1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao thành phố viêng chăn cộng hoà dân chủ nhân dân lào

234 112 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 234
Dung lượng 4,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHDCND Lào đã và đang từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới,tếp cận với trình độ khoa học công nghệ cao nên đòi hỏi một lực lượng laođộng có trình độ cao để đáp ứng yêu cầu làm việ

Trang 1

PHÍT SA MÁY BUNVILAY

PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO Ở THÀNH PHỐ VIÊNG CHĂN, CỘNG HÒA

DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

PHÍT SA MÁY BUNVILAY

PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO Ở THÀNH PHỐ VIÊNG CHĂN, CỘNG HÒA

DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

Chuyên ngành : Quản lý kinh tế

Mã số : 62 34 01 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS TS NGUYỄN THỊ HƯỜNG

2 TS LÊ VĂN CHIẾN

HÀ NỘI - 2014

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả số liệu nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, chính xác của các cơ quan chức năng đã công bố Những kết luận khoa học của luận án là mới và chưa có tác giả công bố trong bất cứ công trình khoa học nào.

Tác giả luận án

Phít Sa Máy Bunvilay

Trang 4

ở Thành phố Viêng Chăn giai đoạn đến 2020 130

nhân lực 6

1.2 Những công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực chất lượng cao

và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 191.3 Kết quả nghiên cứu liên quan đến luận án và hướng nghiên cứu

của luận án 26

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

CHẤT LƯỢNG CAO 292.1 Nhận thức chung nguồn nhân lực chất lượng cao 292.2 Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 432.3 Kinh nghiệm quốc tế và bài học rút ra cho Thành phố Viêng

Chăn, nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào về phát triển

nguồn nhân lực chất lượng cao 60

Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO

Ở THÀNH PHỐ VIÊNG CHĂN, CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO GIAI ĐOẠN 2005 ĐẾN NAY 733.1 Khái quát về tnh hình kinh tế - xã hội có ảnh hưởng đến phát

triển nguồn nhân lực chất lượng cao 7733.2 Thực trạng nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực chất

lượng cao ở Thành phố Viêng Chăn giai đoạn 2005 đến nay 833.3 Đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở

Thành phố Viêng Chăn 105

Chương 4: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT TRIỂN NGUỒN

NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO Ở THÀNH PHỐ VIÊNG CHĂN, CỘNG HÕA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

ĐẾN NĂM 2020 116

4.1 Định hướng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Thành phố

Viêng Chăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào đến năm 2020 1164.2 Giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Trang 5

ADB : Ngân hàng Phát triển Châu Á AFTA

: Khu vực thương mại tự do Châu Á ASEAN :

Hiệp hội Đông Nam Á

CHDCND : Cộng hòa Dân chủ Nhân dân

CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CNKT : Công nhân kỹ thuật

CMKT : Chuyên môn kỹ thuật

EU : Liên minh châu Âu

FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài

GDP : Tổng sản phẩm quốc nội

HCM : Hồ Chí Minh

HDI : Chỉ số phát triển con người

HĐND : Hội đồng nhân dân

HRD : Phát triển nguồn nhân lực

ILO : Tổ chức lao động quốc tế IT

: Công nghệ thông tin NDCM : Nhân

dân cách mạng

NNL, CLC : Nguồn nhân lực chất lượng cao

ODA : Hỗ trợ phát triển chính thức

UBND : Ủy ban nhân dân

UNDP : Chương trình phát triển quốc gia thống nhất

USD : Đô-la Mỹ

UNESCO : Tổ chức văn hóa khoa học giáo dục quốc gia thống nhấtWTO : Tổ chức thương mại thế giới

Trang 6

Bảng 3.1: Quy mô và tốc độ tăng trưởng GDP của Thủ đô Viêng Chăn 74 Bảng 3.2: Chuyển dịch cơ cấu theo ngành kinh tế Thủ đô 74 Bảng 3.3: Dân số và nguồn nhân lực ở Thủ đô Viêng Chăn 76 Bảng 3.4: Chỉ số HDI của Lào và thế giới 79

Bảng 3.5:Tình hình lao động và việc làm ở Thủ đô Viêng Chăn

đối với nguồn nhân lực chất lượng cao 104

Bảng 3.9: Số lượng đào tạo nghề trình độ chuyên môn kỹ thuật tại

Thủ đô Viêng Chăn năm 2005 - 2013 108

Trang 7

Biểu đồ 3.1: So sánh cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế ở Thủ

