Nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới, vùng biển, giớituyến quân sự tạm thời và các mục tiêu trọng yếu ở nội địa của lực lượng Công annhân dân vũ trang hết sức nặng nề, khó khăn.T
Trang 1Họ và tên: Trần Thị Kim Sang
Địa chỉ: Trường Tiểu học Kim Đồng
Nghề nghiệp: Giáo viên trường Tiểu học Kim Đồng- thị trấn Thanh
Sơn-huyện Thanh Sơn- tỉnh Phú Thọ
Số điện thoại: 0378612998
BÀI DỰ THI Tìm hiểu về Biên giới và Bộ đội Biên phòng chào mừng kỉ niệm 60
năm ngày truyền thống Bộ đội Biên phòng và 30 năm
“Ngày Biên phòng toàn dân”
Câu 1: Công an nhân dân vũ trang (Bộ đội Biên phòng ngày nay) được thành lập ngày, tháng, năm nào? Ý nghĩa của việc ra đời lực lượng nòng cốt, chuyên trách trong quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia?
Ngày 19 tháng 11 năm 1958, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trng ương Đảng(khóa II) ra Nghị quyết 58/TWTW “Về việc thành lập lực lượng Cảnh vệ nội địa
và biên phòng” quyết định: "Thống nhất các đơn vị bộ đội quốc phòng đang làmnhiệm vụ bảo vệ nội địa, biên giới, bờ biển, giới tuyến và các đơn vị công an vũtrang thành một lực lượng vũ trang của Đảng và Nhà nước chuyên trách công tácbảo vệ nội địa và biên phòng giao cho ngành Công an trực tiếp chỉ đạo" Nghịquyết cũng chỉ rõ nhiệm vụ của lực lượng này là: "Trấn áp mọi hành động phá hoạicủa bọn phản cách mạng trong nước và bọn phản cách mạng ngoài nước xâm nhậpphá hoại nước ta, luôn luôn sẵn sàng chiến đấu bảo vệ an ninh biên giới, bờ biển,giới tuyến và nội địa, bảo vệ an toàn cho các cơ sở kinh tế, văn hóa quan trọng"
Ngày 3 tháng 3 năm 1959, thực hiện chủ trương đó, Thủ tướng Chính phủ raNghị định số: 100/TTg để: "Thống nhất các đơn vị bộ đội đang làm công tác bảo
Trang 2vệ nội địa, bảo vệ biên giới, giới tuyến, các đơn vị Công an Biên phòng và cảnh sát
vũ trang, thành lực lượng chuyên trách công tác biên phòng và bảo vệ nội địa, lấytên là Công an nhân dân vũ trang"
Từ đó, ngày 3 tháng 3 hằng năm được chọn làm Ngày truyền thống của lựclượng Bộ đội Biên phòng
Ngày 28 tháng 3 năm 1959, tại Thủ đô Hà Nội, lễ thành lập lực lượng Công
an nhân dân vũ trang được tổ chức trọng thể Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đến
dự lễ Tại đây, Người đã giao nhiệm vụ cho lực lượng Người nói: "Công an vàquân đội là hai cánh tay của nhân dân, của Đảng, của Chính phủ, của vô sảnchuyên chính" Bác ân cần dặn dò: "Công an và bộ đội phải cảnh giác, phải biếttrấn áp kẻ thù bên trong và kẻ địch bên ngoài Kẻ địch bên trong là bọn phản động,bọn phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; kẻ địch bên ngoài là bọn đếquốc, bọn xâm lược Chống bọn xâm lược và bọn phá hoại là nhiệm vụ của quânđội và công an nói riêng, của nhân dân nói chung, quân đội và công an phải dựavào nhân dân mới hoàn thành được"
Kết thúc phần huấn thị, Bác tặng thơ cho cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân
vũ trang:
"Đoàn kết cảnh giác Liêm chính, kiệm, cần.
Những vần thơ giản dị, mộc mạc nhưng ấm tình người của Bác - Người Chakính yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, đã trở thành phươngchâm tư tưởng và hành động của toàn thể cán bộ, chiến sĩ Biên phòng
Sau ngày thành lập, lực lượng Công an nhân dân vũ trang được tổ chứcthành ba cấp Ở Trung ương có Ban chỉ huy Công an nhân dân vũ trang Trungương Ở các tỉnh, thành, thành lập các ban chỉ huy Công an nhân dân vũ trang tỉnh,thành Ở biên giới, tổ chức các đồn Biên phòng Còn tỉnh, thành nội địa tổ chứccác phân đội bảo vệ tỉnh ủy, thành ủy, ủy ban nhân dân tỉnh, thành, các mục tiêutrọng yếu, hoặc canh giữ trại giam
Lực lượng Công an nhân dân vũ trang ra đời trong bối cảnh tình hình đấtnước và trên các tuyến biên giới diễn biến hết sức phức tạp Ở biên giới Việt-Trung, bọn phản cách mạng, bọn đặc vụ Tưởng tăng cường hoạt động xây dựngcăn cứ, móc nối với bọn phản động trong nước thành lập các tổ chức, tập hợp lựclượng phỉ, gây bạo loạn, chống phá cách mạng Ở biên giới Việt- Lào, bọn Mỹ-ngụy tăng cường hoạt động phá hoại miền Bắc bằng nhiều hình thức, liên kết vớibọn phản động trong phái hữu Lào thực hiện mưu đồ đánh vào cạnh sườn phía Tâycủa Việt Nam; chúng đẩy mạnh các hoạt động gây bạo loạn vũ trang, tổ chức lôikéo người Mông theo “châu phà”, xưng đón vua, nổi loạn cướp của giết người, đốtlàng, bản… gây tình trạng căng thẳng dọc biên giới Ở khu vực giới tuyến và trênvùng biển, Mỹ-ngụy thường xuyên tung các toán gián điệp, biệt kích ra miền Bắc
Trang 3điều tra thu thập tình hình, móc nối, cài cắm, xây dựng cơ sở ngầm và cấu kết vớibọn phản động lợi dụng tôn giáo, tổ chức phản động trong đồng bào dân tộc hoạtđộng phá hoại nhằm làm suy yếu hậu phương lớn miền Bắc; thực hiện chia cắt lâudài đất nước ta Nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới, vùng biển, giớituyến quân sự tạm thời và các mục tiêu trọng yếu ở nội địa của lực lượng Công annhân dân vũ trang hết sức nặng nề, khó khăn.
