Hội nhập kinh tế quốc tế đang mở ra trước mắt các quốc gia một xu thế tất yếu không thể tránh khỏi đó là xu thế toàn cầu hóa. Đứng trước xu thế đó chúng ta không nên chống lại mà nên tìm cách tận dụng những lợi ích mà nó mang lại cho quốc gia mình. Chính vì lý do đó chính sách của Đảng và Nhà nước là chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Sau khi thực hiện công cuộc Đổi mới chúng ta đã hợp tác kinh tế với nhiều quốc gia trên thế giới và đã thu được những kết quả hết sức đáng khích lệ tư quá trình hợp tác này. Đi đôi với phát triển nền kinh tế hội nhập chúng ta cũng không quên phát triển một nền kinh tế tổng hợp nhằm khai thác mọi tiềm năng của Đất nước. Việt Nam là một quốc gia có tiềm năng về nông nghiệp mà thuỷ sản là một ngành hứa hẹn nhiều tiềm năng rất lớn. Nhiệm vụ của Nhà nước và nhân dân là làm sao để đưa thuỷ sản thành một ngành kinh tế mũi nhọn tham gia hợp tác quốc tế một cách có hiệu quả nhất, đóng góp cho sự nghiệp phát triển kinh tế và nâng cao đời sống của nhân dân. Như chúng ta đã biết Mỹ là một cường quốc về kinh tế cũng như chính trị và quân sự trên thế giới, Mỹ có tiếng nói quyết định trong một số vấn đề quan trọng trên trường quốc tế. Ngoài ra đây còn là một thị trường rất rộng lớn cho hàng hoá xuất khẩu nói chung và hàng thuỷ sản xuất khẩu nói riêng. Chính vì những lý do trên đẩy mạnh kinh doanh xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường Hoa Kỳ là một nhiệm vụ và là một cơ hội cho các doanh nghiệp của Việt Nam . nhưng muốn đẩy mạnh xuất khẩu thuỷ sản trước hết chúng ta phải hiểu thực trạng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ trong những năm gần đây, cơ hội và khó khăn của xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam cũng như những kiến nghị nhằm đẩy mạnh hơn nữa xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ. Đề án Giải pháp đẩy mạnh kinh doanh xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường Hoa Kỳ ra đời nhằm nghiên cứu những vấn đề đó.
Trang 1tế với nhiều quốc gia trên thế giới và đã thu đợc những kết quả hết sức đáng khích lệ t quá trình hợp tác này
Đi đôi với phát triển nền kinh tế hội nhập chúng ta cũng không quên phát triển một nền kinh tế tổng hợp nhằm khai thác mọi tiềm năng của Đất nớc Việt Nam là một quốc gia có tiềm năng về nông nghiệp mà thuỷ sản là một ngành hứa hẹn nhiều tiềm năng rất lớn Nhiệm vụ của Nhà nớc và nhân dân là làm sao
để đa thuỷ sản thành một ngành kinh tế mũi nhọn tham gia hợp tác quốc tế một cách có hiệu quả nhất, đóng góp cho sự nghiệp phát triển kinh tế và nâng cao
đời sống của nhân dân
Nh chúng ta đã biết Mỹ là một cờng quốc về kinh tế cũng nh chính trị và quân sự trên thế giới, Mỹ có tiếng nói quyết định trong một số vấn đề quan trọng trên trờng quốc tế Ngoài ra đây còn là một thị trờng rất rộng lớn cho hàng hoá xuất khẩu nói chung và hàng thuỷ sản xuất khẩu nói riêng
Chính vì những lý do trên đẩy mạnh kinh doanh xuất khẩu thuỷ sản sang thị trờng Hoa Kỳ là một nhiệm vụ và là một cơ hội cho các doanh nghiệp của Việt Nam nhng muốn đẩy mạnh xuất khẩu thuỷ sản trớc hết chúng ta phải hiểu thực trạng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang thị trờng Hoa Kỳ trong những năm gần đây, cơ hội và khó khăn của xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam cũng nh những kiến nghị nhằm đẩy mạnh hơn nữa xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang thị trờng Hoa Kỳ Đề án Giải pháp đẩy mạnh kinh doanh xuất khẩu thuỷ sản sang thị trờng Hoa Kỳ ra đời nhằm nghiên cứu những vấn
đề đó.
Trang 2Đề án này bao gồm 3 nội dụng chủ yếu của đề tài là:
1 Thực trạng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang thị trờng Hoa Kỳ trong những năm gần đây
2 Khó khăn và thuận lợi đối với đẩy mạnh kinh doanh xuất khẩu thuỷ sản sang thị trờng Hoa Kỳ
3 Kiến nghị những giải pháp nhằm đẩy mạnh kinh doanh xuất khẩu thuỷ sản sang thị trờng Hoa Kỳ
Dựa vào những nội dung của đề án các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu thuỷ sản có thể tìm đợc những thông tin cần thiết về thị trờng thuỷ sản Hoa Kỳ cũng nh khả năng đẩy mạnh xuất khẩu thuỷ sản sang thị trờng này của các doanh nghiệp Việt Nam
Trang 3Phần i :cơ sở lí luận về đẩy mạnh kinh doanh xuất khẩu ở các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trờng.
