Cần thiết phải có các hành động chung sức toàn cầu để cho phép các quốc gia đang phát triển thích ứng được với tác động của biến đổi khí hậu hiện đang diễn ra và sẽ trở nên tồi tệ hơn
Trang 1Dự án Tăng cường Khả năng Chống chịu với Khí hậu cho Cơ sở hạ tầng các tỉnh miền núi phía Bắc
Báo cáo kỹ thuật – Nhóm Kỹ thuật CSHT - Hợp phần UNDP
BÁO CÁO VỀ KINH NGHIỆM CỦA QUỐC TẾ TRONG VIỆC THỰC HIỆN CÁC BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐỂ TĂNG CƯỜNG KHẢ NĂNG CHỐNG CHỊU VỚI KHÍ HẬU TRONG CÁC LĨNH VỰC GIAO THÔNG NÔNG THÔN, THỦY LỢI VÀ KÈ BẢO VỆ BỜ SÔNG
Hà Nội, 10/2014
Trang 2Chú thích
Báo cáo này được đệ trình Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Bộ NN&PTNT)
và Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) bởi Ban Quản lý trung ương dự
án (trực thuộc Ban quản lý các Dự án Nông nghiệp) Những quan điểm, kết luận và khuyến nghị trong tài liệu này không đại diện cho quan điểm của Bộ NN&PTNT cũng như Chương trình Phát triển Liên hợp quốc
Thông tin liên hệ:
Trần Văn Lam, Giám đốc dự án
Ban Quản lý các dự án nông nghiệp
Số 16 Thụy Khuê, phường Thụy Khuê, Q Tây Hồ, TP Hà Nội
pcrinmp@apmb.gov.vn
Hoặc Ông Jorge Alvarez-Sala
Chuyên gia tư vấn quốc tế về Kỹ thuật Cơ sở Hạ tầng Nông thôn
jorge.alvarezsala@gmail.com
01242961635
Trang 3―Trong các thập kỷ qua, theo dự báo, hàng tỷ người, đặc biệt tại các quốc gia đang
phát triển, sẽ phải đối mặt với tình trạng thiếu nước và lương thực và gặp rủi ro lớn
hơn cho sức khỏe và cuộc sống do biến đổi khí hậu Cần thiết phải có các hành động
chung sức toàn cầu để cho phép các quốc gia đang phát triển thích ứng được với
tác động của biến đổi khí hậu hiện đang diễn ra và sẽ trở nên tồi tệ hơn trong tương
lai.‖ Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu (UNFCC), 2008
―Do cơ sở hạ tầng được xây dựng trong thời kỳ hiện đại có xu hướng tồn tại trong
nhiều thập kỷ tới nên cần xây dựng các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu và
những biến đổi khí hậu trong tương lai cần được lồng ghép trong thiết kế hạ tầng bất
cứ khi nào có thể‖ (Environment Canada, 2010).
―Người xưa có câu “ Thủy, Hỏa, Đạo, Tặc”
Nghĩa là phải đề phòng lụt như đề phòng giặc (Hồ Chí Minh)
Lời nói đầu
Tôi muốn cảm ơn tất cả mọi người đã đóng góp cho báo cáo này Trước tiên, tôi xin
cảm ơn CPMU và đội tư vấn UNDP đã cho tôi cơ hội tham gia công việc thú vị này
Theo đó, tôi xin bày tỏ tấm lòng cảm kích của mình đến ông Trần Văn Lam, bà
Hoàng Thị Kim Cúc, ông Marcello Arosio, ông Nguyễn Gia Vượng, bà Bùi Việt Hiền
và ông Koos Neefjes đã đưa ra những góp ý rất có giá trị và mang tính xây dựng cho
quá trình dự thảo và hoàn thiện báo cáo này
Tôi xin cảm ơn các tư vấn khác của hợp phần UNDP đã hỗ trợ và trao đổi tích cực
cũng như chuyên gia của ICEM đã sẵn lòng chia sẻ thông tin
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến chính quyền tỉnh và địa phương các tỉnh Sơn La và
Hòa Bình đã chia sẻ kinh nghiệm với đội tư vấn; và xin cảm ơn các cán bộ trung
ương thuộc Bộ NN&PTNT, Bộ GTVT và Bộ TN&MT và các cơ quan trung ương
khác, bao gồm các trường đại học và các nhà tài trợ quốc tế đã góp phần đem lại
hiểu biết sâu hơn bối cảnh và thách thức của thích ứng với BĐKH tại Việt Nam
Trang 4Tóm tắt
Trong những năm gần đây, một số quốc gia đã bắt đầu phân tích tác động của BĐKH đối với cơ sở hạ tầng trong nước và lập các kế hoạch hành động thích ứng quốc gia (NAPA) cũng như các chiến lược Thích ứng với Biến đổi khí hậu (CCA) Tuy nhiên, hầu hết các chiến lược CCA này chưa được chuyển hóa thành hành động thực tế, do đó, việc triển khai quy mô lớn các chiến lược CCA chỉ mới bắt đầu
và vẫn đang trong quá trình tiến hành
Ví dụ, điều chỉnh các tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng thích ứng với biến đổi khí hậu mới chỉ được tiến hành tại một số quốc gia phát triển; và phạm vi điều chỉnh chỉ giới hạn cho một số tiêu chuẩn Hơn nữa, các tiêu chí sử dụng để tăng khả năng chống chịu cho cơ sở hạ tầng bị hạn chế bởi các bằng chứng khoa học và thường được điều chỉnh từ những rủi ro tiềm năng, nhưng các chi phí phát sinh thêm của những điều chỉnh các tiêu chuẩn / qui định xây dựng này trong lĩnh vực CSHT có thể không được chấp thuận trong một số các nước đang phát triển
Xu hướng hiện tại trong CCA tại các quốc gia phát triển và đang phát triển được tóm tắt trong chương bốn như sau:
Tất cả các quốc gia đang phải đối phó với tính bất định cao (chương năm trình bày cách thức một số quốc gia đối phó với tính bất định)
Tác động dài hạn là một phần của quá trình thích ứng dài hạn
Chính phủ, thậm chí tại các quốc gia phát triển, khá chậm trong lồng ghép CCA vào các chính sách của Chính phủ
Cần có khả năng xuyên suốt với sự phối hợp hợp lý giữa các bên tham gia
Quá trình triển khai tại địa phương có thể góp phần giải quyết vấn đề toàn cầu nhưng phải có bối cảnh cụ thể
Đa số các quốc gia đang bắt đầu triển khai các biện pháp ―không hối tiếc‖, ―hối tiếc‖ thấp và các bên cùng có lợi (một số ví dụ những biện pháp này được nêu trong báo cáo này)
Một số quốc gia cũng ―nhìn vào mặt tích cực‖ và xác định các cơ hội lien quan đến BĐKH
Khí hậu thay đổi, và lĩnh vực nông thôn cũng sẽ như vậy, do đó, ứng phó CCA đòi hỏi cách thức tiếp cận tổng quát hơn
Thích ứng không chỉ là ―giải quyết‖ mà còn là ―đối phó‖ với biến đổi khí hậu
Các dữ liệu tin cậy góp phần đem lại các giải pháp thích ứng hiệu quả hơn
Không có những viên đạn bạc hay đường đi tắt Thậm chí những giải pháp đơn giản có thể cũng khó mà thực hiện
Cần phải triển khai ngay Mặc dù tất cả các quốc gia đều nhận ra tiến độ triển khai chậm nhưng đều nhận thấy cần phải bắt đầu ngay
Trang 5 Tìm hiểu tình trạng dễ bị tổn thương hiện có trước khí hậu và xác định các ngưỡng chuẩn
Thiết lập các biện pháp và chính sách thích ứng, linh hoạt và có khả năng chống chịu
Một số nước sử dụng các công cụ kinh tế hiện có và đang xuất hiện
Tất cả các quốc gia có những hạn chế giống nhau trong quá trình thực hiện
Thích ứng không phù hợp có thể tăng tình trạng dễ bị tổn thương
Một khía cạnh quan trọng trong CCA đối với CSHT nông thôn nằm ở giai đoạn thiết
kế Chương sáu tổng hợp một số nội dung cần xem xét, đó là:
Nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia phát triển, đang xây dựng khá thái quá, để đảm bảo rằng CSHT đủ bền để đối phó với mức độ của tính bất định
Nhiều nỗ lực được tiến hành nhằm giảm thiểu và quản lý khả năng khôi phục, kết nối CCA với DRR
Có sự đồng thuận rõ ràng về nhu cầu nghiên cứu các kịch bản tương lai tại thời điểm hiện tại
Xem xét tuổi thọ của CSHT thiết kế và việc chuyển đổi CSHT là một quá trình dần dần và có thể được thực hiện trong các bước khác nhau
Chuyển từ các chu kỳ lặp lại sang cách thức tiếp cận linh hoạt hơn cũng là một ưu tiên, nhưng các king nghiệm quốc tế có thể không áp dụng được tại Việt Nam
Một số các quốc gia quyết định đối phó với tính bất định bằng cách sử dụng
hệ số ―thích ứng với BĐKH‖ trong thiết kế
Việc áp dụng các chính sách không hối tiếc, hối tiếc thấp hoặc các bên cùng
có lợi khá phổ biển trong kinh nghiệm thực hiện trên thế giới và thường bắt đầu ở bước thiết kế
Một số quốc gia sử dụng phần mềm mô hình là công cụ để lồng ghép BĐKH vào bước thiết kế
Các thiết kế hiệu quả tính toán tất cả các chi phí liên quan trong quá trình phân tích kinh tế, sử dụng cả mô hình CAPEX và OPEX
Tại các quốc gia đang phát triển, việc kết hợp thu thập dữ liệu chính thống với
sự tham gia của cộng đồng trong việc thu thập các kinh nghiệm / kiến thức của địa phương cần được cải thiện
Các thiết kế hiệu quả đảm bảo rằng CSHT không làm tăng mức độ dễ bị tổn thương của khu vực xung quanh trước BĐKH
Thích ứng với BĐKH bắt đầu từ các phân tích giải pháp thay thế
Nội dung chính của báo cáo là chương tám và chín, trình bày về kinh nghiệm trên thế giới Những chương này bao gồm một loạt các công nghệ đã được áp dụng thành công tại các quốc gia khác trong các dự án CCA thí điểm hoặc là các công
Trang 6cụ/công nghệ hiện có có thể được áp dụng để tăng khả năng chống chịu với khí hậu cho CSHT nông thôn ở Việt nam
Xét về việc phân tích tình trạng dễ bị tổn thương sơ bộ của CSHT nông thôn tại miền Bắc Việt Nam (mục 2.3.), tác giả tập trung nghiên cứu về các mặt của CSHT nông thôn có thể dễ bị tổn thương hơn trước BĐKH, và những công nghệ có thể phù hợp hơn với bối cảnh địa phương
