong thời gian qua nghèo đã giảm xuống,nhưng người giàu vẫn có lợi nhiều hơn người nghèo
Sự giảm xuống của nghèo đói với tỉ lệ 3,1%/nămlà kết quả từ sự phát triển kinh tế của đất nước vàsự được hưởng lợi của người dân trong những nămqua
Kết quả khảo sát cũng cho thấy: tình hình nghèođói của từng miền rất khác nhau Miền Bắc có tỉ lệnghèo cao nhất trong cả nước nhưng tỉ lệ nghèo đãgiảm dần từ 55,4% còn 52,5% trong thời gian (1992/1993
Trang 33- 1997/1998) ,vùng có tỉ lệ nghèo cao thứ hai là miềnNam Thủ đô Viêng Chăng là nơi có tỉ lê nghèoû thấpnhất trong cả nước.
Ngoài sự khác biệt giữa các miền, có sự khácbiệt giữa các tỉnh Tỉnh Hoá Phăn thuộc miền Bắc có
tỉ lệ nghèo cao nhất 78,4% (năm 92-93) giảm còn 74,6%(năm 97-98) Ngoài ra, còn có nhiều tỉnh tỉ lệ ngườinghèo cao hơn 50%
Vì sự nghèo đói của từng miền và từng tỉnhkhác nhau nên sự giảm nghèo của từng miền và từngtỉnh cũng khác nhau.Tốc độ giảm nghèo ở Thủ đôkhoảng 2,1%/ năm, còn ở miền Trung và miền Nam là2,5% và 3,6%/năm Như vậy miền Bắc không chỉ làvùng nghèo nhất Lào mà tỉ lệ giảm nghèo cũng thấpnhất
Trang 34Bảng 2.7: Tỉ lệ nghèo đói tính theo miền và các
64,257,573,274,449,474,6 21,2
-1,3-1,07,2-10,6-4,8-1,0-7,0
34,924,325,841,637,155,0
-9,9-2,917,9 4,2-
39,636,645,745,3
-1,5-4,1-7,3-9,3
Nguồn: [18]
Bảng 2.8: Số người nghèo chia theo tỉnh và
miền Miền/ tỉnh Tổng Tỷ Số Tỉ lệ
Trang 35dân số
lệ ngư ời nghe ìo của tỉnh
người nghèo
người nghèo của tỉnh so với cả nước (%) Thủ đô Viêng
0222.70
0120.30
0386.40
0259.10
0309.00
0
64,257,573,337,449,474,621,2
103.939,
869.862,5163.016,
444.992,2190,881,
6193.288,
665.508
5,63,78,72,410,210,33,5
0173.30
0288.60
0711.50
07.300
34,924,325,841,637,155,00
74.162.573.750,544.711,4120.057,
6263.966,
531.515
4,03,92,46,414,11,7
0 38,4 36.733,6 19,8
Trang 3639,645,735,645,6
107.747
431.076.0189.071,
641.857,2
5,71,710,12,2
Tóm lại: miền Bắc là vùng nghèo nhất, số ngườinghèo 830.000, chiếm 44,4% của số người nghèo toànnước, trong đó tỉnh Húa Phàn, Luông Pha Bang, U Đôn xay,Phông Saly có số người nghèo chiếm 1/3 của tổngngười nghèo cả nước
Miến Trung, tỉnh Sa Văn Na Khệt là nghèo nhất, sốngười nghèo chiếm 264.000, còn miền Nam tỉnh nghèonhất là tỉnh Chăm Pa Sak
2.2.3.2 Vấn đề nghèo đói ở trong thành thị và nông thôn của Lào
Theo nghiên cứu của LECSI trong thời gian 5 năm gầnđây cho thấy: tỉ lệ nghèo đói ở thành thị đã giảmxuống rất nhanh so với nông thôn Mặc dù vậy nhưngđiều kiện sống vẫn còn gặp nhiều khó khăn vì ngườidân ở thành thị cần phải sống bằng tiền và chỉ cótiền mới sống được Phần lớn người nghèo có trìnhđộ học vấn thấp, thiếu việc làm, và làm việc chưađủ giờ, đó là một yếu tố ảnh hưởng lớn đến tìnhhình kinh tế của người dân
