Đứng trước thực tiễn đó, trong thời gian thực tập tại Viện Dầu khí thuộcTổng Công ty Dầu khí Việt Nam, em đã chọn đề tài “Đầu tư nước ngoài vào Tìm kiếm - thăm dò - khai thác Dầu khí tại
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Trong xu thế hội nhập nền kinh tế toàn cầu, Việt Nam đang từng bướckhẳng định vị trí của mình trên trường quốc tế cũng như trong khu vực Để cóđược những thành tựu đúng đắn như ngày hôm nay là do sự chuyển hướngđúng đắn của Đảng và Nhà nước ta chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấpsang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, trong đó kinh tế nhà nước giữvai trò chủ đạo Việc phát triển kinh tế được nhà nước ta tập trung vào một sốngành mũi nhọn, trong đó ngành mũi nhọn hàng đầu là công nghiệp Dầu khí.Ngành Dầu khí đòi hỏi số vốn đầu tư rất lớn, mức độ rủi ro cao, trình độkhoa học công nghệ hiện đại, tính quốc tế hoá rộng rãi, trong khi nền côngnghiệp Dầu khí nước ta còn non trẻ, thiếu vốn, thiếu kỹ thuật, thiếu đội ngũcán bộ có kinh nghiệm trong tổ chức quản lí Việc mở rộng các quan hệ kinh
tế đối ngoại, mà trước hết là đẩy mạnh quan hệ hợp tác - đầu tư là một đòi hỏitất yếu khách quan nhằm từng bước xây dựng và phát triển ngành côngnghiệp Dầu khí nói chung và các hoạt động Tìm kiếm - thăm dò - khai thácDầu khí nói riêng, để l m àm sao ngành Dầu khí có thể phát triển mạnh mẽ và có
đủ sức cạnh tranh trong tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế trên cơ sở hợptác bình đẳng, hai bên cùng có lợi, đặc biệt trong điều kiện từ năm 2006, ViệtNam sẽ mở cửa để hội nhập với các nước trong khu vực
Trữ lượng và tiềm năng dầu khí đã phát hiện của Việt Nam (đến31/12/2004) khoảng 4,6 tỉ m3 quy đổi, tương đối khiêm tốn so với các quốcgia có tài nguyên dầu khí khác Đa số là mỏ nhỏ và chứa khí là chủ yếu Đểđảm bảo trữ lượng xác minh cho việc tăng sản lượng khai thác dầu khí tronggiai đoạn 2005 – 2010, 2010 – 2020, PetroVietnam cần thiết phải đẩy mạnhcông tác Tìm kiếm - thăm dò - khai thác dầu khí với nhịp độ cao Khối lượngcông việc này đòi hỏi vốn đầu tư rất lớn, lại chịu rủi ro cao Vì vậy ngành Dầukhí cần có một tổ hợp các giải pháp thu hút đầu tư nước ngoài nhiều hơn nữa
Trang 2Đứng trước thực tiễn đó, trong thời gian thực tập tại Viện Dầu khí thuộc
Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam, em đã chọn đề tài “Đầu tư nước ngoài vào
Tìm kiếm - thăm dò - khai thác Dầu khí tại Tổng Công ty Dầu khí Việt
Nam” làm chuyên đề tốt nghiệp cho mình, với mong muốn tìm hiểu một cách
chi tiết cụ thể thực trạng cũng như kết quả mà chúng ta đạt được trong lĩnhvực này
Kết cấu chuyên đề gồm 2 chương:
Chương 1: Thực trạng đầu tư nước ngoài vào Tìm kiếm thăm dò
-khai thác Dầu khí tại Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam Trong đó khái quát
giới thiệu chung về ngành Công nghiệp Dầu khí Việt Nam, về kết quả Đầu tư
TK - TD - KT nói chung và kết quả Đầu tư nước ngoài vào TK - TD - KT nóiriêng
- Chương 2: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm thu hút Đầu tư nước
ngoài vào TK - TD - KT Dầu khí Trong đó nêu lên mục tiêu phương hướng
phát triển, cơ hội – thách thức và một số giải pháp và kiến nghị nhằm thu hútĐầu tư nước ngoài vào TK - TD - KT Dầu khí
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng do kiến thức còn hạn chế, lại không được
đi sâu vào thực tế nên chuyên đề vẫn còn rất nhiều thiếu sót Kính mong cácThầy Cô xem xét đánh giá và hướng dẫn thêm để chuyên đề được hoàn thiệnhơn nữa
Em xin cảm ơn các cô chú anh chị của Viện Dầu khí Việt Nam, đặc biệt
là sự hướng dẫn giúp đỡ tận tình của Thầy giáo – Tiến sĩ Nguyễn Hồng Minh,
đã giúp đỡ em hoàn thành đề tài này
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀO TÌM KIẾM – THĂM DÒ – KHAI THÁC DẦU KHÍ TẠI
TỔNG CÔNG TY DẦU KHÍ VIỆT NAM.
1.1 NGÀNH CÔNG NGHIỆP DẦU KHÍ VÀ CÔNG NGHIỆP DẦU KHÍ VIỆT NAM.
1.1.1 Ngành Công nghiệp Dầu khí.
và khoan vùng nước sâu tới hàng nghìn mét
Dầu khí là ngành Công nghiệp trẻ ở Việt Nam nhưng là ngành Côngnghiệp phát triển trên thế giới Trong suốt quá trình phát triển đó, lĩnh vực này
đã ứng dụng hầu như tất cả những công nghệ tiên tiến đã được phát minhtrong nhiều lĩnh vực khác nhau Trong hoạt động dầu khí, nếu không ứngdụng được những công nghệ cao thì không thể thu được kết quả
b) Vốn lớn.
Để ứng dụng được những công nghệ cao thì cần phải có một khối lượngvốn đầu tư khá lớn Mọi nhà đầu tư vào lĩnh vực dầu khí đều phải tính đếnkhả năng sử dụng lượng vốn lớn và ứng dụng công nghệ tiên tiến nhất hiện
có Thông thường khi đầu tư vào một lô tìm kiếm thăm dò, các công ty phải
bỏ ra hàng trăm triệu USD Thực hiện một giếng khoan thăm dò với chiều sâukhoảng 4000m thì chi phí ước khoảng 10 triệu USD Để đánh giá và lập sơ đồ
Trang 4công nghệ mỏ dầu, khí nhiều khi phải khoan hàng chục giếng khoan thăm dòrất tốn kém.
c) Nhiều rủi ro nhưng lợi nhuận cao.
Nhiều rủi ro.
Các rủi ro trong hoạt động Dầu khí có thể kể đến như: rủi ro về tỉ giá hốiđoái, rủi ro về tỉ lệ lạm phát, rủi ro chính trị, giá cả, rủi ro địa chất, địa lí, rủi
ro về kĩ thuật, rủi ro về thị trường cũng như chất lượng dầu khí… Có nhữngquốc gia sau vài chục năm thăm dò dầu khí mới phát hiện được các mỏ dầukhí có giá trị công nghiệp (Canada mất 40 năm, Việt Nam sau gần 30 năm tìmkiếm thăm dò dầu khí mới phát hiện ra các mỏ dầu có giá trị công nghiệp).Các loại rủi ro đó xuất hiện bất cứ lúc nào, trong bất cứ giai đoạn nào củahoạt động Dầu khí Ví dụ như có mỏ khai thác có triển vọng chứa dầu khí, cócác biểu hiện dầu khí nhưng không có giá trị công nghiệp; cũng có thể dầu thôkhai thác được lại có hàm lượng lưu huỳnh, phốt pho cao (S, P lớn hơn 0,1%)
… Rủi ro lớn nhất trong hoạt động dầu khí là rủi ro trong Tìm kiếm – thăm
dò Trong đó, rủi ro về trữ lượng và khả năng khai thác là lớn nhất Xác suấtcác giếng khoan thấy dầu bình quân chỉ đạt khoảng 26 – 30% Các hoạt độngtrong các khâu khác (lọc, hóa dầu, xử lí, vận chuyển, phân phối, kinh doanhsản phẩm dầu khí…) ít chịu rủi ro hơn trong chính bản thân khâu đó, nhưnglại gián tiếp chịu rủi ro do khâu Tìm kiếm – thăm dò mang lại Rủi ro trongTìm kiếm – thăm dò có thể làm mất toàn bộ vốn đầu tư, còn rủi ro trong cáckhâu khác của hoạt động đầu tư (lĩnh vực lọc, hoá dầu và chế biến kinhdoanh) chỉ có thể làm giảm lợi nhuận của quá trình đầu tư đó
Nếu kết quả tìm kiếm thăm dò không đạt kết quả (thường xác suất xảy rađiều này rất cao), số tiền đầu tư coi như mất trắng Các sự cố trong khi khoan,khai thác, vận chuyển dầu khí thường gây ra những tổn thất vô cùng lớn Sự
cố chìm giàn khoan dầu P-36 ngoài khơi Braxin tháng 3/2001 đã gây tổn thấttới 450 triệu USD cho công ty Petrobras
Trang 5Có thể tạm chia chúng ra làm 4 loại: rủi ro địa chất, rủi ro thương mại,rủi ro kỹ thuật, rủi ro khác, trong đó rủi ro địa chất và rủi ro thương mại là cácrủi ro chủ yếu.