1 Kinh doanh và kinh doanh xuất khẩu ở các doanh nghiệp
Nếu nh xét theo khía cạnh kinh doanh đơn thuần thì kinh doanh xuất khẩu chỉ là một bộ phận của kinh doanh nói chung Nói đến kinh doanh là nói đến kinh doanh trong nớc và kinh doanh quốc tế Đây là hai lĩnh vực kinh doanh rất khác nhau trong hoạt động lẫn cơ chế tổ chức và quản lý Kinh doanh xuất nhập khẩu đòi hỏi ở một trình độ cao hơn kinh doanh trong nớc và đây cũng là lĩnh vực chứa đựng nhiều rủi ro hơn kinh doanh nội địa do vấn đề địa lý,luật pháp phức tạp và khó khăn Nhng một doanh nghiệp kinh doanh trong nớc không có nghĩa là doanh nghiệp đó không thể kinh doanh xuất nhập khẩu Bởi vì trong nền kinh tế toàn cầu và sự phát triển vợt bậc của công nghệ thông tin cho phép các doanh nghiệp ở các quốc gia khác nhau có thể tìm kiếm đối tác thông qua mạng Internet và thơng mại điện tử
Nền kinh tế thị trờng với xu thế mở cửa của Việt Nam đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội mở rộng thị trờng không chỉ trong nớc
mà cả thị trờng quốc tế Hiện nay không chỉ có các doanh nghiệp chuyên về kinh doanh xuất nhập khẩu mới tham gia buôn bán quốc tế mà ngay cả các doanh nghiệp sản xuất cũng tự tìm đối tác nớc ngoài và ký kết hợp đồng xuất khẩu
Trang 4Nh vậy kinh doanh và kinh doanh xuất nhập khẩu là hai vấn đề tuy khác nhau về cách thức hoạt động nhng trong tơng lai chúng sẽ có rất nhiều điểm t-
đợc tự chủ trong sản xuất cũng nh kinh doanh mà hoạt dộng theo các chỉ tiêu pháp lệnh Chính vì vậy các hoạt động kinh doanh không có động lợc để phát triển
Ngày nay trong nền kinh tế thị trờng bất kì một cá nhân hay tập thể nào
đều có thể tự chủ sản xuất kinh doanh trong phạm vi pháp luật không cấm Trong điều kiện đó các doanh nghiệp hoàn toàn phải tự chủ về mọi quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình Chính vì vậy bất kì một doanh nghiệp nào cũng đều phải tuân theo quy luật của thị trờng và lấy khách hàng là mục tiêu Kinh doanh trong nền kinh tế thị trờng đòi hỏi các doanh ngiệp phải nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá trên thị trờng Bởi vì thị trờng sẽ quyết
định sự tồn tại cũng nh thành bại của mỗi doanh nghiệp Chính vì vậy bất kì một doanh nghiệp nào cũng cần phải coi trọng thị trờng nh nhân tố quan trọng nhất và trong đó thì khách hàng là nhân tố trung tâm Trong nền kinh tế cũ thì thị trờng là một vấn đề chẳng mấy đợc các doanh nghiệp quan tâm và khách hàng thì càng không phải là yếu tố quan trọng nhất Nhng trong nền kinh tế thị trờng nếu một doanh nghiệp không chiếm lĩnh đợc thị trờng cũng nh không đợc khách hàng ủng hộ thì doanh nghiệp đó khó lòng tồn tại đợc
Kinh doanh trong cơ chế thị trờng tạo ra cho bản thân nó những đặc điểm cơ bản chi phối mọi hoạt động kinh doanh của doanh ngiệp và không một doanh nghiệp có thể tránh khỏi Nó bao gồm những đặc điểm cơ bản sau:
* Tính cạnh tranh gay gắt
Trang 5Ngày nay cạnh tranh đã trở nên quen thuộc đối với bất lỳ một doanh nghiệp nào hoạt động trong nền kinh tế thị trờng Chấp nhận cạnh tranh nh một thuộc tính của nền kinh tế thị trờng sẽ giúp cho doanh nghiệp chủ động trong việc xây dựng chiến lợc kinh doanh phù hợo với tình giai đoạn của quá trình kinh doanh Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt các doanh nghiệp phải tự hoàn thiện về tổ chức, khả năng cạnh tranh nếu không sẽ bị loại khỏi thị trờng Cạnh tranh vừa là vũ khí chống lại đối thủ cạnh tranh và vừa là động lựa cho các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn.
* Tính quốc tế cao
Hợp tác kinh tế quốc tế ngày nay không còn xa lạ đối với các nớc phát triển nền kinh tế thị trờng Kinh tế thị trờng với khả năng di chuyển vốn cao đã tạo điều kiện cho hợp tác kinh tế quốc ra đời Xu thế khu vực hoá và toàn cầu hoá là những xu thế tất yếu của một nền kinh tế thị trờng hiện đại sự ra đời của hàng loạt tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế ở tầm khu vực và quốc tế nh EU, ASEAN,APEC hay WTO đã chứng minh cho xu thế đó
II nội dung cơ bản của kinh doanh xuất khẩu ở cácdoanh nghiệp
Kinh doanh xuất khẩu là hoạt động buôn bán với nớc ngoài nhằm phát triển lợi thế của mỗi quốc gia trong nền kinh tế toàn cầu hiện nay Chính vì đây
là hoạt động kinh doanh không diễn ra trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia mà diễn ra giữa các nớc buôn bán với nhau nên hoạt động kinh doanh bao hàm những yếu tố hết sức phức tạp khác hẳn với kinh doanh trong nớc Hoạt động kinh doanh xuất khẩu đòi hỏi phải kinh doanh trên thị trờng ngoài nớc do đó những vấn đề về thị trờng, khách hàng, luật pháp, thanh toán rất đa dạng và phong phú nhng cũng không kém phần phức tạp và rất khó để kiểm soát
Hoạt động kinh doanh xuất khẩu đợc tổ chc thực hiện với nhiều nghiệp vụ phức tạp từ khâu ngiên cứu thị trờng ngoài nớc ,lựa chọn hàng hoá xuất khẩu , lựa chọn đối tác kinh doanh , đàm phán – kí kết hợp đồng- tổ chức thực hiện hợp đồng cho đến giao hàng và hoàn thành các quá trình thanh toán Tất cả các quá trình này đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong khi thực hiện chúng
sẽ tạo ra không ít những cơ hội nhng cũng không ít khó khăn cho các doanh nghiệp nhất là đối với các doanh nghiệp ít kinh nghiệm trong buôn bán quốc tế
Trang 6Hoạt động kinh doanh xuất khẩu có thể đợc chia ra làm những nội dung cơ bản nh sau:
1 Xây dựng chiến lợc kinh doanh xuất khẩu
Trong bối cạnh cạnh tranh gay gắt và môi trờng kinh doanh rất nhiều biến
động các doanh nghiệp muốn hoạt động một cách ổn định và có hiệu quả thì không thể không xây dựng chiến lợc kinh doanh cho mình trong từng giai đoạn
cụ thể Đối với các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu thì xây dựng chiến lợc lại càng có ý nghĩa quan trọng vì đây là các doanh nghiệp kinh doanh trên thị tr-ờng quốc tế nên sự đòi hỏi về ổn định là rất cao để tránh những rủi ro không
đáng có trong kinh doanh Để xây dựng chiến lợc kinh doanh có thể sử dụng nhiều phơng pháp nhng là sử dụng biện pháp nàp đi chăng nữa thì cũng phải dựa trên những thông tin về nhu cầu của thị trờng và khả năng đáp ững của doanh nghiệp Nừu không sẽ dễ dẫn tới những chiến lợc sai lầm nghiêm trọng
