1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu về tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh của cơ sở sản xuất nấm phạm bá duy tại xã quyết thắng thành phố thái nguyên

84 108 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể nói việc thực hiện chỉ thị 100 của Ban Bí thư TWĐảng Khoá 4, Nghị quyết 10 - NQ/TW của Bộ Chính trị Tháng 4/1988 về pháthuy vai trò tự chủ của kinh tế hộ nông dân đã đặt nền móng

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Định hướng đề tài : Hướng ứng dụng Chuyên ngành : Kinh Tế Nông Nghiệp Khoa : KTNN & PTNN Khóa học : 2014 – 2018

Thái Nguyên- năm 2017

Trang 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Định hướng đề tài : Hướng ứng dụng Chuyên ngành : Kinh Tế Nông Nghiệp Khoa : KTNN & PTNN Khóa học : 2014 - 2018 Giảng viên hướng dẫn: ThS Vũ Thị Hải Anh Cán bộ cơ sở hướng dẫn: Phạm Huy Toàn

Thái Nguyên - năm 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn “Tìm hiểu về tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh của cơ sở sản xuất nấm Phạm Bá Duy tại xã Quyết Thắng thành phố Thái Nguyên” tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của

các cơ quan, các tổ chức và cá nhân

Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các tập thể, cá nhân đã tạođiều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu luận văn này

Trước hết tôi xin trân trọng cảm ơn ban giám hiệu nhà trường Đại học Nônglâm Thái Nguyên, Khoa Kinh tế và phát triển nông thôn, Phòng Đào tạo trường Đạihọc Nông lâm Thái Nguyên cùng các thầy cô giáo, những người đã trang bị cho tôikiến thức suốt quá trình học tập

Với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất, tôi xin trân thành cảm ơn côgiáo, ThS Đỗ Thị Hà Phương, đã trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trongsuốt quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn Trang trại sản xuất nấm, các cá nhân, tậpthể trong cơ sở đã giúp đỡ, cung cấp thông tin, số liệu cho tôi trong suốt quá trìnhthực hiện nghiên cứu luận văn

Xin chân thành cảm ơn tất cả các bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡnhiệt tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn này

Do thời gian nghiên cứu có hạn, luận văn của tôi không thể tránh khỏi những

sơ suất, thiếu sót, tôi rất mong được sự đóng góp của các thầy cô giáo cùng toàn thểbạn đọc

Trang 4

Si n h vi ê n

B ùi Vi ệt D ũ n g

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Nội dung và thời gian thực tập 7

Bảng 3.1 Doanh thu của trang trại năm 2017 về bán nấm thương phẩm 52

Bảng 3.2 Doanh thu của trang trại năm 2017 về bán bịch nấm thành phẩm 53

Bảng 3.3 Tổng doanh thu của trang trại năm 2017 54

Bảng 3.4 Chi phí đầu tư trang thiết bị của trang trại Phạm Bá Duy 55

Bảng 3.5 Chi phí ban đầu của trang trại Phạm Bá Duy 55

Bảng 3.6 Chi phí sản xuất các loại nấm của trang trại Phạm Bá Duy năm 2017 56

Bảng 3.7 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của trang trại Phạm Bá Duy năm 2017 58

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Sơ đồ bộ máy tổ chức của trang trại Phạm Bá Duy 39

Hình 3.2 Sơ đồ quy trình sản xuất nấm sò 40

Hình 3.3 Sơ đồ quy trình sản xuất nấm mộc nhĩ 43

Hình 3.4 Sơ đồ quy trình sản xuất nấm linh chi (nấm dược liệu) 46

Hình 3.5 Sơ đồ tình hình tiêu thụ sản phẩm của trang trại 61

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

APEC Asia - Pacific Economic CooperationASEAN Association of Southeast Asian Nations

Trang 8

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC HÌNH iii

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iv

MỤC LỤC v

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Sự cần thiết thực hiện nội dung thực tập 1

1.2 Mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể: 2

1.3 Nội dung và phương pháp thực hiện 3

1.3.1 Nội dung thực tập 3

1.3.2 Phương pháp thực hiện 3

1.4 Thời gian và địa điểm thực tập 6

1.4.1 Thời gian thực tập 6

1.4.2 Địa điểm thực tập 6

1.4.3 Kế hoạch thực tập 6

1.5 Nhiệm vụ của sinh viên tại cơ sở thực tập 8

Phần 2 TỔNG QUAN 9

2.1 Về cơ sở lý luận 9

2.1.1 Một số khái niệm liên quan đến nội dung thực tập

9 2.1.2 Khái niệm, bản chất của kinh tế trang trại 10

2.1.3 Vai trò của kinh tế trang trại

13 2.1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế trang trại 17

2.1.6 Những tiêu chí xác định kinh tế trang trại 21

2.1.7 Các văn bản pháp lý liên quan đến nội dung thực tập 23

2.2 Cơ sở thực tiễn 23

2.2.1 Tình hình phát triển kinh tế trang trại trên thế giới 23

Trang 9

2.2.2 Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam 25

Phần 3 KẾT QUẢ THỰC TẬP 31

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu 31

3.1.1 Điều kiện tự nhiên của xã Quyết Thắng 31

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 33

3.1.3 Quá trình hình thành và phát triển trang trại sản xuất nấm của anh Phạm Bá Duy 36

3.1.4 Những thành tựu đã đạt được của trang trại anh Phạm Bá Duy 37

3.1.5 Những thuận lợi và khó khăn liên quan đến nội dung thực tập 37

3.2 Kết quả thực tập 39

3.2.1 Mô tả, tóm tắt những công việc đã làm tại trang trại 39

3.2.2 Phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh của trang trại 52

3.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tế 62

3.2.4 Đề xuất giải pháp 63

Phần 4 KẾT LUẬN 67

4.1 Kết luận 67

4.2 Kiến nghị 67

TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

Trang 10

Phần 1

MỞ ĐẦU

1.1 Sự cần thiết thực hiện nội dung thực tập

Kinh tế trang trại ở nước ta đã tồn tại từ lâu, nhưng chỉ phát triển mạnh mẽtrong vài năm gần đây Có thể nói việc thực hiện chỉ thị 100 của Ban Bí thư TWĐảng (Khoá 4), Nghị quyết 10 - NQ/TW của Bộ Chính trị (Tháng 4/1988) về pháthuy vai trò tự chủ của kinh tế hộ nông dân đã đặt nền móng cho sự ra đời của kinh

tế trang trại với những thành tựu của công cuộc đổi mới, sản xuất nông nghiệp cóbước phát triển vượt bậc, nhiều hộ nông dân có tích luỹ, đã tạo điều kiện cho kinh tếtrang trại phát triển Đặc biệt là sau khi luật đất đai ra đời năm 1993, thì kinh tếtrang trại mới có bước phát triển khá nhanh và đa dạng Việc phát triển kinh tế trangtrại đã đem lại lợi ích to lớn về nhiều mặt, làm thay đổi đáng kể bộ mặt kinh tế - xãhội của các vùng nông thôn

Trong hơn 30 vạn hộ nông dân tỉnh Thái Nguyên đã xuất hiện ngày càngnhiều hộ sản xuất kinh doanh giỏi, mở rộng qui mô sản xuất, áp dụng tiến bộ kỹthuật, cung cấp sản phẩm hàng hoá cho thị trường trên cơ sở tổ chức sản xuất kinhdoanh theo mô hình kinh tế trang trại

Trong những năm đổi mới nhờ chủ trương của Đảng khuyến khích các thànhphần kinh tế trong nông nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh và việc trả lại cho hộnông dân quyền tự chủ về kinh tế mà kinh tế hộ cũng như kinh tế tư nhân và kinh tế

cá thể trong nông nghiệp đã có bước phát triển mạnh mẽ, tạo động lực thúc đẩy kinh

tế nông nghiệp và nông thôn nước ta phát triển, khai thác đầy đủ hơn các tiềm năng

và nguồn lực về đất đai, vốn và lao động

Thực tế cho thấy trong những năm qua kinh tế trang trại tỉnh Thái Nguyên đã

có bước phát triển Tuy nhiên hiện nay đang còn tồn tại một số vấn đề lý luận vàthực tiễn về phát triển kinh tế trang trại ở tỉnh Thái Nguyên cần được nghiên cứu vàhoàn thiện

Trang 11

Từ những thực tế đó, trong thời gian em thực tập tại trang trại Phạm Bá Duyvới mong muốn tìm hiểu về trang trại, và đưa ra những giải pháp chủ yếu khuyếnkhích kinh tế trang trại phát triển Do vậy em đã chọn đề tài: “Tìm hiểu mô hình tổchức và hoạt động kinh doanh của Trang trại Phạm Bá Duy Xã Quyết Thắng, thànhphố Thái Nguyên“.

1.2 Mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể

1.2.1 Mục tiêu chung

Tìm hiểu về tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh tại trang trạiPhạm Bá Duy

1.2.2 Mục tiêu cụ thể:

1.2.2.1 Về chuyên môn, nghiệp vụ

- Nắm được quá trình hình thành và phát triển của trang trại sản xuất nấmPhạm Bá Duy

- Biết cách làm một số công việc liên quan đến việc sản xuất tại trang trại

- Đánh giá lại hiệu quả kinh doanh của cơ sở sản xuất nấm

- Nắm được kỹ thuật sản xuất và kinh doanh nấm: linh chi, mộc nhĩ, nấm sò

- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển cơ sở sản xuất nấm Phạm Bá Duy

tổ 10 xã Quyết Thắng thành phố Thái Nguyên

- Tạo cho sinh viên tác phong nhanh nhẹn, chịu áp lực cao trong công việc,

có thể tự lập sau khi ra trường

Trang 12

- Biết lắng nghe và học hỏi từ những lời phê bình từ người khác.