- Rủi ro địa chất: là những rủi ro liên quan đến địa chất mỏ khai thác, cóthể do xác định sai cấu tạo địa chất, xác định sai xác suất tồn tại một tích tụdầu khí và có khả năng khai thác
- Rủi ro thương mại: Để đánh giá hiệu quả từ việc khai thác dầu khí,thường sử dụng chỉ tiêu NPV:
n n
i
R I
R I
R
NPV
) 1 ( )
1 (
2 1
trong đó: R1, R2, R3, Rn – thu nhập ròng nhận được vào cuối năm
1,2,3 (đây là thu nhập sau khi đã trừ thuế và các khoản thukhác)
i – lãi suất chiết khấu (%)
n - số năm đầu tư xác định theo thời hạn đầu tư trong hợp đồng.Việc khai thác dầu khí không đạt được hiệu quả kinh tế, tức là NPV âm,thì được coi là rủi ro thương mại
- Rủi ro kỹ thuật: Việc xác định các tham số cần thiết cho việc khai thácdầu sẽ gây ra các rủi ro kỹ thuật Các tham số (yếu tố) đó là: độ bão hoà dầu,hiệu suất thu hồi, chiều dày vỉa sản phẩm,
- Rủi ro khác: đó là các rủi ro do sự cố xảy ra có tác động tiêu cực đếnthu chi tài chính gồm các rủi ro về thiên tai, hoả hoạn, thời tiết và các vấn đề
có liên quan đến chính trị
Lợi nhuận lớn.
Khi các phát hiện dầu, khí có tính thương mại và đưa vào phát triển, khaithác thì sẽ thu được một khoản lợi nhuận lớn Thông thường, nếu có phát hiệnthương mại, chi phí cho một thùng dầu chỉ bằng khoảng 1/3 giá bán Chẳnghạn, khu vực Trung Đông là khu vực có tiềm năng dầu khí lớn, chi phí sảnxuất chỉ khoảng 1USD/thùng; trong khi đó giá bán có lúc đạt trên 30USD/thùng, thậm chí tại thời điểm sốt dầu, giá bán đạt trên 70 USD/thùng
Trang 6Có thể nói nhờ đặc trưng rất hấp dẫn này mà các nhà đầu tư đã chấp nhậnrủi ro để bỏ vốn đầu tư vào hoạt động dầu khí.
d) Hợp tác quốc tế.
Xuất phát từ các đặc thù trên: nhiều rủi ro và sử dụng vốn đầu tư lớn chonên hợp tác quốc tế trở thành một đặc thù mang tính phổ biến của ngành Dầukhí Rất khó có thể tìm thấy một công ty hay quốc gia nào có hoạt động dầukhí lại không có hợp tác quốc tế
Hợp tác quốc tế nhằm mục đích san sẻ rủi ro và tạo ra một khối lượngvốn đầu tư đủ lớn cho hoạt động của mình Tuỳ thuộc điều kiện cụ thể củamỗi nước hay mỗi công ty mà chú ý nhiều hơn tới từng mục tiêu cụ thể Vớicác nước có tiềm lực lớn về vốn và mạnh về công nghệ thì hợp tác quốc tếchủ yếu nhằm mục đích san sẻ rủi ro Hầu hết các công ty dầu khí có chiếnlược phát triển theo mạng là đầu tư ở nhiều nơi, nhiều nước và theo chiều dọc,tức là tổ chức hoạt động dầu khí toàn bộ các khâu Tính quốc tế của các hoạtđộng dầu khí còn thể hiện ở chỗ, do công nghệ cao và mang tính chuyênngành sâu, hầu như mọi công ty đều không thể tự mình thực hiện toàn bộchuỗi công việc, từ đó hình thành và phát triển lĩnh vực dịch vụ dầu khí, hiệnnay có rất nhiều công ty dịch vụ Dầu khí trên thế giới, tại Việt Nam và pháttriến rất mạnh
Gần đây trong xu thế toàn cầu hoá nói chung, Dầu khí là một trongnhững ngành đi đầu trong việc hợp nhất các công ty lớn xuyên quốc gia VớiViệt Nam, do hoạt động dầu khí còn non trẻ nên hợp tác quốc tế vừa để san sẻrủi ro, vừa để huy động vốn, công nghệ và học tập kinh nghiệm của nướcngoài
Tóm lại : Với quốc gia có nền kinh tế đang phát triển và ngành Dầu khí
mới được hình thành như Việt Nam thì những đặc trưng trên càng được thểhiện khá rõ nét Khi quyết định đầu tư cho bất kì dự án dầu khí nào, nhà đầu
tư trước hết phải xem xét tới các đặc trưng trên và lượng hóa được các đặc
Trang 7trưng đó (lượng hoá mức độ rủi ro, trình độ công nghệ, vốn đầu tư và lợinhuận có thể có…)
1.1.1.2 Các công đoạn chính của hoạt động Dầu khí.
Hoạt động dầu khí được chia thành 3 lĩnh vực chính:
Hoạt động Tìm kiếm - thăm dò - khai thác : Còn gọi là lĩnh vực
Thượng nguồn, hoặc khâu đầu, hoặc UPSTREAM: được tính từ khi bắt đầucác hoạt động khảo sát địa vật lý, xử lí tài liệu địa chấn, khoan thăm dò… chotới khi đưa dầu hoặc khí lên tới miệng giếng
Hoạt động vận chuyển – tàng trữ dầu khí : Còn gọi là lĩnh vực Trung
nguồn, hoặc khâu giữa, hoặc MIDSTREAM: là khâu nối liền khai thác vớichế biến và tiêu thụ Quá trình phát triển của nó gắn liền với quá trình khaithác dầu khí, bao gồm các kho chứa, các hệ thống vận chuyển bằng đườngống và tàu dầu
Các hoạt động thuộc lĩnh vực chế biến dầu khí, kinh doanh, phân phối sản phẩm…: Còn gọi là lĩnh vực Hạ nguồn, hoặc khâu sau, hoặc
DOWNSTREAM: Bao gồm các hoạt động lọc, hóa dầu, chế biến dầu và khí
Nó được tính từ khi nhận dầu (hay khí) từ nơi xuất của khu khai thác đến quátrình lọc, chế biến, hoá dầu và kinh doanh, phân phối các sản phẩm dầu, khíđó
Trên thế giới, mỗi công đoạn có sức hấp dẫn riêng của nó; có quan hệphụ thuộc hoặc quyết định chi phối lẫn nhau Tuy vậy, hoạt động trong lĩnhvực Thượng nguồn có sức hấp dẫn cao nhất (mặc dù có rủi ro lớn) vì thu đượcnhiều lợi nhuận nhất Trong lĩnh vực Hạ nguồn, đầu tư vào hoạt động kinh
Tìm kiếm –
thăm dò –
khai thác
Vận chuyển – Tàng trữ
Chế biến – kinh doanh phân phối sản phẩm
Trang 8doanh, bán lẻ có thể thu được lợi nhuận lớn; còn đầu tư vào lọc dầu ít có sứchấp dẫn và lợi nhuận không cao (đôi khi còn bị lỗ), nhưng người ta vẫn đầu tưvào khâu này vì nhiều mục đích khác nhau, trong đó quan trọng nhất là vìchiến lược an toàn năng lượng và làm tiền đề cho các ngành công nghiệp khácphát triển (ví dụ công nghiệp hoá chất, phân bón…).
Biểu đồ 1: Tỉ trọng thu nhập bình quân từ các khâu của các Tập
đoàn dầu khí lớn (giai đoạn 1985 – 2003)
1.1.2 Ngành Công nghiệp Dầu khí Việt Nam.
1.1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển.