2 Nghiên cứu thị trờng hàng hoá quốc tế.
Thị trờng là một phạm trù khách quan đòi hỏi mỗi doanh nghiệp khi kinh doanh phải tuân theo những quy luật khách quan của nó Thị trờng gắn liền với quá trình sản xuất và lu thông Thị trờng có thể đợc hiểu theo nhiều cách khác nhau tùy theo mục đích nghiên cứu và cách tiếp cận
Để nắm vững thị trờng , hiểu biết các quy luật của thị trờng nhất thiết đòi hỏi các nhà kinh doanh phải thực hiện các hoạt động nghiên cứu thị trờng Nghiên cứu thị trờng hàng hoá quốc tế có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế trong kinh doanh thơng mại quốc tế thông qua việc trả lời cho nhà xuất khẩu các câu hỏi về lựa chọn thị trờng chiến lợc, mặt hàng chiến lợc, đối tác và đối thủ trong kinh doanh
Chính vì vậy công tác nghiên cứu thị trờng là một công đoạn rất quan trọng không thể thiếu đối với nhà kinh doanh xuất khẩu , do đó công tác nghiên cứu thị trờng cần đợc tiến hành một cách có kế hoạch và thống nhất
•Nghiên cứu dung lợng thị trờng và các nhân tố ảnh hởng
Thị trờng lợng thị trờng hay còn gọi là quy mô thị trờng đợc quy định bởi khối lợng hàng hoá tham gia giao dịch tại thị trờng đó trong một khoảng thời gian nhất định(thờng là một năm) nghiên cứu dung lợng thị trờng nhằm xác
định nhu cầu thật của khách hàng về loại hàng hoá mà mình định kinh doanh
Trang 7Cùng với việc nắm bắt nhu cầu của khách hàng thì một vấn đề nữa cũng cần đợc nghiên cứu đó là khả năng cung cấp của thị trờng bao gồm việc xem xét các đặc
điểm, tính chất, khả năng cung ứng hàng hoá thay thế và các nguồn cung cấp hàng hoá đó cho thị trờng đang nghiên cứu
Một vấn đề nữa cũng nên đợc xem xét đó là tính chất thời vụ của hàng hoá kinh doanh , tập quán tiêu dùng để từ đó đa ra các kế hoạch và chiến lợc kinh doanh cho phù hợp với từng giai đoạn,thời kì khác nhau
•Lựa chọn mặt hàng xuất khẩu
Trên cơ sở kết quả phân tích và đánh giá thị trờng nhà xuất khẩu cần lựa chọn hàng xuất khẩu chủ đạo nhằm chiếm lĩnh thị trờng và phát huy lợi thế sẵn
có từ những mặt hàng đó
Việc lựa chọn mặt hàng xuất khẩu chủ đạo có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc kinh doanh xuất khẩu thành công hay thất bại của nhà xuất khẩu Việc lựa chọn mặt hàng xuất khẩu phải dựa vào nhu cầu của thị trờng , mẫu mã chủng loại giá cả, thị hiếu tất cả những yếu tố đó vẫn cha phải là yếu tố quyết
định bởi vì với những doanh nghiệp chuyên kinh doanh xuất khẩu thì yếu tố tỷ giá ngoại tệ xuất khẩu đóng một vai trò cực kỳ quan trọng Chính vì vậy việc lựa chọn mặt hàng xuất khẩu phải đợc cân nhác kỹ lỡng và ngoài những yếu tố tính toán chính xác thì kinh nghiệm của nhà xuất khẩu cũng là một yếu tố không thể thiếu trong việc lựa chọn mặt hàng
•Lựa chọn đối tác kinh doanh
Không một doanh nghiệp nào khi tham gia vào thơng mại quốc tế lại không có bạn hàng Mỗi doanh nghiệp khi thâm nhập thị trờng ngoài nớc nếu không có các đối tác nội địa của nớc đó thì sẽ phải tốn một khoản kinh phí không nhỏ để thiết lập kênh phân phối sản phẩm của mình nhất là khi cha có những hiểu biết cần thiết về thị trờng đó
Chính vì vậy việc lựa chọn một đối tác có đủ khả năng và uy tín trong kinh doanh là một nhiệm vụ của nhà xuất khẩu khi tiến hành kinh doanh xuất khẩu Việc lựa chọn đối tác kinh doanh có thể dựa trên nhiều tiêu thức khác nhau nh tình hình kinh doanh của đối tác, khả năng về cơ sở vật chất và tài chính của đối tác, đặc điểm kinh doanh của đối tác và uy tín trong kinh doanh của đối tác
Trang 8Ngày nay một vấn đề hết sức quan trọng khi quyết định lựa chọn của các doanh nghiệp xuất khẩu đó là t cách pháp nhân của đối tác Rất nhiều vụ tranh chấp thơng mại xảy ra và ngời bị thiệt hại là các công ty kinh doanh xuất khẩu của Việt Nam chỉ vì khi lựa chọn đối tác kinh doanh đã không chú ý đến t cách pháp nhân của đối tác.