- Học được cách sắp xếp, bố trí công việc trong học tập, nghiên cứu, làm việcmột cách linh hoạt và khoa học

- Nâng cao kỹ năng làm việc nhóm trong tập thể

1.3 Nội dung và phương pháp thực hiện

1.3.1 Nội dung thực tập

- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên tại xã Quyết Thắng thành phố Thái Nguyên

- Tìm hiểu quá trình hình thành phát triển trang trại Phạm Bá Duy

- Tìm hiểu quy trình sản xuất nấm: Linh chi, mộc nhĩ, nấm sò

- Tham gia vào quá trình chăm sóc và sản xuất nấm tại trang trại: Đóng bầu,cấy giống, hấp bịch, treo bịch, thu hoạch, xây dựng cơ sở hạ tầng, vệ sinh trang trại

- Đánh giá lại hiệu quả kinh doanh của trang trại

- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển trang trại sản xuất nấm Phạm BáDuy trên địa bàn xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên

1.3.2 Phương pháp thực hiện

1.3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin

* Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp

- Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp là phương pháp thu thập thông tin,

số liệu có sẵn thường có trong các báo cáo khuyến nông hoặc các tài liệu đã công

bố Các thông tin này thường được thu thập từ các cơ quan, tổ chức, văn phòng

- Trong phạm vi đề tài tôi thu thập các số liệu đã được công bố liên quanđến vấn đề nghiên cứu tại UBND xã Quyết Thắng vá trang trại sản xuất nấmPhạm Bá Duy

+ Số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội xã Quyết Thắng

+ Số liệu của UBND xã quyết thắng thu thập từ K45- KTNN- N03 (Thực tậpnghề nghiệp 2) và thu thập trên báo, internet liên quan đến phát triển kinh tế trangtrại và hoạt động sản xuất nấm

* Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp

- Phương pháp PRA: PRA là một loạt các biện pháp khuyến khích lôi cuốn

Trang 13

người dân tham gia cùng chia sẻ thảo luận, phân tích kiến thức của họ về đời sống,điều kiện nông thôn để họ lập kế hoạch thảo luận cũng như việc thực hiện giám sát,đánh giá Đề tài này sử dụng các công cụ PRA sau:

+ Phỏng vấn trực tiếp: Tiến hành phỏng vấn với chủ trang trại Phạm Bá Duy,người quản lý Phạm Huy Toàn và các nhân công trông trang trại Để tìm hiểu vềquá trình thực hiện mô hình kinh tế trang trại nói chung và trang trại sản xuất nấm

ăn và nấm dược liệu nói riêng Tìm hiểu về quy trình sản xuất và kinh doanh nấm.Tìm hiểu về những thuận lợi, khó khăn và xu hướng thực hiện trong tương lai Tìmhiểu về tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh tại trang trại

+ Quan sát trực tiếp: Quan sát một cách có hệ thống các sự vật, sự việc, sựkiện với các mối quan hệ và trong một bối cảnh tồn tại của nó Quan sát trực tiếpcũng là một phưng pháp tốt để kiểm tra chéo những câu trả lời của người dân địaphương

1.3.2.2 Phương pháp phân tích số liệu

- Phương pháp thống kê: Được coi là chủ đạo để nghiên cứu các mối quan hệgiữa các yếu tố đầu vào, đầu ra, qua đó đánh giá so sánh và rút ra những kết luậnnhằm đưa ra các giải pháp có tính khoa học cũng như thực tế trong việc phát triểnkinh tế trang trại

- Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất kinh doanh: phương pháp này đòihỏi người quản lý phải ghi chép tỉ mỉ, thường xuyên, liên tục suốt trong quá trìnhsản xuất kinh doanh, thông qua kết quả đó rút ra kết luận nhằm định hướng chonhững năm tiếp theo

Trang 14

1.3.2.3 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá

 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả sản xuất

+ GO giá trị sản xuất (Gross Output):

Trong đó: Pi là giá trị sản phẩm thứ i; Qi khối lượng sản phẩm thứ i

Vậy GO là toàn bộ của cải vật chất và dịch vụ được tạo ra trong một thờigian, hay một chu kỳ sản xuất nhất định Đối với trang trại thường người ta tính chomột năm (Vì trong một năm thì hầu hết các sản phẩm nông nghiệp đã có đủ thờigian sinh trưởng và cho sản phẩm)

+ VA giá trị gia tăng (Value Added)

VA = GO – ICTrong đó: IC là chi phí trung gian (Intermediate Cost)

IC Trong đó: Ci khoản chi phí thứ i Vậy IC là toàn bộ chi phí vật chất thườngxuyên và các dịch vụ được sử dụng trong tất cả quá trình sản xuất của trang trại nhưcác chi phí: Giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, các loại chi phí khác,…

* Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất của trang trại

+ Hiệu quả sử dụng đất

GO/ha canh tác (Giá trị sản xuất sản phẩm trên 1 ha canh tác)

Trang 15

VA/ha canh tác (Giá trị gia tăng của sản phẩm trên 1ha canh tác)

+ Hiệu quả sản xuất trên chi phí GO/IC (Tỷ suất giá trị nói lên chất lượng sảnxuất kinh doanh của trang trại, với mức độ đầu tư một đồng chi phí trung gian thì sẽtạo ra giá trị sản xuất là bao nhiêu lần)

VA/IC (Tỷ suất giá trị gia tăng, phản ánh hiệu quả sử dụng đồng vốn, chỉ tiêunày phản ánh là nếu bỏ ra một đồng chi phí trung gian thì sẽ thu được giá trị giatăng là bao nhiêu)

+ Hiệu quả sử dụng lao động, năng suất lao động

GO/LĐ (giá trị gia tăng do một lao động tạo ra)

VA/LĐ (Giá trị tăng thêm trên lao độ

1.4 Thời gian và địa điểm thực tập

Trang 16

Bảng 1.1 Nội dung và thời gian thực tập

TT Thời gian Nội dung

thực tập Địa điểm Người thực hiện

Công việc hoàn thành

16/8-17/8/2017

- Gặp mặt chủtrang trại nấm

- Tìm hiểu điều kiện môi trường làm việc tại cơ sở thực tập

Xã QuyếtThắngthành phốTháiNguyên

- GVHD Th.s VũThị Hải Anh

- Sinh viên BùiViệt Dũng

Cùng cán bộ hướng dẫn

đi tham quan quanh địabàn và nắm bắt đượccác điều kiện tự nhiêntrang trại

2

18/8-25/8/2017

Tìm hiểu cáchthức làm việc

và môi trườnglàm việc của mội người trong trang trại

Trang trạinấm Phạm

Bá Duy

- CBHD PhạmHuy Toàn

- Sinh viên Bùi ViệtDũng

Chủ động đi chào hỏi,trò chuyện với mọingười ở cơ sở thực tập

Từ đó biết được cáchlàm việc ở trang trại

27/8-10/11/2017

Tham gia trực tiếp vào công việc sảnxuất nấm

Trang trạinấm Phạm

Bá Duy

- CBHD Phạm HuyToàn

- Sinh viên Bùi ViệtDũng

Luôn lắng nghe, chủđộng, sáng tạo thựchiện các công việc đượcgiao phó để trau dồi rấtnhiều kinh nghiệm chobản thân

4 11/11/2017 Tổng kết đợt

thực tập

Trang trạinấm Phạm

Bá Duy

- Chủ trang trại vàCBHD

5

12/11-21/12/2017

Hoàn thành vànộp báo cáo thực tập, nhật

ký thực tập cho Giáo viên phụ trách thựctập

Xã QuyếtThắngthành phốTháiNguyên

- GVHD Th.s VũThị Hải Anh

- Sinh viên NôngMai Diễm

Nộp báo cáo đúng thời hạn

Trang 17

1.5 Nhiệm vụ của sinh viên tại cơ sở thực tập

- Thực hiện nghiêm chỉnh các nội quy, quy chế của cơ sở thực tập, tích cực, nhiệt tình, có trách nhiệm trong công việc

- Giữ gìn và bảo vệ tài sản chung của cơ sở thực tập

- Tham gia lao động công ích, hoạt động tình nguyện, hoạt động xã hội vì cộng

đồng phù hợp với năng lực và sức khỏe theo yêu cầu của cơ sở thực tập

- Chủ động tiếp cận công việc và sẵn sàng hỗ trợ người hướng dẫn thực tập

để có thể hoàn thành các công việc chung, tự khẳng định năng lực của bản thân

- Quan sát, học tập và học hỏi kinh nghiệm làm việc của mọi người trong trang trại để hoàn thành tốt bài khóa luận tốt nghiệp

Trang 18

Phần 2 TỔNG QUAN

2.1 Về cơ sở lý luận

2.1.1 Một số khái niệm liên quan đến nội dung thực tập

2.1.1.1 Khái niệm công tác tổ chức

- Tổ chức chỉ một cơ cấu chủ định về vai trò, nhiệm vụ hay chức vụ đượchợp thức hóa

- Công tác tổ chức là việc thành lập các đơn vị cần thiết theo yêu cầu côngtác và xác lập mối quan hệ về nghiệp vụ và quyền hành giữa các cá nhân và đơn vị,trong doanh nghiệp đó nhằm thiết lập một môi trường thuận lợi cho hoạt động vàđạt đến mục tiêu chung [14]

- Chức năng tổ chức là hoạt động quản trị nhằm thiết lập một hệ thống các vịtrí cho mỗi cá nhân và bộ phận sao cho sao cho các cá nhân và bộ phận có thể phốihợp với nhau một cách tốt nhất để thực hiện mục tiêu chiến lược của tổ chức