Trước tình hình trên, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cán bộ, chiến sỹ Công annhân dân vũ trang đã khoác ba lô rời đồng bằng, thành phố ngược lên vùng caobiên giới, tiến ra biển- đảo dựng đồn, lập trạm, thường xuyên bám sát địa bàn, bámsát nhân dân cùng với cấp uỷ, chính quyền địa phương xây dựng hệ thống chính trị
ở cơ sở, kiên trì bền bỉ tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện đúng chủ trương,chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; hướng dẫn nhân dân sản xuất, xâydựng quê hương biên giới giàu đẹp Nhiều tập thể và cá nhân đã đồng cam cộngkhổ, chia ngọt sẻ bùi, lăn lộn quên mình vì cuộc sống ấm no và hạnh phúc củanhân dân các dân tộc ở biên giới, vùng sâu, vùng xa, như anh hùng liệt sỹ TrầnVăn Thọ- người chiến sĩ biên phòng tiêu biểu cho truyền thống “Trung với Đảng,tận tuỵ với dân”, hết lòng vì hạnh phúc của nhân dân, luôn sống mãi cùng với đồngbào các dân tộc nói chung và dân tộc Hà Nhì nói riêng Đáp lại sự mến mộ của cácchiến sỹ biên phòng, nhân dân các dân tộc ở biên giới luôn giúp đỡ Công an nhândân vũ trang tiễu phỉ, dẹp bạo loạn bảo vệ cuộc sống thanh bình của nhân dân, như
ở Đồng Văn (Hà Giang), Kỳ Sơn (Nghệ An), Phong Thổ (Lai Châu), Y Tý- BátXát (Lào Cai), Thanh Y- Đầm Hà (Hải Ninh), Pù Nhi (Thanh Hoá)… thực hiện cóhiệu quả Chỉ thị 186/CT-TN (17-02-1960) của Ban Bí thư Trung ương Đảng ngănchặn và dập tắt âm mưu và thủ đoạn hoạt động gây phỉ và gây bạo loạn vũ trangcủa bọn phản động Từ năm 1959-1964, các đơn vị Công an nhân dân vũ trang đãchiến đấu tiêu diệt 115 tên, bắt sống hơn một trăm tên, vận động ra hàng gần nămnghìn tên, phá vỡ nhiều cơ sở của địch, đập tan âm mưu xây dựng “khu vực antoàn và tiếp đón” bọn phản động của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai ra hoạt động pháhoại hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa
Trên mặt trận đấu tranh chống gián điệp biệt kích của Mỹ- nguỵ bảo vệ anninh miền Bắc từ năm 1959-1964, với phương châm “giữ dưới đất là chính, giữbên trong là chính; làm trong sạch địa bàn, chuẩn bị sẵn lực lượng, thế trận; địchvào là đánh, bắt gọn để tiếp tục mở rộng chuyên án” và “dùng địch để đánh địch”,các đơn vị Công an nhân dân vũ trang đã mở nhiều chuyên án đánh địch đạt kếtquả cao như các chuyên án K33, K34, K26, K32, K35 chủ động đón bắt nhiềutoán gián điệp biệt kích cùng với số lượng lớn hàng tiếp tế của địch thả dù xuống
Từ năm 1961-1964, lực lượng Công an nhân dân vũ trang đã bắt 59 toán với hàngtrăm tên, thu nhiều vũ khí, phương tiện và trang bị; tiêu biểu là Công an nhân dân
vũ trang các tỉnh: Lai Châu, Sơn La, Nghĩa Lộ, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình…Năm 1965, trước yêu cầu tăng cường bảo vệ an ninh trật tự và phòng thủ miềnBắc, làm thất bại âm mưu leo thang chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ và bọntay sai đối với miền Bắc xã hội chủ nghĩa, ngày 28.4.1965 Bộ Chính trị Trungương Đảng (Khoá III) đã ra Nghị quyết số 116/NQ-TW về phân công nhiệm vụgiữa Quân đội nhân dân và lực lượng Công an nhân dân vũ trang trong việc bảo vệ
an ninh, trật tự ở miền Bắc và điều chỉnh một phần tổ chức của lực lượng Công an
Trang 4nhân dân vũ trang Đảng uỷ, Bộ Tư lệnh Công an nhân dân vũ trang đã tập trunglãnh đạo toàn lực lượng quán triệt và thực hiện nghiêm túc, khẩn trương Nghịquyết 116, đồng thời chỉ đạo các đơn vị đổi mới phương thức hoạt động đấu tranhngăn chặn có hiệu quả các hoạt động gián điệp, biệt kích của Mỹ- nguỵ, vớiphương thức tác chiến kết hợp chặt chẽ đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ an ninh,tuyên truyền vận động nhân dân tố giác, phát hiện và chiến đấu đánh địch bằngphân đội nhỏ, các đơn vị Công an nhân dân vũ trang đã phát hiện và vô hiệu hoácác hoạt động tình báo thời chiến của địch như: điều tra tình hình, bắt cóc cán bộ,
bộ đội, xây dựng cài cắm cơ sở ngầm, phục kích sát hại ta trên các trục đường cơđộng, đặt mìn phá hoại cầu cống, biệt kích xâm nhập bằng máy bay lên thẳng, tàuthuyền để tập kích phá hoại các công trình quốc phòng, mục tiêu quan trọng nhằmngăn chặn sự chi viện của miền Bắc đối với miền Nam
Cán bộ, chiến sỹ Công an nhân dân vũ trang đã mưu trí, dũng cảm chiếnđấu tiêu diệt 57 toán gián điệp, biệt kích, thám báo; bắt sống 133 tên; diệt 137 tên;phát hiện và xử lý hàng trăm đối tượng hoạt động gián điệp, tình báo, nhiều tổchức phản động lợi dụng tôn giáo, giải tán hàng trăm hội đoàn phản động; tiếnhành sưu tra, xác minh gần 32.000 đối tượng, 8.630 vụ việc nghi vấn; tập trung cảitạo 1.600 đối tượng; di chuyển hàng nghìn đối tượng ra khỏi khu vực biên giới đểlàm trong sạch địa bàn; đưa vào diện tập trung cải tạo 9.311 tên; cải tạo tại chỗ6.701 đối tượng, phát hiện hàng trăm người bị địch bắt cóc thả về sau khi đã kếtnạp họ vào tổ chức phản động “Mặt trận Gươm thiêng ái quốc”…
Trong cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ, địch đã tập trungném bom bắn phá miền Bắc, nhất là các tuyến biên giới ven biển rất ác liệt Từnăm1965 - 1972, địch đã ném bom hơn 1.250 lần vào các đồn, trạm biên phòng.Nhiều đồn trạm bị chúng đánh đi đánh lại nhiều lần và dùng máy bay B52 đánhphá mang tính huỷ diệt, như các đồn biên phòng Cha Lo, Cù Bai, Nước Sốt, Ròn,Cửa Hội… Với tinh thần “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, các đơn vị đãtích cực chủ động hiệp đồng, phối hợp với các lực lượng chiến đấu tại chỗ, vừachiến đấu đánh trả máy bay địch, vừa làm nhiệm vụ bảo vệ tuyệt đối an toàn cácmục tiêu trọng yếu được giao với quân số, vũ khí, trang bị có hạn, song do có sựchuẩn bị tốt về chính trị, tư tưởng, tổ chức phát huy tinh thần quyết chiến, quyếtthắng, chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, vận dụng cách đánh mưu trí, sáng tạo,các đơn vị Công an nhân dân vũ trang đã độc lập chiến đấu, lập công xuất sắc bắnrơi 219 máy bay Mỹ, phối hợp với các lực lượng vũ trang bắn hạ 225 chiếc khác,bắn bị thương 128 chiếc, bắt sống nhiều giặc lái, trụ vững trên địa bàn ác liệt.Nhiều đơn vị đánh giỏi, thắng lớn như Công an nhân dân vũ trang Quảng Bìnhbắn rơi 43 chiếc; Đặc khu Vĩnh Linh bắn rơi 29 chiếc, Nghệ An bắn rơi 22 chiếc…Đặc biệt, Đồn Ròn (Quảng Bình) là đơn vị đầu tiên bắn rơi máy bay phản lực bằngsúng bộ binh trong trận đầu tiên ngày 05-08-1964, Đồn Cha Lo (Quảng Bình) với
tổ bắn máy bay bố trí trên núi cao đã bắn rơi 2 máy bay địch Chiến công bắn rơimáy bay phản lực của Mỹ bằng súng bộ binh đã góp phần làm phong phú thêm khotàng kinh nghiệm chiến đấu chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta, làm phong phúthêm nghệ thuật tác chiến của quân đội ta và tô đậm thêm truyền thống “Dũng cảmtrước địch, vì nước quên thân” của Công an nhân dân vũ trang nay là Bộ đội biênphòng Thật kiêu hãnh và xúc động trước hình ảnh người chiến sỹ Công an nhân
Trang 5dân vũ trang làm nhiệm vụ ở cảng khi máy bay Mỹ đánh phá Cảng Hòn Gai,thuyền trưởng tàu các nước tư bản sợ máy bay Mỹ bắn vào tàu của họ đã đề nghị tacho hạ cờ Việt Nam để kéo cờ Mỹ lên; với ý thức trách nhiệm bảo vệ chủ quyềncủa đất nước, bảo vệ sự quyền uy của Nhà nước Việt Nam, các chiến sĩ Công annhân dân vũ trang đã kiên quyết từ chối, trả lời thẳng với thuyền trưởng: “Đây lànước Việt Nam dân chủ cộng hoà, không ai được phép kéo cờ Mỹ lên! Các ônghãy đi ẩn nấp, chúng tôi sẽ tiêu diệt máy bay Mỹ để bảo vệ cảng” Sau sự kiện đó,tất cả các thuỷ thủ, thuyền viên của các nước đều bày tỏ lòng khâm phục chủ nghĩaanh hùng cách mạng, lòng quả cảm, ý chí sắt đá tuyệt vời của nhân dân Việt Namnói chung và các chiến sỹ Công an nhân dân vũ trang nói riêng.
