luận văn, khóa luận, đề tài, chuyên đề, thạc sĩ, tiến sĩ
Trang 1CHƯƠNG I PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Xuất nhập khẩu là hoạt động không thể thiếu đối với sự phát triển của mỗi
quốc gia cũng như đóng vai trò vô cùng quan trọng với nền kinh tế quốc dân, nó tác
động tích cực tới việc giải quyết công ăn việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, làm cơ
sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại, đảm bảo sự cân bằng cán cân
thanh toán ngoại thương Với chính sách kinh tế mở, các công ty, xí nghiệp đã đẩy
mạnh tiến trình về thương mại, mà đặc biệt về việc buôn bán, vận chuyển hàng hoá
và thanh toán quốc tế
Quy trình xuất khẩu được diễn ra qua rất nhiều bước nghiệp vụ phức tạp như:
Giao dịch và đàm phán để kí kết hợp đồng, chuẩn bị hàng xuất khẩu, giao hàng xuất
khẩu bằng đường biển, làm thủ tục hải quan hàng hoá xuất nhập khẩu, nghiệp vụ
thuê phương tiện vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu, mua bảo hiểm cho hàng hoá,
thanh toán tiền hàng trong xuất nhập khẩu… Sau khi gia nhập các tổ chức ASEAN,
AFTA, APEC, thực hiện thương mại Việt – Mỹ và đang đàm phán gia nhập
WTO đã mở ra cho các doanh nghiệp trong nước một thị trường cũng như những
khó khăn và thử thách Để thúc đẩy xuất khẩu thì cần phải cải tiến, nâng cao, hoàn
thiện các bước nghiệp vụ; do đó, đòi hỏi những doanh nghiệp xuất nhập khẩu phải
thực sự hiểu rõ, không ngừng học hỏi, nâng cao trình độ và hoàn thiện chuyên môn
nghiệp vụ của mình
Sản phẩm thủ công mỹ nghệ (TCMN) là mặt hàng có truyền thống lâu đời của
Việt Nam, được xuất khẩu khá sớm so với các mặt hàng khác, đã đóng góp tích cực
vào kim ngạch xuất khẩu của cả nước, đồng thời có một vai trò quan trọng trong giải
quyết một số vấn đề kinh tế xã hội tại nông thôn Các mặt hàng thủ công mỹ nghệ có
mức độ tăng trưởng khá cao trong những năm qua, bình quân khoảng 20%/ năm, với
kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 750 triệu USD vào năm 2007, năm 2008 mặc dù bị tác
động ít nhiều của suy thoái kinh tế toàn cầu nhưng kim ngạch xuất khẩu cũng đã đạt
gần 1 tỷ USD Thời gian qua, thị trường xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ở nước ta
ngày càng được mở rộng, có mặt tại 163 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, đây
cũng là mặt hàng có tiềm năng tăng trưởng xuất khẩu rất lớn
Tại Việt Nam, hàng thủ công mỹ nghệ sản xuất ra chủ yếu dành cho xuất
khẩu, tiêu dùng trong nước rất ít Để hàng thủ công mỹ nghệ của nước ta ngày càng
có tính cạnh tranh cao hơn các doanh nghiệp Việt Nam đã dần loại bớt đi những khâu
trung gian không hiệu quả, làm tăng chất lượng thành phẩm Ngày nay ngoài những
doanh nghiệp chuyên thu mua, xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ; một số doanh
nghiệp trước đây chuyên kinh doanh hàng thủ công mỹ nghệ cũng bắt đầu được phép
xuất khẩu Tuy vậy, hiện trạng này cũng dẫn đến một hậu quả đó là các nhà xuất
khẩu thủ công mỹ nghệ thiếu kiến thức hoặc có nhưng không thực sự rõ ràng về quy
trình xuất nhập khẩu làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp đồng
thời dễ tạo điều kiện để phía nhập khẩu gây khó khăn cho hàng thủ công mỹ nghệ
của Việt Nam
Do ý thức được sự phức tạp và tầm quan trọng của quy trình xuất nhập khẩu đối
với hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp Cũng như trước đòi hỏi thực tế của việc nâng
cao hiệu quả công tác thực hiện hợp đồng đối với hàng thủ công mỹ nghệ Vì vậy, tôi đã
chọn đề tài “Tìm hiểu quy trình xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của hợp tác xã
thêu may Kim Chi và một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình”.
