Nêu những tồn tại của tự chủ bệnh viện theo nghị định 432006? Đáp án: • Những tồn tại của tự chủ theo nghị định 432006: Thứ nhất: Việc triển khai tự chủ được áp dụng đồng thời và ồ ạt, không tính đến sự phù hợp với khả năng, năng lực thực hiện của các bệnh viện cũng như điều kiện thực tế của từng địa phương trong khi lại thiếu các hướng dẫn và các quy định cụ thể về triển khai thực hiện, giám sát và kiểm tra cũng như chính sách hỗ trợ cần thiết. Điều này gây rất nhiều khó khăn cho các bệnh viện trong việc triển khai Nghị định 43, làm ảnh hưởng đến hoạt động chuyên môn và đời sống của một bộ phận cán bộ, nhân viên y tế ở các bệnh viện tuyến huyện thuộc vùng nông thôn, vùng miền núi khó khăn. Thứ hai: Các chính sách ban hành còn thiếu sự đồng bộ, gây khó khăn cho bệnh viện trong thực hiện chính sách tự chủ bệnh viện: Các văn bản pháp luật liên quan còn chồng chéo, bất cập, gây hạn chế rất nhiều đến tiến trình tự chủ về tài chính. Các quy định của Nghị định 43 cũng như các thông tư hướng dẫn chưa phù hợp với đặc thù của ngành y tế và những tác động tiềm tàng tới công bằng y tế (sức khỏe là hàng hóa đặc biệt, vấn đề bất đối xứng thông tin, tính nhạy cảm của chăm sóc y tế và rất khó để xác định chi phíhiệu quả…) Còn có một số khoảng trống trong khung chính sách cần được giải quyết để có thể kiểm soát và giám sát hoạt động của bệnh viện, bao gồm: hướng dẫn điều trị chuẩn nhằm kiểm soát công suất sử dụng, đánh giá công nghệ y tế và lên kế hoạch tổng thể về năng lực bệnh viện và trang thiết bị có chi phí cao. Việc ban hành chính sách chưa đi đôi với giám sát và điều chỉnh chính sách kịp thời. Thứ ba: Xu hướng tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị (TTB), mở rộng KCB “theo yêu cầu” để tăng thu, dẫn đến nguy cơ chạy theo lợi nhuận và “thương mại hóa” bệnh viện công, trong khi thiếu các cơ chế và giải pháp phù hợp trong việc giám sát, kiểm tra, dẫn tới một số vấn đề tồn tại sau: Khó kiểm soát viện phí : Giá viện phí không bù đắp đủ chi phí cho các dịch vụ y tế nên để tồn tại được trong nền kinh tế thị trường, các bệnh viện và cơ sở y tế đã tự áp dụng các quy định và hình thức khác nhau nhằm tăng thêm nguồn thu, bù đắp vào khoản thiếu hụt. Điều này dẫn đến nhiều hậu quả khác, như chi phí cho một số dịch vụ bệnh viện gia tăng khó kiểm soát, trong đó có vấn đề lạm dụng thuốc và xét nghiệm (theo Báo cáo y tế thế giới năm 2010, lãng phí chiếm tới 40% chi phí y tế). Mặc dù hiện nay chưa có công cụ và biện pháp hữu hiệu để đánh giá được việc lạm dụng thuốc và dịch vụ cận lâm sàng, nhưng theo kết quả một số nghiên cứu thì hiện tượng này đang tồn tại ở nhiều cơ sở y tế nhà nước. Một nghiên cứu đánh giá việc thực hiện tự chủ bệnh viện theo Nghị định 43CP cho biết có nguy cơ lạm dụng, tăng chỉ định sử dụng các xét nghiệm và trang thiết bị kỹ thuật cao tại một số bệnh viện các tuyến; tỷ lệ chụp cộng hưởng từ (MRI) và chụp cắt lớp (CT) trên lượt bệnh