1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tác động của những hoạt động có liên quan việc chuyển giá đến lợi nhuận của các doanh nghiệp FDI tại long an

151 134 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 151
Dung lượng 3,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả nghiên cứu đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm về sự tác động của các hoạt động có liên quan việc chuyển giá đến lợi nhuận của các DN FDI trên địa bàn tỉnh Long An năm 2015 với 09

Trang 1

Tôi xin cam đoan rằng, Luận văn “Nghiên cứu tác động của những hoạt động

có liên quan việc chuyển giá đến lợi nhuận của các DN FDI trên địa bàn tỉnh Long An” này là bài nghiên cứu của chính tôi

Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong Luận văn, tôi cam đoan rằng, toàn phần hay phần nhỏ của Luận văn này chưa từng được công bố hoặc được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác

Không có sản phẩm/nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong Luận văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định

Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các Trường Đại học hoặc cơ sở đào tạo khác

TP Hồ Chí Minh, tháng 09 năm 2016

NGÔ THỊ LIỄU

Trang 2

Lời đầu tiên, xin được gửi lời tri ân đến quý Thầy, Cô Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh đã truyền đạt, trang bị cho tôi những kiến thức quý báu trong thời gian theo học Chương trình đào tạo Sau Đại học tại Trường

Xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS NGUYỄN THANH NGUYÊN,

người Thầy tâm huyết đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều thời gian định hướng và góp ý cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu Luận văn này

Xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo Cục Hải quan tỉnh Long An, Cục Thuế tỉnh Long An và các anh, chị công tác tại các bộ phận tham mưu thuộc Cục Thuế, Ban Quản

lý các Khu kinh tế, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Long An, cùng các đồng nghiệp đang công tác tại Cục Hải quan tỉnh Long An đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi được tiếp cận, thu thập số liệu phục vụ cho nghiên cứu

Và cuối cùng, xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã hỗ trợ, góp ý và động viên tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu

Quá trình thực hiện Đề tài, mặc dù bản thân đã cố gắng tiếp cận với cơ sở lý thuyết từ các tài liệu trong và ngoài nước cũng như phương pháp xử lý số liệu khoa học, tuy nhiên, thiếu sót là điều có thể không tránh khỏi Kính mong nhận được sự đóng góp quý báu từ quý Thầy, Cô để Luận văn được hoàn chỉnh hơn

Trân trọng cảm ơn!

NGÔ THỊ LIỄU

Trang 3

của việc tiếp nhận đầu tư Chuyển giá thường được thực hiện bởi các DN FDI, MNCs có nguồn lực tài chính dồi dào, đội ngũ nhân viên lành nghề, có đội ngũ luật sư giỏi rất am hiểu luật pháp và thương mại quốc tế Chuyển giá, xét cho cùng, gây ra nhiều tác động tiêu cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội, tác động đến nền kinh tế của cả quốc gia xuất khẩu đầu tư lẫn quốc gia tiếp nhận đầu tư, do đó, chuyển giá không chỉ là vấn đề mang tính chất nội bộ của một quốc gia mà còn là vấn đề mang tính toàn cầu, từ lâu đã được Chính phủ các nước đặc biệt quan tâm Chính vì thế, việc tiếp cận, phát hiện, chứng minh và xử lý hành vi chuyển giá của các DN là cực kỳ khó khăn, phức tạp

Kết quả nghiên cứu đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm về sự tác động của các hoạt động có liên quan việc chuyển giá đến lợi nhuận của các DN FDI trên địa bàn tỉnh

Long An năm 2015 với 09 yếu tố: (1) Nhóm yếu tố có liên quan việc chuyển giá, gồm:

Thuế suất thuế TNDN của quốc gia đầu tư; Ngành nghề SXKD; Tỷ lệ kim ngạch nhập

khẩu từ DN liên kết; Số năm báo lỗ trong giai đoạn 2007-2015 (2) Nhóm yếu tố về

hoạt động SXKD, gồm: Giá thành sản xuất; ROE; Số tiền bị truy thu – phạt; Số thuế

TNDN phải nộp và số năm hoạt động của DN Tuy mức độ tác động và tầm quan trọng của các yếu tố là khác nhau, song, nghiên cứu đã cung cấp được những bằng chứng rõ ràng, mạnh mẽ về thao tác chuyển giá của các DN FDI Kết quả nghiên cứu là cơ sở để khẳng định hoạt động chuyển giá chỉ có thể xảy ra giữa các chủ thể liên kết, mà nguyên nhân sâu xa chính là do sự chênh lệch thuế suất thuế TNDN giữa các quốc gia Tình trạng “Lỗ giả lãi thật” kéo dài nhiều năm của các DN FDI đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả quản lý nhà nước và số thu nộp ngân sách trên địa bàn

Kết quả nghiên cứu cũng cung cấp những thông tin đáng tin cậy để các cơ quan quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh Long An có điều kiện đánh giá một cách khách quan, khoa học về hiệu quả thu hút đầu tư, từ đó, đề ra những biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý DN FDI và kiểm soát hoạt động chuyển giá của những DN này Đây cũng là hồi chuông cảnh tỉnh, đã đến lúc các ngành chức năng cần thận trọng hơn trong việc cấp phép và thực hiện ưu đãi đầu tư sao cho việc thu hút đầu tư thật sự tạo được động lực cho phát triển kinh tế - xã hội cho đất nước

Trang 4

Lời cam đoan i

2.2 Lý luận chung về chuyển giao nội bộ và định giá chuyển giao 11

Trang 5

2.3.1 Chuyển giá và nguyên nhân của chuyển giá 15

2.3.6 Các hoạt động chuyển giá chủ yếu của Việt Nam 27

2.4.1 Các nghiên cứu trước và bằng chứng thực nghiệm về chuyển giá 32 2.4.2 Sự khác nhau giữa nghiên cứu và các nghiên cứu trước 39

2.5 Giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu đề nghị 40

3.4 Mô hình nghiên cứu và đo lường các biến trong mô hình 52

3.4.2 Mô tả và kỳ vọng dấu của các biến độc lập trong mô hình 53

Trang 6

3.5.1.1 Thống kê mô tả 57

3.5.2.3 Kiểm định phương sai sai số của phần dư thay đổi 59

3.5.2.5 Kiểm định phân phối chuẩn của phần dư 59

4.1.1 Đặc điểm chung về các DN FDI tại Long An 61 4.1.2 Đặc điểm về hoạt động SXKD của các DN FDI tại Long An 64 4.1.3 Một số đặc điểm của hoạt động có liên quan chuyển giá của DN FDI 67 4.1.4 Đặc điểm lợi nhuận của DN FDI phân theo các nhóm đặc trưng 69

4.2 Ước lượng ảnh hưởng của các hoạt động có liên quan việc chuyển giá 72

4.2.2 Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến 73 4.2.3 Kiểm định phương sai sai số của phần dư thay đổi 75 4.2.4 Kiểm định phân phối chuẩn của phần dư và tự tương quan 76 4.2.4.1 Kiểm định phân phối chuẩn của phần dư 76

4.3 Phân tích kết quả hồi quy tác động của các yếu tố liên quan chuyển giá 79

Trang 7

5.2 Hàm ý với công tác kiểm soát hoạt động chuyển giá 89

Phụ lục 1 Kết quả thanh tra giá chuyển nhượng DN FDI tại Long An 104

Phụ lục 2 Các phương pháp định giá chuyển giao nội bộ theo OECD 109 Phụ lục 3 Kinh nghiệm kiểm soát chuyển giá của các nước 116

Phụ lục 4b Tổng hợp kết quả khảo sát ý kiến chuyên gia 125

Trang 8

Trang

- Hình 1.1 và 1.2 Tình hình khai báo lợi nhuận của DN FDI tại Long An 2

- Hình 3.2 Tổng hợp biến, kỳ vọng dấu và giả thuyết của mô hình nghiên cứu 56

- Hình 4.1 Thống kê về châu lục của DN FDI tại Long An 61

- Hình 4.2 Thống kê về quốc gia của DN FDI tại Long An 61

- Hình 4.3 Đặc điểm về ngành nghề SXKD của DN FDI 62

- Hình 4.4 Tình hình khai báo lợi nhuận của các DN FDI theo thời gian 64

- Hình 4.5 Đặc điểm về thuế suất thuế TNDN của quốc gia đầu tư 67

Trang 9

Trang

- Bảng 1.1 Tình hình thu ngân sách và xử lý vi phạm đối với DN FDI 2

- Bảng 2.1 Tổng hợp yếu tố tác động đến chuyển giá theo nghiên cứu trước 35

- Bảng 3.1 Mô tả các biến của mô hình nghiên cứu 53

- Bảng 4.2 Đặc điểm về tài sản và vốn của DN FDI tại Long An 63

- Bảng 4.3 Tình hình hoạt động SXKD của DN FDI 65

- Bảng 4.4 Số liệu miễn giảm thuế và kết quả xử lý qua thanh tra, kiểm tra 66

- Bảng 4.5 Thống kê một số yếu tố liên quan hoạt động chuyển giá 68

- Bảng 4.6 Đặc điểm về lợi nhuận của DN theo quan hệ liên kết 69

- Bảng 4.7 Đặc điểm lợi nhuận của DN FDI theo quốc gia đầu tư 70

- Bảng 4.8 Đặc điểm lợi nhuận theo ngành nghề SXKD của DNFDI 70

- Bảng 4.9 Lợi nhuận theo mức thuế suất thuế TNDN của quốc gia đầu tư 72

- Bảng 4.10 Kết quả ước lượng theo mô hình nghiên cứu đề xuất 73

- Bảng 4.11 Kết quả kiểm định ban đầu phương sai sai số thay đổi theo Glejser 75

- Bảng 4.12 Kết quả kiểm định phương sai sai số sau khắc phục theo Glejser 75

- Bảng 4.13 Kết quả ước lượng ảnh hưởng các hoạt động liên quan chuyển giá 76

- Bảng 4.14 Kết quả kiểm định hiện tượng tự tương quan 77

- Bảng 4.15 Kết quả kiểm định độ phù hợp chung của mô hình 78

- Bảng 4.16 Tổng hợp mức ý nghĩa và dấu của mô hình nghiên cứu 79

- Bảng 4.17 Tổng hợp kết quả nghiên cứu về mức độ tác động và tầm quan 84

trọng của các biến độc lập đối với lợi nhuận của các DN FDI

Trang 10

ANOVA : Phân tích phương sai (Analysis of Variance)

APA: Thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế BCC: Hợp đồng hợp tác kinh doanh

CCN: Cụm công nghiệp

DN: Doanh nghiệp

DNNN: Doanh nghiệp Nhà nước

ĐBSCL: Đồng bằng Sông Cửu Long

FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài

FGLS: Phương pháp Bình phương tối thiểu tổng quát khả khi

GDP: Tổng sản phẩm quốc nội

IRS: Cơ quan Thuế nội địa Mỹ

ITP: Chuyển giá quốc tế (International Transfer Pricing)