Trang 22 Mục tiêu chung:
Mục tiêu của chuyên đề này nhằm giúp chúng ta hiểu rõ hơn các bước trong
quy trình xuất khẩu mặt hàng thủ công mỹ nghệ từ đó có thể hoàn thiện dần các
nghiệp vụ trong quy trình xuất nhập khẩu của hợp tác xã (HTX) thêu may Kim Chi
3 Mục tiêu cụ thể:
Để thực hiện được mục tiêu trên, chuyên đề này cần phải làm rõ được những nội
dung sau:
- Tìm hiểu thực trạng quy trình xuất khẩu tại hợp tác xã Kim Chi
- Nêu ra một số giải pháp hoàn thiện quy trình xuất khẩu mặt hàng thủ công
mỹ nghệ cho hợp tác xã Kim Chi trong thời gian tới
4 Ý nghĩa của đề tài:
Đẩy mạnh xuất khẩu được coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lược để phát triển
kinh tế thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước Với vốn kiến thức hiện
tại, tôi cố gắng nêu ra được những nét nổi bật trong quy trình xuất khẩu hàng thủ
công mỹ nghệ từ đó nêu ra một số giải pháp để cuối cùng hợp tác xã thêu may Kim
Chi có thể hiểu rõ hơn, nâng cao và hoàn thiện quy trình xuất khẩu của mình
Trang 3CHƯƠNG II CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Khái niệm và vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với nền kinh tế thị
trường:
1.1 Khái niệm:
Hoạt động xuất khẩu là việc bán hàng hoá, dịch vụ cho một quốc gia khác trên
cơ sở dùng tiền tệ để thanh toán Tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối với một quốc gia
hay đối với hai quốc gia Mục đích của hoạt động xuất nhập khẩu là khai thác được
lợi thế của từng quốc gia trong phân công lao động quốc tế Và khi trao đổi hàng hoá
giữa các quốc gia là có lợi thì các quốc gia đều tích cực tham gia vào hoạt động này
Hoạt động xuất khẩu là một hình thức cơ bản của thương mại quốc tế, nó được
hình thành từ rất lâu đời và ngày càng phát triển cho đến giai đoạn hiện nay Hoạt
động xuất khẩu sơ khai chỉ là hàng đổi hàng và sau đó phát hiện ra nhiều hình thức
khác nhau như xuất khẩu trực tiếp, buôn bán đối lưu, xuất khẩu uỷ thác
1.2 Vai trò của hoạt động xuất khẩu:
1.2.1 Đối với nền kinh tế mỗi quốc gia:
Thứ nhất: xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Theo bước đi phù hợp là con đường tất yếu khắc
phục nghèo đói Để công nghiệp hoá đất nước trong thời gian ngắn chúng ta phải có
nguồn vốn đủ lớn để nhập khẩu máy móc thiết bị kỹ thuật và một số loại khác hiện
đại và tiên tiến Khai thác tốt tiềm năng của từng quốc gia nhất là lĩnh vực có lợi thế
so sánh
Thứ 2: Xuất khẩu thúc đẩy quá trình kinh tế và phát triển sản xuất.
Xuất khẩu lấy thị trường thế giới làm thị trường của mình vì vậy quá trình sản
xuất phải xuất phát từ nhu cầu thị trường thế giới Những ngành sản xuất tạo ra sản
phẩm phục vụ tốt cho thị trường các nước, sẽ phát triển mạnh mẽ Những ngành nào
không thích ứng sẽ bị đào thải
- Xuất khẩu tạo cơ hội mở rộng thị trường tiêu thụ góp phần làm cho sản xuất
phát triển ổn định
- Xuất khẩu là điều kiện cho các ngành khác có cơ hội phát triển thuận lợi
- Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất,
nâng cao năng lực sản xuất trong nước đồng thời xuất khẩu tạo tiền đề kinh tế kỹ
thuật nhằm cải tạo và nâng cao nguồn lực sản xuất trong nước
- Thông qua xuất khẩu hàng hóa nước ta tham gia cạnh tranh trên thị trường thế
giới cả về giá cả và chất lượng, cuộc cạnh tranh này buộc chúng ta phải tổ chức lại
sản xuất trong nước, hình thành cơ cấu thích nghi với thị trường thế giới
Thứ 3: Xuất khẩu tác động tích cực tới công ăn việc làm cải thiện đời sống
nhân dân
Thứ 4: Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy sự phát triển các mối quan
hệ kinh tế đối ngoại làm cho nền kinh tế nước ta gắn chặt với lao động
Trang 41.2.2 Đối với một doanh nghiệp:
Vươn ra thị trường nước ngoài là một xu hướng chung của một quốc gia, các
doanh nghiệp Việc xuất khẩu hàng hoá dịch vụ đưa lại cho doanh nghiệp các lợi ích
sau:
- Hoạt động xuất khẩu giúp cho các doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển
- Thông qua hoạt động xuất khẩu, các doanh nghiệp trong nước tham gia vào
cuộc cạnh tranh trên thị trường về giá cả và chất lượng những yếu tố đó bắt buộc
doanh nghiệp phải hình thành cơ cấu xuất khẩu phù hợp với thị trường
Xuất khẩu là một nhân tố tích cực nhất đối với doanh nghiệp trong quá trình
hoàn thiện chất lượng sản phẩm và đề ra các giải pháp nhằm củng cố, nâng cao hiệu
quả trong công tác sản xuất cũng như tiêu thụ
- Doanh nghiệp tiến hành xuất khẩu có cơ hội mở rộng quan hệ buôn bán kinh
doanh với nhiều đối tác nước ngoài trên cơ sở cùng có lợi
- Sản xuất hàng xuất khẩu giúp cho doanh nghiệp thu hút được nhiều lao động
tạo thu nhập ổn định cho cán bộ công nhân viên lao động trong doanh nghiệp
- Mặt khác thị trường quốc tế là một thị trường rộng lớn chứa đựng nhiều cơ
hội cũng như rủi ro Những doanh nghiệp kinh doanh trên thị trường này nếu thành
công sẽ có thể nâng cao cũng như mở rộng thế lực, uy tín của doanh nghiệp mình cả
trong và ngoài nước
2 Các hình thức xuất khẩu trong thương mại quốc tế:
Trong hoạt động xuất nhập khẩu, có nhiều phương thức giao dịch: giao dịch trực
tiếp, giao dịch qua trung gian, buôn bán đối lưu, giao dịch tại hội chợ và triễn lãm,
gia công, tái xuất khẩu hay đấu thầu quốc tế Mỗi phương thức giao dịch đều có
những đặc thù riêng, ưu và nhược điểm khác nhau Để đẩy mạnh hoạt động kinh
doanh xuất nhập khẩu, mỗi doanh nghiệp tuỳ vào điều kiện kinh doanh của mình
(quy mô, vốn, đặc điểm hàng hoá mua bán,…) mà lựa chọn phương thức giao dịch
thích hợp hoặc phối hợp lựa chọn nhiều phương thức giao dịch cùng một lúc Tuy
nhiên ở đây tôi xin nêu ra hai hình thức xuất khẩu mà các doanh nghiệp Việt Nam
thường sử dụng nhất
2.1 Xuất khẩu trực tiếp:
Người bán và người mua trực tiếp quan hệ với nhau bằng cách gặp mặt, qua thư
từ, điện tín để bàn bạc, thoả thuận một cách tự nguyện Nội dung thoả thuận không
có sự ràng buộc với lần giao dịch trước việc mua không nhất thiết phải gắn liền với
việc bán
Hoạt động xuất khẩu theo phương thức này chỉ khác với hoạt động nội thương ở
chỗ: bên mua và bên bán có quốc tịch khác nhau, đồng tiền thanh toán là ngoại tệ đối
với một hoặc cả hai bên, hàng hoá được di chuyển qua biên giới Trong giao dịch,
người ta làm một loạt các công việc như: nghiên cứu tiếp cận thị trường, người mua
hỏi giá và đặt hàng, người bán chào giá Sau đó 2 bên hoàn giá và chấp nhận giá,
cuối cùng là ký kết hợp đồng Trong thương mại quốc tế ngày nay thì hình thức này
có xu hướng tăng lên vì nó đảm bảo được các điều kiện an toàn chung hơn cho bên
mua và bên bán
2.2 Xuất khẩu qua trung gian:
Đây là hình thức mua bán quốc tế được thực hiện nhờ sự giúp đỡ của trung gian
thứ ba, ta thường gọi đây là hình thức xuất khẩu uỷ thác Trong hình thức xuất khẩu
Trang 5uỷ thác, đơn vị ngoại thương đóng vai trò trung gian xuất khẩu, làm thay cho đơn vị
sản xuất những thủ tục cần thiết để xuất hàng và hưởng phần trăm theo giá trị hàng
xuất đã được thoả thuận
Người trung gian phổ biến trên thị trường là trung gian và đại lý
3 Quy trình xuất khẩu hàng hoá của các doanh nghiệp kinh doanh xuất
nhập khẩu:
Trong quy trình gồm nhiều bước có quan hệ chặt chẽ với nhau bước trước là cơ
sở, tiền đề để thực hiện tốt bước sau Tranh chấp thường xảy ra trong tổ chức thực
hiện hợp đồng là do lỗi yếu kém ở một khâu nào đó Để quy trình xuất khẩu được
tiến hành thuận lợi thì làm tốt công việc ở các bước là rất cần thiết Thông thường
một quy trình xuất khẩu hàng hóa gồm một số bước sau
3.1 Nghiên cứu thị trường tìm kiếm đối tác.
Thị trường nước ngoài gồm nhiều yếu tố phức tạp, khác biệt so với thị trường
trong nước bởi vậy nắm vững các yếu tố thị trường hiểu biết các quy luật vận động
của thị trường nước ngoài là rất cần thiết phải tiến hành hoạt động nghiên cứu thị
trường
3.1.1 Nắm vững thị trường nước ngoài.
Nghiên cứu thị trường có ý nghĩa cực kỳ quan trọng Trong nghiên cứu cần nắm
vững một số nội dung: những điều kiện chính trị, thương mại chung, luật pháp và
chính sách buôn bán, những điều kiện về tiền tệ và tín dụng, điều kiện vận tải và tình
hình giá cước, một số nội dung liên quan đến mặt hàng kinh doanh trên thị trường đó
như nhu cầu và lượng tiêu thụ của thị trường, tập quán và thị hiếu tiêu dùng của
người dân, giá thành và dự biến động giá cả, mức độ cạnh tranh của mặt hàng đó
3.1.2 Nhận biết mặt hàng kinh doanh và lựa chọn mặt hàng kinh doanh.
Nhận biết mặt hàng kinh doanh trước tiên phải dựa vào nhu cầu tiêu dùng về quy
cách chủng loại, kích cỡ, giá cả, thời vụ và thị hiếu cũng như tập quán tiêu dùng của
từng thị trường Từ đó xem xét các khía cạnh của hàng hoá trên thị trường thế giới
Về khía cạnh thương phẩm phải hiểu rõ giá trị công dụng, các đặc tính, phẩm chất,
mẫu mã…
3.1.3 Tìm kiếm khách hàng.
Trong quá trình nghiên cứu thị trường nước ngoài các đơn vị kinh doanh phải tìm
đựơc bạn hàng Lựa chọn khách hàng giao dịch cần dựa trên một số đặc điểm sau: uy
tín của bạn hàng trên thị trường, thời gian hoạt động kinh doanh, khả năng tài chính,
cơ sở vật chất kỹ thuật, mạng lưới phân phối tiêu thụ sản phẩm…
3.2 Lập phương án kinh doanh.
Dựa vào những kết quả thu được trong quá trình nghiên cứu tiếp cận thị trường
nước ngoài đơn vị kinh doanh xuất khẩu lập phương án kinh doanh Xây dựng
phương án kinh doanh gồm các bước sau:
Bước 1: Đánh giá tình hình thị trường
Bước 2: Lựa chọn mặt hàng thời cơ, phương thức kinh doanh
Bước 3: Đề ra mục tiêu
Trang 6Trên cơ sở đánh giá về thị trường nước ngoài khả năng tiêu thụ sản phẩm xuất
khẩu thị trường đó mà đơn vị kinh doanh xuất khẩu đề ra mục tiêu cho từng giai đoạn
cụ thể khác nhau
Giai đoạn1: Bán sản phẩm với giá thấp nhằm cạnh tranh với sản phẩm cùng loại,
tạo điều kiện cho người tiêu dùng có cơ hội dùng thử, chiếm lĩnh thị phần
Giai đoạn 2: Nâng dần mức giá bán lên để thu lợi nhuận Mục tiêu này ngoài
nguyên tố thực tế cần phù hợp với khả năng của công ty là mục đích để công ty phấn
đấu hình thành và có thể vượt mức
Bước 4: Đề ra biện pháp thực hiện
Bước 5: Đánh giá hiệu quả của việc kinh doanh
3.3 Đàm phán và kí kết hợp đồng.
