SỞ Y TẾ QUẢNG NINHTRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN VÂN ĐỒN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ TUÂN THỦ VỆ SINH BÀN TAY CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ TẠI CÁC KHOA LÂM SÀNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA
Trang 1SỞ Y TẾ QUẢNG NINH
TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN VÂN ĐỒN
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ TUÂN THỦ VỆ SINH BÀN TAY CỦA
NHÂN VIÊN Y TẾ TẠI CÁC KHOA LÂM SÀNG
BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÂN ĐỒN NĂM 2016
Người thực hiện: CNMT Tô Thị Hải – Trưởng khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn
Người tham gia: CNĐD Bùi Thị Hường – Trưởng phòng Điều dưỡng
Vân Đồn, Tháng 11 năm 2016
Trang 2DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
4 VSTTQ Vệ sinh tay thường quy
5 WHO Tổ chức y tế thế giới (World Health Organization)
8 CDC Trung tâm phòng ngừa kiểm soát bệnh Hoa Kỳ
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
Bình thường trên da tay người cán bộ y tế thường có hai loại vi khuẩn: vi khuẩnthường trú và vi khuẩn vãng lai Các vi khuẩn thường trú có thể vào cơ thể qua các thủthuật xâm lấn Các vi khuẩn vãng lai thường là các tác nhân gây nhiễm khuẩn bệnh việnphổ biến và thường tồn tại trên da không quá 28 giờ chúng dễ dàng bị loại bỏ bằng vệsinh bàn tay với nước và xà phòng hay dung dịch rửa tay nhanh
Tổ chức y tế thế giới khẳng định “Rửa tay là biện pháp đơn giản và hiệu quả nhấttrong phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện” Nhiều nghiên cứu về vệ sinh bàn tay trên thếgiới đã chứng minh rằng các biện pháp VSBT đã giảm 50% nguy cơ nhiễm khuẩn bệnhviện (NKBV) cũng như nguy cơ phơi nhiễm bệnh nghề nghiệp cho nhân viên y tế, vớihiệu quả dự phòng NKBV các biện pháp VSBT đã tích cực góp phần giảm chi phí trongđiều trị, giảm thời gian điều trị nội trú, giảm tỷ lệ tử vong… Theo WHO: Rửa tay đượccoi là liều vắcxin tự chế, rất đơn giản, dễ thực hiện, hiệu quả và chi phí cũng như có thểcứu sống hàng triệu người
Nhiều nghiên cứu cũng khẳng định VSBT là biện pháp quan trọng nhất để dựphòng sự lây truyền tác nhân gây bệnh trong các cơ sở y tế Một nghiên cứu tại Thụy Sỹcho thấy: Khi tỷ lệ tuân thủ rửa tay của nhân viên y tế tăng từ 48% lên 66% thì tỷ lệnhiễm khuẩn bệnh viện giảm từ 16,9% xuống còn 9,9% Tại Việt Nam Bộ Y tế đã banhành thông tư số 18/2009/TT-BYT ngày 14 tháng 10 năm 2009 hướng dẫn tổ chức thựchiện công tác kiểm soát nhiễm khuẩn tại các cơ sở khám chữa bệnh, trong đó đã quyđịnh thầy thuốc, nhân viên y tế, sinh viên – học sinh và người bệnh, người nhà ngườibệnh khi đến bệnh viện phải rửa tay theo quy định và hướng dẫn của cơ sở khám chữabệnh Một số kết quả nghiên cứu về VSBT tại bệnh viện Bạch Mai của Nguyễn ViệtHùng năm 2008, Bệnh viện Thanh Nhàn năm 2009; bệnh viện Nhi đồng 1 cho thấy tỷ lệtuân thủ VSBT của NVYT còn rất thấp do thiếu ý thức và thiếu phương tiện …
Với những kết quả nghiên cứu của các Bệnh viện lớn như trên cho thấy tỷ lệ tuânthủ các thời điểm cần rửa tay của nhân viên y tế còn thấp
