1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân cấp ngân sách nhà nước và tăng trưởng kinh tế địa phương tại việt nam

80 262 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả nghiên cứu đạt được có thể tóm tắt như sau: i mức độ phân cấp NSNN cho địa phương tại Việt Nam vẫn đang ở mức thấp; ii Tự chủ tài chính địa phương tác động tích cực đến tăng trưở

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH HỒ CHÍ MINH

-

NGUYỄN DUY PHƯƠNG

PHÂN CẤP NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC &

TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ ĐỊA PHƯƠNG TẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành : Kinh tế học

Mã số chuyên ngành : 60 03 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

TS VÕ HỒNG ĐỨC

TP Hồ Chí Minh, Năm 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan rằng luận văn thạc sĩ: “Phân cấp ngân sách nhà nước và tăng trưởng kinh địa phương tại Việt Nam” là bài nghiên cứu của chính tôi.

Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi xin cam đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác

Không có sản phẩm/nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong luận văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định

Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác

Tp Hồ Chí Minh, năm 2016

Tác giả

Nguyễn Duy Phương

Trang 3

LỜI CÁM ƠN

Lời đầu tiên tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS.Võ Hồng Đức,

người thầy đã tận tình định hướng, dành nhiều thời gian hướng dẫn, chỉnh sửa và

góp ý cho tôi trong suốt quá trình để hoàn thành luận văn này Đề tài “Phân cấp ngân sách nhà nước và tăng trưởng kinh tế tại các địa phương tại Việt Nam”

sử dụng chỉ số Phân cấp ngân sách nhà nước được TS.Võ Hồng Đức xây dựng

và tôi đã kế thừa, tính toán chỉ số Phân cấp ngân sách nhà nước tại các địa

phương ở Việt Nam

Xin chân thành cám ơn quý Thầy, Cô trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tâm truyền đạt những kiến thức quý báu trong suốt thời gian tôi theo học tại trường

Bên cạnh đó tôi xin chân thành cảm ơn đến gia đình, bạn bè, các bạn học viên cao học đã chia sẻ cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm trong suốt quá trình học tập và thực hiện nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện, mặc dù đã cố gắng hết sức để hoàn thiện nghiên cứu, trao đổi và tiếp thu những ý kiến đóng góp của Quý Thầy, Cô và bạn bè, tham khảo nhiều tài liệu, song không tránh khỏi những sai sót, hạn chế nhất định Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của Quý Thầy, Cô và bạn đọc

Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả

Nguyễn Duy Phương

Trang 4

nước, chỉ số thực hiện mức độ Phân cấp ngân sách nhà nước bao gồm hai yếu tố cấu thành là Quyền tự chủ tài chính và Tầm quan trọng tài chính Do vậy, cách

tiếp cận mới – lần đầu tiên tại Việt Nam, là sử dụng nhiều chỉ số (hoặc chỉ số cấu thành) thể hiện mức độ phân cấp NSNN được sử dụng trong nghiên cứu này Ngoài ra, khi tiến hành xác định và lượng hóa những tác động mức độ phân cấp NSNN đến tăng trưởng kinh tế địa phương tại Việt Nam, một số các yếu tố khác được sử dụng, bao gồm: (i) tỷ lệ tăng dân số lao động; (ii) độ mở thương mại; (iii) vốn đầu tư trên địa bàn; và (iv) tỷ lệ lạm phát Tăng trưởng kinh tế địa phương được thể hiện thông qua mức GDP bình quân đầu người của Tỉnh/Thành phố

Nghiên cứu được thực hiện trên mẫu nghiên cứu bao gồm 63 Tỉnh/Thành phố ở Việt Nam trong giai đoạn 2008 đến năm 2013 từ nguồn số liệu được thu thập từ Bộ Tài chính, Tổng Cục Thống kê và Niên giám Thống kê 63 Tỉnh/Thành phố ở Việt Nam Phương pháp DGMM được sử dụng trong nghiên cứu này

Kết quả nghiên cứu đạt được có thể tóm tắt như sau: (i) mức độ phân cấp NSNN cho địa phương tại Việt Nam vẫn đang ở mức thấp; (ii) Tự chủ tài chính địa phương tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế địa phương; (iii) Tầm quan trọng tài chính và Chỉ số Phân cấp NSNN tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh

tế địa phương Trên nền tảng đạt được từ nghiên cứu này, một số hàm ý chính sách có liên quan đến vấn đề phân cấp NSNN tại Việt Nam nhằm mục đích phát

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CÁM ƠN ii

TÓM TẮT iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC HÌNH vii

DANH MỤC BẢNG viii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ix

CHƯƠNG 1 TỒNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU 1

1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 4

1.4 Tính mới của nghiên cứu 4

1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

1.5.1 Đối tượng nghiên cứu 5

1.5.2 Phạm vi nghiên cứu 5

1.6 Phương pháp nghiên cứu 5

1.7 Ý nghĩa của nghiên cứu 6

1.8 Kết cấu của nghiên cứu 7

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 8

2.1 Cơ sở lý thuyết 8

2.1.1 Phân cấp ngân sách nhà nước 8

2.1.2 Các chỉ tiêu đo lường phân cấp ngân sách nhà nước 8

2.2 Tăng trưởng kinh tế 12

2.2.1 Tăng trưởng kinh tế và cách đo lường 12

2.2.2 Các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế 14

2.3 Các nghiên cứu liên quan 15

Trang 6

2.3.2 Các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến đề tài ở nước ngoài 17

2.3.3 Bảng tổng hợp kết quả nghiên cứu thực nghiệm ở nước ngoài 21

2.3.4 Các nghiên cứu thực nghiệm ở trong nước 23

2.3.5 Bảng tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm trong nước 27

2.3.6 Nhận xét các nghiên cứu thực nghiệm 28

2.4 Thực trạng phân cấp ngân sách nhà nước tại Việt Nam 29

2.4.1 Luật ngân sách nhà nước 1996 30

2.4.2 Luật ngân sách nhà nước 2002 30

2.4.3 Sự khác biệt giữa Luật NSNN năm 1996 và luật NSNN năm 2002 30

2.4.4 Phân cấp nguồn thu NSNN 33

2.4.4.1 Nguồn thu NSTW hưởng 100% 33 2.4.4.2 Nguồn thu NSĐP hưởng 100% 32 2.4.4.2 Nguồn thu NSĐP hưởng 100% 34

2.4.5 Phân cấp nhiệm vụ chi NSNN 36

2.4.5.1 Nhiệm vụ chi của NSTW 36

2.4.5.2 Nhiệm vụ chi của NSĐP 37

2.4.6 Tỷ lệ phân chia giữa NSTW và NSĐP 39

2.4.7 Nhận xét về phân cấp ngân sách nhà nước ở Việt Nam 40

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU, DỮ LIỆU VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 41

3.1 Khung tiếp cận phương pháp nghiên cứu 41

3.2 Dữ liệu nghiên cứu 42

3.3 Mô hình kinh tế lượng đề xuất 42

3.3.1 Mô hình 1 (mô hình FA) 43

3.3.2 Mô hình 2 (mô hình FI) 43

3.3.3 Mô hình 3 (mô hình FDI) 44

3.3.4 Các giả thiết kỳ vọng về các biến trong mô hình nghiên cứu 46

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 48

Trang 7

4.2.1 Phân tích kết quả mô hình 1 54

4.2.2 Phân tích kết quả mô hinh 2 54

4.2.3 Phân tích kết quả mô hình 3 55

4.3 Kiểm định mô hình nghiên cứu 55

4.3.1 Kiểm định mô hình 1 55

4.3.2 Kiểm định mô hình 2 56

4.3.3 Kiểm định mô hình 3 56

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 59

5.1 Tóm tắt nghiên cứu 59

5.2 Kết luận 59

5.3 Khuyến nghị 61

TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

PHỤ LỤC A 69

PHỤ LỤC B 70

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Sơ đồ Phân cấp hành chính ở Việt Nam theo Hiến pháp 1992 29

Hình 3.1 Khung phân tích kỳ vọng tác động các biến đến tăng trưởng kinh tế 46

Hình 4.1 Đồ thị Chỉ số tự chủ tài chính 13/63 Tỉnh /Thành năm 2011, năm 2012,

năm 2013 49

Hình 4.2 Đồ thị Chỉ số tầm quan trọng tài chính 13/63 Tỉnh /Thành năm 2011, năm

2012, năm 2013 50

Trang 9

DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1 Bảng tổng hợp kết quả chính từ các nghiên cứu nước ngoài 22 Bảng 2.2 Bảng tổng hợp kết quả chính từ các nghiên cứu trong nước 28 Bảng 2.3 Bảng so sánh sự khác biệt giữa Luật ngân sách nhà nước năm 1996 và