Trong thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốcgia, thấm nhuần quan điểm “không để mất một tấc đất của Tổ quốc, không để lọtmột phần tử nguy hiểm”, các đồn biên phòng đã không quản ngại khó khăn, vất vảthường xuyên tuần tra, kiểm soát chặt chẽ biên giới Trong mười năm từ 1965-
1975, các đơn vị đã làm thủ tục xuất nhập cảnh cho hàng triệu lượt người vàphương tiện với gần mười triệu tấn hàng hoá ra vào biên giới, giới tuyến, cảngbiển; đăng ký quản lý trên năm nghìn tàu thuyền đánh cá với hàng vạn thuỷ thủ,thuyền viên; bắt gần 700 vụ buôn lậu; phát hiện gần 900 người nghi vấn hoạt độngtình báo; ngăn chặn 30 vụ người theo đạo Thiên Chúa ở vùng biển bị địch lừa bịpvượt tuyến vào Nam và đi nước ngoài; điều tra cơ bản 442/444 xã biên phòng củamiền Bắc; xây dựng được màng lưới nắm tình hình rộng khắp, phát hiện và ngănchặn kịp thời các hoạt động phá hoại của địch
Với khẩu hiệu “một tấc không đi, một ly không rời”, các chiến sỹ Công annhân dân vũ trang đã không quản gian khổ hy sinh, vượt qua thử thách khắc nghiệtcủa “ruồi vàng, bọ chó, gió Lào”, đồng cam cộng khổ thực hiện bốn cùng với nhândân “cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói tiếng dân tộc”, vào tận rừng sâu, hang đánơi nhân dân sơ tán để giúp dân sản xuất; nhường cơm, xẻ áo cho nhân dân trongnhững lúc khó khăn, hoạn nạn do giặc Mỹ gây ra Các đồn biên phòng làm thammưu và cùng với chính quyền và các đoàn thể ở địa phương tuyên truyền vận độngnhân dân tham gia bảo vệ an ninh trật tự, xây dựng xã vững mạnh về chính trị vàtrật tự trị an; tổ chức bảo vệ ngư dân đánh cá trên biển và ngăn chặn các đối tượngxấu lợi dụng vượt biên, vượt biển Biết bao cán bộ, chiến sỹ đã không ngại hy sinhvượt qua lửa đạn để cứu người bị thương, bị sập hầm, dập tắt lửa không để bị cháyhàng nghìn ngôi nhà của nhân dân, hàng vạn tấn lương thực, hàng hóa của Nhànước Trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, trong những lúc khó khăn hiểm nghèo, bằng hành động gương mẫu và tinh thần dũng cảm của mình, thậm chí cả bằngxương máu để bảo vệ tài sản, tính mạng của nhân dân Cán bộ, chiến sỹ Công annhân dân vũ trang đã nêu tấm gương sáng chói về chủ nghĩa anh hùng cách mạng,truyền thống tốt đẹp của lực lượng Biết bao tấm gương tiêu biểu chiến đấu hy sinh
vì nhân dân như Anh hùng liệt sĩ Trần Văn Thọ, Anh hùng Hồ Phòm… mãi mãi đểlại hình ảnh đẹp đẽ trong đồng bào các dân tộc và làm cho sự gắn kết tình cảmquân dân càng thêm bền chặt
Trong thực hiện nhiệm vụ trực tiếp bảo vệ các lãnh tụ, cơ quan đầu não củaĐảng, Nhà nước và các mục tiêu trọng yếu ở nội địa: cán bộ, chiến sỹ Trung đoàn
600 và Trung đoàn 254 đã phát huy tốt vai trò của “chiến sỹ cận vệ”, luôn mài sắc
Trang 6tinh thần cảnh giác, không quản khó khăn, ngày đêm bảo vệ tuyệt đối an toàn choBác Hồ kính yêu, các cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, các cơ quanđầu não của Đảng, cơ quan ngoại giao, các đoàn khách quốc tế; các sân bay, bếncảng, đài phát thanh và các cơ quan trọng yếu khác ở tại chỗ cũng như nơi sơ tán,lúc đi công tác.
Trong 12 ngày đêm máy bay Mỹ đánh phá ác liệt ở Hà Nội cuối năm 1972,cán bộ, chiến sỹ Trung đoàn 254 vừa tham gia bắn máy bay tầm thấp, vừa bảo vệtuyệt đối an toàn các mục tiêu, như Đại đội 42 bảo vệ Đài Phát thanh Mễ Trì, nhiềulần địch dùng B52 ném bom rải thảm xuống khu vực, nhưng vẫn kiên cường bámtrụ bảo vệ mục tiêu Các đơn vị của Trung đoàn 600 trong chiến tranh phá hoại đãđào hàng nghìn mét giao thông hào, hầm phòng tránh, bảo đảm tuyệt đối an toàncho các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, các cuộc họp của Trungương Nhiều cán bộ, chiến sỹ đã lập chiến công và thành tích xuất sắc được Bác
Hồ và các đồng chí lãnh đạo biểu dương khen ngợi
Các đơn vị làm nhiệm vụ bảo vệ giới tuyến quân sự tạm thời đã vượt quamọi hiểm nguy, kiên trì bám dân, bám đất, chiến đấu bảo vệ bờ Bắc, giương cao lá
cờ của Tổ quốc phất phới tung bay, tạo niềm tin vững chắc cho nhân dân bờ Namđấu tranh chống âm mưu của Mỹ- ngụy chia cắt lâu dài đất nước Cán bộ, chiến sỹvừa làm nòng cốt cho nhân dân đấu tranh đòi Mỹ- ngụy phải thực hiện nghiêmchỉnh Hiệp định Giơ-ne-vơ; vừa chiến đấu đánh diệt lực lượng thám báo của địch,như “Biệt đội sưu tầm nguỵ”, màng lưới tình báo “Bắc Đẩu 11”, “Bắc Đẩu 12” ,diệt hàng trăm tên biệt kích, tề nguỵ ác ôn, góp phần củng cố cơ sở phía Nam vĩtuyến, ngăn chặn hoạt động của địch ra miền Bắc… Nhiều cán bộ, chiến sĩ đã vượtqua mọi thử thách khắc nghiệt, chiến đấu dũng cảm như Hồ Sĩ Chất, Trương Xà,Đào Xuân Phương, Phan Minh Đức
Trên chiến trường miền Nam, mặc dù chiến đấu trong hoàn cảnh cực kỳ giannan ác liệt, lực lượng An ninh vũ trang giải phóng vẫn giữ vững tấm lòng sắt son,kiên trung với cách mạng Thực hiện phương châm “một tấc không đi, một likhông rời”, kiên trì bền bỉ bám đất, bám dân, trụ vững hoạt động trong vùng địch,xây dựng cơ sở, diệt ác trừ gian cùng nhân dân chiến đấu lập công xuất sắc Nhiềuphân đội trinh sát An ninh vũ trang mưu trí, táo bạo, “xuất quỷ nhập thần” ngaygiữa sào huyệt của địch, tiến công tiêu diệt bọn ác ôn đầu sỏ, bọn thám báo biệtkích, làm cho địch kinh hồn, khiếp vía
Được nhân dân thương yêu đùm bọc, giúp đỡ chở che, cán bộ, chiến sỹ Anninh vũ trang vừa vận động tổ chức nhân dân đấu tranh, vừa tiến hành công tácbinh địch vận, phá vỡ nhiều tổ chức tình báo, mật vụ cài cắm ở thôn ấp, hỗ trợ đắclực cho các cuộc nổi dậy của quần chúng phá ách kìm kẹp, mở rộng vùng giảiphóng
Với lòng trung thành vô hạn, các đơn vị An ninh vũ trang làm nhiệm vụ bảo
vệ vùng giải phóng đã phối hợp chặt chẽ với các lực lượng vũ trang tại chỗ kịp thờiđánh trả, ngăn chặn nhiều trận tập kích của địch, bảo vệ tuyệt đối an toàn cho cácđồng chí lãnh đạo Trung ương Cục và các cơ quan đầu não của cách mạng miềnNam
Hướng về miền Nam thân yêu và chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam, từnăm 1964-1974, Bộ Tư lệnh Công an nhân dân vũ trang đã tổ chức chi viện cho
Trang 7lực lượng An ninh vũ trang miền Nam trên 5.000 cán bộ, chiến sỹ Được sự chiviện của Công an nhân dân vũ trang ở miền Bắc, lực lượng An ninh vũ trang miềnNam ngày càng lớn mạnh Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, lực lượng Anninh vũ trang đã lập nhiều chiến công, góp phần quan trọng giành thắng lợi trongcuộc Tổng tấn công và nổi dậy của quân và dân ta giải phóng miền Nam, thốngnhất Tổ quốc.