KCN: Khu công nghiệp

KTTĐPN: Kinh tế trọng điểm phía Nam

MNCs: Các công ty đa quốc gia

MNC: Công ty đa quốc gia

NDT: đồng Nhân dân tệ của Trung Quốc

OECD: Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế

OLS: Phương pháp bình phương bé nhất (Ordinary Least Squares) SIG.: Mức ý nghĩa quan sát (Observed significance level)

Trang 11

(Statistical Package for the Social Sciences)

SXKD: Sản xuất kinh doanh

TNDN: Thu nhập doanh nghiệp

Trang 12

TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ VÀ LÝ DO NGHIÊN CỨU

Long An là tỉnh ĐBSCL vừa nằm trong vùng KTTĐPN, vừa là cầu nối TP.HCM với các tỉnh miền Tây Nam bộ Hầu hết các hoạt động kinh tế xuất phát từ vùng KTTĐPN hướng về ĐBSCL và ngược lại đều đi qua Long An Điều này cũng đồng nghĩa

Long An nằm ngay trong thị trường lớn và năng động nhất cả nước (cả về số lượng, sức

mua và mức độ tiêu dùng so với thu nhập), đây là điều kiện thuận lợi để Long An đa dạng

hóa các loại hình sản phẩm hàng hóa, dịch vụ, phát triển kinh tế xã hội, thu hút đầu tư

Cùng với quá trình hội nhập và phát triển của đất nước, những năm qua, Long An

đã có sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế xã hội và là tỉnh luôn dẫn đầu khu vực ĐBSCL về

số lượng dự án FDI Theo Ban Quản lý các Khu kinh tế tỉnh Long An (2015), toàn tỉnh

có 16 KCN và 32 CCN với diện tích 3.415 ha và 466 dự án FDI đã đi vào hoạt động Số liệu thống kê tại Cục Hải quan tỉnh Long An cho thấy giai đoạn 2011-2015, kim ngạch xuất nhập khẩu của khu vực FDI tăng bình quân khoảng 30%/năm

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy khu vực FDI cũng không kém phần phức tạp Số lượng giao dịch thương mại quốc tế diễn ra giữa các DN có quan

hệ liên kết có sự gia tăng mạnh mẽ Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt như

hiện nay, vấn đề tối đa hóa lợi nhuận luôn là mục tiêu hàng đầu của các DN, MNCs (gọi

chung là DN FDI, xét ở khía cạnh quốc gia tiếp nhận đầu tư) Ngoài việc nỗ lực nâng

cao hiệu quả hoạt động, chuyển giá được xem là một trong những phương pháp mà các nhà đầu tư nước ngoài thường áp dụng nhằm mục đích tránh thuế để gia tăng tổng lợi ích cuối cùng Chính vì thế, thời gian qua, bên cạnh các DN FDI SXKD thật sự không hiệu quả dẫn đến thua lỗ thì tình trạng lỗ giả, hoặc lãi thấp lại khá phổ biến, có trường hợp thua lỗ nhiều năm, thậm chí lỗ mất vốn chủ sở hữu nhưng vẫn duy trì SXKD, đầu tư mở rộng sản xuất, thay vì thu hẹp quy mô hoặc ngừng hoạt động theo lẽ tự nhiên

Số liệu thống kê tại Cục Thuế tỉnh Long An cho thấy, số DN FDI khai báo lỗ giai đoạn 2007-2015 chiếm từ 50.6% đến 57.9% tổng số DN FDI hoạt động hằng năm; Tỷ lệ

DN khai báo lãi rất thấp, chỉ khoảng 30% (riêng năm 2007 và 2011, tỷ lệ này lần lượt là

16,8% và 40,5%) Một số DN khai báo lãi nhưng rất thấp, dưới 1 triệu đồng/năm, cá biệt,

Trang 13

năm, 05 năm, thậm chí là 08 năm, 09 năm nhưng vẫn duy trì hoạt động SXKD

Hình 1.1 và 1.2 Tình hình khai báo lợi nhuận của DN FDI tại Long An

Nguồn: Cục Thuế tỉnh Long An, 2007-2015

Tổng số thu nộp ngân sách từ các DN FDI tuy có tăng lên hằng năm song tỷ lệ đóng góp từ khu vực này còn rất khiêm tốn so với nguồn lực sử dụng và tổng vốn đầu tư

(chỉ khoảng 14% đến 22% tổng thu ngân sách) Qua công tác thanh tra, kiểm tra, cơ quan

Thuế đã phát hiện và xử lý nhiều DN FDI có hành vi gian lận, trốn thuế

Bảng 1.1 Tình hình thu ngân sách và xử lý vi phạm đối với DN FDI tại Long An

% thu FDI/

tổng thu

DN vi phạm/DN kiểm tra

Số tiền

xử lý giảm lỗ

Số tiền giảm khấu trừ

Số tiền truy thu

Số tiền phạt VPHC

Năm

2011 526,5 3.732,7 14,1 3/16 21,1 1,4 0,9 1,1 Năm

2012 619,3 4.039,7 15,3 4/25 48,5 0,8 4,5 0,4 Năm

2013 786,4 4.653,4 16,9 41/64 33,7 0,7 1,7 1,8 Năm

2014 1.152,0 5.233,4 22,0 27/52 70,1 0,3 1,3 1,0 Năm

2015 1.184,1 8.091,5 14,6 38/61 129,6 1,2 4,5 4,9

Nguồn: Cục Thuế tỉnh Long An, 2011-2015

Ngoài ra, thực hiện chỉ đạo của Tổng cục Thuế tại công văn số 14/TCT-CC ngày 10/10/2013, về thanh tra giá chuyển nhượng, xác định giá thị trường trong kinh doanh giữa các bên liên kết đối với 42 DN có rủi ro về thuế TNDN thuộc các tỉnh, thành phố

Năm 2010

Năm 2011

Năm 2012

Năm 2013

Năm 2014

Năm 2015

55 65

103 121 120

161 171

221 257

95 126

183 210

237 288 328 386

35 25 22

SỐ DN KHAI BÁO LỖ

02 năm 03 năm 04 năm

05 năm 06 năm 07 năm

08 năm 09 năm Lãi/lỗ chu kỳ

Trang 14

giao dịch liên kết để chuyển giá, đã xử lý giảm lỗ 388,6 tỷ đồng, truy thu thuế và phạt vi phạm hành chính 27,2 tỷ đồng; Cũng trong năm 2014, Cục Thuế tiến hành thanh tra giá chuyển nhượng tại một DN khác, kết quả, đã xử lý giảm lỗ 77,7 tỷ đồng, truy thu thuế và phạt vi phạm hành chính 4,5 tỷ đồng (Cục Thuế tỉnh Long An, 2014)

(Kết quả thanh tra giá chuyển nhượng các DN FDI tại Long An theo Phụ lục 1)

Những số liệu nêu trên cho thấy tình trạng gian lận, trốn thuế cũng như việc sử dụng các quan hệ và giao dịch liên kết để chuyển giá của các DN FDI trên địa bàn tỉnh Long An đang có chiều hướng gia tăng với những diễn biến hết sức phức tạp

Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy: chuyển giá là một hệ quả khó tránh khỏi của việc tiếp nhận đầu tư, các quốc gia trong quá trình phát triển sẽ phải lần lượt trải qua và từng bước tìm cách khắc phục Chuyển giá không mới ở nhiều nước và là một trong những mối quan tâm hàng đầu của Chính phủ các nước, thu hút rất nhiều quan tâm nghiên cứu của các nhà kinh tế và được minh chứng bằng rất nhiều bằng chứng thực nghiệm Song, tại Việt Nam, chuyển giá là lĩnh vực còn khá mới mẻ, các nghiên cứu về vấn đề này chủ yếu tập trung vào việc phân tích tình huống để đưa ra nhận định về các hoạt động có khả năng chuyển giá, rất ít nghiên cứu đưa ra bằng chứng thực nghiệm khẳng định hoạt động nào thật sự là hoạt động chuyển giá, vì thế, các giải pháp còn chung chung, thiếu tính thuyết phục; Riêng tại Long An thời gian qua chưa có Đề tài nào nghiên cứu về vấn đề này Hơn nữa, cùng với 189 cá nhân và tổ chức Việt Nam có tên trong Hồ sơ Panama thì các quốc gia, vùng lãnh thổ có nhiều cá nhân và tổ chức bị điểm danh trong Hồ sơ Panama như Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan… cũng là những quốc gia có số lượng dự án đầu tư vào Long An cao nhất Đặc biệt, có 16 dự án đầu tư tại Long

An đến từ các “thiên đường thuế” - British Virgin Islands và Bắc Irelands

Chính vì thế, nghiên cứu, tìm ra bằng chứng thực nghiệm về chuyển giá và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm soát hoạt động này nhằm góp phần lành mạnh hóa môi trường đầu tư, tạo sự cạnh tranh công bằng, bình đẳng cho các DN là một yêu cầu mang tính cấp thiết đối với Việt Nam nói chung, Long An nói riêng Đó cũng chính là lý do để

tác giả quyết định chọn Đề tài “Nghiên cứu tác động của những hoạt động có liên quan

việc chuyển giá đến lợi nhuận của các DN FDI trên địa bàn tỉnh Long An”

Trang 15

Hiện nay, có trên 60% hoạt động thương mại quốc tế xuất phát từ giao dịch của MNCs (Chu Văn Trí, 2012; Ngô Quang Trung, 2014) Cùng với tình trạng ngày càng nhiều DN FDI bị cơ quan quản lý các nước chứng minh có sử dụng giao dịch liên kết để

chuyển giá với mức độ ngày càng tinh vi, phức tạp thì việc nghiên cứu “Tác động của

những hoạt động có liên quan việc chuyển giá đến lợi nhuận của các DN FDI” có tầm

quan trọng đặc biệt, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước đối với DN FDI, kiểm soát hoạt động chuyển giá và hạn chế tác động tiêu cực của những hoạt động này nhằm góp phần lành mạnh môi trường đầu tư, thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế bền vững

Nghiên cứu tập trung giải quyết các mục tiêu cụ thể sau đây:

(1) Tìm kiếm mối liên hệ thực tế giữa các hoạt động có liên quan việc chuyển giá đến lợi nhuận của các DN FDI tại Long An

(2) Đo lường và đánh giá mức độ tác động của các hoạt động có liên quan việc chuyển giá đến lợi nhuận của các DN FDI tại Long An

(3) Từ kết quả nghiên cứu, đưa ra những kết luận và khuyến nghị giải pháp nhằm góp phần kiểm soát chuyển giá và hạn chế tác động tiêu cực của các hoạt động này, qua

đó, góp phần lành mạnh hóa môi trường đầu tư, thu hút đầu tư cho tỉnh nhà

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Một là, có hay không các hoạt động có liên quan việc chuyển giá của các DN FDI trên địa bàn tỉnh Long An?

Hai là, các hoạt động có liên quan việc chuyển giá có tác động như thế nào đến lợi nhuận của các DN FDI trên địa bàn?

Ba là, giải pháp nào để kiểm soát chuyển giá và hạn chế tác động tiêu cực từ các hoạt động có liên quan việc chuyển giá tại Long An?

