Để giải đáp những vấn đề đặt ra như trên, trên cơ sở lý thuyết về hiệu quả kinh tế và những vấn đề liên quan đến đất đai nói chung, rừng và cây cao su nói riêng, tác giả của nghiên cứu đ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN ĐỨC HƯƠNG
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ
TỪ VIỆC TRỒNG CAO SU TRÊN ĐẤT LÂM NGHIỆP
TẠI TỈNH BÌNH PHƯỚC GIAI ĐOẠN 2008-2014
Chuyên ngành : KINH TẾ HỌC
Mã số chuyên ngành : 60 03 01 01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ HỌC
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS Nguyễn Văn Phúc
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng luận văn: “Phân tích hiệu quả kinh tế từ việc trồng cao su trên
đất lâm nghiệp tại tỉnh Bình Phước giai đoạn 2008-2014” là nghiên cứu của chính bản
thân tôi
Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi cam
đoan rằng toàn bộ luận văn này hay những phần nhỏ trong luận văn này chưa từng
được công bố hoặc sử dụng để nhận bằng cấp tốt nghiệp ở nơi khác
Không có nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong luận văn này mà
không được trích dẫn theo quy định
Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bằng cấp tốt nghiệp nào tại các
trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác
Tp Hồ Chí Minh, ngày 02 tháng 7 năm 2016
Tác giả
Nguyễn Đức Hương
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin chân thành cám ơn PGS.TS Nguyễn Văn Phúc- Hiệu trưởng
Trường Đại học Mở TP Hồ Chí Minh, người trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện đề tài
nghiên cứu này, thầy đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt cho tôi nhiều nội dung quan
trọng, giúp tôi hoàn thành nghiên cứu này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến quý Thầy, Cô giáo
của Trường Đại học Mở TP Hồ Chí Minh, những người đã nhiệt tình giảng dạy, hướng
dẫn và tạo điều kiện cho tôi cũng như học viên trong lớp tiếp thu những kiến thức quý
báu trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu tại Trường Cảm ơn các anh, chị, em học
viên trong lớp ME06 đã trao đổi, chia sẻ những kinh nghiệm hữu ích và hỗ trợ tôi
trong quá trình học tập, nghiên cứu những năm qua
Tôi xin cảm ơn lãnh đạo Sở NN&PTNT tỉnh Bình Phước, lãnh đạo và công chức
Chi Cục Phát triển Lâm nghiệp tỉnh Bình Phước đã dành nhiều thời gian để giúp đỡ tôi
trong quá trình khảo sát, thu thập dữ liệu và trao đổi nhiều vấn đề thực tế liên quan, hỗ
trợ tôi hoàn thành nghiên cứu này
Cuối cùng là lời biết ơn sâu sắc đến lãnh đạo và đồng nghiệp trong cơ quan tôi
công tác đã tạo điều kiện thuận lợi trong thời gian tôi đi học và thực hiện nghiên cứu
này
Xin trân trọng cảm ơn !
Học viên Trường Đại học Mở TP Hồ Chí Minh
Nguyễn Đức Hương
Trang 4TÓM TẮT LUẬN VĂN
Việc chuyển đổi từ rừng tự nhiên nghèo kiệt sang trồng cao su là một trong các
giải pháp chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong nội tại ngành nông lâm nghiệp ở nước ta
nói chung, địa phương Bình Phước nói riêng Tuy nhiên, trong thực tế quá trình
chuyển đổi thời gian qua, một số vấn đề đặt ra cần được quan tâm giải quyết, như: có
nên đánh đổi một phần diện tích rừng tự nhiên lấy cây cao su hay không? hiệu quả
kinh tế của cây cao su như thế nào, đặc biệt là trong tình hình giá cả mủ cao su đang
xuống thấp như hiện nay? quyết định của chính quyền địa phương về việc chuyển đổi
có phải là quyết định đúng đắn?
Để giải đáp những vấn đề đặt ra như trên, trên cơ sở lý thuyết về hiệu quả kinh tế
và những vấn đề liên quan đến đất đai nói chung, rừng và cây cao su nói riêng, tác giả
của nghiên cứu đã tiến hành khảo sát thực trạng quá trình đầu tư trồng, chăm sóc, khai
thác cao su tại một số dự án chuyển đổi từ rừng tự nhiên nghèo kiệt đã được quy hoạch
là rừng sản xuất sang trồng cao su và dự án trồng cao su trên đất nông nghiệp tại tỉnh
Bình Phước Từ kết quả khảo sát, tiến hành phân tích, so sánh hiệu quả kinh tế của mô
hình chuyển đổi sang trồng cao su và mô hình giữ rừng; phân tích độ nhạy của lợi
nhuận đầu tư cây cao su theo chi phí đầu tư, sản lượng và giá mủ cao su trên địa bàn
Kết quả nghiên cứu thể hiện: mô hình giữ rừng chỉ cho lợi nhuận 7,2 triệu
đồng/ha/năm và NPV (10%) đạt 15,5 triệu đồng, trong khi đó mô hình chuyển đổi
sang trồng cao su cho lợi nhuận 25,5 triệu đồng/ha/năm và NPV (10%) đạt 55,1 triệu
đồng nếu tính theo giá mủ cao su năm 2014 (năm 2008 lợi nhuận là 71,2 triệu
đồng/ha/năm, NPV(10%) là 280,5 triệu đồng); lợi nhuận cây cao su lệ thuộc nhiều vào
yếu tố giá cả mủ cao su trên thị trường
Sau khi kết quả nghiên cứu khẳng định được việc chuyển đổi sang trồng cao su
cho hiệu quả kinh tế cao hơn so với việc giữ rừng, tác giả tiếp tục thực hiện phỏng vấn
sâu, thu thập ý kiến của các cá nhân công tác tại các cơ quan quản lý nhà nước và các
doanh nghiệp trồng cao su trên địa bàn, phân tích mức độ hài lòng với quyết định
chuyển đổi của chính quyền tại thời điểm năm 2009 và hiện nay Kết quả phần lớn ý
kiến thể hiện hài lòng với quyết định của chính quyền vào năm 2009, trên 60% thể
Trang 5hiện không hài lòng hoặc ít hài lòng với quyết định tiếp tục chuyển đổi trong giai đoạn
hiện nay
Kết quả phỏng vấn chuyên gia cũng thể hiện quyết định chuyển đổi của chính
quyền vào năm 2009 là đúng đắn, tuy nhiên, hiện nay cần xem xét, điều chỉnh cho phù
hợp, đặc biệt là nhằm khai thác tối đa lợi thế về thổ nhưỡng, khí hậu đối với từng loại
cây trồng trên đất đã được quy hoạch là đất rừng
Từ kết quả phân tích trên, nghiên cứu đã kết luận một số nội dung như:
- Quyết định chuyển đổi từ rừng tự nhiên nghèo kiệt được quy hoạch thuộc rừng
sản xuất của chính quyền địa phương tỉnh Bình Phước năm 2009 là đúng đắn, phù hợp
với tình hình và điều kiện thực tế của Bình Phước tại thời điểm năm 2008-2009
- Hiện nay, việc tiếp tục thực hiện chuyển đổi sang trồng cao su theo chủ trương,
quyết định của chính quyền địa phương vào năm 2009 cần được xem xét, điều chỉnh
một cách phù hợp
- Hiệu quả kinh tế của cây cao su được trồng trên địa bàn tỉnh Bình Phước tùy
thuộc nhiều vào yếu tố giá cả mủ cao su và sản lượng mủ cao su Trong điều kiện giá
mủ cao su xuống thấp như hiện nay, cần thiết phải có sự điều chỉnh về diện tích và sản
lượng một cách phù hợp
- Yếu tố chi phí về tiền thuê đất chỉ chiếm tỷ lệ 3,76% trong tổng chi phí bình
quân hàng năm của 01 ha cao su, mặc dù không có tác động nhiều đến lợi nhuận
nhưng nếu giá mủ cao su giảm liên tục như những năm qua thì chính quyền địa
phương cũng cần xem xét lại mức tăng tỷ lệ đơn giá tiền thuê đất sau mỗi chu kỳ thuê
đất 5 năm/lần như quy định hiện tại
Bên cạnh kết luận trên, nghiên cứu cũng đã đưa ra một số kiến nghị, qua đó giúp
chính quyền địa phương, người dân và doanh nghiệp nhìn nhận, đánh giá và có giải
pháp điều chỉnh phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nói chung, hiệu quả
kinh tế của cây cao su nói riêng
Trang 6MỤC LỤC
Lời cam đoan ………
Lời cảm ơn ………
Tóm tắt luận văn ………
Mục lục ………
Danh mục bảng ………
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ………
1.1 Lý do nghiên cứu………
1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu ………
1.3 Phương pháp nghiên cứu ………
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ………
1.5 Kết cấu của đề tài nghiên cứu ………
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT ………
2.1 Đất đai ………
2.1.1 Khái niệm về đất đai ………
2.1.2 Các chức năng cơ bản của đất đai ………
2.1.3 Tính chất đặc biệt của đất đai ………
2.1.4 Phân loại đất ………
2.2 Rừng ………
2.2.1 Khái niệm về rừng ………
2.2.2 Phân loại rừng ………
2.3 Lâm phần, trữ lượng lâm phần và tăng trưởng lâm phần ………
2.3.1 Lâm phần ………
2.3.2 Trữ lượng lâm phần và phương pháp xác định trữ lượng lâm phần 2.3.3 Tăng trưởng lâm phần ………
2.4 Nông nghiệp và đặc điểm của ruộng đất trong sản xuất nông nghiệp … 2.4.1 Khái niệm về nông nghiệp ………
2.4.2 Đặc điểm của ruộng đất trong sản xuất nông nghiệp ………
2.5 Chuyển đổi cơ cấu cây trồng ………
2.5.1 Khái niệm ………
i
ii iii
v viii
1
1
2
3
3
3
5
5
5
5
5
6
6
6
7
9
9
10
10
12
12
12
13
13
Trang 72.5.2 Sự cần thiết phải chuyển đổi cơ cấu cây trồng ………
2.6 Cây cao su ………
2.6.1 Đặc điểm và các giai đoạn sinh trưởng của cây cao su …………
2.6.2 Quy định của pháp luật về phát triển cao su trên đất lâm nghiệp… 2.7 Hiệu quả kinh tế ………
2.7.1 Khái niệm về hiệu quả kinh tế và phân tích hiệu quả kinh tế ……
2.7.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế ………
2.7.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp …………
2.8 Phân tích mô phỏng (phân tích độ nhạy) ………
2.9 Các nghiên cứu trước ………
2.10 Tóm tắt chương ………
CHƯƠNG III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ………
3.1 Quy trình nghiên cứu ………
3.2 Cách thức chọn mẫu nghiên cứu ………
3.3 Phương pháp thu thập dữ liệu ………
3.4 Phương pháp phân tích dữ liệu ………
3.4.1 Phương pháp chuyên gia ………
3.4.2 Phương pháp phân tích thống kê ………
3.4.3 Phương pháp phỏng vấn sâu ………
3.4.4 Phương pháp phân tích mô phỏng ………
3.5 Tóm tắt chương ………
CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ………
4.1 Thực trạng quản lý bảo vệ, phát triển rừng, phát triển cao su tại Bình Phước giai đoạn 2008-2014 ………
4.2 Hiện trạng và kết quả đầu tư tại 25 dự án chuyển đổi từ rừng tự nhiên nghèo kiệt sang trồng cao su và 25 dự án trồng cao su từ năm 2008 trở về trước đang trong giai đoạn khai thác ………
4.2.1 Kết quả khai thác tận thu gỗ rừng tại 25 dự án chuyển đổi từ rừng tự nhiên sang trồng cao su (dự án chuyển đổi)………
