1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

1410051 dương đỗ quốc anh áp dụng phí môi trường để giải quyết vấn đề ô nhiễm dinh dưỡng ở vịnh chesapeake

16 71 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 327,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết nêu về cách ứng dụng phí môi trường vào thực tiễn trong xã hội hiện nay. Các vấn đề liên quan đến áp dụng phí môi trường cho doanh nghiệp và người dân. Các vấn đề liên quan đến áp dụng phí môi trường cho doanh nghiệp và người dânCác vấn đề liên quan đến áp dụng phí môi trường cho doanh nghiệp và người dân

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN

Tiểu luận

KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG

Đề tài: Áp dụng phí môi trường để giải quyết vấn đề ô nhiễm

dinh dưỡng ở vịnh Chesapeake

GVHD: Th.S Đào Thị Việt Hương SVTH: Dương Đỗ Quốc Anh MSSV: 1410051

Lớp: MO14QLMT

Trang 2

Danh mục chữ viết tắt:

POTWs Công trình xử lý nước công cộng

EAA Khu vực nông nghiệp Everglades

SWTAs Khu xử lý nước mưa

MINAS Hệ thống kế toán dinh dưỡng

Tóm tắt

Ô nhiễm dinh dưỡng tiếp tục là một trong những vấn đề quan trọng đối với Vịnh Chesapeake Phí dịch vụ môi trường, như các phụ phí thoát nước đã ký bởi Thống đốc Erlich bang Maryland có thể nâng cao hiệu quả chi phí của các nỗ lực kiểm soát ô nhiễm môi trường cũng như đầu tư cơ sở hạ tầng tài chính Bài viết này nhìn nhận phí môi trường, thuế đã được sử dụng để tạo ra động lực nhằm giảm thiểu ô nhiễm từ các nguồn đô thị và nông thôn, tăng hiệu quả chi phí kiểm soát ô nhiễm môi trường và thúc đẩy sự đổi mới trong những nỗ lực nhằm hạn chế ô nhiễm thông qua ba ví dụ về cách

mà các công cụ kinh tế đã được áp dụng để cải thiện chất lượng nước: phụ phí thoát nước, phụ thu đối với thuế tài sản ở Everglades Florida và thuế chất dinh dưỡng cho các trang trại ở Hà Lan và để từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm tổ chức quản lý tài nguyên nước trong vịnh Chesapeake

Mục lục

I/ Giới thiệu: trang 3 II/ Phụ phí cống thoát nước: trang 4 III/ Thuế đặc quyền nông nghiệp ở Everglades Florida: trang 6 IV/ Thuế nông nghiệp ở Hà Lan: trang 10 V/ Kết luận: trang 12 Tài liệu tham khảo: trang 15

Trang 3

I/ Giới thiệu:

Vùng vịnh Chesapeake ở bắc Mỹ nằm giữa các bang Maryland, Pennsylvania, Virginia và quận Columbia là vùng biển đa dạng về các loài thực vật, động vật với diện tích mặt nước là 165.760 km2 Thế nhưng kể từ thập kỷ 60, 70 của thế kỷ 20 trở lại đây, chất lượng môi trường nước dần trở nên xấu đi rõ rệt: nước thiếu oxy, đục, thực vật, động vật suy giảm, hiệu quả đánh bắt thuỷ sản giảm sút mạnh Và ô nhiễm dinh dưỡng chính là một trong những vấn đề quan trọng ở Vịnh Chesapeake, chất dinh dưỡng chảy

ra từ đất và xuống nước thông qua dòng chảy đô thị, ngoại ô và nông nghiệp đến từ nhiều nguồn, bao gồm phân bón cỏ, hệ thống tự hoại và phân gia súc Lượng nitơ và phốt pho cao là nguyên nhân chính của chất lượng nước kém và mất môi trường sống của thủy sản trong vịnh Năm 2003, Chương trình Vịnh Chesapeake đặt mục tiêu giảm nitơ đi vào vịnh chỉ còn lại 175 triệu pound mỗi năm và phốt pho là 12,8 triệu pound mỗi năm vào năm 2010 Đây là một thách thức đáng kể vì từ năm 1985 đến năm 2000, tải trọng nitơ vào vịnh chỉ giảm được từ 358 xuống còn 305 triệu pound mỗi năm Với

sự giúp đỡ của một lệnh cấm rất hiệu quả về chất tẩy rửa phốt pho trong vịnh đầu nguồn trong thời gian cuối những năm 1980, phốt pho giảm từ 28,7 triệu pound trong năm