Trang

đô giữa giai đoạn 2006 - 2010 và 2010 - 2012 76

Biểu đồ 3.2: Nguồn nhân lực có chuyên môn kỹ thuật ở Thủ đô 86 Biểu đồ 3.3: Cơ cấu trình độ của cán bộ, giáo viên dạy nghề năm 2013 87 Biểu đồ 3.4: Chuyển dịch cơ cấu trình độ của cán bộ quản lý Thành

phố Viêng Chăn 89

Biểu đồ 3.5: Số lượng đào tạo nghề trình độ chuyên môn kỹ thuật tại

Thủ đô Viêng Chăn năm 2005 - 2013 108

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nguồn nhân lực là tài sản quý giá đối với mỗi quốc gia, vừa là mục tiêu,tền đề, vừa là động lực để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hộithực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Bước vào thế kỷ XXI, trước xu thế phát triển và hội nhập kinh tếquốc tế diễn ra ngày càng mạnh mẽ, nền kinh tế tri thức hình thành

và được coi là một xu hướng phát triển kinh tế chủ yếu của thời đại Trithức, trí tuệ trở thành nguồn gốc và sức mạnh quan trọng nhất quyếtđịnh trình

độ phát triển của mỗi quốc gia Bởi vậy, nguồn nhân lực chất lượng caođóng vai trò quan trọng, là nhân tố quyết định đến sự phát triển và hưngthịnh của đất nước Sự phát triển thần kỳ của nhiều nước ở khu vựcĐông Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và tốc độ tăng trưởng nhanhchóng của các nước ASEAN, Trung Quốc đều phần lớn nhờ vào nguồnnhân lực có chất lượng cao [108] Thực tế cho thấy, các quốc gia côngnghiệp hoá thành công đều phải có chính sách ưu tiên xây dựng và pháttriển đội ngũ nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt trong điều kiện hộinhập quốc tế ngày một sâu rộng

CHDCND Lào đã và đang từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới,tếp cận với trình độ khoa học công nghệ cao nên đòi hỏi một lực lượng laođộng có trình độ cao để đáp ứng yêu cầu làm việc trong môi trường mới.Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, có trình độ chuyên môn và đặcbiệt là có khả năng thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của công nghệsản xuất là yếu tố then chốt thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của CHDCNDLào theo hướng hiện đại và bền vững Do vậy, đầu tư vào con người là cơ sởvững chắc cho sự phát triển nhanh và bền vững trong bối cảnh hiện nay

Trang 9

Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước Lào đã rất quan tâm đến việcxây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Văn kiện Đại hội Đại

biểu toàn quốc lần thứ VIII năm 2006 đã khẳng định: "Con người là yếu tố

quyết định cho sự phát triển và coi con người là đối tượng ưu tiên của

sự nghiệp phát triển Việc phát triển đất nước có hiệu quả hay không, ít hay

nhiều luôn phụ thuộc vào yếu tố con người" [172, tr.56] Song cho đến nay,

đội ngũ lao động chất lượng cao ở CHDCND Lào còn ít, chưa đáp ứng yêu cầuphát triển kinh tế - xã hội của đất nước Vì vậy, phát triển đội ngũ nhân lựcchất lượng cao có đủ năng lực giải quyết các vấn đề phát triển của đấtnước trong bối cảnh hiện nay là một yêu cầu cấp bách

Thành phố Viêng Chăn, nước CHDCND Lào có vị trí chiến lược rấtquan trọng, là trái tim của cả nước; đầu não chính trị, hành chính quốc gia,trung tâm lớn nhất về văn hoá, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc

tế Viêng Chăn là một trong những địa phương có tốc độ phát triển cao vềkinh tế, văn hoá, xã hội so với cả nước Sự phát triển của thành phố phải trởthành động lực lan toả và là đầu tàu lôi kéo sự phát triển của các địaphương khác trong cả nước Muốn vậy, yếu tố có ý nghĩa quyết định chính

là nguồn lực con người

Nhận thức được vai trò quan trọng của nguồn nhân lực nói chung,nguồn nhân lực chất lượng cao nói riêng đối với sự nghiệp công nghiệp hoá,hiện đại hoá, trong những năm gần đây, lãnh đạo các cấp Thành phố ViêngChăn đã xây dựng chiến lược phát triển nguồn lực con người và bước đầu đãđạt được một số thành tựu nhất định Tuy vậy, quá trình thực hiện chiếnlược này vẫn còn nhiều bất cập như: chất lượng nguồn nhân lực chưa đápứng được yêu cầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá; cơ cấu đàotạo chưa hợp lý; đời sống của một bộ phận lao động ở thành phố còn gặpkhông ít khó khăn Do đó, tnh trạng thiếu cán bộ kỹ thuật lành nghề, cán bộquản lý và cán bộ chuyên môn

Trang 10

khác trong các cấp, các ngành đang là vấn đề phổ biến không chỉ của thành phố, mà trở thành vấn đề chung của cả nước.