Vì những lý do này, nội dung chính của chương 8 sẽ trình bày về các biện pháp kỹ thuật sinh học bảo vệ mái dốc cũng như các hạ tầng thoát nước khác của đường nông thôn Đối với các hệ thống thủy lợi, các công trình dễ bị tổn thương hơn là bờ sông và các công trình chắn nước hoặc cho nước tràn qua (như đập và đập tràn) Bên cạnh các giải pháp kết cấu, còn có một số các giải pháp kỹ thuật phi kết cấu có thể góp phần tăng khả năng chống chịu Kinh nghiệm thực hiện trên thế giới cho thấy một số ví dụ về thích ứng với BĐKH bằng các biện pháp giản đơn như thay đổi
cơ cấu mùa vụ, cây trồng hoặc các biện pháp canh tác Mặc dù một số biện pháp này có thể nằm ngoài phạm vi của báo cáo nhưng tác giả vẫn quyết định nêu những
ví dụ này do trong nhiều trường hợp, các giải pháp CCA là sự kết hợp giữa các biện pháp kết cấu và phi kết cấu
Trang 7Danh mục từ viết tắt
CCFSC Văn phòng thường trực Ban chỉ đạo Phòng chống lụt bão trung ương
IPCC Ủy ban liên chính phủ về Biến đổi khí hậu
M&E Giám sát và Đánh giá
NC Truyền thông quốc gia (về Biến đổi khí hậu)
OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
SREX Báo cáo đặc biệt về Hiện tượng cực đoan (từ IPCC)
UNFCCC Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu
Trang 8Danh mục thuật ngữ
Thích ứng: Trong các hệ thống của con người, quá trình điều chỉnh trước khí hậu
thực tế hoặc dự kiến và tác động của nó, nhằm giảm thiểu nguy hại hoặc khai thác
cơ hội có lợi Trong các hệ thống của tự nhiên, quá trình điều chỉnh trước khí hậu thực tế và tác động của nó; những biện pháp can thiệp của con người có thể hỗ trợ tiến trình điều chỉnh trước khí hậu dự kiến
Thích ứng với Biến đổi khí hậu: Điều chỉnh trong các hệ thống của con người
hoặc tự nhiên phù hợp với các kích thích khí hậu thực tế và dự kiến như là để giảm thiểu nguy hại hoặc khai thác các cơ hội có lợi
Năng lực thích ứng: Kết hợp các lợi thế, đặc tính và nguồn lực sẵn có của cá nhân,
cộng đồng, xã hội hoặc tổ chức có thể được sử dụng để chuẩn bị cho và thực hiện các hành động giảm thiểu các tác động bất lợi, nguy hại hoặc khai thác các cơ hội có lợi Năng lực thích ứng là khả năng dự báo và chuyển đổi cấu trúc, chức năng hoặc
tổ chức để chịu được các mối nguy hại tốt hơn
Năng lực: Năng lực là sự kết hợp tất cả các lợi thế, đặc tính và nguồn lực sẵn có
của cá nhân, cộng đồng, xã hội hoặc tổ chức có thể được sử dụng để đạt được các mục tiêu đã định Năng lực là một yếu tố quan trọng trong hầu hết các khung khái niệm về tình trạng dễ bị tổn thương và rủi ro Năng lực là các đặc tính tích cực của con người mà có thể giảm thiểu rủi ro do mối nguy hại gây ra Nâng cao năng lực thường được xác định như mục tiêu của các chính sách và dự án căn cứ trên khái niệm rằng tăng cường năng lực cuối cùng sẽ giảm thiểu được rủi ro Năng lực cũng bàn về vấn đề giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu: Biến đổi khí hậu là sự thay đổi trong trạng thái của khí hậu, có thể
được xác định (ví dụ: bằng cách sử dụng các thử nghiệm thống kê) thông qua những thay đổi trong giá trị trung bình và/hoặc sự biến đổi của đặc tính, và duy trì trong một thời gian dài, nhiều thập kỷ hoặc lâu hơn nữa Biến đổi khí hậu có thể do quy trình nội tại của tự nhiên hoặc các tác động bên ngoài như là thay đổi của chu kỳ của mặt trời, phun núi lửa và những thay đổi do con người dài hạn trong thành phần của khí quyển hoặc trong sử dụng đất Lưu ý rằng Công ước khung về Biến đổi khí hậu (UNFCCC), Điều 1, định nghĩa biến đổi khí hậu là: ‗sự thay đổi khí hậu trực tiếp hoặc gián tiếp do hoạt động của con người gây ra mà thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và tăng thêm mức độ thay đổi khí hậu tự nhiên quan sát được trong các giai đoạn thời gian đối chiếu.‘ Do vậy, UNFCCC phân biệt giữa biến đổi khí hậu
do các hoạt động của con người gây ra làm thay đổi thành phần khí quyển và những thay đổi của khí hậu do tự nhiên gây ra
Mô hình khí hậu: Việc trình diễn hệ thống khí hậu dưới dạng số học căn cứ vào các
đặc tính vật lý, hóa học và sinh học của các hợp phần của khí hậu, mối tương tác và quy trình phản hồi, và đại diện cho toàn bộ hoặc một số các đặc tính được biết đến
Hệ thống khí hậu có thể được thể hiện bằng các mô hình có sự phức tạp khác nhau,
Trang 9đó là, đối với bất kỳ hợp phần hoặc kết hợp các hợp phần, có thể xác định một kiểu hoặc bậc mô hình, khác nhau trong các mặt như là số lượng kích thước không gian, mức độ đại diện rõ ràng các quy trình vật lý, hóa học hoặc sinh học, hoặc mức độ liên quan đến thông số hóa thực tế Các Mô hình khí hậu toàn cầu Khí quyển – Đại dương kết hợp (AOGCMs), còn gọi là Mô hình tuần hoàn chung Khí quyển – Đại dương, đại diện cho hệ thống khí hậu mà gần đồng bộ nhất với dải khí hậu sẵn có hiện nay Có một cuộc cách mạng trong các mô hình phức tạp hơn với hóa học và sinh học tương tác Các mô hình khí hậu được áp dụng như một công cụ nghiên cứu
để nghiên cứu và mô phỏng khí hậu và cho mục đích vận hành, bao gồm các dự báo khí hậu hàng tháng, theo mùa và hàng năm
Kịch bản khí hậu: Một trình diễn đơn giản và có thể đúng về khí hậu tương lai, căn
cứ trên một bộ các mối quan hệ khí hậu phù hợp nội tại đã xây dựng cho mục đích
sử dụng rõ ràng trong tìm hiểu các hậu quả tiềm năng của biến đổi khí hậu do con người gây ra, thường là đầu vào cho các mô hình tác động Các dự báo khí hậu thường là các tài liệu thô để xây dựng các kích bảo khí hậu nhưng các kịch bản khí hậu thường yêu cầu thông tin bổ sung, ví dụ, về khí hậu hiện tại được quan sát
Đối phó với biến đổi khí hậu: Đối phó: sử dụng các kỹ năng, nguồn lực và các cơ
hội sẵn có để giải quyết, quản lý và khắc phục các điều kiện bất lợi, với mục đích đạt được chức năng cơ bản trong ngắn và trung hạn Đối phó chủ yếu được sử dụng cho các hoạt động sau xảy ra, trong khi thích ứng thường liên quan đến hoạt động trước khi xảy ra Điều này chỉ ra rằng năng lực đối phó thường là khả năng phản ứng
và giảm thiểu các tác động bất lợi của các nguy hại gặp phải
Mức độ nguy hiểm: Con người, sinh kế, loài vật hoặc hệ thống sinh thái, chức
năng, dịch vụ và nguồn lực môi trường, cơ sở hạ tầng hoặc tài sản kinh tế, xã hội và văn hóa có mặt tại những khu vực và bối cảnh có thể bị tác động bất lợi
Hiểm họa: Khả năng xảy ra sự kiện, xu hướng hoặc tác động vật lý do tự nhiên hoặc
con người gây ra mà có thể gây tổn thất về con người, thương tích hoặc các tác động đến sức khỏe khác cũng như thiệt hại và tổn thất về tài sản, cơ sở hạ tầng, sinh kế, cung cấp dịch vụ, hệ thống sinh thái và các nguồn lực môi trường Trong báo cáo này, thuật ngữ Hiểm họa thường chỉ các sự kiện, xu hướng hoặc các tác động vật lý liên quan đến khí hậu
Tác động: Tác động đối với các hệ thống tự nhiên và con người Trong báo cáo này,
thuật ngữ tác động được sử dụng chủ yếu để chỉ các tác động về hệ thống tự nhiên
và con người của thời tiết cực đoan, sự kiện khí hậu và biến đổi khí hậu Nhìn chung, các tác động đề cập đến các tác động về cuộc sống, sinh kế, sức khỏe, hệ sinh thái, kinh tế, xã hội, văn hóa, dịch vụ và cơ sở hạ tầng do tương tác của biến đổi khí hậu hoặc các sự kiện khí hậu nguy hại xảy ra trong khoảng thời gian nhất định và mức độ tổn thương của xã hội hoặc hệ thống bị nguy hại Các tác động cũng được gọi là hậu quả và kết cục Các tác động của biến đổi khí hậu đối với hệ thống hệ thống địa vật lý, bao gồm lũ lụt, hạn hán và tăng mực nước biển, là các tác động phụ được gọi là tác động vật lý
Trang 10Sạt lở đất: Một khối vật liệu dịch chuyển xuống dốc do trọng lực, thường do nước
đẩy khi vật liệu bị ướt Việc dịch chuyển của đất, đá hoặc chất thải xuống dốc có thể diễn ra nhanh chóng hoặc từ từ, chậm chạp
Giảm nhẹ: Giảm nhẹ đề cập đến việc giảm thiểu tỷ lệ biến đổi khí hậu thông qua
việc quản lý các nguyên nhân (phát thải khí nhà kính từ việc đốt cháy nhiên liệu hóa thách, nông nghiệp, thay đổi sử dụng đất, sản xuất xi măng…)
Khả năng chống chịu: Khả năng của một hệ thống và các hợp phần hệ thống để dự
báo, hấp thụ, phù hợp hoặc khôi phục từ các tác động của một sự kiện nguy hại tiềm
ẩn kịp thời và hiệu quả, thông qua đảm bảo quá trình bảo tồn, khôi phục, hoặc nâng cao kết cấu và chức năng cơ bản chính của nó
Chu kỳ lặp lại: Ước tính khoảng thời gian trung bình giữa những lần xảy ra một sự
kiện (ví dụ: lũ lụt hoặc mưa cực đoan) (nhỏ hơn/lớn hơn) quy mô hoặc cường độ xác định