Luật ngân sách nhà nước năm 2002 31

Bảng 2.4 Bảng tóm tắt nhiệm vụ thu theo Điều 30, Điều 32 Luật ngân sách nhà

động của phân cấp ngân sách nhà nước đến tăng trưởng kinh tế 46

Bảng 4.1 Bảng mô tả các biến trong mô hình 48 Bảng 4.2 Bảng chỉ số phân cấp ngân sách nhà nước 13/63 Tỉnh/ Thành năm 2008

Trang 10

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CPI : Consumer price index

CQĐP : Chính quyền địa phương

DGMM : Difference Generalized Method of Moments

GSO : Tổng Cục Thống kê

FA : Fiscal autonomy

FE : Fix Effects

FI : Fiscal important

FDI : Fiscal decentralisation index

INF : Inflation rate

GDP : Gross domestic product

HĐND : Hội đồng nhân dân

MOF : Bộ Tài chính

NSĐP : Ngân sách địa phương

NSNN : Ngân sách nhà nước

NSTW : Ngân sách trung ương

OCED : Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

RE : Random effects

TPHCM : Thành phố Hồ Chí Minh

UBND : Ủy ban nhân dân

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU

Chương này sẽ trình bày tổng quan về nghiên cứu, bao gồm: đặt vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, tính mới của nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và kết cấu của nghiên cứu

1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu

Theo thống kê của Bộ Tài chính, đến 31-12-2015, tỷ lệ nợ công ở nước ta ở mức 61,3% GDP, trong đó nợ Chính phủ 48,9% GDP và nợ nước ngoài của quốc gia ở mức 41,5% GDP Bội chi ngân sách nhà nước (NSNN) là 5% GDP.Trong cơ cấu nợ công của Việt Nam, nợ chính phủ luôn chiếm tỷ trọng cao chiếm 80,3% (Bộ Tài chính, 2015) so với nợ của khu vực địa phương Tỉnh/Thành phố Điều này đã cho thấy tính “tập trung và tập quyền” thể hiện rất cao trong cơ cấu dư nợ công Phần lớn toàn bộ nguồn lực đầu tư phát triển do các Bộ ngành nắm giữ, sau đó phân phối một phần về các địa phương Trong tình hình thực tế tại Việt Nam, văn hóa gắn liền với cơ chế “xin- cho” cho nên tính chủ động của các Tỉnh/Thành phố rất thấp Thành phố Hồ Chí Minh là đầu tàu kinh tế của cả nước Tuy nhiên, Thành phố vẫn khó khăn với bài toán cân đối ngân sách cho tình trạng quá tải về đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông, y tế, giáo dục mặc dù hàng năm tỷ lệ điều tiết về ngân sách trung ương rất lớn Ngược lại, nhiều Tỉnh/Thành phố vẫn sống mãi trong cơ chế bao cấp, trợ cấp từ ngân sách trung ương, tính năng động sáng tạo bị triệt tiêu, tâm lý trông chờ, ỷ lại ngày càng tăng, chi tiêu, đầu tư công một cách lãng phí Hiện nay, cả nước có được 13/63 Tỉnh/Thành phố cân đối được ngân sách Vì vậy, việc cải cách phân cấp thu chi ngân sách đang là vấn đề lớn, cấp bách trong quá trình tái đầu tư công, từ đó mới khuyến khích tính sáng tạo, tự chủ, khai thác các nguồn lực tài chính một cách chủ động, hợp lý, tạo động lực phát triển kinh tế địa phương

Trang 12

Tuy nhiên, việc phân cấp NSNN và chuyển giao phân cấp từ ngân sách trung ương (NSTW) cho ngân sách địa phương (NSĐP) phải được thực hiện có lộ trình, theo chương trình, kế hoạch cụ thể Nếu chuyển giao trong thời gian ngắn, trong bối cảnh hiện tại của Việt Nam và rất nhiều các Tỉnh/Thành phố, thì một số địa phương không thể cân đối nguồn thu chi ngân sách của địa phương mình được, dẫn đến thâm hụt ngân sách càng nghiêm trọng hơn Thực tế ở nước ta cho thấy, trong

13 Tỉnh/Thành phố tự chủ được tài chính, đây là những địa phương có nền kinh tế phát triển hay có những lợi thế, tiềm năng về thiên nhiên nhất định Trong khi đó, các Tỉnh/Thành phố còn lại đều thâm hụt ngân sách, hàng năm phải trông chờ vào nguồn bổ sung của NSTW Một số địa phương đầu tư xây dựng trung tâm hành chính, đầu tư các công trình công như tượng đài lịch sử hay những công trình văn hóa gây lãng phí nguồn NSNN, trong khi nguồn thu của địa phương lại rất thấp thì vấn đề thâm hụt ngân sách nhà nước là đều tất yếu phải xảy ra Bên cạnh đó, một số địa phương chưa đủ khả năng để quản lý có hiệu quả nguồn NSNN Vấn nạn tham nhũng trong đầu tư công hay lợi ích nhóm, kém hiệu quả trong quản lý, điều hành khiến cho việc phân cấp NSNN sẽ càng làm cho nền kinh tế địa phương đó kém phát triển, kìm hãm sự tăng trưởng nền kinh tế nước ta Vì vậy, việc phân cấp NSNN phải được xem xét kỹ lưỡng, cẩn thận Việc tăng phân cấp ngân sách nhà nước sẽ giúp nền kinh tế các địa phương tăng trưởng hay là gây kìm hãm tăng trưởng kinh tế các địa phương ở nước ta trong giai đoạn 2008-2013 là vấn đề tác giả cần nghiên cứu

Quyết định có liên quan đến phân chia ngân sách nhà nước chưa bao giờ là một quyết định thuần túy trên phương diện kinh tế Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và mức độ phân cấp ngân sách nhà nước luôn là vấn đề được quan tâm bởi nhiều đối tượng khác nhau trong nền kinh tế Do vậy, đã có rất nhiều các nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu định lượng được thực hiện có liên quan đến việc tìm hiểu, đánh giá và lượng hóa mối quan hệ này Lược khảo cơ sở lý thuyết cung cấp bằng chứng để kết luận rằng không tồn tại một mối quan hệ cố định giữa phân cấp NSNN và tăng trưởng kinh tế Mối quan hệ giữa hai yếu tố quan trọng này có thể

Trang 13

là: (i) tiêu cực (phân cấp NSNN sẽ tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế); (ii) tích cực (phân cấp NSNN sẽ tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế); (iii) chữ U ngược (tồn tại một mức độ phân cấp NSNN tối ưu để đạt được mức độ tăng trưởng kinh tế); hoặc (iv) không tồn tại mối quan hệ nào cả

Trong bối cảnh của Việt Nam, rất ít các nghiên cứu có liên quan đến phân cấp NSNN được thực hiện Điều này có thể được lý giải thông qua sự khó khăn về mặt

số liệu cho Việt Nam để một nghiên cứu định lượng có thể thực hiện được Dẫu sao

đi nữa, Luật NSNN đầu tiên đã được ban hành 20 năm Tôi cho rằng đây là thời điểm quan trọng để nhìn nhận và đánh giá vấn đề trên lăng kính khoa học định lượng, thông qua một nghiên cứu định lượng Xuất phát từ tính thời sự và tầm quan

trọng của vấn đề nghiên cứu, đề tài “Phân cấp ngân sách nhà nước và tăng trưởng kinh tế địa phương tại Việt Nam” được lựa chọn để thực hiện cho Luận

văn Thạc sĩ của tôi tại Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh

Trong việc đánh giá mức độ phân cấp NSNN của chính quyền địa phương, đa

số các nghiên cứu trước tập trung vào tính toán tỷ lệ thu địa phương so với tổng số thu ngân sách, chi của địa phương so với tổng chi ngân sách trung ương Cách đánh giá này dù đơn giản nhưng chưa thể hiện những đặc điểm cơ bản nhất của quá trình

phân cấp NSNN Trong nghiên cứu được đăng trên tạp chí Journal of Economic Surveys (2010), Võ Hồng Đức đã cho rằng lý thuyết về phân cấp NSNN có thể được thể hiện và tổng hợp trên hai phương diện: (i) Phương diện Tự chủ tài chính (Fical Autonomy) và; (ii) Phương diện Tầm quan trọng tài chính (Fiscal

Importance) Trên cơ sở đó, chỉ số Phân cấp NSNN (Fical Decentralisation Index – FDI) được xây dựng và sử dụng trong nhiều nghiên cứu sau này (Võ Hồng Đức,

2011 & 2012) Nghiên cứu này, lần đầu tiên tại Việt Nam, kế thừa và hoàn thiện chỉ số FDI cho cấp độ địa phương trong bối cảnh của Việt Nam Nghiên cứu này sẽ đánh giá đầy đủ hơn phân cấp NSNN của chính quyền địa phương thông qua chỉ số

FDI bao gồm Quyền tự chủ tài chính (FA - Fiscal Autonomy) và Tầm quan trọng tài chính (FI - Fiscal Importance)

Trang 14

1.2 Mục tiêu nghiên cứu:

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu sau đây:

 Xây dựng và tính toán mức độ phân cấp NSNN cho 63 Tỉnh/Thành phố

của Việt Nam từ năm 2008-2013 kế thừa nền tảng của Chỉ số phân cấp ngân sách nhà nước (FDI) được xây dựng bởi Võ Hồng Đức (2008)

 Xác định và lượng hóa mối quan hệ giữa mức độ phân cấp ngân sách địa phương, thông qua 3 cách tiếp cận có liên quan đến phân cấp NSNN bao

gồm (i) Quyền tự chủ tài chính (FA);(ii) Tầm quan trọng tài chính (FI);

và (iii) Chỉ số phân cấp NSNN (FDI) đến tăng trưởng kinh tế tại 63

Tỉnh/Thành phố ở Việt Nam trong giai đoạn 2008 - 2013

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu, một số câu hỏi nghiên cứu sau đây được đặt ra:

 Mức độ phân cấp NSNN 63 Tỉnh/Thành phố của Việt Nam giai đoạn

2008 -2013 sử dụng Chỉ số phân cấp ngân sách nhà nước (FDI), cũng như thông qua 2 bộ phận cấu thành là Quyền tự chủ tài chính (FA); Tầm quan trọng tài chính (FI) là như thế nào?