1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Đề tài là tình hình hoạt động của các DN FDI, các hoạt động có liên quan việc chuyển giá và tác động của những hoạt động này đến lợi nhuận của các DN FDI trên địa bàn tỉnh Long An

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 16

trong các DN FDI và các giao dịch thương mại quốc tế mà còn có thể thực hiện bởi các

DN có hệ thống công ty mẹ - công ty con chỉ hoạt động SXKD trong nước, hoặc bởi các chủ thể độc lập nhưng chủ sở hữu có quan hệ nhân thân với nhau Trong phạm vi nghiên cứu này tác giả tập trung xem xét khả năng tác động của các hoạt động có liên quan việc chuyển giá đến lợi nhuận của DN FDI tại Long An qua giao dịch thương mại quốc tế

1.5 Phương pháp nghiên cứu

1.5.1 Phương pháp thực hiện nghiên cứu

Đề tài này sẽ kết hợp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng, gồm:

Bước 1, thực hiện nghiên cứu định tính:

Tác giả xây dựng giả thuyết nghiên cứu dựa trên cơ sở lý thuyết, kết hợp với các nghiên cứu trước cùng các bằng chứng thực nghiệm về chuyển giá nhằm tạo cơ sở vững chắc cho các bằng chứng về mức độ ảnh hưởng của các nhân tố có liên quan việc chuyển giá đến lợi nhuận của các DN FDI

Do tính phức tạp và nhạy cảm của chuyển giá, để kiểm tra các giả thuyết trước khi đưa vào mô hình nghiên cứu, tác giả tiến hành khảo sát ý kiến chuyên gia là cán bộ công chức công tác tại các cơ quan quản lý Nhà nước tại tỉnh Long An để xem xét ý kiến đánh giá của chuyên gia về khả năng tác động của các yếu tố được xây dựng trong giả thuyết nghiên cứu, từ đó, quyết định lựa chọn các yếu tố phù hợp nhất có khả năng có liên quan việc chuyển giá của các DN FDI trên địa bàn để đưa vào mô hình nghiên cứu

Bước 2, tiến hành nghiên cứu định lượng:

Trên cơ sở mô hình nghiên cứu đã được xây dựng, tác giả tiến hành thu thập thông tin, dữ liệu nghiên cứu từ các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan đối với 466 DN FDI đang hoạt động tại tỉnh Long An trong năm 2015 Sử dụng phần mềm SPSS 22.0 và EVIEWS 6.0 để thực hiện các bước kiểm định mô hình và phân tích kết quả nghiên cứu, xác định mức độ tác động của các yếu tố có liên quan việc chuyển giá đến lợi nhuận của các DN FDI được nghiên cứu

1.5.2 Dữ liệu nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu thứ cấp thu thập được từ nguồn dữ liệu của Cục Thuế tỉnh Long An, Cục Hải quan tỉnh Long An, Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh Long An,

Trang 17

các quốc gia đầu tư được thu thập từ www.oecd.org/tax và www.tradingeconomics.com

Dữ liệu dùng trong nghiên cứu là bộ dữ liệu năm 2015, đồng thời, để làm rõ một

số chỉ tiêu có liên quan, đề tài sử dụng dữ liệu giai đoạn 2007-2015

1.6 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI

Thực tiễn cho thấy: hoạt động chuyển giá của các DN FDI ngày càng phổ biến, là một trong những nguyên nhân gây thất thu cho ngân sách nhà nước Hơn nữa, chuyển giá

có thể tạo nên bức tranh kinh tế không trung thực, gây ra sự cạnh tranh không bình đẳng giữa các DN, các thành phần kinh tế, làm ảnh hưởng đến môi trường đầu tư, gây khó khăn cho công tác quản lý nhà nước và điều hành kinh tế vĩ mô

Qua nghiên cứu các bằng chứng thực nghiệm về chuyển giá, thực tiễn hoạt động của các DN FDI, kết quả nghiên cứu này đã chỉ rõ mức độ tác động của các hoạt động có liên quan việc chuyển giá đến lợi nhuận của DN FDI tại Long An Nghiên cứu không chỉ cung cấp bằng chứng thực nghiệm về việc sử dụng giao dịch liên kết để chuyển giá mà còn làm rõ sự chênh lệch trong thuế suất thuế TNDN giữa các quốc gia là nguyên nhân sâu xa dẫn đến hành vi chuyển giá Nghiên cứu cũng chỉ rõ gia công, SXXK và xuất nhập khẩu kinh doanh là những lĩnh vực có khả năng chuyển giá cao hơn các DN khác và khi

DN có số năm khai báo lỗ càng nhiều thì khả năng chuyển giá càng cao Đây chính là phát hiện mới của nghiên cứu này so với các nghiên cứu trước về chuyển giá tại Việt Nam Từ kết quả nghiên cứu, Đề tài đã góp phần nhận diện rõ dấu hiệu, động cơ, những tác động của chuyển giá, từ đó, đề xuất giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả kiểm soát chuyển giá tại Long An, có thể mở rộng trên phạm vi toàn quốc

Kết quả nghiên cứu của Đề tài cũng cung cấp những thông tin đáng tin cậy để các

cơ quan quản lý nhà nước của tỉnh Long An có điều kiện đánh giá một cách khách quan, khoa học về hiệu quả thu hút đầu tư, từ đó, đề ra những biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý DN FDI, kiểm soát hoạt động chuyển giá và hạn chế tác động tiêu cực do chuyển giá Đây cũng là hồi chuông cảnh tỉnh, đã đến lúc các ngành chức năng cần thận trọng hơn trong cấp phép và thực hiện ưu đãi đầu tư sao cho việc thu hút đầu tư FDI thật sự tạo được động lực cho phát triển kinh tế - xã hội

Trang 18

Ngoài Lời cam đoan, lời cảm ơn, mục lục, các phụ lục, danh mục bảng biểu, danh mục hình vẽ, danh mục từ viết tắt, nội dung của Luận văn gồm năm Chương như sau:

CHƯƠNG 1: Tổng quan về Đề tài Nội dung Chương này giới thiệu về lý do chọn đề tài,

mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi, đối tượng nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu và kết cấu của Luận văn

CHƯƠNG 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước Trình bày các lý thuyết về FDI,

về thương mại quốc tế; Một số lý luận chung về lợi nhuận, về định giá chuyển giao nội bộ và chuyển giá; Các nghiên cứu trước về chuyển giá và

mô hình nghiên cứu đề xuất

CHƯƠNG 3: Thiết kế nghiên cứu Giới thiệu sơ lược về quy trình nghiên cứu, giả thuyết

nghiên cứu, mô hình tuyến tính bội, phương pháp và dữ liệu nghiên cứu

CHƯƠNG 4: Kết quả nghiên cứu Xác định mức độ tác động của các hoạt động có liên

quan việc chuyển giá đến lợi nhuận của các DN FDI trên địa bàn tỉnh Long

An, đồng thời phân tích mối liên hệ giữa các biến

CHƯƠNG 5: Kết luận và khuyến nghị, trình bày kết luận về kết quả nghiên cứu, đề xuất

một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát hoạt động chuyển giá, các hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

Trang 19

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC

Chương này sẽ trình bày lý thuyết về FDI; Lý luận chung về chuyển giao nội bộ

và định giá chuyển giao; Lý luận chung về chuyển giá; Các nghiên cứu trước về chuyển giá, giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu đề nghị

2.1 ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI)

2.1.1 Khái niệm:

Theo Trịnh Thị Xuân Vân và Nguyễn Hoàng Ngân (2012), đầu tư quốc tế là một hình thức di chuyển quốc tế về vốn, trong đó vốn được di chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác để thực hiện một hoặc một số dự án đầu tư nhằm đem lại lợi ích cho các bên tham gia Vốn đầu tư quốc tế có hai dòng chính: đầu tư tư nhân và hỗ trợ phát triển chính thức của các Chính phủ, các tổ chức quốc tế Đầu tư tư nhân được thực hiện dưới

ba hình thức là FDI, đầu tư gián tiếp và tín dụng thương mại

Theo IMF (1993), FDI là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một DN hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích là giành quyền quản lý DN

Theo Huq, Ross và Forsyth (2009), FDI là khoản chuyển từ công ty mẹ ở nước ngoài đến các quốc gia khác để xây dựng chi nhánh hoặc cơ sở kinh doanh Đầu tư “trực tiếp” là việc sở hữu lâu dài các cơ sở kinh doanh hoặc nhà máy ở nước ngoài, khác với đầu tư “gián tiếp” chỉ là sự sở hữu các tài sản tài chính

Luật Đầu tư (2014) giải thích “Nhà đầu tư nước ngoài” là các cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam; “Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài” là tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông; Còn “Vốn đầu tư” là tiền và tài sản khác để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh

Trang 20

Như vậy, có thể hiểu FDI là một hình thức đầu tư quốc tế mà ở đó nhà đầu tư từ

nền kinh tế của quốc gia khác đóng góp một số vốn nhất định (theo quy định của quốc

gia tiếp nhận đầu tư) vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh hoặc dịch vụ mà ở đó họ trực

tiếp tham gia điều hành đối tượng họ tự bỏ vốn đầu tư

2.1.2 Các hình thức FDI tại Việt Nam:

Theo Luật Đầu tư (2014), FDI được thực hiện dưới ba hình thức:

Một là, đầu tư thành lập tổ chức kinh tế đáp ứng những điều kiện và thực hiện các

thủ tục đầu tư theo quy định đối với nhà đầu tư nước ngoài; Đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; Đầu tư theo hợp đồng BCC thuộc một trong các trường hợp: Có nhà đầu tư nước ngoài hoặc có tổ chức kinh tế hoặc có cả nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên hoặc có đa số thành viên hợp danh là cá nhân nước ngoài đối với tổ chức kinh tế là công ty hợp danh

Hai là, nhà đầu tư nước ngoài được góp vốn vào tổ chức kinh tế theo các hình

thức: Mua cổ phần phát hành lần đầu hoặc cổ phần phát hành thêm của công ty cổ phần; Góp vốn vào công ty TNHH, công ty hợp danh; Góp vốn vào tổ chức kinh tế khác

Ba là, nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế theo

các hình thức: Mua cổ phần của công ty cổ phần từ công ty hoặc cổ đông; Mua phần vốn góp của các thành viên trong công ty TNHH; Mua phần vốn góp của thành viên góp vốn trong công ty hợp danh; Mua phần vốn góp của thành viên tổ chức kinh tế khác

2.1.3 Vai trò của FDI

Thực tiễn cho thấy, khu vực FDI ngày càng có vai trò quan trọng, với những tác động tích cực lẫn tiêu cực đến nền kinh tế của cả quốc gia tiếp nhận đầu tư lẫn quốc gia chủ đầu tư Nghiên cứu này chỉ đề cập đến vai trò của FDI đến quốc gia tiếp nhận đầu tư

2.1.3.1 Tác động tích cực của khu vực FDI:

Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (2011); Hồng Phương Linh (2011); Nguyễn Mại (2012); Bùi Trinh và Nguyễn Huy Minh (2015) đều thống nhất quan điểm:

FDI góp phần (1) bổ sung nguồn vốn, thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, tăng

Trang 21

thu ngân sách, ổn định kinh tế vĩ mô; (2) Tiếp thu công nghệ, kỹ năng quản lý, tạo việc làm và đào tạo lao động, tham gia vào mạng lưới sản xuất toàn cầu