Trang 37Bảng 2.9: Tỉ lệ người nghèo theo miền và
vùng
ĐVT: (%)
Miền
Thành thị Nông thôn 92-93 97-
98
Hệ số tăng và giảm
93
92- 98
97-Hệ số tăng và giảm
16,743,2727,6535,84
-5,9-2,5-6,1-5,2
30,1460,439,8949,62
4,4753,5335,8938,66
-38,2-2,4-2,1-5,0
2.2.3.3 Tình hình nghèo đói và sự yếu kém về cơ sở hạ tầng
Trang 38Một nghiên cứu về nghèo đói ở Lào năm 2003 đãcố gắng tìm hiểu về mối quan hệ giữa nghèo vànguyên nhân chính của vấn đề nghèo đói Kết quảnghiên cứu đã chỉ ra rằng: sự nghèo đã thay đổi theotrình độ giáo dục, tuổi, giới và việc làm của chủ hộ.Ngoài ra, kết quả nghiên cứu còn cho thấy sự xuốngcấp của cơ sở hạ tầng như: đường giao thông, chợ, cơsở dịch vụ y tế, giáo dục với hoạt động sinh sốngcủa người dân (xem bảng 2.10) [22]
Trung bình nhà Làng của người dân cách đườngchính 10km, gần 50% nhân dân Lào sống ở vùng cáchtrở không đường vào được trong mùa mưa hoặc khôngcó đường vào cả hai mùa, hơn 2/3 số dân không cóđiện và gần đến 50% số người dân không có nướcsạch để dùng
Bởi vì, người nghèo phần lớn tập trung vào nôngthôn, nhất là ở vùng sâu vùng xa, nên việc phát triển
cơ sở hạ tầng như điện, nước và đường giao thông làrất khó khăn
Trang 39Số liệu ở bảng 10 cho thấy, tỉ lệ người nghèođược dùng nước sạch chỉ đạt 34,6%, có điện 10,1%và có đường giao thông 32,6% Trong khi đó, tỉ lệ ngườikhông nghèo có điện, nước sạch lại khá cao so vớingười nghèo, mặc dù họ cũng sống chung ở nông thôn.Theo sự nghiên cứu của NPEP năm 2005 cho rằng: bởi
vì kinh tế ở Lào phát triển chưa đồng đều, nên đãmang lợi cho người có cơ hội tiếp cận cao hơn ,đóchính là người không nghèo
Bảng 2.10: Tỉ lệ người nghèo và không nghèo
tiếp cận với cơ sở hạ tầng
ĐVT: %
Cơ sở hạ tầng Người
nghèo
Không nghèo
84,8361,539,9837,0857,09
79,3652,531,649,8849,7
80,751,325,651,947,2
75,243,219.044,541,0
Trang 40Nguồn: [18]
Ngành giáo dục ở Lào cũng rất thấp kém, tỉ lệngười bỏ học và mù chữ rất cao Người dân phần lớnchỉ học xong trường tiểu học, chiếm 50.7% của ngườihọc xong trương khác Nhiều vùng chưa có trường họcvà còn thiếu giáo viên giảng dạy.[18]
Bảng 2.11: Tỉ lệ người đi học giữa hai nhóm:
nghèo và không nghèo
87,655,6
87,150,7
Nguồn: [18]
Cơ sở y tế còn thiếu thốn việc chăm sóc sứckhoẻ của người dân còn nhiều hạn chế Số ngườidược khám chữa bệnh rất thấp (53,2%) Các chỉ tiêukhác như trình độ cán bộ y tế cấp có sở, số ngườiđược dùng thuốc, số bác sĩ sản/100 dân còn rấtthấp Chỉ có 24% người nghèo và 38% người khôngnghèo đã được dùng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, vàtrong đó tỉ lệ số hộ nghèo được tiếp cận với cácdịch vụ này đều thấp hơn nhiều so với người khôngnghèo (bảng 2.12)
Bảng 2.12: Tỉ lệ người được tiếp cận với các
dịch vụ về y tế