Do vậy, việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn để tìm ra những giải pháphữu hiệu nhằm phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của quá trìnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoà và hội nhập kinh tế quốc tế trở thành nhiệm vụcấp thiết đối với Viêng Chăn hiện nay Với ý nghĩa đó, nghiên cứu sinh chọn

chủ đề "Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Thành phố Viêng

Chăn, nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào" làm đề tài luận án tiến sĩ kinh

tế

2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục tiêu nghiên cứu của luận án

Trên cơ sở làm rõ lý luận và đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhânlực chất lượng cao ở Thành phố Viêng Chăn, CHDCND Lào để đề xuất giảipháp nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở thành phố đến năm2020

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Để thực hiện những mục tiêu trên, luận án tập trung vào làm rõ các nộidung sau đây:

- Hệ thống hoá và bổ sung cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lựcchất lượng cao

- Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực cao ở một số địaphương của các nước trong khu vực Châu Á Từ đó, rút ra một số bài học kinhnghiệm về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Thành phố ViêngChăn, CHDCND Lào

- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượngcao ở Viêng Chăn từ 2005 đến 2013

Trang 11

chất lượng cao ở Thành phố Viêng Chăn, CHDCND Lào trong bối cảnh hiệnnay và tầm nhìn 2020.

Trang 12

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

- Về nội dung: Luận án nghiên cứu động thái của sự phát triển nguồnnhân lực chất lượng cao và chính sách của thành phố nhằm thúc đẩy sự pháttriển nguồn nhân lực chất lượng cao

- Thời gian nghiên cứu của luận án từ 2005 - 2013 và định hướngđến năm 2020

4 Phương pháp nghiên cứu của luận án

- Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vậtlịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp với nghiên cứu đường lối, chủtrương đổi mới của Đảng, Nhà nước Lào, cùng các phương pháp phân tch,tổng hợp, thống kê, so sánh và tếp cận hệ thống để nghiên cứu và giải quyếtcác vấn đề đặt ra

- Đặc biệt luận án đã sử dụng phương pháp điều tra xã hội học để cónhững đánh giá khách quan về chính sách phát triển nguồn nhân lựccủa Thành phố Viêng Chăn Đồng thời, luận án tham khảo, kế thừa có chọnlọc các kết quả của các nghiên cứu đi trước có liên quan đến đề tài để giảiquyết làm rõ các vấn đề luận án đặt ra

5 Những đóng góp về khoa học của luận án

- Luận án góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhânlực chất lượng cao

Trang 13

- Phân tch và đánh giá một cách toàn diện thực trạng phát triển nguồn

nhân lực của Thành phố Viêng Chăn

- Đề xuất hệ thống giải pháp có tnh khả thi nhằm phát triển nguồnnhân lực chất lượng cao ở Thành phố Viêng Chăn

- Luận án là một công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một cáchnghiêm túc có hệ thống về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao choCHDCND Lào nói chung và Thành phố Viêng Chăn nói riêng

6 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa luận án bao gồm 4 chương, 11 tết

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN

QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

Trong mọi thời đại, nguồn nhân lực luôn đóng vai trò quan trọngnhất đối với sự phát triển của một đất nước Bởi vì, con người không chỉ làmột yếu tố đầu vào của quá trình như các nguồn lực khác mà với khả năng,trình độ của mình con người quyết định mức độ hiệu quả của khai thác và sửdụng các nguồn lực khác Đặc biệt trong thời đại ngày nay, cùng với sự pháttriển nhanh chóng của cách mạng khoa học và công nghệ, nguồn nhân lựcchất lượng cao trở thành nhân tố đặc biệt quan trọng, tạo nên sức mạnh củamỗi quốc gia trong quá trình phát triển

Vai trò quan trọng của nguồn nhân lực nói chung, nguồn nhân lực chấtlượng cao nói riêng đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhàkhoa học, các chuyên gia hoạch định chính sách trên thế giới và ở nướcCHDCND Lào Trong chương này, Luận án sẽ tổng quan một số công trìnhnghiên cứu có liên quan đến nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lựcchất lượng cao

1.1 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU NGUỒN NHÂN LỰC VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

1.1.1 Những công trình nghiên cứu nguồn nhân lực và vai trò của nguồn nhân lực đối với phát triển kinh tế - xã hội

Ngày nay hầu như tất cả các nghiên cứu về nguồn nhân lực đều thốngnhất với nhau ở một luận điểm là nguồn nhân lực ngày càng đóng vaitrò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, vai trò quantrọng này được thể hiện như thế nào, quan trọng đến đâu thì vẫn là vấn

đề còn tranh cãi Đó chính là lý do khiến chủ đề vai trò của nguồn nhân lựctrong phát triển kinh tế - xã hội nhận được sự quan nghiên cứu của nhiềunhà khoa