nhân tăng qua các năm, 20% bác sỹ được điều tra cho biết có nguy cơ lạm dụng xét nghiệm. Bệnh viện tuyến trung ương có chi phí điều trị ngoại trú người bệnh BHYT tăng từ 1,2–2,6 lần năm 2008 so với năm 2005; chi phí điều trị nội trú tăng 1,1–2,8 lần. Ảnh hưởng bất lợi về công bằng trong chăm sóc sức khỏe(CSSK): Với mức đầu tư từ ngân sách nhà nước (NSNN) cho CSSK thấp như hiện nay (NSNN chiếm khoảng 29% tổng nguồn thu của bệnh viện), kết hợp với việc đẩy mạnh xã hội hóa (XHH), liên doanh, liên kết tại bệnh viện công và thu phí theo dịch vụ có thể dẫn đến tình trạng tỷ lệ chi phí y tế do người dân tự chi trả ngày càng tăng cao nếu không có cơ chế kiểm soát việc chỉ định và sử dụng dịch vụ y tế, đặc biệt là các dịch vụ kỹ thuật cao . Kết quả kiểm tra 731 bệnh viện năm 2007 của Bộ Y tế cho thấy nguồn thu chủ yếu của bệnh viện là từ viện phí (chiếm 59,4% tổng các nguồn thu) và tăng 26,5% so với năm 2006. Tỷ lệ chi phí y tế do người dân tự chi trả cao sẽ dẫn đến tình trạng hạn chế khả năng tiếp cận của người nghèo và người cận nghèo trong KCB.Tình hình trên dẫn đến một xu hướng không mong muốn đó là thúc đẩy động cơ vì lợi nhuận với quan niệm sai lầm “càng nhiều người bệnh, bệnh viện càng phát triển”; nguồn thu trực tiếp từ người bệnh trong bệnh viện công tăng nhanh và khó tránh khỏi tình trạng lẫn lộn công và tư. Mất cân đối về phân bố nhân lực y tế: Việc thực hiện tự chủ bệnh viện đã làm cho thu nhập và điều kiện làm việc giữa BV các tuyến, đặc biệt là tuyến tỉnh và tuyến huyện càng trở nên rõ rệt hơn. Bệnh viện tuyến TW và tỉnh được hưởng nhiều lợi ích từ việc thực hiện tự chủ bệnh viện hơn so với BV tuyến huyện do có ưu thế hơn về nguồn lực và khả năng huy động nguồn lực, trong khi đó khả năng thực hiện tự chủ của bệnh viện tuyến huyện rất hạn chế. Điều này làm cho tình trạng cán bộnhân viên y tế di chuyển từ bệnh viện tuyến dưới lên tuyến trên, từ khu vực nông thôn lên thành thị trở nên trầm trọng hơn, dẫn tới tình trạng thiếu cán bộ y tế ở các khu vực nghèo, nông thôn. Thứ tư: Năng lực quản lý bệnh viện của các lãnh đạo bệnh viện còn chưa đáp ứng: Thiếu nhận thức về tự chủ, thiếu kiến thức, kỹ năng về quản lý kinh tế y tế, tài chính bệnh viện, quản trị bệnh viện. Tính công khai minh bạch và trách nhiệm giải trình trong thực hiện tự chủ tài chính BV cũng chưa cao dẫn đến nguy cơ thất thoát, lãng phí và thiếu hiệu quả trong sử dụng nguồn lực của bệnh viện. Trong hoàn cảnh triển khai cơ chế tự chủ, năng lực quản lý bệnh viện hiện nay vẫn còn là một vấn đề bất cập. Hệ thống bệnh viện trong cả nước còn thiếu hụt một số lượng lớn cán bộ được đào tạo về quản lý. Hơn 70% giám đốc các bệnh viện là các nhà chuyên môn lâm sàng hoặc cận lâm sàng chưa được đào tạo bài bản về quản lý bệnh viện, dẫn đến tình trạng thiếu chuyên nghiệp trong công tác quản lý và lãng phí năng lực chuyên môn y tế.
Trang 1Nêu những tồn tại của tự chủ bệnh viện theo nghị định 43/2006?