So với các ngành công nghiệp khác trong nước, ngành Dầu khí được coi
là phát triển sau Tuy nhiên với sự hấp dẫn của nó và sự quan tâm ưu tiên đặcbiệt của Đảng và Chính phủ, trong vòng 30 năm trở lại đây, ngành Côngnghiệp đặc thù này đã phát triển rất mạnh và trở thành một trong những ngành
có vai trò quan trọng nhất trong nền kinh tế quốc dân hiện nay
Trải qua 30 năm xây dựng và phát triển, ngành Dầu khí Việt Nam đãkhông ngừng lớn mạnh và trưởng thành, vượt qua nhiều khó khăn thử tháchlập nên những thành tựu trên chặng đường tìm kiếm, thăm dò và khai thácnguồn tài nguyên vô cùng quý giá này, phục vụ công cuộc phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước
Có thể tạm phân chia tiến trình phát triển của ngành Dầu khí Việt Nam
Khai thác65.0%
Hoá dầu6,4%
Lọc dầu28,6%
Trang 9 Thời kỳ trước 1975:
Trong giai đoạn này, trong điều kiện đất nước còn chia cắt, các hoạt độngthăm dò dầu khí đi theo hai hướng khác nhau:
- Ở miền Bắc, với sự giúp đỡ về tài chính và kỹ thuật của Liên-xô
và một số nước XHCN Đông Âu (cũ), Tổng cục Địa chất đã tiến hành một sốhoạt động thăm dò địa vật lý, địa chất tại vùng trũng sông Hồng Công tácthăm dò đã được triển khai tương đối rộng rãi ở khu vực miền võng Hà nội,bao gồm khảo sát địa vật lý và khoan thăm dò Trong khảo sát địa vật lý đã ápdụng hầu như toàn bộ các kỹ thuật mà Liên Xô có lúc bấy giờ Thời kỳ đầu(1962 – 1971) chủ yếu chỉ khoan nông (khoảng dưới 160m) nhưng sau đó(1974 – 1975) tiến hành khoan một số giếng khoan sâu (trên 3000m) ở TháiBình và đã có một số phát hiện dầu khí
- Trong khi đó ở miền Nam, hoạt động thăm dò diễn ra mạnh mẽhơn: từ khi chính quyền Nam Việt Nam ban hành Luật khuyến khích đầu tưnước ngoài (Luật số 011/70), một loạt các công ty của Mỹ, Nhật, Canada đãđầu tư dưới dạng Hợp đồng Nhượng địa để thăm dò dầu khí trên thềm lục địaNam Việt Nam, và kết quả là một loạt các giếng đã có phát hiện dầu, trong đógiếng cao nhất cho lưu lượng khoảng 2.400 thùng dầu/ngày Năm 1974 công
ty dầu khí Mỹ Mobil đã ký kết với chính quyền miền Nam cũ thăm dò và pháthiện thấy dầu tại các mỏ Bạch Hổ và Rồng (sau này xí nghiệp Liên doanhVietsovpetro tiếp nhận)
Tiếp theo đó các công ty chuyên ngành đã được thành lập: Công ty Dầukhí I, Công ty Dầu khí II, Công ty Địa Vật lý, Viện Dầu khí, Trường Công
Trang 10nhân Kỹ thuật Dầu khí, Đoàn Đồng bằng Cửu Long, Công ty Vật tư Thiếtbị…
Quy mô và phạm vi hợp tác đã được mở rộng: ngoài việc Liên Xô giúpđầu tư thăm dò mạnh mẽ hơn ở vùng trũng sông Hồng, ở phía Nam ta cũng tựđầu tư khoan giếng thăm dò ở đồng bằng sông Cửu Long Nhịp độ đầu tưthăm dò tăng dần với việc gọi vốn đầu tư nước ngoài từ các công ty dầu khíquốc tế (ngoài Mỹ) dưới dạng Hợp đồng Dịch vụ Các hoạt động dầu khíđược triển khai ra toàn quốc Trong thời gian này, một số công ty tư bản nướcngoài như Deminex (Đức), BowValley (Canada), Agip (ý) đã vào ts dầu khí ởthềm lục địa phía Nam Mặc dù đã có một vài phát hiện dầu khí nhnưg donhiều lý do khác nhau mà câc công ty này ầu dã hoàn trả diện tích và rút lui.Đỉnh điểm của giai đoạn này là việc ra đời của Xí nghiệp Liên doanhVietsovpetro (1981) với việc phát hiện mỏ dầu lớn cho Việt Nam, mỏ Bạch
Hổ (1986) Tấn dầu thô đầu tiên đã được khai thác tại mỏ Bạch Hổ vào tháng6/1986 Đây là một cái mốc đặc biệt quan trọng đánh dấu sự phát triển củangành Dầu khí Việt Nam
Bên cạnh các hoạt động sản xuất, sự nghiệp hợp tác quốc tế trong tư vấn,đào tạo và nghiên cứu, mặc dù có sự cấm vận của Mỹ, đã được chú trọng vàđẩy mạnh Nhờ có Luật Đầu tư Nước ngoài tại Việt Nam (1987) và chínhsách mở cửa kinh tế của Đảng và Nhà nước, ngành Dầu khí Việt Nam đãbước vào một thời kỳ phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là đối với công tác thăm
dò khai thác
Giai đoạn từ 1987 đến nay:
Tổng cục Dầu khí được chuyển đổi thành Tổng Công ty Dầu khí ViệtNam, với tư cách là một Công ty Dầu khí Quốc gia, đã tiến hành ký hàngchục hợp đồng hợp tác kinh doanh thăm dò dầu khí với các công ty dầu khí códanh tiếng trên thế giới
Trang 11Hệ thống luật pháp điều chỉnh hoạt động dầu khí trong nền kinh tế thịtrường đã được hoàn thiện, đảm bảo cho việc đầu tư được ổn định (Luật Dầukhí, Luật Thuế, Luật Lao động…).
Việc hợp tác thăm dò được mở rộng ra với các công ty Mỹ sau khi hếtcấm vận đã tạo điều kiện cho việc áp dụng các công nghệ cao trong thăm dòkhai thác
Các hình thức hợp đồng được đa dạng hóa với việc ra đời các Liên doanhĐiều hành chung
Tháng 4/1995, khí đồng hành từ mỏ Bạch Hổ đã được đưa vào bờ đểphát điện tại nhà máy nhiệt điện Bà Rịa, đánh dấu sự ra đời của ngành côngnghiệp khí Việt Nam với nhiều triển vọng to lớn
Đặc biệt là với việc tăng nhanh sản lượng khai thác của mỏ Bạch Hổ vàcác phát hiện dầu khí mới của các Nhà thầu đã và đang đưa vào khai thác đãkhẳng định vai trò quan trọng của ngành Dầu khí Việt Nam trong nền kinh tếquốc dân
Khối lượng công tác thăm dò thực hiện được trong vòng 18 năm trở lạiđây đã gấp hàng chục lần so với toàn bộ hoạt động trước đó với tổng số vốnđầu tư ước chừng 7,2 tỷ USD
Hiện nay, toàn bộ dầu thô Việt Nam được xuất bán cho các công ty nướcngoài (Nhật, Singapor, Mỹ, Hàn Quốc ) nhưng sau này một phần sẽ đượcđưa vào chế biến tại nhà máy lọc dầu số 1 ở Việt Nam với công suất 6,5 triệutấn/năm, tiếp theo là nhà máy lọc dầu số 2 cũng sẽ được xây dựng, làm cơ sởcho công nghệ hoá dầu ở Việt Nam ngày càng phát triển
Để xây dựng nền công nghiệp dầu khí Việt Nam phát triển một cách toàndiện, ngoài những dự án có sự đầu tư trực tiếp của nước ngoài trong khâu tìmkiếm thăm dò khai thác và chế biến dầu khí, Tổng công ty dầu khí Việt Namcũng sẽ chú trọng những dự án phát triển năng lực dịch vụ kỹ thuật cao đểnâng cao tỷ trọng doanh thu từ dịch vụ dầu khí của chính Tổng công ty dầu
Trang 12khí Việt Nam và các doanh nghiệp trong nước, mở rộng kinh doanh ở khâuphân phối sản phẩm, tăng cường nghiên cứu khoa học công nghệ phục vụ sảnxuất, chú trọng công tác đào tạo cán bộ, mở rộng hợp tác với các cơ sở khoahọc và doanh nghiệp trong nước, từng bước có sự lựa chọn tham gia đầu tư ởnước ngoài, xây dựng Tổng công ty Dầu khí Việt Nam ngày càng hoàn thiện
và phát triển, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
1.1.2.2 Vai trò vị trí của ngành Dầu khí trong tiến trình phát triển và đổi mới nền kinh tế đất nước
Đối với nước ta, vai trò và ý nghĩa của dầu khí càng trở nên quan trọngtrong thời kì đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Không chỉ làvấn đề thu nhập kinh tế đơn thuần, trong những năm qua dầu khí đã góp phầnđáng kể vào ngân sách quốc gia, làm cân đối hơn cán cân xuất nhập khẩuthương mại quốc tế Từ thế bị động ta đã chuyển sang thế chủ động trong việcthu hút vốn đầu tư, tiếp thu công nghệ hiện đại nước ngoài, phát triển ngànhnghề dịch vụ, giải quyết công ăn việc làm
Với mức đóng góp đáng kể vào Ngân sách Nhà nước nói chung và kimngạch xuất khẩu nói riêng, ngành Dầu khí được biết đến là một ngành cóđóng góp rất lớn vào sự phát triển kinh tế chung của đất nước Đến tháng6/2005, toàn ngành Dầu khí Việt Nam đã khai thác 200 triệu tấn dầu quy đổi.Với sản lượng khai thác như vậy, Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam đã thuđược 34 tỷ USD từ xuất khẩu dầu thô, đem lại nguồn thu cho ngân sách Nhànước (NSNN) hơn 18 tỷ USD Chỉ tính riêng 5 năm (2001 – 2005), tổngdoanh thu đạt 330 nghìn tỷ đồng, nộp NSNN 200 nghìn tỷ đồng Tính bìnhquân mỗi năm, ngành Dầu khí đóng góp khoảng 25% NSNN, đứng thứ 3trong khu vực Đông Nam Á về xuất khẩu và đứng thứ 4 về khai thác dầu thô.Hàng năm, thu nhập do khai thác và xuất khẩu dầu thô đứng ở vị trí hàng đầu
và chiếm khoảng gần 1/4 trong tổng thu nộp NSNN
Ngành Dầu khí được Đảng và Chính phủ xếp là một trong những ngành
Trang 13Tổng công ty Dầu khí cũng được xếp hạng là doanh nghiệp Nhà nước hạngđặc biệt Điều đó phần nào cho thấy vai trò và vị trí của ngành Dầu khí đốivới tiến trình phát triển và đổi mới nền kinh tế đất nước.