Tác động của phân cấp ngân sách, thông qua Chỉ số phân cấp ngân sách nhà nước (FDI), bao gồm Quyền tự chủ tài chính (FA); Tầm quan trọng tài chính (FI); đến tăng trưởng kinh tế tại 63 Tỉnh/Thành phố của Việt

Nam giai đoạn 2008-2013 ra sao?

1.4 Tính mới của nghiên cứu

Trong bối cảnh của Việt Nam, nghiên cứu này kỳ vọng đóng góp một điểm mới chủ yếu có liên quan đến việc tìm hiểu, đánh giá, và lượng hóa mức độ phân

cấp NSNN được xác định và độ lượng dựa trên chỉ số phân cấp NSNN Chỉ số phân cấp ngân sách nhà nước (FDI) được xây dựng là chỉ số kết hợp phân cấp thu

ngân sách nhà nước và phân cấp chi ngân sách nhà nước Và rồi, chỉ số này sẽ được

Trang 15

sử dụng trong việc xác định và lượng hóa tác động đến tăng trưởng kinh tế địa phương tại Việt Nam

1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào Chỉ số phân cấp ngân sách nhà nước (FDI), bao gồm Quyền tự chủ tài chính (FA); Tầm quan trọng tài chính (FI) được xây

dựng bởi Võ Hồng Đức (2008) và mối quan hệ của phân cấp ngân sách nhà nước (FDI) và tăng trưởng kinh tế tại 63 Tỉnh/Thành phố của Việt Nam giai đoạn 2008-

2013

1.5.2 Phạm vi nghiên cứu

 Về không gian: nghiên cứu này được thực hiện trên mẫu dữ liệu bao gồm

toàn bộ 63 Tỉnh/Thành phố của Việt Nam

 Về thời gian: Dựa trên nguồn số liệu thu thập từ các nguồn như Bộ Tài

Chính, Tổng Cục Thống kê, Niên giám thống kê 63 Tỉnh/Thành từ năm

2008 đến năm 2013

1.6 Phương pháp nghiên cứu

Cách tiếp cận được sử dụng trong nghiên cứu này có thể được tóm tắt như sau:

 Trước hết, tác giả nghiên cứu xác định và tính toán các chỉ số Phân cấp NSNN (FDI) được xây dựng bởi Võ Hồng Đức (2008) áp dụng cho các Tỉnh/Thành phố ở Việt Nam dựa trên Luật ngân sách nhà nước 2002

 Nghiên cứu các mô hình lý thuyết trên thế giới và tại Việt Nam về mối quan

hệ giữa phân cấp NSNN và tăng trưởng kinh tế, từ đó chọn ra mô hình thích hợp để đo lường mối quan hệ giữa phân cấp ngân sách nhà nước và tăng trưởng kinh tế địa phương tại Việt Nam

Trang 16

 Sau đó thu thập dữ liệu từ các nguồn đáng tin cậy như Bộ Tài chính, Tổng Cục Thống kê, Niên giám thống kê 63 Tỉnh/Thành phố để kiểm chứng mô hình

 Với tập dữ liệu thu thập về, sau khi hoàn tất việc tính toán, kiểm tra, tổng hợp, mã hóa sẽ tiến hành phân tích số liệu bằng phần mềm Sata 13 Trình tự thực hiện: thống kê mô tả, ước lượng mô hình bằng phương pháp DGMM (Difference Generalized Method of Moments) của Arellano-Bond (1991) để xác định tác động của phân cấp NSNN đến tăng trưởng kinh tế tại 63 Tỉnh/ Thành phố của Việt Nam Sử dụng kiểm định Sargan Test và Arellano Bond

để kiểm định kết quả hồi quy

1.7 Ý nghĩa của nghiên cứu

Nghiên cứu về chỉ số phân cấp ngân sách nhà nước cho các địa phương ở

Việt Nam, sử dụng Chỉ số phân cấp NSNN (FDI), là một chỉ số phân cấp ngân sách

nhà nước vừa kết hợp phân cấp thu ngân sách nhà nước và phân cấp chi ngân sách nhà nước vì vậy nghiên cứu sẽ có ý nghĩa cả về mặt lý thuyết và thực tiễn Kết quả đạt được từ nghiên cứu này được kỳ vọng sẽ:

 Mỗi địa phương cần nâng cao tính tự chủ tài chính để địa phương mình có thể chủ động, sáng tạo trong quản lý góp phần tăng trưởng kinh tế

 Bổ sung thêm một phương pháp tính Chỉ số phân cấp NSNN mới để ước

lượng sự phân cấp của NSTW cho các địa phương ở Việt Nam

 Với kết quả phân cấp tính toán được, mỗi địa phương ở Việt Nam sẽ có cách đánh giá mức độ phân cấp một cách chính xác, đầy đủ hơn về sự phân cấp

của địa phương mình

 Kết quả ước lượng về tác động giữa phân cấp ngân sách nhà nước và tăng trưởng kinh tế tại các địa phương ở Việt Nam giúp cho các nhà hoạch chính sách đưa ra những chính sách thích hợp để phát triển kinh tế các Tỉnh/Thành

phố ở Việt Nam

Trang 17

1.8 Kết cấu của nghiên cứu

Ngoài phần mở đầu, mục lục, các bảng biểu, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung đề tài bao gồm 05 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Chương 3: Phương pháp, dữ liệu và mô hình nghiên cứu Chương 4: Kết quả và thảo luận

Chương 5: Kết luận và khuyến nghị

Kết luận Chương 1:

Trong chương này nghiên cứu giới thiệu lý do chọn đề tài, vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu Chương 1 cũng giới thiệu phương pháp nghiên cứu mà tác giả sử dụng trong đề tài, nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng Đề tài được kết cấu gồm 5 chương; chương 1: Tổng quan

về vấn đề nghiên cứu; chương 2: Cơ sở lý thuyết ; chương 3: Phương pháp, dữ liệu

và mô hình nghiên cứu; chương 4: Kết quả và thảo luận; chương 5: Kết luận và khuyến nghị Dựa trên cơ sở chương 1, chương 2 đi vào phân tích tổng quan về cơ

sở lý thuyết của nghiên cứu

Trang 18

2.1 Cơ sở lý thuyết

2.1.1 Phân cấp ngân sách nhà nước

Phân cấp ngân sách nhà nước hay còn được hiểu là phân cấp tài khóa hoặc phân cấp tài chính nghĩa là thực hiện chuyển một phần quyền lực của chính quyền cấp trên cho chính quyền cấp dưới Đây là một phần trong cải cách khu vực công tạo ra môi trường cạnh tranh giữa các cấp chính quyền trong việc cung cấp hàng

hóa công tối ưu cho xã hội và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (Bird & Wallich, 1993)

Phân cấp được hiểu là một quá trình chuyển giao trách nhiệm và quyền hạn

từ chính quyền trung ương cho chính quyền địa phương hay khu vực tư nhân (World Bank, 2001) Phân cấp ngân sách nhà nước liên quan đến sự phân phối nguồn lực công giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương trong đó nhấn mạnh hai vấn đề cơ bản là sự phân chia nguồn thu và nhiệm vụ chi (Davey, 2003) Theo Hanai và Huyen (2004), phân cấp ngân sách nhà nước có thể định nghĩa là sự phân công trách nhiệm và quyền hạn, cũng như lợi ích giữa các cấp khác nhau của chính quyền về quản lý và thực hiện ngân sách

2.1.2 Các chỉ tiêu đo lường phân cấp ngân sách nhà nước

Một số các nghiên cứu trước đây đã đo lường mức độ phân cấp tài khóa như sau: Oates (1972), Zang & Zou (1998), Halder (2007) Các nghiên cứu này sử dụng nguồn thu ngân sách và chi ngân sách của địa phương để đo lường mức độ