1985 xuống còn 20.7 triệu pound trong năm 2000 (Chương trình Vịnh Chesapeake 2005) Nhưng cái khó ở đây là việc tìm ra công nghệ rẻ tiền và dễ sử dụng để giảm lượng phốt pho

Bản đồ vịnh Chesapeake Các nguồn ô nhiễm dinh dưỡng

Trang 4

Hàng loạt đề xuất hàng đầu để đáp ứng những mục tiêu này bao gồm nâng cấp các nhà máy xử lý nước thải của lưu vực để loại bỏ chất dinh dưỡng, cam kết thực hành quản

lý tốt nhất cho nguồn thải Tổng chi phí ước tính để đáp ứng các mục tiêu năm 2010 là 19

tỷ $ Ước tính chi phí cho việc nâng cấp tất cả các nhà máy xử lý nước thải lưu vực sông

là khoảng 4,4 tỷ $ trong khoảng thời gian 10 năm Một câu hỏi quan trọng được đặt ra là làm cách nào để tài trợ cho nỗ lực này Chương trình Ban Chấp hành Vịnh Chesapeake cam kết tìm kiếm tài trợ liên bang Thống đốc bang Maryland mới đây đã ký đạo luật áp đặt phụ phí cống thoát nước 30$ một năm cho các chủ hộ ở Maryland và phụ phí cống thoát nước theo khối lượng dựa vào các doanh nghiệp và nhà ở

Phí môi trường, như các phụ phí cống rãnh đã được ký kết bởi Thống đốc Erlich,

có thể nâng cao hiệu quả chi phí của những nỗ lực kiểm soát ô nhiễm, cũng như đầu tư

cơ sở hạ tầng tài chính Nhưng các phí này phải được thiết kế một cách rõ ràng để tạo động lực cho các cá nhân và các doanh nghiệp áp dụng phương pháp tiếp cận hiệu quả hơn để giảm tải lượng dinh dưỡng của vịnh Lệ phí giúp mọi người nhận ra rằng khả năng chịu tải dinh dưỡng của vịnh là có giới hạn, từ đó cân nhắc đến lượng xả thải hợp lý hơn và ngày càng có nhiều công nhận rằng việc sử dụng các công cụ kinh tế trong các chương trình quản lý môi trường có thể giúp tăng hiệu quả chi phí kiểm soát ô nhiễm

II/ Phụ phí cống thoát nước:

Công trình xử lý nước công cộng (POTWs) trong lưu vực Vịnh Chesapeake thường tiếp nhận nước thải từ các hộ gia đình và công nghiệp Mặc dù các nguồn điểm không xác định từ nông nghiệp góp phần đáng kể làm tăng lượng chất dinh dưỡng trong vịnh, POTWs cũng là một nguồn chính của nitơ trong vịnh Văn phòng Thống đốc Erlich ước tính rằng khi thực hiện đầy đủ, tăng cường quá trình loại bỏ dinh dưỡng trong POTWs ở Maryland có thể giảm tải nitơ trong vịnh 7,5 triệu pound mỗi năm, tương đương gần một phần ba các cam kết của Maryland để giảm chất dinh dưỡng dưới Hiệp định Chesapeake Bay năm 2000 của nhiều bang (Báo Môi trường 2004) Theo một đạo luật Maryland mới ban hành vào mùa xuân năm 2004, các hộ gia đình sẽ phải trả thêm 2,50$ cho mỗi tháng trên hóa đơn hệ thống thoát nước của họ Các doanh nghiệp sẽ phải trả phụ phí 2,50$ cho mỗi 250 gallon nước thải mỗi ngày