Có thể tóm tắt một số đóng góp chính của ngành Dầu khí như sau:
- Mang lại nguồn thu ngoại tệ đáng kể cho Ngân sách Nhà nước thôngqua việc chia sản phẩm và các loại thuế (thuế tài nguyên, thuế thu nhập);
- Thu hút đầu tư nước ngoài vào các hoạt động dầu khí tại Việt Nam;
- Thu hút chuyển giao công nghệ và chuyển dịch kỹ thuật tiên tiến vàoViệt nam;
- Tạo ra công ăn việc làm đáng kể cho bản thân cán bộ công nhân viênngành Dầu khí cũng như một số ngành nghề dịch vụ cho Dầu khí;
- Phát triển mạnh quan hệ hợp tác quốc tế; chúng ta có quan hệ hợp tácvới nhiều nước, các công ty, các viện nghiên cứu liên quan đến hoạt động dầukhí;
- Đội ngũ cán bộ của ngành Dầu khí, một bộ phận cấu thành của lựclượng lao động xã hội, được đào tạo, rèn luyện và trưởng thành đáng kể
30 năm qua, Ngành Dầu khí Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh vớisản lượng dầu khai thác ngày càng tăng, cung cấp năng lượng cho Đất nước
và xuất khẩu, góp phần rất quan trọng trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệpCNH, HĐH ở nước ta Ngành Dầu khí Việt Nam đã đóng góp khoảng 400 tỷđồng xây dựng các công trình phúc lợi công cộng, tu bổ các di tích lịch sử,tích cực tham gia ''Quỹ đền ơn đáp nghĩa'', ''Quỹ vì người nghèo'', ''Quỹ nạnnhân chất độc da cam'' và nhiều quỹ từ thiện khác
1.1.3 Giới thiệu về Tổng công ty Dầu khí Việt Nam.
1.1.3.1 Lịch sử hình thành và phát triển.
Ngành dầu khí Việt Nam có lịch sử hình thành và phát triển hơn 30năm Trong những năm vừa qua đã đạt được những thành tựu đáng kể trongcông tác thăm dò và khai thác dầu khí, trở thành một ngành Công nghiệp mũi
Trang 14nhọn trong cơ cấu kinh tế nước ta Quá trình hình thành ngành Dầu khí gắnliền với sự ra đời của Tổng công ty dầu khí Việt Nam, trải qua những mốcquan trọng như sau:
- Năm 1961: Thành lập Đoàn địa chất 36 trực thuộc Tổng cục Địa chất,
làm nhiệm vụ tìm kiếm - thăm dò dầu khí;
- Năm 1969: Chuyển Đoàn địa chất 36 thành Liên đoàn Địa chất 36;
- Năm 1975: Thành lập Tổng cục Dầu khí Việt Nam trên cơ sở Liên
đoàn Địa chất 36 của Tổng cục Địa chất và một số bộ phận của Tổng cục hoáchất;
- Năm 1977: Thành lập Công ty Dầu khí Việt Nam trực thuộc Tổng cục
Dầu khí làm nhiệm vụ hợp tác tìm kiếm - thăm dò - khai thác dầu khí vớinước ngoài tại Việt Nam;
- Tháng 4/1990: Sát nhập Tổng cục dầu khí vào Bộ công nghiệp nặng;
- Tháng 6/1990: Thành lập Tổng công ty Dầu khí Việt Nam trên cơ sở
các đơn vị cũ của Tổng cục Dầu khí;
- Tháng 5/1992: Tổng công ty Dầu khí Việt Nam tách khỏi Bộ công
nghiệp nặng và trực thuộc Thủ tướng Chính phủ Tổng công ty Dầu khí ViệtNam có tên giao dịch quốc tế là PETROVIETNAM;
- Tháng 5/1995: Tổng công ty Dầu khí Việt Nam được Thủ tướng Chính
phủ ra quyết định là Tổng công ty Nhà nước, có tên giao dịch quốc tế làPETROVIETNAM
Tổng công ty Dầu khí Việt Nam là Tổng công ty Nhà nước do Thủ tướngChính phủ quyết định thành lập, hoạt động theo mô hình Tổng Công ty 91,được tiến hành các hoạt động dầu khí trên toàn lãnh thổ, lãnh hải, vùng đặcquyền kinh tế, thềm lục địa và hải đảo thuộc chủ quyền nước Cộng hoà xã hộichủ nghĩa Việt Nam và được tiến hành các hoạt động dầu khí ở nước ngoàikhi Chính phủ cho phép Mọi hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khícủa các tổ chức cá nhân khác tại Việt Nam chỉ được tiến hành trên cơ sở ký
Trang 151.1.3.2 Chức năng nhiệm vụ.
Là công ty dầu khí quốc gia thuộc quyền quản lý của Nhà nước,Petrovietnam được giao nhiệm vụ triển khai thực hiện toàn bộ các hoạt động liênquan đến việc phát hiện, khai thác và làm gia tăng giá trị của nguồn tài nguyêndầu khí tại Việt Nam, tiến hành các hoạt động kinh doanh đa lĩnh vực và thựchiện các nhiệm vụ khác do Nhà nước giao phù hợp với pháp luật Việt Nam
1.1.3.3 Lĩnh vực hoạt động.
Kể từ khi được thành lập, hoạt động kinh doanh của Petrovietnam đãphát triển mạnh mẽ và rộng khắp, mang lại hiệu quả cao từ khâu đầu đến cáckhâu sau Hiện nay PetroVietnam có hơn 30 đơn vị thành viên, triển khai cáchoạt động liên quan đến công nghiệp dầu khí không chỉ ở lãnh thổ Việt Nam
mà còn cả ở nước ngoài
Các hoạt động chính của PetroVietnam bao gồm:
Tìm kiếm, thăm dò, khai thác DK
Cơ cấu tổ chức hiện nay của PetroVietnam gồm nhiều đơn vị thành viên
và các công ty liên doanh, hoạt động kinh doanh phát triển bao trùm khắpcác lĩnh vực của ngành công nghiệp Dầu khí tại Việt Nam, từ thăm dò vàkhai thác dầu khí, tàng chứa, vận chuyển, chế biến, phân phối sản phẩm dầukhí, đến các hoạt động dịch vụ, thương mại, tài chính, bảo hiểm dầu khí
Các công ty thành viên trong lĩnh vực TDKT:
- Công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí (PVEP)
- Công ty Đầu tư & Phát triển Dầu khí (PIDC)
- Xí nghiệp Liên doanh Dầu khí Vietsovpetro
Trang 16TỔNG CÔNG TY DẦU KHÍ VIỆT NAM
BỘ MÁY QUẢN LÍ TỔNG
CÔNG TY
ĐƠN VỊ HẠCH TOÁN PHỤ THUỘC
DNNN HẠCH TOÁN ĐỘC LẬP
ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÁC LIÊN DOANH
Cty TD -KT -DK Cty Giám sát PSC
Trung tâm đào tạo và CUNL DK
Viện Dầu khí
Trung tâm NCPT Chế biến DK
Trung tâm NCPT An toàn DK
Trang 171.1.3.5 Kết quả sản xuất kinh doanh 5 năm gần đây.
Năm 2005, toàn ngành Dầu khí đạt kim ngạch xuất khẩu hơn 7 tỷ USD,tăng hơn mức kỷ lục đã đạt năm 2004 gần 1,33 tỷ USD, Tổng doanh thu củaTổng công ty tăng 34% Ngành dầu khí cũng đã nộp ngân sách Nhà nước trên50.000 tỷ đồng, tăng 1.850 tỷ đồng so với năm 2004, tăng khoảng 28% so vớinăm 2004 Đây là năm thứ 5 trong giai đoạn 2001 – 2005, ngành Dầu khí dẫnđầu các ngành kinh tế cả nước về kim ngạch xuất khẩu và nộp Ngân sách Nhànước
Trong giai đoạn 2001 - 2005, Tổng công ty dầu khí đóng góp hàng nămkhoảng 25% tổng thu ngân sách Nhà nước, doanh thu liên tiếp tăng và tăngmạnh (xem bảng 1), tốc độ gia tăng trữ lượng dầu khí khá cao, góp phần quantrọng bảo đảm an ninh năng lượng cho phát triển kinh tế của đất nước cũngnhư góp phần quan trọng vào việc hoàn thành kế hoạch kinh tế - xã hội năm
2005 và giai đoạn 2001 – 2005
Trang 18Bảng 1: Tổng hợp KQSXKD giai đoạn 2001 – 2005 (Đơn vị: Nghìn USD)
Trừ: Doanh thu của các đối tác liên doanh (801.318) (827,122) (1.390,630) (1.259.272) (1.308.176)
Thuế thu nhập doanh nghiệp 229.383 (190,718) (424,451) (365.112) (403.602)
Trang 19Lãi ròng hợp nhất 204.318 404,585 679,552 626.759 609.345
(Nguồn: Báo cáo hằng năm PetroVietnam )
Trang 201.1.3.6 Mối quan hệ giữa hoạt động của TCT và vấn đề Đầu tư nước ngoài.
Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam vừa là đơn vị trực tiếp quản lí hợp hoạtđộng của các Nhà thầu nước ngoài trong khi đầu tư vào ngành Dầu khí ViệtNam, vừa là đơn vị cùng tham gia trực tiếp vào hoạt động đó dưới hình thứchợp đồng hợp tác kinh doanh, liên doanh với những tỉ lệ % nhất định NgànhDầu khí không cho phép các nhà đầu tư nước ngoài hoạt động dưới hình thứcdoanh nghiệp 100%, mà trong tất cả các hợp đồng đều phải có mặtPetroVietnam
PetroVietnam chính là đơn vị hoạch định chính sách, quy hoạch, kếhoạch liên quan đến đầu tư nước ngoài vào ngành Dầu khí Việt Nam, đồngthời tổ chức quản lí giám sát hoạt động, thu hồi lãi dầu và phần lợi nhuận đãthoả thuận, từ đó tổng hợp lại rồi mới nộp cho Nhà nước
1.2 CÔNG TÁC TÌM KIẾM – THĂM DÒ – KHAI THÁC VÀ VẤN ĐỀ ĐTNN VÀO CÁC HOẠT ĐỘNG NÀY.
1.2.1 Công tác Tìm kiếm – thăm dò – khai thác DK.
1.2.1.1 Mô tả.
Một quá trình đầu tư Tìm kiếm - thăm dò - khai thác có thể chia làm 3giai đoạn chính, thể hiện trên sơ đồ sau:
Trang 21a) Giai đoạn Tìm kiếm – Thăm dò
a.1 Giai đoạn Thăm dò.
Nghiên cứu địa chất
- Tái xử lí, tái minh giải tài liệu
- Thu nổ địa chấn (2D, 3D)
- Xử lí tài liệu địa chấn
- Minh giải tài liệu địa chấn
- Đánh giá triển vọng dầu khí (sinh, chắn, chứa…)
- Xác định vị trí giếng khoan
Giai đoạn
thăm dò
Đánh giá sơ bộ triển vọng lô hợp đồng
Chọn vùng cấu tạo triển vọng
Khảo sát ĐVL nghiên cứu địa chất
Khoan thăm dò
N.cứu kết quả khoan và đánh giá phát hiện
Đánh giá đối tượng và chọn
vị trí khoan
Thiết kế, gọi thầu chế tạo phương tiện thiết bị
Kế hoạch phát triển, khai thác thử
Lập kế hoạch phát triển tổng thể
Nghiên cứu vỉa
Hoạt động khai thác thứ cấp
Thu gom
xử lý, tàng trữ
Vận hành
và bảo trì giếng
Giai đoạn
khai thác
Khoan khai thác
Lắp đặt phương tiện thiết bị
Vận hành
thử
Đo đếm và giao bán sản phẩm
Trang 22 Xác lập và trình duyệt các báo cáo cần thiết.
- Báo cáo đánh giá tiềm năng
- Xác định vị trí khoan và chương trình khoan
- Báo cáo đánh giá tác động môi trường
- Báo cáo thiết kế chi tiết giếng khoan
+ Đấu thầu giàn khoan
+ Đấu thầu tàu dịch vụ, trực thăng
+ Các dịch vụ khác (thử vỉa, bơm trám, thả ống chống, dựbáo thời tiết)
- Thi công:
+ Giám sát toàn bộ quá trình thi công
+ Cập nhật thông tin, so sánh với dự kiến
+ Phân tích mẫu
Lập báo cáo tổng kết
- Xác định tiềm năng dầu khí
- Chương trình thăm dò tiếp theo
- Tuyên bố phát hiện
- Báo cáo hoàn trả diện tích
a.2 Giai đoạn thẩm lượng.
Giai đoạn thẩm lượng thường kéo dài 3 – 5 năm, với mục đích xác địnhchính xác các cấp trữ lượng dầu khí, các thông số kỹ thuật tầng chứa thuộckhu vực thăm dò nhằm làm cơ sở cho việc thiết kế phát triển và khai thác mỏ
Trang 23Trong giai đoạn này nhà đầu tư phải thực hiện khối lượng rất lớn, đặcbiệt là khoan thẩm lượng Các công việc chính phải làm cũng giống như giaiđoạn thăm dò song với mức độ chính xác và chi tiết hơn.
Kết thúc giai đoạn thẩm lượng, Nhà thầu (Chủ đầu tư) phải lập báo cáođánh giá trữ lượng (Reserves Accessment Report), rồi thông quaPetroVietnam trình Hội đồng trữ lượng Nhà nước phê duyệt
b) Giai đoạn phát triển.
Giai đoạn phát triển được bắt đầu khi hoàn tất RAR Đây là giai đoạn cực
kì quan trọng, đòi hỏi Nhà đầu tư tập trung nhiều nhân lực và vốn nhất
Để phát triển mỏ, trên cơ sở RAR được Chính phủ phê duyệt, Nhà thầuphải lập kế hoạch phát triển mỏ FDP trình PV, bao gồm các nội dung:
- Trữ lượng (phân tích cụ thể các thông số địa chất)
- Giải pháp công nghệ tối ưu (đưa ra các phương án khai thác để lựachọn phương án tối ưu)
- Đánh giá tác động môi trường
- Chi phí đầu tư (tổng mức đầu tư)
- Tổ chức triển khai (sơ đồ tổ chức, đào tạo nhân lực…)
- Tiến độ thực hiện: nhân lực, thời gian (thông qua chương trìnhMicrosoft Project)
- Đánh giá kinh tế: Hiệu quả kinh tế, độ nhạy…
c) Giai đoạn Khai thác.
Giai đoạn Khai thác bắt đầu từ khi có First Production (first oil, firstgas…) Trên thực tế phải cần một giai đoạn chuẩn bị trước từ 6 tháng – 1năm
Bước vào giai đoạn này, công việc chính của Nhà thầu là:
- Quản lí, giám sát, cập nhật thông tin trong quá trình khai thác
- Đánh giá khả năng khai thác thực tế so với kế hoạch
- Làm các thủ tục cần thiết (cầu, cảng) để xuất hoặc bán sản phẩm
- Kiểm soát dòng tiền, tính chi phí thu hồi, lãi, thuế
Trang 24- Điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp với thực tế.
1.2.1.2 Đặc thù của một Dự án Tìm kiếm - thăm dò - khai thác Dầu khí.
Dự án Đầu tư Dầu khí là dự án có suất đầu tư lớn, rủi ro rất cao
- Khi quyết định đầu tư Dự án vẫn chưa xác định được:
+ Quy mô đầu tư, thị trường tiêu thụ
+ Công nghệ sản xuất, thị trường sản xuất
+ Công suất, chủng loại và chất lượng sản phẩm
- Toàn bộ chi phí đầu tư và vận hành đều được thu hồi lại dưới hình thứcthu hồi chi phí theo luật
- Không áp dụng khấu hao tài sản như các dự án thông thường
- Thời gian ngừng khai thác (đóng cửa mỏ) chỉ ước đoán
- Các dự án đầu tư khác, giai đoạn đầu tư sẽ chấm dứt khi dự án chuyểnsang giai đoạn khai thác Các dự án đầu tư dầu khí thì ngược lại, để tăng caohiệu quả đầu tư, giảm thiểu rủi ro…, hoạt động đầu tư thường thực hiện theohình thức cuốn chiếu
- Để tính được việc đầu tư có hiệu quả hay không cần phải đầu tư một sốtiền khá lớn (vài chục triệu USD)