Bệnh viện Đa khoa Vân Đồn là một bệnh viện hạng 3 Với quy mô 120 giườngbệnh bao gồm 16 khoa phòng và 130 nhân viên Bệnh viện tiếp đón hơn 100 lượt ngườibệnh đến khám và điều trị mỗi ngày, lại là cơ sở thực hiện nhiều hoạt động chuyên khoanên vấn đề phòng ngừa nhiễm khuẩn đang trở nên cấp thiết Chính vì vậy việc rửa tay củaNVYT tại các khoa lâm sàng có vai trò hết sức quan trọng Năm 2015 bệnh viện cónghiên cứu đánh giá thực trạng về kiến thức, thái độ và các yếu tố liên quan đến tỷ lệtuân thủ rửa tay của nhân viên y tế tuy nhiên đánh giá mang tính chất khảo sát thực tếchưa thực hiện can thiệp các yếu tố liên quan để đánh giá lại Vì vậy, chúng tôi tiến hành
đề tài nghiên cứu “Đánh giá kết quả tuân thủ vệ sinh bàn tay của nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa Vân Đồn năm 2016”
Trang 4MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Đánh giá kết quả về kiến thức vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế tại cáckhoa lâm sàng của Bệnh viện Đa khoa huyện Vân Đồn trước và sau khi can thiệp
2 Đánh giá kết quả về thực hành tuân thủ vệ sinh tay thường quy của nhân viên y
tế tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa huyện Vân Đồn trước và sau khi can thiệp
Trang 5CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1 Cơ sở khoa học của rửa tay:
Trong suốt thế kỷ thứ XIX, ở Châu Âu và Mỹ, 25% bà mẹ sinh con tại bệnh viện
đã tử vong do sốt hậu sản Năm 1843, bác sĩ Oliver Wendell Holmes (người Mỹ) yêu cầumột bác sĩ khoa sản nơi ông làm việc nghỉ việc một tháng sau 2 ca bà mẹ tử vong mà ôngcho rằng liên quan đến vấn đề rửa tay của bác sĩ đó, ý kiến của ông đã bị nhiều bác sĩcùng thời phản đối
Vào cuối những năm 1840, Bác sĩ Ignaz Semmelweis (1818-1865) công tác tạibệnh viện đa khoa Viene (nước Áo) khám phá ra sự khác biệt về tử lệ tử vong của các bà
mẹ sau sinh con giữa hai khoa sản của bệnh viện Năm 1846 ông nghiên cứu và thấy rằngtại hai khoa sản của bệnh viện, cùng thực hành một kỹ thuật rửa tay Khoa thứ nhất làkhoa thực hành của sinh viên y khoa, nơi mà chỉ có bác sĩ và sinh viên y khoa làm việc
có tỷ lệ tử vong do sốt hậu sản là 13,1%, tỷ lệ này cao gấp 5 lần so với khoa thứ hai làkhoa hướng dẫn thực hành cho nữ hộ sinh có tỷ lệ tử vong ở các bà mẹ sau sinh là 2,03%.Ông quan sát và thấy rằng các bác sĩ và sinh viên y khoa thường không rửa tay sau khithăm khám mỗi bệnh nhân, thậm chí là sau khi mổ tử thi Ông cho rằng nguyên nhân sốthậu sản là do bàn tay không rửa của các bác sĩ và sinh viên y khoa chứa tác nhân gâybệnh Ông đã đề xuất sử dụng dung dịch nước vôi trong (chứa chlorine) để rửa tay vàothời điểm chuyển tiếp sau mổ tử thi sang thăm khám bệnh nhân Tỷ lệ tử vong của các bà
mẹ sau đó đã giảm từ 12,24% xuống 2,38% Tuy vậy, tại thời điểm đó nhiều người chorằng khuyến cáo rửa tay giữa những lần tiếp xúc với bệnh nhân của ông là quá nhiều vàkhông bác sĩ nào chấp nhận đôi bàn tay của họ chính là nguyên nhân gây tử vong hậusản Một số người khác cho rằng kết quả nghiên cứu của ông là thiếu bằng chứng khoahọc Năm 1849 ông bị xa thải khỏi bệnh viện Vienne rồi tới làm việc ở khoa sản phụbệnh viện Pests St Rochus ở Hungari (1851-1857) Ngày nay ở Hungari, người ta lập lênbảo tàng Semminweis, bệnh viện Semminweis Tại Áo người ta thành lập bệnh việnSemminweis và ông đã được ghi nhận là người mở đường cho học thuyết về vô trùng vàhọc thuyết về nhiễm khuẩn bệnh viện