Những thành tích xuất sắc của lực lượng An ninh vũ trang miền Nam đã tôthắm thêm truyền thống vinh quang của lực lượng Công an nhân dân vũ trang.Nhiều tập thể và cá nhân tiêu biểu đã được Đảng, Nhà nước khen ngợi, nhân dântin yêu, mến phục, như lực lượng An ninh vũ trang Sài Gòn- Gia Định, Sóc Trăng,Phú Yên, Quảng Trị, Thừa Thiên- Huế, Trung đoàn 180 , các Anh hùng liệt sỹNguyễn Kim Vang, Trần Phong, Lê Hồng Nhị, Nguyễn Văn Bang và nhiều cán bộ,chiến sỹ ưu tú khác
Thực hiện nhiệm vụ quốc tế giúp cách mạng Lào, với tư tưởng “giúp bạn là
tự giúp mình” Trong những năm 1965- 1975, Bộ Tư lệnh Công an nhân dân vũtrang đã tổ chức nhiều đơn vị với hàng trăm cán bộ, chiến sỹ thường xuyên sátcánh với các đơn vị vũ trang của cách mạng Lào bảo vệ an toàn vùng giải phóng.Tích cực giúp bạn xây dựng và củng cố cơ sở chính trị, xây dựng lực lượng vũtrang, bảo vệ trị an, phát triển sản xuất, ổn định đời sống nhân dân các vùng biêngiới của bạn Các đơn vị đã tổ chức 96 tổ trinh sát gồm 215 trinh sát viên, 130 độicông tác sơ sở với 830 lượt cán bộ, chiến sĩ thường xuyên hoạt động trên đất bạn.Bằng biện pháp nghiệp vụ, phối hợp cùng bạn phát hiện hàng chục tổ chức nhennhóm phản động, hàng chục đường dây gián điệp biệt kích xâm nhập qua biên giới,tiến hành 1.614 cuộc lùng sục truy quét địch, đánh 92 trận, tiêu diệt và bắt 407 tên,gọi hàng 530 tên, thu nhiều vũ khí Nhiều tập thể và cá nhân lập công xuất sắcđược Bạn đánh giá cao, như: Phân đội 56- đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trangNghệ An, Tiểu đoàn 12 và các Anh hùng Võ Hồng Tuyên, Trần Văn Trí, NguyễnĐình Thử
Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, cán bộ, chiến sỹ Công an nhân dân vũtrang ở miền Bắc cũng như ở chiến trường miền Nam và làm nhiệm vụ quốc tế đãluôn dũng cảm, mưu trí trong chiến đấu, sắc bén, linh hoạt, sáng tạo trong công tác,gắn bó máu thịt với nhân dân, khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành xuấtsắc mọi nhiệm vụ, góp phần quan trọng vào thắng lợi của sự nghiệp chống Mỹ cứunước, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc; 73 đơn vị và 33 cá nhân đã đượcĐảng, Nhà nước tuyên dương danh hiệu cao quý “Anh hùng lực lượng vũ trangnhân dân”
Sau năm 1975, lực lượng Công an nhân dân vũ trang đã nhanh chóng triểnkhai tổ chức quản lý, bảo vệ biên giới, bờ biển trong toàn quốc với chiều dài gần8.000km; triển khai 143 đồn, 23 trạm biên phòng với hơn 6.000 cán bộ, chiến sỹ ởcác tỉnh thành miền Nam Các đơn vị đã phát hiện hơn 1.400 vụ xâm nhập vàobiên giới, bắt giữ 550 vụ, trong đó có 9 toán gián điệp biệt kích do CIA tổ chứcxâm nhập qua biên giới các tỉnh phía Nam và gần 300 tên phản động lưu vong xâmnhập qua biên giới các tỉnh phía Bắc; phát hiện gần 2.000 đối tượng địch cài cắm,móc nối, xây dựng cơ sở ngầm, triệt phá 70 vụ nhen nhóm tổ chức phản động lợidụng dân tộc, tôn giáo hoạt động chống phá cách mạng; phát hiện 31.687 lần chiếc
Trang 8tàu thuyền nước ngoài xâm nhập vùng biển khai thác hải sản trái phép và hoạtđộng thu thập tin tức tình báo; bắt xử lý trên 5.000 vụ buôn lậu và tội phạm hình
sự, trong đó có 7 vụ buôn lậu lớn; tổ chức trên 2.100 cuộc truy quét bọn tàn quânFULRO; diệt gần 450 tên, bắt hơn 300 tên, gọi hàng 300 tên; bắt hơn 1.000 tênngụy quân, ngụy quyền trốn trình diện; bắt 2.575 vụ trốn ra nước ngoài
Trong hai cuộc chiến tranh biên giới, cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân vũtrang đã thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng, nêu cao chủ nghĩa anh hùng cáchmạng, 27 tập thể, 21 cá nhân và toàn lực lượng Công an nhân dân vũ trang đã đượcĐảng, Nhà nước tuyên dương danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.Tiêu biểu cho sự hy sinh quên mình bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giớithiêng liêng của Tổ quốc, nêu tấm gương sáng ngời chủ nghĩa anh hùng cách mạngnhư: Đồn Biên phòng Ya Kla, Bu Brăng, Xa Mát, Phước Tân, Phú Mỹ, Cầu Ván,Long Khốt, Phân đội Long Bình, Đồn Pò Hèn, Đại đội 6 (Quảng Ninh), Sì Lờ Lầu,
Ma Lù Thàng, Lũng Làn, Bạch Đích, Trà Lĩnh, Sóc Giang, Tà Lùng, Hữu Nghịquan, Pò Mã, Pha Long, Đại đội 5 (Lào Cai)…
Sau năm 1978, tình hình trên các tuyến biên giới nước ta diễn biến phức tạp,
để đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, ngày 10-10-1979 Bộ Chínhtrị (Khoá IV) ra Nghị quyết 22/NQ-TW, ngày 19-11-1979 Hội đồng Chính phủ raQuyết định số 412/CP về phân công lại nhiệm vụ, đổi tên lực lượng Công an nhândân vũ trang thành Bộ đội biên phòng và chuyển từ Bộ Nội vụ (Bộ Công an) sang
Bộ Quốc phòng; ngày 19-11-1979 Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 1148/QP quyđịnh nhiệm vụ, hệ thống tổ chức của Bộ đội biên phòng Bộ Tư lệnh Bộ đội biênphòng đã tập trung chỉ đạo lực lượng Bộ đội biên phòng triển khai thực hiện cácbiện pháp phòng, chống âm mưu và hoạt động của địch trên từng tuyến biên giới,ven biển, hải đảo; nghiên cứu đề xuất đối sách và các biện pháp đấu tranh với từngloại đối tượng, nhất là biện pháp phòng, chống địch xâm nhập; phòng, chống địchmóc nối, cài cắm cơ sở ngầm, nhen nhóm tổ chức phản động gây rối an ninh, trật
tự, gây bạo loạn; phòng, chống âm mưu “vãi thóc tráng men, bôi lem quần chúng”của địch, củng cố cơ sở chính trị, xây dựng phòng tuyến an ninh nhân dân; chốngchiến tranh lấn chiếm biên giới; tổ chức thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 03/NQ-
TW về kiên quyết đánh bại kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch; Kế hoạch
10 về tấn công chính trị trên toàn tuyến biên giới phía Bắc và một số địa bàn trọngđiểm trên các tuyến biên giới khác
Thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả đối với nhân dân Campuchia anh em Bộ