Mục đích duy nhất của phụ phí này là để tài trợ nâng cấp công trình xử lý nước công cộng POTWs Nói chung, phí xả nước thải vào cống được áp đặt để tăng doanh thu, trang trải các chi phí cung cấp dịch vụ xử lý cống thoát nước chứ không phải là để tạo ra

Trang 5

một động lực nhằm giảm thiểu ô nhiễm Và như vậy khoản phụ phí nước thải này không thể khuyến khích người dân giảm dòng chất thải của họ được

Theo hướng dẫn mới về việc thắt chặt các yêu cầu kiểm soát thải trực tiếp từ các nguồn điểm, kết quả từ chương trình tài trợ này cung cấp một sự thay thế hấp dẫn cho các nguồn công nghiệp để xử lý chất thải của mình Điều này đặc biệt đúng đối với các nhà máy, chẳng hạn như nhà máy sữa, chế biến thịt gia cầm, tạo ra các chất thải hữu cơ được

dễ dàng xử lý bởi POTWs Lượng chất thải được giới hạn lại tạo điều kiện thuận lợi cho POTWs vận hành tốt hơn Ví dụ, vào cuối năm 1980, Virginia đã ban hành quy định mới hạn chế nồng độ phốt pho đi vào vịnh từ nguồn điểm chỉ còn ở mức 2,0 mg/l Điều này khiến cho công ty Smithfield Foods cảm thấy rất khó khăn để đáp ứng tiêu chuẩn này ở hai nhà máy đang hoạt động của họ Thông qua việc đàm phán thỏa thuận, Smithfield đồng ý xây dựng một hệ thống đường ống để nước thải từ các nhà máy của họ đi thẳng tới POTWs ở Quận Hampton Roads, nhờ hệ thống xử lý nước thải công cộng này xử lý giúp họ lượng phốt pho dư thừa Và từ đó các nhà máy công nghiệp mới cũng ngày càng lựa chọn việc xả thải gián tiếp qua POTWs thay cho xả thải trực tiếp ra vịnh như trước đây trong vòng 25 năm qua (Harrington 2003)

Có nhiều lý do để các nguồn thải công nghiệp thích xả thải gián tiếp hơn xả trực tiếp Yêu cầu về giấy phép xả thải trực tiếp thường chặt chẽ hơn so với xả gián tiếp Xả trực tiếp chịu sự giám sát của công chúng và công khai hơn xả gián tiếp (và có tiềm năng lớn để dẫn đến trách nhiệm pháp lý) Năm 1995, Cơ quan Bảo vệ Môi trường báo cáo rằng trong cả nước có ít hơn 3.500 điểm xả thải được Hệ thống loại bỏ ô nhiễm chất thải quốc gia (NPDES) cấp giấy phép và được xả trực tiếp vào nguồn tiếp nhận, trong khi hơn 35.000 nguồn thải công nghiệp chính xả thải vào công trình xử lý nước công cộng POTWs (US EPA 1995, trích dẫn ở Harrington 2003) Để thiết lập giới hạn xả chất ô nhiễm từ các nhà máy công nghiệp, POTWs phải ước lượng sự ô nhiễm, tải trọng chất thải từ nhà máy có thể nhận được một cách an toàn NPDES (hệ thống loại bỏ ô nhiễm chất thải quốc qia) sẽ thiết lập hạn ngạch xả nước thải cho phép từ các nhà máy đối với POTWs POTWs có thể phân bổ lượng xả thải cho phép cho công nghiệp, các hộ gia đình

và các nguồn không kiểm soát được, chẳng hạn như chất tẩy rửa hoặc dầu thải xe cộ

Harrington tìm thấy bằng chứng cho thấy phụ phí thoát nước có thể có một số tác động vào việc xả chất dinh dưỡng Thảo luận với các nhà máy sữa cho rằng việc tiền xử

lý chất thải chăn nuôi bò sữa là rất tốn kém khi so sánh với việc xả các chất thải chưa