4.2.2 Kết quả đầu tư thời kỳ kiến thiết cơ bản của 25 dự án chuyển đổi
4.2.3 Chi phí đầu tư hàng năm thời kỳ khai thác của 25 dự án trồng cao
14
15
15
16
16
16
17
22
22
24
27
29
29
30
31
31
31
31
34
34
35
36
36
38
38
40
Trang 8su từ năm 2008 trở về trước đang trong giai đoạn khai thác mủ … 4.2.4 Sản lượng mủ cao su tươi của 25 dự án trồng cao su từ năm 2008
trở về trước đang trong giai đoạn khai thác mủ ………
4.2.5 Ước sản lượng gỗ cao su sau thời kỳ khai thác mủ của 25 dự án trồng cao su từ năm 2008 trở về trước ………
4.3 Phân tích kết quả nghiên cứu ………
4.3.1 Phân tích thống kê mô tả ………
4.3.2 Phân tích, so sánh hiệu quả kinh tế từ đất rừng tự nhiên nghèo kiệt (mô hình giữ rừng) và đất rừng tự nhiên nghèo kiệt đã chuyển đổi sang trồng cao su (mô hình chuyển đổi) ………
4.3.3 Phân tích độ nhạy lợi nhuận từ mô hình trồng cao su trên đất rừng 4.3.4 Phân tích kết quả phỏng vấn sâu ………
4.3.5 Kết quả phỏng vấn chuyên gia ………
4.4 Tóm tắt chương ………
CHƯƠNG V: NHẬN XÉT, KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ………
5.1 Nhận xét và kết luận ………
5.2 Kiến nghị ………
5.3 Ý nghĩa và hạn chế của đề tài nghiên cứu ………
TÀI LIỆU THAM KHẢO ………
PHỤ LỤC ………
PHỤ LỤC 1: Các biểu mẫu khảo sát, thu thập dữ liệu ………
PHỤ LỤC 2: Phiếu khảo sát thông tin phát triển cao su địa bàn tỉnh Bình Phước
PHỤ LỤC 3: Tổng hợp kết quả khảo sát ………
PHỤ LỤC 4: Các bảng dữ liệu khảo sát và kết quả phân tích dữ liệu ………
41
42
43
44
44
46
51
56
67
69
71
71
73
74
76
81
81
83
85
87
Trang 9DANH MỤC BẢNG Bảng 4.1: Chi NSNN cho công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Bình
Phước giai đoạn 2011- 2014
Bảng 4.2: Diện tích đất lâm nghiệp và diện tích rừng trên địa bàn tỉnh Bình
Phước giai đoạn 2008- 2014
Bảng 4.3: Diện tích, sản lượng và giá mủ cao su tươi trên địa bàn tỉnh Bình
Phước giai đoạn 2008-2014
Bảng 4.4: Kết quả tận thu gỗ tại 25 dự án chuyển đổi …….………
Bảng 4.5: Kết quả đầu tư thời kỳ kiến thiết cơ bản của 25 DA chuyển đổi ……
Bảng 4.6: Chi phí đầu tư bình quân ha cao su thời kỳ khai thác mủ tại thời điểm
năm 2014 ………
Bảng 4.7: Sản lượng mủ tươi của 25 dự án trồng cao su đang khai thác ………
Bảng 4.8: Ước sản lượng và giá trị gỗ sau khai thác mủ tại 25 dự án trồng cao su
đang khai thác ………
Bảng 4.9: Phân bổ theo địa bàn của các dự án mẫu được chọn ………
Bảng 4.10: Hiệu quả kinh tế của mô hình giữ rừng ………
Bảng 4.11: Hiệu quả kinh tế của mô hình trồng cao su trên đất rừng tự nhiên
nghèo kiệt ………
Bảng 4.12: So sánh hiệu quả kinh tế giữa 2 mô hình ……… ……
Bảng 4.13: Các chỉ tiêu trung bình của 25 dự án chuyển đổi từ đất rừng sang
trồng cao su ………
Bảng 4.14: Độ nhạy lợi nhuận từ mô hình trồng cao su trên đất rừng theo sản
lượng và giá bán mủ cao su tươi ………
Bảng 4.15: Độ nhạy lợi nhuận theo sản lượng và chi phí ………
Bảng 4.16: Độ nhạy lợi nhuận theo giá bán và chi phí
Bảng 4.17: Kết quả phỏng vấn mức độ hài lòng tại thời điểm năm 2009 đối với
quyết định chuyển đổi ………
Bảng 4.18: Mức độ hài lòng tại thời điểm năm 2009 đối với quyết định chuyển
đổi theo khối cơ quan làm việc ………
Bảng 4.19: Mức độ hài lòng tại thời điểm năm 2009 đối với quyết định chuyển
Trang 10đổi theo lĩnh vực hoạt động ………
Bảng 4.20: Mức độ hài lòng tại thời điểm năm 2009 đối với quyết định chuyển
đổi theo chức vụ đảm nhiệm ………
Bảng 4.21: Mức độ hài lòng tại thời điểm năm 2009 đối với quyết định chuyển
đổi theo đặc điểm sản xuất nông nghiệp ………
Bảng 4.22: Kết quả phỏng vấn về mức độ hài lòng hiện tại đối với quyết định
điểm sản xuất nông nghiệp ………
Bảng 4.27: Kết quả phỏng vấn sự đồng ý với việc tiếp tục thực hiện quyết định
chuyển đổi trên diện tích đã được quy hoạch chuyển đổi ………
Bảng 4.28: Sự đồng ý đối với việc tiếp tục thực hiện quyết định chuyển đổi theo
cơ quan làm việc …
Bảng 4.29: Sự đồng ý đối với việc tiếp tục thực hiện quyết định chuyển đổi theo
lĩnh vực hoạt động ………
Bảng 4.30: Sự đồng ý với việc tiếp tục thực hiện quyết định chuyển đổi theo vị
trí công tác ………
Bảng 4.31: Sự đồng ý với việc tiếp tục thực hiện quyết định chuyển đổi theo đặc
điểm sản xuất nông nghiệp của gia đình ………
Bảng 4.32: Kết quả phỏng vấn về việc chuyển đổi diện tích rừng sản xuất là rừng
tự nhiên nghèo kiệt sang cây trồng khác không phải là cao su ………
Bảng 4.33: Phân tích ý kiến về việc chuyển rừng sản xuất sang cây trồng khác
không phải là cao su theo khối cơ quan làm việc ………
Bảng 4.34: Phân tích ý kiến về việc chuyển từ rừng sản xuất sang cây trồng khác
không phải là cao su theo lĩnh vực hoạt động ………
Trang 11Bảng 4.35: Phân tích ý kiến về việc chuyển từ rừng sản xuất sang cây trồng khác
không phải là cao su theo vị trí công tác ………
Bảng 4.36: Phân tích ý kiến về việc chuyển từ rừng sản xuất sang cây trồng khác
không phải cao su theo đặc điểm sản xuất nông nghiệp ………
Bảng 4.37: Các loại cây trồng được lựa chọn thay thế cho cây cao su …………
Bảng 4.38: Kết quả phỏng vấn về việc chuyển từ cao su sang cây khác …………
Bảng 4.39: Phân tích ý kiến về việc chuyển từ cây cao su sang cây trồng khác
theo khối cơ quan làm việc ………
Bảng 4.40: Phân tích ý kiến về việc chuyển từ cây cao su sang cây trồng khác
theo lĩnh vực hoạt động ………
Bảng 4.41: Phân tích ý kiến về việc chuyển từ cây cao su sang cây trồng khác
theo vị trí công tác ………
Bảng 4.42: Phân tích ý kiến về việc chuyển từ cây cao su sang cây trồng khác
theo đặc điểm sản xuất nông nghiệp ………
Trang 12Ở Việt Nam, từ thực tế của quá trình phát triển nhiều năm qua, hiệu quả sử dụng đất đai luôn được sự quan tâm của toàn xã hội Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012) nhận định bên cạnh kết quả đạt được tình hình thực hiện Luật Đất đai 2003 cũng còn những vấn đề nổi lên đáng quan tâm, như: Nguồn lực về đất đai chưa được phát huy đầy đủ để trở thành nội lực quan trọng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội Tình trạng đất được giao, cho thuê sử dụng không đúng mục đích, vi phạm pháp luật, găm giữ đất, chậm đưa vào sử dụng hoặc chuyển nhượng dự án còn xảy
ra ở nhiều địa phương dẫn đến lãng phí đất đai và gây bất bình trong dư luận Nhiều địa phương còn thiếu cân nhắc trong việc chuyển mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, đất lâm nghiệp có rừng…
Một trong những nội dung quan trọng, có liên quan đến việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội chung của các địa phương có diện tích rừng lớn thuộc khu vực Đông Nam bộ và Tây Nguyên, đó chính là việc chuyển đổi rừng tự nhiên nghèo kiệt sang trồng cao su theo chủ trương, hướng dẫn chung của Chính phủ và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn từ năm 2008 đến nay Qua 6 năm (2009-2014) triển khai chủ trương này, song song với kết quả đạt được cũng còn một số vấn đề được dư luận quan tâm, đặc biệt là hiệu quả cũng như mặt trái của việc chuyển đổi
từ rừng tự nhiên nghèo kiệt sang trồng cao su, việc giải quyết nhu cầu đất sản xuất
và đời sống cho người dân khu vực có rừng, việc quản lý bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường sinh thái…
Trang 13Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Phước (2013), Bình Phước là địa phương thuộc khu vực Đông Nam bộ có diện tích đất rừng trên 170.000 ha, năm 2009 và 2010, địa phương đã quy hoạch chuyển trên 70.000 ha rừng sản xuất là rừng tự nhiên nghèo kiệt sang trồng cao su, kết quả đến năm 2014
đã chuyển được khoảng 35.000 ha Như vậy, theo quy hoạch thì địa phương sẽ tiếp tục chuyển đổi khoảng 35.000 ha, trong khi đó, giá cao su gần đây xuống thấp, có tình trạng chặt bỏ, thay thế bằng các loại cây trồng khác ở một số địa phương trong
cả nước; tồn kho cao su thế giới vào thời điểm cuối năm 2014 là 2,06 triệu tấn, tính tới cuối tháng 10/2015 vẫn còn 1,84 triệu tấn (Tạp chí Cao su Việt Nam, ngày 31/12/2015) Do vậy, chính quyền tỉnh Bình Phước quyết định chuyển đổi diện tích rừng tư nhiên nghèo kiệt sang trồng cao su có phải là quyết định đúng hay không ? Hiệu quả kinh tế đạt được từ việc chuyển đổi đất rừng tự nhiên nghèo kiệt sang trồng cây cao su có hay không? Hiệu quả đến mức nào? Đây là các vấn đề đáng được quan tâm, nghiên cứu
Nghiên cứu: “Phân tích hiệu quả kinh tế từ việc trồng cao su trên đất lâm nghiệp tại tỉnh Bình Phước giai đoạn 2008 - 2014” nhằm mục tiêu so sánh và làm
rõ hiệu quả kinh tế mang lại từ việc chuyển đổi rừng tự nhiên nghèo kiệt sang trồng cao su tại tỉnh Bình Phước trong thời gian qua, trên cơ sở đó khuyến nghị những chính sách nhằm phát triển cao su trên đất lâm nghiệp trong thời gian tới, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất nói chung, đất rừng nghèo kiệt nói riêng
1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- So sánh hiệu quả kinh tế từ đất rừng tự nhiên nghèo kiệt và đất rừng tự nhiên nghèo kiệt sau chuyển đổi sang trồng cao su
- Xác định sự đúng đắn của quyết định chuyển đổi rừng tự nhiên nghèo kiệt sang trồng cao su, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử
dụng đất rừng sản xuất tại Bình Phước
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu
Giữa hai mô hình giữ đất rừng tự nhiên nghèo kiệt và mô hình chuyển đất rừng tự nhiên nghèo kiệt sang trồng cao su trên địa bàn tỉnh Bình Phước, mô hình nào cho hiệu quả kinh tế tốt hơn? Việc quyết định chuyển đổi từ rừng tự nhiên
Trang 14nghèo kiệt sang trồng cao su có phải là chủ trương đúng đắn của chính quyền địa phương?
