Bằng cách sử dụng những tình huống, những phương pháp và cấu trúc học tập thích hợp, giáo dục vì sự phát triển bền vững có nhiệm vụ đổi mới quá trình giáo dục và dạy học ở tất cả các lĩn
Trang 1PHƯƠNG HƯỚNG ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN TRONG QUÁ TRÌNH CẢI CÁCH GIÁO DỤC HIỆN NAY
I CẢI CÁCH TOÀN DIỆN CHIẾN LƯỢC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN
1 Giáo dục vì sự phát triển bền vững công cụ chủ chốt để phát triển bền vững thế giới toàn câu hóa
Trong thể giới toàn cầu hóa, nơi mà môi trường tự nhiên đang bị tổn thương nghiêm trọng, môi trường xã hội còn tồn tại nhiều bất công và bạo lực
thì phát triển bền vững là mục tiêu tối cao của toàn thể nhân loại đạt tới, là con
đường mà thế giới hiện đại phải đi và là triết lý sống của các công dân toàn cầu phải thực hiện 1
Ở đây phát triển bền vững được hiểu là sự phát triển mới được thực hiện
nhằm gắn kết một cách hài hòa các mục tiêu phát triển sinh thái (bảo vệ tự nhiên) với các mục tiêu phát triển kinh tế (sự thịnh vượng) và các mục tiêu phát triển xã hội (công bằng xã hội) Đó là sự phát triển của thế bộ ngày nay mà không phương hại đến các thế hệ tương lai
1 Tuyên bố của Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất họp ở Rio de Janeiro, Braxin năm 1992
2 Những chiến lược phát triển bền vững là:
- Chiến lược hiệu quả: Mục tiêu của chiến lược này là tăng cường hiệu quả của các môi quan hệ input-output trong việc sử dụng các nguồn tài nguyên thông qua những đổi mới về công nghệ và phân bố sản xuất
- Chiến lược tồn tại: Chiến lược này hướng tới mục tiêu cải thiện sự hoà hợp của các dạng vật chất năng lượng bằng việc sử dụng, chẳng hạn các chất tái sinh hoặc các hợp chất thay thế
- Chiên lược lâu bền: Chiên lược này có mục tiêu nâng cao tính bền vững của các sản phẩm và vật liệu
- Chiến lược hoàn thiện mong muốn tạo ra những thay đổi về quan niệm, tạo ra những mẫu tiêu dùng và hành vi
sử dụng tiết kiệm tài nguyên và giữ gìn môi trường
- Chíêh lược hoà hợp, chung sông hoà bình nhằm phát triển sự sẵn sàng giúp đỡ những cộng đồng dân cư nhỏ (gia đình, làng xóm, trường học, cơ quan ) cũng như phát triển dịch vụ xã hội
Trang 2Hình 1 Tam giác phát triển bền vững
Trong thời đại toàn cầu hóa và phát triển bền vững, giáo dục được xem là một trong những công cụ chủ chốt nhất của phát triển bền vững Chương trình nghị sự 21 về các giải pháp phát triển bền vững chung cho toàn thế giới trong
thế kỷ XXI (Agenda 21) nêu: “Chúng ta không thể tưởng tượng nổi làm thế nào
để người dân của tất cả các dân tộc có thể tiến tới một thế giới bền vững hơn mà không có sự đóng góp của các nhà giáo dục ở khắp nơi trên thế giới’ Nhà giáo
dục Gerahrd de Haan cũng cho rằng: “Con đường phát triển bền vững đi qua
giáo dục” Điều này có nghĩa là để phát triển bền vững cần có giáo dục vì sự
phát triển bền vững3, bởi vì giáo dục vì sự phát triển bền vững theo đuổi thực
hiện triết lý cao cả là “mở ra cho tất cả mọi người cơ hội tiếp cận giáo dục có
chất lượng một cách bình đẳng, cho phép họ tiếp thu được các tri thức và giá trị cũng như học được các phương thức hành động và phong cách sống cần thiết cho một tương lai bền vững đáng sống và sự thay đổi xã hội một cách tích cực”
theo quan điểm của UNESCO
3 Những ý tưởng đầu tiên về giáo dục vì sự phát triển bền vững đã xuất hiện trong Chương 36 “Khuyến khích
giáo dục, đào tạo và nhận thức cộng đồng của Chương trình nghị sự 21 (Agenda 21)