3.3.1 Đàm phán.
Chúng ta đã biết rằng chuẩn bị chi tiết đầy đủ các nội dung cần đàm phán là việc
rất quan trọng để cho cuộc đàm phán đạt hiệu quả cao hơn và giảm được rủi ro trong
quá trình thực hiện hợp đồng sau này Hiện nay trong đàm phán thương mại thường
sử dụng ba hình thức đàm phán cơ bản là:
+ Đàm phán qua thư tín: Giao dịch theo phương thức này ít tốn kém, tuy nhiên
thời gian đàm phán kéo dài
+ Đàm phán qua điện thoại: Đàm phán bằng cách này có được kết quả nhanh
chóng nhưng tốn kém và không thể làm bằng chứng cho sự thoả thuận
+ Đàm phán gặp mặt trực tiếp: Phương thức đàm phán này có ưu điểm so với
hai phương thức trên do: tiến độ đàm phán nhanh, có hiệu quả, giải quyết được thắc
mắc của mỗi bên, tuy vậy nhưng phương thức này rất tốn kém
Ở Việt Nam hiện nay hai hình thức đàm phán qua thư tín và đàm phán qua điện
thoại là được sử dụng phổ biến nhất
* Các bước tiến hành thông thường trong đàm phán:
+ Hỏi hàng, hỏi giá:
Là hình thức người mua yêu cầu người bán cho biết giá cả và những thông tin
có liên quan đến hàng hoá gồm: tên hàng, quy cách, phẩm chất, số lượng, thời hạn
giao hàng; các điều kiện giao hàng; các điều kiện thanh toán…… trên cơ sở đó người
mua có thể nghiên cứu và quyết định mua hàng
+ Chào hàng, báo giá;
Là người bán gửi thư chào hàng tới người mua nhằm thể hiện mong muốn
bán hàng Nội dung chào hàng bao gồm những yếu tố cần thiết để kí kết hợp đồng
mua bán ngoại thương như: tên hàng, số lượng, quy cách, phẩm chất, giá cả, thời hạn
giao hàng, phương thức thanh toán
+ Đặt hàng:
Trên cơ sở chào hàng, báo giá hay chấp nhận giá đưa ra, bên mua sẽ lập đơn
đặt hàng cho bên bán trong đó nêu cụ thể về hàng hoá định mua và tất cả những nội
dung cần thiết cho việc ký kết hợp đồng
Trang 7+ Hoàn giá, đối giá:
Hoàn giá là một đề nghị mới do bên mua (bán) đưa ra sau khi đã nhận được
chào hàng (đặt hàng) của bên kia, nhưng không chấp nhận hoàn toàn chào hàng (đặt
hàng) đó Nói cách khác đó là sự mặc cả về giá cả hoặc về các điều kiện giao dịch
+ Chấp nhận:
Là việc một bên hoàn toàn đồng ý với những gì bên kia đưa ra Khi đó hợp
đồng được thành lập Một chấp nhận muốn có hiệu lực phải đảm bảo các điều kiện
sau:
+ Chấp nhận hoàn toàn những điều kiện
+ Chấp nhận khi chào hàng vẫn còn hiệu lực
+ Do chính người được chào hàng và người chào hàng chấp nhận
+ Chấp nhận phải được truyền đạt đến tận người chào hàng
+ Xác nhận:
Hai bên mua và bán, sau khi đã thống nhất thoả thuận với nhau về điều kiện
giao dịch, có khi cần thận trọng ghi lại mọi điều đã thoả thuận, gửi cho đối phương
Đó là văn kiện xác nhận, xác nhận thường được lập thành 2 bản, bên lập xác nhận ký
trước rồi gửi cho bên kia, bên kia ký xong giữ lại một bản rồi trả lại một bản
3.3.2 Kí kết hợp đồng.
Việc kí kết hợp đồng là hết sức quan trọng vì nó là cơ sở pháp lý quan trọng nhằm
xác định nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng và giải quyết tranh chấp giữa các
bên Hợp đồng có được tiến hành hay không là phụ thuộc vào các điều khoản mà hai
bên đã cam kết trong hợp đồng
* Hợp đồng hàng hoá bao gồm những nội dung sau:
- Tên hợp đồng
- Số hợp đồng
- Ngày, tháng, năm và nơi kí kết hợp đồng
- Thông tin của các bên kí kết
- Các điều khoản thông thường của hợp đồng ngoại thường có thể bao gồm 14
điều khoản như sau:
Điều 1: Mô tả hàng hoá
Điều 2: Mô tả chất lượng hàng hoá
Điều 3: Mô tả số lượng hoặc trọng lượng hàng hoá
Điều 4: Giá cả
Điều 5: Thời hạn, địa điểm, phương thức giao hàng, vận tải
Điều 6: Phương thức thanh toán
Điều 7: Qui cách đóng gói và ghi nhãn hiệu
Điều 8: Nội dung bảo hành (nếu có)
Điều 9: Qui định về phạt và bồi thường
Điều 10: Qui định về bảo hiểm
Trang 8Điều 11: Điều kiện bất khả kháng.