1.3 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu định tính với các hình thức như: thảo luận và phỏng vấn sâu các chuyên gia làm việc trong lĩnh vực quản lý nhà nước chuyên ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, lãnh đạo một số cơ quan nhà nước cấp tỉnh, UBND cấp huyện
và các doanh nghiệp sản xuất cao su trên địa bàn tỉnh; sử dụng một số dữ liệu nghiên cứu mang tính kinh nghiệm từ thực tế hoạt động sản xuất và khai thác mủ cao su, gỗ cao su của các doanh nghiệp có kinh nghiệm và quá trình sản xuất cao su trên địa bàn tỉnh Bình Phước trong nhiều năm qua
Nghiên cứu định lượng với phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh dữ liệu thống kê và kết quả điều tra 25 dự án chuyển đổi từ rừng tự nhiên nghèo kiệt sang trồng cao su tại tỉnh Bình Phước giai đoạn 2008- 2014; kết quả tính toán hiệu quả kinh tế (lợi nhuận của việc chuyển đổi sang trồng cao su so với giữ nguyên đất rừng
tự nghiên nghèo kiệt) Đồng thời, nghiên cứu còn thực hiện phân tích độ nhạy để
mô phỏng những tình huống có thể xảy ra trên thực tế để ước lượng hiệu quả kinh tế của việc chuyển đổi từ rừng tự nhiên nghèo kiệt sang trồng cao su trong trường hợp các yếu tố đầu vào và đầu ra thay đổi
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là cây rừng và cây cao su, tập trung vào kết quả triển khai các dự án đầu tư chuyển đổi từ rừng sản xuất là rừng tự nhiên nghèo kiệt sang trồng cao su và các dự án trồng cao su đang trong thời kỳ khai thác mủ
Không gian nghiên cứu: trên địa bàn tỉnh Bình Phước
Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2008 - 2014
Số lượng dự án đầu tư cần nghiên cứu: 25 dự án đầu tư chuyển đổi từ rừng tự nhiên nghèo kiệt sang trồng cao su trong giai đoạn 2008 - 2014 và 25 dự án đầu tư trồng cao su từ trước năm 2008 đang trong thời kỳ khai thác mủ
Đối tượng phỏng vấn: Khoảng 150 người là lãnh đạo và chuyên viên, nhân viên cơ quan nhà nước cấp tỉnh, UBND huyện và các doanh nghiệp đầu tư trồng cao
su trên địa bàn tỉnh Bình Phước
1.5 Kết cấu của đề tài nghiên cứu
Trang 15Chương 1: Mở đầu
Giới thiệu tổng quan về vấn đề nghiên cứu và địa bàn nghiên cứu, mục tiêu
và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, kết cấu của đề tài nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Nội dung chương 2 tập trung vào trình bày những khái niệm, các lý thuyết có liên quan, các nghiên cứu trước
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Trình bày quy trình và cách thức chọn mẫu nghiên cứu, phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Nêu thực trạng tình hình quản lý bảo vệ rừng, phát triển rừng và phát triển cao su trên địa bàn tỉnh Bình Phước Kết quả nghiên cứu các dự án chuyển đổi từ rừng tự nhiên nghèo kiệt sang trồng cao su giai đoạn 2008-2014 và dự án trồng cao
su từ trước năm 2008 đang trong giai đoạn khai thác
Phân tích thống kê mô tả mẫu khảo sát, mô tả đối tượng tham gia trả lời phỏng vấn; phân tích hiệu quả kinh tế của việc giữ rừng tự nhiên nghèo kiệt và hiệu quả kinh tế của việc chuyển đổi sang trồng cao su, đồng thời so sánh hiệu quả của 2
mô hình; phân tích kết quả phỏng vấn sâu
Phân tích mô phỏng các tình huống có thể xảy ra theo thực tế để ước lượng hiệu quả kinh tế của đất rừng tự nhiên nghèo kiệt sau chuyển đổi sang trồng cao su khi các điều kiện cung – cầu thay đổi (giá thay đổi, sản lượng biến động, các yếu tố chi phí đầu vào biến đổi)
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị chính sách
Nêu những nhận xét qua kết quả nghiên cứu đưa ra những kết luận và đề xuất các khuyến nghị chính sách Đồng thời, phần cuối chương cũng nêu lên hạn chế của nghiên cứu và gợi ý hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 16Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Chương này nêu những khái niệm cơ bản về đất đai, rừng và lâm phần, hiệu quả kinh tế, hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, cây cao su; đồng thời nêu một số quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến việc chuyển trồng cao su trên đất rừng, tổng hợp một số kết quả nghiên cứu của cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành, làm cơ sở để phân tích ở chương sau
2.1 Đất đai
2.1.1 Khái niệm về đất đai
Nguyễn Hữu Ngữ (2010), khái niệm đầy đủ và phổ biến nhất hiện nay về đất đai được Hội nghị quốc tế về Môi trường ở Rio de Janerio, Brazil, 1993 xác định như sau: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó như: khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm
và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường sá, nhà cửa )”
Theo Quốc hội Việt Nam (1993), Luật Đất đai năm 1993 đã khẳng định: đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàngđầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng
2.1.2 Các chức năng cơ bản của đất đai
Đất đai có nhiều chức năng, trong đó có các chức năng cơ bản như: Chức năng sản xuất, chức năng môi trường sống, chức năng cân bằng sinh thái, chức năng tàng trữ và cung cấp nguồn nước, chức năng dự trữ (Nguyễn Hữu Ngữ, 2010)
2.1.3 Tính chất đặc biệt của đất đai
Theo Nguyễn Hữu Ngữ (2010), đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, khác với các tư liệu sản xuất khác, thể hiện như: Đất đai xuất hiện, tồn tại ngoài ý chí và nhận thức của con người; là sản phẩm của tự nhiên, có trước lao động, là điều kiện tự nhiên của lao động; khi tham gia vào hoạt động sản xuất của xã hội, dưới tác động của lao động đất đai trở thành tư liệu sản xuất Đất đai là tài nguyên bị hạn chế về số
Trang 17lượng, bị giới hạn bởi ranh giới đất liền trên mặt địa cầu Đất đai không đồng nhất
về chất lượng, hàm lượng chất dinh dưỡng, các tính chất lý, hoá Đất đai hoàn toàn
cố định vị trí trong sử dụng (khi sử dụng không thể di chuyển từ chỗ này sang chỗ khác) Đất đai là tư liệu sản xuất vĩnh cửu (không phụ thuộc vào tác động của thời gian), nếu biết sử dụng hợp lý, đặc biệt là trong sản xuất nông- lâm nghiệp, đất sẽ không bị hư hỏng, ngược lại có thể tăng tính chất sản xuất (độ phì nhiêu) cũng như hiệu quả sử dụng đất; khả năng tăng tính chất sản xuất của đất tùy thuộc vào phương thức sử dụng (tính chất có giá trị đặc biệt), không tư liệu sản xuất nào có được
Từ các tính chất trên, có thể nhận thấy: Đất đai là một nguồn tài nguyên quý
giá, là tư liệu sản xuất chủ yếu, nhưng không thay đổi vị trí, không gia tăng về số lượng mà chỉ có thể thay đổi về chất lượng (độ phì nhiêu) và thay đổi từ sử dụng
cho mục đích này sang sử dụng cho mục đích khác
2003 và Khoản 1, Điều 10 Luật Đất đai 2013)
2.2 Rừng
2.2.1 Khái niệm về rừng
Có nhiều khái niệm về rừng khác nhau qua từng thời kỳ, càng về sau thì khái niệm về rừng được nghiên cứu, bổ sung ngày càng hoàn thiện hơn Một số khái niệm cần quan tâm như:
Rừng là một tổng thể cây gỗ, có mối liên hệ lẫn nhau, nó chiếm một phạm vi không gian nhất định ở mặt đất và trong khí quyển Rừng chiếm phần lớn bề mặt Trái Đất và là một bộ phận của cảnh quan địa lý (Morozov, 1930; trích bởi Nguyễn Thanh Tiến và Vũ Văn Thông, 2008)
Rừng là một bộ phận của cảnh quan địa lý, trong đó bao gồm một tổng thể các cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, động vật và vi sinh vật Trong quá trình phát triển của
Trang 18mình chúng có mối quan hệ sinh học và ảnh hưởng lẫn nhau và với hoàn cảnh bên ngoài (M.E Tcachenco, 1952; trích bởi Nguyễn Thanh Tiến và Vũ Văn Thông, 2008)
Theo Quốc hội Việt Nam (2004), rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng (Khoản 1, Điều 3 Luật Bảo vệ
và phát triển rừng, số 29/2004/QH11)
Như vậy, từ khái niệm về rừng nêu trong trong Luật Bảo vệ và Phát triển rừng của Việt Nam như trên, có thể thấy rằng: Cây cao su trồng trên đất rừng được hiểu là rừng cao su vì cây cao su là cây thân gỗ, thường được trồng tập trung và có
độ che phủ lớn hơn 0,1 khi cây bắt đầu khép tán Bên cạnh đó, theo Bộ NN&PTNT (2011), rừng cao su diện tích lớn hơn hoặc bằng 0,5 ha và có chiều rộng dải cây lớn hơn 20 m với hơn 3 hàng cây sẽ được hiểu là rừng cao su trồng tập trung; ngoài ra,
Bộ NN&PTNT (2011) qui định cao su được trồng trên các loại đất khác (không phải
là đất rừng hoặc không đủ tiêu chuẩn để phân loại thành rừng) được hiểu là vườn cây cao su hoặc trang trại cao su (Đặng Việt Quang và cộng sự, 2014)
2.2.2 Phân loại rừng
Theo Nguyễn Thanh Tiến và Vũ Văn Thông (2008), căn cứ vào nguồn gốc người ta chia rừng thành 3 loại: Rừng tự nhiên, rừng nhân tạo có nguồn gốc từ người trồng, rừng từ hạt (rừng được trồng từ hạt) và rừng tái sinh từ chồi (rừng được hình thành sau khai thác, mọc từ gốc chặt hoặc thân ngầm); căn cứ theo chức năng và ý nghĩa kinh tế, rừng được phân thành 4 loại: Rừng kinh tế, rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng nửa phòng hộ
Theo Quốc hội Việt Nam (2004), Điều 4 Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm
2004 phân rừng thành 3 loại: rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất:
+ Rừng đặc dụng được sử dụng chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn
hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng; nghiên cứu khoa học; bảo
vệ di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh; phục vụ nghỉ ngơi, du lịch, kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường, bao gồm: Vườn quốc gia; Khu bảo tồn thiên