Trang 6

qua xử lý vào POTWs và trả phí thoát nước Nhưng nhờ sự hiện diện của phụ phí này mà nhà sản xuất sữa đã có một cái nhìn gần hơn vào hoạt động nhà máy, và kết quả là, họ đã tìm thấy nhiều cơ hội để giảm lượng chất thải bằng cách thay đổi đặc điểm kỹ thuật sản phẩm, quy trình sản xuất, trình tự trong hoạt động đa sản phẩm và vận hành sản xuất

Và những điều cần làm tiếp theo sẽ là tiến hành nghiên cứu Hiện vẫn còn thiếu những nghiên cứu thực nghiệm về khả năng đáp ứng, chi trả của các ngành công nghiệp đối với khoản phụ phí thoát nước Để bắt đầu sử dụng các phụ phí thoát nước như một phương tiện của việc giảm tải chất thải hoặc tăng hiệu quả chi phí xử lý, cần một sự hiểu biết tốt hơn về chi phí xử lý và lựa chọn giảm tải trong các ngành công nghiệp có liên quan Harrington lập luận rằng có thể có sự không tương thích giữa việc sử dụng các phụ phí thoát nước trên xả gián tiếp vào POTWs và POTWs phải đối mặt với một áp lực về lưu lượng nước thải Ví dụ, việc sử dụng một khoản phí sẽ hạn chế một cách hiệu quả lưu lượng nước thải từ việc xả gián tiếp, điều này sẽ giúp POTWs hoạt động tốt hơn trong khi đang phải đối mặt với lưu lượng nước thải gia tăng không ngừng từ sự phát triển dân

cư Và vẫn chưa có kết luận chắc chắn về việc có thể giúp các POTWs tránh khỏi sự phụ thuộc quá nhiều vào lệ phí thoát nước để ngăn chặn giới hạn xả thải từ các nhà máy đến POTWs không bị vượt quá

Không giống như phí thoát nước công nghiệp, phí thoát nước dân cư thường chỉ dựa vào khối lượng nước mà họ sử dụng Do đó, chính quyền cung cấp một động lực trực tiếp ít hơn cho giảm thiểu ô nhiễm Tuy nhiên, vẫn có thể tận dụng lợi thế của sự khác biệt trong việc sử dụng nước vào mùa hè và mùa đông để tạo động lực cho việc giảm tải lượng chất dinh dưỡng từ các nguồn dân cư Khả năng để thuế ảnh hưởng đến hành vi xả thải của người dân phụ thuộc vào sự đáp ứng nhu cầu thay đổi về giá cả Thông thường, nhu cầu dùng nước trong mùa đông ít hơn nên không vị ảnh hưởng nhiều

từ giá nước Ngược lại, nhu cầu dùng nước trong mùa hè thường nhiều hơn, chẳng hạn như vệ sinh, tưới bãi cỏ và bảo dưỡng sân vườn, rửa xe, bể bơi Đến mức mà sử dụng nước mùa hè phụ thuộc nhiều hơn vào những thay đổi trong giá nước / thoát nước này tăng lên theo khối lượng nước sử dụng có thể gây ra một số tác động về sử dụng nước cho bãi cỏ và khu vườn, mà gián tiếp có thể giảm tải chất dinh dưỡng vào vịnh

III/ Thuế đặc quyền nông nghiệp ở Everglades Florida:

Cơ quan quản lý nước ở miền Nam Florida đã sử dụng hệ thống thuế tài sản của mình để tạo ra một loại phí gần giống với phụ phí thoát nước trong khu vực nông nghiệp

Trang 7

Everglades Nỗ lực này là của một chương trình toàn diện để giảm tải phốt pho chảy vào Everglades Florida Khu vực nông nghiệp Everglades (EAA) là một khu vực rộng lớn gồm 500.000 mẫu đất giàu hữu cơ nằm giữa hồ Okeechobee và Vườn quốc gia Everglades Các lưu vực EAA là một trong những vùng nông nghiệp quan trọng nhất của Florida Ba phần tư của lưu vực EAA là đất trồng trọt Cây trồng chính bao gồm đường mía, rau và trồng cỏ Khu vực này cung cấp 40% lượng rau mùa đông cho Mỹ và 25% lượng đường tiêu thụ ở Mỹ