1.2.1.3 Kết quả TK – TD – KT đạt được.
Việt Nam là một quốc gia có tiềm năng Dầu khí, với diện tích thềm lụcđịa và vùng đặc quyền kinh tế gần 1 triệu km2 bao gồm 7 bể trầm tích ĐệTam: Sông Hồng, Phú Khánh, Cửu Long, Nam Côn Sơn, MaLay – Thổ Chu,
Tư Chính – Vũng Mây, nhóm bể Trường Sa và Hoàng Sa (Sơ đồ 2)
Trang 25Sơ đồ 2: Các bể trầm tích Đệ Tam Việt Nam
Hoạt động TKTD Dầu khí ở Việt Nam đã được bắt đầu triển khai ở miềnvõng Hà Nội từ những năm 60 dưới sự giúp đỡ của Liên Xô cũ Năm 1975,
mỏ khí Tiền Hải C đã được phát hiện ở miền võng Hà Nội và đưa vào khaithác từ năm 1981 cho đến nay Ở thềm lục địa phía Nam, hoạt động TKTDđược tiến hành từ những năm 1970 bởi các công ty Dầu khí nước ngoài nhưMobil, Pecten, Union Texas,…
Khi Tổng cục Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam thành lập vào năm 1975,công tác TKTD được triển khai trên phạm vi cả nước, ở đất liền (miền võng
Hà Nội, Đồng bằng Sông Cửu Long) và thềm lục địa phía nam bằng các hợpđồng đầu khí với các Công ty AGIP (Italia), DEMINEX (Đức) vàBOWVALLEY (Canada)
Năm 1981, VietsovPetro ra đời và đến năm 1986 dòng dầu công nghiệp đầutiên đã được phát hiện ở mỏ Bạch Hổ Hai năm sau (1998) dầu tiếp tục đượcphát hiện trong móng nứt nẻ trước Đệ tam Sự phát hiện này làm thay đổi phân
bố trữ lượng và đối tượng khai thác tại mỏ Bạch Hổ, góp phần tăng nhanh sảnlượng khai thác hằng năm đồng thời đưa ra quan điểm địa chất mới trong thăm
dò Dầu khí ở bể Cửu Long nói riêng và ở thềm lục địa Việt Nam nói chung
Trang 26Từ khi có Luật Đầu tư nước ngoài (29/12/1987) và Luật Dầu khí(6/7/1993), đã có hàng chục công ty, tập đoàn Dầu khí lớn trên thế giới đầu tưvào TKTD trên toàn thềm lục địa Việt Nam Ngoài các hoạt động TKTD docác Nhà thầu Dầu khí nước ngoài, trong những năm qua PetroVietnam đã vàđang tích cực đầu tư, tự điều hành các dự án TKTD ở trong nước và đã cónhững bước đi ban đầu trong việc đầu tư TKTD Dầu khí ở nước ngoài Chođến nay, nhiều đề án dầu khí ở nước ngoài đã được ký kết và đang được thựchiện trong đó có các đề án mà PetroVietnam là nhà điều hành Đây là mốcđánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của PetroVietnam trên con đường trởthành tập đoàn Dầu khí có hoạt động cả ở trong và ngoài nước.
So với các nước khác trong khu vực, ngành Dầu khí Việt Nam tuy pháttriển sau nhưng lại có những bước tiến nhanh chóng, ổn định và vững chắc.Sản lượng dầu tìm kiếm và khai thác tăng mạnh theo thời gian
Bảng 2: Sản lượng khai thác dầu thô của các nước Asean
(Đơn vị: tấn/ngày đêm)
Năm Brunay Việt Nam Philippin Indonexia Malaixia Thái Lan Mianma
Trang 270 200 400 600 800 1000 1200 1400 1600 1800
tấn/ngày đêm
Brunay Việt Nam Philippin Indonexia Malaixia Thái Lan Mianma
Sản lượng dầu các nước Asean
Ở trong nước, đến nay 51 hợp đồng Dầu khí PSC, JOC và BCC đã
được ký kết, trong đó 27 hợp đồng đang hoạt động Tổng số vốn đầu tư TKTD cho đến nay đạt trên 7 tỷ USD Nhiều kỹ thuật và công nghệ mới
tiên tiến được áp dụng đã đem lại thành quả to lớn, tiếp theo việc phát hiệndầu trong móng nứt nẻ trước Đệ tam tại mỏ Bạch Hổ đã phát hiện nhiều mỏdầu mới như các mỏ Rồng, Hồng Ngọc, Rạng Đông, Sư Tử Đen, Sư TửVàng, Sư Tử Trắng (bể Cửu Long), Đại Hùng (bể Nam Côn Sơn) và B10(miền võng Hà Nội)
Ngoài việc tham gia cùng với các Nhà thầu trong các hợp đồng Dầu khí, trong
thời gian qua PetroVietnam đã và đang tích cực đầu tư, tự điều hành dự án
TKTD ở Tư Chính – Vũng Mây, miền Võng Hà Nội, Vịnh Bắc Bộ, Vùng biển
miền Trung (bể Phủ Khánh) và đang khai thác mỏ Đại Hùng, Tiền Hải C; đã khảosát khoảng 30.000 km địa chấn 2D, 830 km2 địa chấn 3D, và khoan hơn 10 giếngkhoan TKTD và thẩm lượng với tổng chi phí khoảng 150 triệu USD và 200 tỷVNĐ Công tác tự đầu tư đã cho phép đi trước 1 bước trong giải quyết các mụctiêu các điều tra cơ bản đánh giá tiềm năng Dầu khí phục vụ hoạch định chiếnlược TKTD tiếp theo cũng như tạo cơ sở kêu gọi đầu tư nước ngoài Bên cạnh
Trang 28một số kết quả TKTD ban đầu đáng khích lệ (hai phát hiện khí, giếng khoan thẩmlượng 05 – 1 – ĐH 14X cho kết quả 650 tấn dầu/ngày), công tác tự đầu tư đã gópphần nâng cao năng lực điều hành của PetroVietnam.
Bảng 3: Các đề án tự đầu tư TKTD Dầu khí án t ự đầu tư TKTD Dầu khí đầu tư TKTD Dầu khí ư TKTD Dầu khíu t TKTD D u khíầu tư TKTD Dầu khí
1 Địa chấn 2D, khoan – Tư Chính 1993 , 1995 12.000km
Qua hơn 40 năm hoạt động TKTD trên lãnh thổ và thềm lục địa Việt
Nam, Ngành Dầu khí và các công ty Dầu khí nước ngoài đã tiến hành khảo
sát gần 300.000km tuyến địa chấn 2D, khoảng 30.000km 2 địa chấn 3D, khoan trên 600 giếng khoan thăm dò, thẩm lượng và khai thác (biểu đồ 3,
4) với tổng chi phí trên 7 tỷ USD Đã phát hiện trên 70 mỏ/phát hiện trong
đó có 10 mỏ đang khai thác với tổng sản lượng đang khai thác từ các mỏ này đến tháng 12 – 2005 đạt trên 195 triệu m 3 dầu và 22 tỷ m 3 khí Nhiều phát
hiện Dầu khí khác (ở các bể Sông Hồng, Cửu Long, Nam Côn Sơn, MaLay –Thổ Chu) đã và đang được thẩm lượng và phát triển
Biểu đồ 3 : Kết quả thu nổ địa chấn giai đoạn 1988 – 2004
Trang 2978000
8000 20000
0 0
-Kết quả công tác thu nổ địa chấn trong năm 1988-2004
Biểu đồ 4: Số giếng khoan thăm dò, phát triển theo năm.
Biểu đồ khoan thăm dò, phát triển
28 32
6 5
2
6 12 16
10
27 25
17 22
30 32
23
15 14 16
4 1
17
24
21
16 16
15 12
Trang 30Biểu đồ 5: Số giếng khoan TD – TL theo bể trầm tích
-Số giếng khoan TKTD-TL
Tuỳ thuộc vào độ sâu của giếng khoan, đối tượng và số lượng vỉa thử,nhiệt độ, áp suất và tính phức tạp khác của cấu trúc địa chất mà chi phí giếngkhoan cũng biến động theo Chi phí cho 1 giếng khoan dao động trongkhoảng 3 - 4 triệu USD (giếng nông ngoài khơi hoặc vùng đất liền Anzoil)đến 30-40 triệu USD (vùng áp suất cao ở bể Nam Côn Sơn) Chi phí trungbình là vào khoảng 9 triệu USD/giếng thăm dò & thẩm lượng ở chiều sâu 3-4nghìn mét, trong điều kiện bình thường là tương đương với chi phí phổ biến ởkhu vực Châu Á Thái Bình Dương
Trong số gần 600 giếng khoan thăm dò và thẩm lượng thực hiện tronghơn mười năm qua, chỉ có 12 giếng khoan có sự cố nặng (chiếm 9%) phải huỷgiếng, khoan lại hoặc không còn được sử dụng:
Trang 31Biểu đồ 6: Phân loại sự cố giếng khoan.
Gãy cần Kẹt cố Xi măng Khí phun Khí
CO2/H2S
Sự cố
Phân loại sự cố giếng khoan
Kết quả công tác TKTD trong thời gian qua đã xác định được các bể trầmtích Đệ tam có triển vọng dầu khí: Sông Hồng, Phú Khánh, Cửu Long, NamCôn Sơn, Malay – Thổ Chu, Tư Chính – Vũng Mây, nhóm bể Trường Sa vàHoàng Sa, trong đó có các bể: Cửu Long, Nam Côn Sơn, Malay – Thổ Chu vàSông Hồng gồm cả đất liền (miền võng Hà Nội) đã phát hiện và đang khaithác dầu khí Tuy nhiên, do đặc điểm hình thành và phát triển riêng của từng
bể trầm tích nên chúng có đặc điểm cấu trúc, địa tầng trầm tích cũng như cácđiều kiện về hệ thống dầu khí khác nhau, do vậy tiềm năng dầu khí của mỗi
bể có khác nhau với các đặc trưng chính về dầu khí đã phát hiện của các bểnhư sau:
Trang 32 Bể Nam Côn Sơn.