2.1.1.2 Tổ chức lao động và quá trình lao động

Trong các trang trại, có nhiều hình thức tổ chức lao động như: đội sản xuất,trại chăn nuôi, xưởng chế biến, tổ nhóm sản xuất, hộ gia đình nhận khoán, Do đó,các trang trại phải lựa chọn hình thức tổ chức lao động hợp lý, tức là lựa chọn hìnhthức phân công và hiệp tác lao động hợp lý khi tiến hành các hoạt động sản xuất cụthể

Để lựa chọn các hình thức tổ chức lao động hợp lý chủ trang trại cần dựa vàocác căn cứ sau:

- Phương hướng và quy mô sản xuất của trang trại

Các trang trại có phương hướng và quy mô sản xuất khác nhau thì việc lựachọn hình thức tổ chức lao động cũng khác nhau Nếu trang trại có phương hướngsản xuất sản phẩm trồng trọt và quy mô sản xuất sản phẩm trồng trọt lớn thì tổ chứcthành các đội sản xuất/dịch vụ, xưởng chế biến nông sản Nếu trang trại sản xuấtsản phẩm trồng trọt với quy mô nhỏ thì có thể tổ chức thành các tổ nhóm sản xuất

Nếu trang trại sản xuất sản phẩm chăn nuôi với quy mô lớn thì có thể tổ chứccác trại chăn nuôi gà, trại chăn nuôi lợn, xưởng chế biến thức ăn Nếu sản xuất quy

Trang 19

mô nhỏ thì có thể tổ chức thành các tổ nhóm chăn nuôi gà, lợn; tổ nhóm cung cấp thức ăn.

- Trình độ, quy mô trang bị máy móc, thiết bị, công cụ lao động

Đây là căn cứ quan trọng trong việc lựa chọn hình thức tổ chức lao độngtrong các trang trại Nếu trang trại trang bị máy móc thiết bị cao, quy mô trang bịlớn thì sẽ lựa chọn các hình thức đội, tổ dịch vụ, nhà máy hay xưởng chế biến Nếutrang bị máy móc thiết bị thấp, quy mô trang bị nhỏ thì tổ chức được các hoạt động

do cá nhân lao động đảm nhiệm

- Trình độ, năng lực tổ chức quản lý của chủ trang trại

Trình độ và năng lực quản lý của chủ trang trại cao sẽ cho phép lựa chọn cáchình thức tổ chức lao động có quy mô lớn Nếu trình độ và năng lực tổ chức quản lýthấp thì lựa chọn hình thức tổ chức lao động có quy mô vừa và nhỏ như tổ nhóm sảnxuất dịch vụ và khoán sản phẩm cuối cùng cho tổ, nhóm, cá nhân và hộ gia đình[13]

2.1.1.3 Hợp tác xã

Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do

ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạtđộng sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thànhviên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợptác xã [16]

2.1.2 Khái niệm, bản chất của kinh tế trang trại

2.1.2.1 Khái niệm về trang trại

- Trang trại nói chung là cơ sở sản xuất nông nghiệp, ở đây nói về trang trạitrong nền kinh tế thị trường thời kỳ công nghiệp hoá, với các khái niệm cụ thể sau:

+ Trang trại là tổ chức sản xuất cơ sở của nền nông nghiệp sản xuất hàng hoátrong thời kỳ công nghiệp hoá [16]

+ Trang trại là đơn vị sản xuất nông nghiệp độc lập tự chủ, là chủ thể pháp lý

có tư cách pháp nhân trong các quan hệ kinh tế xã hội

+ Trang trại có cơ sở vật chất kỹ thuật để đảm bảo sản xuất nông nghiệp, có

tổ chức lao động sản xuất kinh doanh, có quản lý kiểu doanh nghiệp (hạch toán kinhtế)

Trang 20

+ Trang trại là tổ chức sản xuất nông nghiệp có vị trí trung tâm thu hút cáchoạt động kinh tế của các tổ chức sản xuất tư liệu sản xuất, các hoạt động dịch vụ vàcác tổ chức chế biến tiêu thụ nông sản.

+ Trang trại là loại hình sản xuất đa dạng và linh hoạt về tổ chức hoạt độngsản xuất kinh doanh trong nông nghiệp

- Trang trại có các hình thức sở hữu tư liệu sản xuất và phương thức quản lýkhác nhau

+ Trang trại gia đình là loại hình trang trại phổ biến nhất trong nông nghiệp ởtất cả các nước, thường do các chủ gia đình làm chủ và quản lý sản xuất kinh doanhcủa trang trại, sử dụng lao động gia đình là chủ yếu và có thể sử dụng lao động thuêngoài, sở hữu một phần hoặc toàn bộ tư liệu sản xuất (ruộng đất, công cụ sản xuất,vốn …) cũng có thể đi thuê ngoài một phần hoặc toàn bộ tư liệu sản xuất trên

- Trang trại thường có các qui mô khác nhau (nhỏ, vừa và lớn ) song song tồntại lâu dài với sự thay đổi về cơ cấu tỷ lệ và qui mô trung bình… Trang trại thường

có các cơ cấu sản xuất khác nhau với cơ cấu thu nhập khác nhau, trong và ngoàinông nghiệp, với phương thức quản lý kinh doanh khác nhau (chuyên môn hoá, đadạng hoá sản phẩm) với trình độ năng lực sản xuất khác nhau

Tóm lại: Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm, ngưnghiệp, có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá, tư liệu sản xuất thuộc quyền sởhữu hoặc quyền sử dụng của chủ thể độc lập Sản xuất được tiến hành trên qui môruộng đất và các yếu tố sản xuất được tập trung tương đối lớn, với cách thức tổ chứcquản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao: Hoạt động tự chủ và luôn gắn với thịtrường [16]

2.1.2.2 Khái niệm về kinh tế trang trại

- Kinh tế trang trại là nền kinh tế sản xuất nông sản hàng hoá, phát sinh vàphát triển trong thời kỳ công nghiệp hoá, thay thế cho nền kinh tế tiểu nông tự cấp

tự túc [5]

- Kinh tế trang trại là tổng thể các quan hệ kinh tế của các tổ chức hoạt độngsản xuất kinh doanh nông nghiệp bao gồm: Các hoạt động trước và sau sản xuất

Trang 21

nông sản hàng hoá xung quanh các trục trung tâm là hệ thống các trang trại thuộc các ngành, nông, lâm, ngư nghiệp ở các vùng kinh tế khác nhau.

- Kinh tế trang trại là sản phẩm thời kỳ công nghiệp hoá Quá trình hìnhthành và phát triển kinh tế trang trại gắn liền với quá trình công nghiệp hoá từ thấpđến cao Thời kỳ bắt đầu công nghiệp hoá kinh tế trang trại với tỷ trọng còn thấp,quy mô nhỏ và năng lực sản xuất hạn chế, nên chỉ đóng vai trò xung kích trong sảnxuất nông sản hàng hoá phục vụ công nghiệp hoá Thời kỳ công nghiệp hoá đạttrình độ kinh tế trang trại với tỷ trọng lớn, qui mô lớn và năng lực sản xuất lớn trởthành lực luợng chủ lực trong sản xuất nông sản hàng hoá cũng như hàng nôngnghiệp nói chung phục vụ công nghiệp hoá

- Kinh tế trang trại phát triển trong thời kỳ công nghiệp hoá, phục vụ nhu cầusản xuất hàng hoá trong công nghiệp là phù hợp với quy luật phát triển kinh tế, làmột tất yếu khách quan của nền kinh tế nông nghiệp trong quá trình chuyển từ sảnxuất tự cấp, tự túc lên sản xuất hàng hoá

- Kinh tế trang trại là loại hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp mới

có tính ưu việt hơn hẳn so với các lạo hình sản xuất nông nghiệp khác như: Kinh tếnông nghiệp phát canh thu tô, kinh tế tư bản tư nhân, đồn điền, kinh tế cộng đồng,nông nghiệp tập thể, kinh tế tiểu nông [5]

- Kinh tế trang trại đến nay đã khẳng định vị trí của mình trong sản xuấthàng hoá thời kỳ công nghiệp hoá ở các nghành sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp ởcác vùng kinh tế ở nhiều nước trong khu vực và trên thế giới Đã thích ứng với cáctrình độ công nghiệp hoá khác nhau

Thời gian tới bước vào thế kỷ 21 theo dự báo của nhiều nhà kinh tế trên thếgiới, kinh tế trang trại có bước phát triển mạnh mẽ, với số lượng ngày càng nhiều ởcác nước đang phát triển, trên con đường công nghiệp hoá và vấn đề còn tồn tại ởcác nước công nghiệp hoá cao, trên cơ sở điều chỉnh số lượng và cơ cấu trang trạicho phù hợp

2.1.2.3 Bản chất của trang trại nói chung

- Kinh tế trang trại là một đơn vị sản xuất kinh doanh cơ sở trực tiếp sản xuất

Trang 22

trồng trọt trên đồng ruộng và chăn nuôi trang chuồng trại với qui mô lớn, trình độsản xuất và quản lý tiến bộ,…Là hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâmnghiệp và thuỷ sản với mục đích chính là sản xuất ra hàng hoá để cung ứng ra thịtrường Là loại hình sản xuất hàng hoá với tỷ trọng hàng hoá chiếm từ 70% đến80% trở lên, đáp ứng phần lớn hàng hoá ra thị trường không chỉ ở trong nước màcòn xuất khẩu ra nước ngoài.