Rõ ràng công tác nghiên cứu thị trờng là một khâu không thể thiếu trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp , làm tốt công tác này là điều kiện cần thiết để đảm bảo cho doanh nghiệp đa ra các kế hoạch và chiến lợc kinh doanh phù hợp trong giai đoạn tiếp theo
3.Nghiên cứu giá cả hàng hoá xuất khẩu
Giá cả là biểu hiện bằng tiền giá trị của hàng hoá và nó cũng là một nhân
tố quan trọng trong chiến lợc cạnh tranh của các doanh nghiệp Việc nghiên cứu
để đa ra một mức giá phù hợp là một vấn đề không hề đơn giản nếu nh doanh nghiệp muốn sử dụng nó là một công cụ để cạnh tranh với các đối thủ cạnh tranh khác
Giá cả nói chung và giá cả quốc tế nói riêng chịu tác động của nhiều nhân
tố khác nhau cho nên giá cả luôn biến động Trong buôn bán quốc tế giá cả thị trờng lại càng có ý nghĩa quan trọng bởi vì trong hoạt động thơng mại quốc tế hàng hoá phải qua những nớc khác nhau trong một thời gian dài và phải chịu những chính sách thuế khác nhau của các nớc nhập khẩu Do đó để đạt đợc hiệu quả trong kinh doanh thì các doanh nghiệp cần phải nắm rõ giá cả và xu hớng vận động của giá cả, có nh vậy doanh nghiệp mới thực sự chủ động trong kinh doanh Hiểu rõ giá cả và xu hớng biến động của giá cả sẽ giúp cho doanh nghiệp vạch ra các chiến lợc kinh doanh cụ thể và có các biện pháp khoa học trong tính toán giá cả sẽ là một đòn bẩy thực sự trong buôn bán quốc tế
Chính vì vai trò quan trọng của mình nên thơng mại quốc tế đòi hỏi các nhà xuất khẩu phải nghiên cứu một cách kỹ lỡng vấn đề giá cả quốc tế
Giá cả của hàng hoá trong buôn bán quốc tế là mức giá tổng hợp bao gồm giá vốn của hàng hoá và các chi phí liên quan đến qúa trình mua bán hàng hoá
nh bảo hiểm, chi phí vận tải, bao bì, đóng gói
Giá quốc tế là mức giá đại diện cho những hàng hoá nhất định trên thị ờng Đó phải mức giá của những giao dịch thơng mại thông thờng trên thị trờng quốc tế và không kèm theo một điều kiện thơng mại đặc biệt nào Trên thực tế
Trang 9tr-rất khó dự đoán chính xác giá cả trong tơng lai bởi vì có tr-rất nhiều nhân tố ảnh hởng đến mức giá quốc tế Việc dự đoán giá phải dựa trên cơ sở kết quả phân tích tình hình thị trờng của hàng hoá đó cũng nh các yếu tố ảnh hởng đến xu h-ớng biến động của mức giá cả của hàng hoá đó Có rất nhiều nhân tố có ảnh h-ởng đến giá cả của hàng hoá nh: Chu kì sản xuất kinh doanh , nhân tố cung cầu, lạm phát, cạnh tranh, các chính sách quản lí của nớc nhập khẩu cũng nh nớc xuất khẩu
4.Thanh toán trong kinh doanh xuất khẩu.
Thanh toán là một khâu khá quan trọng và cũng không kém phần phức tạp trong kinh doanh xuất khẩu Việc lựa chọn đồng tiền thanh toán, thời điểm thanh toán, phơng thức thanh toán và các điều kiện thanh toán đóng vai trò rất quan trọng đối với hiệu quả của quá trình kinh doanh xuất khẩu Việc xem xét các nhân tố có thể ảnh hởng đến biến động tỷ giá hối đoái của đồng tiền thanh toán một cách thiếu thận trọng có thể gây ra nh cầu tổ thất rất nặng nề cho các doanh nghiệp xuất khẩu
Hiện nay trong thơng mại quốc tế đang tồn tại khá nhiều phơng thức thanh toán , việc lựa chọn phơng thức trả tiền nào có lợi nhất cho nhà xuất khẩu cũng cần đợc nghiên cứu kỹ lỡng tránh bị thiệt hại do lựa chọn phơng thức thanh toán không đúng Đói với doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu thì việc áp dụng phơng thức thanh toán bằng th tín dụng(L/C) hay phơng thức nhờ thu hoặc phơng thức trả trớc có thể coi là tơng đối an toàn
Tóm lại thanh toán trong kinh doanh xuất khẩu đòi hỏi các doanh nghiệp cần phải quantâm đến các yếu tố nh:
- Tỷ giá hối đoái
- Tiền tệ trong thanh toán
- Thời hạn thanh toán
- Các phơng thức thanh toán và điều kiện thanh toán
- Các điều kiện bảo đảm trong thanh toán khác
Nhằm tránh gặp rủi do trong khâu cuối cùng của quá trình kinh doanh xuất khẩu
III.Chiến lợc kinh doanh hàng xuất khẩu của các doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay
Trang 10Hiện nay kinh doanh xuất khẩu không chỉ đơn thuần do các doanh nghiệp chuyên kinh doanh về xuất khẩu đảm nhiệm mà ngay ban thân các doanh nghiệp sản xát cũng đứng ra kinh doanh xuất khẩu Điều đó đợc thể hiện ở việc càng ngày càng có nhiều các doanh nghiệp sản xuất lập các trang Website riêng
để giới thiệu hàng hoá của mình với các đối tác nớc ngoài và tự đóng hàng để xuất khẩu trực tiếp không phải thông qua cc công ty chuyên kinh doanh xuất nhập khẩu Đây là một chính sách rất đúng đắn của Nhà nớc nhằm khuyến khích mọi doanh nghiệp tham gia xuất khẩu hàng hoá Nhng để kinh doanh xuất khẩu có hiệu quả thì các doanh nghiệp cần phải có những chiến lợc kinh doanh đúng đắn và phù hợp với tình hình thực tế của thị trờng
Hiện nay chiến lợc kinh doanh hàng xuất khẩu bao gồm những nội dung chủ yếu sau:
Chiến l ợc sản phẩm
Bất kì một doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu nào cũng đều có những mặt hàng kinh doanh cụ thể, để đạt đợc hiệu qủa trong kinh doanh bất kì một doanh nghiệp nào cũng đều phải chú trọng vào mặt hàng mà mình đang kinh doanh Chiến lợc sản phẩm là một kiểu chiến lợc tập trung nguồn lực cho sản phẩm mà doanh nghiệp đang sản xuất kinh doanh hoặc có dự định sản xuất kinh doanh trong tơng lai Những vấn đề chính của chiến lợc sản phẩm bao gồm:
* Nhãn hiệu hàng hoá.