Rủi ro: Khả năng xảy ra của những hậu quả trong đó những thứ có giá trị có thể bị
mất và kết cục là không chắc chắn, và ghi nhận mức độ đa dạng các giá trị Rủi ro thường được đại diện bởi xác suất xảy ra một sự kiện hoặc xu hướng nguy hại được tăng lên do các tác động nếu những sự kiện hoặc xu hướng này xảy ra Rủi ro là kết quả của sự tương tác giữa tình trạng dễ bị tổn thương, mức độ nguy hại và hiểm họa Trong báo cáo này, thuật ngữ rủi ro được sử dụng chủ yếu để đề cập đến các rủi ro của các tác động của biến đổi khí hậu
Dòng chảy nước mặt: Phần nước mưa không bốc hơi và thoát hơi nước mà chảy
xuyên hoặc trên mặt đất nước
Tính bất định: Biểu thị mức độ mà một giá trị hoặc một mối quan hệ chưa được biết
Tính bất định có thể do thiếu thông tin hoặc bất đồng về những điều được biết hoặc thậm chí có thể biết được Tính bất định có thể bắt nguồn từ nhiều nguồn như là sai
số định lượng trong số liệu, các khái niệm hoặc thuật ngữ được xác định mơ hồ hoặc dự báo bất định về hành vi con người Do vậy, tính bất định có thể được đại diện bằng các số đo định lượng, ví dụ: chuỗi các giá trị được tính bởi các mô hình khác nhau hoặc các khái niệm định tính, ví dụ: phán đoán của một nhóm chuyên gia
Tình trạng dễ bị tổn thương: Khuynh hướng hoặc thiên về bị tác động bất lợi Tình
trạng dễ bị tổn thương bao gồm nhiều khái niệm và yếu tố bao gồm độ nhạy hoặc tính dễ bị nguy hại và thiếu năng lực đối phó và thích ứng
Trang 11Mục lục
Lời nói đầu 2
Tóm tắt 3
Danh mục từ viết tắt 6
Danh mục thuật ngữ 7
Mục lục 10
1 Giới thiệu 12
2 Cơ sở nghiên cứu 13
2.1 Biến đổi khí hậu: chúng ta biết gì và chúng ta có thể kỳ vọng được gì 13
2.1.1 Biến đổi khí hậu tại các tỉnh miền núi phía Bắc: 16
2.2 Cách thức Biến đổi khí hậu sẽ tác động đến CSHT nông thôn tại Việt Nam 20
2.2.1 Nhân tố gia tăng tác động của Biến đổi khí hậu 21
2.3 Phân tích nhanh tác động của Biến đổi khí hậu đối với CSHT tại Việt Nam 23
3 Phương pháp luận và Giới hạn phạm vi nghiên cứu 26
4 Bài học từ kinh nghiệm của quốc tế về thích ứng với Biến đổi khí hậu (CCA) tại bước phân tích, chiến lược và chính sách 28
5 Cách thức các quốc gia khác đối phó với tính bất định 36
6 Cải tiến nào đến từ thích ứng với Biến đổi khí hậu: đối phó với đe dọa mới bằng công cụ cũ 39
7 Kinh nghiệm quốc tế về lồng ghép Biến đổi khí hậu vào thiết kế CSHT 40
8 Kinh nghiệm quốc tế về các giải pháp kỹ thuật để tăng cường khả năng chống chịu cho CSHT nông thôn 58
8.1 Ổn định mái dốc cho đường nông thôn 58
8.1.1 Các giải pháp cứng để ổn định mái dốc cho đường nông thôn 58
8.1.2 Các giải pháp mềm ổn định mái dốc cho đường nông thôn (kỹ thuật sinh học) 61
8.1.3 Các giải pháp kết hợp để ổn định mái dốc trên đường giao thông nông thôn (kỹ thuật sinh học) 67
8.1.4 Các giải pháp thay thế khác để ổn định mái dốc trên đường giao thông nông thôn 70
8.2 Tiêu và dẫn nước trên đường giao thông nông thôn 73
8.2.1.Vai đường và rãnh thoát nước trên đường khác 73
8.2.2 Các kết cấu qua sông suối 78
8.3 Các kinh nghiệm khác trong đường nông thôn 82
8.3.1 Ổn định đất 82
Trang 128.4 Kết cấu hạ tầng chứa/giữ nước cho thủy lợi 83
8.4.1 Đập 83
8.4.2 Đập dâng 87
8.5 Các giải pháp phòng tránh lũ 91
8.5.1 Hồ chứa 91
8.5.2 Các nguồn nước thay thế 93
8.5.3 Các biện pháp tiết kiệm nước: channel lining (tạm dịch là lát kênh) 93
8.6 Các giải pháp phòng tránh lũ 94
8.6.1 Thoát nước 95
8.6.2 Các hệ thống cảnh báo sớm 97
8.7 Kè sông 100
8.7.1 Các kỹ thuật thông thường để bảo vệ bờ sông 100
8.7.2 Các kỹ thuật sinh học để bảo vệ bờ sông 103
8.7.3 Các kết cấu thủy động lực học để kiểm soát dòng chảy 111
9 Kinh nghiệm quốc tế về các giải pháp phi kết cấu đối với cơ sở hạ tầng nông thôn 112
9.1 Dự báo thời tiết và khí hậu 112
9.2 Bảo trì và nâng cấp đường nông thôn 113
9.3 Quản lý tổng hợp tài nguyên nước (IWRM) 115
9.4 Nâng cao quản lý nước trong các công trình thủy lợi 120
9.5 Các chiến lược thích ứng Biến đổi khí hậu khác tại cấp cánh đồng 123
9.5.1 Sử dụng hạt giống cải tiến 123
9.5.2 Thay đổi mùa vụ hoặc lịch canh tác 124
9.5.3 Thay đổi kỹ thuật sản xuất mùa vụ 124
9.5.4 Bảo hiểm 129
9.6 Các giải pháp tổng hợp thích ứng với Biến đổi khí hậu 130
10 Kết luận 133
Phụ lục 1 Tài liệu tham khảo 134
Trang 131 Giới thiệu
Báo cáo này là một phần trong các tài liệu kỹ thuật đang được lập trong dự án: Báo cáo về kinh nghiệm của quốc tế trong việc thực hiện các biện pháp kỹ thuật để tăng cường khả năng chống chịu với khí hậu trong các lĩnh vực giao thông nông thôn, thủy lợi và kè bảo vệ bờ sông
Mục đích của báo cáo này là thu thập tài liệu về kinh nghiệm của quốc tế trong việc
sử dụng các giải pháp kỹ thuật kết cấu và phi kết cấu để thích ứng với BĐKH cho CSHT nông thôn
Báo cáo này được xem là sản phẩm đóng góp cho cuộc tranh luận hiện đang diễn ra tại Việt Nam xung quanh nhu cầu của CSHT nông thôn chống chịu với khí hậu Các bài học từ các quốc gia khác có thể góp phần đưa những ý tưởng mới hoặc khẳng định sự tương quan của một số giải pháp kỹ thuật đang được áp dụng tại Việt Nam
Trang 142 Cơ sở nghiên cứu
2.1 Biến đổi khí hậu: chúng ta biết gì và chúng ta có thể kỳ vọng được gì
Báo cáo đánh giá thứ năm của Ủy ban liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC WGII AR5) là tài liệu toàn diện nhất về Biến đổi khí hậu hiện có Phiên bản cuối cùng của báo cáo này vẫn chưa được xuất bản nhưng bản thảo đã có sẵn trên trang web của IPCC1 đưa ra một số kết luận mới nhất về nghiên cứu Biến đổi khí hậu:
Chúng ta biết nhiều hơn về các tác động của Biến đổi khí hậu: So sánh với
các báo cáo WGII trước đây, WGII AR5 đánh giá cơ sở kiến thức rộng lớn hơn
về cơ sở nghiên cứu khoa học, kỹ thuật và kinh tế xã hội liên quan
Biến đổi khí hậu hiện đang diễn ra: Trong những thập kỷ gần đây, những thay
đổi khí hậu đã tác động đến các hệ thống tự nhiên và con người trên tất cả các lục địa và đại dương Bằng chứng về tác động của BĐKH mạnh mẽ nhất và toàn diện nhất cho hệ thống tự nhiên Một số tác động đối với các hệ thống của con người cũng do 7 Biến đổi khí hậu, với mức độ ảnh hưởng lớn hoặc nhỏ Biến đổi khí hậu khác biệt so với các tác động ảnh hưởng khác
Biến đổi khí hậu đang tác động đến nguồn nước: Trong nhiều khu vực, thay
đổi lượng mưa hoặc băng tuyết tan chảy đang thay đổi các hệ thống thủy văn,
ảnh hưởng đến nguồn nước về mặt số lượng và chất lượng (độ tin cậy trung bình, theo IPCC WGII AR5)
Biến đổi khí hậu ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp: Căn cứ theo
nhiều nghiên cứu về các khu vực và mùa vụ khác nhau, các tác động tiêu cực của Biến đổi khí hậu đối với sản lượng mùa vụ trở nên phổ biến hơn các tác
động tích cực (độ tin cậy cao)
Biến đổi khí hậu là một trong những vấn đề ảnh hưởng đến mức độ nguy hại và gia tăng rủi ro: Sự khác biệt trong tình trạng dễ bị tổn thương và mức độ
nguy hại tăng từ các nhân tố phi khí hậu và chênh lệch đa chiều thường do quá
trình phát triển không đều (độ tin cậy rất cao) Sự khác biệt này tạo nên các rủi ro
khác nhau từ Biến đổi khí hậu Những lĩnh vực xã hội, kinh tế, văn hóa, chính trị, thể chế và các đối tượng bị thiệt thòi… dễ bị tổn thương trước Biến đổi khí hậu
và một số giải pháp thích ứng và giảm nhẹ (bằng chứng trung bình, đồng thuận cao) Việc tăng nguy cơ dễ bị tổn thương hiếm khi do một nguyên nhân duy nhất
Thay vào đó, đây là sản phẩm của các quá trình xã hội đan xen, gây ra việc chênh lệch trong điều kiện kinh tế xã hội và thu nhập cũng như trong nguy cơ chịu nguy họa
Các sự kiện thời tiết cực đoan liên quan trực tiếp đến Biến đổi khí hậu: Các
tác động từ các hiện tượng cực đoan liên quan đến khí hậu gần đây, như là các đợt nắng nóng kéo dài, hạn hán, bão nhiệt đới và hỏa hoạn cho thấy tình trạng dễ
1 Các báo cáo đánh giá lần thứ 5 của IPCC tham vấn vào tháng 5/2014 tại trang web:
http://www.ipcc.ch/report/ar5/wg2/
Trang 15bị tổn thương và mức độ nguy hại lớn của một số hệ sinh thái và nhiều hệ thống
của con người trước biến đổi khí hậu hiện tại (độ tin cậy rất cao) Các tác động
của những sự kiện cực đoan liên quan đến khí hậu thường gồm có sự thay đổi
hệ sinh thái, gián đoạn sản xuất thực phẩm và cấp nước, hư hại cho CSHT và nơi cư trú, bệnh tật và tử vong, và hậu quả cho sức khỏe thần kinh và cơ thế con người Đối với các quốc gia tại tất cả các mức độ phát triển, những tác động này tương ứng với việc thiếu phòng ngừa cho biến đổi khí hậu hiện tại trong một số các lĩnh vực