Hồng Phương Linh (2011) và Bùi Quan Trọng (2012) còn chỉ rõ: (3) FDI làm

năng động hóa nền kinh tế, tạo áp lực buộc các công ty trong nước phải đổi mới, phải chuyển mình để có thể lớn mạnh và tồn tại trong nền kinh tế thị trường, là tác nhân quan trọng để hiện đại hóa và thúc đẩy quá trình tái cơ cấu kinh tế của Việt Nam Theo

Nguyễn Mại (2012), FDI còn góp phần (4) hình thành nhiều ngành kinh tế mới như ôtô,

hóa dầu, tài chính… với các phương thức kinh doanh hiện đại, công nghệ tiên tiến, góp phần nâng cao thu nhập và thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của các tầng lớp dân cư

Khi nghiên cứu thực trạng thu hút đầu tư tại Việt Nam, Nguyễn Thị Tuệ Anh và cộng sự (2006) chỉ ra rằng FDI ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh

tế, (5) là nguồn vốn quan trọng trong tổng vốn đầu tư xã hội, góp phần cải thiện cán cân

thanh toán; (6) góp phần tăng cường năng lực sản xuất, làm tăng năng suất và thu nhập quốc dân, khai thông thị trường sản phẩm (đặc biệt là gia tăng kim ngạch xuất khẩu)

Bên cạnh đó, nghiên cứu thấy rằng: (7) tỷ trọng đóng góp vào GDP của khu vực

FDI ngày càng tăng Đối với quốc gia tiếp nhận đầu tư, FDI sẽ ít rủi ro hơn so với đầu tư

gián tiếp, do nhà đầu tư phải tự đứng ra quản lý và chịu trách nhiệm về những quyết định

đầu tư của mình, do đó, (8) các nước nhận đầu tư trực tiếp không phải lo trả nợ và ít chịu

rủi ro trước sự phá sản hoặc giải thể của các nhà đầu tư nước ngoài FDI còn góp phần (9) giải quyết sự mất cân đối về phát triển giữa các vùng lãnh thổ, phát huy những lợi thế

so sánh về tài nguyên, nguồn nhân lực Những tác động tích cực của khu vực FDI tạo ra

kênh truyền tác động tích cực hữu hiệu đến nền kinh tế đất nước

2.1.3.2 Những mặt hạn chế của khu vực FDI:

Theo Hồng Phương Linh (2011), khu vực FDI gây tác động tiêu cực đến quốc gia tiếp nhận đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài có thể kiểm soát thị trường làm mất tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế; FDI làm phá vỡ hàng rào thuế quan, tạo ra sự cạnh tranh không bình đẳng giữa các DN, làm chảy máu chất xám

Trang 22

Theo Viện Nghiên cứu quản lý Kinh tế Trung ương (2011); Đào Phú Quý (2014a); Bùi Trinh và Nguyễn Huy Minh (2015) thì hiệu quả sử dụng vốn FDI của Việt Nam khá thấp, việc chuyển giao công nghệ khá chậm chạp, chưa tạo được sức lan tỏa sang các khu vực kinh tế khác; Hiện nay, do các DN FDI của Việt Nam chủ yếu là gia công nên hàm lượng giá trị gia tăng còn thấp; Nhiều dự án FDI sử dụng công nghệ lạc hậu gây ô nhiễm, tác động xấu đến môi trường – đây cũng là quan điểm của Bùi Quan Trọng (2012)

Trong khi đó, theo Nguyễn Mại (2012) thì hoạt động FDI chưa phù hợp với quy hoạch phát triển của Việt Nam; Mặt khác, tình trạng “Cuộc chiến giữa các tỉnh, thành phố chào mời nhà đầu tư quốc tế” bằng những ưu đãi quá mức về thuế, tiền thuê đất gây ảnh hưởng tiêu cực đến phúc lợi chung của cộng đồng

Đặc biệt, cả Viện Nghiên cứu quản lý Kinh tế Trung ương (2011); Bùi Quan Trọng (2012); Nguyễn Mại (2012); Bùi Trinh và Nguyễn Huy Minh (2015) đều thống nhất rằng: tình trạng “Lỗ giả lãi thật” thông qua hoạt động chuyển giá của các DN FDI nhằm chuyển thu nhập và lợi nhuận về nước ngày càng phổ biến, gây thất thu cho ngân sách Đào Phú Quý (2014a) còn nhấn mạnh rằng: các DN FDI luôn báo lỗ và có dấu hiệu lạm dụng chính sách giá chuyển giao nội bộ để chuyển giá quốc tế

Từ thực tiễn hoạt động của khu vực FDI và tình hình kinh tế - xã hội của Việt Nam nói chung, địa phương Long An nói riêng, tác giả đồng tình với các nghiên cứu trên

về vai trò của khu vực FDI đối với nền kinh tế của quốc gia tiếp nhận đầu tư, thông qua

cả hai mặt tích cực và hạn chế của vấn đề

2.2 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHUYỂN GIAO NỘI BỘ, ĐỊNH GIÁ CHUYỂN GIAO

2.2.1 Chuyển giao nội bộ

Theo Nguyễn Thanh Hải (2009), chuyển giao nội bộ là các nghiệp vụ mua bán qua lại giữa các công ty mẹ và công ty con hoặc giữa các công ty con với nhau Các công ty con hoạt động ở nhiều quốc gia khác nhau, do đó, các giao dịch nội bộ giữa các công ty này diễn ra rất đa dạng và phức tạp với số lượng ngày càng lớn

Trang 23

Dựa vào tính chất và đặc điểm của các nghiệp vụ mua bán nội bộ phổ biến trên thị trường, có thể phân chia các nghiệp vụ mua bán nội bộ thành các nhóm sau:

(1) Các nghiệp vụ mua bán nội bộ liên quan đến nguyên vật liệu có tính đặc thù cao, hay các nguyên vật liệu mà một công ty con đặt tại một quốc gia có các lợi thế riêng làm cho giá của nguyên vật liệu ấy thấp

(2) Các nghiệp vụ mua bán nội bộ liên quan đến các thành phẩm: các công ty con tại các quốc gia khác nhau có thể mua thành phẩm được sản xuất tại một quốc gia, sau đó bán lại mà không cần phải đầu tư máy móc hay nhân công cho sản xuất

(3) Các giao dịch liên quan việc dịch chuyển máy móc, thiết bị cho sản xuất, đặc biệt hơn, điểm đến của các giao dịch này là các quốc gia đang phát triển

(4) Các giao dịch liên quan đến các tài sản vô hình: nhượng quyền, bản quyền, thương hiệu, nhãn hàng, các chi phí liên quan đến nghiên cứu, phát triển sản phẩm…

(5) Có sự cung cấp các dịch vụ quản lý, dịch vụ tài chính hay chi phí cho các chuyên gia vào làm việc tại nước nhận chuyển giao

(6) Có sự tài trợ và nhận tài trợ về các nguồn lực như tài lực và nhân lực

(7) Có các khoản đi vay và cho vay nội bộ các công ty con của DN FDI hay giữa công ty mẹ và các công ty con với nhau

2.2.2 Định giá chuyển giao

Theo Eden (2003), định giá chuyển giao là việc thiết lập giá cho những giao dịch

nội bộ (tức là giao dịch giữa các bên liên kết) đối với hàng hóa, dịch vụ, tài sản vô hình

và dòng vốn trong MNC

Theo Nguyễn Thanh Hải (2009), định giá chuyển giao nội bộ xảy ra trong trường hợp một công ty sở hữu dây chuyền sản xuất quốc tế Đó là giá mà các chi nhánh của công ty “bán” hàng hóa hay dịch vụ cho nhau, nó không chỉ tác động lên kết quả hoạt động của chi nhánh mà còn tác động lên ngân sách quốc gia Giá nội bộ có thể dựa trên

cơ sở giá thị trường, chi phí hay qua thương lượng Tuy nhiên, thường yếu tố quyết định vẫn là giảm số thuế phải nộp

Trang 24

Ví dụ, một MNC có chi nhánh ở Đài Loan và Malaysia Giả sử thuế TNDN ở Đài Loan là 20%, Malaysia là 40% thì chi nhánh ở Đài Loan có thể tăng giá chuyển giao hàng hóa cho chi nhánh ở Malaysia Nếu khoản nâng giá là 100.000 USD thì lợi nhuận báo cáo ở Đài Loan tăng 100.000 USD và thuế phải nộp sẽ tăng thêm 20.000 USD, trong khi lợi nhuận ở Malaysia bị giảm đi 100.000 USD nên thuế phải đóng giảm 40.000 USD Cuối cùng, công ty này sẽ được lợi 20.000 USD tiền thuế

Như vậy, định giá chuyển giao là việc sử dụng các phương pháp để xác định giá

cả của các nghiệp vụ chuyển giao trong nội bộ một MNC phù hợp với thông lệ quốc tế và được chấp nhận bởi các quốc gia nơi các công ty con của MNC đó đang hoạt động

Theo OECD (2010), các phương pháp định giá chuyển giao nội bộ gồm: Phương pháp giá tự do có thể so sánh được; Phương pháp giá vốn cộng thêm chi phí; Phương pháp giá bán lại; Phương pháp chiết tách lợi nhuận; Phương pháp so sánh lợi nhuận;

Phương pháp chuyển giao lợi nhuận ròng (Hướng dẫn của OECD về các phương pháp

định giá chuyển giao theo Phụ lục 2)

Trên thực tế, các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ diễn ra thường xuyên với giá trị lớn, do đó, để hạn chế tác động tiêu cực của các nghiệp vụ này, người ta khuyến nghị áp dụng nguyên tắc chung, thống nhất trong định giá chuyển giao nội bộ và nguyên tắc dựa trên căn bản giá thị trường ALP (The Arm’s–Length Principle) cho các giao dịch giữa các bên độc lập do OECD đề ra thường được lựa chọn để áp dụng ALP được xem là nguyên tắc áp dụng chung và thống nhất nhằm đảm bảo tính công bằng trong thương mại

và là cơ sở cho các nghiệp vụ mua bán giữa các quốc gia, do các điều kiện thương mại và tài chính trong quan hệ mua bán giữa các công ty hoàn toàn độc lập chịu tác động của các quy luật khách quan trên thị trường, còn trong giao dịch giữa các bên có quan hệ liên kết thì các tác động của thị trường có thể bị hạn chế, dẫn đến sai lệch, thiếu khách quan

Tuy nhiên, thực tế cho thấy hoạt động thương mại quốc tế diễn ra rất phức tạp nên rất khó xác định được các nghiệp vụ chuyển giao tương đương có thể so sánh được trong một số điều kiện nhất định Chẳng hạn, ALP thật sự rất khó áp dụng trong trường hợp

Trang 25

chuyển giao trong nội bộ MNC gồm nhiều DN liên kết thực hiện dây chuyền công nghệ

sản xuất khép kín và sản phẩm mang tính đặc thù cao (như chuyển giao giá trị tài sản vô

hình đặc biệt nào đó) Vì vậy, trong một số trường hợp, ALP có thể trở thành gánh nặng

về quản lý cho cả MNCs lẫn cho cơ quan Thuế khi phải đối diện với các giao dịch xuyên quốc gia do không thể tìm được đầy đủ thông tin để áp dụng Một sự chệch hướng nguyên tắc ALP trong định giá chuyển giao có thể gây ra rủi ro cho MNCs là phải gánh chịu đánh thuế trùng nhiều lần cho cùng một khoản thu nhập