Phát hiện cả dầu và khí (tỷ lệ phát hiện khí, khí – condensat cao hơn)trong đó có 2 mỏ đang khai thác là mỏ dầu Đại Hùng và mỏ khí Lan Tây –Lan Đỏ, ngoài ra còn có một số mỏ khí đang phát triển (Rồng Đôi – Rồng ĐôiTây, Hải Thạch,…)
Ở nước ngoài, từ cuối những năm 1990, PetroVietnam đã có chủ trương
và từng bước triển khai đầu tư TKTD dầu khí ở nước ngoài Cho đến nay,
PetroVietnam đã tham gia vào 7 đề án thăm dò khai thác (TDKT) ở nước
ngoài, trong đó có 2 đề án là nhà điều hành Các đề án này đang trong giai
đoạn thăm dò và thẩm lượng Dự kiến cuối năm 2006 đầu 2007,
PetroVietnam sẽ có sản lượng dầu đầu tiên từ các đề án đầu tư nước ngoài.
Đây là mốc đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của Tổng công ty Dầu khíViệt Nam trên con đường trở thành tập đoàn Dầu khí có hoạt động ở trong vàngoài nước
Theo đánh giá của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam, tổng trữ lượng dầukhí của các phát hiện từ những hợp đồng đầu tư ra nước ngoài hiện đạt 120triệu m3 quydầu, trong đó phần mang về nước (tính theo tỷ lệ mà VN thamgia) khoảng 80 triệu m3 quy đổi Tổng công ty đã trực tiếp điều hành 2 dự ántại Iraq và Angeri, tham gia 3 dự án tại Malaysia và 2 dự án tại Indonesia,đang giành quyền lựa chọn tham gia vào 1 dự án tại Mông Cổ Giai đoạn
Trang 332005 – 2010, PetroVietnam sẽ đẩy nhanh tiến độ tìm kiếm dự án mới ở nướcngoài để có thể ký được 6 – 7 dự án tìm kiếm thăm dò và khai thác.
Bảng 4 : Các đề án đầu tư TDKT dầu khí ở nước ngoài.
đầu tư
Tỷ trọng tham gia của
PV (%)
Thời điểm tham gia
1 Hợp đồng (HĐ) phát triển mỏ
100 (điềuhành) 29/04/2002
2 HĐ thăm dò - thẩm lượng dầu khí lô
40 (điềuhành) 30/06/2003
3 HĐ PSC lô PM304 Malaixia 4.5+10.5= 15 01/08/2000
5 HĐ PSC lô Đông Bắc Madura I Inđônêxia 20 14/10/2003
6 HĐ PSC lô Đông Bắc Madura II Inđônêxia 5 14/10/2003
7 HĐ PSC các lô 19, 21, 22 Tamtsag Mông Cổ 05/11/1999
Như vậy, trong 30 năm qua, đặc biệt kể từ khi có chính sách đổi mới, mở cửa
đến nay, hoạt động TKTD dầu khí đã được PetroVietnam triển khai rất tích cực,đồng bộ, toàn diện ở cả trong và ngoài nước, ở cả khu vực các hợp đồng dầu khí(đầu tư nước ngoài) lẫn tự đầu tư, tự điều hành; năng lực quản lý và điều hànhcông tác TKTD đã có những bước trưởng thành đáng kể và đã mang lại những kếtquả quan trọng trong xác định/gia tăng trữ lượng và sản lượng khai thác dầu khíhàng năm đóng góp quan trọng vào sự phát triển của đất nước
Tuy nhiên, do công tác TKTD chủ yếu dựa vào đầu tư nước ngoài nênmức độ không đồng đều, mới tập trung chủ yếu ở vùng có triển vọng nướcnông tới 200m, diện tích các lô đã ký hợp đồng, đã có hoạt động dầu khí chỉchiếm khoảng 1/3 diện tích toàn thềm lục địa, gần 2/3 diện tích còn lại chủyếu ở vùng nước sâu, xa bờ,… chưa có tài liệu hoặc mới chỉ nghiên cứu địavật lý khu vực cần phải được đẩy mạnh công tác TKTD Cạnh tranh trong thu
Trang 34hút đầu tư nước ngoài vào TKTD trong khu vực rất gay gắt cần tiếp tục hoànthiện các chính sách khuyến khích các công ty dầu khí quốc tế đầu tư vào ViệtNam Công tác đầu tư, tự điều hành TKTD ở trong và ngoài nước còn nhỏ bé
và chưa đáp ứng yêu cầu do thiếu kinh nghiệm, chưa có hành lang pháp lýphù hợp và hạn chế về cơ chế điều hành hiện hành
1.2.2 ĐTNN vào TK – TD – KT Dầu khí Việt Nam.
1.2.2.1 Vai trò.
Để phát triển ngành Công nghiệp Dầu khí, ít nhất cần 3 yếu tố:
- Nguồn tài nguyên có trong lòng đất
- Công nghệ hiện đại và Nguồn nhân lực trình độ cao để sử dụng hiệuquả công nghệ đó
- Có nguồn vốn Đầu tư đủ lớn để thực hiện các đề án Thăm dò, Khaithác, Chế biến và Phân phối
Việt Nam là một nước đang phát triển, nếu không nói là một nước cònthuộc dạng nghèo Tài nguyên của chúng ta tuy không nhiều nhưng vẫn đủ đểphát triển ngành công nghiệp Dầu khí Cái mà chúng ta thiếu chính là côngnghệ hiện đại, nguồn nhân lực có trình độ cao và đặc biệt là vốn đầu tư Hằngnăm chúng ta cần một lượng vốn cho Đầu tư phát triển là rất lớn, mọi ngànhnghề đâu đâu cũng cần đến vốn đầu tư Việc huy động nguồn vốn nội địa chomột ngành tiêu tốn khổng lồ như ngành Dầu khí dù nó mang lại Lợi nhuận rấtcao là một điều rất khó khăn Việc thu hút đầu tư nước ngoài không nhữnggiải quyết cho chúng ta một phần rất lớn về vốn đầu tư mà còn là cơ hội lớn
để chúng ta học hỏi kinh nghiệm quản lí, tiếp thu khoa học công nghệ hiệnđại Vai trò của ĐTNN là quan trọng, và là một đòi hỏi khách quan mà ngànhDầu khí nói riêng và nền kinh tế nói chung rất cần phải có
1.2.2.2 Chủ trương chính sách Đầu tư.
Nhờ có đường lối đổi mới và mở cửa của Đảng, nước ta đã vượt ra khỏicuộc khủng hoảng kinh tế xã hội, bước vào thời kỳ phát triển mới, đặc biệt từ
Trang 35khi Nhà nước ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (29/12/1987) vàLuật Dầu khí (06/7/1993)
Hai bộ luật trên đã tạo ra khuôn khổ pháp lí cơ bản cho việc khuyếnkhích đầu tư nước ngoài tại Việt Nam nói chung và đầu tư tìm kiếm, thăm dò,khai thác dầu khí nói riêng trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền và tuân thủpháp luật của Việt Nam, bình đẳng và cùng có lợi
Ngày 07/11/1998 Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định về khuyếnkhích đầu tư đối với hoạt động dầu khí tại các vùng nước sâu, xa bờ và khuvực có điều kiện địa lí, địa chất, kinh tế, kỹ thuật đặc biệt khó khăn
Ngày 9/6/2000 Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi bổ sung Luật Đầu tưnước ngoài tại Việt Nam và Luật sửa đổi bổ sung một số điều khoản của LuậtDầu khí đối với Dự án khuyến khích đầu tư
Nội dung cơ bản liên quan đến định chế tài chính nhằm khuyến khích
đầu tư tìm kiếm, thăm dò, khai thác Dầu khí tại các vùng nước sâu, xa bờ và
khu vực có điều kiện khó khăn và các khu vực có dự án khuyến khích đầu tư,
có thể tóm tắt như sau:
Bảng 5: Các nh ch t i chính trong l nh v c TNN v o TK - TD - KT DKđịnh chế tài chính trong lĩnh vực ĐTNN vào TK - TD - KT DK ế tài chính trong lĩnh vực ĐTNN vào TK - TD - KT DK àm ĩnh vực ĐTNN vào TK - TD - KT DK ự đầu tư TKTD Dầu khí ĐTNN vào TK - TD - KT DK àm
Định chế tài chính Luật Dầu
Thuế tài nguyên 6-25% /
0-10% 4-25% / 0-10%
32% (có thể được miễn thuế 2 năm và giảm 50% 2 năm)
từ 28 – 50% (TTCP quyết định mức thuế cụ thể phù hợp với từng
cơ sở theo đề nghị của BT Bộ TC)
Thời hạn hợp đồng 25 năm 30 năm
Thu hồi chi phí Không quy
Thuế nhập khẩu thiết bị ? Miến thuế
Các điều khoản cơ bản của hợp đồng dầu khí hiện nay:
Thời hạn của hợp đồng
Đối với dầu: không quá 25 năm với 5 năm tìm kiếm thăm dò
Trang 36 Đối với khí: không quá 30 năm với 7 năm tìm kiếm thăm dò
Diện tích hợp đồng: Không quá 2 lô (hoặc 4 lô trong các trường
hợp đặc biệt)
Quyền tham gia của PV: Theo thỏa thuận
Chương trình công tác và ngân sách: Vừa cố định vừa có thể lựa
chọn:
Thời hạn đối với mỗi giai đoạn tìm kiếm thăm dò
Cam kết công việc tối thiểu (địa chấn, khoan, v.v…)
Cam kết tài chính sơ bộ tối thiểu
Chế độ thuế t ài nguyên.