Năm 1879, tại một hội thảo khoa học ở Paris, bác sĩ Louis Pasteur đã lên tiếng:
“Nguyên nhân gây tử vong ở những bà mẹ bị nhiễm trùng hậu sản chính là các bác sĩ đã
sử dụng bàn tay khám các bà mẹ bị bệnh rồi khám các bà mẹ khỏe mạnh” Sau đó ông đãđưa ra lý thuyết về “Mầm bệnh” và phương pháp tiệt khuẩn Pasteur được sử dụng tớingày nay Trong những năm đó khuyến cáo rủa tay đã gặp rất nhiều khó khăn bởi thiếuphương tiện rửa tay, thiếu nước, sự gia tăng để kháng kháng sinh của vi khuẩn trong khi
đó NVYT rất thiếu kiến thức về vệ sinh bệnh viện Điều đó đã giải thích cho sự phản ứngcủa các bác sĩ trước khuyến cáo rửa tay giữa những lần tiếp xúc với bệnh nhân khácnhau, họ cho rằng rửa tay như vậy là quá nhiều
Trang 6Trong những năm 1975 và 1985, CDC đã xuất bản hướng dẫn chính thức về thựchành rửa tay trong các bệnh viện NVYT được khuyến cáo rửa tay bằng xà phòng trungtính giữa các lần tiếp xúc với người bệnh và rửa bằng xà phòng khử khuẩn trước và saukhi thực hiện các thủ thuật xâm lấn hoặc khi chăm sóc người bệnh ở các khu vực có nguy
cơ cao mắc NKBV Khử khuẩn bằng cồn được áp dụng ở những nơi không có bồn rửatay
Năm 1988 và 1995, hiệp hội chống nhiễm khuẩn Mỹ (APIC) xuất bản các hướngdẫn về rửa tay và khử khuẩn bàn tay Chỉ định về rửa tay trong các hướng dẫn này tương
tự như trong các hướng dẫn của CDC Lần đầu tiên tại Mỹ, biện pháp khử khuẩn tay bằngcồn được khuyến khích áp dụng tại tất cả các cơ sở y tế
Năm 2002, CDC yêu cầu các bệnh viện trên toàn nước Mỹ khuyến khích NVYTkhử khuẩn tay bằng dung dịch sát khuẩn có chứa cồn trong mọi thao tác chăm sóc, điềutrị người bệnh
Tại Việt Nam, nghành y tế đã quan tâm, chú trọng đến vấn đề rửa tay Năm 2006,
Bộ Y tế bắt đầu thực hiện dự án tăng cường vệ sinh bệnh viện, trong đó rửa tay thườngquy với nước và xà phòng được coi là một trong các biện pháp chiến lược Dự án đã phátđộng “ Tuần lễ rửa tay” tại 21 bệnh viện với khoảng 7000 người tham gia dự án
Năm 2009, tuân thủ rửa tay dược đưa vào nội dung Thông tư 18/2009/BYT-TThướng dẫn tổ chức thực hiện công tác kiểm soát nhiễm khuẩn tại các cơ sở khám, chữabệnh
2 Tầm quan trọng của rửa tay :
2.1 Bàn tay là vật trung gian truyền bệnh:
NVYT hàng ngày dùng bàn tay là công cụ để khám chữa bệnh và chăm sóc ngườibệnh, do đó bàn tay của NVYT thường xuyên tiếp xúc với da, máu, dịch tiết sinh học,dịch tiết của người bệnh Các vi khuẩn gây bệnh từ bệnh nhân truyền qua tay của NVYT,làm cho bàn tay của NVYT là nguồn chứa các vi khuẩn gây bệnh
5 bước bàn tay phát tán mầm bệnh:
- Mầm bệnh định cư trên da người bệnh và bề mặt các đồ vật
- Mầm bệnh bám vào da tay của NVYT
- Mầm bệnh sống trên da tay
- Rửa tay ít dẫn đến da tay nhiễm khuẩn
- Da tay nhiễm khuẩn phát tán mầm bệnh sang người bệnh viện đồ vật
Trong một nghiên cứu được thực hiện trên 77 bàn tay của NVYT tại bệnh viện ChợRẫy – TP Hồ Chí Minh cho kết quả, trung bình có 267,378 vi khuẩn /cm2 trong đó: Bàntay bác sĩ có chứa 275,110 vi khuẩn/ cm2; bàn tay điều dưỡng chứa 126,875 vi khuẩn/