Trang 19

phân cấp Tỉ lệ chi tiêu (ER – Expenditure ratio) được đo lường bằng chi tiêu của chính quyền địa phương so với tổng chi ngân sách nhà nước và tỉ lệ nguồn thu (RR – Revenue Ratio) được đo lường bằng nguồn thu của chính quyền địa phương so với tổng thu ngân sách nhà nước

Tỷ lệ chi tiêu (ER – Expenditure Ratio):

Tỷ lệ chi tiêu được đo lường bằng chi tiêu của chính quyền địa phương so với tổng chi ngân sách nhà nước (Oates, 1972) Trong phần tổng chi tiêu của chính quyền địa phương đã loại trừ phần bổ sung từ chính quyền trung ương cho chính quyền địa phương để thực hiện các chương trình, mục tiêu mà cấp trên giao Như vậy, tổng chi ngân sách nhà nước là tổng chi của tất cả các địa phương của nước

đó sau khi đã loại trừ phần chi bổ sung từ chính quyền trung ương cho chính quyền địa phương

ER càng tiến tới 1 thì phân cấp chi càng cao, điều này có nghĩa là chi của ngân sách địa phương chiếm tỷ trọng lớn so với chi ngân sách nhà nước

Tỷ lệ nguồn thu (RR – Revenue ratio):

Tỷ lệ nguồn thu được đo lường bằng tỉ lệ giữa nguồn thu của chính quyền địa phương so với tổng thu ngân sách nhà nước Trong đó, nguồn thu của chính quyền địa phương bao gồm các khoản thu địa phương hưởng 100% và khoản thu phân chia giữa trung ương và địa phương sau khi đã loại trừ nguồn thu bổ sung từ ngân sách trung ương

RR càng tiến tới 1 thì phân cấp thu càng cao, điều này có nghĩa là thu của ngân sách địa phương đóng góp quan trọng vào nguồn thu ngân sách nhà nước

Trang 20

Bằng một cách tiếp cận khác, Võ Hồng Đức (2008) đã phát triển Chỉ số phân cấp NSNN (FDI) bao gồm hai yếu tố cầu thành là Quyền tự chủ tài chính (FA) và Tầm quan trọng tài chính (FI) Quyền tự chủ tài chính là việc chuyển giao quyền

đánh thuế và phân công trách nhiệm cho việc cung cấp các hàng hóa và dịch vụ công cộng và bị ảnh hưởng bởi các quy định liên quan đến tỷ lệ phân chia giữa NSTW và NSĐP cũng như các khoản vay của chính quyền địa phương Tầm quan trọng tài chính là mức độ các hoạt động tài chính của chính quyền địa phương tương quan như thế nào với hoạt động tài chính của quốc gia đó Quyền tự chủ tài chính của các chính quyền địa phương ngụ ý rằng theo những quy định được phân cấp chính quyền địa phương có thể cân đối nguồn thu của địa phương bằng cách thực hiện kiểm soát các căn cứ đánh thuế của mình để trang trải các chi phí phát sinh trong cung cấp hàng hoá và dịch vụ công Trong chỉ số phân cấp FDI có hai thành phần chính như sau:

Thứ nhất: Tự chủ tài chính FA (Fiscal Autonomy)

Tự chủ tài chính là tỷ lệ giữa nguồn thu của chính quyền địa phương và chi tiêu của chính quyền địa phương do chính quyền địa phương đó tự quyết định (không phụ thuộc vào trung ương) được xác định:

Ei

Trang 21

FA có giá trị bằng 1 là địa phương đó có nguồn thu NSNN đủ bù đắp cho phần chi NSNN của địa phương, thể hiện tính chủ động cao, không phụ thuộc nhiều ngân sách trung ương, đảm bảo cho địa phương chủ động, sáng tạo trong việc phát triển kinh tế địa phương mình Ngược lại, giá trị FA của địa phương nào thấp và gần bằng 0 là phụ thuộc hoàn toàn vào NSTW vì nguồn thu NSĐP không thể bù đắp chi NSĐP

Thứ hai: Tầm quan trọng tài chính FI (Fiscal Importance):

Tầm quan trọng tài chính thể hiện các hoạt động tài chính của chính quyền địa phương so với hoạt động tài chính của quốc gia Trong nghiên cứu của Võ Hồng Đức (2008), chi tiêu công đại diện cho hoạt động tài chính

0 FI 1

Trong đó:

 TE: Chi tiêu khu vực công của tất cả các cấp chính quyền địa

phương trong phạm vi cả nước; và

 Ei: Chi tiêu khu vực công trong phạm vi địa phương do địa

phương đó tự quyết định

Công thức trên thể hiện rằng: Chỉ số Tầm quan trọng tài chính (FI) dao động trong khoảng (0,1), có giá trị nhỏ nhất bằng 0 và giá trị tối đa bằng 1 Nếu chỉ số FI càng tiến về 1 là chi NSNN của địa phương đó chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi NSNN của quốc gia đó thể hiện địa phương đó có vai trò quan trọng trong quốc gia

đó, còn giá trị FI càng tiến về 0 thể hiện chi NSNN của địa phương đó rất thấp so với quốc gia, không đóng vai trò quyết định trong phát triển quốc gia đó

Phân cấp NSNN được định nghĩa khi cả 2 quá trình Tự chủ tài chính (FA) và Tầm quan trọng tài chính (FI) của các địa phương trong quốc gia được xem xét bởi

Võ Hồng Đức (2008) Do vậy, chỉ số thể hiện mức độ phân cấp ngân sách nhà nước

1

P Ei FI

TE

Trang 22

của một quốc gia (Fiscal Decentralisation Index – FDI) có thể được thực hiện như sau:

FDI = (FA x FI)1/2 =

Chỉ số FDI phân cấp tài chính của chính quyền địa phương được giới hạn trong mức thống nhất là (1.0) Có 4 mức đo lường chỉ số phân cấp tài chính:

 Phân cấp ngân sách hoàn toàn: FDI =1

 Phân cấp ngân sách tương đối: 0.5 < FDI < 1

 Tập trung ngân sách tương đối : 0 < FDI < 0.5

 Tập trung ngân sách hoàn toàn: FDI = 0

2.2 Tăng trưởng kinh tế

2.2.1 Tăng trưởng kinh tế và cách đo lường

Tăng trưởng kinh tế (economic growth) được xem là sự tăng lên trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP – Gross Dometis Product), được đo lường bởi sự thay đổi phần trăm của GDP từ năm này đến năm kế tiếp Có 2 cách định nghĩa về GDP (Blanchard, 2000): GDP là giá trị hàng hóa và dịch vụ cuối cùng (được tính bằng tiêu dùng cuối cùng) được sản xuất ra trong nền kinh tế trong phạm vi quốc gia và trong khoảng thời gian nhất định (thông thường là một năm) hay GDP là tổng giá trị tăng thêm trong nền kinh tế trong khoảng thời gian nhất định (thông thường là một năm)

GDP thường được xác định thông qua ba cách thức tiêu biểu sau đây:

Thứ nhất: Phương pháp giá trị gia tăng (phương pháp sản xuất):

GDP = AVA + IVA + SVA

Trang 23

- IVA : giá trị gia tăng của ngành công nghiệp

- SVA: giá trị gia tăng của ngành dịch vụ

Thứ hai: Phương pháp chi tiêu: GDP bằng tổng tất cả các khoản chi tiêu hàng hóa

và dịch vụ cuối cùng

GDP = C + I + G + NX

Trong đó:

- C: Tiêu dùng hộ gia đình

- I: Đầu tư gồm đầu tư vào tài sản cố định và tài sản lưu động

- G: Chi tiêu hàng hóa và dịch vụ của Chính phủ

- NX: Giá trị hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu sang nước khác trừ hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu từ nước ngoài

Thứ ba, phương pháp thu nhập: GDP bằng thu nhập gộp của các yếu tố sản xuất

trong nền kinh tế được huy động cho quá trình sản xuất Nếu tính theo giá thị trường, GDP cũng bao gồm thuế gián thu:

GDP = w + i + r + Pr + De + Ti

Trong đó:

- w: Tiền lương và các khoản tiền thưởng của người lao động

- i: Thu nhập của người cho vay

- R: Thu nhập của chủ đất, chủ nhà và chủ các tài sản cho thuê khác

- Pr: Lợi nhuận của chủ doanh nghiệp

- De: Khấu hao

- Ti: Thuế gián thu

Để đo lường GDP có thể sử dụng giá danh nghĩa hay giá thực tế thông qua chỉ

số điều chỉnh GDP

GDP danh nghĩa = chỉ số điều chỉnh GDP * GDP thực

Để đo lường tốc độ tăng trưởng của GDP thực tế hay danh nghĩa người ta thường sử dụng chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng (gi) phản ánh % thay đổi của GDP năm sau so với năm trước Tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm được tính theo công thức:

Trang 24

- GDPt: GDP ở năm thứ t của thời kỳ nghiên cứu

- GDPt-1: GDP năm trước đó của kỳ nghiên cứu

Tăng trưởng kinh tế được xem là mục tiêu quan trọng nhất trong quá trình phân cấp ngân sách nhà nước vì tăng trưởng kinh tế là một trong những thước đo đánh giá sự thành công của quá trình phát triển.Tăng trưởng kinh tế là điểm khởi đầu của quá trình phát triển, xét về lý luận hay thực tiễn tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng một cách bền vững về sản lượng bình quân đầu người Mức sản lượng bình quân đầu người lại phụ thuộc vào quy mô dân số và sản lượng quốc gia Trong nghiên cứu này, tăng trưởng kinh tế được tính bằng cách lấy logarit bình quân đầu người của Tỉnh/Thành phố vì đây là biến đại diện cho tăng trưởng

2.2.2 Các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế

Trường phái mô hình tuyến tính về các giai đoạn phát triển đó là Rostow và Harrod – Domar có đặc điểm là nhấn mạnh quá trình phát triển kinh tế phải đi qua từng giai đoạn nhất định và nhấn mạnh đến quá trình tích lũy vốn, xem tích lũy vốn như một điều kiện để quốc gia phát triển

Mô hình tăng trưởng kinh tế của Robert Solow (1957) là mô hình tăng trưởng tân cổ điển hay còn gọi là mô hình tăng trưởng ngoại sinh, tăng trưởng kinh

tế phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài như: công nghệ và tốc độ tăng trưởng lao động mới thay đổi tốc độ tăng trưởng kinh tế ở trạng thái bền vững

Trong mô hình tăng trưởng kinh tế nội sinh, nhân tố thúc đẩy tăng trưởng dài hạn được nội sinh hóa trong quá trình tăng trưởng dẫn đến sự tăng trưởng liên

tục của nền kinh tế bao gồm hai nhân tố cơ bản đó là: vốn vật chất và vốn con người

Trang 25

2.3 Các nghiên cứu liên quan

2.3.1 Các nghiên cứu lý thuyết

Theo World Bank (1997), phân cấp ngân sách nhà nước có thể tác động đến tăng trưởng kinh tế theo hai hướng khác nhau, một là tích cực và hai là tiêu cực:

 Thứ nhất, phân cấp tài khóa sẽ dẫn đến tăng trưởng kinh tế nhờ khía cạnh

chi tiêu công

 Thứ hai, phân cấp tài khóa dẫn đến mất ổn định của nền kinh tế vĩ mô, điều

này có nghĩa phân cấp tài khóa tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế

Thứ ba, tác động của phân cấp tài khóa đến tăng trưởng kinh tế giữa các

nước phát triển và các nước đang phát triển là khác nhau, nếu ở các nước phát triển là tích cực thì ở các nước đang phát triển là tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế Lý do là ở các nước đang phát triển, chính quyền địa phương không có đủ năng lực để quản lý khi được phân cấp, dẫn đến ngân sách bị thất thoát, đầu tư công lãng phí, kém hiệu quả

Oates (1993) đưa ra lập luận là các khoản chi tiêu cho cơ sở hạ tầng và những yếu tố xã hội có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế địa phương vì chính quyền địa phương luôn hiểu được đặc điểm của dân cư địa phương, về những nhu cầu và mong muốn của người dân và phân bổ nguồn lực công hiệu quả hơn chính quyền trung ương

Zang và Zou (1997) cho rằng việc phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi cho chính quyền địa phương là cách thức nâng cao hiệu quả của khu vực công, giảm thâm hụt NSNN, làm cho nền kinh tế tăng trưởng Lập luận này dựa trên cơ sở chính quyền địa phương có ưu thế tốt hơn trong việc cung cấp các dịch vụ công tại địa phương mình so với chính quyền trung ương

Theo Võ Hồng Đức (2007), phân cấp ngân sách nhà nước sẽ tác động thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế, có bốn kênh chính của phân cấp tài chính sẽ tác động vào tăng trưởng kinh tế:

Trang 26

 Phân bổ hiệu quả các nguồn lực: điều này có xu hướng đảm bảo rằng thị hiếu và sở thích của địa phương sẽ được đáp ứng với chi phí tối thiểu, chính quyền địa phương ở gần hơn so với chính phủ cho nên chi phí cung cấp hàng hóa và dịch vụ công được giảm thiểu

 Kênh thứ hai là cạnh tranh giữa các chính quyền địa phương, áp lực của việc chọn lại người đứng đầu địa phương sẽ khiến cho họ làm việc một cách tích cực hơn, giảm thiểu lãng phí sẽ giúp tăng trưởng kinh tế

 Chính quyền địa phương của mỗi tỉnh có kích thước nhỏ hơn quốc gia, vì kích thước nhỏ hơn của chính quyền địa phương có thể dẫn đến kích thước tối ưu liên quan đến các nhu cầu giáo dục, y tế, cơ sở hạ tầng, giảm thiểu chi phí hành chính, tăng trưởng kinh tế được tăng cường thông qua việc tăng hiệu quả

 Kênh cho phân cấp ngân sách được dịch sang tăng trưởng kinh tế là từ mức độ thấp của tham nhũng Mức độ tham nhũng luôn luôn đi cùng với quản trị xấu, cản trở tăng trưởng kinh tế bằng cách giảm doanh thu của chính phủ và tăng lãng phí chi tiêu công Kết quả là chi tiêu đầu tư vào giáo dục, một yếu tố quan trọng với tăng trưởng kinh tế giảm Vì vậy, ở mức độ thấp của tham nhũng sẽ giúp tăng trưởng kinh tế

Bên cạnh đó, cũng có những quan điểm lý thuyết trái ngược về tác động của phân cấp tài khóa đến tăng trưởng Theo Prud „ homme (1995) và Tanzi (1996), một số giả định được đưa ra như: phân cấp nguồn thu tương xứng với nhiệm vụ chi, năng lực và trách nhiệm giải trình của địa phương không được thỏa mãn, thì kết quả của phân cấp tài khóa gây tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế Prud „ homme (1995) và Tanzi (1996) cho rằng chính quyền địa phương không cung cấp hàng hóa công hiệu quả ở phạm vi quốc gia vì tính kinh tế của quy mô Phân cấp tài khóa sẽ

có nguy cơ tham nhũng và lợi ích nhóm ở địa phương vì toàn bộ quyền quyết định trong thẩm quyền của lãnh đạo địa phương

Trang 27

2.3.2 Các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan đến đề tài ở nước ngoài

Có rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa phân cấp tài khóa

và tăng trưởng kinh tế Mỗi một nghiên cứu với những dữ liệu, phương pháp nghiên cứu khác nhau sẽ cho ra những kết luận khác nhau về tác động của phân cấp tài khóa đến tăng trưởng kinh tế

Từ những lập luận lý thuyết ban đầu cho rằng phân cấp tài khóa giúp tăng trưởng kinh tế, Zhang và Zou (1998) sử dụng dữ liệu bảng 28 tỉnh của Trung Quốc giai đoạn 1986-1992 Từ kết quả hồi quy bằng phương pháp OLS, họ kết luận rằng mức độ phân cấp tài khóa tác động tiêu cực đế tăng trưởng kinh tế với hệ số là : -0,054 Kết quả đạt được mâu thuẫn với kỳ vọng ban đầu về việc phân cấp tài khóa

Lin và Liu (2000) khám phá ra tác động của phân cấp tài khóa đến tăng trưởng bằng cách sử dụng dữ liệu bảng ở chính quyền cấp tỉnh của Trung Quốc Họ

đã sử dụng dữ liệu trong 23 năm từ năm 1970 đến năm 1993 cho nghiên cứu Nghiên cứu đã sử dụng phân tích hồi quy với việc coi GDP là biến phụ thuộc và biến liên quan đến phân cấp tài khóa, thu nhập bình quân đầu người , dân số và các biến giả liên quan đến cấp tỉnh là biến độc lập Tác giả đã kết luận rằng phân cấp tài khóa có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế

Martinez Varquez và McNab (2006) đã nghiên cứu “Phân cấp tài chính, ổn định vĩ mô và tăng trưởng” Trong nghiên cứu này, sử dụng dữ liệu bảng ở 66 quốc gia tại các nước phát triển và đang phát triển từ năm 1997 đến năm 2002 Ho sử dụng phương pháp OLS để phân tích mối quan hệ giữa phân cấp tài chính, ổn định

vĩ mô và tăng trưởng và kết luận rằng phân cấp tài chính ở các nước phát triển tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế và ở các nước đang phát triển thì tác động phân cấp tài chính đến tăng trưởng kinh tế là không rõ ràng

Võ Hồng Đức (2009) đã nghiên cứu “Phân cấp ngân sách nhà nước ở Việt Nam: Những bài học từ các quốc gia châu Á” Trong nghiên này, phân cấp quản lý