Giống như vịnh Chesapeake, Everglades đang bị đe dọa bởi mức phốt-pho cao Vào cuối những năm 1980, chính phủ liên bang đã kiện các Cơ quan quản lý nước ở miền Nam Florida và tiểu bang Florida với cáo buộc không thực thi các tiêu chuẩn nước Florida nhằm bảo vệ các hệ sinh thái tại Vườn quốc gia Everglades Trong năm 1998, các cơ quan lập pháp Florida thông qua „Everglades Forever Act‟, uỷ quyền một chương trình tích hợp các quy định, thuế, giáo dục và nghiên cứu để thực hiện một thỏa thuận để giảm tải phốt pho 25% (Thượng viện Florida năm 1994) Việc cần làm trước tiên là giao nhiệm vụ áp dụng các thông lệ quản lý tốt nhất đối với người nông ở khu EAA Tiếp đến

là xây dựng các khu xử lý nước mưa (SWTAs), thiết kế các vùng đất ngập nước nhân tạo lớn để loại bỏ phốt pho trong dòng thải trước khi nó đến Everglades Xây dựng các SWTAs được tài trợ thông qua "phụ thu thuế nông nghiệp" dựa trên thuế bất động sản trang trại ở EAA, và thuế này tạo ra biện pháp khuyến khích giảm ô nhiễm cũng như hỗ trợ SWTAs

Đạo luật „Everglades Forever Act‟ (1994) bắt buộc phải có hai loại giám sát: Một

là giám sát trong cấp lưu vực của EAA qua việc giám sát từng nông hộ bởi chủ sở hữu , hai là giám sát việc vận hành các công trình kiểm soát nước tư nhân thải ra trong lưu vực EAA Tổng số mẫu tải phốt pho được thu thập tại 27 địa điểm trong khu vực Nước

đi qua các lưu vực đến từ cả hai dòng chảy nông nghiệp và đô thị Tổng số lần tải phốt pho do đất nông nghiệp ở EAA đã cho thấy một xu hướng giảm kể từ khi thực hiện các biện pháp quản lý tốt trong năm 1992 Lưu vực EAA đã đạt được mục tiêu giảm 25% hàng năm trong tất cả các năm kể từ lần đầu tiên được tuân thủ yêu cầu trong năm 1996 (Chương trình báo cáo thường niên Everglades BMP năm 2003)

Theo Đạo luật „Everglades Forever Act‟, các trang trại không thể xả nước vào kênh mương mà không có giấy phép xả nước thải Để có được và duy trì giấy phép xả thải, một trang trại phải phát triển và thực hiện một kế hoạch tốt nhất các biện pháp quản

Trang 8

lý để giảm lưu lượng phốt pho Các kế hoạch này thường tập trung vào việc giảm xói mòn đất, sử dụng phân bón phốt pho hợp lý hơn và thực hành quản lý lưu lượng nước để quản lý lưu lượng sử dụng Giấy phép được cấp để đảm bảo rằng các lưu vực đáp ứng các tiêu chuẩn giảm phốt pho Kể từ khi thực hiện, các lưu vực có trung bình giảm tải gần 50%, cao hơn rất nhiều so với yêu cầu là 25%

Mặc dù không tiến hành nghiên cứu trực tiếp về ảnh hưởng của ưu đãi thuế, các nhà quản lý SFWMD (Cơ quan quản lý nước ở miền Nam Florida) tin rằng một phần lý

do thành công của chương trình là khuyến khích về giảm thải được tạo nên bởi thuế đặc quyền nông nghiệp Thuế đặc quyền nông nghiệp Privilege là công cụ để tiến hành thương mại nông nghiệp trong EAA, đó là một khoản thuế tính vào vốn cố định Giống như phí thoát nước ở Maryland, doanh thu thuế được sử dụng để tài trợ xây dựng các SWTAs (Khu xử lý nước mưa) Nhưng không giống như các phụ phí thoát nước, thuế nông nghiệp được thiết kế một cách rõ ràng để khuyến khích giảm thải phốt pho.Trang trại có thể giảm thuế đáng kể bằng cách thực hiện biện pháp quản lý hiệu quả nhất Biểu thuế suất đối với thuế nông nghiệp Privilege được thiết kế tăng dần theo thời gian, như