cm2
Các chủng vi khuẩn thường có trên bàn tay NVYT:
Trang 7a) Vi khuẩn định cư: Ít có khả năng gây nhiễm khuẩn trừ khi chúng xâm nhập vào
cơ thể qua các thủ thuật xâm lấn như phẫu thuật, đặt catherter lòng mạch Cần rửa taybằng hóa chất khử khuẩn như cồn hoặc chlorhexidine với thời gian đủ dài nhằm loại bỏcác vi khuẩn này
b) Vi khuẩn vãng lai: Loại vi khuẩn này xuất hiện ở bàn tay NVYT khi bàn tay bịnhiễm bẩn từ bệnh nhân hoặc các đồ vật bẩn trong môi trường bệnh viện trong qua trìnhchăm sóc và điều trị Vi khuẩn vãng lai gồm mọi sinh vật có mặt trong môi trường bệnhviện (vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng) và là thủ phạm chính gây lên NKBV, có thể loại bỏhầu hết các vi khuẩn này bằng biện pháp RTTQ với nước và xà phòng thường hoặc chàxát tay bằng dung dịch rửa tay có chứa cồn
2.2 Hiệu quả của rửa tay và mối liên quan với nhiễm khuẩn bệnh viện:
Rửa tay đúng cách sẽ làm loại bỏ hầu hết lớp vi sinh vật gây ra NKBV cho bệnhnhân
NKBV lây truyền qua một số con đường, trong đó lây truyền thông qua bàn taycủa NVYT là phổ biến nhất
NKBV gây ra những hậu quả vô cùng nghiêm trọng không chỉ với bệnh nhân màcòn với các NVYT Sự tuân thủ rửa tay của NVYT (RTTQ với nước và xà phòng, rửa tayvới dung dịch sát khuẩn tay có chứa cồn) được coi là biện pháp đơn giản và hiệu quả nhất
để phòng ngừa hiệu quả NKBV
Nhiều nghiên cứu cũng khẳng định RTTQ bằng dung dịch có chứa cồn là biệnpháp quan trọng nhất để dự phòng sự lây truyền tác nhân gây bệnh trong các cơ sở y tế.Một nghiên cứu ở Thụy Sỹ từ năm 1994 đến năm 1997 trên 20.000 cơ hội rửa tay củaNVYT tại bệnh viện Geneva đã cho thấy: Khi tỷ lệ tuân thủ rửa tay của NVYT tăng từ48% (1994) lên 66% (1997) thì tỷ lệ NKBV giảm từ 16,9% (1994) xuống còn 6,9%(1997) Tại Việt Nam, can thiệp làm tăng sự tuân thủ rửa tay của NVYT cũng mang lạihiệu quả tích cực trong việc làm giảm tỷ lệ NKBV từ 17,1% trước can thiệp xuống còn4,8% sau can thiệp
Đánh giá được tầm quan trọng của RTTQ trong việc phòng ngừa và giảm bớt tỷ lệNKBV, từ năm 1996 Bộ Y tế đã ban hành Quy trình RTTQ có minh họa bằng hình ảnh Năm 2007, dựa trên hướng dẫn mới nhất của của WHO về phương pháp RTTQ và sátkhuẩn tay bằng dung dịch sát khuẩn có chứa cồn, Bộ Y tế đã mời các chuyên gia y tế vàchuyên gia kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK) sửa đổi quy trình cho phù hợp với điều kiệncủa Việt Nam và ban hành công văn số 7517/BYT- Đtr ngày 12 tháng 10 năm 2007 đềnghị các Sở Y tế, các đơn vị tổ chức cho cán bộ, nhân viên bệnh viện học tập và thựchiện theo hướng dẫn mới và theo Quy trình rửa tay bằng hình ảnh ở những vị trí thuận lợi
để NVYT thực hiện theo quy định Năm 2009, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư18/2009/TT-BYT: Hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác KSNK tại các cơ sở khám chữa
Trang 8bệnh Điều 1 của Thông tư quy định: “Thầy thuốc, nhân viên y tế ,học sinh,sinh viênthực tập tại các cơ sở khám chữa bệnh phải tuân thủ rửa tay dung chỉ định và đúng kỹthuật theo hướng dẫn của Bộ Y tế Người bệnh và người nhà người bệnh, khách đến thămphải rửa tay theo quy định và hướng dẫn của cơ sở khám, chữa bệnh”.