Bất kì một doanh nghiệp nào muốn định vị (Định vị sản phẩm là quá trình tạo ra những ấn tợng tốt về sản phẩm của doanh nghiệp đối với ngời tiêu dùng) sản phẩm của mình trên thị trờng thì đều phải có nhãn hiệu của hàng hoá
đó Nhãn hiệu hàng hoá là biểu tợng riêng cho doanh nghiệp về uy tín cũng nh chất lợng của hàng hoá mà doanh nghiệp đang kinh doanh Việc lựa chọn nhãn hiệu và quảng bá nhãn hiệu hàng hoá ngày nay đã trở nên hết sức quan trọng
đối với các doanh nghiệp kinh doanh nói chung và các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu nói riêng
* Bao bì, mẫu mã và các dịch vụ đi kèm.
Bao bì và mẫu mã của hàng hoá là những cái tạo ra ấn tợng đầu tiên đối với ngời tiêu dùng về một loại hàng hoá nhất định Ngoài ra nó cũng chính là một công cụ uảng cáo rất hiệu quả cho sản phẩm cũng nh cho doanh nghiệp Chính vì vậy việc chú ý đến vấn đề mẫu mã và bao bì của sản phẩm từ lâu đã trở
Trang 11thành một khâu quan trọng của các doanh nghiệp ở các nớc phát triển Mặc dù vậy bao bì và mẫu mã hàng hoá nh thế nào để thu hút khách hàng lại là một vấn
đề không hề đơn giản đòi hỏi doanh nghiệp mất nhiều chi phí
* Chủng loại hàng hoá và danh mục hàng hoá.
Việc lựa chọn mặt hàng kinh doanh cungx nh danh mục mặt hàng kinh doanh có ý nghĩa sống còn đối với mỗi doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu Việc lựa chọn sai lầm mặt hàng kinh doanh xuất khẩu có thể đa doanh nghiệp
đến bên bờ vực phá sản trng điều kiện cạnh trnah gay gắt nh hiện nay Việc lựa chọn kinh doanh mặt hàng nào không phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của doanh nghiệp mà nó phị thuộc vào nhu cầu của thị trờng Để lựa chọn đúng mặt hàng
mà doanh nghiệp có thể kinh doanh với hiệu quả kinh tế cao nhất đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải làm tốt khâu nghiên cứu thị trờng
* Chu kỳ sống của sản phẩm.
Chu kì sống của sản phẩm phụ thuộc rất nhiều vào nhu cầu của thị trờng Những mặt hàng mà nhu cầu thờng có xu hớng biến động càng nhanh thì chu kì sống của sản phẩm đó càng ngắn Việc nắm bắt đợc chu kì sống của sản phẩm
sẽ có vai trò rất to lớn trong sự thành công của mỗi doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu Doanh nghiệp sẽ có nhiều khả năng thành công khi kinh doanh những mặt hàng còn trong giai đoạn phát triển Mỗi sản phẩm đều phải trải qua bốn thời kỳ phát triển đó là :
- Giai đoạn1: Là giai đoạn hàng hoá mới đợc tung ra thị trờng và cha đợc ngời tiêu dùng biết tới
- Giai đoạn 2: : Là giai đoạn phát triển của sản phẩm Trong giai
đạon này ngời tiêu dùng đã quen với sản phẩm và đợc tiêu dùng rộng rãi
- Giai đoạn3: : Là giai đoạn bão hoà của sản phẩm Trongn giai
đoạn nàydoanh thu tăng chậm và có xu hớng giảm
- Giai đoạn 3: : Là giai đoạn suy thoái Giai đoạn này hàng hóa đó không còn đợc thị trờng a chuộng, doanh thu giảm nhanh chóng Hàng hoá ở giai đoạn này thì doanh nghiệp nên rút khỏi thị trờng hoặc chuyển mặt hàng kinh doanh
Trang 12Ngoài những nội dung trên việc tạo ra uy tín cũng là một vấn đề rất quan trọng trong chiến lợc sản phẩm mà các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu không đợc bỏ qua nếu muốn kinh doanh lâu dài.
Trang 13
ch ơng ii:
sự cần thiết phải đẩy mạnh kinh doanh
xuất khẩu hàng hoá sang thị trờng Hoa Kì
I căn cứ lý thuyết về thơng mại quốc tế.
Nh chúng ta biết rằng mỗi một hoạt động kinh tế bất kỳ đều đợc chỉ lối bằng một lý thuyết kinh tế nhất định Thơng mại quốc tế đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử loài ngời Nó không những chỉ có trong một nền kinh tế hiện đại
mà còn có ngay cả từ rất xa xa trong các hình thaí kt xã hội khác nhau nh xã hội nô lệ hay xã hội phong kiến Thơng mại quốc tế xuất hiện cùng với sự xuất hiện của chuyên môn hóa lao động nhng nó chỉ thực sự phát triển mạnh mẽ khi chủ nghĩa t bản ra đời với tính chất chuyên môn hoá sâu sắc của sản xuất và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật
Thơng mại quốc tế là sự mua bán trao đổi hàng hoá , dịch vụ giữa các nớc
Sự trao đổi hàng hóa là một hình thứccủa mối quan hệ xã hội, phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa những ngời sản xuất khác nhau ở các nớc khác nhau
Thơng mại quốc tế cho phép một quốc gia có thể mở rộng khả năng tiêu dùng cũng nh mở rộng khả năng sản xuất Cho phép mỗi quốc gia phát huy tốt hơn khả năng của mình trong sản xuất và phát triển kinh tế
Tiền đề của thơng mại quốc tế là chuyên môn hoá trong sản xuất Không một quốc gia nào có đủ khả năng và nguồn lực để sản xuất có hiệu quả mọi
hang hoá , dịch vụ Chính vì vậy chuyên môn hoá vào sản xuất những hàng hoá
mà nớc mình có lợi thế để trao đổi lấy những hàng hoá mà nớc mình kém lợi thế sẽ phát huy hiệu quả kinh tế cao hơn cố gắng sản xuất những mặt hàng đó
Và ngời đầu tiên chứng minh đợc điều này bằng lý thuyết kinh tế là nhà kinh
tế học Adam Smith Ông đã đa ra lý thuyết Lợi thế tuyệt đối với nội dung chủ
yếu nh sau : Mỗi quốc gia đều có những lợi thế tuyệt đối trong việc sản xuất
ra một số sản phẩm với chi phí thấp tuyệt đối nhờ nguồn lợi của tự nhiên, tài nguyên, nghành nghề truyền thống, lao động
Trang 14Khi một nớc có lợi thế tuyệt đối so với các nớc khác về sản xuất một loại hàng hoá nào đó thì có thể tiến hành chuyên môn hoá vào sản xuất hàng hoá
đó nhằm trao đổi lấy các hàng hoá khác mà nớc mình kém lợi thế.