Các hiểm họa liên quan đến khí hậu làm trầm trọng hơn các tác nhân ảnh hưởng khác, thường có kết cục tiêu cực đối với sinh kế, đặc biệt cho những
người nghèo (độ tin cậy cao) Các hiểm họa liên quan đến khí hậu ảnh hướng đến cuộc sống của người nghèo trực tiếp thông qua các tác động đối với sinh kế, giảm sản lượng mùa vụ hoặc phá hủy nhà cửa và tác động gián tiếp thông qua,
ví dụ, tăng giá thực phẩm và mất an ninh lương thực
Đối phó với tính bất định: Tính bất định về tình trạng dễ bị tổn thương, mức độ
nguy hại và ứng phó của các hệ thống tự nhiên và con người liên quan trong tương lai khá lớn (độ tin cậy cao) Điều này khuyến khích tìm hiểu các kịch bản tương lai kinh tế xã hội trong đánh giá rủi ro Tìm hiểu về tình trạng dễ bị tổn thương, mức độ nguy hại và năng lực ứng phó của các hệ thống con người và tự nhiên liên quan trong tương lai khá thách thức do nhiều nhân tố xã hội, kinh tế và văn hóa, đến thời điểm hiện nay, điều này chưa được nghiên cứu hoàn toàn Những lý do chính mà IPCC quan ngại là:
1 Các h ệ thống duy nhất và bị đe dọa: Một số hệ thống duy nhất và bị đe dọa,
bao gồm hệ sinh thái và văn hóa, đã chịu rủi ro từ Biến đổi khí hậu
tăng mạnh cùng với nồng độ khí nhà kính tăng Biến đổi khí hậu trong thế kỷ
21 dự kiến sẽ giảm mạnh nguồn nước mặt và nguồn nước ngầm có thể tái tạo trong đa số các khu vực cận nhiệt đới khô hạn, làm tăng tính cạnh tranh về nước giữa các lĩnh vực Các kỹ thuật quản lý nước thích ứng, bao gồm lập kịch bản, phương pháp tiếp cận dựa trên học hỏi và các giải pháp linh hoạt và
ít tiếc nuối, có thể giúp tăng khả năng chống chịu trước các thay đổi thủy văn bất định và tác động do Biến đổi khí hậu
mùa vụ (lúa mì, gạo và ngô) tại các khu vực nhiệt đới và ôn đới, Biến đổi khí hậu không có thích ứng dự kiến sẽ tác động tiêu cực đến sản xuất do nhiệt độ tại địa phương 2°C hoặc hơn Những tác động dự kiến này sẽ xảy ra trong bối cảnh nhu cầu mùa vụ tăng nhanh
4 Biến đổi khí hậu đã và đang diễn ra: Các tác động đối với nông thôn trong
tương lai dự kiến diễn ra trong tương lai gần và xa với các tác động đối với tính sẵn có và cấp nước, an ninh lương thực và thu thập trong nông nghiệp, bao gồm chuyển đổi trong diện tích sản xuất các mùa vụ lương thực và phi lương thực trên thế giới Những tác động này dự kiến tác động không đồng
Trang 16đều đến phúc lợi của người nghèo tại các khu vực nông thôn, như là những
hộ gia đình có phụ nữ là chủ hộ và những người hạn chế tiếp cận đất đai, đầu vào nông nghiệp hiện đại, cơ sở hạ tầng và giáo dục
Trong tương lai, chúng tôi có thể dự kiến các sự kiện thời tiết cực đoan xảy ra thường xuyên hơn và các thảm họa liên quan đến khí hậu gây thiệt hại tiềm năng hơn
Nguồn: UNESCO-IHE, 2012
Nhưng vấn đề không chỉ liên quan đến các sự kiện thời tiết cực đoan, mà còn sẽ có những thay đổi trong giá trị trung bình và biến đổi như nêu trong biểu đồ dưới đây:
Trang 17Nguồn: IPPC (SREX), 2012
2.2 Biến đổi khí hậu tại các tỉnh miền núi phía Bắc:
Bộ TN&MT, căn cứ vào các kịch bản BĐKH quốc tế và trong nước, dự báo nhiệt độ
và lượng mưa trung bình tại các tỉnh phía Bắc Việt Nam
Căn cứ theo các kịch bản khác nhau, Bộ TN&MT khuyến nghị sử dụng kịch bản trung bình (B2) cho các bộ, chính quyền và tỉnh/thành phố để làm cơ sở ban đầu trong đánh giá Biến đổi khí hậu và lập các kế hoạch hành động ứng phó với Biến đổi khí hậu
Theo Bộ TN&MT ước tính, biến động trong nhiệt độ trung bình hàng năm (ºC) trong giai đoạn 1980-1999 của kịch bản phát thải trung bình (B2) là:
Trang 18Bảng 1 Nhiệt độ trung bình năm tăng lên theo kịch bản phát thải trung bình (B2)
Nguồn: Bộ TN&MT (2009) Kịch bản Biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt nam
Theo Bộ TN&MT ước tính, lượng mưa trong mùa khô sẽ giảm Lượng mưa trong mùa mưa và tổng lượng mưa hàng năm sẽ tăng Trong kịch bản phát thải trung bình trong giai đoạn 1980-1999, lượng mưa hàng năm sẽ tăng khoảng 7-8% tại các tỉnh miền núi phía Bắc Tuy nhiên, lượng mưa trong giai đoạn từ tháng 3 đến tháng 5 có thể giảm khoảng 4-7% tại khu vực miền Bắc và tăng 10-15% vào giữa mùa mưa
Cũng theo dự báo của Bộ TN&MT (2009), thay đổi trong lượng mưa trung bình hàng năm (% tăng/giảm) trong giai đoạn 1980-1999 của kịch bản phát thải trung bình (B2) là:
Vùng
khí hậu
2020 2030 2040 2050 2060 2070 2080 2090 2100
Trang 19Bảng 3 Nhiệt độ trung bình tăng lên theo kịch bản phát thải trung bình (B2)
Nguồn: Bộ TN&MT (2009) Kịch bản Biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam
Trong kịch bản phát thải cao (A2), lượng mưa hàng năm sẽ tăng 9-10% tại các tỉnh miền Bắc Lượng mưa trong thời gian từ tháng 3 -5 có thể giảm khoảng 6-9% tại khu vực phía Bắc, và tăng 12-19% vào giữa mùa mưa
Lượng mưa là yếu tố chính ảnh hưởng đến CSHT nông thôn trong giá trị trung bình hàng năm và cường độ mưa Biến đổi khí hậu dự kiến tăng cường độ mưa tối đa lên tới 30% tại một số khu vực miền Bắc và giảm cường độ mưa tối đa lên tới 30% tại các khu vực khác.2 Sự biến động lớn này tại khu vực khá nhỏ của quốc gia có tác động lớn đến bất kỳ biện pháp can thiệp CCA nào trong tương lai
Theo Bộ TN&MT ước tính, biến động nhiệt độ trung bình (ºC) trong giai đoạn
1980-1999 trong kịch bản phát thải trung bình (B2) là:
Trang 20Nguồn: Bộ TN&MT (2009) Kịch bản Biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam
Theo Bộ TN&MT ước tính, biến động trong lượng mưa trung bình (%) trong giai đoạn 1980-1999 trong kịch bản phát thải trung bình (B2) là:
Bảng 4 Thay đổi lượng mưa trung bình với kịch bản phát thải (B2)
Nguồn: Bộ TN&MT (2009) Kịch bản Biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam
Kịnh bản phát thải trung bình (B2) cũng dự báo sự gia tăng đáng kể của các trận mưa có cường độ lớn Bộ TN&MT (2012) dự báo lượng mưa ngày max của giai đoạn cuối thế kỷ 21 sẽ tăng lên so với giai đoạn 1980-199 là như sau:
Northwest Northeast Northern
part
North central
South central
Central Highlands
Southern part Absolute
Bảng 5 Thay đổi lượng mưa đối với kịch bản phát thải trung bình (B2)
Nguồn: Bộ TN&MT (2012) Kịch bản Biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam
Trang 21Khu vực phía Bắc sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng với mức tăng kỷ lục của lượng mưa tối cao ngày với 126% ở vùng Tây Bắc Điều đó có ý nghĩa rất quan trọng về lũ quét tần số và mức độ nghiêm trọng
Ngoài ra, IPCC khuyến nghị áp dụng dung sai cho các kịch bản Biến đổi khí hậu Ví
dụ, dung sai nhiệt độ vào cuối thế kỷ là 0.4-0.6ºC; cho lượng mưa hàng năm là 2%, và khoảng 5% cho lượng mưa hàng tháng
1-2.3 Cách thức Biến đổi khí hậu sẽ tác động đến CSHT nông thôn tại Việt Nam
Cơ sở nghiên cứu quốc tế về CCA có nhiều báo cáo nhấn mạnh về tác động của Biến đổi khí hậu đối với CSHT Theo đó, Việt Nam không khác biệt so với các quốc gia khác và CSHT là tài sản quan trọng cần bảo vệ khỏi Biến đổi khí hậu cực đoan Báo cáo này tập trung vào hai loại CSHT nông thôn: đường giao thông nông thôn và
hệ thống thủy lợi (bao gồm kè sông)
Một số rủi ro chung được xác định trong mối liên hệ với CSHT nông thôn là:
Rủi ro về tính mạng, thương tật, ốm yếu hay gián đoạn sinh kế do bão và lũ lụt
Rủi ro về gián đoạn sinh kế cho dân số nông thôn do một số nhân tố liên quan đến khí hậu (hạn hán, lũ lụt…)
Rủi ro hệ thống do sự kiện thời tiết cực đoan dẫn đến hư hỏng cho mạng lưới CSHT và các dịch vụ thiết yếu
Rủi ro về an ninh lương thực và hư hỏng các hệ thống lương thực liên quan đến hiện tượng nóng lên, hạn hán, lụt lội và thay đổi lượng mưa và hiện tượng cực đoan
Rủi ro thiệt hại về sinh kế và thu nhập ở nông thôn do thiếu tiếp cận với nước
và giảm năng suất nông nghiệp, đặc biệt là các hộ nghèo có ít các giải pháp thay thế
Rủi ro thiệt hại về hệ sinh thái dưới nước và trên can , đa dạng sinh học và hàng hóa, chức năng và dịch vụ hệ sinh thái mà chúng cung cấp
Theo cơ sở dữ liệu của Ủy ban trung ương Phòng chống lụt bão, Việt Nam phải gánh chịu thiệt hại nghiêm trọng hàng năm đối với CSHT nông thôn Bảng dưới đây cho thấy những thiệt hại trung bình hàng năm (2007):
Trong đó diện tích lúa bị thiệt hại 33,000 ha
Trong đó diện tích bị thiệt hại nặng nề 950 ha
Trang 22Bảng 6 Báo cáo thiệt hại năm 2007; Nguồn: trang web của UBTW PCLBe