Trang 19nhiên, gồm khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài- sinh cảnh; Khu bảo vệ cảnh quan, gồm khu rừng di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh và Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học
+ Rừng phòng hộ được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều hoà khí hậu, góp phần bảo
vệ môi trường, bao gồm: Rừng phòng hộ đầu nguồn; Rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay; Rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển; Rừng phòng hộ bảo vệ môi trường
+ Rừng sản xuất được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh gỗ, lâm sản ngoài gỗ và kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường, bao gồm: Rừng sản xuất là rừng tự nhiên; Rừng sản xuất là rừng trồng; Rừng giống gồm rừng trồng và rừng tự nhiên qua bình tuyển, công nhận
Về phân loại rừng tự nhiên, theo Nguyễn Thanh Tiến và Vũ Văn Thông (2008), căn cứ vào hiện trạng rừng, hiện nay, ngành lâm nghiệp phân loại rừng tự nhiên thành 4 nhóm như sau:
+ Nhóm I: Chưa có rừng, bao gồm: Đất trống đồi núi trọc (Ký hiệu: Ia); Đất trống đồi núi trọc có cây bụi (Ký hiệu: Ib); Đất trống đồi núi trọc có cây bụi xen các loại cây gỗ tái sinh có độ tàn che 10% với mật độ cây gỗ tái sinh 1000 cây/ha (Ký hiệu: Ic)
+ Nhóm II: Rừng phục hồi, bao gồm: Rừng phục hồi trong giai đoạn đầu chủ yếu là cây ưa sáng mọc nhanh, đất trảng cây bụi có nhiều cây gỗ tái sinh tự nhiên, mật độ cây tái sinh > 1000 cây/ha với độ tàn che > 10% (Ký hiệu: IIa); Rừng phục hồi trong giai đoạn sau chủ yếu cây ưa sáng mọc nhanh
đã xuất hiện cây chịu bóng, cây gỗ lớn, có hiện tượng cạnh tranh không gian dinh dưỡng Mật độ cây > 1000cây/ha với đường kính D1.3 > 10 cm (Ký hiệu: IIb)
+ Nhóm III: Rừng thứ sinh (phân chia dựa trên trữ lượng rừng), bao gồm: Rừng tự nhiên bị tàn phá mạnh (Ký hiệu: IIIa); Rừng nghèo kiệt có trữ lượng gỗ 50-
80 m3/ha (Ký hiệu: IIIa1); Rừng nghèo kiệt có trữ lượng gỗ 80-120 m3/ha (Ký hiệu: IIIa2); Rừng nghèo kiệt có trữ lượng gỗ 120-200 m3/ha (Ký hiệu: IIIa3); Rừng trung bình còn có kết cấu 3 tầng cây, với trữ lượng gỗ 200–
300 m3/ha (Ký hiệu: IIIb); Rừng trung bình ít bị tác động còn có kết cấu 3 tầng cây, các dấu vết bị tàn phá không còn thể hiện rõ, trữ lượng gỗ 300 – 400 m3/ha (Ký
Trang 20hiệu: IIIc) Trong các trạng thái rừng IIIa1 hay IIIa2 người ta còn chia nhỏ ra IIIa1.1; IIIa1.2; IIIa2.1; IIIa2.2 Việc chia nhỏ này đều dựa trên trữ lượng của rừng
trên ha Đây là cơ sở quan trọng trong công tác quy hoạch điều chế rừng, đáp ứng
mục đích kinh doanh rừng hiệu quả
+ Nhóm IV: Rừng nguyên sinh, là trạng thái rừng giàu, ký hiệu IV
2.3 Lâm phần, trữ lượng lâm phần và tăng trưởng lâm phần
2.3.1 Lâm phần
Nguyễn Thanh Tiến và Vũ Văn Thông (2008) cho rằng: “Lâm phần là một mảng rừng mà đặc trưng kết cấu bên trong đồng nhất và khác biệt rõ nét với xung quanh Với khái niệm này, một mảng rừng chỉ được coi là lâm phần khi có sự thuần nhất về kết cấu tầng cây gỗ, cây bụi, thân thảo Một lâm phần như vậy chỉ tồn tại trên những diện tích hẹp, ít có ý nghĩa trong thực tiễn Ở Đức người ta lấy rừng cây làm đơn vị điều tra Rừng cây đó là tổng thể các cây gỗ, sinh trưởng phát triển trên diện tích nào đó trong phạm vi một lô
Rừng tự nhiên lá rộng nước ta khác tuổi và mức độ hỗn giao lớn, dạng rừng rất phức tạp, thường có nhiều tầng không tách biệt và khép tán theo chiều thẳng đứng Vì vậy, ít khi nó đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của khái niệm lâm phần, mà chỉ phù hợp với đơn vị rừng cây như đã nói ở trên”
Trong thực tiễn rừng nhiệt đới nước ta, chỉ cần có những cây dù khác tuổi, khác loài mọc thành rừng, nghĩa là cùng nhau sinh trưởng trên một diện tích nào đó với một mật độ nhất định, hình thành một tàn che, thì có thể tạo thành hoàn cảnh rừng và khoảnh rừng ấy hình thành một đơn vị sinh vật học, một lâm phần có những quy luật xác định (Đồng Sỹ Hiền, 1974; trích bởi Nguyễn Thanh Tiến và Vũ Văn
Thông, 2008)
Theo Võ Văn Hồng và Trần Văn Hùng (2006), lâm phần là tổng thể các cây rừng, trong quá trình sinh trưởng luôn xảy ra hai quá trình ngược chiều nhau, đó là: kích thước từng cây cá lẻ không ngừng tăng lên theo tuổi, làm tăng lượng vật chất tích lũy được ở từng cây; ngược lại, cùng với thời gian, một bộ phân cây rừng mất
đi do đào thải tự nhiên hoặc qua tác động của con người
Trong 3 khái niệm trên thì khái niệm rõ ràng, sát thực tế được lựa chọn trong
nghiên cứu này là khái niệm của Võ Văn Hồng và Trần Văn Hùng (2006), làm cơ
Trang 21sở để xác định trữ lượng lâm phần hiện tại và ước tăng trưởng lâm phần trong tương lai- nghĩa là chấp nhận bỏ đi số cây còn nhỏ, mới tái sinh, chỉ lấy số cây tận thu hiện tại (được tính ra khối lượng lâm sản tận thu) để ước tăng trưởng trong tương lai
2.3.2 Trữ lượng lâm phần và phương pháp xác định trữ lượng lâm phần
Theo Nguyễn Thanh Tiến và Vũ Văn Thông (2008), trữ lượng lâm phần là
theo cách đo tính có thể phân trữ lượng thành các loại sau: Trữ lượng thân cây từ gốc đến ngọn; trữ lượng thân cây từ gốc đến vị trí có đường kính quy định nào đó (thường là 7cm); trữ lượng thân cây và cành cây có đường kính từ đường kính quy định trở lên; trữ lượng tính theo mục đích sử dụng khác nhau
Về phương pháp xác định trữ lượng lâm phần, theo Võ Văn Hồng và Trần Văn Hùng (2006), có 2 phương pháp xác định trữ lượng lâm phần thường được áp dụng như sau:
+ Phương pháp cây tiêu chuẩn: M = N V
M là trữ lượng lâm phần N là mật độ cây trong lâm phần V là thể tích bình quân của các cây trong lâm phần hay một bộ phận nào đó của lâm phần
Theo phương pháp này thì cần chọn trong lâm phần những cây có thể tích bằng V, từ đó dùng chúng làm cơ sở suy ra trữ lượng lâm phần Những cây như vậy được gọi là cây tiêu chuẩn hay cây bình quân
+ Phương pháp xác định trữ lượng bằng biểu thể tích: Tiến hành đo đường
kính của cây ở vị trí 1,3 m tính từ mặt đất (D1,3) và chiều cao (H) của các cây trong lâm phần, sau đó tra biểu thể tích thích hợp để được thể tích của cây Cộng thể tích các cây trong lâm phần để được trữ lượng lâm phần
Biểu thể tích là biểu ghi thể tích bình quân của những cây rừng có cùng kích thước và hình dạng được sắp xếp theo một trình tự nhất định, có thể xem các biểu
thể tích này trong “Sổ tay điều tra quy hoạch rừng” xuất bản năm 1995 (Nguyễn
Thanh Tiến, 2008)
2.3.3 Tăng trưởng lâm phần
2.3.3.1 Đặc điểm của sinh trưởng và tăng trưởng lâm phần
Võ Văn Hồng và Trần Văn Hùng (2006) cho rằng: theo thời gian thì các chỉ tiêu của lâm phần như đường kính (D), chiều cao (H), tổng diện ngang (G), trữ
Trang 22lượng (M), số cây (N) không ngừng biến đổi, vì vậy, sinh trưởng lâm phần được coi là sự biến đổi theo thời gian của các chỉ tiêu mà ta cần quan tâm, còn lượng biến đổi được trong một đơn vị thời gian gọi là tăng trưởng Các chỉ tiêu bình quân như
D, H, G, thể tích bình quân (V) luôn tăng theo tuổi, sự tăng lên này là kết quả tổng hợp của hai nguyên nhân: Kích thước mỗi cây rừng luôn tăng, làm tăng các giá trị bình quân, đồng thời những cây có kích thước nhỏ thường bị mất đi cũng làm các giá trị bình quân tăng theo Do kích thước của mỗi cây rừng không ngừng tăng lên làm tổng diện ngang G và trữ lượng M tăng theo, mặt khác, bộ phận cây rừng mất đi
ở mỗi giai đoạn phát triển (như tỉa thưa) làm cho G và M giảm xuống Khi mô tả quy luật sinh trưởng lâm phần, cần thể hiện tổng hợp hai quá trình tăng lên và mất
đi này, đồng thời khi xác định tăng trưởng lâm phần cần quan tâm đến lượng mất đi
do lợi dụng trung gian Tỉ lệ giữa lượng sinh ra và lượng mất đi phụ thuộc vào giai đoạn phát triển và biện pháp kinh doanh Trong kinh doanh rừng, cần có biện pháp tác động hợp lý điều chỉnh 2 quá trình này sao cho cuối cùng lâm phần có sản lượng cao nhất (tổng trữ lượng các lần tỉa thưa và lần chặt cuối cùng cao nhất)
* Căn cứ cách hiểu trên, trong luận văn nghiên cứu này, tác giả đã loại trừ việc tính toán tăng trưởng của số cây tỉa thưa- nghĩa là chỉ căn cứ khối lượng lâm sản hiện tại được tận thu (không tính cây nhỏ, mới tái sinh) để ước tăng trưởng trong tương lai
2.3.3.2 Suất tăng trưởng bình quân thể tích và trữ lượng lâm phần rừng tự nhiên khu vực Đông Nam bộ
Ở nước ta, tùy theo điều kiện tự nhiên mà mỗi vùng có những kiểu rừng khác nhau hoặc giống nhau như: rừng lá rộng thường xanh, rừng thưa lá rộng rụng lá, rừng lá kim hỗn giao với khộp hoặc cây lá rộng thường xanh, rừng tre nứa, rừng thông thuần loài, rừng lá rộng nửa rụng lá, rừng ngập mặn, rừng tràm, rừng thưa cây
họ Dầu… Riêng khu vực Đông Nam bộ (trong đó có Bình Phước) có kiểu rừng chủ yếu là rừng lá rộng thường xanh, ngoài ra còn có rừng thưa cây họ Dầu ở một số khu vực song diện tích không lớn (Võ Văn Hồng và Trần Văn Hùng, 2006)
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, tính toán từ 631 cây của 26 loài thuộc rừng lá rộng thường xanh vùng Đông Nam bộ, Viện Điều tra Quy hoạch rừng xác định các
Trang 23chỉ tiêu suất tăng trưởng bình quân thể tích và trữ lượng lâm phần rừng tự nhiên khu vực Đông Nam bộ như sau:
tiêu chuẩn tham gia tính toán (cm)
Suất tăng trưởng
quân (Pv %)
Suất tăng trưởng trữ lượng lâm phần (Pm %)