Nh chúng ta biết rằng thơng mại quốc tế không chỉ dựa trên cơ sở những lợi thế tuyệt đối sẵn có Không phải khi nào thơng mại quốc tế cũng dựa trên nền tảng của những lợi thế về điều kiện tự nhiên, tài nguyên, nguồn nhân công
rẻ Nhật bản là một ví dụ về điều đó bởi nớc này không hề có lợi thế về tài nguyên thiên nhiên cũng nh chi phí nhân công không hề rẻ nhng tại sao hàn hoá của nớc này vẫn xuất khẩu sang các nớc có những điều kiện thuận lợi trên?
Để trả lời cho câu hỏi này nhà kinh tế học ngời Anh là David Ricardo(1772-1823) đã chứng minh rằng chuyên môn hoá quốc tế đều có lợi mọi quốc gia Và ông gọi đây là quy luật lợi thế tơng đối hay lý thuyết về lợi thế so sánh
Quy luật lợi thế tơng đối chỉ ra rằng ngay cả khi một nớc kém hiệu quả hơn (kém lợi thế tuyệt đối hơn) một nớc khác trong việc sản xuất cả hai loại hàng hoá khác nhau vẩn có thể có lợi khi trao đổi hàng hoá với nhau bằng cách chuyên môn hoá vào sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm mà nớc mình có bất lợi tuyệt đối nhỏ hơn ( có lợi thế tơng đối) và nhập khẩu những hàng hoá mà nớc mình có bất lợi tuyệt đối lớn hơn.
Thơng mại quốc tế ngày nay dựa trên cơ sở của lợi thế tơng đối là chủ yếu
và đây mới thực sự là nguồn gốc của thơng mại quốc tế Lợi thế tơng đối ngày nay giữa các nớc rất đa dạng Mọi quốc gia đều có thể tham gia vào hợp tác kinh tế quốc tế và thơng mại quốc tế điều đó chứng tỏ rằng có rất nhiều cơ sở để hình hành quan hệ buôn bán quốc tế giữa các nớc với nhau Để chứng minh cho
điều này hàng loạt lý thuyết mới về thơng mại quốc tế đã ra đời nh:
Lý thuyết về sự tơng quan các nhân tố của Hecsher-Ohlin
Lý thuyết về thơng mại quốc tế dựa trên sự khác biệt về công nghệ
Lý thuyết về thơng mại quốc tế dựa trên lợi thế kinh tế nhờ quy mô
Lý thuyết về thơng mại quốc tế dựa trên sự khác biệt về sản phẩm
Trang 15
Tất cả những lý thuyết này đều nhằm mục đích đi tìm bản chất của lợi thế tơng đối và mỗi lý thuyết thì tìm ra đợc một nguồn gốc của lợi thế tơng đối trên cơ sở những giả định của lý thuyết đó.
Nhng dù có theo trờng phái kinh tế nào đi chăng nữa thì chúng ta đều phải thừa nhận rằng thơng mại quốc tế ngày nay chủ yếu dựa trên những lợi thế tơng
đối, và đó là cơ sở để các quốc gia trên thế giới đặc biệt là các quốc gia đang phát triển mạnh dạn tham gia vào thơng mại quốc tế
II căn cứ nhu cầu thị trờng Mỹ về hàng thuỷ sản
Mỹ là thị trờng nhập khẩu thuỷ sản lớn thứ 2 thế giới (sau Nhật Bản) và tăng đều trong nhiều năm qua Năm 1992, Mỹ nhập khẩu 6,02 tỷ USD thuỷ sản, năm 1995 tăng lên 7,14 tỷ USD, năm 1998 là 8,45 tỷ USD và 1999 là 9,3 tỷ USD
Trớc năm 1998, nhập khẩu tôm vào Mỹ thấp hơn Nhật Bản, nhng từ năm
1998 Mỹ đã vợt lên thành thị trờng nhập khẩu tôm lớn nhất thế giới Mặt hàng nhập khẩu nhiều nhất vào Mỹ là tôm đông lạnh, với khối lợng nhập khẩu năm
1998 và 1999 đạt trên 300.000 tấn, trị giá trên 3 tỷ USD Nớc cung cấp tôm lớn nhất cho Mỹ là Thái Lan, Êquađo, Inđônêxia và ấn Độ Tuy nhiên, do ảnh hởng của dịch bệnh, xuất khẩu tôm của Êcuađo vào thị trờng này từ năm 1999 đã giảm đáng kể Mặt hàng nhập khẩu lớn thứ hai là cá ngừ đóng hộp, năm 1999, nhập khẩu mặt hàng này vào Mỹ đạt 151.000 tấn, trị giá 885 triệu USD và tăng 32% so với năm 1998 Thái Lan là nhà cung cấp chính cá ngừ hộp cho thị trờng
Mỹ (chiếm trên 50%), tiếp theo là Philippin, Inđônêxia, Đài Loan Cá hồi là mặt hàng nhập khẩu lớn thứ 3 của Mỹ (chủ yếu là cá hồi nuôi Đại Tây Dơng) với giá trị nhập khẩu là 727 triệu USD năm 1999, tiếp theo là tôm hùm (719 triệu USD)
Mỹ là nớc tiêu thụ thuỷ sản đứng thứ 3 trên thế giới, sau Nhật Bản và Trung Quốc Mức tiêu thụ thuỷ sản của Mỹ trung bình trong năm 1994 đến
1997 là 5,78 triệu tấn/năm Trong năm 1998 và1999 mức tiêu thụ còn cao hơn nữa
Cá hộp là mặt hàng thuỷ sản đợc tiêu thụ nhiều nhất ở Mỹ và ở mức khá
ổn định trong những năm gần đây là 4,4 - 4,5 lb/đầu ngời.năm Trong đó cá ngừ
đóng hộp là mặt hàng chính (3,4lb/đầu ngời.năm) Mặt hàng tiêu thụ lớn thứ hai
Trang 16là tôm đông lạnh, với mức tiêu thụ bình quân trên đầu ngời trong năm 1996 là 3,19 lb (1,48kg) và 1998 là 3,59 lg (1,63 kg) Ngoài ra, các mặt hàng khác đợc tiêu thụ khá ở Mỹ là (lb/ngời.năm) : cá hồi (1,7), cá tuyết pollack (0,54) và nhuyễn thể 2 vỏ (0,89).