Mặc dù thông tin trong báo cáo của UBTWPCLB có thể không tin cậy 100% do khó khăn trong thu thập dữ liệu và có thể bị báo cáo giảm; nhưng bảng số liệu cho thấy mức độ các sự kiện thời tiết cực đoan hiện đang ảnh hưởng đến CSHT Trong nhiều thập kỷ qua, do hậu quả trực tiếp của Biến đổi khí hậu, mức độ thiệt hại có thể tăng mạnh
2.4 Nhân tố gia tăng tác động của Biến đổi khí hậu
Đất bị xói mòn, rửa trôi và tái bồi lắng 4,834,000 m3
Đá bị xói mòn, rửa trôi và tái bồi lắng 280,000 m3
Thiệt hại kinh tế ước tính trong thủy lợ VND 42 tỷ
Đường
Đất bị xói mòn, rửa trôi và tái bồi lắng 7,126,000 m3
Đá bị xói mòn, rửa trôi và tái bồi lắng 176,000 m3
Thiệt hại kinh tế ước tính đối với đường giao
thông
VND 104 tỷ
Trang 23Biến đổi khí hậu là một trong những nhân tố chính sẽ ảnh hưởng đến tình trạng dễ bị tổn thương và tuổi thọ của CSHT nông thôn Nhưng còn có những nhân tố khác cũng cần phải xem xét
Địa chất và địa văn là một trong các nhân tố điển hình nhất Các tỉnh phía Bắc có đặc điểm là độ dốc lớn, góp phần tăng tác động của các sự kiện thời tiết cực đoan
Lũ quét xảy ra với tần suất cao hơn và các mức độ gây thiệt hại lớn hơn so với khu vực địa hình thấp Độ dốc lớn dễ bị sạt lở đất hơn, đặc biệt tại các tỉnh phía Bắc Việt Nam, ở đó đặc tính của đất/đá quyết định việc xảy ra các trận sạt lở đất nghiêm trọng
Các hoạt động của con người cũng đóng vai trò quan trọng như tác nhân tăng cường tác động của BĐKH Các hoạt động được thực hiện ở thượng nguồn (ví dụ: thay đổi sử dụng đất, quản lý nước…) có tác động trực tiếp đến dòng chảy
Trang 242.5 Phân tích nhanh tác động của Biến đổi khí hậu đối với CSHT tại Việt Nam
Ma trận sau đây phân tích tác động tiềm ẩn của CSHT đối với các hậu quả khác
nhau của Biến đổi khí hậu
Màu đỏ thể hiện tác động tiềm ẩn của BĐKH đối với CSHT ―rất cao‖, màu cam ―cao‖,
màu vàng ―trung bình‖ và màu xanh lá ―thấp‖
Ví dụ, tăng tần suất bão và lượng mưa lớn là những hiểm họa chính trong trường
hợp ta luy dương Lũ chậm có khả năng cao gây xói mòn nền mái dốc và gió lốc có
thể có một số tác động đối với tính ổn định của mái dốc do cây đổ Hạn hán và thay
đổi nhiệt độ có tác động đến độ ẩm và độ ổn định của đất, tuy nhiên, trong trường
hợp đó các tác động tiềm ẩn đối với mái dốc được xem là thấp
Mối hiểm họa: Tác động của Biến đổi khí hậu
Các nhân
tố bên ngoài khác (tăng cường)
Bão có cường độ và tần suất lớn hơn Mưa bất thường Gió lốc
3 Nhiệt độ cao và thấp Bão có tần
suất cao hơn
Lượng mưa lớn gây lũ quét
Lũ ―chậm‖ Hạn hán
Nguy hại cho CSHT:
Kết cấu/tương chắn
chảy / sử dụng đất
chảy / sử dụng đất
chảy / sử dụng đất
Kênh thứ cấp và kênh nhánh
Diện tích canh tác (lúa)
Cửa phai và các hạng mục di chuyển khác Trạm bơm (bao gồm nước ngầm và
3 Chỉ đo tác động của gió
4 Cây đổ vào áo đường
Trang 25nước mặt) Cống thoát nước
chảy / sử dụng đất
chảy / sử dụng đất
Nguồn: tự nghiên cứu
Mối hiểm họa: Tác động của Biến đổi khí hậu
Các nhân
tố bên ngoài khác (tăng cường)
Bão có cường độ và tần suất lớn hơn Mưa bất thường Gió lốc
5 Nhiệt độ cao và thấp Lượng mưa
lớn gây lũ quét
Lũ
―chậm‖
Lượng mưa lớn gây lũ quét
Lũ ―chậm‖
Năng lực đối phó 6
Nâng cấp qui định thi công và tiêu chuẩn thiết kế đường
Nâng cấp qui định thi công và tiêu chuẩn thiết kế công trình thủy lợi Nâng cấp qui định thi công và tiêu chuẩn thiết kế kè
bờ sông Công nghệ/kỹ thuật canh tác
Quản lý nước (sử dụng nước)
Sử dụng đất (thượng nguồn)
Dự báo và hệ thống cảnh báo sớm Tiêu chuẩn và quy chuẩn xây dựng VH&BD đường VH&BD hệ thống thủy lợi và kè sông Năng lực địa phương và chính quyền trung ương
Bảng 7 Sự phơi nhiễm của các CSHT trước các mối hiểm họa Nguồn: tự nghiên cứu
5 Chỉ đo tác động của gió
6 Đối với năng lực đối phó, ―rủi ro‖ được đánh giá là tiềm năng và sự liên quan đến mỗi ―năng lực đối
phó: để khắc phục các mối nguy hại nhất định
Trang 26Ngoài các hạng mục hạ tầng, ma trận trên cũng phân tích khả năng đối phó của các giải pháp mềm để nâng cao khả năng chống chịu trước mối hiểm họa của Biến đổi khí hậu
Ví dụ, thay đổi trong các công nghệ canh tác (ví dụ, thay đổi trong lịch mùa vụ) có thể có tác động lớn đến lũ chậm, hạn hán hoặc thay đổi nhiệt độ Những thay đổi trong kỹ thuật canh tác cũng có một số năng lực để đối phó với bão xảy ra thường xuyên hơn Năng lực đối phó với lượng mưa có cường độ lớn hơn thì hạn chế hơn cũng như năng lực đối phó với gió lốc
Tư vấn tập trung nghiên cứu về kinh nghiệm của quốc tế căn cứ trên các phân tích
sơ bộ của tác động của Biến đổi khí hậu và mức độ nguy hại đối với CSHT
Trang 273 Phương pháp luận và Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Các mục tiêu của nhiệm vụ này được định nghĩa trong phương pháp luận như sau: Mục tiêu bước đầu:
1 Tìm hiểu về điều kiện kinh tế xã hội và địa lý của khu vực thực hiện
2 Tìm hiểu về cách thức quy hoạch, thiết kế, thực hiện và bảo trì cơ sở hạ tầng nông thôn, và những nhân tố làm giảm hiệu quả của quá trình thực hiện
3 Xác định những nhân tố chủ yếu của hạ tầng nông thôn bị tác động bởi BĐKH, và những nhân tố sẽ/ có thể giúp nâng cao được khả năng chống chịu
4 Thu thập một số ý kiến phản hồi từ chủ đầu tư và các bên tham gia về các lĩnh vực quan tâm chính nhằm tập trung vào phạm vi công việc cho sản phẩm giao nộp đầu tiên
Mục tiêu cụ thể đối với báo cáo:
5 Căn cứ vào các thông tin thu thập trong giai đoạn đầu, xác định kinh nghiệm quốc tế phù hợp liên quan đến kỹ thuật hạ tầng nông thôn
Để thực hiện nhiệm vụ, tư vấn quốc tế tiến hành các bước như sau:
1 Nghiên cứu cơ sở
Nghiên cứu cơ sở đầu tiên tập trung vào nghiên cứu hiện có về thích ứng với Biến đổi khí hậu cho CSHT nông thôn cũng như hiểu biết chung về bối cảnh tại Việt Nam
và cụ thể là các tỉnh phía Bắc
Cơ sở nghiên cứu tại bước này theo hướng tiếp cận ―quả bóng tuyết‖, bắt đầu bằng việc nghiên cứu một số tài liệu quan trọng của IPCC
2 Thu thập dữ liệu tại thực địa về bối cảnh của Việt Nam
Điều này cho phép Tư vấn xác định được những điểm yếu tiềm ẩn và giải quyết cũng như định hướng tốt hơn về phạm vi nghiên cứu kinh nghiệm của quốc tế Công tác này gồm có có 5 ngày đi thực địa tại Sơn La và Hòa Bình trong đó đội tư vấn tham vấn chính quyền tại cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã và thu thập được các dữ liệu thứ cấp Ngoài ra, đội tư vấn thăm một số công trình hạ tầng dễ bị tổn thương và khu vực trình diễn cho CCA
Thu thập dữ liệu tại thực địa cũng thông qua phỏng vấn một số các bên tham gia chính và cơ quan và các cục, vụ chính phủ tại cấp trung ương
3 Họp tại văn phòng và phối hợp với các Tư vấn khác trong nhóm
Báo cáo này không tách biệt các sản phẩm khác đang được lập bởi các Tư vấn khác Một số cuộc họp chính thức và không chính thức, họp chung trình bày vắn tắt toàn bộ các phương pháp luận cho phép các Tư vấn trong nhóm phối hợp với nhau tốt hơn
Trang 28Theo đó, việc phối hợp đặc biệt quan trọng với báo cáo phân tích chính sách về kinh nghiệm trên thế giới, phân tích nguyên nhân gây thiệt hại cho CSHT nông thôn và đánh giá hiệu quả kinh tế của CSHT nông thôn chống chịu với khí hậu
4 Nghiên cứu sâu về kinh nghiệm của quốc tế
Căn cứ vào dữ liệu đầu vào, Tư vấn quốc tế tập trung vào nghiên cứu kinh nghiệm của quốc tế dựa trên những điều còn thiếu sót hoặc những bài học từ các quốc gia khác
Do hạn chế về thời gian nên phạm vi của nghiên cứu này tập trung vào một số hạng mục chính của CSHT nông thôn, đưa ra những điển hình về công nghệ và giải pháp
đã được áp dụng tại các quốc gia khác mà có tiềm năng áp dụng trong điều kiện của Việt nam
5 Lập báo cáo và thảo luận với các bên tham gia
Dự thảo báo cáo đầu tiên được lập và trao đổi với các bên tham gia, những người
đã cung cấp dữ liệu đầu vào có giá trị để nâng cao chất lượng của báo cáo cuối cùng
Trang 294 Bài học từ kinh nghiệm của quốc tế về thích ứng với Biến đổi khí hậu (CCA) tại bước phân tích, chiến lược và chính sách
Gần đây, các đàm phán (và quỹ cam kết) của UNFCCC đã tập trung chủ yếu vào công tác giảm nhẹ7; tuy nhiên, tầm quan trọng của thích ứng như một công cụ hữu hiệu để giảm thiểu tác động của Biến đổi khí hậu ngày càng trở nên rõ ràng
Sau khi xem xét cơ sở nghiên cứu, có một số điểm chung trong quá trình phân tích thích ứng với Biến đổi khí hậu trong các chiến lược quốc gia/ngành như sau:
1 Đối phó với tính bất định
Lập các giải pháp thích ứng dài hạn mà không có dữ liệu đầy đủ là việc không khả thi Những nhà ra quyết định phải được cung cấp các kịch bản khí hậu mang tính khoa học mới nhất và các nhà thiết kế và người sử dụng CSHT cần được thông tin