Lĩnh vực xã hội
Thách thức
-Hố sâu ngăn cách giữa giàu và nghèo ngày càng lớn
- Dân chủ bị chà đạp
- Bủng nổ dân số
- Chủ nghĩa khủng bố lan rộng
Giai pháp
- Đổi mới cách sống và thực hiện công bằng xã hội
- Thực hiện chiến lược hoàn thiện và chung sống hòa bình
Lĩnh vực kinh tế
Thách thức
- Toàn cầu hóa các dòng chảy
hàng hóa và tài chính
- Nguy cơ cạn kiệt tài nguyên và
khủng hoảng kinh tế
- Trật tự kinh tế thế giới không
công bằng
Giải pháp
- Điểm mới công nghệ, sản xuất,
sản phẩm
- Thực hiện chiến lược hiệu quả
và chiến lược lâu bền
Lĩnh vực sinh thái
Thách thức:
- khối lượng khổng lổ chất độc hại thải ra môi trường
- khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên
- Sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên
Giải pháp:
- Đổi mới việc phân tích và xử lí môi trường
- Thực hiện chiến lược thích ứng
CÔNG BẰNG
XÃ HỘI
HIỆU QUẢ KINH
TẾ CÂN BẰNG SINH THÁI
Trang 3Xét về bản chất, giáo dục vì sự phát triển bền vững không đồng nghĩa với
giáo dục môi trường Trên thực tế, giáo dục vì sự phát triển bền vững có nội
hàm rộng hơn so với giáo dục môi trường và phát triển Khác với giáo dục môi trường và phát triển, giáo dục vì sự phát triển bền vững đưa ra cách tiếp cận rộng hơn, nhằm nhận thức tốt hơn mới liên kết của các mặt môi trường, kinh tế
xã hội (được gọi là Tam giác phát triển bền vững) Giáo dục Vì sự phát triển bền vững có nhiệm vụ phải góp phần vào việc thực hiện những mục tiêu ưu tiên của phát triển bền vững đã được xác định trong Chương trình nghị sự 21
Tăng cường giáo dục vì sự phát triển bền vững trong giáo dục phổ thông và đào tạo giáo viên là một đòi bởi bắt buộc, một nhiệm vụ của ngành giáo dục và
đào tạo nhằm đưa người học “vào vị trí mà nó có thể đóng vai trò tích cực trong
việc tạo ra một hiệu quả bền vững về mặt sinh thái, kinh tế và tạo nên một môi trường xã hội công bằng trên phạm vi toàn cầu, quốc gia và cộng đồng địa phương Bằng cách sử dụng những tình huống, những phương pháp và cấu trúc học tập thích hợp, giáo dục vì sự phát triển bền vững có nhiệm vụ đổi mới quá trình giáo dục và dạy học ở tất cả các lĩnh vực để giúp cho các cá nhân chiếm lĩnh được các kỹ năng phân tích, đánh giá và năng lực hành động mà phát triển bền vững đòi hỏi’
2 Đổi mới căn bản, toàn diện đào tạo giáo viên ở trường cao đẳng và đại học sư phạm theo triết lý của giáo dục vì sự phát triển toàn diện
Khi những mục tiêu và những điều kiện cho sự phát triển thay đổi thì đổi mới là một tất yếu khách quan Từ thập kỷ 50 đến thập kỷ 80 của thể kỷ XX, mô hình đào tạo và bồi dưỡng giáo viên của các trường cao đẳng sư phạm và đại học sư phạm ở Việt Nam được xây dựng dựa theo mẫu hình của các trường cao đẳng và đại học sư phạm của Liên Xô (trước đây), nó đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước với nền kinh tế kế hoạch tập trung, bao cấp Từ cuối những năm 1980, thế giới chuyển sang kỷ nguyên toàn cầu hoá và phát triển bền vững, đất nước ta tiến hành những cải cách mạnh mẽ nhằm phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì mô hình đào tạo giáo viên nêu trên đã bộc lộ ra nhiều nhược điểm, đòi hỏi phải đổi mới một cách căn bản và toàn diện
Trang 4Đổi mới căn bản, toàn diện đào tạo giáo viên theo định hướng phát triển bền vững là xu thế phát triển mạnh mẽ của giáo dục hiện đại trên thế giới Đây cũng được xem là một đòi hỏi tất yếu đối với các trường cao đẳng và đại học ở