Khi định giá chuyển giao theo ALP, DN gặp khó khăn trong xác định giá tài sản

vô hình và dịch vụ, lại rất tốn kém; Còn cơ quan Thuế gặp khó khăn do không đủ thông tin để so sánh, thiếu chuyên gia có kỹ năng chuyên môn về định giá tài sản riêng biệt, trong khi DN luôn cố tình thao túng giá chuyển giao Trong MNCs, định giá chuyển giao giữ một vai trò quan trọng cho cả kế toán quản trị và kế toán vì mục đích thuế Thông thường, mục tiêu sau cùng vẫn là nhằm phân bổ lợi nhuận giữa các khu vực

Cách trực tiếp tốt nhất để kiểm tra xem các quan hệ liên kết có tác động thật sự lên giá chuyển giao giữa các công ty trong cùng MNC hay không là so sánh giá chuyển giao

đó với giá cả trong các giao dịch có thể so sánh được giữa các công ty độc lập trong cùng điều kiện, song thực tế rất khó tìm được giao dịch tương ứng có thể so sánh Cách gián

tiếp áp dụng nguyên tắc ALP là phân tích một cách hợp lý lãi ròng (lãi gộp) để có thể xác

định các giao dịch chuyển giao được đề cập có tuân thủ nguyên tắc ALP hay không

Dù còn những hạn chế nhất định nhưng đến nay OECD và các thành viên cũng như cơ quan Thuế các nước vẫn công nhận sự đúng đắn của ALP trong xác định giá chuyển giao giữa các công ty liên kết nhằm hạn chế hành vi chuyển giá của các DN

Để kiểm soát chuyển giá, trốn thuế, OECD cũng khuyến nghị các nước áp dụng cơ

chế “Thỏa thuận xác định giá trước APA (Advance Pricing Agreement)” APA được hiểu

là thỏa thuận đơn phương, song phương hoặc đa phương giữa các đối tượng nộp thuế và

cơ quan Thuế về giá của hàng hóa, dịch vụ, có hiệu lực trong một khoảng thời gian nhất

định (thường từ 03 đến 05 năm) Nhờ đó, APA làm tăng tính chắc chắn của việc xác định

Trang 26

giá APA còn có thể tránh đánh thuế hai lần, giảm thiểu rủi ro liên quan đến việc điều chỉnh của cơ quan Thuế Bản chất của APA là xác định những yếu tố quyết định để đưa

ra mức giá thị trường cho các giao dịch tương lai, vì thế, những giả định về điều kiện kinh doanh là rất quan trọng, phải dựa trên những tài liệu đáng tin cậy và độc lập APA cho phép đối tượng nộp thuế điều chỉnh giao dịch nội bộ tương ứng với các điều kiện đã thỏa thuận mà không bị cho là chuyển giá để đưa vào điều tra, xử lý nên tốn kém thời gian, chi phí, sức lực và tiền của Đồng thời, nó cho phép cơ quan quản lý nhà nước tiếp nhận, xử lý thông tin DN, nâng cao hiệu quả quản lý, kiểm soát chuyển giá, trốn thuế

2.3 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHUYỂN GIÁ

2.3.1 Chuyển giá và nguyên nhân của chuyển giá

2.3.1.1 Khái niệm về chuyển giá (Transfer pricing)

Có nhiều quan niệm khác nhau về chuyển giá, xin lược trích một số khái niệm sau: Lymer và Haseldine (2002) cho rằng: Chuyển giá là việc thực hiện chính sách giá đối với hàng hóa, dịch vụ và tài sản được chuyển dịch giữa các thành viên trong tập đoàn qua biên giới mà không theo giá thị trường nhằm tối thiểu hóa số thuế của MNC trên toàn cầu Đây cũng là khái niệm được nhiều nghiên cứu tại Việt Nam sử dụng

Theo Li (2005), chuyển giá quốc tế (ITP – International Transfer Pricing) là quá trình định giá của hàng hóa và dịch vụ được chuyển giữa các công ty có quan hệ liên kết ở các quốc gia khác nhau Còn Gunaydin (1999, trích bởi Dogan, Deran và Koksal, 2013) cho rằng chuyển giá là thuật ngữ được sử dụng đại diện cho các giá trị của các giao dịch giữa các công ty con trong cùng một tập đoàn, hoạt động tại các quốc gia khác nhau

Theo Phan Thị Thành Dương (2006), chuyển giá là một hành vi do các chủ thể kinh doanh thực hiện bằng cách thay đổi giá trị trao đổi hàng hóa, dịch vụ trong quan hệ với các bên liên kết nhằm tối thiểu hóa tổng số thuế phải nộp của các đối tác liên kết Đối tượng tác động chính của hành vi chuyển giá là giá cả

Chuyển giá là việc thực hiện chính sách giá đối với hàng hóa, dịch vụ được chuyển dịch giữa các thành viên trong tập đoàn qua biên giới không theo giá thị trường nhằm tối

Trang 27

thiểu hóa số thuế phải nộp trên toàn cầu MNCs thường nắm bắt và vận dụng những quy định khác biệt về thuế giữa các quốc gia, các ưu đãi về thuế để xây dựng và áp dụng chính sách giá giao dịch trong nội bộ tập đoàn Giá chuyển giao có thể được định ở mức cao hay thấp tùy vào lợi ích đạt được từ những giao dịch này (Tổng cục Thuế, 2011)

Chuyển giá là việc thực hiện chính sách giá đối với hàng hóa, dịch vụ và tài sản được chuyển dịch giữa các chủ thể liên kết qua biên giới không theo giá thị trường mà theo hướng có lợi, nhằm giúp DN giảm thiểu nghĩa vụ thuế, tối đa hóa lợi nhuận, từ đó

chuyển vốn đầu tư hoặc lợi nhuận về nước, chiếm lĩnh thị trường (đặc biệt là MNCs);

Thanh lý thiết bị, máy móc công nghệ kém hiện đại với giá cao (Dương Văn An, 2013)

Theo Ngô Quang Trung (2014), chuyển giá là việc áp đặt giá cả một cách chủ quan trong giao dịch liên kết không chịu tác động của quy luật cung cầu trên thị trường, dẫn đến sự phản ánh sai lệch kết quả kinh doanh của các bên tham gia, gây bất bình đẳng trong thực hiện nghĩa vụ thuế do xác định không chính xác cơ sở tính thuế

Dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau, song, nhìn chung các nghiên cứu đều cùng thống nhất quan điểm: Chuyển giá là việc các chủ thể kinh tế có quan hệ liên kết thực hiện chính sách giá đối với hàng hóa, dịch vụ và tài sản được chuyển dịch giữa các bên với nhau nhưng không theo giá thị trường nhằm tối thiểu hóa số thuế phải nộp để tối đa hóa lợi nhuận của cả tập đoàn trên toàn cầu

2.3.1.2 Nguyên nhân của chuyển giá

Theo Celik (2000, trích bởi Dogan, Deran và Koksal, 2013) thì chuyển giá được sử dụng để tăng tính chủ động của từng đơn vị thành viên của Tổng công ty; Nó có thể cung cấp một phương tiện để đánh giá và so sánh hiệu suất của các đơn vị khác nhau; Chuyển giá có thể được sử dụng để tạo động lực cho các nhà quản lý tối đa hóa doanh thu và lợi nhuận hoặc tạo cơ hội để so sánh giữa các lựa chọn khác nhau về bán hàng và quyết định mua hàng giữa các chi nhánh

Theo Ngô Quang Trung (2014), hiện tượng chuyển giá của các DN FDI xuất phát

từ sự khác biệt về thuế suất thuế TNDN giữa Việt Nam và các nước Hiện nay ngành

Trang 28

công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam còn khá yếu, buộc các DN phải nhập khẩu nguyên liệu

từ bên ngoài, vì thế có cơ hội để thực hiện thủ thuật chuyển giá nhằm thu lợi nhuận tối đa Hơn nữa, hệ thống luật pháp của Việt Nam vẫn chưa hoàn thiện, còn nhiều kẽ hở và thường có độ trễ so với tình hình phát triển của đất nước

Theo Đào Phú Quý (2014b), các DN, MNCs không bao giờ từ bỏ các cơ hội, các biện pháp để tối đa hóa lợi nhuận, kể cả hành vi chuyển giá, gian lận giá, gian lận thương mại , trong đó, chuyển lợi nhuận qua chuyển giá sẽ khó bị phát hiện hơn so với các gian lận khác và kể cả trong trường hợp bị phát hiện thì việc xử lý cũng không hề đơn giản bởi Chính phủ của mỗi nước thường có xu hướng bảo vệ DN của mình vì lợi ích quốc gia Thêm vào đó, sự ưu đãi quá mức đối với các DN FDI, sự khác biệt về môi trường kinh doanh, đầu tư, về chính sách, pháp luật, thể chế giữa các quốc gia đã tạo ra động cơ và những điều kiện để MNCs xây dựng và triển khai chiến lược chuyển giá của họ

Không chỉ đồng tình với các quan điểm trên, Phương Ly (2015) còn chỉ rõ chế tài

xử phạt của Việt Nam không đủ sức răn đe; Công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán còn nhiều bất cập, chưa đủ sức phát hiện vi phạm; Quản lý nhà nước còn yếu kém, năng lực, trình độ của cán bộ công chức còn hạn chế là nguyên nhân gây ra chuyển giá

Làm rõ hơn vấn đề này, Dương Văn An (2013) cho rằng: nguyên nhân sâu xa của chuyển giá chính là việc chia quyền đánh thuế giữa các quốc gia, theo đó, thu nhập sẽ được chuyển về quốc gia, vùng lãnh thổ có thuế suất thấp hoặc nước xuất khẩu đầu tư

Phan Thị Thành Dương (2006); Tổng cục Thuế (2011); Hồng Phương Linh (2011); Ngô Quang Trung (2014) đều thống nhất rằng: Sở dĩ giá cả có thể được xác định lại trong những giao dịch liên kết là do: (1) Xuất phát từ quyền tự do định đoạt trong kinh doanh, các chủ thể hoàn toàn có quyền mua hay bán hàng hóa, dịch vụ với giá mà họ mong muốn; (2) Xuất phát từ mối quan hệ gắn bó chung về lợi ích nhóm liên kết nên sự khác biệt về giá giao dịch được thực hiện giữa các chủ thể có cùng lợi ích không làm thay đổi lợi ích toàn cục; (3) Việc quyết định chính sách giá giao dịch giữa các thành viên trong nhóm liên kết không thay đổi tổng lợi ích chung nhưng có thể thay đổi tổng nghĩa vụ thuế

Trang 29

của họ Thông qua định giá, nghĩa vụ thuế được chuyển từ nơi bị điều tiết cao sang nơi thấp hơn và ngược lại, do sự khác nhau về chính sách thuế của các quốc gia