- Kinh tế trang trại với hình thức sản xuất nông nghiệp theo kiểu tập chung,quy mô lớn và đã có từ lâu trên Thế giới và ở Việt nam

- Đến thời kỳ chủ nghĩa tư bản: Lực lượng sản xuất phát triển thì hình thứcsản xuất tập chung quy mô lớn trong nông nghiệp theo kiểu trang trại

- Đến Nghị quyết 10 của Bộ chính trị khoá VI (4/1988) về phát huy quyềnlàm chủ kinh tế hộ, đã đặt nền móng cho sự phát triển một cách nhanh chóng Vìvậy kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp theo nghĩa rộng baogồm: Nông – Lâm - Thuỷ sản có mục đích chính là sản xuất hàng hoá, tư liệu sảnxuất thuộc quyền sở hữu hay sử dụng của một chủ trang trại, sản xuất được tiếnhành trên qui mô ruộng đất với các yếu tố sản xuất tập chung đủ lớn, trình độ kỹthuật cao hơn phương thức tổ chức sản xuất tiến bộ gắn với thị trường có hạch toánkinh tế theo kiểu doang nghiệp

2.1.3 Vai trò của kinh tế trang

trại

Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất quan trọng trong nền nông nghiệp thếgiới Ở các nước phát triển, trang trại gia đình có vai trò to lớn và quyết định trongsản xuất nông nghiệp và đại bộ phận nông sản cung cấp cho xã hội được sản xuất ratrong các trang trại gia đình [6], [7]

Ở nước ta, kinh tế trang trại (mà chủ yếu là trang trại gia đình) mặc dù mớiphát triển trong những năm gần đây, song vai trò tích cực và quan trọng của kinh tếtrang trại đã thể hiện rõ nét cả về kinh tế cũng như về mặt xã hội và môi trường

* Về mặt kinh tế: Mô hình kinh tế trang trại đã tạo bước chuyển biến cơ bản

về giá trị sản phẩm hàng hóa, và thu nhập của trang trại vượt trội hẳn so với kinh tế

hộ Hiện nay, tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ của trang trại ước tính hơn 19.826 tỷ

Trang 23

đồng, bình quân một trang trại đã tạo ra giá trị sản xuất gần 324.9 triệu đồng gấp 8lần so với bình quân giá trị sản xuất của một hộ nông nghiệp Tại vùng Tây Nguyên,giá trị sản phẩm hàng hóa của trang trại đạt bình quân gần 148.6 triệu đồng/trangtrại/năm Kinh tế trang trại đã thu hút, tạo việc làm cả nước cho hơn 395.878 laođộng, góp phần giảm bớt áp lực thiếu việc làm ở nông thôn, đồng thời giúp cho thunhập của người lao động được đảm bảo ổn định ở mức từ 400.000 đồng - 600.000đồng/tháng (với lao động thời vụ), tiền công cũng phổ biến ở mức 20.000đồng/ngày Riêng các doanh nghiệp nông thôn đã giải quyết cho trên một triệu laođộng có việc làm trong các xí nghiệp, nhà máy với thu nhập bình quân từ 700.000 -1.000.000 đồng/tháng [8].

Mô hình này đã có những kết quả vượt trội so với kinh tế hộ, hình thành nênnhững vùng sản xuất hàng hóa lớn tập trung, thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấukinh tế nông nghiệp, nông thôn, tiến tới xây dựng nên những vùng, miền nông thônmới văn minh hiện đại Thách thức vẫn còn ở phía trước, tuy nhiên, kinh tế trang

trại thật sự “cất cánh” vẫn còn nhiều việc phải làm Cách đây 4 năm, con số 55%

trang trại chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Nguyên Bộ trưởng

Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn Lê Huy Ngọ đưa ra đã khiến nhiều người

bất ngờ Cũng là đầu tư phát triển, nhiều doanh nghiệp đến từ nơi xa được “trải chiếu hoa, trải thảm đỏ” thì người nông dân lại “toát mồ hôi” khi thuê đất [10].

Đến giờ phút này, điều mà chủ trang trại vẫn thường xuyên lo âu và mongmuốn sự quan tâm hơn của Đảng và Nhà nước chính là việc tiêu thụ nông sản Sảnphẩm của trang trại tiêu thụ qua trung gian mà cụ thể là thương lái chiếm tỷ lệ từ 70

- 95% trong tổng số sản phẩm trang trại thu hoạch được

Còn định hướng cho việc sản xuất cây, con gì ở trang trại thì nhiều hộ phảinhờ chính thương lái mách bảo Riêng với những trang trại chăn nuôi, hiện hơn 30tỉnh thành phố có dự án, chương trình phát triển bò sữa, nhưng khá nhiều nơi bò sữa

không bán được, phải để làm sữa chua “ăn trừ bữa” Cuối năm 2005, cả nước có

gần một vạn trang trại chăn nuôi song năng suất vật nuôi còn thấp, chỉ đạt 50 - 70%

so với các nước chăn nuôi khác tiên tiến, chất lượng vật nuôi chưa đạt yêu cầu, giá

Trang 24

thành cao, chưa có những sản phẩm đặc thù Nguyên nhân là do còn chăn nuôi phântán, quy mô nhỏ Cải tiến năng suất, chất lượng giống vật nuôi còn chậm, giá thức

ăn còn cao, công nghệ giết mổ còn thô sơ, không đảm bảo điều kiện vệ sinh dịch tễ

- Lợi ích trước và sau khi thành lập kinh tế trang trại

+ Lợi ích trước mắt: Các trang trại góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế pháttriển các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị hàng hóa cao, khắc phục dần tình trạngphân tán, tạo nên những vùng chuyên môn hóa cao, qua đó thúc đẩy chuyển dịch cơcấu kinh tế trang trại

+ Lợi ích lâu dài: Góp phần vào việc phát triển công nghiệp đặc biệt là côngnghiệp chế biến và dịch vụ sản xuất ở nông thôn Thực tế cho thấy việc phát triểnkinh tế trang trại bao giờ cũng đi liền với việc khai thác và sử dụng một cách đầy đủ

và hiệu quả hơn so với kinh tế hộ về các nguồn lực trong nông nghiệp nông thôn.Ngoài ra trang trại còn góp phần rất lớn trong việc cải thiện môi trường sống ngàycàng tốt hơn Thật vậy hệ thống sinh thái đã bị phá vỡ trong việc công nghiệp hóa ồ

ạt trên toàn thế giới, thì hệ thống kinh tế trang trại phát triển sẽ dần lấy lại sự cânbằng sinh thái trong tự nhiên, hệ thống đa dạng sinh thái ngày càng được cải thiệntrở lại với cái vốn có của nó

- Những đóng góp của trang trại đối với Nhà nước: Kinh tế trang trại pháttriển nó góp phần tăng thu nhập đối với nền kinh tế quốc dân, cũng như tăng nguồnthu ngân sách đối với Nhà nước

* Về xã hội

Thu hút lao động, hạn chế bớt làn sóng di cư ra thành phố, làm giảm áp lựcđối với xã hội, đảm bảo an ninh trật tự nơi đô thị, hạn chế tai tệ nạn cho xã hội Pháttriển kinh tế trang trại góp phần quan trọng làm tăng số hộ giàu trong nông thôn, tạothêm việc làm tăng thêm thu nhập cho lao động, với tổng số thu hút lao động trêntoàn quốc tính đến 2006 là 395.878 người Điều này rất có ý nghĩa trong việc giảiquyết vấn đề lao động và việc làm Mặt khác, trong xu hướng tăng tỷ trọng củacông nghiệp và dịch vụ trong nền kinh tế, đã tác động lớn đến khoảng cách chênhlệch thu nhập của đại bộ phận dân cư, thu nhập của người dân đô thị là cao hơn so

Trang 25

với khu vực nông thôn Chính vì vậy, sự kỳ vọng về mức thu nhập cao đã thôi thúcnhiều nông dân đi tìm công ăn việc làm ở đô thị Như vậy, sự phát triển trang trạicũng là một nguyên nhân tác động đến người nông dân gắn bó với công việc khuvực nông thôn, hạn chế sự di cư đến đô thị Mặt khác, nông dân có việc làm là cáchcải thiện đáng kể tệ nạn xã hội do thất nghiệp gây nên, một trong những vấn đề bứcxúc của nông nghiệp nông thôn nước ta hiện nay Đồng thời phát triển kinh tế trangtrại còn góp phần thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng, trong nông thôn nước ta.

- Có đóng góp với nền an ninh lương thực như: Đáp ứng được nhu cầu của

cư dân một vùng, hay cả quốc gia một cách ổn định và bền vững Cho dù sự đónggóp của ngành nông nghiệp trong cơ cấu của nền kinh tế giảm một cách tương đối,lực lượng lao động có sự chuyển dịch sang các ngành khác, diện tích canh tác bị thuhẹp,… mà lương thực vẫn đảm bảo và bền vững, thì đó là tình hình an ninh lươngthực cao Sự mở hướng sản xuất trang trại theo mô hình chuyên canh, tăng cườngtrao đổi hàng hóa trên cơ sở hạ tầng nông thôn được cải thiện đáng kể sẽ thúc đẩysản xuất hàng hóa phát triển, thu nhập của người dân được đảm bảo Khả năng đảmbảo an ninh lương thực theo hướng này là hoàn toàn khả thi Bởi vậy kinh tế trangtrại phát triển tức là nông nghiệp phát triển ở mức độ cao, chính điều này làm tăngthêm của cải trong xã hội, tăng vùng phân bố sản xuất của cải vật chất nói chung vàlương thưc noi riêng

* Về môi trường

Do sản xuất kinh doanh tự chủ và vì lợi ích thiết thực, lâu dài của mình màcác chủ trang trại luôn có ý thức khai thác hợp lý và quan tâm bảo vệ các yếu tố môitrường, trước hết là trong phạm vi không gian sinh thái trang trại và sau nữa là trongphạm vi từng vùng Các trang trại ở trung du, miền núi đã góp phần quan trọng vàoviệc trồng rừng, bảo vệ rừng, phủ xanh đồi trọc và sử dụng hiệu quả tài nguyên đấtđai, những việc này đã góp phần tích cực cải tạo và bảo vệ môi trường sinh thái trêncác vùng của đất nước Hiện nay đất mà trang trại sử dụng chiếm rất lớn Cụ thểtính đến năm 2006 đất trồng cây hàng năm là 286.415 ha; đất trồng cây lâu năm là148.058 ha; đất lâm nghiệp 79.701 ha; đất nuôi trông thủy sản là 134.385 ha [10]

Trang 26

Đây là con số khôngnhỏ phục vụ cho việc cải thiện môi trường cũng như bảo vệsinh thái.