III căn cứ về nguồn hàng xuất khẩu của Việt Nam
Việt Nam là nớc có nguông thuỷ sản tơng đối phong phú với nhiều loài có giá trị kinh tế cao và trữ lợng khia thác lớn Hiện nay ngoài hơn 2000 loài cá biển còn có trên 70 loài tôm và rất nhiều loại thuỷ sản khác Với việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào chế biến nh hiện nay đã góp phần đa dạng hoá các mặt hàng thuỷ sản của Việt Nam phục vụ cho xuất khẩu So với trớc đây cơ cấu mặt hàng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam không còn chỉ là tôm mà đã mở rộng ra các sản phẩm khác nh cá tra , cá ba sa, cá phi lê tơi và đông lạnh, mực ( bao gồm mực khô và mực đông lạnh),cua , ốc sò huyết Ngay cả mặt hàng tôm hiện nay do trình độ chế biến đợc nâng cao đã giúp cho mặt hàng nay trở nên cực kỳ phong phú về chủng loại ví dụ nh: tôm đông lạnh, tôm bóc vỏ, tôm tẩm bột
Có một lợi thuỷ sản hết sức phong phú và đó chính là một cơ sở để các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu thuỷ sản yên tâm về nguồn hàng phục vụ xuất khẩu sang thị trờng Hoa Kỳ
IV yêu cầu về đẩy mạnh xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam
Chính sách mơ cửa của Đảng và Nhà nớc cho phép mọi thành phần kinh tế tham gia vào hợp tác quốc tế Đối với kinh doanh xuất nhập khẩu là một ngành còn rất mới mẻ đối với các doanh nghiệp Việt Nam Mặt khác công cuộc đổi mới đất nớc cần có những nguồn ngoại tệ từ xuất khẩu để phục vụ cho nhập khẩu những hàng hoá mà trong nớc không có khả năng sản xuất đợc Chính vì vậy phát triển một ngành ngoại thơng tổng hợp và toàn diện dựa trên những lợi thế sẵn có của Việt Nam là một yêu càu tất yếu
Thuỷ sản là một ngành có nhiều tiềm năng nhất trong lĩnh vực nông nghiệp Chính vì vậy đòi hỏi đa ngành này trở thành một ngành kinh tế mũi nhịn đã trở thành một yêu cầu không thể xem nhẹ Phát triển ngành thuỷ sản không những để giải quyết công ăn việc làm cho gời lao động trong nớc mà mục tiêu cơ bản là hớng tới xuất khẩu Mỹ là một thị trờng rộng lớn với trên
200 triệu dân và có mức thu nhập bình quân cao hàng đầu thế giới, trong khi đó
Trang 17nhu cầu tiêu dùng thuỷ sản ở Mỹ lại ngày một tăng mạnh trong khi khả năng sản lại có hạn, lợng nhập khẩu thuỷ sản cả Mỹ tăng liên tục từ 1997 đến nay và
có xu hớng tiếp tục tăng do cung trong nớc không thể đủ cầu
Chính vì vậy đòi hỏi đẩy mạnh xuất khẩu thuỷ sản sang thị trờng Hoa Kỳ
là một hớng đi dúng đắn và rất cần thiết đối với thuỷ sản Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay
Trang 18I Những nét khái quát về thị trờng thuỷ sản của Hoa Kỳ
Mỹ là cờng quốc thế giới về khai thác, nuôi trồng và chế biến các sản phẩm thuỷ sản Sản lợng nuôi trồng đang tăng trởng vì thị trờng có nhu cầu cao, trong khi sản lợng khai thác không tăng, thậm chí còn giảm ít do Mỹ thi hành chính sách bảo vệ nguồn lợi hải sản lâu dài, ngoài ra các sản phẩm khai thác trong nớc ít đợc ngời Mỹ a chuộng do đó phải xuất khẩu và chủ yếu xuất khẩu sang Đông á là khu vực đang gặp khó khăn lớn về kinh tế (Nhật Bản, Hàn Quốc )
Mỹ là một trong số ít các quốc gia có nguồn lợi thuỷ sản rất lớn, giàu có
và đợc bảo vệ một cách có hiệu quả nhờ vào luật pháp đầy đủ và đợc thực thi nghiêm chỉnh, nhờ vào hệ thống quản lý Nhà nớc đối với nghề cá rất khoa học
và thực tiễn
Mỹ có tiếng nói quan trọng trong các vấn đề lớn về nghề cá thế giới và khu vực, đặc biệt trong lĩnh vực bảo vệ môi trờng và bảo vệ thế giới thiên nhiên hoang dã
Mỹ là một trong những thị trờng thuỷ sản lớn nhất hiện nay với tổng giá trị ngoại thơng năm 2000 lên tới 13 tỷ USD (gần đuổi kịp Nhật Bản) Nhập khẩu thuỷ sản tăng nhanh, trong khi xuất khẩu không tăng dẫn đến thâm hụt ngoại thơng ngày một tăng và đã đạt đến con số kỷ lục là 7 tỷ USD năm 2000
Ngời Mỹ thiên về các sản phẩm "hải vị" rất đắt tiền nh tôm he, tôm hùm, cá ngừ, cá hồi, cua bể và các sản phẩm cao cấp nh cá philê, tôm nõn, thịt cua, hộp cá Tuy Mỹ nhập khẩu đủ các mặt hàng từ thấp đến cao, từ đắt đến rẻ, nh-