Tư lệnh Bộ đội biên phòng đã thành lập 7 trung đoàn biên phòng làm nhiệm vụchiến đấu giúp cách mạng Campuchia Bộ đội biên phòng Việt Nam đã giúpCampuchia huấn luyện và triển khai tổ chức bảo vệ trên các tuyến biên giới củaCampuchia Cán bộ, chiến sỹ Bộ đội biên phòng làm nhiệm vụ quốc tế cao cả đãkhắc phục mọi khó khăn gian khổ, không quản ngại hy sinh, kề vai sát cánh cùngnhân dân Campuchia đánh bại bọn diệt chủng Pôn Pốt, bảo vệ thành quả cáchmạng Campuchia Tình đoàn kết, hữu nghị thuỷ chung trong sáng của người chiến
sỹ biên phòng Việt Nam đã để lại những ấn tượng hết sức tốt đẹp trong lòng nhândân Campuchia, góp phần tăng cường tình đoàn kết, hữu nghị với Campuchia vàcác nước trong khu vực
Trang 9Trong những năm 1987- 1995, tình hình thế giới, khu vực có nhiều thay đổi,tình hình an ninh biên giới diễn biến hết sức phức tạp Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm
vụ trong tình hình mới, ngày 30-11-1987 Bộ Chính trị (Khoá VI) ra Nghị quyết 07/NQ-TW, ngày 21-6-1988 Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 104/QĐ-HĐBTchuyển lực lượng Bộ đội biên phòng từ Bộ Quốc phòng sang Bộ Nội vụ (Bộ Côngan) Bộ Tư lệnh đã chỉ đạo các đơn vị thực hiện nghiêm túc chủ trương của Đảng,Nhà nước, xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị, phục vụ đắc lực cho công cuộcđổi mới đất nước; thực hiện 10 đối sách biên phòng nhằm ngăn chặn xung đột,giảm đối đầu, giảm các hoạt động vũ trang; tăng cường hoạt động phòng chống cáchoạt động gián điệp, tình báo, chiến tranh tâm lý, triệt phá các tổ chức phản động;giải quyết tốt các vụ xâm canh, xâm cư lấn chiếm biên giới và chống chiến tranhphá hoại nhiều mặt của địch; nghiên cứu đổi mới công tác kiểm soát xuất-nhậpcảnh tại các cửa khẩu biên giới, phục vụ chính sách mở cửa, mở rộng giao lưu hợptác với các nước trên thế giới Bộ Tư lệnh đã thành lập các hải đoàn, hải đội, tăngthêm đồn, trạm biên phòng ở ven biển, hải đảo; tăng cường bảo vệ chủ quyền anninh trên các vùng biển của đất nước Bộ Tư lệnh đã tập trung chỉ đạo các đơn vịlàm tốt công tác biên phòng, xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị; giữ vững chủquyền an ninh biên giới quốc gia; phát hiện, bắt diệt các toán phản động lưu vongxâm nhập như: bọn Lê Quốc Tuý, Mai Văn Hạnh, Hoàng Cơ Minh, Trần VănĐô…
Trên cơ sở tổng kết hoạt động thực tiễn xây dựng và bảo vệ biên giới, thấmnhuần quan điểm “Biên phòng toàn dân” của Đảng, Nhà nước, Đảng uỷ, Bộ Tưlệnh làm tham mưu và kiến nghị với Chính phủ ban hành Quyết định số 16/QĐ-HĐBT về tổ chức Ngày Biên phòng hàng năm, bắt đầu từ ngày 3-3-1989 nhằmphát huy sức mạnh tổng hợp của cả nước bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốcgia, xây dựng khu vực biên giới vững mạnh, động viên giáo dục nhân dân và cáctầng lớp xã hội hướng về biên giới, giúp đỡ nhân dân biên giới xây dựng cuộc sống
ấm no hạnh phúc
Trước tình hình diễn biến phức tạp ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa
ở Đông Âu; để chủ động phòng ngừa ngăn chặn các hoạt động “Diễn biến hoàbình”- gây bạo loạn lật đổ của địch, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốctrong tình hình mới, ngày 8-8-1995 Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng(Khoá VII) đã ra Nghị quyết số 11/NQ-TW về xây dựng Bộ đội biên phòng trongtình hình mới; ngày 16-11-1995 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số754/TTg chuyển lực lượng Bộ đội biên phòng từ Bộ Nội vụ sang Bộ Quốc phòng.Thực hiện Nghị quyết 11 của Bộ Chính trị và để tăng cường chức năng quản lý nhànước về biên giới quốc gia, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm phápluật quan trọng như: Luật Biên giới quốc gia, Pháp lệnh Bộ đội biên phòng, Nghịđịnh 02/1998/NĐ-CP, Nghị định 34/2000/NĐ/-CP, Nghị định 161/2003/NĐ-CP.Đồng thời, tiến hành đàm phán, ký kết các hiệp ước, hiệp định về biên giới với cácnước, tạo môi trường hoà bình, ổn định lâu dài với các nước láng giềng
Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ huy, chỉ đạo các cơ quan,đơn vị trong toàn lực lượng tổ chức quán triệt sâu sắc Nghị quyết 11 và các vănbản pháp luật của Nhà nước, quy định của Bộ Quốc phòng, phấn đấu hoàn thànhxuất sắc nhiệm vụ Các đơn vị Bộ đội biên phòng đã không ngừng rèn luyện bản
Trang 10lĩnh chính trị, nâng cao trình độ sẵn sàng chiến đấu, nghiệp vụ, pháp luật, đổi mớicác biện pháp công tác, phối hợp với các ngành, các lực lượng chức năng và địaphương xây dựng thế trận biên phòng toàn dân vững mạnh gắn với thế trận an ninhnhân dân và thế trận quốc phòng toàn dân, xây dựng phong trào quần chúng thamgia tự quản đường biên, cột mốc, giữ gìn an ninh trật tự ở biên giới Từ năm 2001đến nay, Bộ đội biên phòng đã phát hiện, đấu tranh ngăn chặn hàng trăm vụ xâmnhập, vượt biên; 327 vụ mua bán phụ nữ, trẻ em qua biên giới; 362 vụ buôn lậu,hơn 1.000 vụ mua bán vận chuyển ma tuý qua biên giới Trong cuộc đấu tranh gay
go quyết liệt với các loại tội phạm, nhiều cán bộ, chiến sỹ Bộ đội biên phòng đãanh dũng hy sinh, như: các Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Cảnh Dần, Phạm Văn Điền,Phạm Xuân Phong, Và Bá Giải…
Thấm nhuần lời Bác Hồ dạy “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lầndân liệu cũng xong”, Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh thường xuyên chỉ đạo các đơn vị tíchcực chủ động làm tham mưu và cùng với cấp uỷ, chính quyền địa phương xâydựng, củng cố cơ sở chính trị, phát triển kinh tế, văn hoá- xã hội, xoá đói giảmnghèo, góp phần nâng cao dân trí, cải thiện dân sinh, xây dựng và củng cố “thế trậnlòng dân” thật sự vững chắc Các đồn biên phòng đã cử 438 sỹ quan tăng cườngcho hơn 400 xã biên giới đặc biệt khó khăn; tham mưu cho địa phương kiện toànhàng nghìn tổ chức cơ sở đảng, uỷ ban nhân dân, tổ chức mặt trận, công an, dânquân, đoàn thanh niên, hội phụ nữ và hội cựu chiến binh Triển khai thực hiện 124