Đáp án:
• Những tồn tại của tự chủ theo nghị định 43/2006:
- Thứ nhất: Vi c triên khai tư chu đươc áp dung đông thơi va ô at, không tnh đên sư phu hơp vơi khaê năng, năng lưc thưc hi n cua các b nh vi n cung như điêu ki n thưc tê cua tưng đia phương trong khiê ê ê ê lai thiêu các hương dân va các quy đinh cu thê vê triên khai thưc hi n, giám sát va kiêm tra cung nhưê chinh sách hô trơ cân thiêt Điêu nay gây rât nhiêu kho khăn cho các b nh vi n trong vi c triên khaiê ê ê Nghi đinh 43, lam anh hương đên hoat đ ng chuyên môn va đơi sông cua một b ph n cán b , nhânô ô â ô viên y tê ơ các b nh vi n tuyên huy n thu c vung nông thôn, vung miên nui kho khăn.ê ê ê ô
- Thứ hai: Các chinh sách ban hanh còn thiêu sư đông bộ, gây kho khăn cho bệnh viện trong thưc hiện
chinh sách tư chu bệnh viện:
Các văn ban pháp lu t liên quan còn chông cheo, bât c p, gây han chê rât nhiêu đên tên trinh tưâ â chu vê tai chinh Các quy đinh cua Nghi đinh 43 cung như các thông tư hương dân chưa phu hơp vơi đ c thu cua nganh y tê va nhưng tác đ ng têm tang tơi công băng y tê (sưc khoe la hang hoaă ô
đ c bi t, vân đê bât đôi xưng thông tn, tnh nhay cam cua chăm soc y tê va rât kho đê xác đinhă ê chi phi-hi u qua…) ê
Còn co một sô khoang trông trong khung chinh sách cân đươc giai quyêt đê co thê kiêm soát va giám sát hoat động cua bệnh viện, bao gôm: hương dân điêu tri chuẩn nhăm kiêm soát công suât sử dung, đánh giá công nghệ y tê va lên kê hoach tổng thê vê năng lưc bệnh viện va trang thiêt bi co chi phi cao
Việc ban hanh chinh sách chưa đi đôi vơi giám sát va điêu chỉnh chinh sách kip thơi
- Thứ ba: Xu hương tăng cương đâu tư cơ sơ v t chât, trang thiêt bi (TTB), mơ r ng KCB “theo yêuâ ô câu” đê tăng thu, dân đên nguy cơ chay theo lơi nhu n va “thương mai hoa” b nh vi n công,â ê ê trong khi thiêu các cơ chê va giai pháp phu hơp trong vi c giám sát, kiêm tra, dân tơi m t sô vânê ô
đê tôn tai sau:
Khó kiểm soát vi n phi ê : Giá viện phi không bu đắp đu chi phi cho các dich vu y tê nên đê tôn tai
đươc trong nên kinh tê thi trương, các bệnh viện va cơ sơ y tê đã tư áp dung các quy đinh va hinh thưc khác nhau nhăm tăng thêm nguôn thu, bu đắp vao khoan thiêu hut Điêu nay dân đên nhiêu hậu qua khác, như chi phi cho một sô dich vu bệnh viện gia tăng kho kiêm soát, trong đo
co vân đê lam dung thuôc va xet nghiệm (theo Báo cáo y tê thê giơi năm 2010, lãng phi chiêm tơi 40% chi phi y tê) Mặc du hiện nay chưa co công cu va biện pháp hưu hiệu đê đánh giá đươc việc lam dung thuôc va dich vu cận lâm sang, nhưng theo kêt qua một sô nghiên cưu thi hiện tương nay đang tôn tai ơ nhiêu cơ sơ y tê nha nươc M t nghiên cưu đánh giá việc thưc hiện tư chuô bệnh viện theo Nghi đinh 43/CP cho biêt co nguy cơ lam dung, tăng chỉ đinh sử dung các xet nghiệm va trang thiêt bi kỹ thuật cao tai một sô bệnh viện các tuyên; tỷ lệ chup cộng hương tư (MRI) va chup cắt lơp (CT) trên lươt bệnh nhân tăng qua các năm, 20% bác sỹ đươc điêu tra cho biêt co nguy cơ lam dung xet nghiệm Bệnh viện tuyên trung ương co chi phi điêu tri ngoai tru ngươi bệnh BHYT tăng tư 1,2–2,6 lân năm 2008 so vơi năm 2005; chi phi điêu tri nội tru tăng 1,1–2,8 lân