Từ đó, nghiên cứu thấy rằng: tối thiểu hóa số thuế phải nộp nhằm tối đa hóa lợi nhuận có vai trò cực kỳ quan trọng trong quyết định chuyển giá Trên thực tế, chuyển giá chỉ có ý nghĩa trong các giao dịch liên kết, việc định giá cao hay thấp tùy thuộc vào lợi ích đạt được từ những giao dịch đó, nó hoàn toàn khác với việc khai báo giá thấp để trốn thuế nhưng sau đó vẫn thanh toán đầy đủ theo giá đã thỏa thuận Các DN nắm bắt và vận dụng những khác biệt về thuế hoặc ưu đãi thuế giữa các quốc gia để hưởng lợi có vẻ như hoàn toàn hợp pháp Hơn thế nữa, hành vi chuyển giá không chỉ diễn ra từ nơi có thuế suất cao sang nơi có thuế suất thấp hơn để tránh thuế mà theo Nguyễn Quang Tiến (2012)

nó còn bao gồm cả chiều ngược lại do công ty mẹ muốn thu hồi vốn nhanh hoặc để thực hiện chiến lược kinh doanh Vì thế, vô hình chung, chuyển giá đã gây bất bình đẳng về lợi ích, tạo ra sự khác biệt trong ưu thế cạnh tranh Biểu hiện cụ thể của chuyển giá là giao kết mang tính áp đặt chủ quan về giá của các chủ thể liên kết Nếu giá giao kết không tương ứng với giá thị trường thì nhiều khả năng giao dịch có biểu hiện chuyển giá

2.3.2 Dấu hiệu nhận biết chuyển giá

Theo Nguyễn Thị Quỳnh Giang (2010), dấu hiệu nhận biết chuyển giá trong một

DN có quan hệ liên kết là: (1) DN bị lỗ hai năm liên tiếp trở lên, sau giai đoạn mới thành lập; (2) DN có các nghiệp vụ chuyển giao từ các DN liên kết ở những quốc gia có thuế suất thấp; (3) DN có tình hình lãi và lỗ luân phiên nhau hoặc tình hình lãi lỗ phát sinh không bình thường; (4) DN có tỷ suất lợi nhuận nhỏ hơn nhiều so với các DN khác trong cùng ngành; (5) DN có tỷ suất lợi nhuận thấp hơn nhiều so với các DN khác trong cùng tập đoàn; (6) DN có chi phí sản xuất thực tế khá thấp

Trong khi đó, theo Võ Phan Sử (2013), biểu hiện của DN có thể có chuyển giá trong mối quan hệ liên kết là: (1) Lỗ trên 03 năm hoặc lỗ âm nguồn vốn chủ sở hữu nhưng vẫn hoạt động, tăng doanh thu và quy mô; (2) Hiệu quả kinh doanh không đáng kể nhưng luôn có sự tài trợ từ các khoản vay của các bên liên kết; (3) Chỉ có một khách

Trang 30

hàng hoặc vài khách hàng trong nhiều năm, thường bán sản phẩm chỉ bằng giá thành sản xuất; (4) Cùng một hàng hóa dịch vụ trong DN nhưng giá bán ở thị trường nội địa cao hơn giá xuất khẩu; (5) Công ty phải trả nhà cung cấp hàng hóa hoặc phải thu khách hàng

có mối liên kết trong nhiều năm không thanh toán công nợ nhưng vẫn phát sinh giao dịch; (6) Xuất xứ hàng hóa có sự tham gia từ ba nước khác nhau trở lên

Dấu hiệu nhận biết chuyển giá cũng có thể là: (1) Số DN thường xuyên báo cáo lỗ nhiều năm chiếm tỷ trọng lớn, có trường hợp lỗ mất vốn chủ sở hữu và mặc dù lỗ thường xuyên nhưng vẫn tiếp tục mở rộng quy mô SXKD; (2) Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu đối với những DN có lãi không đáng kể; (3) Tỷ lệ đóng góp của DN FDI vào ngân sách thấp trong khi tổng dự án và tổng kinh phí đầu tư khá cao (Ngô Quang Trung, 2014)

Dù còn nhiều quan điểm khác nhau, song, nhìn chung các nghiên cứu đều thống nhất rằng dấu hiệu rõ nhất để nhận biết chuyển giá chính là DN khai báo lỗ liên tục nhiều năm, có trường hợp lỗ mất vốn chủ sở hữu nhưng vẫn duy trì SXKD, thậm chí là tăng quy mô, mở rộng sản xuất – đây là một bất hợp lý trong kinh doanh

2.3.3 Phạm vi của chuyển giá

Từ thực tiễn hoạt động của DN FDI và các bằng chứng thực nghiệm về chuyển giá cho thấy: chuyển giá chỉ có thể xảy ra trong giao dịch giữa các chủ thể có quan hệ liên kết; Các DN liên kết có thể hình thành trong cùng một nước hoặc ở nhiều nước khác nhau Do đó, về nguyên tắc, chuyển giá không chỉ diễn ra trong các giao dịch quốc tế mà

có thể xảy ra cả với giao dịch trong nước Tuy nhiên, trên thực tế chuyển giá thường tập trung vào các giao dịch quốc tế do sự khác biệt về chính sách thuế giữa các quốc gia Trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả chỉ đề cập đến giao dịch liên kết thông qua hoạt động thương mại quốc tế của các DN FDI tại Long An năm 2015, đồng thời, để làm rõ một số vấn đề liên quan, một số chỉ tiêu được sử dụng dữ liệu giai đoạn 2007 – 2015

2.3.4 Động cơ thực hiện chuyển giá

2.3.4.1 Động cơ bên ngoài

(1) Thuế

Trang 31

Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đã chỉ ra rằng: Khi có sự khác biệt về thuế

suất thuế TNDN giữa các quốc gia (hoặc loại thuế tương đương thuế TNDN, dưới đây

gọi chung là thuế TNDN), các DN, MNCs sẽ xây dựng kế hoạch tránh thuế thông qua

chuyển giá để tối đa hóa lợi nhuận

Theo Nguyễn Duy Hiếu (2013) thì Johnson và Kirsch (1991) đã khảo sát 576 công

ty tại Mỹ và nhận thấy “Tối thiểu hóa số thuế” là mục tiêu quan trọng nhất để quyết định ITP Tang (1981) nghiên cứu cho trường hợp MNCs của Anh và Canada đã phát hiện

“Xếp hạng lợi nhuận tổng thể” là yếu tố quan trọng nhất của quyết định ITP; Còn Tang (1993) thì khảo sát 500 công ty là những tập đoàn công nghiệp lớn nhất của Mỹ năm

1990 trong ấn phẩm Fortune 500 đã xác định “Lợi nhuận tổng thể và sự khác biệt về thuế suất thuế thu nhập” là hai trong ba biến quan trọng nhất để quyết định ITP

Theo Jenkins và Wright (1975, trích bởi Chu Khánh toàn, 2014) đã xem xét việc phân phối lợi nhuận của các công ty con ở nước ngoài của MNCs Mỹ trong ngành dầu khí giai đoạn 1966 - 1970 cho thấy các công ty con ở những quốc gia có thuế suất thấp thì có lợi nhuận cao hơn và đã tránh được 2/3 nghĩa vụ thuế mà lẽ ra họ phải nộp

Nghiên cứu của Nguyễn Duy Hiếu (2013), Chu Khánh Toàn (2014) đều chỉ ra rằng: Grubert và Mutti (1991); Hines và Rice (1994) đã kiểm tra mối quan hệ giữa lợi nhuận và thuế suất, phân tích lợi nhuận tổng hợp của các công ty con của Mỹ ở các quốc gia khác nhau trong năm 1982 Trong đó, Grubert và Mutti xem xét tỷ số lợi nhuận trên vốn và lợi nhuận trên doanh thu của các công ty con đóng ở 29 quốc gia; Còn Hines và Rice thì thực hiện hồi quy lợi nhuận của tất cả các công ty con ở 59 quốc gia theo vốn, lao động và năng suất địa phương Kết quả, Grubert và Mutti nhận thấy thuế suất cao làm giảm lợi nhuận trước thuế của hoạt động sản xuất ở nước sở tại, trong khi Hines và Rice

đã tìm thấy tác động mạnh mẽ của thuế suất lên lợi nhuận, theo đó, chỉ với 1% chênh lệch trong thuế suất đã dẫn đến 2.3% chênh lệch trong lợi nhuận trước thuế và cho rằng tỷ lệ chênh lệch này có thể là một phần hậu quả của biện pháp chuyển lợi nhuận

Trang 32

Egger, Eggert và Winner (2010, trích bởi Larsen, 2013) sử dụng dữ liệu từ 31 quốc gia Châu Âu giai đoạn 1999 - 2004 đã khẳng định lợi nhuận của MNCs cao hơn đáng kể so với DN trong nước nếu quốc gia đầu tư có thuế suất thấp nhưng lợi nhuận sẽ

thấp hơn nhiều so với các DN trong nước nếu quốc gia đầu tư có thuế suất cao (với thuế

suất ≥ 39% thì số tiền thuế DN trong nước đóng cao hơn công ty con 1,3 triệu EURO; con số này là 0,37 triệu EURO nếu thuế suất từ 35%-39%)

Dogan, Deran, Koksal (2013) trích dẫn kết quả nghiên cứu của Zdanowics và Pak (1993) cho rằng Chính phủ Mỹ bị mất 28.7 tỷ USD tiền thuế vào năm 1992 do thu nhập chịu thuế không được báo cáo; Còn theo thống kê của Sở Thuế vụ Mỹ (IRS – Internal Revenue Service), 15% kê khai sai do chuyển giá dẫn đến thất thu thuế 13 tỷ USD; Theo Vaitsos (1974), khoản thất thu thuế hằng năm của Colombia lên đến 10 triệu USD do bị thao túng giá chuyển giao Đây cũng là lý do để các Chính phủ xem chuyển giá là một vấn đề chính trị nổi bật và áp dụng các quy định pháp luật, hình phạt gắt gao để hạn chế

Như vậy, những nghiên cứu và bằng chứng thực nghiệm trên đã minh chứng rằng thuế là một trong những động cơ chính yếu dẫn đến quyết định chuyển giá của MNCs

(2) Tỷ giá

Huỳnh Thiên Phú (2009); Nguyễn Thị Quỳnh Giang (2010) và Hồng Phương Linh (2011) cho rằng, với mong muốn bảo toàn vốn đầu tư theo nguyên tệ, MNCs sẽ đầu tư vào quốc gia mà họ dự đoán trong tương lai đồng tiền của quốc gia đó mạnh lên và rút vốn ra khỏi quốc gia mà họ dự đoán đồng tiền này bị yếu đi, dựa trên các dự báo về tình hình tỷ giá mà DN FDI có thể thực hiện các khoản thanh toán nội bộ, các khoản nợ sớm hay muộn hơn nhằm giảm rủi ro về tỷ giá; Các công ty sẽ thanh toán các khoản nợ sớm hơn nếu dự báo đồng tiền tại quốc gia có chi nhánh sẽ bị mất giá và ngược lại, các khoản thanh toán sẽ bị trì hoãn nếu dự báo này cho thấy tỷ giá có xu hướng tăng lên