dự án kinh tế- xã hội với tổng số vốn gần 800 tỷ đồng; tổ chức định canh, định cưbền vững cho hàng ngàn hộ dân, hướng dẫn nhân dân làm ruộng nước, đổi mới câytrồng, chăn nuôi tăng thu nhập, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân
Hình ảnh “Thầy giáo quân hàm xanh”, “Thày thuốc quân hàm xanh”, “Chiến
sĩ tuyên truyền văn hoá quân hàm xanh”… đã thực sự chiếm được tình cảm, sự tinyêu và quý mến của nhân dân các dân tộc, tô thắm thêm truyền thống tốt đẹp của
“Bộ đội cụ Hồ” trong thời kỳ mới
Tiêu biểu cho thời kỳ đổi mới là các tập thể và cá nhân được Đảng và Nhànước tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân như: Đồn Bạch Đích,Sầm Sơn, Nậm Cắn, Đồn 551 (Nghệ An); Đồn An Thới, Bộ đội Biên phòng tỉnh
Hà Tĩnh, Đồn Trại Trụ, Bình Châu, Hải đội 2- Hải Phòng, Hải đội 2- Quảng Ninh,Đồn Biên phòng cửa khẩu cảng Hòn Gai, Tiểu đoàn 1- Trung đoàn 21 Thông tin;Phòng Cơ yếu- Bộ Tham mưu, Đồn Làng Mô, Hoành Mô, Pò Hèn, Quang Chiểu,Đồn Biên phòng cửa khẩu cảng Nghi Sơn, Cục Trinh sát Biên phòng, Đoàn Nghệthuật Bộ đội biên phòng…; Đại tá Lê Minh Cơ- Chỉ huy trưởng BĐBP Sóc Trăng,liệt sĩ Nguyễn Cảnh Dần, liệt sĩ Lê Xuân Phong, liệt sĩ Và Bá Giải, liệt sĩ Phạm
Trang 11Văn Điền; Đại tá Võ Trọng Việt- Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng Hà Tĩnh, nay
là Thượng tướng - Thứ trưởng Bộ quốcphòng
Trải qua gần nửa thế kỷ chiến đấu, xây dựng và trưởng thành, Bộ đội biênphòng đã vượt qua mọi khó khăn thử thách, không ngừng phấn đấu vươn lên hoànthành xuất sắc mọi nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước đánh giá cao Những chiếncông, thành tích xuất sắc của Bộ đội biên phòng đã góp phần giữ ổn định lâu dàibiên giới quốc gia, phục vụ đắc lực nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ViệtNam xã hội chủ nghĩa, tô thắm thêm truyền thống vẻ vang hào hùng của dân tộc vàcủa các lực lượng vũ trang nhân dân Toàn lực lượng Bộ đội biên phòng rất vinh
dự được Đảng, Nhà nước tuyên dương danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũtrang nhân dân, được tặng thưởng Huân chương Sao vàng, 2 Huân chương Hồ ChíMinh, 2 Huân chương Độc lập hạng Nhì, 1 Huân chương Quân công hạng Nhất, 1Huân chương Quân công hạng Ba, 135 đơn vị, 62 cá nhân được Đảng và Nhà nướctuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, trong đó có 5 tậpthể được tuyên dương Anh hùng lần thứ hai, 32 tập thể và 10 cá nhân được tuyêndương Anh hùng trong thời kỳ đổi mới; 7313 lượt đơn vị, cá nhân được tặngthưởng Huân chương Quân công, Huân chương Chiến công và Huân chương Laođộng; hàng vạn lượt đơn vị và cá nhân được tặng cờ, bằng khen của Chính phủ, BộQuốc phòng, Bộ Công an Những phần thưởng cao quý mà Đảng, Nhà nước traotặng là nguồn động viên hết sức to lớn đối với Bộ đội biên phòng, chắp cánh chocán bộ, chiến sỹ không ngừng phấn đấu vươn lên lập nhiều thành tích trong sựnghiệp bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới của Tổ quốc
Bộ đội biên phòng phát triển lớn mạnh như ngày nay chính là do có sự lãnhđạo, giáo dục của Đảng, của Bác Hồ kính yêu; sự giúp đỡ to lớn của các bộ, banngành ở Trung ương, cấp uỷ, chính quyền và nhân dân địa phương, sự hy sinh tolớn của các anh hùng liệt sỹ, các đồng chí thương binh cùng với lớp lớp cán bộ,chiến sỹ qua các thế hệ đã hết lòng tận trung với Đảng, tận hiếu với dân, kiên trìbám trụ bảo vệ vững chắc biên cương của Tổ quốc
Trang 12Câu 2: Từ khi ra đời đến nay, Công an nhân dân vũ trang (BĐBP) có bao nhiêu đơn vị, cá nhân được Đảng và Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng LLVTND? Toàn lực lượng mấy lần được tuyên dương danh hiệu Anh hùng? Có bao nhiêu tập thể, cá nhân được tuyên dương danh hiệu Anh hùng LLVTND lần thứ 2?
Trải qua 58 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, lực lượng Công annhân dân vũ trang trước đây, BĐBP ngày nay đã vinh dự có 154 lượt tập thể và 67
cá nhân được Đảng, Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng LLVTND, cùngnhiều phần thưởng cao quý
Lực lượng Bộ đội Biên phòng Việt Nam hai lần được tuyên dương AnhHùng LLVTND (vào tháng 12 năm 1979 và tháng 2 năm 2009)
Có 8 tập thể được tuyên dương lần thứ 2, gồm: Lực lượng BĐBP; Đồn Biênphòng CKQT Hữu Nghị - BĐBP Lạng Sơn; Đồn Biên phòng Cù Bai - BĐBPQuảng Trị; Trạm kiểm soát Cửa Hội thuộc Đồn Biên phòng cửa khẩu cảng Cửa Lò
- BĐBP Nghệ An; Đồn Biên phòng Pha Long - BĐBP Lào Cai; Đồn Biên phòng
Pò Hèn - BĐBP Quảng Ninh; Đồn Biên phòng Cầu Ván - BĐBP Đồng Tháp; ĐồnBiên phòng CKQT Cầu Treo - BĐBP Hà Tĩnh
CÁC TẬP THỂ ĐƯỢC TUYÊN DƯƠNG ANH HÙNG
1 Lực lượng Công an nhân dân vũ trang (CANDVT)- Tuyên dương ngày
19-12-1979
2 Đồn 235 (CùBai) CANDVT Vĩnh Linh- Tuyên dương ngày 01-01-1967
3 Đồn 111 (Cha Lo) CANDVT Quảng Bình- Tuyên dương ngày 01-01-1967
4 Đồn 93 (Cầu Treo) CANDVT Hà Tĩnh- Tuyên dương ngày 01-01-1967
5 Trạm Hiền Lương CANDVT Vĩnh Linh- Tuyên dương ngày 25-8-1970
6 Đồn 120 (Ròn) CANDVT Quảng Bình- Tuyên dương ngày 25-8-1970
7 Đồn 132 (Ngư Thủy) CANDVT Quảng Bình- Tuyên dương ngày 25-8-1970
8 Trạm 75 (Nậm Cắn) CANDVT Nghệ An- Tuyên dương ngày 25-8-1970
9 Trạm kiểm soát Cửa Hội- Đồn 156 (Cửa Lò) CANDVT Nghệ An- Tuyên dươngngày 25-8-1970
10 Phân đội 3 Vận tải- Cục Hậu cần CANDVT- Tuyên dương ngày 25-8-1970
11 Đồn 235 (Cù Bai) CANDVT Vĩnh Linh- Tuyên dương ngày 3-9-1973 (Tuyên
dương lần thứ hai).
12 Đồn 532 (Cửa Tùng) CANDVT Vĩnh Linh- Tuyên dương ngày 3-9-1973
13 Trạm 305 (Cảng Sông Gianh) CANDVT Quảng Bình- Tuyên dương ngày 1973
3-9-14 Trạm kiểm soát Cửa Hội- Đồn 156 (Cửa Lò) CANDVT Nghệ An- Tuyên
dương ngày 3-9-1973 (Tuyên dương lần thứ hai).