đã nêu trong Bảng 3:

Bảng 3 Biểu suất thuế nông nghiệp Privilege

Thời gian Mức thuế cho mỗi cánh

đồng (mẫu Anh)

1994-1997 24,89$

1998-2001 27,00$

2002-2005 31,00$

2006-2013 35,00$

Từ 2014 về sau 10,00$

Trang 9

Các chủ đất nông nghiệp có thể làm giảm tỷ lệ thuế của họ so với giá gốc 24,89$ cho mỗi cánh đồng bằng cách kiếm các khoản tín dụng thông qua việc thực hiện có hiệu quả các biện pháp quản lý tốt nhất để giảm phát thải phốt pho Tín dụng không thể được

sử dụng để giảm thuế dưới sàn của 24,89$ Tín dụng dư thừa có thể được chuyển và áp dụng trong những năm tới và tất cả các khoản tín dụng hết hiệu lực vào năm 2013 Các khoản tín dụng chỉ được áp dụng nếu giảm tải phốt pho hơn 25% cho toàn bộ khu vực nông nghiệp Everglades Bất kể hiệu suất chịu tải của lưu vực, chủ đất phải duy trì nồng

độ phốt pho hàng năm là 50 ppb trong nước thải từ đất canh tác của họ với mức giá tối thiểu là 24,89$ cho mỗi mẫu đất Có khả năng, nông dân ở EAA có thể tiết kiệm 10$ cho một khu đất mỗi năm hoặc toàn lưu vực tổng cộng là 5 triệu $ mỗi năm Tổng thu nhập nông nghiệp hàng năm hiện tại ở EAA là khoảng 1 tỷ $ mỗi năm Vì vậy, việc tiết kiệm tiền thuế sẽ giúp tăng thêm 0.5% trên tổng doanh thu

Kể từ khi chương trình được thực hiện vào năm 1994, đã có một sự giảm tải lượng phốt pho đáng kể tương đương 1.100 tấn Tải lượng phốt pho hàng năm vào Everglades từ EAA đã giảm từ 300 tấn mỗi năm trước năm 1994 đến dưới 100 tấn mỗi năm vào năm 2003 Có sự kết hợp chặt chẽ từ khâu quản lý, xử lý nước thải nông nghiệp, ưu đãi về thuế để tạo ra động lực giúp người dân tự giác tuân thủ hiệu quả việc giảm thải phốt pho Những nghiên cứu và mở rộng nỗ lực giáo dục tuyên truyền ý thức cho người dân được tài trợ như một phần của kế hoạch quản lý Một chương trình nghiên cứu liên tục đã giúp tinh chỉnh thông lệ quản lý tốt nhất và xác minh tính hiệu quả trong việc đạt được các mục tiêu chất lượng nước (Chương trình báo cáo thường niên Everglades BMP năm 2003)

Mặc dù chương trình này đã vấp phải sự kháng cự rất lớn khi nó lần đầu tiên được thông qua,những nỗ lực hỗ trợ mạnh mẽ cho nghiên cứu cải thiện cả hiệu quả về môi trường và chi phí thực hành quản lý đã đóng góp một phần quan trọng vào sự thành công của chương trình Nỗ lực giáo dục về các tác động xấu của phốt pho đến Everglades và các giải pháp thay thế việc quản lý đã giúp thúc đẩy và củng cố một nền văn hóa mạnh mẽ của niềm tự hào trong quản lý môi trường tốt hơn Một số phương pháp quản lý được cải thiện, như việc bón phân phù hợp, vừa có tác dụng giảm tải lượng phốt pho lại vừa giúp tiết kiệm thêm chi phí Tiềm năng cho các hành động pháp

lý theo giấy phép xả thải đã cung cấp một giải pháp cứng rắn hơn Và động lực kinh tế của việc có thể làm giảm mức thuế xả thải cũng góp phần tạo nên những tín hiệu tích cực trong nỗ lực giảm lượng phát thải phốt pho vào Everglades