Nguồn: Đỗ Xuân Lân, 2005
Suất tăng trưởng trữ lượng lâm phần trên được tính theo công thức kinh nghiệm của GS Hoàng Trung Lập: Pm = 0,5 x Pv (Đỗ Xuân Lân, 2005; trích bởi Võ Văn Hồng và Trần Văn Hùng, 2006)
2.4 Nông nghiệp và ruộng đất trong sản xuất nông nghiệp
2.4.1 Khái niệm về nông nghiệp
Theo Đinh Phi Hổ (2003), nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền kinh tế quốc dân Hoạt động nông nghiệp không chỉ gắn liền với các yếu tố kinh tế, xã hội, mà còn gắn với các yếu tố tự nhiên Nông nghiệp hiểu theo nghĩa rộng bao gồm: trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản Nông nghiệp có một số đặc điểm chủ yếu như: Ruộng đất là tư liệu sản xuất đặc biệt, việc bảo tồn quỹ đất và nâng cao độ phì nhiêu của đất là vấn đề sống còn đối với nông nghiệp Trong sản xuất nông nghiệp, sự hoạt động của lao động và tư liệu sản xuất
có tính thời vụ, do vậy cần thiết phải tiến hành chuyên môn hóa kết hợp với đa dạng sản xuất và cần có sự can thiệp của nhà nước đối với thị trường nông nghiệp Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên một địa bàn rộng lớn và mang tính khu vực,
do vậy cần có các chính sách kinh tế- xã hội thích ứng với từng khu vực
2.4.2 Đặc điểm của ruộng đất trong sản xuất nông nghiệp
Đất đai có các đặc điểm chủ yếu sau: Thứ nhất, đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt bởi lẽ các tư liệu sản xuất khác khi sử dụng sẽ bị hao mòn và hư hỏng, còn đất đai nếu sử dụng hợp lý thì chất lượng tăng lên, do vậy trong sản xuất nông nghiệp cần thực hiện chế độ canh tác thích hợp để tăng năng suất đồng thời bảo vệ tài nguyên đất Thứ hai, đất đai có giới hạn về diện tích, riêng đất nông nghiệp còn bị
Trang 24giới hạn tương đối vì do yêu cầu của sự phát triển xã hội đất còn được chuyển sang
sử dụng cho các mục đích như đất ở, sản xuất kinh doanh, đường giao thông, công trình công cộng… Thứ ba, đất đai có vị trí cố định, không thể di chuyển từ nơi này sang nơi khác như các tư liệu sản xuất khác, bên cạnh đó, đất đai còn gắn chặt với tài nguyên nước, khí hậu và môi trường xung quanh, do vậy cần phải bố trí sản xuất nông nghiệp phù hợp với hệ sinh thái từng vùng (Đinh Phi Hổ, 2003)
2.5 Chuyển đổi cơ cấu cây trồng
2.5.1 Các khái niệm liên quan
Chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp là quá trình thay đổi (tăng hoặc giảm) về quy mô, giá trị của các chuyên ngành sản xuất thuộc ngành nông nghiệp theo hướng thích ứng nhiều hơn với nhu cầu thị trường đồng thời phát huy được lợi thế so sánh của từng chuyên ngành, tạo ra cơ cấu ngành nông nghiệp mang tính ổn định cao hơn và phát triển bền vững hơn trong kinh tế thị trường và hội nhập (Trung tâm thông tin- Tư liệu, số 6/2014)
Khái niệm trên thể hiện: Chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp chính là quá trình thích ứng của sản xuất nông nghiệp với thị trường tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp sản xuất ra trong từng giai đoạn Sự thích ứng này càng cao thì tính ổn định của cơ cấu ngành nông nghiệp càng lớn; ngược lại là không ổn định, phải giảm thiểu quy mô và giá trị sản xuất của những chuyên ngành nông nghiệp không có lợi thế hoặc không phù hợp với nhu cầu thị trường để tăng quy mô và giá trị sản xuất các chuyên ngành có lợi thế nhằm đáp ứng đúng nhu cầu của thị trường Quá trình này diễn ra liên tục, thường xuyên theo sự thay đổi nhu cầu của thị trường
- Chuyển đổi cơ cấu cây trồng là phát triển hệ thống cây trồng mới trên cơ sở cải tiến hệ thống cây trồng cũ hoặc phát triển hệ thống cây trồng bằng tăng vụ để khai thác hiệu quả hơn tiềm năng đất đai, lợi thế so sánh trên từng vùng sinh thái nhằm phát triển một nền nông nghiệp sinh thái bền vững với mục tiêu trước mắt là cải thiện và nâng cao năng suất cây trồng, tăng giá trị sản xuất và giá trị gia tăng trên một đơn vị diện tích, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa, nâng cao thu nhập và đời sống người nông dân; trên cơ sở đó góp phần từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp và cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (Nguyễn Xuân Đài, 2008)
Trang 252.5.2 Sự cần thiết phải chuyển đổi cơ cấu cây trồng
Trong những năm gần đây ngành nông nghiệp Việt Nam đã có sự phát triển nhanh, đóng góp gần 1/4 tổng sản phẩm quốc nội toàn nền kinh tế Chuyên ngành nông nghiệp thuần đã phát triển theo hướng đa dạng hoá các loại cây trồng, vật nuôi hàng hóa có giá trị và theo nhu cầu của thị trường; chuyên ngành lâm nghiệp bước đầu ngăn chặn được tình trạng suy thoái rừng xảy ra trong những năm gần đây; chuyên ngành thủy sản đã phát huy lợi thế về nuôi trồng các loài thủy sản nước ngọt, lợ và mặn trên địa bàn cả nước nên đã tạo ra nhiều loại sản phẩm thủy sản có giá trị cao, được thị trường trong và ngoài nước ưu chuộng… Tuy nhiên, thực tế đang đặt ra nhiều thách thức về tính bền vững của phát triển toàn ngành nông nghiệp như: Tăng trưởng nông nghiệp chủ yếu vẫn dựa vào tăng diện tích, tăng vụ
và dựa trên thâm dụng các yếu tố đầu vào như lao động, vốn, vật tư và nguồn lực tự nhiên, trong khi đó, quỹ đất nông nghiệp giảm mạnh và bị chia nhỏ thành nhiều mảnh để chia cho các hộ gia đình nên đã gây khó khăn trong áp dụng cơ giới hoá, đưa đến hiệu quả sử dụng thấp; tình trạng lũ lụt, hạn hạn và dịch bệnh diễn ra phổ biến đã ảnh hưởng xấu đến kết quả sản xuất; giá cả nông sản biến động nhanh và theo chiều hướng xấu đã tác động tiêu cực tới sản xuất, thu nhập và đời sống của người nông dân; chính sách nhà nước đối với nông nghiệp chưa đề cập và xử lý kịp thời những tác động tiêu cực của thiên tai và biến động của thị trường, dẫn đến động lực sản xuất của nông dân giảm sút… Chính vì vậy, việc tái cơ cấu ngành nông nghiệp nói chung, chuyển đổi cơ cấu cây trồng nói riêng tiếp tục là vấn đề cần thiết phải được triển khai rộng khắp (Trung tâm Thông tin tư liệu- Viện Nghiên cứu quản
lý kinh tế Trung ương, số 6/2014)
Ngày 13/6/2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 899/2013/QĐ-TTg phê duyệt đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững”, trong đó khẳng định một số mục tiêu tái cơ cấu đối với ngành trồng trọt ở nước ta giai đoạn 2016-2020 như: Tái cơ cấu trồng trọt theo hướng phát triển sản xuất quy mô lớn, tập trung gắn với bảo quản, chế biến và tiêu thụ theo chuỗi giá trị trên cơ sở phát huy lợi thế sản phẩm và lợi thế vùng, miền Ổn định diện tích trồng cà phê khoảng 500 ngàn ha, tập trung ở các vùng Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Duyên hải miền Trung và Tây Bắc; xây dựng
Trang 26và triển khai chương trình trồng tái canh 150 ngàn ha cây cà phê già cỗi, năng suất
và chất lượng thấp; phát triển diện tích trồng cao su lên 800 ngàn ha, tập trung ở các vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên; ổn định diện tích điều khoảng 400 ngàn ha ở các vùng chính là Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và Duyên hải Nam Trung Bộ; diện tích trồng tiêu ở mức 50 ngàn ha ở các vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên; phát triển diện tích chè lên khoảng 140 ngàn ha chủ yếu ở Trung du miền núi phía Bắc, Lâm Đồng…
Để thực hiện được những mục tiêu về diện tích các loại cây trồng chủ lực như trên, một trong những giải pháp cần thiết là phải tiếp tục sắp xếp, bố trí lại cơ cấu cây trồng cho phù hợp với lợi thế, đặc thù của từng địa phương, khu vực trong
cả nước
2.6 Cây cao su
2.6.1 Đặc điểm và các giai đoạn sinh trưởng của cây cao su
Cây cao su có tên khoa học là Hevea brarileneis, có nguồn gốc từ Nam Mỹ,
là cây thân gỗ có rễ ăn sâu từ 3-5 mét (nếu đất tốt có thể lên đến 10 mét), phát triển
chiếm 31%, Indonesia 27%, Malaysia 8% và Việt Nam chiếm 8% tổng diện tích cao
su toàn thế giới); riêng ở Việt Nam, cây cao su thích hợp và được trồng nhiều nhất tại khu vực Đông Nam bộ Tùy theo đặc điểm tự nhiên, giống và kỹ thuật chăm sóc, cây cao su có chu kỳ trồng, khai thác kinh doanh dài ngắn khác nhau, có thể lên tới
30 năm, tuy nhiên trung bình là từ 25-27 năm và được chia thành 5 giai đoạn: giai đoạn vườn ươm kéo dài khoảng 6-24 tháng; giai đoạn kiến thiết cơ bản kéo dài khoảng 5-6 năm, tùy theo giống, điều kiện tự nhiện và kỹ thuật chăm sóc có thể đến
10 năm; giai đoạn khai thác mủ cao su non khoảng 10-12 năm; giai đoạn khai thác
mủ cao su trung niên khoảng 6-8 năm; giai đoạn khai thác mủ cao su già khoảng 2 năm (Đinh Xuân Đức, 2008)
Sau chu kỳ khai thác mủ, cây cao su được chặt lấy gỗ phục vụ cho công nghiệp chế biến các sản phẩm từ gỗ, lúc này bình quân một ha cao su có thể cho khoảng 200 m3 gỗ, trong đó gỗ tròn là khoảng 120 m3/ha (Đặng Việt Quang và cộng sự, 2014)
Trang 272.6.2 Quy định của pháp luật Việt Nam về phát triển cao su trên đất lâm nghiệp
thể sử dụng cho mục đích nông nghiệp và lâm nghiệp
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2009) quy định tại Điều 4 Thông
tư 58/2009/TT-BNNPTNT đối tượng đất lâm nghiệp được trồng cao su bao gồm:
+ Đất chưa có rừng nhưng được quy hoạch trồng rừng sản xuất
+ Đất có rừng trồng là rừng sản xuất
+ Đất có rừng tre nứa tự nhiên là rừng sản xuất
+ Đất có rừng gỗ tự nhiên là rừng sản xuất (bao gồm rừng gỗ nghèo, rừng chưa có trữ lượng, rừng gỗ nghèo hỗn giao với tre nứa), cụ thể gồm:
Rừng gỗ nghèo có trữ lượng cây đứng bình quân theo lô từ 10-100 m3/ha; Rừng gỗ chưa có trữ lượng (rừng gỗ đường kính bình quân < 8 cm), trữ
Rừng gỗ nghèo hỗn giao với tre nứa có trữ lượng gỗ cây đứng bình quân theo
Trường hợp, những đám rừng dưới 3 ha có trữ lượng lớn hơn trữ lượng quy định trên, nằm xen kẽ trong những lô rừng được chuyển sang trồng cao su, thì được
phép chuyển cùng diện tích rừng đó để đảm bảo liền vùng liền khoảnh
2.7 Hiệu quả kinh tế
2.7.1 Khái niệm về hiệu quả kinh tế và phân tích hiệu quả kinh tế
Theo Đinh Kim Xuyến (2009), hiệu quả kinh tế là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra Một phương án có hiệu quả kinh tế cao hoặc một giải pháp kỹ thuật có hiệu quả kinh tế cao là một phương án đạt được tương quan tối ưu giữa kết quả mang lại và chi phí đầu tư Bản chất của hiệu quả kinh tế xuất pháp từ mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế xã hội, là đáp ứng ngày càng cao nhu cầu về vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong xã hội
Phân tích hiệu quả kinh tế- xã hội của dự án đầu tư là việc đánh giá hiệu quả của một dự án đầu tư nhìn từ góc độ nền kinh tế quốc dân và toàn bộ xã hội, tức là
Trang 28phân tích một cách toàn diện những đóng góp của dự án vào sự phát triển chung của nền kinh tế và việc thực hiện các mục tiêu kinh tế- xã hội của đất nước (Đỗ Trọng Hoài, 2002)
Theo Phạm Anh Đức (2008), đánh giá hiệu quả kinh tế dự án tức là đánh giá đóng góp của dự án vào sự gia tăng thu nhập quốc dân hay sự tăng trưởng của nền kinh tế Việc đánh giá này về cơ bản cũng dựa vào những phương pháp phân tích tài chính như giá trị hiện tại thuần, tỉ suất hoàn vốn nội bộ, tỉ lệ lợi ích/chi phí… Việc
sử dụng những tiêu chuẩn này để chấp nhận hay bác bỏ hay so sánh và lựa chọn các
dự án đầu tư cũng được thực hiện như trong phân tích tài chính
Các khái niệm trên thể hiện rõ để đánh giá hiệu quả của một hoạt động đầu tư nào đó không chỉ dựa vào chỉ tiêu lợi nhuận thu được mà còn phải xem xét đầy đủ đến các yếu tố về mặt kinh tế, xã hội, môi trường… mà hoạt động đầu tư đó mang lại Nghĩa là ngoài việc xem xét lợi nhuận của hoạt động đầu tư còn phải xem xét, tính toán đến các lợi ích gián tiếp thu được từ hoạt động đầu tư cũng như các chi phí
có liên quan gián tiếp đến hoạt động đầu tư đó Lợi ích ở đây được hiểu là lợi ích
mà người lao động, địa phương nơi có dự án đầu tư và cả nền kinh tế được hưởng; chi phí cũng bao gồm chi phí của địa phương và của cả đất nước Để xác định đầy
đủ các lợi ích và chi phí này, theo Nguyễn Bạch Nguyệt và Từ Quang Phương (2007) thì không thể sử dụng giá cả thị trường để tính toán được vì giá thị trường chịu sự chi phối của các chính sách kinh tế, tài chính của Nhà nước, không phản ánh đúng chi phí xã hội thực tế, do đó khi phân tích hiệu quả kinh tế- xã hội của các hoạt động đầu tư quy mô lớn, bao quát toàn vùng, địa phương hoặc ngành kinh tế thì cần điều chỉnh lại giá này theo giá xã hội và cần lưu ý đến các yếu tố bên ngoài hưởng lợi hoặc bị ảnh hưởng từ hoạt động đầu tư đó
2.7.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế
2.7.2.1 Doanh thu
Doanh thu của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền đã hoặc sẽ thu được từ việc tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụ và các hoạt động khác của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định Doanh thu là một chỉ tiêu tài chính quan trọng của doanh nghiệp, không những có ý nghĩa đối với doanh nghiệp mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với cả nền kinh tế Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến doanh thu
Trang 29bao gồm: khối lượng sản phẩm, hàng hóa sản xuất ra và tiêu thụ được; kết cấu, mẫu
mã sản phẩm, hàng hóa; chất lượng sản phẩm, hàng hóa; giá cả sản phẩm, hàng hóa; thể thức thanh toán; hoạt động quảng bá (Bùi Hữu Phước và cộng sự, 2014)
Doanh thu thường được tính theo công thức sau:
Doanh thu = Sản lượng x Giá bán
2.7.2.2 Chi phí
Chi phí là giá trị của một nguồn lực bị tiêu dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ chức để đạt được một mục đích nào đó Bản chất của chi phí là phải mất đi để đổi lấy kết quả Kết quả có thể dưới dạng vật chất như sản phẩm, tiền, nhà xưởng,… hoặc không có dạng vật chất như kiến thức, dịch vụ được phục
vụ (Phạm Văn Dược và Trần Văn Tùng, 2011)
Theo Bùi Hữu Phước và cộng sự (2014), chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là toàn bộ các khoản chi phí để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp được biểu hiện bằng tiền Chi phí này bao gồm toàn bộ các khoản chi trực tiếp, gián tiếp liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định và được bù đắp bằng doanh thu Tuy nhiên, không phải tất cả các khoản chi phí đều được bù đắp mà chỉ có những chi phí liên quan đến quá trình sản xuất kinh doanh để tạo ra thu nhập bằng tiền trong kỳ mới được bù đắp bằng doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ Chi phí có nhiều loại: Theo tính chất kinh tế, chi phí được phân chia thành chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công, chi phí khấu hao, các khoản dịch vụ mua ngoài và các chi phí khác bằng tiền Theo công dụng kinh tế, chi phí chia thành các khoản mục như nguyên vật liệu dùng vào sản xuất, nhân công trực tiếp (gồm chi tiền lương, bảo hiểm, phúc lợi xã hội) và chi phí sản xuất chung Theo mối quan hệ giữa chi phí với sản phẩm, chi phí được phân thành 2 loại là chi phí biến đổi và chi phí cố định Chi phí biến đổi là các khoản chi luôn phụ thuộc vào sự biến động của sản lượng hay doanh thu, gồm nguyên vật liệu, điện, nước dùng vào sản xuất, tiền lương của công nhân, chi phí chuyên chở, đóng gói bao bì, hoa hồng bán hàng… Chi phí cố định là những khoản chi không phụ thuộc vào sản lượng tiêu thụ hay doanh thu, gồm chi phí thành lập doanh nghiệp, thuê mướn mặt bằng, lương nhân viên quản lý, khấu hao tài sản cố định, sửa chữa tài sản, chi quản lý doanh nghiệp…
Trang 30Từ khái niệm trên, có thể nhận thấy trong sản xuất nông nghiệp, theo công dụng kinh tế, chi phí có thể được phân thành các loại như: chi phí lao động trực tiếp, chi phí vật chất (mua sắm máy móc, giống, phân bón…), chi phí thuê đất, chi phí
2.7.2.3 Lợi nhuận
Bùi Hữu Phước và cộng sự (2014) cho rằng: “Sau một thời gian hoạt động nhất định doanh nghiệp sẽ có thu nhập bằng tiền Thu nhập này sau khi bù đắp các khoản chi phí hoạt động kinh doanh có liên quan, còn lại là lợi nhuận Lợi nhuận của doanh nghiệp phụ thuộc vào chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh và quản
lý của doanh nghiệp, thể hiện thành quả tài chính cuối cùng của doanh nghiệp Vì vậy, lợi nhuận được xem là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp cuối cùng của hoạt động kinh doanh ở doanh nghiệp Qua chỉ tiêu này cho thấy được sự nỗ lực phấn đấu của từng người, từng bộ phận trong doanh nghiệp, về việc tăng doanh thu, giảm chi phí”
Bùi Hữu Phước và cộng sự (2014) phân loại lợi nhuận dựa theo quyền chiếm hữu gồm lợi nhuận trước thuế và lợi nhuận sau thuế Lợi nhuận trước thuế là tổng lợi nhuận mà doanh nghiệp đạt được trong kỳ Lợi nhuận sau thuế là lợi nhuận còn lại sau khi đã nộp thuế thu nhập doanh nghiệp cho nhà nước
Căn cứ khái niệm như trên, để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hoặc đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án đầu tư, ta có công thức xác định lợi nhuận như sau:
Lợi nhuận = Tổng doanh thu – Tổng chi phí
Chỉ tiêu này đo lường hiệu quả kinh tế trực tiếp, do đó càng cao thì thể hiện
dự án càng có hiệu quả
Ngoài ra, để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hoặc hiệu quả kinh tế của dự án đầu tư, người ta có thể dựa vào việc tính toán, so sánh các chỉ tiêu về lợi nhuận khác như:
- Tỷ số giữa lợi nhuận và chi phí phản ánh một đồng chi phí bỏ ra đầu tư sản xuất kinh doanh sẽ thu được bao nhiêu lợi nhuận Tỷ số này nhỏ hơn 1 nghĩa là hoạt động sản xuất kinh doanh thua lỗ, ngược lại thì có lãi
Trang 31- Tỷ số giữa lợi nhuận và doanh thu phản ánh mức độ lợi nhuận so với doanh thu, nghĩa là trong một đồng doanh thu có bao nhiêu đồng lợi nhuận
2.7.2.4 Giá trị hiện tại thuần (NPV: Net Present Value)
Theo Nguyễn Tấn Bình (2011), NPV là hiệu số giữa giá trị hiện tại của dòng thu và giá trị hiện tại của dòng chi, được tính theo một suất chiết khấu nào đó
Theo Bùi Hữu Phước và cộng sự (2014), các khoản thu nhập đạt được trong tương lai kể cả vốn đầu tư đều phải quy về giá trị hiện tại theo một lãi suất nhất định (lãi suất này có thể là lãi vay ngân hang, lãi suất trung bình của ngành, chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp) Trên cơ sở đó so sánh hiện giá của thu nhập và chi phí đầu tư Nếu hiện giá này dương chứng tỏ dự án có hiệu quả kinh tế cao
dự án đầu tư
Trong EXCEL, cú pháp tính hàm NPV là =NPV(rate,value1,value2,…) Đây
là cú pháp tính hiện giá ở chuỗi cuối kỳ ở dạng chuẩn Muốn tính hiện giá thuần thì phải trừ đi hiện giá vốn đầu tư ban đầu
2.7.2.5 Suất sinh lời nội bộ (IRR:
Theo Nguyễn Tấn Bình (2011), IRR có thể hiểu là suất sinh lời hoàn vốn, là một suất chiết khấu mà tại đó giá trị hiện tại ròng bằng không (NPV = 0) Hay có thể hiểu là suất sinh lời của dự án