Điều 12: Quy định khi có khiếu nại
Điều 13: Điều khoản trọng tài
Điều 14: Những qui định khác
3.4 Thực hiện hợp đồng xuất khẩu
Sau khi đã kí kết hợp đồng xuất khẩu, công việc hết quan trọng mà doanh nghiệp
cần phải làm là tổ chức thực hiện hợp đồng mà mình đã kí kết Qui trình thực hiện
hợp đồng xuất khẩu gồm:
3.4.1 Xin giấy phép xuất khẩu hàng hoá.
Xin giấy phép xuất khẩu trước đây là một công việc bắt buộc đối với tất cả các
doanh nghiệp Việt Nam khi muốn xuất khẩu hàng hoá sang nước ngoài Nhưng theo
quyết định số 57/1998/NĐ/CP tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế
đều được quyền xuất khẩu hàng hoá phù hợp với nội dung đăng kí kinh doanh trong
nước của mình không cần phải xin giấy phép kinh doanh xuất khẩu tại bộ thương
mại Qui định này không áp dụng với một số mặt hàng đang còn quản lý theo cơ chế
riêng (cụ thể là những mặt hàng gạo, chất nổ, sách báo, ngọc trai, đá quí, tác phẩm
nghệ thuật, đồ sưu tầm và đồ cổ)
3.4.2 Chuẩn bị hàng xuất khẩu.
Để thực hiện cam kết trong hợp đồng xuất khẩu, chủ hàng xuất khẩu phải tiến
hành chuẩn bị hàng xuất khẩu Căn cứ để chuẩn bị hàng xuất khẩu là hợp đồng đã kí
a) Thu gom tập trung làm thành lô hàng xuất khẩu.
Việc mua bán ngoại thương thường tiến hành trên cơ sở số lượng lớn Vì thế chủ
hàng xuất khẩu phải tiến hành thu gom tập trung từ nhiều chân hàng Cơ sở pháp lí
để làm việc đó là kí kết hợp đồng kinh tế giữa chủ hàng xuất khẩu với các chân hàng
b) Đóng gói bao bì hàng xuất khẩu và kẻ kí mã hiệu hàng hoá.
Đại bộ phận hàng hoá đòi hỏi phải được đóng gói trong quá trình vận chuyển nên
việc tổ chức đóng gói, bao bì, kẻ mã hiệu là khâu quan trọng trong quá trình chuẩn bị
hàng hoá Vì vậy, điều khoản bao bì cũng được đưa vào hợp đồng Nên trong hợp
đồng phải qui định :
- Ai cung cấp bao bì
- Xác định chi phí bao bì (tính chung hay tính riêng với hàng hoá, thường thì
người bán cung cấp bao bì; tuy nhiên cũng có trường hợp người mua cung cấp những
bao bì đặc biệt, trị giá đắt phải đi thuê như container )
- Chất lượng bao bì như kích thước, mẫu mã, trọng lượng bao bì
- Loại bao bì: bao đay, thùng gỗ, thùng carton, chai thuỷ tinh, nhựa…
Kẻ kí mã hiệu: kí mã hiệu bằng số hoặc chữ hay hình vẽ được ghi ở mặt
ngoài bao bì để thông báo những thông tin cần thiết cho việc giao nhận, bốc dỡ và
bảo quản hàng Đồng thời kẻ mã hiệu cần phải sáng sủa, rõ ràng, dễ nhận biết để
phân biệt hàng hoá
3.5 Kiểm tra chất lượng hàng hoá.
Trước khi giao hàng, nhà xuất khẩu phải có nghĩa vụ kiểm tra hàng về phẩm chất,
trọng lượng, bao bì…vì đây là công việc cần thiết quan trọng nhờ có công tác này mà
Trang 9quyền lợi khách hàng được đảm bảo, ngăn chặn kịp thời các hậu quả xấu, phân định
trách nhiệm của các khâu trong sản xuất cũng như tạo nguồn hàng đảm bảo uy tín
cho nhà xuất khẩu và nhà sản xuất trong quan hệ buôn bán
3.6 Mua bảo hiểm hàng hoá.
Chuyên chở hàng hoá xuất khẩu thường xuất hiện những rủi ro, tổn thất vì vậy
việc mua bảo hiểm cho hàng hoá xuất khẩu là một cách tốt nhất để đảm bảo an toàn
cho hàng hoá xuất khẩu trong quá trình vận chuyển Doanh nghiệp có thể mua bảo
hiểm cho hàng hoá xuất khẩu của mình tại các công ty bảo hiểm
Phân loại hợp đồng bảo hiểm chuyên chở hàng hoá xuất nhập khẩu:
+ Bảo hiểm bao
Hợp đồng bảo hiểm bao là hợp đồng bảo hiểm mà công ty bảo hiểm sẽ thực hiện
bảo hiểm cho một loạt chuyến hàng kinh doanh xuất khẩu hoặc nhập khẩu của một
công ty
+ Bảo hiểm chuyến:
Hợp đồng bảo hiểm chuyến là hợp đồng bảo hiểm một chuyến hàng được gởi từ
một địa điểm này đến một địa điểm khác được ghi trên hợp đồng Trách nhiệm của
người bảo hiểm chỉ nằm trong phạm vi một chuyến hàng đó
Hai bên cần phải thoả thuận ai là người mua bảo hiểm, số tiền bảo hiểm, nơi
khiếu nại đòi bồi thường bảo hiểm
3.7 Thuê phương tiện vận tải.
Thuê phương tiện vận tải bằng đường biển là công việc hết sức khó khăn, nó đòi
hỏi người thuê phải có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ cao để tránh những rủi ro
đáng tiếc có thể xảy ra Khi thuê phương tiện vận tải cần lưu ý những vấn đề sau:
- Thực hiện các quyết định của hải quan
3.9 Giao hàng lên tàu.
+ Báo cho cảng ngày giờ dự kiến tàu đến
+ Căn cứ các chi tiết hàng xuất khẩu, lập bảng đăng ký hàng chuyên chở giao cho
cảng để cảng bố trí phương tiện xếp dỡ Trên cơ sở bảng đăng ký này, thuyền phó
phụ trách hàng hoá sẽ lên Sơ đồ xếp hàng
+ Ký hợp đồng xếp dỡ với cảng
+ Tổ chức xếp và giao hàng cho tàu
Tiến hành giao hàng cho tàu Việc xếp hàng lên tàu do công nhân cảng làm
Hàng sẽ được giao cho tàu dưới sự giám sát của đại diện của hải quan
Trang 10+ Sau khi đã bốc hàng lên tàu, nhận biên lai và đổi biên lai lấy vận đơn đường