Theo Đào Phú Quý (2014b), bên cạnh việc tối thiểu hóa số thuế phải nộp, các DN FDI còn quan tâm đến chính sách ngoại hối của quốc gia đến đầu tư Theo đó, nếu nhà nước thống nhất quản lý tỷ giá và mọi giao dịch ngoại tệ ra vào đất nước này đều phải

Trang 33

theo tỷ giá do nhà nước quy định thì dù không có sự chênh lệch thuế suất thuế TNDN giữa hai quốc gia thì nhà đầu tư vẫn không thể không áp dụng các biện pháp chuyển giá

để chuyển ngoại tệ ra nước ngoài nhằm loại trừ rủi ro về chính sách ngoại hối

Dogan, Deran và Koksal (2013) cho rằng bằng cách sử dụng chuyển giá, MNCs có thể giảm thiểu tác động tiêu cực do biến động tỷ giá hối đoái

Bernard, Jense và Schott (2006) đã xem xét ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái lên quyết định định giá bên trong và bên ngoài MNCs Mỹ đã cho thấy nêm giá phản ứng với chuyển động của tỷ giá hối đoái thực: sự tăng giá của đồng USD kết hợp với một sự thu hẹp lớn của nêm giá và giao dịch nội bộ có thể giúp MNCs khỏi biến động của tỷ giá

Theo Nguyễn Duy Hiếu (2013) thì Burns (1980) đã khảo sát tác động của các yếu

tố đến sự chuyển giá của 210 MNC ở Mỹ bằng phương pháp phân tích nhân tố đã tìm thấy bằng chứng yếu ớt về sự tác động của “Tỷ giá thả nổi” lên quyết định chuyển giá Trong khi đó, theo Kim và Miller (1979) thì “Hạn chế chuyển lợi nhuận về nước và kiểm soát ngoại hối của nước sở tại” là hai yếu tố quan trọng nhất quyết định ITP Còn Cunningham (1978); Garrison và Noreen (2000), thì “Giảm thiểu rủi ro ngoại hối” là một trong những mục tiêu và động lực liên quan đến chuyển giá của MNCs

Dù mức độ tác động của tỷ giá hối đoái lên quyết định ITP có thể có khác nhau, song các nghiên cứu trên đã chứng minh sự tác động của tỷ giá lên quyết định chuyển giá của MNCs, nhất là trong điều kiện Nhà nước kiểm soát tỷ giá như tại Việt Nam thì khả năng các DN FDI chuyển giá nhằm giảm thiểu rủi ro về ngoại hối là có thể xảy ra

(3) Chi phí cơ hội

Huỳnh Thiên Phú (2009); Nguyễn Thị Quỳnh Giang (2010) và Hồng Phương Linh (2011) cho rằng chi phí cơ hội cũng là một động lực thúc đẩy quyết định chuyển giá của các DN FDI do các khoản lợi nhuận chỉ có thể chuyển về nước sau khi kết thúc năm tài chính và phải được sự kiểm tra của cơ quan Thuế, sự kiểm soát ngoại tệ của cơ quan quản lý ngoại hối nên có thể bỏ lỡ cơ hội đầu tư Do đó, các DN sẽ tiến hành thủ thuật chuyển giá nhằm thu hồi nhanh vốn đầu tư và bắt lấy cơ hội đầu tư khác

Trang 34

Theo Chu Khánh Toàn (2014), ngoài động cơ thuế, tỷ giá thì nghiên cứu tác động của chi phí cơ hội lên quyết định chuyển giá cũng rất đáng được quan tâm, tiêu biểu là các nghiên cứu của Lecraw (1985); Eden (2003); Bernard, Jense và Shoott (2006)

Như vậy, chi phí cơ hội cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển giá của các DN FDI

(4) Lạm phát

Do tình hình lạm phát ở các quốc gia khác nhau nên các DN FDI có thể lợi dụng

để thực hiện chuyển giá ở quốc gia lạm phát cao (đồng tiền bị mất giá) nhằm bảo toàn

vốn đầu tư và lợi nhuận (Nguyễn Thị Quỳnh Giang, 2010; Hồng Phương Linh, 2011)

Nguyễn Duy Hiếu (2013) dẫn chứng kết quả nghiên cứu của Tang (1981) tại Anh

và Canada; Tang (1993) tại Mỹ, theo đó, tác động của “Tỷ lệ lạm phát ở nước ngoài” lên chuyển giá là rất thấp Trong khi theo Dogan, Deran và Koksal (2013) thì lạm phát là một trong những tác động quan trọng lên quyết định chuyển giá Dù các bằng chứng thực nghiệm về tác động của lạm phát lên quyết định chuyển giá là khác nhau, song kết quả trên đã khẳng định sự tác động của lạm phát đến quyết định chuyển giá của các DN

Easson (1991); Chan and Chow (1997a, 1997b), trích bởi Nguyễn Duy Hiếu, (2014) còn chỉ rõ ITP có thể sẽ bất lợi hơn cho các nước đang phát triển so với các nước phát triển, bởi các nước phát triển thường có đủ khả năng, cơ cấu hành chính phức tạp hơn để có thể xác định vi phạm ITP, trong khi các nước đang phát triển thiếu cơ cấu thể chế và hành chính để phân tích các tình huống ITP phức tạp

Trang 35

2.3.4.2 Động cơ bên trong

(1) San sẻ thua lỗ

Theo Huỳnh Thiên Phú (2009); Nguyễn Thị Quỳnh Giang (2010) và Hồng Phương Linh (2011), khi hoạt động SXKD của MNCs hay các chi nhánh ở các nước bị thua lỗ, chuyển giá được xem là cứu cánh của DN khi đứng trước cổ đông và các bên hữu quan khác vì nó giúp DN FDI san sẻ thua lỗ giữa các thành viên nhằm làm giảm khoản thuế phải nộp, tạo nên bức tranh tài chính và kết quả kinh doanh tươi sáng hơn

Đào Phú Quý (2014b) cho rằng xuất phát từ mối quan hệ gắn bó chung về lợi ích giữa các nhóm liên kết, vừa thuận lợi điều hành trong phạm vi rộng lớn, vừa có được lợi ích kinh tế nhiều hơn, sự khác biệt về mức giá giao dịch giữa các bên so với giá thị trường sẽ đưa đến kết quả một bên có thể được lợi ít hơn hoặc thiệt hại, trong khi bên kia được lợi nhiều hơn nhưng về tổng thể lợi ích họ sẽ được nhiều

Rõ ràng chuyển giá đã có tác động san sẻ thu nhập giữa các bên liên kết, làm cho bức tranh tài chính của DN đẹp hơn và lợi ích tổng thể của tập đoàn tăng lên

(2) Chiếm lĩnh thị trường

Đây là một trong những mục tiêu hàng đầu của MNCs bằng việc dựa vào tiềm lực tài chính hùng hậu để chuyển giá thông qua việc tăng cường quảng cáo, quảng bá sản phẩm, nâng giá nhập khẩu máy móc thiết bị , làm cho SXKD thua lỗ kéo dài để chiếm lấy quyền quản lý và kiểm soát, thậm chí là đẩy đối tác liên doanh ra khỏi DN Sau khi chiếm lĩnh thị trường, chủ đầu tư sẽ nâng giá sản phẩm để bù lại chi phí đã bỏ ra Tình trạng này xảy ra phổ biến tại các nước đang phát triển có trình độ quản lý còn yếu kém như Việt Nam (Đào Phú Quý, 2014b; Ngô Quang Trung, 2014; Lê Xuân Trường, 2015)

Theo Lin và cộng sự (1993, trích bởi Nguyễn Duy Hiếu, 2013) thì công ty mẹ có thể sử dụng cơ chế ITP để giữ vị trí độc quyền như một nhà cung cấp Ví dụ, khi không

có cạnh tranh, các nhà cung cấp lớn có thể định giá cao, nhưng khi xuất hiện đối thủ cạnh tranh, nó có thể định giá thấp sản phẩm hoặc dịch vụ đó

(3) Tranh thủ ưu đãi

Trang 36

Theo Nguyễn Duy Hiếu (2013) thì Rahman và Scapens (1986); Chan and Chow (1997 a,b) cho rằng một số nước muốn thu hút FDI nên ít quan tâm đến kiểm soát ITP

Do được hưởng các đặc quyền từ kêu gọi đầu tư của nước chủ nhà, nhiều MNC xem các công ty con đặt tại quốc gia này như là trung tâm lợi nhuận và thực hiện hành vi chuyển giá, gây ra nhiều hệ lụy cho quốc gia tiếp nhận đầu tư (Lê Xuân Trường, 2012)

Sự khác biệt về chính sách thuế, đặc biệt là ưu đãi thuế là bức tranh phổ biến của chuyển giá; Các yếu tố về chính trị, chính sách đối ngoại của những nơi, những khu vực

bị “lép vế” hơn so với các khu vực khác cũng làm nảy sinh hành vi chuyển giá và nó được triển khai thực hiện vòng vèo qua các nước trung gian khác (Đào Phú Quý, 2014a)

Đặc biệt, Quang Huy (2014) còn nhấn mạnh rằng: do Việt Nam quá ưu ái DN FDI

để thu hút vốn ngoại nên nhiều DN FDI đã lạm dụng chính sách ưu đãi để thao túng thị trường và thực hiện hành vi chuyển giá, khai lỗ giả nhưng lãi chuyển về công ty mẹ ở nước ngoài Sự chuộng ngoại để đạt thành tích thu hút vốn FDI đã tạo ra sự lỏng lẻo trong công tác quản lý giám sát DN FDI Hơn thế nữa, để được hưởng ưu đãi, DN FDI phải chi nhiều khoản lớn để “bôi trơn”, nhà đầu tư ít nhất năm năm tại Việt Nam mới bắt đầu có lãi nên buộc họ phải chuyển giá, báo cáo lỗ triền miên để trốn thuế

Điều này cho thấy rằng hoạt động ưu đãi nhằm thu hút đầu tư đã tạo nên những kẻ

hở để các DN FDI lợi dụng thực hiện hành vi chuyển giá

(4) Giảm thiểu rủi ro

Lecraw (1985, trích bởi Chu Khánh Toàn, 2014) cho rằng rủi ro quốc gia, cùng với thuế quan, thuế suất tương đối, kiểm soát giá cả, tỷ giá hối đoái chính là các biến quan trọng giải thích việc định giá chuyển giao của MNCs

Khi chuyển giao sản phẩm, dịch vụ có tính đặc thù, độc quyền và tính bảo mật cao như các ngành sản xuất sản phẩm công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, dầu khí , thì chuyển giá là phương pháp được lựa chọn để giảm rủi ro (Nguyễn Thị Quỳnh Giang 2010; Hồng Phương Linh, 2011; Ngô Quang Trung, 2014)