Theo Bùi Hữu Phước và cộng sự (2014), IRR là lãi suất riêng của dự án Với lãi suất này thì tổng hiện giá của các khoản thu nhập trong tương lai của dự án bằng với tổng hiện giá của vốn đầu tư, cũng có nghĩa là NPV bằng không
hay PVđt = [CF1/(1 + IRR)] + [CF2/(1 + IRR)2] + … + [CFn/(1 + IRR)n] Trong đó, IRR là tỷ suất doanh lợi nội bộ được tính bằng phương pháp nội suy hay dùng cách thử và xử lý sai số như sau: Đầu tiên chọn một lãi suất bất kỳ (thường lấy lãi suất ngân hàng hoặc chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp) rồi tính chuyển vốn đầu tư cùng với các khoản thu nhập dự kiến trong tương lai của dự án
về giá trị hiện tại Sau đó so sánh tổng hiện giá của các khoản thu nhập với tổng giá
Trang 32trị hiện tại của vốn đầu tư Nếu tổng giá trị của các khoản thu nhập lớn hơn tổng giá trị hiện tại của vốn đầu tư thì tiếp tục làm lại như trên, với điều kiện nâng dần lãi suất lên (trường hợp ngược lại thì hạ lãi suất thấp xuống) đến khi đạt sự cân bằng giữa tổng hiện giá của vốn đầu tư và tổng hiện giá của các khoản thu, lại suất tại điểm này chính là IRR Có thể tính IRR bằng phương pháp hình học theo công thức sau:
Trong EXCEL, cú pháp tính hàm IRR là =IRR(values,(gues)) Nếu dòng tiền
2.7.2.6 Giải quyết việc làm
Theo Phạm Anh Đức (2008), mục tiêu giải quyết công ăn việc làm là một mục tiêu phát triển kinh tế trong chiến lược phát triển của đất nước Đóng góp của
dự án vào việc thực hiện mục tiêu này cần được phân tích một cách chu đáo để khẳng định hiệu quả kinh tế xã hội của dự án Khi đánh giá dự án đầu tư từ giác độ công ăn việc làm, phải xem xét sự tác động của nó đối với cả lao động lành nghề và không lành nghề, cũng như lao động làm việc trực tiếp và gián tiếp là những chỗ làm việc mới được tạo ra trong các dự án khác có liên quan tới dự án đang xem xét
2.7.2.7 Tác động đến môi trường
Theo Phạm Anh Đức (2008), phân tích hiệu quả kinh tế xã hội các dự án đầu
tư cần nhắm tới mục tiêu vừa phát triển kinh tế vừa bảo vệ môi trường, có như vậy nền kinh tế mới phát triển lâu bền, đảm bảo thống nhất giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, giữa lợi ích cục bộ và lợi ích toàn thể, giữa lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội Tác động của dự án đến môi trường có thể là tác động tích cực hoặc tiêu cực, tác động có thể lượng hoá được và tác động không thể lượng hoá được Những tác động tiêu cực đối với môi trường có thể là: Làm thay đổi điều kiện sinh thái, mất cân bằng sinh thái, thậm chí có thể gây ra những tai biến như lũ lụt (do khai thác rừng không phù hợp), làm khô cạn nguồn nước (nhất là nước ngầm), tiêu diệt các sinh vật (dùng thuốc trừ sâu ); gây ô nhiễm môi trường; ảnh hưởng đến các cảnh quan môi trường thiên nhiên, làm giảm tiềm năng của ngành du lịch cũng như việc
mở rộng các khu nghỉ ngơi an dưỡng; ảnh hưởng đến những giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp Chi phí cho việc nhận dạng tác động và nguyên nhân dẫn đến những
Trang 33tác động đó và giải pháp khắc phục được gọi là chi phí bảo vệ môi trường Các chi phí này phải được tính đến khi phân tích hiệu quả tài chính hoặc hiệu quả kinh tế quốc dân, nếu chi phí quá lớn thì cần nghiên cứu lại địa điểm xây dựng dự án; trong trường hợp dự án chỉ có hiệu quả khi không tính đến những chi phí bảo vệ môi trường thì loại bỏ dự án hoặc đề nghị Nhà nước hỗ trợ cho việc bảo vệ môi trường.
2.7.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Theo Đinh Phi Hổ (2003), một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp thường áp dụng như sau:
- Năng suất cây trồng: là số sản phẩm sản xuất ra trên một đơn vị diện tích (ha) trong một vụ
- Năng suất ruộng đất: là số sản phẩm sản xuất ra trên một đơn vị diện tích trong năm hoặc là giá trị tổng sản phẩm sản xuất ra trên một đơn vị diện tích trong năm Tính theo công thức sau:
- Lợi nhuận (P, PROFIT): là giá trị còn lại của tổng giá trị sản phẩm thu được (TVP) trừ đi tổng chi phí sản xuất (TC) Tính theo công thức:
P = TVP - TC Trong đó, tổng chi phí bao gồm chi phí trực tiếp sản xuất và cả thuế
- Tỷ suất lợi nhuận (PCR, Profit costs ratio): nhằm đánh giá hiệu quả về lợi nhuận của vốn đầu tư trên đất, được xác định bởi % của lợi nhuận so với tổng chi phí sản xuất trên một đơn vị diện tích Tính theo công thức:
PCR =(P/TC) x 100 Trong đó, PCR là tỷ suất lợi nhuận; P là lợi nhuận trên một đơn vị diện tích đất (ha); TC là tổng chi phí trên một đơn vị diện tích (ha)
2.8 Phân tích mô phỏng (phân tích độ nhạy)
Do đề tài sử dụng một số dữ liệu định tính dựa trên thực tiễn từ kinh nghiệm trồng cao su lâu đời của một số doanh nghiệp trực thuộc Tổng Công ty Cao su Việt Nam trên địa bàn tỉnh Bình Phước, hơn nữa do đề tài không đề cập đến các yếu tố như trượt giá, chi phí cơ hội trong tính toán hiệu quả kinh tế, vì vậy để đảm bảo việc
Trang 34ước tính hiệu quả kinh tế được khách quan, toàn diện hơn, trên cơ sở kết quả khảo sát, phân tích, tác giả tiếp tục đi vào phân tích độ nhạy để xác định sự thay đổi của hiệu quả kinh tế (lợi nhuận) từ cây cao su khi các yếu tố giá cả, chi phí, sản lượng thay đổi với những tỷ lệ nhất định
Theo Huỳnh Thế Du (2014), để đánh giá tính vững mạnh về mặt tài chính hay kinh tế trong thẩm định dự án đầu tư thì ta phải ước tính ngân lưu dự án trong tương lai Trong mô hình cơ sở, ngân lưu dự án trong tương lai được ước tính dựa trên các giá trị kỳ vọng mà các giá trị này được tính toán dựa vào số liệu trong quá khứ và lượng hoá những yếu tố tác động đến giá trị trong tương lai Kết quả thẩm định trong mô hình cơ sở như NPV (giá trị hiện tại thuần), IRR (tỷ suất hoàn vốn nội bộ) đều là các giá trị kỳ vọng, mặc dù là những ước lượng tốt nhất cho tương lai theo quan điểm của nhà phân tích nhưng lại không phải là những gì chắc chắn sẽ xảy ra, bởi lẽ một số thông số ảnh hưởng đến kết quả thẩm định có thể sẽ không như
dự lượng hoặc mức độ chắc chắn không cao Để đối phó với những vấn đề này, người ta thẩm định dự án bằng cách giả định mọi việc xảy ra đúng như dự kiến (thông số dự án sẽ nhận các giá trị kỳ vọng) và tiến hành phân tích độ nhạy qua việc đánh giá tác động từ những thay đổi về thông số dự án tới kết quả thẩm định, đồng thời qua kết quả phân tích để điều chỉnh quyết định thẩm định, đề xuất biện pháp quản lý rủi ro trong triển khai dự án
Huỳnh Thế Du (2014) cho rằng: Phân tích độ nhạy là nhằm xác định những thông số có ảnh hưởng đến tính khả thi của dự án và lượng hoá mức độ ảnh hưởng này Cách tiến hành phân tích độ nhạy là cho giá trị của một thông số dự án thay đổi theo một tỷ lệ % nhất định (10%, 20% và thường là theo chiều hướng xấu đi) so với giá trị trong mô hình cơ sở và chạy lại mô hình thẩm định để xem NPV, IRR và các tiêu chí thẩm định thay đổi như thế nào Phân tích độ nhạy một chiều là cho giá trị của một thông số thay đổi, phân tích độ nhạy hai hay đa chiều là cho giá trị của 2 hay nhiều thông số thay đổi cùng một lúc
Theo Phạm Phụ (2007), phân tích độ nhạy là phân tích những ảnh hưởng của các yếu tố có tính bất định đến độ đo hiệu quả kinh tế của các phương án so sánh và khả năng đảo lộn kết luận về các phương án so sánh Trong phân tích độ nhạy cần đánh giá được biến số quan trọng (là biến số có ảnh hưởng nhiều đến kết quả và sự
Trang 35thay đổi của biến số sẽ tác động nhiều đến kết quả) Cách tiến hành phân tích cũng tương tự như Huỳnh Thế Du (2014) nêu trên, cụ thể: mỗi lần phân tích người ta cho một yếu tố hay một tham số thay đổi và giả định nó độc lập với các tham số khác, sau đó tính toán lại hiệu quả kinh tế và xác định trong khoảng sai số (khoảng thay đổi) nào thì phương án vẫn có hiệu quả
2.9 Các nghiên cứu trước
2.9.1 Nghiên cứu hiệu quả kinh tế của mô hình lúa- cá và mô hình lúa- màu tại
xã Vĩnh Phú Đông, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu của Đào Thị Tho (2008)
Đào Thị Tho (2008) thực hiện nghiên cứu nhằm mục tiêu phân tích, đánh giá
và so sánh hiệu quả kinh tế của 2 mô hình, những yếu tố tác động đến mô hình và những thuận lợi cũng như khó khăn qua thực hiện mô hình, từ đó đề xuất giải pháp triển khai mô hình có hiệu quả Nghiên cứu đã tiến hành khảo sát bằng bảng câu hỏi phỏng vấn 50 hộ gia đình có thực hiện 2 mô hình lúa- cá và lúa- màu; sử dụng phương pháp thống kê mô tả để phân tích, so sánh hiệu quả của 2 mô hình sản xuất;
sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính để mô tả mối quan hệ giữa các biến độc lập và phụ thuộc Kết quả chạy mô hình hồi quy trên phần mềm SPSS (với biến phụ thuộc
là lợi nhuận của hộ gia đình; các biến độc lập là giống, năng suất, lao động, thuốc bảo vệ thực vật, máy móc thiết bị, phân bón, giá bán và trình độ học vấn) cho thấy các yếu tố giống, lao động, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón và giá bán có ảnh hưởng đến lợi nhuận của hộ gia đình trong mô hình lúa- màu; các yếu tố thuốc bảo
vệ thực vật và giá cả có ảnh hưởng đến lợi nhuận của hộ gia đình trong mô hình lúa-
cá
2.9.2 Nghiên cứu hiệu quả của 2 mô hình sản xuất 1 vụ lúa- 1 vụ đậu nành- 1
vụ khoai lang và 2 vụ lúa- 1 vụ khoai lang tại huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long của Đinh Kim Xuyến (2009)