3 Các nghiên cứu về kiến thức, thái độ và tỷ lệ tuân thủ rửa tay của NVYT
3.1 Các nghiên cứu trên thế giới:
Nghiên cứu nổi tiếng của Pitte và cộng sự tại Thụy Sỹ cho thấy 48% điều dưỡngtuân thủ RTTQ và sau 3 năm có chương trình can thiệp thấy tỷ lệ tuân thủ RTTQ tăng lêntới 66% Một nghiên cứu khác nhằm thu thập các thông tin về RTTQ để từ đó đưa ra cácbiện pháp KSNK Trong số các sinh viên điều dưỡng Thổ Nhĩ Kỳ được hỏi theo bộ câuhỏi, có 80,2% sinh viên trả lời có RTTQ sau mỗi lần làm thủ thuật cho bệnh nhân, thờigian trung bình một lần RTTQ từ 1 phút trở lên chiếm 71,9% Kết luận từ nghiên cứu chothấy tất cả các sinh viên đều được học về cách rửa tay nhưng thực sự sinh viên vẫn chưaquan tâm tới rửa tay và chưa thực hành được kiến thức đã học
Tuân thủ rửa tay phòng tránh được NKBV, tuy nhiên tỷ lệ tuân thủ rửa tay củaNVYT còn rất thấp Tại Hoa Kỳ một số nghiên cứu về tỷ lệ này được thực hiện trongkhoảng từ năm 1991 đến năm 2000 cho thấy tỷ lệ tuân thủ chỉ đạt 20,9% đến 40%
Năm 2002, tại Italia, Nonile và cộng sự đã tiến hành đánh giá kiến thức, thái độ vàthực hành rửa tay của NVYT tại các khoa hồi sức tích cực tại 24 bệnh viện vùngCampania và Calabria Kết quả cho thấy 53,2% NVYT có kiến thức đúng, tỷ lệ có thái độtích cực về rửa tay là 96,8%, thái độ tích cực của nhóm NVYT có trình độ học vấn cao vànhóm nữ, lớn tuổi cao hơn có ý nghĩa thống kê so với các nhóm khác Trong nghiên cứunày tỷ lệ TTRT của NVYT tại thời điểm trước khi chăm sóc người bệnh đạt 60% và sauchăm sóc đạt 72,5%
Nghiên cứu của Khaled M và cộng sự thực hiện năm 2008 tại bệnh viện Đại họcAin Shams (Cairo, Ai Cập) cho thấy điều dưỡng có kiến thức rửa tay tốt hơn bác sĩnhưng các bác sĩ lại là những người tuân thủ tốt hơn (37,5%) tuy nhiên tỷ lệ rửa tay đúngcủa họ chỉ là 11,6%
3.2 Nghiên cứu tại Việt Nam:
Khoảng 10 năm trở lại đây việc vệ sinh bàn tay mà ở đây là vấn đề rủa tay củaNVYT được chú trọng hơn tại Việt Nam, do đó đã có nhiều nghiên cứu lên quan tới vấn
đề này
Theo một điều tra về tình hình thực hiện các biện pháp dự phòng cơ bản tại BệnhViện Bạch Mai và một số Bệnh viện khu vực phía Bắc được công bố ngày 17/ 3/ 2007.Tại Bệnh Viện Bạch Mai: Chỉ 26% NVYT thực hiện RTTQ trước khi thăm khám bệnhnhân và 4,2% RTTQ trước khi chuyển từ thao tác bẩn sang thao tác sạch trên cùng mộtbệnh nhân
Trang 9Nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng và cộng sự thực hiện tại một số bệnh viện khuvực phía Bắc vào năm 2005 cho thấy tỷ lệ NVYT nhận thức về rửa tay chưa tốt ở mọi đốitượng, mọi lứa tuổi Trong nghiên cứu này tỷ lệ NVYT có nhận thức tốt về rửa tay chỉ đạt41,2%
Nghiên cứu can thiệp của Nguyễn Việt Hùng, Trương Anh Thư và cộng sự thựchiện năm 2005 cho thấy Trước can thiệp tỷ lệ tuân thủ rửa tay (TTRT) của NVYT chỉđạt 6,3% Sau 4 tháng tổ chức chiến dịch vận động NVYT tăng cường rửa tay, tỷ lệTTRT đã tăng lên 65,7%