Việt Nam vì thực chất đây là quá trình hiện đại hóa, chuẩn hóa, dân chủ hóa, xã
hội hóa và hội nhập quốc tế nhằm tạo ra những cơ hội bình đẳng cho các giáo sinh, giáo viên phổ thông tiếp cận và hưởng thụ quá trình đào tạo và bồi dưỡng giáo viên có chất lượng trong các môi trường và cộng đồng sư phạm bền vững
Quá trình đổi mới căn bản, toàn diện cũng đòi hỏi các nhà trường sư phạm
phải phấn đấu để trở thành các trung tâm của giáo dục vì sự phát triển bền vững
và thành trì phát triển bền vững ở Việt Nam Vì vậy, tăng cường giáo dục vì sự
phát triển bền vững trong các trường sư phạm của Việt Nam là một đòi hỏi cấp bách Lâu nay, chúng ta thường hiểu một cách đơn giản rằng tăng cường giáo dục vì sự phát triển bền vững chỉ là sự tích hợp, lồng ghép các vấn đề và nội dung của phát triển bền vững vào chương trình đào tạo giáo viên Điều này đúng
nhưng chưa đủ Tăng cường giáo dục vì sự phát triển bền vững ở các trường đại
học nói chung và trường cao đẳng và đại học sư phạm nói riêng là quá trình kiến tạo và vận hành đồng thời hai quá trình cơ bản: quá trình phát triển bền vững và quá trình giáo dục vì sự phát triển bền vững bên trong nhà trường sư phạm Nếu như việc kiến tạo và quá trình phát triển bền vững là nhằm tạo nên
một thể chế và không gian phát triển bền vững để các trường sư phạm tăng cường hiện đại hóa, chuẩn hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế quá trình đào tạo và bồi dưỡng giáo viên, thì việc kiến thiết và phát triển các quá trình giáo dục vì sự phát triển bền vững sẽ làm cho các trường sư phạm trở thành các chủ thể, các trung tâm đầy sức mạnh của giáo dục vì sự phát triển bền vững, nơi nghiên cứu và đào tạo ra những nhà giáo dục, giáo viên có năng lực giáo dục vì
sự phát triển bền vững Hai quá trình này có mối quan hệ mật thiết với nhau Quá trình thứ nhất tạo nên điều kiện, nền tảng cơ bản cho quá trình thứ hai hình thành và phát triển Việc triển khai và vận hành có hiệu quả quá trình giáo dục phát triển bền vững sẽ củng cố và tạo đã thúc đẩy sự phát triển của quá trình phát triển bền vững ở các trường cao đẳng, đại học sư phạm
Đáng tiếc là cho đến nay các trường cao đẳng và đại học sư phạm chủ ý nhiều hơn đến quá trình thứ hai (tích hợp, lồng ghép giáo dục vì sự phát triển bền vững vào trong chương trình đào tạo giáo viên), mà chưa coi trọng đầu tư
Trang 5đúng mức đến quá trình phát triển bền vững Trong thời gian qua, các trường cao đẳng, đại học sư phạm được mở rộng và tăng trưởng nhanh nhưng chưa chủ
ý nhiều đến phát triển theo chiều sâu và phát triển theo những nguyên tắc của sự
các trường sư phạm theo định hướng phát triển bền vững bởi vì cho dù các hoạt động giáo dục vì sự phát triển bền vững được thiết kế tốt đến đâu mà không có một môi trường và cộng đồng sư phạm bền vững thì những hoạt động này cũng không thể phát triển được Trong bối cảnh đó, việc đổi mới nhận thức để tăng cường các quá trình phát triển bền vững trong các trường cao đẳng, đại học sư phạm đã và đang trở thành một thách thức lớn đối với các trường sư phạm ở Việt Nam
Mặc dù còn nhiều khó khăn và thách thức, nhưng với bề dày kinh nghiệm
học sư phạm hoàn toàn có khả năng để kiến tạo và thúc đẩy các quá trình phát
triển bền vững Sự phát triển bền vững của các trường sư phạm là quá trình đổi