Trang 10

IV/ Thuế nông nghiệp ở Hà Lan:

Hà Lan trực tiếp đánh thuế thải chất dinh dưỡng như một cách để tạo ra một động lực mạnh mẽ để quản lý môi trường tốt hơn Hà Lan có mật độ dân số làm chăn nuôi cao nhất ở châu Âu, với mật độ chăn nuôi quốc gia bình quân 3,9 đơn vị chăn nuôi mỗi ha Chất thải này góp phần làm tăng hàm lượng nitrat trong nước ngầm ở Hà Lan, cũng như

ô nhiễm chất dinh dưỡng ở Biển Bắc Nông nghiệp chịu trách nhiệm cho hơn 40% lượng phosphate và 70% lượng nitơ trong vùng nước của Hà Lan (Bộ Nông nghiệp Hà Lan 2001) Như với các bang ở vùng vịnh Chesapeake, chính sách quản lý dinh dưỡng ở Hà Lan được thúc đẩy một phần bởi các lực lượng bên ngoài Chỉ thị nitrate năm 1991 của Liên minh Châu Âu thiết lập một tiêu chuẩn nitrat đối với nước ngầm là 50 mg nitrat / lít nước ngầm Năm 1985, chính phủ Hà Lan đã đồng ý giảm phát thải nitơ và phosphate một khoảng 50% vào Biển Bắc

Trung tâm chính sách ô nhiễm dinh dưỡng Hà Lan đã xây dựng một hệ thống kế toán để xác định lượng chất dinh dưỡng đi vào và ra khỏi các nông trại là bao nhiêu,từ đó thuận lợi hơn cho việc kiểm soát phát thải Nguyên tắc của Hệ thống Kế toán dinh dưỡng

Hà Lan (MINAS) là nông dân ghi lại lượng nitơ và phốt pho đi vào nông trại và số lượng

mà nó ra khỏi nông trại Nitơ và phốt pho có thể đi vào trang trại dưới nhiều hình thức, bao gồm gia súc, thức ăn gia súc, phân chuồng và phân hoá học và rời khỏi trang trại dưới dạng những thứ như gia súc, thức ăn gia súc, phân chuồng, ngũ cốc, sữa và trứng Người nông dân bị tính phí đối với lượng nitơ và phốt pho dư vượt quá tiêu chuẩn này trong hàm lượng nitơ, phốt pho đầu vào và đầu ra tối đa Mức thuế của MINAS hiện được đặt ở mức 9 Euro cho mỗi kg phosphate và 2,3 Euro cho mỗi kg nitơ dư thừa (Bộ Nông nghiệp Hà Lan năm 2001) Các khoản thuế được xem là đủ mạnh để khuyến khích thay đổi hành vi của người dân

Giống như hệ thống thuế thu nhập của Mỹ, thuế dinh dưỡng Hà Lan dựa vào việc

tự báo cáo được hỗ trợ bởi báo cáo của các dữ liệu cơ bản từ nguồn phi nông nghiệp Ví

dụ như trong thuế thu nhập của Mỹ, việc sử dụng lao động, các ngân hàng và các công ty môi giới được yêu cầu phải nộp các báo cáo về thu nhập của họ cho Sở Thuế Vụ Tại Hà Lan thì các nhà cung cấp thức ăn chăn nuôi được yêu cầu gửi báo cáo thống kê về số lượng thức ăn chăn nuôi bán ra hàng năm cho các văn phòng thuế của Bộ Nông nghiệp

Hà Lan, đối với người dân thì kèm theo hóa đơn cho gia súc, phân bón đã mua Ngoài ra nông dân phải cung cấp các xét nghiệm trong phòng thí nghiệm về hàm lượng dinh dưỡng trong phân Điều này đã tạo ra gánh nặng cho người dân, mặc dù có thể áp dụng

Ngày đăng: 10/03/2019, 11:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w