NSNN tại Việt Nam sẽ được sử dụng một chỉ số phân cấp ngân sách mới đó là Chỉ

số phân cấp NSNN (FDI), trong đó bao gồm cả Quyền tự chủ tài chính (FA) và

Trang 28

Tầm quan trọng tài chính (FI) của chính quyền địa phương được phát triển bởi Võ

Hồng Đức Mức độ phân cấp quản lý NSNN ở Việt Nam và Trung Quốc sau đó được so với ba quốc gia ASEAN được lựa chọn, cụ thể là Indonesia, Philippines và Thái Lan Nghiên cứu đã rút ra một số gợi ý chính sách từ lựa chọn các quốc gia ASEAN và kinh nghiệm tài chính và kinh tế của Trung Quốc được rút ra cho Việt Nam Chính quyền địa phương ở Việt Nam rõ ràng là ở một vị trí rất yếu bởi vì chính phủ quốc gia đặt căn cứ tính thuế và thuế suất quản lý thuế là tập trung trên toàn quốc và có một sự can thiệp nhiều vào chương trình chi tiêu từ các địa phương Đó là, theo các thỏa thuận hiện nay, quyền tự chủ tài chính của các chính quyền ở Việt Nam là rất hạn chế, và cải cách cần được nhằm giải quyết vấn đề này Một cơ chế cho phân cấp trách nhiệm nhiều hơn từ các quốc gia đến địa phương là điều địa phương rất mong muốn Nghiên cứu này rằng quyền tự chủ tài chính của chính quyền địa phương ở Việt Nam là ở mức thấp nhất so với các nước ASEAN tương tự (Indonesia, Philippines và Thái Lan) và Trung Quốc Khi Chính phủ quốc gia của Việt Nam mà cố gắng để cải cách phân cấp NSNN để nâng cao TCTC chính quyền địa phương Các yếu tố để nâng cao phân cấp NSNN là cho địa phương định ra các phí, lệ phí phù hợp với điều kiện của địa phương và giảm tỷ lệ phân chia thuế về trung ương

Rodrigez Pose và Ezcurra (2011) đã nghiên cứu “Phân cấp tài chính và tăng trưởng kinh tế ở các nước Trung và Đông Âu” Họ đã sử dụng dữ liệu bảng tại 21 nước OECD trong giai đoạn 1990 đến 2005 Sử dụng phương pháp bình phương bé nhất (OLS), nghiên cứu đã kết luận rằng phân cấp tài chính tác động âm đến tăng trưởng kinh tế

Baskaran và Feld (2013) đã nghiên cứu “Phân cấp tài chính và tăng trưởng kinh tế ở các nước OECD: có mối quan hệ hay không” Họ đã sử dụng dữ liệu bảng tại 23 nước OECD trong giai đoạn 1975 đến 2008 Sử dụng phương pháp bình phương bé nhất (OLS) và hồi quy cố định (FE), nghiên cứu đã kết luận rằng phân cấp doanh thu tác động âm đến tăng trưởng kinh tế

Trang 29

Marc et al., (2014) đã nghiên cứu về tự chủ chính quyền địa phương và tăng trưởng thành phố, bằng chứng từ Trung Quốc Nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu bảng trên các thành phố cấp quận của Trung Quốc từ 1985-1993 để đánh giá tác động tự chủ của địa phương về tăng trưởng thành phố Nghiên cứu đã dùng phương pháp khác biệt trong khác biệt với mô hình hồi quy như sau:

Yit = α + β(MSLit) + Xitχ+ Ci + Tt + εit (1)

Trong hồi quy này biến phụ thuộc, Yit, là kích thước của thành phố i trong năm t, đo bằng sản lượng công nghiệp, tổng số lao động, MSL thể hiện một trạng thái, nếu MSL biến giả bằng 1 nếu thành phố đã được cấp bằng năm t và 0 nếu ngược lại; nó là một tập hợp các đặc điểm cấp thành phố mà thay đổi theo thời gian; Ci là các hiệu ứng cố định của thành phố i; Tt là một hiệu ứng cố định cho năm t; và εit là sai số Để xác định xem tình trạng ảnh hưởng đến sản lượng MSL hay việc làm tốc độ tăng trưởng công nghiệp của thành phố chúng ta ước lượng mô hình sau đây:

Yit = α + β(MSLit) + pY t-1 + Xitχ+ Ci + Tt + εit (2)

Theo đó, nghiên cứu này cung cấp bằng chứng định lượng từ Trung Quốc kết luận rằng phân cấp đã có tác động tích cực về hiệu quả kinh tế địa phương

Imran et al., (2014) đã nghiên cứu về tác động của phân cấp NSNN đối với tăng trưởng kinh tế ở Pakistan bằng cách sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian cho giai đoạn từ năm 1972 đến 2010 Để khám phá sự kết hợp giữa phân cấp NSNN và tăng trưởng kinh tế ở Pakistan, nghiên cứu này sử dụng các khảo sát kinh tế của Pakistan (các vấn đề khác nhau), các báo cáo hàng năm của Ngân hàng Nhà nước Pakistan và sổ tay Thống kê biên soạn bởi Cục Thống kê Liên bang (FBS) để lấy

dữ liệu chuỗi thời gian cho giai đoạn từ 1972-2010

Egr = α 0 + α 1 AED + α 2 ARD + α 3 INF + α 4 POP + α 5 TO + μ i

Các biến số được sử dụng trong nghiên cứu này có thể được tóm tắt như sau:

 Tăng trưởng kinh tế (EGR): tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm được sử

dụng trong phân cấp NSNN để đo lường các mối quan hệ trực tiếp giữa

Trang 30

phân cấp NSNN và tăng trưởng kinh tế Nghiên cứu này sẽ sử dụng GDP

trong đơn vị tiền tệ địa phương như là một biến phụ thuộc

 Chi phí điều chỉnh phân cấp (AED): Biến này bao gồm các tỷ lệ chi tiêu

của chính phủ địa phương để chính quyền quốc gia chi sau khi đã trừ các khoản chi phí cho quốc phòng và trả nợ

 Phân cấp Doanh thu điều chỉnh (ARD): khoản thu của chính quyền địa

phương trừ các khoản trợ cấp viện trợ được đưa vào tài khoản

 Tỷ lệ lạm phát (INF): Tỷ lệ lạm phát được đo bằng chỉ số giá tiêu dùng

chung ở cấp quốc gia Nó được đưa ra giả thuyết rằng phân cấp NSNN sẽ giúp ổn định giá cả trong một nền kinh tế

 Mở cửa thương mại (TO): mở cửa thương mại là thương mại nước ngoài

ròng với tỷ lệ GDP và thương mại ròng nước ngoài là tổng số tiền hàng nhập khẩu và xuất khẩu Mở cửa thương mại trực tiếp ảnh hưởng tăng trưởng và việc làm Ảnh hưởng tích cực của tự do thương mại với tăng trưởng và việc làm là do lợi ích của việc phân bổ nguồn lực huy động từ bên ngoài

 Tỷ lệ tăng trưởng dân số (POP): tốc độ tăng trưởng dân số hàng năm cũng

được coi như một biến giải thích

Kết quả thực nghiệm cho thấy rằng phân cấp NSNN doanh thu và chi phí là một công cụ hiệu quả để thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế ở Pakistan

Adrian et al., (2015) đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa quyền tự chủ tài chính và phát triển địa phương Nghiên cứu đã tính toán sự tương quan giữa GDP/ đầu người và mức độ TCTC ở địa phương cấp quận của Rumani trong thời gian từ năm 2008-2011 TCTC trong nghiên cứu được định nghĩa là khả năng của cơ quan công quyền địa phương để quản lý các nguồn lực tài chính của cộng đồng địa phương, giải quyết các công việc sau này và để đáp ứng các lợi ích công cộng của địa phương Một cách để đo lường TCTC của chính quyền địa phương là tính toán

tỷ lệ doanh thu riêng của địa phương trong tổng thu ngân sách (Romanik, 2012) Nghiên cứu kiểm định hệ số tương quan Spearman để kiểm định để kiểm tra mối

Trang 31

tương quan giữa mức độ TCTC và GDP/đầu người và kết quả hệ số tương quan là (0.753), mối tương quan này là tích cực và nghiên cứu cứu đã rút ra các kết luận sau

Sự gia tăng mức độ tự chủ tài chính của chính quyền địa phương có xu hướng gia tăng mức độ phát triển của địa phương Một lập luận mạnh trong hỗ trợ của kết quả này là tự chủ tài chính lớn hơn cho chính quyền địa phương có nghĩa là khả năng lớn hơn của cơ quan công quyền địa phương để phục vụ nhu cầu của các cộng đồng hàng đầu của địa phương, do đó để phát triển kinh tế địa phương Trong những phương pháp để giảm khoảng cách về trình độ phát triển giữa các địa phương với nhau, theo nghiên cứu này chính là chuyển giao quyền quyết định cho các địa phương sẽ có hiệu quả hơn thông qua khả năng quản lý và giải quyết các vấn đề công cộng của địa phương Nghiên cứu đã nhấn mạnh rằng nếu không có TCTC địa phương, các cơ quan chính quyền địa phương sẽ không thể đảm bảo hiệu quả của chính quyền địa phương, bất lợi cho sự phát triển của địa phương