biển có chức năng như chứng nhận gửi hàng, hợp đồng vận chuyển
3.10 Làm thủ tục thanh toán.
Thanh toán là khâu quan trọng và là kết quả cuối cùng của tất cả các giao dịch
kinh doanh xuất khẩu Hiện nay có hai phương thức sau được sử dụng rộng rãi
+ Thanh toán bằng thư tín dụng (L/C)
Khi hợp đồng xuất khẩu quy định việc thanh toán bằng thư tín dụng thì doanh
nghiệp xuất khẩu phải đôn đốc người mua phía nước ngoài mở thư tín dụng (L/C)
đúng hạn đã thoả thuận, sau khi nhận L/C phải kiểm tra khả năng thuận tiện trong
việc thu tiền hàng xuất khẩu của L/C đó
- Nếu L/C không đáp ứng được những yêu cầu này, cần phải buộc người mua sửa
đổi lại, rồi ta mới giao hàng
- Sau khi giao hàng phải nhanh chóng lập bộ chứng từ, chính xác phù hợp với L/
C về nội dung và hình thức
+ Thanh toán bằng phương thức nhờ thu
Hợp đồng xuất khẩu yêu cầu thanh toán bằng phương thức nhờ thu thì ngay sau
khi giao hàng đơn vị doanh nghiệp phải hoàn thành việc lập chứng từ và xuất trình
cho ngân hàng để uỷ thác cho ngân hàng thu tiền của đối tác
Chứng từ thanh toán cần được lập hợp lệ, chính xác phù hợp với hợp đồng mà
hai bên đã lập, nhanh chóng chuyển cho ngân hàng, nhằm chóng thu hồi vốn
3.11 Khiếu nại và giải quyết khiếu nại (nếu có).
Trong quá trình thực hiện hợp đồng xuất khẩu, nếu phía khác hàng có sự vi phạm
thì doanh nghiệp có thể khiếu nại với trọng tài về sự vi phạm đó, trong trường hợp
cần thiết có thể kiện ra toà án, việc tiến hành khiếu kiện phải tiến hành thận trọng, tỉ
mỉ, kịp thời…dựa trên căn cứ chứng từ kèm theo
Trong trường hợp doanh nghiệp bị khiếu nại đòi bồi thường cần phải có thái độ
nghiêm túc, thận trọng xem xét yêu cầu của khách hàng để giải quyết khẩn trương
kịp thời và có tình có lý
Trang 11CHƯƠNG III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Quy trình nghiên cứu: Nghiên cứu này được tiến hành qua 3 giai đoạn: sơ
bộ, thử nghiệm và chính thức, được thể hiện qua hình sau:
Sơ đồ 1 – Quy trình nghiên cứu
Trang 122 Thuyết minh quy trình nghiên cứu: Cả 3 giai đoạn nghiên cứu đều là
nghiên cứu định tính
2.1 Giai đoạn 1:
Đây là giai đoạn nghiên cứu sơ bộ dựa trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề liên
quan đến quy trình xuất nhập khẩu Qua đó sẽ tiến hành thu thập những thông tin và
thực trạng quy trình xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ, kết quả hoạt động kinh doanh
gần đây cũng như phương hướng kinh doanh trong tương lai của hợp tác xã thêu may
xuất khẩu Kim Chi
2.2 Giai đoạn 2:
Đây là giai đoạn nghiên cứu thử nghiệm, căn cứ vào những kết quả của nghiên
cứu ở giai đoạn 1, đề cương câu hỏi phỏng vấn sâu được thiết lập để thảo luận trực
tiếp (hoặc qua điện thoại / email) với lãnh đạo công ty là bà Nguyễn Thị Kim Chi và
nhân sự bộ phận kinh doanh
2.3 Giai đoạn 3:
Đây là giai đoạn nghiên cứu chính thức trên cơ sở phân tích những dữ liệu mà tác giả
thu thập được trong nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu thử nghiệm Đồng thời tác giả
tiếp tục thu thập thông tin về hiện trạng quy trình xuất khẩu của hợp tác xã kết hợp
với việc tìm hiểu thêm về lý thuyết kinh doanh xuất nhập khẩu, nghiệp vụ ngoại
thương để đưa ra phần đề xuất trong chuyên đề này một cách phù hợp và hiệu quả
3 Phương pháp thu thập số liệu:
Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp:
Thu thập bằng việc tìm hiểu các sách, báo, báo cáo, tài liệu của cơ quan thực tập,
niên giám thống kê, thông tin trên báo chí, truyền hình, internet và các nghiên cứu
trước đây,…xoay quanh quy trình xuất khẩu để nắm rõ lý thuyết và tìm ra phương
pháp phân tích phù hợp Sau đây là bảng phân loại tài liệu và nguồn cung cấp thông
tin thứ cấp:
ST
T Loại tài liệu Nội dung Nguồn cung cấp
1
Báo cáo tình hình hoạt động
kinh doanh, kế hoạch kinh
doanh hàng thủ công mỹ
nghệ…
Tìm hiểu sơ bộ vềthực trạng kinh doanhmặt hàng thủ công mỹnghệ của hợp tác xã
Hợp tác xã Kim Chi
2
Giáo trình, tài liệu tham khảo
về:
Quy trình xuất nhập khẩu
Nghiệp vụ ngoại thương
Kinh doanh xuất nhập khẩu
Khái niệm, định nghĩa,các bước trong quytrình XK thôngthường…
Thư viện Đại học
An Giang
3
Quy trình xuất nhập khẩu của
cácdoanh nghiệp
Tìm hiểu cơ hội cũngnhư xu hướng sắp tớitrong ngành
Các website của cácdoanh nghiệp vàmột số website khác
4 Nghiên cứu của các khoá trước Tìm hiểu mô hình Văn phòng khoa
Trang 13nghiên cứu, phươngpháp phân tích dữ liệu
Kinh tếQuản trị kinh doanh
Phương pháp thu thập số liệu bằng bảng câu hỏi:
Quá trình thu thập này thực chất là một cuộc phỏng vấn không có cấu trúc cụ thể với
cách thức phỏng vấn tự nhiên, như một buổi trò chuyện nên thuận tiện cho việc đặt
và trả lời câu hỏi Cách phỏng vấn này có thể dựa trên việc trả lời của người được
phỏng vấn mà xoáy sâu hơn vào vấn đề cần nghiên cứu Đây chính là cơ sở cung cấp
nguồn thông tin phong phú hỗ trợ cho việc thiết kế bảng câu hỏi phỏng vấn chuyên
sâu chính thức (Phụ lục 1) phục vụ cho quá trình nghiên cứu chính thức ở giai đoạn sau.