Trang 2 Ảnh hưởng bất lợi về công bằng trong chăm sóc sức khỏe(CSSK): Vơi mưc đâu tư tư ngân sách
nha nươc (NSNN) cho CSSK thâp như hiện nay (NSNN chiêm khoang 29% tổng nguôn thu cua bệnh viện), kêt hơp vơi việc đẩy manh xã hội hoa (XHH), liên doanh, liên kêt tai bệnh viện công
va thu phi theo dich vu co thê dân đên tình trang tỷ lệ chi phi y tê do ngươi dân tư chi tra ngay cang tăng cao nêu không co cơ chê kiêm soát việc chỉ đinh va sử dung dich vu y tê, đặc biệt la các dich vu kỹ thuật cao Kêt qua kiêm tra 731 bệnh viện năm 2007 cua Bộ Y tê cho thây nguôn thu chu yêu cua bệnh viện la tư viện phi (chiêm 59,4% tổng các nguôn thu) va tăng 26,5% so vơi năm
2006 Tỷ lệ chi phi y tê do ngươi dân tư chi tra cao sẽ dân đên tình trang han chê kha năng têp cận cua ngươi nghèo va ngươi cận nghèo trong KCB.Tinh hinh trên dân đên một xu hương không mong muôn đo la thuc đẩy động cơ vi lơi nhuận vơi quan niệm sai lâm “cang nhiêu ngươi bệnh, bệnh viện cang phát triên”; nguôn thu trưc têp tư ngươi bệnh trong bệnh viện công tăng nhanh
va kho tránh khoi tình trang lân lộn công va tư
Mất cân đối về phân bố nhân lực y tế: Việc thưc hiện tư chu bệnh viện đã lam cho thu nh p vaâ điêu ki n lam vi c giưa BV các tuyên, đặc biệt la tuyên tỉnh va tuyên huyện cang trơ nên rõ rệtê ê hơn Bệnh viện tuyên TW va tỉnh đươc hương nhiêu lơi ich tư việc thưc hiện tư chu bệnh viện hơn so vơi BV tuyên huyện do co ưu thê hơn vê nguôn lưc va kha năng huy động nguôn lưc, trong khi đo kha năng thưc hiện tư chu cua bệnh viện tuyên huyện rât han chê Điêu nay lam cho tình trang cán b -nhân viên y tê di chuyên tư bệnh viện tuyên dươi lên tuyên trên, tư khu vưcô nông thôn lên thanh thi trơ nên trâm trọng hơn, dân tơi tình trang thiêu cán bộ y tê ơ các khu vưc nghèo, nông thôn
- Thứ tư: Năng lực quản lý bệnh viện cua các lanh đao b nh vi n con chưa đáp ứng: ê ê Thiêu nh nâ thưc vê tư chu, thiêu kiên thưc, kỹ năng vê quan ly kinh tê y tê, tai chinh b nh vi n, quan triê ê
b nh vi n Tinh công khai minh bach va trách nhi m giai trinh trong thưc hi n tư chu tai chinhê ê ê ê
BV cung chưa cao dân đên nguy cơ thât thoát, lãng phi va thiêu hi u qua trong sử dung nguônê lưc cua b nh vi n.ê ê Trong hoan canh triên khai cơ chê tư chu, năng lưc quan ly bệnh viện hiện
nay vân còn la một vân đê bât cập Hệ thông bệnh viện trong ca nươc còn thiêu hut một sô lương lơn cán bộ đươc đao tao vê quan ly Hơn 70% giám đôc các bệnh viện la các nha chuyên môn lâm sang hoặc cận lâm sang chưa đươc đao tao bai ban vê quan ly bệnh viện, dân đên tình trang thiêu chuyên nghiệp trong công tác quan ly va lãng phi năng lưc chuyên môn y tê