mới căn bản, toàn diện quá trình đào tạo và bồi dưỡng giáo viên theo hướng hiện đại hóa, chuẩn hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế nhằm xác lập, vận hành các hoạt động nghiên cứu và đào tạo giáo viên theo những mục tiêu, nguyên tắc mới và những công cụ mới của giáo dục vì sự phát triển bền vững Đây là sự phát triển về chất chủ không phải sự phát triển về lượng Sự
phát triển này không chỉ đáp ứng những đòi hỏi của ngày hôm nay mà còn của ngày mai Để đạt được sự phát triển bền vững như vậy, các trường cao đẳng, đại học sư phạm cắn phải:
- Xác lập và khẳng định mục tiêu phát triển bền vững: Điều này cần được xác định trong chiến lược phát triển của trường sư phạm, phát triển bền vững và xây dựng các trường sư phạm thành các nhà trường đại học bền vững với những
4 Dưới con mắt của các nhà nghiên cứu nước ngoài, công tác đào tạo giáo viên của Việt Nam còn một số hạn chế nổi bật sau: 1) Chưa có bằng chứng là những chính sách và nỗ lực đối mới trong đào tạo giáo viên có tác động ở quy mô lớn trong việc thay đổi tư duy cũng như cách thức dạy học ở trường lớp; 2) Về nhận thức, còn thiếu những hiểu biết sâu rộng về mô hình dạy và học mới; 3) Các chỉ số định lượng đo kết quả của những nỗ lực trong đào tạo giáo viên còn nghèo nàn, vì thế khó mà biết tiến trình đổi mới đã đạt được những gì và đang ở đâu; 4) Tư tưởng “học thông qua hành” văn chỉ là khẩu hiệu Nó không biến thành hành động của mọi cấp của hệ thống giáo dục chương trình đào tạo ban đầu cũng như tại chức vẫn được thiết kế theo kiểu cũ, lạc hậu, chưa lấy người học làm trung tâm, chủ yếu đọc chép
5 Một trong những quan điểm chỉ đạo trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 là:“Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu câu xuyên suốt trong Chiến lược” (Đảng Cộng sản
Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật Hà Nội 2011
Tr.98)
Trang 6nền tảng và giá trị văn hóa (ví dụ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội xác định đó
là Mô phạm - Sáng tạo - Cống hiến) cần được xem là những mục tiêu phát
triển tối cao của nhà trường
- Xác lập con đường phát triển bền vững: Đổi mới căn bản và toàn diện là con đường duy nhất đúng dẫn để các trường cao đẳng và đại học sư phạm đạt được những mục tiêu của phát triển bền vững Cẩn tiến hành đối mới toàn diện trên cả ba mặt cơ bản sau đây:
1) Đổi mới về mặt thể chế (tổ chức quản lý);
2) Đá mới về công nghệ đào tạo;
3) Đổi mới về hành vi - thái độ (đối mới tư duy và hành động)
- Khẳng định và hiện thực hóa các quan điểm và phương châm phát triển
bền vững: Coi tăng trưởng chất lượng là cốt lõi của sự đổi mới, là thách thức
lớn lao và là nền tảng minh chứng cho sự đổi mới thực sự theo quan điểm phát triển bền vững của các trường cao đẳng và đại học sư phạm Chỉ có thể đạt
được danh hiệu “trường sư phạm bền vững” nếu như các trường cao đẳng và
đại học sư phạm chú trọng tăng cường chất lượng chủ không phải số lượng của quá trình đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, đặt tăng trưởng chất lượng lên trên sự tăng trưởng về số lượng
Xác lập và vận hành theo những nguyên tắc của phát triển bền vững: Phát triển bền vững phải dựa trên những nguyên tắc mới, khác biệt về chất 80 với những nguyên tắc cũ đã chi phối hoạt động trong nhiều năm hoạt động của các trường sư phạm Những nguyên tắc này không chỉ định hướng nội dung cho các mặt khác nhau của quá trình đổi mới mà còn là cơ sở để xác định và xây dựng
hệ thống các công cụ phát triển bền vững Những nguyên tắc sau đây cần được đặc biệt coi trọng:
+ Sử dụng một cách hợp lý và bền vững các nguồn lực đặc biệt là nguồn nhân lực;
+ Chú ý đến các giới hạn chịu đựng của hệ thống nhà trường trong những điều kiện nhất định;
+ Phát triển các quan hệ hợp tác và liên kết quốc gia và quốc tế trong đó hội nhập vào mạng lưới giáo dục đại học ở khu vực và thể giới là một trọng tâm;
Trang 7+ Tăng cường vai trò chủ thể của sinh viên trong các hoạt động học tập và nghiên cứu khoa học, thực hiện đồng thời cả hai tiếp cận “từ trên xuống (Top down)” và “Từ dưới lên (Bottom up)” trong quá trình đào tạo ở nhà trường sư phạm
Tạo lập một hệ thống các công cụ cần thiết để tiến hành và duy trì sự đổi mới căn bản và toàn diện Trong hệ thống này cần đặc biệt coi trọng việc xây dựng và phát triển ba nhóm công cụ sau đây:
+ Nhóm các công cụ định hướng phát triển;
+ N hóm các công cụ khuyến khích (thưởng, phạt);
+ Nhóm các cộng cụ điều khiển và quản lý
Mô hình dưới đây sẽ thế hiện quá trình đổi mới căn bản và toàn diện đào tạo giáo viên ở các trường sư phạm theo những định hướng của phát triển bền vững
Hình 2 Mô hình tiếp cận để đạt các mục tiêu phát triển bền vững và trở thành một chủ thể của giáo dục vì sự phát triển bền vững ở các trường cao đẳng, đại học sư phạm
II ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP ĐÀO TẠO VÀ BÔI DƯỠNG GIÁO VIÊN
1 Xây dựng và thực hiện chiến lược mới về đào tạo và bồi dưỡng giáo viên
Trang 8Chương trình giáo dục và sách giáo khoa phổ thông ở nước ta sau năm
2015 được thiết kế và biên soạn theo những định hướng đối mới nhằm đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hoá và phát triển bền vững đang được đẩy mạnh So với những chương trình và sách giáo khoa được áp dụng trong hệ thống giáo dục của nước
khoa mới sau năm 2015 có nhiều khác biệt căn bản Nếu như “trước đây,
chương trình giáo dục, chương trình đào tạo (gọi tắt là chương trình) thường được xác định là bản phác thảo nội dung học vẫn được nhà trường trang bị, nhìn vào đó người giáo viên biết phải sử dụng cho học sinh mình những gì, với khối lượng và mức độ ra sao” và được thiết kế chủ yếu “theo quan niệm truyền thông, kế thừa và phát triển kinh nghiệm trong nước, tiếp thu lý luận về chương trình của Liên Xô, Cộng hòa dân chủ Đức”, thì từ sau năm 2015 chương trình và
sách giáo khoa phổ thông được thiết kế và biên soạn theo quan điểm dạy học hiện đại, lấy học sinh làm trung tâm và với định hướng cơ bản là tạo lập cho học
Đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông tất yếu cần đổi mới phương pháp dạy học và tổ chức giáo dục, dạy học ở các trường phổ thông Vì vậy, trong giai đoạn mới, chiến lược đào tạo và bồi dưỡng giáo viên của các trường cao đẳng và đại học sư phạm phải thay đổi nhằm thực hiện mục tiêu cơ bản và ưu tiên là tạo lập cho giáo viên những năng lực mới, thích ứng với đòi hỏi của đối mới giáo dục phổ thông sau năm 2015 Trước đây, phương thức đào tạo và bồi dưỡng giáo viên được áp dụng dựa trên việc cập nhật hoả kiến thức và rèn luyện kỹ năng dạy học cho giáo viên Hiện nay, trên thế giới và ở Việt Nam đang phát triển xu hướng chuyển trọng tâm từ phương thức đào tạo và bồi
dưỡng giáo viên “dựa trên kỹ năng” sang phương thức bồi dưỡng giáo viên dựa trên “phát triển thái độ và niềm tin” (Richard Culle)
6 Từ sau Cách mạng Tháng Tám (1945) đến nay, chúng ta đã trải qua các cuộc cải cách giáo dục vào các năm
1950, 1956, 1981 và những năm 2000 Ứng với mỗi cuộc cải cách giáo dục là một hệ thống chương trình và sách giáo khoa mới