Nghiên cứu của Hoàng Thị Xuân Hương trước và sau can thiệp về vệ sinh bệnhviện tại Bệnh viện Đống Đa, Hà Nội năm 2010 được thực hiện trên đối tượng bác sĩ vàđiều dưỡng cho thấy kiến thức sau can thiệp đạt yêu cầu của NVYT về rửa tay tăng lên12,7% (p< 0,001)
Đặng Thị Vân Trang năm 2010 đã khảo sát tỷ lệ TTRT theo 5 thời điểm tại bệnhviện Chợ Rẫy Kết quả cho thấy tỷ lệ TTRT của NVYT trung bình là 25,7%, tỷ lệ TTRTcủa điều dưỡng (67,5%) cao hơn so với bác sĩ (24,6%), kỹ thuật viên (3,1%), nhân viênkhác (4,8%) Tỷ lệ TTRT lần lượt là 17,0% trước khi tiếp xúc bệnh nhân, 31,8% trướcthao tác vô khuẩn, 56,75 sau tiếp xúc dịch, 29,2% sau tiếp xúc bệnh nhân và 12,3% saukhi chạm vào môi trường xung quanh bệnh nhân
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Anh (2012) về kiến thức và tỷ lệ tuân thủRTTQ của điều dưỡng Bệnh viện Xanh Pon Hà Nội cho thấy 70,1% điều dưỡng có kiếnthức tốt về thực hành rửa tay Điều dưỡng khoa Ngoại có kiến thức tốt hơn khoa Nội(63,6% so với 36,4%), tỷ lệ tuân thủ các cơ hội rửa tay là 58%, tỷ lệ tuân thủ buổi sángcao hơn buổi chiều (60,7% so với 50,3%)
Trang 10CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.Đối tượng nghiên cứu:
- Điều dưỡng, nữ hộ sinh, kỹ thuật viên đang làm việc tại các khoa lâm sàng.Các khoa lâm sàng gồm: khoa Khám bệnh, khoa Sản, khoa Ngoại, khoa Nội, KhoaNhi, khoa Phẫu thuật gây mê hồi sức, khoa Đông y – phục hồi chức năng, khoa Truyền nhiễm
2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:
- Thời gian: từ tháng 01/4 /2016 đến 30/9/ 2016
- Địa điểm: tại các khoa lâm sàng – Trung tâm y tế huyện Vân Đồn
3 Phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu mô tả căt ngang, quan sát mô tả trực tiếp việc thực hành rửa tay, điềnvảo mẫu phiếu điều tra chuẩn
4 Cỡ mẫu nghiên cứu:
- Toàn bộ điều dưỡng , nữ hộ sinh và kỹ thuật viên tại các khoa lâm sàng
5 Phương tiện, xử lý và phân tích số liệu:
5.1 Phương tiện:
- Phương tiện: Việc tuân thủ VSTTQ được đánh giá bằng phương pháp quan sát không tham gia và điền vào bảng kiểm theo mẫu của WHO các cơ hội VST của NVYT ( sử dụng bộ bảng kiểm khảo sát các thời điểm cần rửa tay và tuân thủ thực hành quy trình rửa tay)
- Đo lường kiến thức và thái độ về VSTTQ của NVYT được thực hiện bằng
phương pháp phát vấn với bộ câu hỏi có cấu trúc được thiết kế sẵn
- Quan sát kín đáo thực tế về việc thực hiện vệ sinh tay của điều dưỡng, nữ hộ sinh, kỹ thuật viên tại các khoa lâm sàng
5.2 Xử lý và phân tích số liệu:
Sau mỗi ngày điều tra, nghiên cứu viên chính kiểm tra và làm sạch cácphiếu trả lời của NVYT, ghép cặp phiếu phát vấn và bảng kiểm quan sát Mọi thông tinđược nhập liệu và phân tích bằng phần mềm SPSS 12.0.
Xác định tỷ lệ tuân thủ rửa tay:
Tỷ lệ tuân thủ rửa tay (%)= Số cơ hội có rửa tay x 100Số cơ hội cần phải rửa
Tỷ lệ sai sót trong quy trình rửa tay (%) = Số người rửa tay sai quy trình x 100Số người có rửa tay
Mẫu phiếu nghiên cứu ( phụ lục 1, 2, 3, 4, 5 ).
Trang 11CHƯƠNG III NỘI DUNG NGHIÊN CỨU.
1 Đo lường kiến thức về VSTTQ của NVYT được thực hiện bằng phương pháp phát vấn với bộ câu hỏi có cấu trúc được thiết kế sẵn.