về các mặt của Biến đổi khí hậu Bất chấp những bước tiến lớn trong nghiên cứu, các chính sách thích ứng sẽ luôn phải đối phó với mức độ bất định nhất định Ví dụ, những dự báo mưa trong khu vực và địa phương vẫn có một số mức độ bất định nhất định
Mục 5 sẽ trình bày cách thức một số quốc gia đang đối phó với tính bất định
2 Tác động dài hạn trong quá trình thích ứng dài hạn
Các biện pháp CCA có tác động dài hạn lớn hơn những thách thức xung quanh những biến động về dân số hoặc kinh tế xã hội CSHT dự kiến có tuổi thọ cao và từng bước được xây dựng, do đó, quá trình thiết kế phải xem xét về tính dài hạn và
dự báo các kịch bản trong tương lai
Một ví dụ về phân tích dài hạn là các cửa sông Thames (Anh) (mô tả ở phần đầu chương 5) Trong trường hợp đó, chính phủ Anh đã xem xét sự không chắc chắn của các kịch bản biến đổi khí hậu trong việc xác định một số giải pháp cơ sở hạ tầng
có thể được thực hiện trong các giai đoạn khác nhau trong năm
Mặt khác, việc thiếu các dự báo về những biến đổi dài hạn có thể làm phát sinh thêm chi phí (ví dụ: nâng cấp CSHT mà không cân nhắc tác động của các sự kiện thời tiết cực đoan và có tần suất cao hơn) Cơ sở hạ tầng có thể trở nên lỗi thời trước khi đạt tuổi thọ dự kiến nếu nó không được thiết kế có tính đến các kịch bản biến đổi khí hậu được xem xét trong tương lai
7 Ủy ban châu Âu khuyến khích các Quốc gia thành viên đưa các biện pháp đối phó và thích ứng với biến đổi khí hậu trong thiết kế và thực hiện các chương trình phát triển nông thôn Tuy nhiên, các chương trình quốc gia dường như tập trung vào vấn đề phát thải khí và các biện pháp giảm nhẹ hơn
là giải pháp thích ứng, và đây được hiểu là mối quan ngại dài hạn hơn (EU, 2010)
Trang 303 Chính phủ, thậm chí tại các quốc gia phát triển, chậm lồng nghép CCA vào trong các chính sách của Chính phủ
Bảng dưới đây chỉ ra rằng mức độ lồng ghép CCA vào trong các chính sách và kế hoạch còn hạn chế Năm 2006, một số quốc gia đã xác định các giải pháp thích ứng, tuy nhiên việc thực hiện lồng ghép CCA vào trong các chiến lước, kế hoạch và chương trình vẫn còn rất hạn chế
Nguồn: Phạm vi tác động và thích ứng trong Truyền thông quốc gia tại các quốc gia OECD (2006)
Phần Lan đã thông qua chiến lược thích ứng năm 2005, đưa nước này trở thành một trong các quốc gia đầu tiên trên thế giới làm việc này
Trang 31Việt Nam có thể được xem là một trong các quốc gia quan tâm đặc biệt đến mối đe họa của Biến đổi khí hậu, và đang bàn bạc về CCA tại cấp cao nhất
Trong những năm gần đây, các quốc gia đang phát triển khác đã bắt đầu thí điểm một số hoạt động CCA, một số quốc gia trong khu vực như Campuchia, CHDCND Lào hay Nepal Tuy nhiên, cơ sở nghiên cứu về CCA trong lĩnh vực CSHT, đặc biệt
là CSHT nông thôn vẫn còn hạn chế
4 Quan điểm xuyên suốt với sự phối hợp hợp lý giữa các bên thực hiện
CCA đòi hỏi phương pháp tiếp cận xuyên suốt mà tác động đến nhiều lĩnh vực
chính sách và các bên tham gia Từ các chiến lược quốc gia đến chiến lược và kế hoạch cụ thể theo lĩnh vực (ví dụ: phòng tránh lũ tại Hà Lan hoặc phòng chống thiên tai tại Bangladesh), quá trình CCA đòi hỏi phương pháp tiếp cận tổng thể và đa ngành
Một số quốc gia (như Bangladesh) đã thành công lồng ghép thích ứng với Biến đổi khí hậu vào kế hoạch lớn hơn liên quan đến giảm thiểu rủi ro thiên tai, lồng ghép tốt hơn trong các chính sách của quốc gia
Ví dụ, chiến lược CCA của Đức bao gồm 13 lĩnh vực trọng tâm trong đó việc quản lý khẩn cấp, quy hoạch không gian và khu vực được xác định là các vấn đề xuyên suốt (Meister, 2009)
Nước Anh cũng theo phương pháp tiếp cận phối hợp, bao gồm hầu hết các lĩnh vực chính sách và tất cả các bên thực hiện (Meister, 2009) CCA của Anh tập trung lồng ghép chính sách thích ứng vào quy trình chính trị chung (ví dụ: các con số thích ứng trong quy trình đầu tư của Chính phủ và đánh giá các thành phố) Chính phủ Anh cũng thiết lập trung tâm điều phối và thông tin là nơi quy tụ các nhà hoạch định chính sách và giới học thuật Trung tâm này cung cấp cho các thành phố các công cụ phân tích và đánh giá để giúp họ ước tính rủi ro của Biến đổi khí hậu và lập các biện pháp thích ứng phù hợp
Các chiến lược CCA thành công có sự tham gia của nhiều bên thực hiện Trong
số nhóm thực hiện này, IPCC nhấn mạnh vào:
o Chính phủ quốc gia có thể điều phối những nỗ lực thích ứng của chính quyền địa phương và dưới cấp trung ương, ví dụ, thông qua bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương, cung cấp thông tin, chính sách và khung pháp lý
và hỗ trợ tài chính cho các khoản đầu tư vào CSHT
o Chính quyền địa phương ngày càng được ghi nhận tầm quan trọng để thúc đẩy quá trình thích ứng, với vai trò trong nhân rộng mô hình thích ứng của cộng đồng, hộ dân và tổ chức xã hội và trong quản lý thông tin về rủi
ro và hỗ trợ tài chính
o Các tổ chức làm cầu nối giữa khoa học và ra quyết định, bao gồm dịch vụ khí hậu, đóng vai trò quan trọng trong truyền thông, chuyển giao và phát triển kiến thức liên quan đến khí hậu, gồm có dịch thuật, tham gia và trao đổi kiến thức
Trang 32o Việc tham gia của các cộng đồng địa phương và khu vực tư nhân là yếu tố then chốt trong triển khai các hành động thích ứng hiệu quả nhất
5 Triển khai tại địa phương để đối phó với vấn đề toàn cầu
Trong khi những nỗ lực bảo vệ khí hậu tại cấp địa phương có những tác động mang tính toàn cầu thì ngược lại cũng đúng khi xem xét những hậu quả đối với các cộng đồng địa phương bị tác động bởi quá trình mang tính toàn cầu Những tác động này
có sự khác biệt lớn theo từng quốc gia và khu vực
Việt Nam có thể khai thác khía cạnh này làm đòn bẩy và lợi thế để thu hút vốn ODA cho thích ứng với Biến đổi khí hậu Costa Rica đã đầu tư mạnh vào ―nông nghiệp xanh‖ và các biện pháp giảm nhẹ khác dự kiến sẽ được thanh toán từ vốn ODA và các cơ chế khác Một số sáng kiến thích ứng, đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển đang được tài trợ thông qua vốn ODA và các cơ chế Biến đổi khí hậu khác Thích ứng với Biến đổi khí hậu không chỉ là một vấn đề cấp quốc gia Trong các nước như Mỹ, Tây Ban Nha hoặc Australia, các chính quyền khu vực đang lập các
kế hoạch địa phương cho riêng mình Thậm chí những đô thị lớn như Luân Đôn, Chi
ca go hay New York cũng có chiến lược thích ứng với Biến đổi khí hậu của riêng họ trong đó các đô thị này kết hợp nâng cao nhận thức, thích ứng và các biện pháp giảm nhẹ
6 Triển khai tại địa phương phải có bối cảnh cụ thể
Theo báo cáo thứ 5 của IPCC: Thích ứng phải được thực hiện trong bối cảnh và địa điểm cụ thể và không có một phương pháp tiếp cận đơn lẻ để giảm thiểu rủi ro cho tất cả các bối cảnh
Các chiến lược thích ứng và giảm thiểu rủi ro hiệu quả nghiên cứu tính động của tình trạng dễ bị tổn thương và mức độ nguy hại và mối quan hệ với các quá trình kinh tế
xã hội, phát triển bền vững và Biến đổi khí hậu
Trong quá trình tìm kiếm, Tư vấn quốc tế đã xác nhận nội dung này Nhiều biện pháp thích ứng được thực hiện tại các quốc gia thứ ba có mức độ ứng dụng hạn chế cho các tỉnh phía Bắc Việt Nam
Các quốc gia phát triển có CSHT tốt có xu hướng tập trung ít hơn vào nâng cấp CSHT (phần cứng) và tập trung nhiều hơn vào các giải pháp ―phần mềm‖ (ví dụ: tìm
ra khả năng kết nối các CSHT nông thôn thay vì nâng cao khả năng chống chịu của một con đường)
7 Khởi đầu với các biện pháp không hối tiếc, ít hối tiếcvà các bên cùng có lợi
Một số các biện pháp thích ứng có thể khá đắt đỏ và/hoặc có thể bị chỉ trích bởi các bên thực hiện bị tác động tiêu cực bởi những biện pháp này (ví dụ: thay đổi chính
Trang 33sách sử dụng đất) Tập trung vào các biện pháp không hối tiếc, ít hối tiếcvà các bên cùng có lợi cung cấp cho các nhà ra quyết định một phương pháp tiếp cận thú vị hơn
để triển khai các hoạt động mang tính quyết định
Không hối tiếc là những hành động sẽ thành công ngay lập tức trong các điều kiện khí hậu hiện tại Ví dụ: xây dựng một đường mới hoặc nâng cấp CSHT
Về tổng quát, các quốc gia phát triển có CSHT có khả năng chống chịu cao hơn so với các quốc gia đang phát triển CSHT đã được thiết kế với mức độ an toàn cao có thể đối phó tốt hơn với tác động của Biến đổi khí hậu và/hoặc các mối nguy hại không lường trước được/chưa được biết đến