ST
T Loại tài liệu cần thu thập Nội dung
Phương pháp thu thập dữ liệu
1
Môi trường nội bộ: quy trình
xuất khẩu hiện tại, sự khác biệt
giữa lý thuyết và thực tế của
quy trình xuất khẩu
Phân tích điểm mạnh
và điểm yếu trong quytrình XK
Phỏng vấn Trưởnghoặc phó phòngkinh doanh của Hợptác xã Kim Chi
Phỏng vấn Chủnhiệm, Phó chủnhiệm Hợp tác xãKim Chi
4 Phương pháp phân tích:
Phương pháp phân tích số liệu trong giai đoạn 1 là phương pháp tổng hợp:
Tổng hợp các dữ liệu thu thập được trong giai đoạn nghiên cứu sơ cấp để có được
nguồn dữ liệu phù hợp, tin cậy bao gồm lý thuyết, số liệu thực tế và cả xu hướng của
ngành nhằm phục vụ cho giai đoạn nghiên cứu tiếp theo – thiết lập bảng câu hỏi
phỏng vấn sâu
Phương pháp phân tích trong giai đoạn 2 là phương pháp chọn lọc: sau khi
hoàn thành việc phỏng vấn sâu bằng bảng câu hỏi, dữ liệu do những người được
phỏng vấn cung cấp sẽ được lọc lại một lần nữa nhằm chọn ra những vấn đề trọng
tâm, tồn tại trong quy trình xuất khẩu hiện tại của hợp tác xã Kim Chi
Mục tiêu của việc phỏng vấn chuyên sâu nhằm thu thập những ý kiến của một số
cán bộ lãnh đạo trong công ty, từ đó có sự nhìn nhận thực thế hơn trong quá trình
nghiên cứu, cung cấp những thông tin cần thiết cho giai đoạn nghiên cứu tiếp theo –
giai đoạn phân tích, so sánh
Phương pháp phân tích trong giai đoạn 3: phương pháp được sử dụng trong
quá trình phân tích dữ liệu ở giai đoạn này là sự kết hợp giữa phương pháp so sánh
và phương pháp tổng hợp : Ở giai đoạn này tác giả sẽ phải so sánh thực trạng quy
trình xuất khẩu của hợp tác xã đối với các tài liệu, lý thuyết, từ đó tìm ra được ưu
nhược điểm trong quy trình xuất khẩu thực tế của hợp tác xã; đồng thời tác giả cũng
phải vận dụng phương pháp tổng hợp nhằm tổng hợp lại những vấn đề cần chú ý có
khả năng gây ra rủi ro trong quy trình xuất khẩu hiện tại của hợp tác xã Kim Chi
Trang 143 Tiến trình nghiên cứu:
Trang 15CHƯƠNG IV GIỚI THIỆU HTX KIM CHI
1 Tổng quan HTX Kim Chi:
1.1 Tổng quan về ngành thủ công mỹ nghệ:
Tại Việt Nam, hàng thủ công mỹ nghệ sản xuất ra chủ yếu dành cho xuất khẩu,
tiêu dùng trong nước rất ít Để hàng thủ công mỹ nghệ của nước ta ngày càng có tính
cạnh tranh cao hơn các doanh nghiệp Việt Nam đã dần loại bớt đi những khâu trung
gian không hiệu quả, làm tăng giá thành sản phẩm Ngày nay ngoài những doanh
nghiệp chuyên thu mua, xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ; một số doanh nghiệp
trước đây chuyên kinh doanh hàng thủ công mỹ nghệ cũng bắt đầu được phép xuất
khẩu Tuy vậy, hiện trạng này cũng dẫn đến một hậu quả đó là các nhà xuất khẩu thủ
công mỹ nghệ cạnh tranh với nhau gay gắt, chào bán cho các công ty nước ngoài với
các mức giá và chất lượng không đồng đều dẫn tới hiện tượng phía nhập khẩu có
điều kiện ép giá hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam
Sản phẩm TCMN là mặt hàng có truyền thống lâu đời của Việt Nam, được xuất
khẩu khá sớm so với các mặt hàng khác, đã đóng góp tích cực vào kim ngạch xuất
khẩu của cả nước, đồng thời có một vai trò quan trọng trong giải quyết một số vấn đề
kinh tế xã hội tại nông thôn Các mặt hàng TCMN có mức độ tăng trưởng khá cao
trong những năm qua, bình quân khoảng 20%/ năm, với kim ngạch xuất khẩu 300
triệu USD trong năm 2004 và đạt hơn 750 triệu USD vào năm 2007, năm 2008 mặc
dù bị tác động ít nhiều của suy thoái kinh tế toàn cầu nhưng kim ngạch xuất khẩu
cũng đã đạt gần 1 tỷ USD Thời gian qua, thị trường xuất khẩu hàng TCMN ở nước
ta ngày càng được mở rộng, ngoài các nước chủ yếu như Mỹ, Nga, Nhật Bản, Anh,
Pháp, Đức, Hàn Quốc, Đài Loan Hiện hàng TCMN Việt Nam đã có mặt tại 163
quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, đây cũng là mặt hàng có tiềm năng tăng
trưởng xuất khẩu rất lớn