15 Đồn 41 (Pù Nhi) CANDVT Thanh Hóa- Tuyên dương ngày 3-9-1973
16 Đồn 34 (Tràng Cát) CANDVT Hải Phòng- Tuyên dương ngày 3-9-1973
17 Phân đội 3 bảo vệ Cầu Hàm Rồng- CANDVT Thanh Hóa- Tuyên dương
ngày 3-9-1973
18 Trạm cảng 303 CANDVT Hải Phòng- Tuyên dương ngày 3-9-1973
19 Trạm 301 (Cửa Ông) CANDVT Quảng Ninh- Tuyên dương ngày 3-9-1973
20 Đồn 5 (Leng Xu Xìn) CANDVT Lai Châu- Tuyên dương ngày 3-9-1973
21 Đồn 119 (Làng Ho) CANDVT Quảng Bình- Tuyên dương ngày 31-12-1973
Trang 1322 Đại đội 2 CANDVT Quảng Bình- Tuyên dương ngày 31-12-1973
23 Phân đội 56 CANDVT Nghệ An- Tuyên dương ngày 31-12-1973
24 Đồn 23 (Chiềng Khương) CANDVT Sơn La- Tuyên dương ngày 31-12-1973
25 Đồn 15 (Tây Trang) CANDVT Lai Châu- Tuyên dương ngày 31-12-1973
26 Tiểu đoàn 1 An ninh vũ trang Miền Nam- Tuyên dương ngày 24-1-1976
27 Đội An ninh vũ trang Khu Tây Nam Bộ- Tuyên dương ngày 24-1-1976
28 Đội An ninh vũ trang Khu Nam Trung Bộ- Tuyên dương ngày 24-1-1976
29 Đội An ninh vũ trang tỉnh Mỹ Tho- Tuyên dương ngày 24-1-1976
30 Đội An ninh vũ trang tỉnh Sa Đéc- Tuyên dương ngày 24-1-1976
31 Đội An ninh vũ trang tỉnh Vĩnh Long- Tuyên dương ngày 24-1-1976
32 Đội An ninh vũ trang tỉnh Trà Vinh- Tuyên dương ngày 24-1-1976
33 Đội An ninh vũ trang tỉnh Cần Thơ- Tuyên dương ngày 24-1-1976
34 Đội An ninh vũ trang tỉnh Sóc Trăng- Tuyên dương ngày 24-1-1976
35 Đội Trinh sát vũ trang tỉnh Mỹ Tho- Tuyên dương ngày 24-1-1976
36 Đội Trinh sát vũ trang tỉnh Vĩnh Long- Tuyên dương ngày 24-1-1976
37 Đội Trinh sát vũ trang- Ban An ninh nhân dân tỉnh Cà Mau - Tuyên dươngngày 24-1-1976
38 Đội Trinh sát vũ trang Ban An ninh nhân dân huyện Gò Dầu tỉnh Tây Ninh Tuyên dương ngày 24-1-1976
-39 Đội Trinh sát vũ trang- Ban An ninh nhân dân huyện Thạnh Phú- tỉnh Bến Tre
- Tuyên dương ngày 24-1-1976
40 Đội Trinh sát vũ trang- Ban An ninh nhân dân huyện Quảng Đà- tỉnh
Quảng Nam-Đà Nẵng- Tuyên dương ngày 6-6-1976
41 Đội Trinh sát vũ trang- Ban An ninh nhân dân huyện Quảng Nam- tỉnh
Quảng Nam-Đà Nẵng- Tuyên dương ngày 6-6-1976
42 Đội Trinh sát vũ trang- Ban An ninh nhân dân tỉnh Quảng Ngãi - Tuyên dươngngày 6-6-1976
43 Đội Trinh sát vũ trang- Ban An ninh nhân dân Thành phố Sài Gòn-Gia Tuyên dương ngày 6-6-1976
Định-44 Đội Trinh sát chính trị và trinh sát vũ trang- Ban An ninh nhân dân tỉnh SaĐéc- Tuyên dương ngày 6-6-1976
45 Đội Trinh sát vũ trang huyện Mỏ Cày Nam- Ban An ninh nhân dân tỉnh BếnTre- Tuyên dương ngày 6-6-1976
46 Đội Trinh sát vũ trang và an ninh vũ trang huyện Giồng Trôm- Tỉnh Bến Tuyên dương ngày 6-6-1976
Tre-47 Đại đội 1- An ninh vũ trang- Ban an ninh nhân dân tỉnh Quảng Trị- Tuyêndương ngày 6-6-1976
48 Đại đội 32, Tiểu đoàn 10- An ninh vũ trang- Ban an ninh nhân dân TrungTrung Bộ- Tuyên dương ngày 6-6-1976
49 Đội 113- Tiểu đoàn 10- An ninh vũ trang- Ban an ninh nhân dân tỉnhQuảng Nam-Đà Nẵng (Quảng Đà cũ)- Tuyên dương ngày 6-6-1976
50 Đội An ninh vũ trang tỉnh Bình Định- Tuyên dương ngày 6-6-1976
51 Đội An ninh vũ trang- Ban an ninh nhân dân tỉnh Phú Yên- Tuyên dươngngày 6-6-1976
52 Đoàn An ninh nhân dân vũ trang Thành phố khu Sài Gòn-Gia Định- Tuyên
Trang 14dương ngày 6-6-1976.
53 Đội An ninh nhân dân vũ trang- Ban an ninh nhân dân tỉnh Bến Tre- Tuyêndương ngày 6-6-1976
54 Đồn 112 (Đèo Ngang) CANDVT Nghệ Tĩnh- Tuyên dương ngày 31-10-1978
55 Đồn 81 (Na Ngoi) CANDVT Nghệ Tĩnh- Tuyên dương ngày 31-10-1978
56 Đồn 43 (Na Mèo) CANDVT Thanh Hóa- Tuyên dương ngày 31-10-1978
57 Đồn 8 (Cô Tô) CANDVT Quảng Ninh- Tuyên dương ngày 31-10-1978
58 Đồn 13 (Mường Mươn) CANDVT Lai châu- Tuyên dương ngày 31-10-1978
59 Đại đội 2 CANDVT Lai Châu- Tuyên dương ngày 31-10-1978
60 Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 2 Bộ Tư lệnh CANDVT- Tuyên dương ngày 1978
31-10-61 Trạm Kiểm soát Nghi Sơn, Đồn 82, CANDVT Thanh Hóa- Tuyên dươngngày 31-10-1978
62 Tiểu đội 3, Phân đội 180 CANDVT Quảng Trị- Tuyên dương ngày 1978
31-10-63 Đồn 737 (Xa Mát) CANDVT Tây Ninh- Tuyên dương ngày 31-10-1978
65 Đồn 749 (Phước Tân) CANDVT Tây Ninh- Tuyên dương ngày 31-10-1978
66 Đồn 8 (Bu Prăng) CANDVT Đắc Lắc (Nay là Đồn 771)- Tuyên dươngngày 31-10-1978
67 Đồn 193 (Hữu Nghị Quan) CANDVT Lạng Sơn- Tuyên dương ngày 1978
10-68 Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 12, Bộ Tư lệnh CANDVT- Tuyên dương ngày 10-1978
31-69 Đội Trinh sát vũ trang- Ban An ninh nhân dân huyện Điện Bàn- TỉnhQuảng Nam-Đà Nẵng - Tuyên dương ngày 6-11-1978
70 Đội Trinh sát vũ trang- Ban An ninh nhân dân huyện Đại Lộc- Tỉnh
Quảng Nam-Đà Nẵng - Tuyên dương ngày 6-11-1978
71 Đội Trinh sát vũ trang- Ban An ninh nhân dân huyện Điện Bàn- TỉnhQuảng Nam-Đà Nẵng - Tuyên dương ngày 6-11-1978
72 Đội Trinh sát vũ trang- Ban An ninh nhân dân huyện Duy Xuyên- TỉnhQuảng Nam-Đà Nẵng - Tuyên dương ngày 6-11-1978
73 Đội Trinh sát vũ trang- Ban An ninh nhân dân tỉnh Kiên Giang- Tuyên dươngngày 6-11-1978
74 Đội Trinh sát vũ trang- Ban An ninh nhân dân huyện An Biên- Tỉnh KiênGiang- Tuyên dương ngày 6-11-1978
75 Đội Trinh sát vũ trang- Ban An ninh nhân dân thị xã Long Khánh- Tỉnh ĐồngNai- Tuyên dương ngày 6-11-1978
76 Đội Trinh sát vũ trang- Ban An ninh nhân dân tỉnh Trà Vinh-Tuyên dươngngày 6-11-1978
77 Công an nhân dân vũ trang tỉnh Bình Trị Thiên- Tuyên dương ngày 1979
19-12-78 Công an nhân dân vũ trang tỉnh Nghệ Tĩnh- Tuyên dương ngày 19-12-1979
79 Công an nhân dân vũ trang tỉnh Lai Châu- Tuyên dương ngày 19-12-1979
80 Công an nhân dân vũ trang tỉnh Quảng Ninh- Tuyên dương ngày 19-12-1979
81 Trung đoàn 600 CANDVT- Tuyên dương ngày 19-12-1979
Trang 1582 Trung đoàn 12 CANDVT- Tuyên dương ngày 19-12-1979.