Sau khi xem xét tính bất định cao, một số quốc gia đã quyết định giảm thiểu rủi ro đến mức độ mà có thể không được giải trình hợp lý từ những kiến thức khoa học hiện có về Biến đổi khí hậu Hàn Quốc đã thay đổi tiêu chuẩn xây dựng đập sau khi xảy ra cơn bão gây thiệt hại nghiêm trọng và ảnh hưởng đến tính ổn định của đập Trong trường hợp này, quyết định tăng mức độ an toàn là một quyết định chính trị bị một số nhà khoa học chỉ trích do coi đó là quá thừa khi xem xét tác động kinh tế của biện pháp này (Kim, 2010)
Các quốc gia khác như Thụy Sĩ cũng đang thay đổi trọng tâm từ quản lý thiên tai sang các biện pháp phòng tránh Tại Anh, Chính phủ không chỉ phân tích tác động của riêng CSHT mà còn cả hư hỏng có thể dẫn đến những thiệt hại lớn (ví dụ, đập phá hủy đường ở hạ lưu)
Và trong các trường hợp khác, như tại Copenhagen, qua việc phân tích rủi ro và chi phí-lợi ích cho thấy tốt hơn là nên tăng kích thước cống thoát nước trong điều kiện hiện tại hơn là thay thế toàn bộ mạng lưới thoát nước của thành phố8
8 Nhìn vào mặt tích cực
Biến đổi khí hậu là mối đe dọa cho đa số các quốc gia, tuy nhiên, trên quan điểm rộng hơn thì cũng có thể xác định được những cơ hội Ví dụ, Phần Lan dự kiến sẽ gặp cả rủi ro và cơ hội do hậu quả của Biến đổi khí hậu So với các quốc gia khác,
và do khả năng chống chịu cao của CSHT, nên nhu cầu hành động tại Phần Lan chỉ giới hạn đối với một số lượng nhỏ các khu vực do những hậu quả trong ngắn hạn của Biến đổi khí hậu không gây ra mối đe dọa lớn cho đất nước ở Bắc Âu này
8 Tiêu chuẩn xây dựng của thành phố Copenhagen sử dụng số liệu của dòng chảy trên bề mặt lớn hơn 70% so với mức hiện tại (Arosio, 2012)
Trang 349 Khí hậu biến đổi, và lĩnh vực nông thôn cũng sẽ thay đổi theo
Quá trình lập các giải pháp thích ứng phải nghiên cứu các kịch bản kinh tế xã hội trong tương lai cũng như các kịch bản Biến đổi khí hậu trong tương lai Những người thực hiện cần tìm hiểu mối liên hệ giữa khí hậu trong tương lai và xã hội trong tương lai, thay vì thực trạng ngày nay Việc nghiên cứu các kịch bản kinh tế xã hội thực tế
là cần thiết để đưa ra khung ra quyết định thích ứng cho người thực hiện
10 Thích ứng không chỉ là “chiến đấu” mà còn là “đối phó”
Một trong những ví dụ điển hình của phương pháp tiếp cận này là nước Hà Lan Gần nửa đất nước thấp hơn mực nước biển và nằm trên vùng đất cải tạo lại Trong hàng thế kỷ trước, cách thức Quản lý nguồn nước tích hợp chú trọng vào phòng chống lũ, đập dâng trong mỗi lần cơn lũ ―lịch sử‖ chứng mình rằng CSHT hiện trạng không phù hợp Phương pháp tiếp cận phòng tránh lũ phát triển từ những năm 90 từ cuộc chiến đấu với thủy triều dâng để sống chung và thích ứng với nó
Thích ứng với Biến đổi khí hậu được xem là vấn đề an ninh quốc gia Mực nước biển dâng sẽ tăng khả năng ngập lụt Vấn đề này đã nằm trong chương trình chính trị trong nhiều năm, đặc biệt là trong bối cảnh quản lý nước, bảo vệ bờ biển, và quy hoạch sử dụng đất Năm 2007, Hà Lan đã thực hiện chương trình quốc gia về thích ứng Ngoài ra, ―Ủy ban đồng bằng‖ cũng được thành lập năm 2007 để lập chiến lược phòng tránh lũ, trong đó xác định những khu vực sẽ được quản lý lũ lụt
11 Dữ liệu tin cậy góp phần xây dựng các giải pháp thích ứng tốt hơn
Nam Phi cũng chuẩn bị tốt hơn để đối phó với hậu quả của Biến đổi khí hậu so với nhiều quốc gia châu Phi khác do sẵn có các dữ liệu và dự báo về khí hậu tin cậy hơn
so với các quốc gia châu Phi khác Từ năm 2004, Nam Phi đã có chiến lược khí hậu quốc gia giải quyết nhu cầu về thích ứng
Những quốc gia có hệ thống cảnh báo lũ sớm phù hợp có thể phản ứng nhanh chóng và thông báo cho dân chúng trước, do vậy giảm thiểu thiệt hại tiềm ẩn do lũ
và gió bão (Meister, 2009)
12 Không có viên đạn bạc hoặc đường tắt Thậm chí những giải pháp đơn giản cũng có thể khó mà thực hiện
Trong khi có thể có nhiều các biện pháp thích ứng đơn giản mà về lý thuyết có thể được áp dụng để giải quyết một rủi ro hoặc cơ hội nhất định Tuy nhiên, những biện pháp này chỉ khả thi trong những hoàn cảnh nhất định
Ví dụ, thay đổi mô hình mùa vụ hoặc đưa các giống mùa vụ mới chỉ có thể là một giải pháp cho người nông dân đã có hiểu biết về các biện pháp thực hành mùa vụ thay thế, và có thị trường cho các sản phẩm mới Điều này có thể là trường hợp của
hệ thống thủy lợi mà đã được thiết kế để tưới cho cánh đồng lúa Thay đổi mùa vụ
Trang 35có thể là dễ dàng, tuy nhiên, cũng cần những thay đổi lớn trong CSHT và việc vận hành CSHT để thích ứng với công tác Quản lý mùa vụ mới
13 Sự cần thiết phải khởi đầu ngay bây giờ
Stern Review (2006) đã chỉ ra nhu cầu cần hành động ngay để khiến cho công tác tránh rủi ro trong tương lai có chi phí hợp lý hơn và để giảm thiểu thiệt hại do các tác động của khí hậu đối với xã hội Ví dụ, nếu bây giờ hoặc trong tương lai gần ra quyết định về CSHT nông nghiệp (như là đường giao thông hoặc các công trình nhà
có tuổi thọ dự kiến là 50 năm hoặc hơn), nhưng không cân nhắc đến tác động bất lợi của Biến đổi khí hậu, thì có thể phải trả giá cao trong dài hạn Thời gian ảnh hưởng
sẽ được nghiên cứu trong quá trình đánh giá các biện pháp thích ứng
14 Tìm hiểu tình trạng dễ bị tổn thương hiện trạng trước khí hậu và xác định ngưỡng tới hạn
Nhu cầu cần thích ứng lớn nhất đối với các khu vực dễ bị tổn thương trước rủi ro của khí hậu Tìm hiểu về tình trạng dễ bị tổn thương của một khu vực nhất định và xác định ngưỡng tới hạn – như là năng lực chuyển tải nước tối đa của một hệ thống thoát nước mưa - có thể giúp xác định khi nào và hành động thích ứng nào cần tiến hành
15 Xây dựng các chính sách và giải pháp thích ứng, linh hoạt và có khả năng chống chịu
Shaw (2007) khuyến nghị xây dựng các chính sách và giải pháp thích ứng, linh hoạt
và có khả năng chống chịu để các khu vực có thể thích ứng với khí hậu liên tục thay đổi
Bằng cách sử dụng phương pháp tiếp cận dựa trên rủi ro và theo trình tự trong việc đưa ra quyết định (ví dụ, khi phân bổ đất trong các kế hoạch phát triển hoặc quyết định các ứng dụng phát triển), những nhà ra quyết định cần chứng minh rằng không
có giải pháp nào hợp lý trong nhóm rủi ro thấp, phù hợp với các mục tiêu phát triển bền vững khác
Cũng cần phải tránh các hành động khiến việc đối phó với rủi ro khí hậu trong tương lai trở nên khó khăn hơn Đây được gọi là các quyết định hạn chế thích ứng Một ví
dụ là việc phát triển không phù hợp tại khu vực rủi ro về lũ
Ngoài ra, cũng cần xem xét thường xuyên các chiến lược thích ứng Các chiến lược thích ứng phải được nghiên cứu thường xuyên, cập nhật những kiến thức mới nhất
về Biến đổi khí hậu và học hỏi kinh nghiệm Điều này giờ đặc biệt quan trọng khi các nghiên cứu Biến đổi khí hậu dự kiến trong tương lai gần sẽ đưa ra các ước tính chính xác hơn
16 Sử dụng các công cụ kinh tế hiện có và mới xuất hiện
Trang 36Các công cụ kinh tế hiện có và mới xuất hiện có thể đưa ra các động lực để dự báo
và giảm thiểu tác động Những công cụ này bao gồm cơ chế đối tác tài chính công
tư, khoản vay, thanh toán cho dịch vụ môi trường, nâng giá nguồn lực, chi phí và trợ giá, quy tắc và quy định, và cơ chế chuyển đổi và chia sẻ rủi ro
Các cơ chế tài chính rủi ro trong lĩnh vực công và tư, như nhóm rủi ro và bảo hiểm,
có thể góp phần tăng khả năng chống chịu mà không chú ý đến các thách thức thiết
kế quan trọng, các cơ chế này cũng có thể không khuyến khích, gây đổ vỡ thị trường
và giảm tính công bằng Chính phủ thường đóng vai trò là cơ quan điều chỉnh, cung cấp hoặc bảo hiểm trong phương sách cuối cùng
17 Tất cả các quốc gia có chung hạn chế trong quá trình triển khai
Cả quốc gia phát triển và đang phát triển đều có chung hạn chế trong triển khai Một
số hạn chế đó là: hạn chế về nguồn lực tài chính và con người; hạn chế về lồng ghép hoặc phối hợp quản lý; tính bất định về tác động dự báo; cách hiểu khác nhau
về rủi ro; cạnh tranh về giá trị; thiếu nhà đứng đầu và ủng hộ thích ứng; và thiếu công cụ để giám sát hiệu quả của thích ứng Một hạn chế khác bao gồm thiếu nghiên cứu, giám sát và quan trắc và tài chính để duy trì Không ước tính đầy đủ tính phức tạp của thích ứng như một quá trình xã hội có thể tạo ra cs kỳ vọng thiếu thực
tế trong việc đạt được các kết quả thích ứng như dự kiến
18 Thích ứng sai có thể tăng tình trạng dễ bị tổn thương