2.3.3 Bảng tổng hợp kết quả các nghiên cứu thực nghiệm ở nước ngoài

Có rất nhiều nghiên cứu định lượng được thực hiện nhằm đánh giá và lượng hóa tác động của quyết định phân cấp NSNN đến tăng trưởng kinh tế trên phạm vi toàn thế giới Trong các nghiên cứu này, cách tiếp cận về mức độ phân cấp NSNN được thực hiện rất kháu nhau Với những cách tiếp cận này, cho nhiều quốc gia khác nhau, kết quả thường đạt được là rất khác nhau nhằm mục đích trả lời câu hỏi nghiên cứu tác động nào được tìm thấy từ quyết định phân cấp NSNN đến tăng trưởng kinh tế Bên cạnh đó, mối quan hệ giữa phân cấp NSNN và tăng trưởng kinh

tế thường được thể hiện thông qua 2 cách cơ bản: (i) cho một nhóm quốc gia; và (ii) cho các địa phương trong cùng một quốc gia Bảng 2.1 sau đây tổng hợp tóm tắt kết quả nghiên cứu định lượng đã được thực hiện

Trang 32

Bảng 2.1 Bảng tổng hợp kết quả chính từ các nghiên cứu nước ngoài

Lin & Liu (2000) Trung Quốc

Mối quan hệ dương phân cấp NSNN và tăng trưởng kinh tế giai đoạn 1970-

1993

Imran H., Imran SC., Sally W., (2014)

Pakistan

Tác động của phân cấp NSNN là tích cực đến tăng trưởng kinh tế giai đoạn 1972-2010

Marc T.Law, Yusen

Li & Cheryl X.Long (2014)

Trung Quốc

Mối quan hệ giữa phân cấp NSNN và tăng trưởng kinh tế là cùng chiều giai đoạn 1985-1993

Mối quan hệ

âm

Zang & Zou (1998) Trung Quốc

Mối quan hệ âm giữa phân cấp NSNN

và tăng trưởng kinh tế tại 23 tỉnh của Trung Quốc giai đoạn 1986-1992

Martinez Vazquez &

Mối quan hệ âm giữa phân cấp NSNN

và tăng trưởng kinh tế tại các nước phát triển và tác động không rõ ràng phân cấp NSNN đến tăng trưởng kinh

tế tại các nước đang phát triển giai đoạn 1972-2003

Rodriguez Pose &

Mối quan hệ âm giữa phân cấp NSNN

và tăng trưởng kinh tế tại 21 nước OECD giai đoạn 1990-2005

Baskaran & Feld

Mối quan hệ âm giữa phân cấp NSNN

và tăng trưởng kinh tế tại 23 nước OECD giai đoạn 1975-2008

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Trang 33

2.3.4 Các nghiên cứu thực nghiệm ở trong nước

Nguyễn Phi Lân (2009) dựa trên lý thuyết tăng trưởng kinh tế nội sinh và lý thuyết tài khóa, mô hình về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phân cấp tài khóa, đã tìm ra mối quan hệ giữa phân cấp tài khóa và tăng trưởng kinh tế tại các địa phương của 64 Tỉnh/Thành phố ở Việt Nam trong hai giai đoạn riêng biệt 1997-

2001 và 2002-2007

Git = α0 + α1EXPORTit + α2HCit + α3GAPit + α4LDit + α5LABOURit +

α6INFLATIONit + α7M2it + α8EXPENDITUREit + α9REVENUE + εit

Các biến số được sử dụng trong nghiên cứu này có thể được tóm tắt như sau:

 Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế của tỉnh hoặc thành phố - (% hàng năm) G (nguồn GSO)

 Tích lũy vốn đầu tư con người (HC): đo lường bằng số sinh viên đại học và cao đẳng trên 1000 người dân (nguồn GSO)

 Tăng trưởng cung tiền (M2), biểu thị sự tăng trưởng của thị trường tài chính (nguồn IMF)

 Phân cấp quản lý chi tiêu (chi thường xuyên và chi xây dựng cơ bản) EXPENDITURE: đo lường bằng chi tiêu của chính quyền địa phương so với tổng chi tiêu của chính quyền trung ương (nguồn GSO)

 Phân cấp quản lý nguồn thu (nguồn thu qua thuế và nguồn thu khác) REVENUE: đo lường bằng các nguồn thu của chính quyền điạ phương so với tổng các nguồn thu của chính quyền trung ương (nguồn GSO)

 Đo lường khoảng cách công nghệ giữa các địa phương (đo lường tỷ lệ tăng trưởng của TPHCM với các tỉnh vì TPHCM được ghi nhận là tỉnh thành có tốc độ tăng trưởng cao nhất nước) GAP nguồn GSO

 Học và làm (Learning by doing) LD: đo lường bằng tỷ lệ giá trị gia tăng sản xuất công nghiệp so với GDP (nguồn GSO)

Trang 34

 Tăng trưởng lao động bình quân hàng năm (% hàng năm) LA (nguồn GSO)

 Tỷ lệ lạm phát (% hàng năm) INFLATION (nguồn GSO)

Nghiên cứu đã dùng phương pháp ước lượng hiệu ứng cố định (Fixed Effects-FE) và hiệu ứng ngẫu nhiên (Random Effects-RE), việc lựa chọn phương pháp tối ưu được thực hiện thông qua các kiểm định Hausman test và Breusch and Pagan test Thông qua kiểm định Hausman test và Breusch and Pagan test, phương pháp RE là phương pháp tối ưu được lựa chọn và cho kết quả như sau:

Thứ nhất, cho giai đoạn 1997-2001: Giai đoạn ban hành Luật NSNN năm 1996

- Phân cấp các nguồn thu (REVENUE) tác động tích cực đến tăng trưởng kinh

Thứ hai, cho giai đoạn 2002-2007: Giai đoạn ban hành Luật NSNN năm 2002

- Phân cấp các nguồn thu (REVENUE) tác động tích cực đến tăng trưởng kinh

tế

- Phân cấp các nguồn chi EXPENDITURE (chi thường xuyên và chi bổ sung chi tiêu của chính quyền trung ương cho chính quyền địa phương) tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế, còn chi đầu tư xây dựng cơ bản tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế

- Các biến giải thích khác trong mô hình như hoạt động xuất khẩu, tích lũy vốn con người, tăng trưởng thị trường lao động, cải cách thị trường tài chính, lạm phát, học và làm cũng là các nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến phát triển kinh tế địa phương

Trang 35

Mai Đình Lâm (2012) sử dụng phương pháp OLS, nghiên cứu đã phát hiện được tác động tích cực của chi đầu tư phát triển của địa phương đến tăng trưởng; tác động tích cực của thu ngân sách địa phương đến tăng trưởng Tuy nhiên nghiên cứu không thấy được mối liên hệ giữa chi thường xuyên của địa phương đến tăng trưởng Đồng thời, nghiên cứu cũng chưa tìm được mối quan hệ giữa chuyển giao tài khóa của chính quyền trung ương cho chính quyền địa phương đến tăng trưởng

Nghiên cứu của (Sử Đình Thành và ctg, 2013) dựa vào mô hình tăng trưởng nội sinh, sử dụng dữ liệu bảng của 62 Tỉnh/Thành phố trực thuộc trung ương trong giai đoạn (2000-2011) phương pháp PMG và GMM sai phân của Arellano & Bond (1991) nghiên cứu phân tích thực nghiệm mối quan hệ giữa chính sách tài khóa và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

Mô hình kinh tế lượng như sau được sử dụng:

Yit = β0 + β1Yit-1 + β2FDit + β3FTAXit + β4LTAXit + β5CONTROLit + eit Các biến số được sử dụng trong nghiên cứu này có thể được tóm tắt như sau:

- Log của GDP theo đầu người của tỉnh(Y): đây là biến đại diện cho tăng trưởng

- Phản ánh phân cấp tài khóa gồm các biến (FD)

- Phân cấp chi (FDEX): lấy chi ngân sách chia cho tổng chi ngân sách, được tính theo đầu người (bao gồm chi đầu tư và chi thường xuyên)

- Phân cấp thu (FDREV): lấy thu ngân sách chia cho tổng thu ngân sách, được tính theo đầu người (bao gồm các khoản thu mà tỉnh/thành hưởng 100% và các khoản thu phân chia giữa trung ương và tỉnh

- Mức hỗ trợ tài khóa (SUBSI): lấy số tiền hỗ trợ của trung ương chia cho tổng chi ngân sách của tỉnh

- Phản ứng mức độ biến dạng của thuế (TAX)

- Tổng thu thuế của NSTW/GDP cả nước (FTAX)

Trang 36

- Lấy tổng thu thuế NSĐP/GDP tỉnh (LTAX)