Nói chung, trong điều kiện kinh tế thị trường, với yêu cầu công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước, nhất là khi Việt Nam đã là thành viên chính thức của tổ chứcthương mại thế giới (WTO) thì mô hình kinh tế trang trại là một hướng đi đầy triểnvọng cho nông nghiệp Việt Nam Chắc chắn trong tương lai, sự phát triển của nôngnghiệp huyện Đại Từ phải bao gồm cả sự phát triển của mô hình kinh tế tranng trại

2.1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế trang trại

2.1.4.1 Nhóm những yếu tố đến từ bên ngoài

- Chính sách về tín dụng

Để khuyến khích và tạo điều kiện hộ gia đình, cá nhân đầu tư phát triển kinh

tế trang trại, nhất là ở những vùng đất trống đồi núi trọc, bãi bồi, đầm phá ven biển,thực hiện miễn thuế thu nhập cho trang trại với thời gian tối đa theo Nghị định số51/1999/NĐ-CP, ngày 8 tháng 7 năm 1999 của Chính phủ về việc Quy định chi tiếtthi hành Luật khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) số 03/1998/QH10

Theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp thì hộ gia đình và cánhân nông dân sản xuất hàng hóa lớn có thu nhập cao thuộc đối tượng nộp thuế thunhập doanh nghiệp Giao Bộ Tài chính nghiên cứu trình Chính phủ sửa đổi, bổ sungNghị định số 30/1998/NĐ-CP ngày 13tháng 5 năm 1998 của Chính phủ về Quyđịnh chi tiết thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp theo hướng quy định đốitượng nộp thuế là những hộ làm kinh tế trang trại đã sản xuất kinh doanh ổn định,

có giá trị hàng hóa và lãi lớn, giảm thấp nhất mức thuế suất, nhằm khuyến khíchphát triển kinh tế trang trại, được nhân dân đồng tình và có khả năng thực hiện

Các trang trại được miễn giảm tiền thuê đất theo quy định của pháp luật vềđất đai khi thuê đất trống, đồi núi trọc, đất hoang hoá để trồng rừng sản xuất, trồngcây lâu năm và khi thuê diện tích ở các vùng nước tự nhiên chưa có đầu tư cải tạovào mục đích sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp

- Chính sách đất đai

Qua nghiên cứu tác giả thấy rằng, chính sách đất đai mà cụ thể là quy định về

Trang 27

hạn mức sử dụng đất và thời gian sử dụng đất là một nhân tố quan trọng, ảnh hưởngđến sự thành công của trang trại, nhưng nó không hẳn là một yếu tốt bất di, bất dịch,không phải trang trại nào cũng phải có quy mô lớn thì mới thành công Điều quantrọng ở đây là trình độ quản lý của các chủ trang trại phải phù hợp với quy mô trangtrại.

Hiện nay Chính phủ đã có những quyết sách đổi mới và thuận lợi nhiều chophát triển kinh tế trang trại như chính sách giao đất, giao rừng, dồn điền, đổi thửa,điều này tạo đà cho sự phát triển kinh tế trang trại một cách vững chắc và lâu dài.Bên cạnh đó nền kinh tế nông nghiệp nước ta trước đây quá nghèo nàn lạc hậu;chính vì vậy mà việc cải tạo lại những bờ vùng bờ thửa sau khi dồn điền đổi thửa là

vô cùng khó khăn và tốn kém, gây không ít trở ngại cho các chủ trang trại về vấn đềvốn và lao động

Đất đai là yếu tố sản xuất, không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với nôngnghiệp mà còn quan trọng đối với sản xuất công nghiệp và dịch vụ Đất đai là yếu tố

cố định, lại bị giới hạn bởi qui mô, nên người ta phải đầu tư thêm vốn, lao động trênmột đơn vị diện tích nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai [7] Do vậy, để hìnhthành trang trại cần có quỹ đất cần thiết để phát triển trang trại Để làm được điềunày, Nhà nước phải đưa ra được những chính sách về đất đai phù hợp để chủ trangtrại yên tâm sản xuất trên thửa đất được giao

Theo nghị quyết số 03/CP ngày 02/02/2000 thì hộ gia đình có nhu cầu và khảnăng sử dụng đất để phát triển trang trại được nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất

và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (CNQSDĐ)

Thẩm quyền giao đất cho thuê, được áp dụng theo quy định tại Nghị định số85/NĐ-CP ngày 28/08/1999 của Chính phủ về sửa đổi bổ sung một số quy định vềgiao đất nông nghiệp cho một số hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vàNghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính phủ về giao đất, chothuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vàomục đích lâm nghiệp

Mặt khác, theo điều 82 Luật Đất đai năm 2003, đất sử dụng cho kinh tế trangtrại còn được quy định “Nhà nước khuyến khích hình thức KTTT của hộ gia đình,

Trang 28

cá nhân nhằm khai thác có hiệu quả đất đai để phát triển sản xuất, mở rộng quy mô

và nâng cao hiệu quả sử dụng đất trong sản xuất nông, lâm nghiệp,… Nghiêm cấmviệc lợi dụng hình thức KTTT để bao chiếm, tích tụ đất đai không vì mục đích sảnxuất”

- Chính sách lao động

Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện hỗ trợ để các chủ trang trại mở rộngquy mô sản xuất kinh doanh, tạo được nhiều việc làm cho lao động nông thôn, ưutiên sử dụng lao động của hộ nông dân không đất, thiếu đất sản xuất nông nghiệp,

hộ nghèo thiếu việc làm Chủ trang trại được thuê lao động không hạn chế về sốlượng trả công lao động trên cơ sở thoả thuận với người lao động theo quy định củapháp luật về lao động Chủ trang trại phải trang bị đồ dùng bảo hộ lao động theotừng loại nghề cho người lao động và có trách nhiệm với người lao động khi gặp rủi

ro, tai nạn, ốm đau trong thời gian làm việc theo hợp đồng lao động

Đối với địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, chủ trang trạiđược ưu tiên vay vốn thuộc chương trình giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo

để tạo việc làm cho lao động tại chỗ thu hút lao động ở các vùng đông dân cư đếnphát triển sản xuất

Nhà nước có kế hoạch hỗ trợ đào tạo nghề nghiệp cho lao động làm trongtrang trại bằng nhiều hình thức tập huấn, bồi dưỡng ngắn hạn

- Thị trường tiêu thụ sản phẩm

Phải nêu lên các vấn đề: Sản phẩm, đặc điểm sản phẩm nông nghiệp khi tiêuthụ như (tươi sống, khó khăn cho việc bảo quản, sản phẩm nông nghiệp mang tínhthời vụ và có đặc điểm là cung muộn - không thể đáp ứng một cách ngay lập tức, vìđối tượng sản xuất nông nghiệp là những sinh vật sống, nó cần phải có thời giansinh trưởng, phát triển sau đó mới đến bước thu hoạch, do vậy, dù giá nông sản rấtcao, các nông trại phải mất hàng tháng, thậm chí hàng năm mới có được sản phẩm

Đối tượng khách hàng là ai? Khách hàng mua nông sản cũng được phân chiatheo nhiều nhóm đối tượng khác nhau Ví dụ, những khách hàng là những công dâncủa những nước có thu nhập cao, thường họ có yêu cầu khắt khe về chất lượng sảnphẩm và những tiêu chuẩn vệ sinh, tuy nhiên họ thường sẵn sàng trả giá cao khi

Trang 29

mua nông sản Với những nhóm khách hàng có thu nhập thấp, thường thì họ có yêucầu về tiêu chuẩn hàng hoá cũng thấp, giá cả cũng khó chấp nhận ở mức cao Ngoài

ra, chúng ta cần chú ý đến đặc điểm khách hàng từng khu vực châu lục, cũng cónhững đặc điểm yêu cầu về sản phẩm có khi cũng khác nhau Một đặc điểm chú ýnữa với khách hàng là nên quan tâm đến yếu tố văn hoá và đặc điểm tôn giáo màkhách hàng đang tuân thủ

2.1.3.2 Nhóm những yếu tố từ bên trong

- Con người - chủ trang trại

+ Trình độ học vấn:

Chủ trang trại là người lãnh đạo trang trại, đứng đầu trang trại nên phải cókiến thức về chuyên môn và trình độ quản lý nhất định Đây là nhân tố thành côngcốt lõi mang tính phổ biến, trang trại thành công nào cũng có nó

Bên cạnh đó, chủ trang trại còn là người có trách nhiệm với quá trình sảnxuất của mình, phải hiểu được quá trình sản xuất nông nghiệp là quá trình sản xuất

có liên quan đến quá trình sinh học

+ Thông minh, nhạy bén, sáng tạo:

Ngoài trình độ học vấn, các chủ trang trại còn phải có tố chất thông minhbẩm sinh, có thể học và áp dụng có sáng tạo những công nghệ, kỹ thuật tiên tiến

Điều mà phần lớn các trang trại hiện nay chưa có là trình độ quản trị kinhdoanh trang trại, hầu như trong các trang trại công việc kế toán chưa thật sự chuyênnghiệp, còn mang tính chất ghi - chép thu chi trong nông hộ

- Trang trại có 1 cấp quản lý

Thực tế cho thấy các chủ trang trại thành công hiện nay đều trực tiếp quản lý,điều hành trang trại của mình, chỉ thuê lao động kỹ thuật và những công nhân bìnhthường khác, nhưng con số lao động được thuê là rất ít Đây là ưu thế, vì hiện naycác trang trại hầu như có quy mô canh tác không lớn, chủ trang trại có thể kiểm soátquá trình phát triển cây trồng, vật nuôi, khi có biến động giá cả thì ảnh hưởng cũngkhông lớn vì có thể lấy công làm lời

- Lợi thế về đất đai của trang trại và sự lựa chọn mô hình phù hợp

Trang 30

Lợi thế về đất đai lợi thế của vùng đất này so với vùng đất khác về mặt khíhậu, thời tiết, thổ nhưỡng khi trồng cùng một loại cây Điều này có nghĩa là khitrang trại chọn đúng mô hình sản xuất, nuôi trồng cây, con phù hợp thì đã phát huyđược lợi thế địa tô.