Với mục tiêu và phương pháp nghiên cứu tương tự Đào Thị Tho (2008) nêu trên, Đinh Kim Xuyến (2009) đã so sánh hiệu quả của mô hình sản xuất 1 vụ lúa- 1
vụ đậu nành- 1 vụ khoai lang và 2 vụ lúa- 1 vụ khoai lang tại huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long Kết quả phân tích cho thấy mặc dù chi phí đầu tư ở mô hình 2 vụ lúa- 1
vụ khoai cao hơn nhưng đạt được lợi nhuận cao hơn và tỷ số lợi nhuận/chi phí, lợi nhuận/doanh thu cũng cao hơn mô hình 1 vụ lúa- 1 vụ đậu nành- 1 vụ khoai lang
Trang 362.9.3 Nghiên cứu "Phân tích chuỗi giá trị cá tra tại tỉnh Đồng Tháp" của Nguyễn Kim Phước (2011)
Mục tiêu của nghiên cứu là phân tích thực trạng tình hình ương, nuôi, sản xuất và chế biến cá tra tại tỉnh Đồng Tháp; phân tích các yếu tố đầu vào, giá bán và thu nhập của các tác nhân tham gia trong chuỗi giá trị, từ đó giúp xác định giá trị gia tăng của sản phẩm được tạo ở các khâu; đề xuất các chính sách nhằm góp phần kiểm soát tốt hơn về các yếu tố chi phí đầu vào, giá bán, cải thiện thu nhập cho người nuôi cá tra để việc nuôi cá tra ngày một hiệu quả hơn, chất lượng cao hơn và
có giá thành cạnh tranh nhằm phát triển ngành cá tra trong tỉnh
Trong phân tích chuỗi giá trị, nghiên cứu của Nguyễn Kim Phước (2011) chỉ quan tâm đến chuỗi giá trị có nhiều tác nhân tham gia nhất vào trong chuỗi và trong phạm vi nội địa; đồng thời, nghiên cứu chỉ tính giá trị gia tăng trong chuỗi giá trị cá tra mà không tính đến yếu tố kỹ thuật nuôi, sản xuất, chế biến, không đo lường năng suất trong nuôi và sản xuất cá tra
Nghiên cứu đi vào phân tích độ nhạy giá cá bột theo chi phí thức ăn và sản lượng bột; độ nhạy giá cá hương theo giá thức ăn và tỷ lệ hao hụt; độ nhạy giá cá giống theo hệ số chuyển hóa thức ăn và chi phí thức ăn; độ nhạy giá cá thương phẩm theo hệ số chuyển hóa thức ăn và giá thức ăn; độ nhạy giá thành cá tra philet đông lạnh theo sự biến động của giá cá thương phẩm và hệ số philet
Kết quả nghiên cứu, phân tích cho thấy: Chuỗi giá trị cá tra tại tỉnh Đồng Tháp khá đa dạng, có nhiều tác nhân tham gia trong chuỗi khác nhau, người nuôi cũng như doanh nghiệp có thể có giá trị gia tăng lớn hơn nếu kiểm soát tốt chi phí của mình Khâu sản xuất cá bột số lượng bột sinh ra trong một năm quyết định sự thành công hay thất bại của cơ sở, quyết định mức lời của cơ sở Trong khâu ươm bột thành cá hương và khâu nuôi cá hương thành cá giống, chi phí đầu tư ban đầu là nhiều nhưng chiếm tỷ lệ không cao trong chi phí giá thành mà chi phí thức ăn là chi phí lớn nhất Trong khâu ươm hương thì tỷ lệ hao hụt quyết định sản lượng cá hương còn lại; bình quân trong khâu này hộ nuôi có kỹ thuật cao thì tỷ lệ hao hụt 70% (rất ít), thông thường hao hụt lên trên 80% là phổ biến Trong khâu nuôi từ hương lên giống, chi phí thức ăn quyết định trên 85% thành sản phẩm cá giống, nếu các hộ nuôi kiểm soát tốt chi phí thức ăn thì lợi nhuận tăng khá nhiều Trong khâu
Trang 37nuôi cá thương phẩm, chi phí cố định phần lớn là đất đai, đào ao, xây dựng hệ thống
ao, thoát nước, nhà kho, trại,… Những chi phí này sẽ phân bổ theo thời gian sử dụng, nếu hộ nuôi càng lâu năm thì chi phí này càng giảm, hộ sử dụng càng cẩn thận, bảo quản tốt thì chi phí phân bổ cho mỗi vụ càng ít đi; ngược lại, chi phí biến đổi chiếm tỷ lệ cao trong tổng chi phí; ngoài chi phí thức ăn là lớn nhất thì các chi phí khác như chi phí con giống, chi phí lãi vay, chi phí hóa chất cần phải kiểm soát tốt hơn Đối với doanh nghiệp chế biến cá tra thành cá phi lê xuất khẩu có tỷ suất lợi nhuận bình quân khoảng 12 -14%/vốn đầu tư; mức giá trị gia tăng của doanh nghiệp tùy thuộc vào hai yếu tố chính là giá cá nguyên liệu và giá cá phi lê theo hợp đồng xuất khẩu của thời điểm kí hợp đồng Một mấu chốt quan trọng của chuỗi giá trị đó
là đầu ra của khâu thứ nhất là đầu vào của khâu thứ 2 và do đó khâu sau luôn cố gắng giảm chi phí đầu vào của mình nhưng làm như thế thì làm ảnh hưởng lớn đến giá trị gia tăng của khâu trước đó, do đó, để tính toán giá trị gia tăng và đề ra các giải pháp nâng cao giá trị gia tăng của ngành cá tra cần có giải pháp toàn diện
2.9.4 Những điểm kế thừa và khác biệt so với các nghiên cứu trước
Giống như nghiên cứu của Đào Thị Tho (2008) và Đinh Kim Xuyến (2009), nghiên cứu này cũng đi vào phân tích hiệu quả kinh tế của 2 mô hình, trên cơ sở đó xác định mô hình nào cho hiệu quả kinh tế cao hơn Tuy nhiên, điểm khác biệt là nghiên cứu này nhằm đánh giá sự lựa chọn thực hiện mô hình này là đúng đắn so với mô hình kia tại thời điểm quyết định (trong 2 mô hì chỉ chọn lựa 1, chọn rồi thì không có cơ hội chọn lại vì thời kỳ đầu tư dài, vòng đời của cây trồng cao tới trên
20 năm); đặc biệt, tiếp tục đi vào nghiên cứu để xác định tại thời điểm hiện nay thì
sự lựa chọn đó có còn phù hợp hay không
Đối với nghiên cứu của Nguyễn Kim Phước (2011), nghiên cứu này có điểm giống là phân tích độ nhạy của một số yếu tố đầu vào so với yếu tố đầu ra, tuy nhiên mục tiêu cuối cùng có sự khác nhau Nghiên cứu của Nguyễn Kim Phước (2011) nhằm làm rõ thực trạng và kết quả tác động của các yếu tố đầu vào đến đầu ra để kiến nghị giải pháp điều chỉnh sự tác động đó; nghiên cứu này ngoài mục tiêu tương
tự, còn có mục tiêu khẳng định thêm tính thuyết phục của việc ước tính hiệu quả kinh tế của mô hình được lựa chọn
Trang 38So với cả 3 nghiên cứu trên, nghiên cứu này còn đi vào phỏng vấn sâu và phân tích mức độ hài lòng của người trả lời phỏng vấn đối với sự chọn lựa một trong 2 mô hình nghiên cứu
2.10 Tóm tắt chương
Trong chương này, các khái niệm, cơ sở lý thuyết và một số nội dung có liên quan đến sự cần thiết và việc thực hiện chuyển từ rừng tự nhiên nghèo kiệt sang trồng cao su đã được tóm lược, làm cơ sở để phân tích và kết luận và kiến nghị giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất rừng nói chung, hiệu quả kinh tế của việc trồng cây cao su nói riêng trên địa bàn tỉnh Bình Phước Một số nội dung cần quan tâm liên quan đến việc chuyển đổi từ rừng sang trồng cao su như sau:
- Đất đai là một nguồn tài nguyên quý giá, là tư liệu sản xuất chủ yếu, nhưng không thay đổi vị trí, không gia tăng về số lượng mà chỉ có thể thay đổi về chất lượng (độ phì nhiêu) và thay đổi từ sử dụng cho mục đích này sang sử dụng cho mục đích khác Đất rừng thuộc nhóm đất nông nghiệp, có thể sử dụng vào mục đích sản xuất nông, lâm nghiệp Rừng đặc dụng và rừng phòng hộ là rừng quốc gia, có chức năng bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường, không được xâm hại, chỉ trồng và quản lý bảo vệ Rừng sản xuất là rừng tự nhiên và rừng trồng thì quản lý bảo vệ và được khai thác gỗ cùng các loại lâm sản phụ Tùy theo vị trí địa lý, trữ lượng rừng và mức độ đa dạng sinh học, rừng tự nhiên được phân chia thành các loại rừng: đặc dụng, phòng hộ và sản xuất Căn cứ vào trữ lượng rừng, rừng tự nhiên được phân chia thành nhiều loại, trong đó có rừng giàu, rừng trung bình, rừng nghèo, rừng nghèo kiệt và đất trống đồi núi trọc Đối với rừng tự nhiên là rừng sản xuất, vấn đề đặt ra là làm sao nâng cao chất lượng rừng, nâng cao hiệu quả kinh tế
từ rừng, góp phần phát triển kinh tế- xã hội của địa phương nơi có rừng
- Kết quả nghiên cứu của Viện Điều tra Quy hoạch rừng xác định suất tăng trưởng bình quân trữ lượng lâm phần rừng tự nhiên nghèo khu vực Đông Nam bộ là 3,749% (Đỗ Xuân Lân, 2005)
- Cao su được Bộ NN&PTNT công nhận là cây đa mục đích, vừa có mục đích nông nghiệp, vừa có mục đích lâm nghiệp, được trồng trên đất rừng
- Hiệu quả kinh tế của việc trồng cao su trên đất rừng tự nhiên nghèo kiệt được đo bằng sự chênh lệch giữa thu nhập (hay doanh thu) từ hoạt động sản xuất
Trang 39kinh doanh cây cao su trên đất rừng và lượng chi phí cho hoạt động sản xuất kinh doanh cây cao su trên đất rừng (công thức tính được áp dụng là: Lợi nhuận = Doanh thu - Chi phí); sự chênh lệch giữa hiệu quả của việc sử dụng đất nông nghiệp là đất rừng sản xuất để trồng cao su và hiệu quả của việc giữ rừng tự nhiên nghèo kiệt trên đất rừng sản xuất đó
- Phân tích độ nhạy là việc phân tích, xác định mức độ ảnh hưởng của một hoặc nhiều yếu tố đầu vào đến một yếu tố đầu ra (kết quả) Phân tích độ nhạy về hiệu quả kinh tế của cây cao su là việc mô phỏng những tình huống có thể xảy ra trong thực tế để ước lượng hiệu quả kinh tế của cây cao su khi cho một hoặc nhiều yếu tố đầu vào và đầu ra (giá, chi phí, sản lượng, doanh thu) thay đổi theo một tỷ lệ phần trăm nhất định
Trang 40Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương này nói về quy trình nghiên cứu, cách thức chọn mẫu nghiên cứu, phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu
3.1 Quy trình nghiên cứu
Hình 3.1: Sơ đồ quy trình nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện theo các bước như sau:
Vấn đề nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và nghiên cứu trước
Nghiên cứu sơ bộ
Trao đổi với chuyên gia
Khảo sát, tổng hợp kết quả khảo sát
Biểu mẫu khảo sát sơ bộ
Biểu mẫu khảo sát chính
Cơ sở lý thuyết và nghiên cứu trước
Nghiên cứu sơ bộ
Trao đổi với chuyên gia
Khảo sát, tổng hợp kết quả khảo sát
Biểu mẫu khảo sát sơ bộ
Biểu mẫu khảo sát chính
thức
Phân tích, so sánh và phân tích độ nhạy
Phỏng vấn sâu, phỏng vấn chuyên gia
Kết luận, kiến nghị
Bảng phỏng vấn