1.1 Kiến thức về tác dụng của RTTQ
1.2 Kiến thức về việc sắp xếp quy trình 6 bước RTTQ
1.3 Kiến thức về Thời gian thích hợp cho một lần RTTQ với nước và xà phòng và dung dịch sát khuẩn tay chứa cồn/ cồn
2 Đánh giá tỷ lệ tuân thủ các thời điểm cần rửa tay của nhân viên y tế
2.1 Vệ sinh tay thường quy:
- Vệ sinh tay thường quy là làm sạch bàn tay bằng nước với xà phòng bánh hoặcdung dịch rửa tay và chà sát tay với dung dịch có chứa cồn
2.2 Các chỉ định về vệ sinh tay:
- 5 thời điểm vệ sinh tay khi chăm sóc người bệnh theo khuyến cáo của Tổ chức Y
tế thế giới:
1 Trước khi tiếp xúc với người bệnh
2 Trước khi làm thủ thuật vô trùng
3 Sau khi tiếp xúc với máu và dịch cơ thể
4 Sau khi tiếp xúc với người bệnh
5 Sau khi đụng chạm vào những vùng xung quanh người bệnh
Ngoài ra, các hoạt động sau đây cũng cần vệ sinh tay:
- Khi chuyển chăm sóc từ nơi nhiễm sang nơi sạch trên cùng người bệnh
- Sau khi tháo găng
2.3 Những lưu ý trong thực hành vệ sinh tay:
- Không để móng tay dài, mang móng tay giả, trang sức trên tay khi chăm sóc người bệnh
- Tránh chạm vào bề mặt các vật dụng, trang thiết bị khi không cần thiết để phòng lây nhiễm tay từ môi trường hoặc lây nhiễm cho môi trường do tay bẩn trong chăm sóc người bệnh
- Thực hiện vệ sinh tay với nước và xà phòng khi tay nhìn thấy vấy bẩn bằng mắt thường hoặc sau khi tiếp xúc với máu và dịch tiết
- Vệ sinh tay bằng dung dịch có chứa cồn khi tay không thấy bẩn bằng mắt
Trang 123.1 Tập huấn kiến thức RTTQ
-Tập huấn rửa tay hàng năm là rất có ích, giúp cập nhật kiến thức cho NVYT, giúpNVYT hiểu được tầm quan trọng và nâng cao ý thức tuân thủ rửa tay thường quy nhiềuhơn
3.2 Phương tiện thiết yếu cần trang bị cho mỗi vị trí rửa tay:
* Các buồng khám, buồng thủ thuật, buồng bệnh phải trang bị:
- Bồn rửa tay sạch có vòi nước có cần gạt;
- Nước sạch;
- Xà phòng bánh hoặc dung dịch rửa tay và giá đựng;
- Khăn lau tay sạch
* Các vị trí cần trang bị dung dịch vệ sinh tay có chứa cồn:
- Giường người bệnh nặng, người bệnh cấp cứu
- Trên các xe tiêm, thay băng
- Bàn khám bệnh, xét nghiệm
- Cửa ra vào mỗi buồng bệnh
Ngoài ra cần phải tăng cường kiểm tra giám sát, áp dụng hình thức khen thưởng cũng góp phần tăng tỷ lệ tuân thủ VST thường quy
2 Đánh giá tỷ lệ tuân thủ quy trình rửa tay của nhân viên y tế.
- Ngày 12/10/2007, Vụ điều trị Bộ Y tế đã ban hành công văn số 7517/BYT- ĐTr hướng dẫn về quy trình rửa tay thường quy
- Quy trình rửa tay thường quy gồm 6 bước:
Bước 1: Làm ướt hai lòng bàn tay bằng nước Lấy xà phòng và chà 2 lòng bàn tay vào nhau
Bước 2: Chà lòng bàn tay này lên mu và kẽ ngoài các ngón tay của bàn tay kia và ngược lại
Bước 3: Chà 2 lòng bàn tay vào nhau, miết mạnh các kẽ trong ngón tay
Bước 4: Chà mặt ngoài các ngón tay của bàn tay này vào lòng bàn tay kia
Bước 5: Dùng bàn tay này xoay ngón cái của bàn tay kia và ngược lại
Bước 6: Xoay các đầu ngón tay này vào lòng bàn tay kia và ngược lại Rửa tay sạch dưới vòi nước chảy đến cổ tay và làm khô tay
Chú ý: Mỗi bước “ chà” 5 lần Thời gian rửa tay tối thiểu 30 giây
- Quy trình rửa tay bằng dung dịch rửa tay có chứa cồn, gồm 6 bước:
Bước 1: Lấy khoảng 3ml dung dịch có chứa cồn cho vào lòng bàn tay và chà 2 lòng bàn tay vào nhau cho cồn dàn đều
Bước 2: Chà lòng bàn tay này lên mu và kẽ ngoài các ngón tay của bàn tay kia và ngược lại
Trang 13Bước 3: Chà 2 lòng bàn tay vào nhau, miết mạnh các kẽ trong ngón tay.