Loại hình doanh nghiệp:
Địa chỉ: C2-C3 Lê Lai, Phường Mỹ Bình, TP
Long Xuyên, An Giang
Điện thoại: 84-76-857-471Fax: 84-76-859-581Website: http://www.kimchiembroidery.com
Lĩnh vực hoạt động: Thủ công mỹ nghệ, sản xuất và bán buôn
Trang 161.3 Giới thiệu về mặt hàng thủ công mỹ nghệ:
Sản phẩm thủ công mỹ nghệ là những sản phẩm mang tính truyền thống và độc
đáo của từng vùng, có giá trị chất lượng cao, vừa là hàng hoá, vừa là sản phẩm văn
hoá, nghệ thuật, mỹ thuật, thậm chí có thể trở thành di sản văn hoá của dân tộc, mang
bản sắc văn hoá của vùng lãnh thổ hay quốc gia sản xuất ra chúng
Nguồn nguyên liệu phong phú: Hàng thủ công mỹ nghệ được sáng tạo ra từ các
nguồn nguyên liệu khác nhau ở nước ta hầu như rất sẵn: tre, mây, song lá, cói vỏ
đay, sỏ dừa, các loại gỗ, than đá, đất Các kim loại khác như: Gang, Đồng, Sắt, Vàng
bạc, bạch kim Với bàn tay khéo léo, người ta tạo ra các sản phẩm mỹ thuật, mỹ
nghệ và thủ công có giá trị được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng.là sản phẩm hàng
hóa mang đặc trưng kinh tế, văn hóa của dân tộc song đồng thời, cũng là những tác
phẩm nghệ thuật mang dấu ấn của các nghệ nhân tài hoa
1.4 Quá trình hình thành và phát triển của hợp tác xã Kim Chi:
Tiền thân HTX thêu may Kim Chi là một cơ sở thêu tay nhỏ được thành lập
vào năm 1989 với 280.000đ tiền vốn tương đương với 1,5 chỉ vàng và 15 người thợ,
xin làm gia công cho một số đơn vị thêu tay lớn của TP Hồ chí Minh và đôi khi đến
tận Tây Ninh nhận hàng gia công Năm 1997, sau khi Luật HTX ra đời, thấy hình
thức kinh tế tập thể phù hợp với những cơ sở nhỏ ít vốn nên cơ sở chuyển đổi thành
HTX, vốn điều lệ là 38 triệu đồng, có 18 xã viên Đến nay, vốn điều lệ HTX là 1 tỷ
200 triệu đồng, trong đó vốn cố định là 170 triệu, 54 xã viên, làm việc tại cơ sở là 76
lao động, vệ tinh bên ngoài khi có hợp đồng lớn qui tụ trên 1.000 người Nhà xưởng
lúc mới thành lập chỉ 105m2 bằng tre lá, vách bằng mê bồ, nay được 330m2 đất
nhưng cất lầu nên diện tích sử dụng để sản xuất là 850 m2 khá khang trang
Đứng trước ngưỡng cửa hội nhập kinh tế quốc tế, đầy sự cạnh tranh khốc liệt,
hợp tác xã có 2 con đường chọn lựa để thâm nhập thị trường quốc tế:
1/ Hợp tác với 1 công ty nước ngoài để xuất hàng ra nước ngoài với hình thức
xuất khẩu gia công, công ty nước ngoài sẽ đảm đương việc thiết kế mẫu mã, chào
hàng, tham dự hội chợ tìm khách hàng, bàn luận ký kết hợp đồng với khách và bao
tiêu sản phẩm suốt năm, trước mắt thuận lợi vô cùng nhưng bất lợi về sau là không
thể đưa thương hiệu của mình ra thương trường
2/ Đơn vị phải tự thiết kế nhiều mẫu mã mới lạ phù hợp với thị hiếu của
khách hàng, phải có óc sáng tạo, chịu tốn kém chi phí để tham dự một số hội chợ
trong nước và quốc tế nhằm quảng bá sản phẩm cùng thương hiệu của hợp tác xã,
phải giao dịch với khách bằng ngoại ngữ Anh, Pháp, Hoa…sử dụng internet để
chào hàng, trực tiếp thảo luận để ký kết hợp đồng
Sau thảo luận trong ban quản trị, năm 2002 Hợp tác xã quyết định chọn con
đường thứ hai để thâm nhập thị trường Sau 5 năm, hợp tác xã là một đơn vị thêu tay
duy nhất của tỉnh An Giang đã thực sự hội nhập trực tiếp vào thị trường quốc tế, mở
rộng thị trường nội địa, quảng bá và giữ vững thương hiệu của mình bằng chính chất
lượng của sản phẩm Hàng năm hợp tác xã nghiên cứu làm ra từ 200- 300 mẫu mã
mới lạ, đa dạng, phong phú, làm hài lòng nhiều nhu cầu của khách hàng, tạo được uy
tín đối với khách hàng trong và ngoài nước
Thị trường hiện nay của HTX là Pháp, Đức, Ý, Hi Lạp, Bỉ , Hoa Kỳ, và thị
trường nội địa là những sản phẩm quà tặng phục vụ những điểm du lịch, khách hàng
trong nước - một thị trường từ bấy lâu nay không một hơp tác xã thêu tay nào của An
Giang quan tâm đến thị phần này