Các trang trại thành công là các trang trại đã chọn đúng mô hình sảnxuất, phùhợp với thời tiết, khí hậu; năng lực quản lý, kinh nghiệm của chủ trang trại

Kết quả nghiên cứu cho thấy với những trang trại có quy mô nhỏ thì nên tậndụng diện tích đất bằng cách làm VAC, còn các trang trại có quy mô lớn hơn thì cóthể thực hiện theo chuyên môn hóa

Tóm lại, các yếu tố then chốt giúp các trang trại thành công bao gồm nhữngyếu tố bên ngoài và những yếu tố bên trong và chúng có mối quan hệ mật thiết vớinhau Các yếu tố bên ngoài chỉ phát huy được tác dụng thật sự của nó khi đượcchuyển thành yếu tố bên trong của trang trại Và để chuyển được các yếu tố bênngoài thành các yếu tố bên trong, thì trang trại phải mạnh và nhận thấy được tầmquan trọng của các yếu tố đó Các yếu tố bên trong lớn thì có thể biến các yếu tốbên ngoài trở thành nội lực Ngoài ra tự bản thân các yếu tố cốt lõi bên trong lẫnbên ngoài đều có mối quan hệ tương tác lẫn nhau

Nếu các trang trại chọn đúng mô hình để sản xuất kinh doanh, có thể côngnghiệp hóa, hiện đại hóa quá trình sản xuất kinh doanh của trang trại, thực hiệnđược liên kết giữa các trang trại và liên kết “4 nhà” thì trang trại sẽ dễ dàng tạođược vốn và có thể tiếp cận được với các nguồn vốn từ bên ngoài, từ đó trang trạicũng dễ dàng tiếp nhận được những công nghệ tiên tiến của thế Như vậy, có thể nóiyếu tố bên trong phát triển đến một mức độ nào đó nó sẽ quyết định được các yếu tốbên ngoài

2.1.6 Những tiêu chí xác định kinh tế trang trại

Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT, ngày 13/04/2011 của Bộ nông nghiệp

và phát triển nông thôn về việc thay thế Thông tư liên tịch số TCTK, ngày 13/06/2000 và Thông tư số 74/2003/TTBNN, ngày 04/07/2003 Qua

69/2000/TTLT/BNN-đó đưa ra tiêu chí để xác định kinh tế trang trại như sau:

Trang 31

- Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thủy sản, sản xuất tổng hợp phải đạt:+ Có diện tích trên mức hạn điền, tối thiểu 3,1 ha.

+ Có giá trị sản lượng hàng hóa đạt từ 700 triệu đồng/năm trở lên

- Đối với cơ sở chăn nuôi phải đạt giá trị sản lượng hàng hóa từ 1.000 triệuđồng/năm trở lên, đồng thời thỏa mãn các điều kiện về quy mô đàn như sau:

- Chăn nuôi đại gia súc: Trâu, bò,… chăn nuôi sinh sản, lấy sữa có thườngxuyên từ 20 con trở lên; chăn nuôi lấy thịt có thường xuyên từ 50 con trở lên;trường hợp có cả chăn nuôi sinh sản và lấy thịt thì việc thống kê đầu con được tínhnhư sau: quy đổi theo tỷ lệ 2,5 con thịt bằng 1 con sinh sản và ngược lại

- Chăn nuôi gia súc: Lợn, dê, …; chăn nuôi sinh sản đối với lợn có thườngxuyên từ 30 con trở lên, đối với dê, cừu từ 100 con trở lên; chăn nuôi thịt đối vớilợn có thường xuyên từ 100 con trở lên (không kể lợn sữa), dê cừu thịt từ 300 contrở lên; trường hợp có cả chăn nuôi sinh sản và lấy thịt thì việc thống kê đầu conđược tính như sau: Quy đổi theo tỷ lệ 3 con thịt bằng 1 con sinh sản và ngược lại

- Chăn nuôi gia cầm: Đối với gà, vịt, … thịt: có thường xuyên từ 5.000 contrở lên (không tính số đầu con dưới 7 ngày tuổi); đối với gà, vịt, … đẻ (trứngthương phẩm, con giống, …) có thường xuyên từ 2.000 con trở lên; trường hợp có

cả chăn nuôi đẻ và lấy thịt thì việc thống kê đầu con được tính như sau: quy đổitheo tỷ lệ 2,5 con sinh sản và ngược lại

- Đối với cơ sở chăn nuôi nhiều loại gia súc, gia cầm thì tiêu chí để xác địnhkinh tế trang trại là giá trị sản lượng hàng hóa từ 1.000 triệu đồng/năm trở lên

- Đối với cơ sở sản xuất lâm nghiệp phải có diện tích tối thiểu 31 ha và giá trịsản lượng hàng hóa bình quân đạt 500 triệu đồng/năm trở lên

- Đối với trang trại nuôi trồng thủy sản theo hình thức lồng bè thì tiêu chí xácđịnh là giá trị sản lượng hàng hóa đạt từ 700 triệu đồng/năm trở lên

* Về thẩm quyền cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại

UBND huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (sau đây gọi là UBNDcấp huyện) là cơ quan cấp, cấp đổi, cấp lại và thu hồi giấy chứng nhận kinh tế trangtrại

* Hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại gồm

Trang 32

- Đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại thực hiện theo mẫuquy định.

- Bản sao có chứng thực giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc hợp đồngthuê đất để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản Đối với diện tích đất cánhân, hộ gia đình đang sử dụng nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận

2.1.7 Các văn bản pháp lý liên quan đến nội dung thực tập

2.1.7.1 Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP Ngày 02 tháng 02 năm 2000 của Chính Phủ

về kinh tế trang trại.

2.1.7.2 Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK Ngày 23 tháng 6 năm 2000 của Liên bộ NN & PTNT – Tổng cục thống kê hướng dẫn tiêu chí để xác định kinh

2.2.1 Tình hình phát triển kinh tế trang trại trên thế giới

* Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở một số nước Châu Á

Ở Châu Á, chế độ phong kiến kéo dài cho nên kinh tế trang trại sản xuấthàng hóa ra đời chậm hơn Tuy vậy, vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX sự xâmnhập của tư bản phương tây vào các nước Châu Á, cùng với việc xâm nhập củaphương thức sản xuất kinh doanh tư bản chủ nghĩa, đã làm nẩy sinh hình thức kinh tếtrang trại trong nông nghiệp Trong quá trình phát triển kinh tế trang trại ở các nướctrên thế giới đã có những biến động lớn về quy mô, số lượng và cơ cấu trang trại

“Đặc biệt các nước vùng Đông Á như: Đài Loan 0,047 ha/người, Malaixia 0,25 ha/người, Hàn Quốc 0,053 ha/người, Nhật Bản 0,035 ha/người,… các nước có

Trang 33

nền kinh tế phát triển như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan sự phát triển kinh tế trang trại cũng theo quy luật, số lượng trang trại giảm và quy mô diện tích tăng Ví dụ: Ở Nhật Bản năm 1950 số lượng trang trại là 6.176.000 trang trại đến năm 1993 chỉ còn 3.691.000 trang trại và diện tích bình quân năm 1950 là 0,8 ha, năm 1993 tăng lên là 1,38 ha” [9].