Trang 19ng giá trị nhập khẩu tập trung chủ yếu vào các mặt hàng "hải vị" nêu ở trên Các nhà xuất khẩu thuỷ sản muốn thành công và có vị trí vững chắc ở thị trờng Mỹ tất nhiên phải làm chủ và chiếm lĩnh đợc các mặt hàng quan trọng nêu ở trên.Nền kinh tế Mỹ tăng trởng nhanh trong nhiều năm là yếu tố quan trọng cho nhập khẩu thuỷ sản tăng nhanh trong những năm gần đây Tuy vậy, từ cuối năm 2000 và nhất là đầu năm 2001 nền kinh tế Mỹ đã có xu hớng tăng chậm lại
và có nhiều dấu hiệu không khả quan Nhất là sau vụ khủng bố ngày 11-9 lại càng làm tăng khả năng nền kinh tế Mỹ sẽ tăng trởng chậm, thậm chí là không tăng trởng Chính vì vậy thị trờng nhập khẩu thuỷ sản của Mỹ sẽ gặp khó khăn lớn Mức thu nhập giảm, nạn thất nghiệp tăng tất yếu sẽ dẫn đến sức mua các mặt hàng thuỷ sản cao cấp giảm đi
Thí dụ điển hình là thị trờng thuỷ sản khổng lồ Nhật Bản giảm sút đột ngột ngay sau cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng từ năm 1997 và đến nay sự phục hồi vẫn rất chậm chạp và khó khăn Phải chăng thị trờng nhập khẩu thuỷ sản
Mỹ đã đạt tới đỉnh cao vào năm 2000
Câu hỏi này phải chờ thời gian mới có lời giải đáp.
Thị trờng thuỷ sản Mỹ là thị trờng mở, có hơn 120 quốc gia có quan hệ buôn bán thuỷ sản với Mỹ Sự cạnh tranh ở đây là rất khốc liệt Chỉ những ai nắm bắt đợc đầy đủ, kịp thời và chính xác các thông tin cần thiết về thị trờng này, những ai có sản phẩm có sức cạnh tranh cao (chủ yếu là sản phẩm đúng thị hiếu, có chất lợng cao, bao gói phù hợp, giá cả phù hợp) và tiếp thị giỏi mới có cơ may chiếm lĩnh đợc thị trờng rất rộng lớn và phong phú này
Ngoài ra Mỹ thờng gắn ngoại thơng thuỷ sản với các vấn đề khác ít liên quan tới xuất nhập khẩu (Ví dụ nh lệnh cấm vận tôm năm 1995 của Mỹ đã gây khó khăn lớn cho các nớc xuất khẩu tôm vào Mỹ nh Thái Lan, ấn Độ, Inđônêxia
và nhiều quốc gia khác Mỹ buộc các nớc này trong thời gian ngắn phải có thiết
bị "lùa rùa biển ra khỏi lới kéo tôm" (tiếng Anh gọi tắt là TED) lắp vào cửa lới Chỉ những nớc có giấy xác nhận của Mỹ là đã sử dụng TED thì sản phẩm tôm mới đợc xuất sang Mỹ.)
Các nớc xuất khẩu thuỷ sản Châu á trong đó có Việt Nam đã có bớc tiến nhảy vọt trong việc xuất khẩu các mặt hàng chủ lực sang thị trờng Mỹ trong năm 2000 Phải thừa nhận rằng do tôm nuôi của các nớc Mỹ La tinh bị thất bát
Trang 20lớn (mất khoảng 100 nghìn tấn) nên tôm nuôi đợc mùa lớn của các nớc châu á mới có điều kiện thuận lợi tràn vào lấp chỗ trống Bớc sang năm 2001 và các năm sau, có thể thuận lợi đó không còn do rất nhiều nớc ở Trung Mỹ và Nam
Mỹ đang phát triển rất mạnh việc nuôi tôm công nghiệp để xuất khẩu chủ yếu sang thị trờng quen thuộc là Mỹ Sự cạnh tranh trên thị trờng tôm đông ở Mỹ chắc sẽ còn khốc liệt hơn Vì vậy, việc đa dạng hoá các mặt hàng cao cấp khác ngoài tôm đông là rất cần thiết cho việc tăng trởng xuất khẩu thuỷ sản vào Mỹ Ngoài ra philê từ cá biển, cá rô phi, cá ba sa cũng luôn có nhu cầu cao Cá ngừ tơi, thịt cua đông, thịt điệp, tôm hùm đều là các mặt hàng có nhu cầu cao ở Mỹ
Trên đây là những nét tổng quan về tình hình thị trờng thuỷ sản của Hoa
Kỳ , nó là công cụ giúp các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu thuỷ sản vào thị trờng này của Việt Nam có thể đa ra các chiến lợc kinh doanh xuất khẩu thuỷ sản phù hợp nhằm thâm nhập thị trờng này một cách có hiệu quả và nhanh nhất
II tổng quan về thực trạng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào thị trờng Hoa Kỳ
Sau khi lệnh cấm vận đối với Việt Nam đợc Hoa Kỳ rõ bỏ thì khối lợng hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ liên tục tăng
Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trờng này tăng gần nh gấp đôi ( Xem bảng 1) mỗi năm cho thấy đây là thị trờng đầy tiềm năng cho xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam (chủ yếu là hàng nông sản) Điều đó cho thấy dây là một thị trờng mà các doanh nghiệp không thể bỏ qua và cũng cho thấy các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu của Việt Nam khá nhậy bén trong việc thâm nhập thị trờng này
Mặc dù kết quả đạt đợc là rất khả quan nhng giá hàng xuất khẩu của Việt Nam chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Mỹ về những mặt hàng mà Việt Nam xuất khẩu