Thuế tài nguyên tùy theo sản lượng khai thác như sau:
Bảng 6: Thuế tài nguyên.
thông thường
Dự án khuyến khích
Thuế thu nhập doanh nghiệp: Thông thường 50%, 28% đối với
các dự án khuyến khích đầu tư, miễn thuế cho năm đầu và giảm50% cho năm tiếp theo Chính phủ cũng có thể cho phép miễnthuế 2 năm đầu và giảm 50% cho 2 năm tiếp theo
Thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài: 3-7%
Trang 37 Thuế giá trị gia tăng: 0-10% (miễn thuế đối với vật tư thiết bị
nhập khẩu, không sản xuất được trong nước)
Thuế xuất khẩu: 4% đối với dầu thô, không áp dụng đối với khí
thiên nhiên, thuế được khấu trừ
Thu hồi chi phí tối đa: Thông thường 50%, 70% đối với các dự án
- Trong hoạt động Dầu khí thì hình thức đầu tư có những nét riêngbiệt, tuy vậy vẫn tuân theo Luật Đầu tư nước ngoài đã quy định Các hìnhthức đầu tư bao gồm doanh nghiệp Liên doanh; hợp đồng phân chia sản phẩmPSC, hợp đồng Liên doanh Điều hành chung JOC, Hợp đồng Hợp tác kinhdoanh BCC (tất cả những hình thức này đều là biến dạng của Hợp đồng hợptác kinh doanh mà Luật đã quy định)
Về khuyến khích và đảm bảo đầu tư.
Các quy định về khuyến khích và đảm bảo đầu tư luôn là một nội dungquan trọng của pháp luật về Đầu tư nước ngoài Các quy định về khuyếnkhích và bảo đảm đầu tư bao gồm các vấn đề chủ yếu sau đây:
Trang 38- Ban hành các danh mục định hướng đầu tư và quy định quyền tự chủcủa nhà đầu tư trong việc lựa chọn cơ hội đầu tư: Nghị định 24/2000/NĐ-CPcủa Chính phủ đã ban hành 5 danh mục về dự án khuyến khích và đặc biệtkhuyến khích đầu tư, địa bàn khuyến khích đầu tư, lĩnh vực đầu tư có điềukiện và lĩnh vực không được cấp phép đầu tư Hoạt động TK - TD - KTthuộc dang mục Dự án khuyến khích đầu tư quy định của Nghị định này, nếuxuất khẩu trên 80% sản phẩm trở lên thì thuộc danh mục dự án đặc biệtkhuyến khích đầu tư.
Tóm lại: Khi các nhà đầu tư nước ngoài muốn tham gia đầu tư vào Tìm
kiếm - thăm dò - khai thác Dầu khí tại Việt Nam thì cần phải biết rõ về cácchủ trương chính sách như: Hình thức đầu tư, Công tác triển khai dự án và tổchức kinh doanh, Chế độ kế toán, Bảo hiểm, Quản lí ngoại hối, Quan hệ ngoạihối, Đất đai, Xây dựng, Đấu thầu, Thủ tục cấp giấy phép đầu tư, Đảm bảo đầu
tư, Xử lí tranh chấp… thông qua các văn bản pháp luật sau:
- Luật Đầu tư nước ngoài sửa đổi 9/1996
- Nghị định 24/2000/NĐ-CP, Nghị định 27/2003/NĐ-CP, Nghị định164/2003/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Đầu tư nước ngoài
- Luật Dầu khí năm 1993 (đã sửa đổi, bổ sung ngày 9/6/2000)
- Nghị định số 48/2000/NĐ-CP ngày 12/9/2000 quy định chi tiết thi hànhLuật Dầu khí
- Nghị định số 34/2001/NĐ-CP ngày 6/7/2001 của Chính phủ ban hànhQuy chế đấu thầu dự án Tìm kiếm - thăm dò - khai thác dầu khí
- Quyết định số 216/1998/QĐ-TTg ngày 7/11/1998 của TTCP vềkhuyến khích đầu tư đối với hoạt động dầu khí tại các vùng nước sâu, xa bờ
và khu vực có điều kiện địa lý, địa chất, kinh tế, kỹ thuật đặc biệt khó khăn
- Quyết định số 41/1999/QĐ-TTg ngày 8/3/1999 của TTCP ban hànhQuy chế quản lí an toàn trong các hoạt động dầu khí
- Quyết định số 116/2001/QĐ-TTG ngày 2/8/2001 của TTCP về một số
Trang 39- Quyết định số 395/1998/QĐ-BKHCNMT ngày 10/4/1998 của Bộtrưởng Bộ Khoa học, công nghệ và môi trường về việc ban hành Quy chế bảo
vệ môi trường trong việc Tìm kiếm - thăm dò - phát triển mỏ - khai thác –tàng trữ - vận chuyển - chế biến dầu khí và các dịch vụ liên quan
- Quyết định số 229/2001/QĐ-BKH ngày 18/5/2001 của Bộ trưởng Bộ
Kế hoạch và Đầu tư ban hành Danh mục vật tư thiết bị phục vụ hoạt động dầukhí trong nước sản xuất được
- Thông tư số 48/2001/TT-BTC ngày 25/6/2001 của Bộ Tài chính hướngdẫn thực hiện quy định về thuế đối với các tổ chức, cá nhân tiến hành hoạtđộng tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí theo quy định của Luật Dầu khí
- Hợp đồng Liên doanh Điều hành chung (JOC)
- Hợp đồng Địa chấn không Độc quyền (S E)
- Hợp đồng Địa chấn Lựa chọn (S O)
- Hợp đồng Hợp tác kinh doanh (BCC)
Dạng hợp đồng dầu khí đầu tiên được áp dụng tại Việt Nam là hợp đồng
tô nhượng mà chính quyền Sài Gòn trước đây ký với các công ty Pecten,Mobil, Esso và Marathon để tiến hành các hoạt động dầu khí ở miền NamViệt Nam
Sau ngày giải phóng hoàn toàn đất nước, tháng 9 năm 1975, Tổng cụcDầu khí Việt Nam được thành lập, sau đó lập ra Tổng công ty Dầu khí ViệtNam (tháng 9 năm 1997), hầu hết các hợp đồng dầu khí giữa PetroVietnam
Trang 40và các đối tác nước ngoài được ký kết dưới hình thức Hợp đồng chia sảnphẩm (PSC), một hình thức của Hợp đồng Hợp tác Kinh doanh (BCC) theoLuật Đầu tư Nước ngoài tại Việt Nam (1988-1996-2000) và Luật Dầu khí(1993-2000) Điều khoản cơ bản của dạng hợp đồng này là nhà đầu tư đồng
ý tiến hành mọi hoạt động tìm kiếm, thăm dò bằng nguồn tài chính của riêngmình, nếu có phát hiện thương mại nhà đầu tư tiếp tục chi cho các hoạt độngphát triển, khai thác Lượng dầu khí khai thác lên sau khi nộp thuế tàinguyên sẽ được chia theo tỷ lệ sản lượng cho nước chủ nhà
Việc lựa chọn hình thức hợp đồng áp dụng, đặc biệt là với công việcthăm dò khai thác dầu khí, một lĩnh vực có tầm quan trọng về phương diệnkinh tế chính trị là việc làm cần có sự thận trọng
Trong giai đoạn 1988 – 2000, dạng Hợp đồng Chia Sản phẩm (PSC) đãđược lựa chọn là chủ yếu để áp dụng cho việc thăm dò khai thác dầu khí tạiViệt Nam Việc lựa chọn này đã tỏ ra hợp lý với việc hấp dẫn các nhà đầu tưnước ngoài, đồng thời góp phần tích cực trong quá trình chuyển giao côngnghệ, đào tạo nhân lực và giúp nước chủ nhà hội nhập dần dần với nền côngnghiệp dầu khí quốc tế Hình thức đặc biệt của PSC là JOC áp dụng trongnhững năm gần đây cho thấy PetroVietnam đã trưởng thành, có thể từng bướctham gia điều hành và tiến tới tự điều hành
1.2.2.4 Kết quả ĐTNN vào TK – TD – KT Dầu khí.
Sau hơn 18 năm hợp tác với nước ngoài đầu tư thăm dò tìm kiếm dầu khídưới dạng Hợp đồng Chia Sản phẩm, với chi phí đầu tư đáng kể (trên 7 tỷUSD), phần lớn từ nước ngoài, ta đã thực hiện được một khối lượng công việckhổng lồ
Kết quả đáng kể nhất là: với khối lượng thông tin kỹ thuật rất lớn thuđược từ công tác khoan và nghiên cứu địa chất, địa vật lý, ta đã có được mộthình ảnh tổng thể về tiềm năng dầu khí của Việt Nam Các trữ lượng tiềmnăng của các bể trầm tích chính như: Cửu Long, Nam Côn Sơn, Sông Hồng,