Do bình quân ruộng đất thấp nên ở một số nước và lãnh thổ Châu Á, Nhànước đã quy định mức hạn điền với nông dân như ở Nhật Bản, Hàn Quốc (khôngquá 3 ha) Ấn Độ (không quá 7,2 ha) Ở Nhật Bản năm 1990 số trang trại dưới 0,5 hachiếm 41,9%, từ 0,5% ha đến 1 ha chiếm 30,7% trên 1 ha chiếm 25,6% Ở HànQuốc năm 1985 diện tích trang trại dưới 0,5 ha, chiếm 29,7%; từ 0,5 đến 1 ha chiếm34,7% trên 1 ha, chiếm 35,6% [6], [9]

Như vậy ở Châu Á nói chung hiện tượng tích tụ ruộng đất diễn ra chậm trongvấn đề phát triển kinh tế trang trại Trong sự phát triển kinh tế trang trại gia đình,vấn đề tích tụ ruộng đất để mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh không chỉ chịu sựtác động từ cạnh tranh, phân hóa mà còn chịu tác động từ chính sách luật pháp củaNhà nước

Ngành sản xuất nấm ăn đã hình thành và phát triển trên thế giới hàngtrăm năm Hiện nay người ta đã biết 2000 loài nấm ăn được, trong đó có 80 loàinấm ăn ngon và đang được nghiên cứu nuôi trồng nhân tạo Việc nghiên cứu vànuôi trồng nấm trên thế giới đang ngày càng phát triển mạnh mẽ, đã trở thành mộtngành công nghiệp thực phẩm thực thụ Sản lượng nấm ăn nuôi trồng năm 2008 đạt

25 triệu tấn nấm tươi

Ở Châu Âu Bắc Mỹ trồng nấm đã trở thành một ngành công nghiệp lớn được

cơ giới hóa toàn bộ nên năng suất và sản lượng rất cao Các loại nấm được nuôi trồngchủ yếu là nấm mỡ, nấm sò theo quy mô dây chuyền công nghiệp chuyên môn hóa cao độ: Các nhà máy chuyên xử lý nguyên liệu, đã sử dụng robot trong khâu nuôi trồng, chăm sóc và thu hái nấm

Trang 34

Nhiều nước ở Châu Á trồng nấm còn mang tính thủ công, năng suất không cao,nhưng sản xuất gia đình, trang trại với số đong nên sản lượng rất lớn chiếm 70% sảnlượng trên toàn thế giới Các nước Đông Bắc như Hàn Quốc, Nhật Bản và vùnglãnh thổ Đài Loan áp dụng kỹ thuật tiên tiến và công nghiệp hóa trong nghề nấm đã

có mức tăng trưởng hàng trăm lần trong vòng 10 năm, Nhật Bản có nghề trồng nấmtruyền thống là nấm Hương mỗi năm đạt gần hàng triệu tấn Hàn Quốc nổi tiếng vớinấm Linh Chi mỗi năm xuất khẩu thu về hàng triệu đôla

Nhìn chung nghề trồng nấm phát triển mạnh và rộng khắp nhát trong 20 nămgần đây Sản xuất nấm đem lại nguồn thực phẩm, tạo việc làm tại chỗ, vệ sinh môitrường đồng ruộng, hạn chế việc đốt rơm rạ, đốt phá rừng tạo ra nguồn phân bónhữu cơ co cải tạo đất, góp phần tích cực vào chu trình chuyển hóa vật chất

2.2.2 Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam

Ở nước ta cũng đã có những trang trại và mô hình trồng nấm thành công Đemlại hiệu quả kinh tế cao cho người nông dân như:

Mô hình trồng nấm linh chi của anh Hoàng Văn Nguyên ở huyện Triệu Sơn,tỉnh Thanh Hóa mỗi năm thu lãi hơn 200 triệu đồng.(nguồn: báo thanh niên)

Mô hình trồng nấm sò của ông Phạm Xuân Toàn ở huyện Kỳ Sơn, tỉnh HòaBình mỗi năm thu lãi hơn 300 triệu đồng.(nguồn: Hội nông dân Việt Nam)

Hay cô gái trẻ Nguyễn Thị Thùy Linh (thôn Tiên Kha, xã Tiên Dương, huyệnĐông Anh, Hà Nội) trồng nấm rơm, nấm sò, nấm mỡ đem lại thu nhập gần 1 tỷđồng mỗi năm

Số lượng trang trại tại Việt Nam tăng nhanh và có sự chuyển đổi loại hình rõ nétKinh tế trang trại phát triển nhanh về số lượng ở hầu hết các vùng trong cả nước, đến thời điểm 01/7/2016 cả nước có 33.488 trang trại, tăng 13.460 trang trại (tăng67,2%) so với năm 2011 Từ năm 2011 đến năm 2016 bình quân mỗi năm số lượng trang trại của cả nước tăng hơn 13% Trong đó, vùng Đồng bằng sông Hồng có số

Trang 35

lượng trang trại tăng mạnh nhất (tăng 6.435 trang trại) chiếm gần một nửa số trangtrại tăng thêm trong vòng 5 năm qua của cả nước [15].

Số lượng trang trại tăng tập trung chủ yếu ở loại hình trang trại chăn nuôi,tăng 14.521 trang trại (gấp 3,3 lần) so với cùng kỳ năm 2011 Trong vòng 5 nămqua, bình quân mỗi năm trang trại chăn nuôi tăng hơn 45% Số lượng trang trại thủysản giảm mạnh, giảm 2.172 trang trại (giảm 48%) so với năm 2011, giảm trung bìnhgần 10% mỗi năm

Đến ngày 01/7/2016, cả nước có 9.216 trang trại trồng trọt, chiếm 27,5%trong tổng số trang trại của cả nước; 20.869 trang trại chăn nuôi, chiếm 62,4%; 112trang trại lâm nghiệp, chiếm 0,3%; 2.350 trang trại nuôi trồng thủy sản, chiếm 7%

và 941 trang trại tổng hợp, chiếm 2,8%

Trang trại sử dụng nhiều đất đai, tạo công ăn việc làm cho người lao độngĐến thời điểm 01/7/2016, các trang trại sử dụng 187 nghìn ha diện tích đấtsản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng 35,9 nghìn ha so năm 2011 Trong đó,

có 60 nghìn ha đất trồng cây hàng năm; 79,5 nghìn ha đất trồng cây lâu năm; 17,6nghìn ha đất lâm nghiệp và 29,8 nghìn ha đất nuôi trồng thủy sản Bình quân 1 trangtrại sử dụng 5,6 ha đất sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Các trang trại đã sử dụng 134,7 nghìn lao động làm việc thường xuyên, tăng

40 nghìn lao động (tăng 42,4%) so với năm 2011 Trong đó, lao động của hộ chủtrang trại là 75,8 nghìn người, chiếm 56,3% tổng số lao động, còn lại là lao độngthuê mướn thường xuyên Bình quân 1 trang trại sử dụng 4,0 lao động thườngxuyên Số lượng lao động bình quân 1 trang trại giảm so với năm 2011 (năm 2011

là 4,7 lao động) do các trang trại đã áp dụng khoa học kỹ thuật, đưa máy móc thiết

bị vào phục vụ các khâu trong sản xuất, bên cạnh đó việc gia tăng số lượng trangtrại chăn nuôi, loại hình trang trại sử dụng ít lao động hơn các loại hình trang trạikhác (trồng trọt, nuôi trồng thủy sản)

Trang trại tạo nhiều giá trị sản phẩm hàng hóa nông, lâm nghiệp và thủy sảnTổng thu từ sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản của các trang trại năm

2016 đạt 93.098 tỷ đồng, tăng 54.007 tỷ đồng (tăng 138,2%) so với năm 2011 Bình

Trang 36

quân 1 trang trại đạt 2.780 triệu đồng, tăng 828 triệu đồng (tăng 42,4%).

* Kinh tế trang trại ở Vĩnh Phúc

Năm 2011, cả nước có 135.437 trang trại, trong đó tập trung ở hai vùng chính

là Đồng bằng Sông Cửu long và Đồng bằng Sông Hồng Riêng tỉnh Vĩnh Phúc có1.327 trang trại (Năm 2013 chỉ có 105 trang trại) Về cơ cấu loại hình chủ yếu làtrang trại tổng hợp, chiếm 53,4% tổng trang trại toàn tỉnh, sau đó đến trang trại chănnuôi chiếm 30,1% [8]

Hiện nay, trang trại gia đình chiếm tỷ lệ cao nhất 77,5%, người chủ trang trạihầu hết là nông dân đang sống ở nông thôn, họ là người trực tiếp điều hành và thamgia sản xuất trong trang trại của mình Trang trại liên doanh chiếm tỷ lệ tương đốilớn (10%), tiếp theo là các loại hình trang trại cá nhân (7,5%), các loại hình trangtrại nhà nước và trang trại đi thuê để sản xuất chiếm khoảng 2,5% cho mỗi loại [12]

Theo địa bàn quản lý, hiện nay trên địa bàn toàn tỉnh, Yên Lạc và TamDương là địa phương có tỷ lệ trang trại nhiều nhất (14,17%), Lập Thạch, Vĩnh Yên(13,33%) [8]

Số liệu khảo sát cho thấy rằng hiện nay các trang trại mới chỉ tập trung đếnkhâu sản xuất ra sản phẩm, chưa chú ý nhiều đến khâu phân phối sản phẩm hiệuquả Chỉ có 14,17% trang trại có đăng ký kinh doanh, 7,5% trang trại chưa có cửahàng tiêu thụ sản phẩm, còn lại hầu hết các trang trại đều không chủ động được đầu

ra cho sản phẩm [12]

Có thể thấy rằng, kinh tế trang trại ở Vĩnh Phúc hiện phát triển khá nhanh, đadạng về loại hình Tuy nhiên sự phát triển của các trang trại còn mang tính tự phát

do quy hoạch phát triển kinh tế trang trại còn chậm và chất lượng chưa cao

Còn tồn tại một số vấn đề như: Chính sách phát triển kinh tế trang trại; việchướng dẫn trình tự, thủ tục về phát triển kinh tế trang trại còn chậm, thiếu; việc giao

và chứng nhận quyền sử dụng đất cho các trang trại còn chậm; số lao động chưanhiều, thiếu lao động chuyên môn đã qua đào tạo; nguồn vốn của các chủ trang trạikhông nhiều; chưa chú trọng đến đầu ra của sản phẩm,

* Kinh tế trang trại ở Hải Dương

Trang 37

Phát triển trang trại ở tỉnh Hải Dương là một trong những kết quả của quátrình chuyển dịch cơ cấu vật nuôi, cây trồng, nâng cao giá trị thu nhập/ha đất nôngnghiệp Cho đến nay, kinh tế trang trại ở Hải Dương đã đạt được nhiều thành tựu,nhưng lại đang đặt ra nhiều vấn đề cần được giải quyết, nhất là trong xu thế hộinhập có nhiều cơ hội làm ăn nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ thất bát, phá sản.