2.3.5 Tác động của chuyển giá

Trang 37

Từ thực tiễn hoạt động chuyển giá cũng như các bằng chứng thực nghiệm cho thấy chuyển giá có tác động đáng kể đến tình hình tài chính của bản thân DN cũng như quốc gia tiếp nhận vốn đầu tư lẫn quốc gia xuất khẩu vốn đầu tư và các bên có liên quan Song, nghiên cứu chỉ đề cập đến những tác động của chuyển giá đến DN thực hiện hành vi này

và đến quốc gia tiếp nhận vốn đầu tư

2.3.5.1 Đối với bản thân DN FDI

Theo Nguyễn Thị Quỳnh Giang (2010) và Hồng Phương Linh (2011) thì khi chuyển giá thành công, các DN FDI sẽ gia tăng lợi nhuận, giảm thiểu rủi ro do biến động

tỷ giá, lạm phát tại nước đầu tư, được hưởng lợi từ chính sách ưu đãi đầu tư, thu hồi vốn nhanh, tăng tiềm lực tài chính MNCs cũng có thể dần trở nên độc quyền, thao túng thị trường, kiểm soát giá cả Tuy nhiên, họ cũng đối mặt với nguy cơ gánh chịu những hình phạt rất nghiêm khắc của nước sở tại nếu bị phát hiện hành vi chuyển giá, ngoài việc phải nộp thuế, nộp phạt, các DN này còn có thể bị thu hồi giấy phép kinh doanh, uy tín giảm sút và là tâm điểm chú ý của cơ quan Thuế tại các quốc gia mà DN đó có chi nhánh

2.3.5.2 Đối với quốc gia tiếp nhận đầu tư

Theo Nguyễn Thị Quỳnh Giang (2010) và Hồng Phương Linh (2011), chuyển giá

có tác động trực tiếp đến số thu ngân sách của quốc gia tiếp nhận đầu tư Nếu chuyển giá diễn ra dưới hình thức định giá cao các yếu tố đầu vào nhằm rút ngắn thời gian thu hồi vốn của công ty mẹ thì sẽ dẫn đến tình trạng các luồng vốn có xu hướng chảy ngược ra khỏi quốc gia tiếp nhận đầu tư, làm thay đổi cơ cấu vốn của nền kinh tế, phản ánh sai lệch kết quả SXKD, tạo ra bức tranh tài chính không trung thực; Mặt khác, nó cũng tạo ra sự cạnh tranh không bình đẳng giữa các DN, làm ảnh hưởng đến các cân đối vĩ mô cũng như việc điều hành vĩ mô nền kinh tế Trường hợp quốc gia tiếp nhận đầu tư có thuế suất thuế

TNDN thấp (các thiên đường thuế) thì sẽ có lợi thế về số thu thuế thông qua chuyển giá

Tuy nhiên, lợi thế này không bền vững khi các quốc gia có liên quan tăng cường các biện pháp quản lý giá chuyển nhượng nên có thể dẫn đến khủng hoảng kinh tế tại các thiên đường thuế Mặt khác, do có lợi thế về nguồn vốn dồi dào, MNCs dễ dàng chiếm lĩnh thị

Trang 38

trường trong nước bằng nhiều chiêu thức khác nhau, dẫn đến lũng đoạn thị trường MNCs dần trở nên độc quyền, kiểm soát giá cả, gây ra nhiều khó khăn cho việc hoạch định chính sách vĩ mô, làm giảm hiệu quả sản xuất trong nước, gây ra thiệt hại cho người tiêu dùng

và các bên có liên quan Nguy hiểm hơn, sự phụ thuộc về kinh tế của quốc gia tiếp nhận đầu tư vào các DN FDI, đặc biệt là MNCs dần dần có thể kéo theo sự chi phối về mặt chính trị, phụ thuộc vào các quốc gia xuất khẩu đầu tư

Như vậy, rõ ràng chuyển giá đã gây ra những tác động tiêu cực cho nền kinh tế, môi trường đầu tư, làm ảnh hưởng đến hoạt động SXKD của các DN làm ăn chân chính, gây khó khăn cho điều hành kinh tế vĩ mô của Nhà nước, do đó, kiểm soát chuyển giá

luôn là một trong những mối quan tâm hàng đầu của Chính phủ các nước (Kinh nghiệm

kiểm soát chuyển giá của các nước theo Phụ lục 3 đính kèm)

2.3.6 Các hoạt động chuyển giá chủ yếu tại Việt Nam thời gian qua

Từ những nghiên cứu và bằng chứng thực nghiệm nêu trên cho thấy hoạt động chuyển giá diễn ra trên phạm vi toàn cầu, với hình thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, phức tạp Tại Việt Nam, hoạt động chuyển giá chủ yếu diễn ra dưới những hình thức sau đây:

Một là, chuyển giá thông qua chuyển giao tài sản hữu hình:

Thực hiện chiêu thức chuyển giá, DN ở quốc gia có thuế suất thuế TNDN thấp hoặc được hưởng ưu đãi thuế sẽ mua nguyên vật liệu, hàng hóa, TSCĐ, công cụ dụng cụ

từ các bên liên kết với giá thấp hơn giá thị trường hoặc bán sản phẩm, hàng hóa cao hơn

giá thị trường, dẫn đến lợi nhuận sẽ tăng lên (và ngược lại, đối với DN ở quốc gia có thuế

suất cao hoặc không được hưởng ưu đãi thuế) Như vậy, bằng chiêu thức chuyển giá,

tổng lợi nhuận trước thuế tính chung cho cả tập đoàn không thay đổi nhưng nghĩa vụ thuế

sẽ giảm đi tương ứng với mức độ chênh lệch giá mua, giá bán so với giá thị trường (Nguyễn Thị Quỳnh Giang, 2010; Hồng Phương Linh, 2011)

Hai là, chuyển giá thông qua chuyển giao tài sản vô hình, gồm:

(1) Chuyển giá thông qua hoạt động nghiên cứu phát triển và Marketing:

Trang 39

Chuyển giá loại này thường phát sinh khi sản xuất các sản phẩm có sử dụng bí quyết SXKD và có sự chuyển giao bán thành phẩm giữa các bên liên kết Các tập đoàn,

MNCs tính toán, so sánh lợi ích kinh tế từ việc đầu tư (thành lập công ty con) vào các thị

trường có nhân công, nguyên phụ liệu rẻ, tiết kiệm thuế nhập khẩu, tìm kiếm thị trường ; Theo đó, công ty mẹ chuyển giao bán thành phẩm cho công ty con tiếp tục sản xuất, đồng thời, chuyển giao bí quyết và cho phép công ty con sử dụng quyền sáng chế sản phẩm Tuy nhiên, để điều chỉnh lợi nhuận trong nội bộ DN, hợp đồng ký kết giữa công ty mẹ và công ty con chỉ thể hiện giá trị bán thành phẩm chuyển giao mà không đề cập đến tài sản

vô hình (quyền sáng chế, bí quyết) thực tế đã chuyển giao (Tổng cục Thuế, 2011; Chu

Văn Trí, 2012; Ngô Quang Trung, 2014; Nguyễn Thu Ngà, 2014)

(2) Chuyển giá thông qua mạng lưới bán hàng toàn cầu và bí quyết quản lý chất lượng sản phẩm:

Chuyển giá loại này thường phát sinh ở các mặt hàng có sử dụng nhãn hiệu (như

dược phẩm, mỹ phẩm ) bằng việc quảng cáo, khuyến mãi , hình thành tài sản vô hình là

bí quyết bán hàng, mở rộng thị trường Để tối đa hóa lợi nhuận, MNCs thành lập công ty con tại các quốc gia có nguyên liệu thô, giá nhân công rẻ và có lợi thế về thuế Các công

ty con xuất khẩu 100% cho công ty mẹ, không chịu rủi ro về hàng tồn kho, không tốn chi phí điều tra thị trường nhưng có được tài sản vô hình là bí quyết quản lý chất lượng sản phẩm và chuyển giao nó cho công ty mẹ với giá cao Nhờ đó, công ty mẹ đã chuyển lợi nhuận sang cho công ty con để được hưởng mức thuế suất thuế TNDN thấp hơn (Tổng cục Thuế, 2011; Chu Văn Trí, 2012; Ngô Quang Trung, 2014; Nguyễn Thu Ngà, 2014)

(3) Chuyển giá thông qua công nghệ, bí quyết sản xuất, kinh doanh:

Đây là hình thức chuyển giá phát sinh đối với việc thực hiện các dự án xây dựng công trình lớn, được trang bị máy móc, thiết bị chuyên ngành, có tính đặc thù, có sử dụng

bí quyết và phát minh khoa học kỹ thuật cao, thời gian thực hiện lâu dài (Tổng cục Thuế, 2011; Chu Văn Trí, 2012; Ngô Quang Trung, 2014; Nguyễn Thu Ngà, 2014)

Trang 40

(4) Chuyển giao quyền sáng chế (đóng góp cho quá trình hình thành, duy trì và

phát triển tài sản vô hình):

Chuyển giá loại này thường phát sinh trong sản xuất sản phẩm có tính đặc thù và

duy nhất (máy móc thiết bị, sản phẩm điện tử ) Các bên liên kết cùng tham gia vào quá

trình nghiên cứu, phát minh và đều có quyền sáng chế nên chi phí nghiên cứu phát minh sản phẩm mới đó phải được phân bổ phù hợp cho các bên Thao tác chuyển giá được thực hiện bằng cách các thành viên tại quốc gia có mức thuế suất thấp hơn sẽ không phải gánh chịu chi phí hoặc chịu chi phí thấp nhưng sẽ rất khó xác định hành vi chuyển giá do việc phân bổ chi phí là hoàn toàn chủ quan và không có căn cứ chuẩn để phân định (Tổng cục Thuế, 2011; Chu Văn Trí, 2012; Ngô Quang Trung, 2014; Nguyễn Thu Ngà, 2014)

(5) Phân chia chi phí hình thành tài sản vô hình:

Chuyển giá loại này thường phát sinh trong các ngành sản xuất đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao, tỷ trọng chi phí nhân công thấp, sản phẩm nhanh bị lỗi thời nên cần nhiều chi phí đầu tư nghiên cứu phát minh sản phẩm mới như sản xuất sản phẩm điện tử, ôtô Chi phí trong trường hợp này gồm toàn bộ chi phí nghiên cứu, phát triển sản phẩm, kể cả các

rủi ro phát sinh (chi phí cho các công trình nghiên cứu không thành công ) Tùy theo

mức thuế suất thuế TNDN tại các nước mà các tập đoàn, MNCs thực hiện kế hoạch tránh thuế thông qua chuyển giá nhằm tối thiểu hóa số thuế phải nộp cho cả tập đoàn(Tổng cục Thuế, 2011; Chu Văn Trí, 2012; Ngô Quang Trung, 2014; Nguyễn Thu Ngà, 2014)

(6) Chuyển giao tài sản vô hình thông qua việc phái cử nhân viên:

Chuyển giá dạng này phù hợp với các ngành nghề sử dụng nhân viên có tay nghề cao, có kinh nghiệm, sáng kiến và kỹ năng Các bên liên kết có thể SXKD độc lập, không

có chuyển giao tài sản hữu hình, nhưng có thể chuyển giao tài sản vô hình bằng việc phái

cử nhân viên Giá trị tài sản vô hình được đo bởi mức lương nhân viên này được hưởng, cùng với các chi phí đào tạo nâng cao trình độ, tay nghề Thực tế, chuyển giá dạng này thường khó kiểm soát do khó định giá và lựa chọn giao dịch độc lập tương tự để so sánh Đây là hình thức chuyển giá khá phổ biến, khi đó, MNCs xây dựng kế hoạch tránh thuế

Ngày đăng: 09/03/2019, 21:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w