Bước 4: Chà mặt ngoài các ngón tay của bàn tay này vào lòng bàn tay kia
Bước 5: Dùng bàn tay này xoay ngón cái của bàn tay kia và ngược lại
Bước 6: Xoay các đầu ngón tay này vào lòng bàn tay kia và ngược lại
Chú ý: Khi hoàn thành bước 6 mà tay vẫn chưa khô thì thực hành lại từ bước 2cho đến khi tay khô
Trang 14PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1.Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu:
Bảng 4.1 Thông tin về tuổi, giới của đối tượng nghiên cứu:
(n = 48)
Tỷ lệ (%)
Biều đồ số liệu tỷ lệ nam, nữ tham gia VST thường quy tại các khoa lâm sàng
Nhận xét: Qua biểu đồ ta thấy tại các khoa lâm sàng số lượng điều dưỡng, KTV,
NHS nữ giới chiếm 88% , nam giới chiếm 12%
Trang 150 5 10
Biểu đồ số liệu độ tuổi tham gia rửa tay thường quy tại các khoa lâm sàng
Nhận xét: qua biều đổ ta thấy, tại các khoa lâm sàng độ tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất
là trong khoảng 30 – 39 tuổi chiếm 44%, thấp nhất là trong khoảng 40 – 49 tuổi chiếm 4%
Bảng 4.2 Thông tin về chức danh của đối tượng nghiên cứu
Trang 16Nhận xét: Nhóm điều dưỡng chiếm tỷ lệ cao nhất 77%, thứ hai là nhóm nữ hộ
sinh chiếm 18.8%, thấp nhất là nhóm KTV chiếm 4.2%
Bảng 4.3 Thông tin về trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu:
(n= 48)
Tỷ lệ (%)
Sau đ ại học
Đ ại học Cao đẳng Trung cấp
Trình độ học vấn
Biểu đồ số liệu về trình độ học vấn của ĐD, KTV, NHS tại các khoa lâm sàng Nhận xét: Qua biều đồ ta thấy, trình độ trung cấp chiếm tỷ lệ cao nhất 56%, sau
đại học chiếm 0%, đại học chiếm 29%, cao đẳng chiếm 15%
Bảng 4.4 Thông tin về thâm niên công tác của đối tượng nghiên cứu
(n = 48)
Tỷ lệ (%)
Thâm niên công
Trang 175 - 10 năm
11 15 năm
16 20 năm
21 25 năm
-Trên 25 năm
Năm công tác
Biểu đồ số liệu thâm niên công tác của điều dưỡng, KTV, NHS tại các khoa lâm sàng
Nhận xét: Qua biểu đồ ta thấy, thâm niên công tác từ 5 đến 10 năm của điều dưỡng,
KTV, NHS chiếm tỷ lệ cao nhất 54%, đứng thứ 2 là dưới 5 năm chiếm 29%, trên 25 nămchiếm 17%, thâm niên công tác trong khoảng từ 11 – 25 năm chiếm 0%
Nhận xét:
4.2 Kiến thức về rửa tay thường quy của đối tượng nghiên cứu:
Từ ngày 05/04/2016 đến 08/04/2016 Khoa kiểm soát đã tổ chức tập huấn cho toàn thể cán bộ nhân viên bệnh viện về các quy định vệ sinh tay Sau khi can thiệp yếu tố tập huấn tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y tế đã tăng như sau
Bảng 4.5 Kiến thức về tác dụng của RTTQ
Tác dụng của RTTQ
Kết quả
Trước Sau Trước Sau Trước Sau
1 Rửa tay thường quy trong
chăm sóc bệnh nhân nhằm để
tránh lây nhiễm giữa NVYT với
bệnh nhân
2 NVYT tuân thủ đúng quy
trình rửa tay sẽ làm giảm nguy
cơ nhiễm khuẩn ở người bệnh và
chính bản thân mình
3 Rửa tay đúng quy trình là 88% 91,6% 4,2% 12 4,2%