83 Đồn 193 (Hữu Nghị) CANDVT Lạng Sơn- Tuyên dương ngày
19-12-1979 (Tuyên dương lần thứ hai).
84 Đồn 187 (Pò Mã) CANDVT Lạng Sơn- Tuyên dương ngày 19-12-1979
85 Đồn 179 (Tà Lùng) CANDVT Cao Bằng- Tuyên dương ngày 19-12-1979
86 Đồn 133 (Pha Long) CANDVT Hoàng Liên Sơn- Tuyên dương ngày 1979
19-12-87 Đồn 1 (Sì Lờ Lầu) CANDVT Lai Châu- Tuyên dương ngày 19-12-1979
88 Đồn 33 (Ma lù Thàng) CANDVT Lai Châu- Tuyên dương ngày 19-12-1979
89 Đồn 209 (Pò Hèn) CANDVT Quảng Ninh- Tuyên dương ngày 19-12-1979
90 Đồn 155 (Lũng Làn) CANDVT Hà Tuyên- Tuyên dương ngày 19-12-1979
91 Đồn 829 (Phú Mỹ) CANDVT Kiên Giang- Tuyên dương ngày 19-12-1979
92 Đồn 793 (Cầu Ván) CANDVT Đồng Tháp- Tuyên dương ngày 19-12-1979
93 Đồn 773 (Long Khốt) CANDVT Long An- Tuyên dương ngày 19-12-1979
94 Đồn 649 (Ya Kla) CANDVT Gia Lai-Kon Tum- Tuyên dương ngày 1979
19-12-95 Đại đội 11, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 16- Bộ Tư lệnh CANDVT- Tuyên dươngngày 19-12-1979
96 Đại đội 5 CANDVT Lạng Sơn- Tuyên dương ngày 19-12-1979
97 Đại đội 6 CANDVT Quảng Ninh- Tuyên dương ngày 19-12-1979
98 Phân đội cơ động thuộc Đồn Long Bình CANDVT An Giang- Tuyên dươngngày 19-12-1979
99 Trạm 171 (Cửa khẩu, thuộc Đồn Trà Lĩnh) CANDVT Cao Bằng- Tuyên dươngngày 19-12-1979
100 Đồn 167 (Sóc Giang) CANDVT Cao Bằng- Tuyên dương ngày 19-12-1979
101 Tiểu đoàn 2 Bộ đội biên phòng, Trung đoàn 688, Sư đoàn 5, Mặt trận Tuyên dương ngày 25-1-1983
479-102 Tiểu đoàn 218 Biên phòng, Trung đoàn 14 BĐBP, Quân đoàn 4- Tuyêndương ngày 25-1-1983
103 Đồn 191 (Nghĩa Thuận) BĐBP Hà Tuyên- Tuyên dương ngày 17-8-1990
104 Đồn 231 (Tả Gia Khâu) BĐBP Lào Cai- Tuyên dương ngày 17-8-1990
105 Đồn biên phòng 105 (Bạch Đích) Bộ chỉ huy Quân sự Hà Tuyên- Quân khu Tuyên dương ngày 29-8-1985
2-106 Đồn biên phòng 206 (Vạn Hòa, Cửa khẩu Lào Cai) Bộ chỉ huy Quân sựHoàng Liên Sơn- Quân khu 2- Tuyên dương ngày 29-8-1985
107 Đồn 304 (Sa Huỳnh) BĐBP Quảng Ngãi- Tuyên dương ngày 20-12-1990
108 Đồn biên phòng 163 (Săm Pun) BĐBP Hà Giang- Tuyên dương ngày 1995
8-109 Đồn biên phòng 19 (Quảng Đức) BĐBP Quảng Ninh- Tuyên dương ngày 8-1995
3-110 Đồn biên phòng 539 (Nậm Cắn) BĐBP Nghệ An- Tuyên dương ngày 1995
3-8-111 Hải đội 4 BĐBP Hải Phòng - Tuyên dương ngày 3-8-1995
112 Đồn biên phòng 122 (Sầm Sơn) BĐBP Thanh Hóa- Tuyên dương ngày
3-8-1995
Trang 16113 Đồn biên phòng 750 (An Thới) BĐBP Kiên Giang- Tuyên dương ngày 1995.
3-8-114 Đồn biên phòng 941 (Vĩnh Hội Đông) BĐBP An Giang- Tuyên dươngngày 3-8-1995
115 Đồn biên phòng 571 BĐBP Hà Tĩnh- Tuyên dương ngày 29-1-1996
116 Đồn biên phòng 484 BĐBP Bà Rịa-Vũng Tàu- Tuyên dương ngày 1996
29-1-117 Đồn biên phòng 692 BĐBP Minh Hải- Tuyên dương ngày 29-1-1996
118 Đồn biên phòng 977 (Xà Xía) BĐBP Kiên Giang- Tuyên dương ngày 1996
119 Tiểu đoàn 21 Thông tin- Cục Tham mưu BĐBP- Tuyên dương ngày 1996
29-1-120 Phòng Trinh sát BĐBP Nghệ An- Tuyên dương ngày 31-7-1998
121 Đồn biên phòng 597 (Làng Mô) BĐBP Quảng Bình- Tuyên dương ngày 7-1998
31-122 Đồn 925 cửa khẩu Sông Tiền BĐBP An Giang- Tuyên dương ngày 1998
31-7-123 Hải đội 2 BĐBP Quảng Ninh- Tuyên dương ngày 11-6-1999
124 Đồn biên phòng cửa khẩu cảng Hòn Gai BĐBP Quảng Ninh- Tuyên dươngngày 28-4-2000
125 Đồn 188 (Cửa Gianh) BĐBP Quảng Bình 188- Tuyên dương ngày 2000
28-4-126 Phòng Cơ yếu thuộc Bộ Tham mưu Bộ Tư lệnh BĐBP- Tuyên dươngngày 12-12-2000
127 Cục Trinh sát Bộ Tư lệnh BĐBP- Tuyên dương ngày 12-12-2000
128 Đồn biên phòng 272 BĐBP Quảng Nam- Tuyên dương ngày 12-12-2000
129 Đồn biên phòng 15 (Pò Hèn) BĐBP Quảng Ninh- Tuyên dương ngày
12-12-2000 (Tuyên dương lần thứ hai).
130 Đồn biên phòng 917 BĐBP Đồng Tháp- Tuyên dương ngày
12-12-2000 (Tuyên dương lần thứ hai).
131 Đồn biên phòng 551 BĐBP Nghệ An- Tuyên dương ngày 20-12-2004
132 Đoàn Nghệ thuật BĐBP- Tuyên dương ngày 22-12-2004
133 Bộ đội biên phòng Hà Tĩnh thuộc Bộ Tư lệnh BĐBP- Tuyên dương ngày
22-12-2004 (Tuyên dương lần thứ 2)
134 Đồn biên phòng 23 BĐBP Quảng Ninh- Tuyên dương ngày 21-12-2005
135 Đồn biên phòng cửa khẩu cảng Nghi Sơn BĐBP Thanh Hóa- Tuyên dươngngày 21-12-2005
136 Trạm Kiểm soát biên phòng Nhà Rồng BĐBP Thành phố Hồ Chí Tuyên dương ngày 13-3-2008
Minh-137 Đồn biên phòng 617 BĐBP Quảng Trị- Tuyên dương ngày 13-3-2008
138 Đồn biên phòng 501 BĐBP Thanh Hóa- Tuyên dương ngày 13-3-2008
139 Lực lượng BĐBP- Tuyên dương ngày 20-2-2009 (Tuyên dương lần thứ hai).
140 Hải đội 2 BĐBP thành phố Đà Nẵng- Tuyên dương ngày 22-12-2009
141 Đồn Biên phòng 575 BĐBP Hà Tĩnh- Tuyên dương ngày 22-12-2009
142 Đơn vị an ninh vũ trang bở biển tỉnh Kiên Giang- Tuyên dương ngày