7 Những năng lực cơ bản mà nhà trường trung học phổ thông ở Việt Nam cần phải hình thành và phát triển cho học sinh là:
- Năng lực hành động có hiệu quả;
- Năng lực hợp tác, phôi hợp hành động trong học tập và đời sống;
- Năng lực sáng tạo, thích ứng với những thay đổi trong cuộc sống;
- Năng lực tự khẳng định bản thân
Trang 9Để phục vụ tốt việc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục phổ “thông, chiến lược của các trường cao đẳng, đại học sư phạm cần phải giúp cho các giáo sinh và giáo viên phổ thông không chỉ có được những kiến thức và kỹ năng giáo dục và dạy học hiện đại, mà còn phải phát triển ở họ những giá trị và niềm tin mới, tức là hình thành năng lực hành động sư phạm Ở đây, năng lực được hiểu
là khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cả nhân trên cơ
sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm sự sẵn sàng hành động và niềm tin
Để có năng lực hành động, cần phải hình thành, năng cao, phát triển các năng lực cơ bản như năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội và
8 Dưới đây là quan niệm của tác giả về các loại năng lực cơ bản (theo Bernd Meier):
- Năng lực chuyên môn là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như đánh giá kết quả một cách độc lập, có phương pháp và chính xác về mật chuyên môn (bao gồm khả năng tư duy lôgích, phân tích, tổng hợp
và trừu tượng, khả năng nhận biết các mối quan hệ hệ thống và quá trình)
- Năng lực phương pháp là khả năng đôi với những hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đế Trung tâm của năng lực phương pháp là những phương pháp nhận thức, xử lý, đánh giả, truyền thụ và giới thiệu
- Năng lực xã hội là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống xã hội cũng như những nhiệm vụ khác nhau có sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác Trọng tâm là ý thức được trách nhiệm, khả năng tự tổ chức, thực hiện các hành động xã hội, khả năng cộng tác và giải quyết xung đột
- Năng lực cá nhân là khả năng xác định, suy nghĩ và đánh giá những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của mình, phát triển được năng khiếu cả nhân cũng như xây dựng kế hoạch; những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chỉ phôi các hành vi ứng xử
Trang 10- N ă
n g
l ự c
c h u y ê n
m ô n
Năng lực chuyên môn
Năng lực cá thể
Hộp 1 Mô hình động năng về cấu trúc năng lực hành động
Cấu trúc năng lực hành động:
Các thành phần năng lực gặp nhau tạo thành năng lực hành động
Quan điểm về phát triển năng lực tạo cho chúng ta một tiếp cận tổng thể trong việc hoạch định chiến lược đào tạo và bồi dưỡng giáo viên nhằm phục vụ đắc lực quá trình đổi mới giáo dục phổ thông Theo quan điểm này, khi thiết kế các chương trình đào tạo và bồi dưỡng giáo viên các trường cao đẳng, đại học sư phạm cần phải:
- Xác định mục đích đào tạo và bồi dưỡng giáo viên: cần mô tả yêu cầu
trình độ đầu ra một cách rõ ràng theo các thành phần năng lực (năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội và năng lực cá nhân)
- Xác định nội dung đào tạo và bồi dưỡng giáo viên: cần mô tả nội dung
đầu vào theo mô hình cấu trúc năng lực Ví dụ, cần nêu rõ nội dung cần bồi dưỡng về chuyên môn, về phương pháp - chiến lược, cách giao tiếp và làm việc hợp tác, về khả năng tự học suốt đời
Hình 3 Khái niệm đào tạo và bồi dưỡng giáo viên theo định hướng phát triển năng lực