- Tập hợp các biến kiểm soát (CONTROL) bao gồm biến: PINVES: tăng trưởng

- Vốn đầu tư tư nhân, HUM: tỷ lệ tăng trưởng dân số lao động (có việc làm) của tỉnh, CPI: chỉ số giá tiêu dùng của tỉnh, OPEN: độ mở thương mại của địa phương

Nghiên cứu sử sụng PMG và GMM đã đưa ra những kết luận như sau: (i) Giữa phân cấp tài khóa và tăng trưởng kinh tế có quan hệ đồng biến trong dài hạn, tuy nhiên khi kinh tế bị chệch khỏi xu hướng cân bằng dài hạn thì nỗ lực chính phủ trong việc điều chỉnh chính sách tài khóa mang lại hiệu quả rất thấp; (ii) Phân cấp thu có quan hệ đồng biến với tăng trưởng trong dài hạn, phân cấp chi có quan hệ nghịch biến với tăng trưởng; và (iii) Chi thường xuyên và các lĩnh vực chi cho giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học, môi trường và y tế tác động đồng biến lên tăng trưởng kinh tế, trong khi chi đầu tư tác động nghịch biến lên tăng trưởng kinh tế

Trần Phạm Khánh Toàn (2014), sử dụng mô hình của Pose và Kroijer (2009)

để thực hiện nghiên cứu có liên quan đến phân cấp NSNN Mô hình kinh tế lượng của phân cấp chi ngân sách đến tăng trưởng kinh tế:

Y = β 1 Pop + β 2 Inv + β 3 Fe + β 4 Fe 2 + β 5 Inf + β 6 Op + α

Tác giả cho rằng bình phương biến Fr được đưa vào mô hình nhằm xác định mối quan hệ phi tuyến giữa phân cấp thu ngân sách và tăng trưởng kinh tế, trong

nghiên cứu này Biến phụ thuộc Y được đo bằng log tự nhiên GDP bình quân đầu

người của tỉnh, đây là biến đại diện cho tăng trưởng kinh tế Các biến độc lập trong

mô hình:

 Biến đại diện phân cấp chi ngân sách (Fe): tỷ lệ % chi ngân sách của tỉnh trên tổng chi ngân sách

Trang 37

 Biến đại diện phân cấp thu ngân sách (Fr): tỷ lệ phần % tổng thu ngân sách tỉnh/ tổng thu ngân sách, thu ngân sách không bao gồm các khoản hổ trợ, chuyển giao từ trung ương cho các tỉnh thành

 Biến đại diện cho đầu tư tư nhân (Inv): lấy log tự nhiên của vốn đầu tư tư nhân

 Tỷ lệ lực lượng lao động (Laf)

2.3.5 Bảng tổng hợp kết quả các nghiên cứu thực nghiệm trong nước

Kết quả đạt được từ các nghiên cứu thực nghiệm cho mối quan hệ giữa phân cấp NSNN và tăng trưởng kinh tế được thực hiện cho Việt Nam có thể được tóm tắt như Bảng 2.2 sau đây

Trang 38

Bảng 2.2 Bảng tổng hợp kết quả chính từ các nghiên cứu trong nước

Nguyễn Phi Lân

(2009)

Fixed Effects (FE) và Random Effects (RE)

Giai đoạn 1997-2001: Phân cấp nguồn thu tác động tích cực đến

tăng trưởng kinh tế, phân cấp nguồn chi (chi thường xuyên và chi đầu tư xây dựng cơ bản) tác động tiêu cực đến tăng trưởng Các biến giải thích: xuất khẩu, tích lũy vốn con người, lao động, lạm phát tác động tích cực đến tăng trưởng

Giai đoạn 2002-2007: Phân cấp nguồn thu tác động tích cực đến

tăng trưởng kinh tế, phân cấp nguồn chi (chi thường xuyên và chi bổ sung của chính quyền trung ương cho chính quyền địa phương) tác động tiêu cực đến tăng trưởng, chi đầu tư xây dựng cơ bản tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế Các biến giải thích: xuất khẩu, tích lũy vốn con người, lao động, lạm phát tác động tích cực đến tăng trưởng

Sử Đình Thành

(2013)

GMM và PMG

Phân cấp NSNN và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ đồng biến trong dài hạn, phân cấp thu quan hệ đồng biến với tăng trưởng, phân cấp chi quan hệ nghịch biến với tăng trưởng

Trần Phạm

Khánh Toàn

(2014)

Fixed Effects (FE) và Random Effects (RE

Phân cấp thu ngân sách tác động tích cực đến tăng trưởng, phân cấp chi ngân sách tác động tiêu cực đến tăng trưởng; đầu tư tư nhân và lực lượng lao động tác động tích cực đến tăng trưởng; lạm phát tác động nghịch biến đến tăng trưởng và biến độ mở thương mại không

có ý nghĩa thống kê

Nguồn: Tác giả tổng hợp

2.3.6 Nhận xét các nghiên cứu thực nghiệm

Các nghiên cứu thực nghiệm trong nước và ngoài nước đều nghiên cứu về mối quan hệ giữa phân cấp NSNN và tăng trưởng kinh tế Tùy theo từng thời gian, phương pháp, không gian khác nhau sẽ đưa ra những kết quả khác nhau về mối

Trang 39

quan hệ này Tuy nhiên, các nghiên cứu trên đa số thường sử dụng chỉ số phân cấp thu NSNN và phân cấp chi NSNN riêng lẽ, không đánh giá kết hợp tác động của phân cấp thu và chi NSNN thông qua một chỉ số kết hợp.Vì thế, trong nghiên cứu

này, tác giả sẽ sử dụng Chỉ số phân cấp ngân sách nhà nước (FDI) là chỉ số kết hợp giữa thu NSNN và chi NSNN được xây dựng bởi Võ Hồng Đức (2008) để tính Chỉ

số phân cấp NSNN và kiểm định về mối quan hệ giữa phân cấp NSNN và tăng

trưởng kinh tế trong giai đoạn 2008 – 2013 tại các địa phương ở Việt Nam

2.4 Thực trạng phân cấp NSNN tại Việt Nam

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980, 1992

đã xác định hệ thống hành chính ở Việt Nam đó là: Các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau: Nước chia thành Tỉnh/Thành phố trực thuộc trung ương và tỉnh; tỉnh chia thành huyện, thành phố thuộc tỉnh và thị xã; huyện chia thành xã và thị trấn; thị xã chia thành phường

và xã; quận chia thành phường Các cơ quan hành chính trên đều thành lập HĐND

và UBND

Hình 2.1 Sơ đồ Phân cấp hành chính ở Việt Nam theo Hiến pháp 1992

Phân cấp tài khóa ở Việt Nam do yêu cầu của tổ chức bộ máy hành chính và quá trình phân cấp nhiệm vụ quản lý nhà nước giữa trung ương và địa phương được

Trang 40

bắt đầu thành lập từ khi nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa ra đời năm 1945 Phân cấp tài khóa tiếp tục được hoàn thiện qua các giai đoạn sau đó được luật hóa cụ thể bằng bằng luật NSNN năm 1996 và sửa đổi bổ sung năm 2002

2.4.1 Luật NSNN năm 1996

Luật quy định hệ thống ngân sách bao gồm: trung ương, tỉnh, huyện và xã Ngân sách trung ương đóng vai trò chủ đạo trong hệ thống ngân sách, đảm bảo thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội trọng điểm quốc gia Ngân sách địa phương chịu trách nhiệm cung ứng các nguồn lực tài chính cho hoạt động của HĐND và UBND tại địa phương Quy định rõ ràng nguyên tắc cân bằng ngân sách, thể hiện ở các điều kiện mà theo đó tổng số thu từ thuế, phí, lệ phí phải vượt quá tổng số chi thường xuyên và mức độ thâm hụt ngân sách phải thấp hơn chi đầu tư phát triển Ngoài ra, tốc độ tăng chi đầu tư phải cao hơn chi thường xuyên Xác định rõ trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan khác nhau trong hệ thống hành chính, từ trung ương đến địa phương trong việc lập dự toán, phân bổ, chấp hành và quyết toán NSNN.Luật NSNN 1996 đã giao nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể cho các cấp ngân sách khác nhau

2.4.2 Luật NSNN sửa đổi năm 2002

Nguyên nhân chính sửa đổi luật NSNN năm 2002 là do sửa đổi hai bộ luật thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp Số lượng nguồn thu mà ngân sách trung ương hưởng 100% sẽ giảm bớt, đồng thời điều chỉnh các nguồn thu và nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương Ngân sách địa phương theo Luật NSNN

2002 bao gồm tổng hợp 3 cấp tỉnh, huyện, xã

2.4.3 Sự khác biệt giữa Luật NSNN năm 1996 và Luật NSNN năm 2002

Các nguồn thu mà NSTW hưởng 100% sẽ giảm bớt đồng thời điều chỉnh các nguồn thu và nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương

Ngày đăng: 10/03/2019, 17:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w