Thích ứng sai có thể tăng tình trạng dễ bị tổn thương hoặc mức độ nguy hại cho nhóm mục tiêu trong tương lai, hoặc tình trạng dễ bị tổn thương của những người khác, địa điểm và lĩnh vực khác Một số ứng phó trước mắt trước rủi ro tăng lên liên quan đến Biến đổi khí hậu cũng có thể hạn chế các lựa chọn trong tương lai Ví dụ, tăng cường bảo vệ các công trình bị nguy hại có thể phụ thuộc vào các biện pháp bảo vệ bổ sung Một ví dụ khác là các biện pháp can thiệp CCA tại thượng nguồn và
có thể tác động tiêu cực đến hạ lưu, làm tăng mức độ nghiêm trọng của lũ
Trang 375 Cách thức các quốc gia khác đối phó với tính bất định
Các giải pháp kỹ thuật và công nghệ nằm trong số các ứng phó thích ứng với Biến đổi khí hậu
Các ứng phó thích ứng này thường được lồng ghép trong các chương trình hiện có như quản lý rủi ro thiên tai và quản lý nước Giá trị của các biện pháp dựa vào xã hội, thể chế và hệ sinh thái và trong một mức độ nhất định các hạn chế thích ứng đang ngày càng được thừa nhận Các giải pháp thích ứng được thực hiện cho đến thời điểm này tiếp tục chú trọng vào điều chỉnh căn bản và đồng lợi ích và đang bắt đầu chú trọng vào tính linh hoạt và học hỏi
OECD (2005) và tổ chức khác nhấn mạnh rằng mức độ ổn định liên quan đến Biến đổi khí hậu và các dự báo tác động thường là vấn đề then chốt để quyết định phạm
vị mà những thông tin này có thể được sử dụng để xây dựng các ứng phó thích ứng phù hợp Các dự báo về Biến đổi khí hậu quy mô lớn chủ yếu có tính bất định thấp hơn những dự báo chi tiết cho một địa điểm cụ thể
Trái lại, đa số các quyết định liên quan đến thích ứng được thực hiện tại cấp địa phương đến cấp khu vực
Australia, Bỉ, Đức, Iceland, và New Zealand cụ thể hơn trong việc ghi nhận
tính bất định của dự báo về lượng mưa và khó khăn trong sử dụng thông tin
này trong lập kế hoạch thích ứng trong các lĩnh vực như nông nghiệp, lâm nghiệp và quản lý nguồn nước
Một số các quốc gia khác đưa ra mức độ cụ thể chi tiết hơn về bản chất của tính bất định Truyền thông quốc gia (NC) Ví dụ, NC của Phần Lan và Mỹ trình bày các kết quả từ các kịch bản khác nhau, bao gồm phạm vi bất định thay
vì đơn giản là chỉ ra các giá trị đơn lẻ
Ví dụ, Phần Lan mô tả kết quả từ kịch bản “dự đoán chính xác nhất” ở mức độ trung bình cùng với các dự đoán thấp và cao hơn
Trong khi đó, NC của một số các quốc gia khác xây dựng cho các giải pháp
thích ứng “không hối tiếc” mà có thể được triển khai trong ngắn hạn, bất kể
tính bất định bao trùm về khí hậu tương lai Ví dụ, New Zealand, xác định các biện pháp giảm thiểu mức độ tăng tần suất hạn hán và tính nghiêm trọng trong các khu vực phía Đông của đất nước Trong khi đó, Anh xác định các biện pháp không hối tiếc và hối tiếc thấp trong năm khu vực ưu tiên
Tính bất định tại cấp địa phương và khu vực liên quan đến các dự báo khí hậu
và ảnh hưởng của các nhân tố quan trọng nhất tại địa phương như trợ giá
đất, cũng dẫn đến một số NC, ví dụ Australia và New Zealand, để nhấn mạnh
việc phân cấp thiết kế thực hiện các giải pháp thích ứng cụ thể cho chính
quyền khu vực và địa phương Tương tự như vậy, NC3 của Anh cho thấy các hướng dẫn đang được lập để sử dụng bởi các nhà ra quyết định trong việc đối phó với rủi ro Biến đổi khí hậu và tính bất định trong quá trình ra quyết định
Trang 38Chính phủ Anh yêu cầu PWC nghiên cứu về CCA của CSHT tại Anh Báo cáo này
đề xuất phương pháp tiếp cận thú vị để đối phó với tính bất định của Biến đổi khí hậu Báo cáo cũng đề xuất thiết lập các khung thời gian cho CSHT, có thể thay đổi tùy thuộc vào tuổi thọ của các công trình
Hình dưới đây cho thấy cách thức các quyết định kỹ thuật về các giải pháp CCA cho cửa sông Thames khác nhau tùy thuộc vào các kịch bản được sử dụng Nếu mực nước tăng chỉ 1m (kịch bản xác suất) thì cần nâng cao phòng hộ Nhưng giải pháp này có thể không phù hợp cho kịch bản xấu nhất (cao hơn 2.7 m)
Xây dựng một hàng rào mới cho kịch bản xấu nhất có thể quá đắt đỏ và không hiệu quả về chi phí nếu mực nước tăng dưới 2.5m Trong trường hợp này, quyết định tối
ưu xem xét khả năng nâng cấp CSHT trong hai bước: trong bước thứ nhất, xoay rào chắn sông Thames và trong bước thứ hai (nếu mực nước tối đa tăng trên 2m) nâng cấp rào chắn và phòng hộ
Trang 39tới (mở rộng, trải áo đường…), điều này có thể làm chậm một số đầu tư vào CCA trong tương lai
Mặt khác, một số CSHT chính như cầu, có thể vẫn không thay đổi thậm chí nếu tiến hành nâng cấp lớn Đây là những công trình ưu tiên, yêu cầu cân nhắc BĐKH ngay
từ bây giờ
Ý tưởng là nhằm tìm ra các giải pháp kỹ thuật như trường hợp của Cửa sông Thames, mà hạn chế đầu tư tại thời điểm hiện tại, nhưng cho phép thích ứng trong tương lai trong giai đoạn thứ hai Hình dưới đây trình bày nghiên cứu giả thuyết của các biện pháp thay thế:
Hình 5 Giả thuyết nghiên cứu các lựa chọn thay thế cho cửa sông Thames; Nguồn: Tác giả
Trường hợp giả định này cân nhắc những thay đổi của các kịch bản BĐKH khác nhau và cũng đề xuất các giải pháp thay thế để nâng cấp CSHT trong các bước khác nhau (3 bước trong giải pháp đầu tiên), chỉ 1 bước trong giải pháp thứ 2 v à 2 bước trong giải pháp thứ 3
Quyết định đâu là giải pháp tốt nhất sẽ phải xem xét nhiều tiêu chí khác nhau (ví dụ: tuổi thọ, rủi ro giả định…) Giải pháp thứ 3 có thể tiết kiệm được chi phí nếu đến năm 2100 mực nước tối đa không vượt quá 0.5m (kịch bản tốt nhất) Tuy nhiên, các quyết định không phải lúc nào cũng dễ dàng
Căn cứ cơ sở nghiên cứu trên thế giới về cách thức các quốc gia khác đang đối phó với tính bất định Có thể đưa ra một số đề xuất như sau:
Một số quốc gia đặc biệt chú trọng hoặc ưu tiên các dự án CSHT có thích ứng với BĐKH trong các lĩnh vực (ví dụ: thủy lợi/quản lý lũ)
Lồng ghép đánh giá dự án trên cơ sở các kịch bản BĐKT cụ thể và rủi ro liên quan đến CSHT như là một phần của quá trình thẩm tra
Kè và Nâng cao độ rãnh 1m (100$)
Kè và Nâng cao độ rãnh 0.5m (70$)
Nâng cao độ rãnh 0.5m (50$)
Trang 40 Bao gồm các tiêu chí lựa chọn và chọn lọc khi xem xét tài chính của dự án CSHT trong mức độ cân nhắc thích ứng
FWC (2010) đề xuất áp dụng các tỷ lệ khác nhau (đối với khoản vay) cho CSHT có thích ứng và lập quy hoạch tốt để cho phép khả năng chống chịu tốt hơn và ít bị rủi ro hơn
Các kịch bản Biến đổi khí hậu liên tục được giám sát và khả năng chống chịu của CSHT được điều chỉnh nhằm xác nhận mức độ tổn thương của CSHT
Xác định và thực hiện các giải pháp ‗không hối tiếc‘ sẽ được xem xét trong tất
cả các kịch bản khí hậu trong tương lai; và/hoặc các giải pháp ‗cùng có lợi‘ mà giảm thiểu tình trạng dễ bị tổn thương trước Biến đổi khí hậu trong khi đáp ứng các mục tiêu chính sách khác, bao gồm cả giảm nhẹ tác động Biến đổi khí hậu
FWC cũng đề xuất sử dụng phương pháp ra quyết định hoặc Phân tích các giải pháp thực tế (ROA), có lồng ghép tính linh hoạt như một phần của quy trình ra quyết đinh (ví dụ: như là chi phí cơ hội) ROA có thể được sử dụng để xem xét giá trị của việc chậm quyết định khi: đầu tư không thể đảo ngược được hoặc có chi phí lớn; có sự bất định về lợi nhuận của đầu tư; đầu tư có thể bị chậm trễ; và có thông tin về lợi nhuận trong thời gian chờ
6 Cải tiến nào đến từ thích ứng với Biến đổi khí hậu: đối phó với đe dọa mới bằng công cụ hiện có
Biến đổi khí hậu cho thấy một mối đe dọa mới nhưng điều này không nhất thiết có nghĩa là cần một bộ công cụ/công nghệ mới Đa số các công nghệ hiện có phù hợp trong các điều kiện thời tiết hiện trạng vẫn có thể áp dụng được trong kịch bản BĐKH khác Danh sách các giải pháp thay thế đã có, cái thay đổi, đó là quy trình lựa chọn các giải pháp thay thế có cân nhắc những biến đổi trong tương lai
Ví dụ, một con đập đất sẽ vẫn là giải pháp hợp lý nhưng tiêu chuẩn xây dựng sẽ
cần phải điều chỉnh để đảm bảo rằng CSHT được thiết kế hợp lý, có cân nhắc
dòng nước mặt tăng/giảm và đập tràn có thể xả nhiều nước hơn
Một số giải pháp kỹ thuật linh hoạt hơn các giải pháp khác để đối phó với những thay đổi do Biến đổi khí hậu gây ra, và vì vậy một số công nghệ có thể vẫn được ủng hộ
Ví dụ, các kỹ thuật sinh học có thể là một giải pháp chi phí thấp phù hợp trong CSHT nông thôn
Tiến bộ công nghệ cho phép các giải pháp mới có thể được bổ sung vào danh
mục các biện pháp thay thế Ví dụ, sử dụng vải địa kỹ thuật vẫn chỉ mới bắt đầu tại
Việt Nam; nhưng đưa có các công nghệ mới cho các kỹ sư thiết kế CSHT nông thôn Chương 8 trình bày tổng quan vắn tắt về các công nghệ được thu thập từ kinh nghiệm quốc tế Độc giả có thể nhận ra rằng một số công nghệ hoàn toàn chưa