Theo Chi cục Hợp tác xã và Phát triển nông thôn tỉnh Hải Dương, cho đếnnay, toàn tỉnh Hải Dương có 659 trang trại Trong đó có 434 trang trại sản xuất, kinhdoanh tổng hợp; 100 trang trại chăn nuôi lợn và gia cầm; 25 trang trại thuỷ sản; 12trang trại trồng cây lâu năm; 60 trang trại trồng cây ăn quả; 1 trang trại trồng câycảnh, Hệ thống các trang trại đang sử dụng gần 1.900 ha đất, bình quân, mỗi trangtrại sử dụng 2,87 ha và đấu tư cho sản xuất, kinh doanh trên 221 triệu đồng Cáctrang trại đang sử dụng trên 3.280 lao động

Bình quân mỗi trang trại sử dụng 5 lao động Doanh thu của trang trại năm

2006 ước đạt trên 158 tỷ đồng

Tuy nhiên, trang trại ở Hải Dương phần lớn đang trong giai đoạn hoàn thànhxây dựng cơ bản Bởi vì phần lớn trang trại chỉ được lập trên cơ sở tận dụng đấtthùng vũng, vượt lập ruộng một vụ bấp bênh Hầu như không có trang trại được lập

trên đất “nhất đẳng điền” Hệ thống trang trại ở Hải Dương lại chưa có loại sản

phẩm chủ yếu, làm chủ trên thị trường bằng thương hiệu

Quy mô trang trại bé, thu nhập từ 24 triệu đến 35 triệu đồng/năm vẫn chiếm

tỷ lệ lớn trong số các trang trại

* Kinh tế trang trại ở Thái Nguyên

Đặc trưng nói chung về kinh tế trang trại ở tỉnh Thái Nguyên, là đều đượchình thành do tính tất yếu khách quan, do xu thế của của nền kinh tế sản xuất hànghoá, cùng với chủ trương đổi mới cơ chế quản lý nông nghiệp, chủ trương phát triểnkinh tế đa thành phần và đặc biệt coi trọng kinh tế hộ nông dân, là thành phần kinh

tế chủ yếu trong nông nghiệp

Kinh tế trang trại Thái Nguyên chia làm 3 vùng:

- Vùng cao:

Trang 38

Kinh tế trang trại vùng núi cao phát triển kém nhất trong ba vùng, chủ yếu là

tự phát, các loại hình trang trại thiên về xu hướng lâm nghiệp, và trồng cây lâu năm,trang trại lâm nghiệp chiếm 33,7%, trồng cây lâu năm 10,4%, chăn nuôi chiếm39%, có ba loại hình trang trại chiếm tỷ lệ ít nhất chưa đến 3% đó là trang trại nuôitrồng thủy sản và trang trại trồng cây ăn quả và cây hàng năm Chủ trang trại chủyếu là nông dân, trình độ về mọi mặt đều thấp, không mạnh dạn đầu tư, cụ thể bìnhquân mỗi trang trại chỉ có chi phí là 78.172.000 đồng thấp hơn hẳn so với các vùngkhác Chính những yếu tố trên đã ảnh hưởng lớn đến kết quả sản xuất kinh doanhcủa trang trại, thu nhập bình quân trên trang trại là 33.485.000 đồng

- Vùng thấp:

Kinh tế trang trại vùng thấp phát triển mạnh mẽ nhất, tuy rằng diện tích đấtcác loại giảm, bình quân chỉ có 2,07 ha trên một trang trại chỉ bằng 17,7% diện tíchcủa vùng cao nhưng giá trị sản xuất kinh doanh bình quân của 1 trang trại là285.557.000 đồng tăng 255,7%, thu nhập bình quân trên một trang trại là67.405.000 đồng tăng 201% so với vùng cao Loại hình trang trại chủ yếu vẫn làchăn nuôi chiếm 71,2% Tóm lại vùng này sản xuất kinh doanh có hiệu quả cao hơnnhiều so với vùng núi cao, các yếu tố chủ yếu vẫn là do điều kiện tự nhiên và nhậnthức và trình độ của chủ trang trại Chính những điều đó có tác động lớn đến hiệuquả kinh tế của trang trại ví dụ GO/LĐ là 88.68 triệu đồng, điều này có nghĩa giá trịsản lượng sản xuất ra tính trên một lao động là rất cao bởi vậy cần nhân rộng môhình kinh tế trang trại; VA/LĐ là 20.93 triệu đồng, đồng nghĩa với giá trị tăng thêmmột lao động trên tháng là 1.744.166 đồng; GO/IC là 1.23 lần điều này chứng tỏ tỷxuất hàng hóa bán ra so với một đồng chi phí trong một năm là rất cao đồng nghĩavới số tăng 23%, điều này rất khả thi khi có thể mạnh dạn bằng mọi nguồn lựcnhằm nâng cao vốn đầu tư cho kinh tế trang trại nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất

- Vùng giữa:

Vùng này phát triển chủ yếu loại hình trang trại chăn nuôi chiếm tới 76,5%trên tổng số trang trại của vùng Thu nhập bình quân trong vùng đạt 41.176.000đồng có giá trị sản xuất kinh doanh bình quân 225.534.000 đồng, mặc dù diện tích

Trang 39

đất bình quân trên 1 trang trại chỉ chiếm 0,96 ha Giá trị hàng hóa bán ra trên laođộng là rất cao chiếm 70,67 triệu đồng và cao nhất vẫn là trang trại chăn nuôi đạt82,53 triệu đồng Hiện vùng này diện tích đất bình quân trên trang trại rất thấp nênchỉ nên đầu tư vào việc chuyên chăn nuôi gia súc và gia cầm, tiện cho việc cung cấpsản phẩm cho vùng Thành phố, vùng này chiếm rất nhiều ưu thế như: cơ sở hạ tầngthuận lợi, tiếp cận với khoa học kỹ thuật, điều kiện tiêu thụ sản phẩm dễ dàng, việchuy động lao động nhàn dỗi rất đơn giản chứ không như vùng núi cao.

Như vậy, kinh tế trang trại đang ngày càng trở nên phổ biến rộng khắp mọivùng kinh tế của đất nước từ đồng bằng, trung du, miền núi đến ven biển và ngàycàng chứng tỏ là loại hình tổ chức kinh tế có hiệu quả trong nông nghiệp, nôngthôn Kinh tế trang trại khá đa dạng về quy mô, loại hình sản hiệu quả kinh tế, xãhội, môi trường sinh thái rõ rệt nhờ phát huy tốt nội lực, khai thác mọi nguồn tiềmnăng và cơ hội để phát triển Kinh tế trang trại đã biến những vùng đất hoang, khôcằn hoặc ngập úng quanh năm thành những vùng kinh tế trù phú, đầu tư cao, tạoviệc làm, tăng của cải vật chất cho mình, cộng đồng và cho xã hội

Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đạt được, thực tế phát triển kinh tếtrang trại ở Việt Nam đang đặt ra nhiều vấn đề đòi hỏi Nhà nước, các cấp, các ngành

và các chủ trang trại phải quan tâm giải quyết như những mặt yếu kém của quá trìnhnày Đó là vấn đề việc làm ở nông thôn do tích tụ ruộng đất, tranh chấp đất đai, phárừng nguyên sinh, rừng ngập mặn làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái bềnvững và lợi ích của các đối tượng trong xã hội trước mắt và tương lai

Trang 40

Phần 3 KẾT QUẢ THỰC TẬP

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu

3.1.1 Điều kiện tự nhiên của xã Quyết Thắng

3.1.1.1 Vị trí địa lý

Quyết Thắng là xã nằm ở phía tây của Tp Thái Nguyên được thành lập

Theo quyết định số 14/2004/NĐ-CP ngày 1/9/2004 của chính phủ, có tổngdiện tích tự nhiên là 1.115,52 ha, dân số 9.645 người (năm 2012)

- Phía Bắc giáp xã Phúc Hà, phường Quan Triều;

- Phía Đông Bắc giáp phường Quang Vinh;

- Phía Nam giáp Thịnh Đức;

- Phía Nam Tây Nam giáp xã Phúc Triều;

- Phía Đông giáp phường Thịnh Đán;

- Phía Tây giáp xã Phúc Xuân

Vị trí của xã nằm gần trung tâm thành phố, có đường Hồ Núi Cốc (tỉnh lộ260) chạy qua đã tạo điều kiện tương đối thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế, vănhóa- xã hội với các xã khác trong thành phố, thuận lợi phát triển nông nghiệp theohướng hàng hóa

Địa hình tương đối bằng phẳng, đất đai màu mỡ, khí hậu thuận lợi cho việcphát triển nhiều loại giống cây trồng, thuận lợi phát triển sản xuất nông nghiệp theohướng hàng hóa, tập trung thành các vùng chuyên canh lớn, sản xuất lương thực,thực phẩm, cây công nghiệp ngắn ngày và rau mầu, hoa cây cảnh có giá trị kinh tếcao

Hệ thống giao thông nông thôn tương đối hoàn chỉnh tạo điều kiện thuận lợicho việc lưu thông hàng hóa và đi lại của người dân

Quyết Thắng là xã ít chịu ảnh hưởng của các hoạt động công nghiệp nênmôi trường trong lành, là điều kiện thuận lợi để xây dựng các khu đô thị theohướng sinh thái

Được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng ủy, UBND xã, nhân dân xã QuyếtThắng cần cù, chịu khó, ham học hỏi, sáng tạo và đoàn kết, có đội ngũ cán bộ nhiệt

Ngày đăng: 08/03/2019, 10:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w