Trang 15

học, nhiều tổ chức ở tất cả các quốc gia Ngân hàng thế giới (World Bank)

đã tến hành nhiều cuộc điều tra về nhân lực dưới nhiều góc độ tại rất nhiềuquốc gia trên thế giới Trang web của World Bank có thể cung cấp chochúng ta rất nhiều tài liệu về nguồn nhân lực, trong đó có một số ấn phẩm

đáng chú ý như Meetng human resources needs (Đáp ứng các nhu cầu về nguồn nhân lực) của Karen Lashman; Human resources for health policies:a

critical component in health policies (2003), Apr 14 [223], (Nguồn nhân lực

cho chính sách về sức khoẻ: một nhân tố thiết yếu trong các chính sách

về sức khoẻ) của Gilles Dussault và Carl-Ardy Dubois; Managing human

resources in a decentralized context (2010) [224], (Quản lý nguồn nhân lực

trong bối cảnh phi tập trung hoá) của tác giả Amanda E Green; và ngay cả

tờ tạp chí của tổ chức này The World Bank Economic Review, (2005) [199],

cũng là một ấn phẩm có đăng tải rất nhiều bài viết về vấn đề nguồn nhânlực Các tác phẩm này đều phân tch vai trò của nguồn nhân lực với pháttriển kinh tế - xã hội theo các khía cạnh khác nhau Tổ chức văn hoá, khoahọc, giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) cũng rất quan tâm tới vấn đềnguồn nhân lực, thể hiện bằng một loạt các công trình nghiên cứu đã được

xuất bản như: Toward a system of human resources indicators for less

developed countries (1986), [225], (Hướng đến hệ thống chỉ báo nguồn

nhân lực cho các nước kém phát triển) của Zymunt Gostkowski giới thiệumột dự án của UNESCO nghiên cứu về nguồn nhân lực, đưa ra các chỉ sốcho việc nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực và quan hệ giữa nguồn nhânlực với phát triển kinh tế ở các nước chậm phát triển Một công trình khác

của F Harbison, (1993),[202] Educational planning and human resource

development (Kế hoạch giáo dục và phát triển nguồn nhân lực) Công

trình này được coi là một trong những bộ bách khoa toàn thư của UNESCO,trình bày các quan điểm hiện đại về kế hoạch hoá và quản lý giáo dục,nguồn nhân lực, dùng phương pháp hệ thống để phân tch mối liên hệgiữa các yếu tố ảnh hưởng

Trang 16

đến sự phát triển nguồn nhân lực ở các nước đang phát triển.

Ngoài ra, có thể kể đến những ấn phẩm đáng chú ý về chủ đề nguồnnhân lực của tổ chức quốc tế như Chương trình phát triển của Liên hợp quốcUNDP, với những báo cáo hàng năm về tnh hình phát triển con người(Human development report), cung cấp một cách đầy đủ và cập nhật chỉ sốphát triển con người của hầu hết các quốc gia trên thế giới được sắp xếp theothứ tự từ cao xuống thấp Đặc biệt, UNDP đã đề ra 5 nhân tố của sự phát triểnnguồn nhân lực, đó là giáo dục và đào tạo, sức khoẻ và dinh dưỡng, môitrường, việc làm và sự giải phóng con người; trong đó giáo dục và đào tạo là

bộ phận cơ bản nhất, quan trọng nhất để phát triển nguồn nhân lực Một số

tổ chức quốc tế quan trọng khác, như WHO - tổ chức Y tế thế giới cũng cónhững nghiên cứu quan tâm tới nguồn nhân lực từ khía cạnh sức khoẻ; ILO -

Tổ chức Lao động quốc tế cũng phát hành những những ấn phẩm về chủ đềnguồn nhân lực và vấn đề đào tạo (Human development and training, ILO,Geneva, 2003, 2004) [212]

Một số công trình đã nghiên cứu về vai trò của nguồn nhân lực trongphát triển kinh tế - xã hội đã coi nguồn nhân lực như một loại hình vốn, nó

là một yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, góp phần vào sự tăng trưởngcủa một nền kinh tế

Vốn con người là một khái niệm xuất phát từ kinh tế học dùng đểchỉ học vấn, tay nghề, kỹ năng lao động của người lao động Khái niệm này đãđược Adam Smiths chỉ ra từ rất sớm và được nhắc đến thường xuyên trongcác tài liệu kinh tế từ cuối thế kỷ 19 Sự ra đời của khái niệm vốn con ngườiđược xem như sự khai sinh cho một tân lý thuyết về vốn, bởi trước đó, nóiđến vốn người ta chỉ nghĩ đến vốn tài chính Tổng thống Hoa Kỳ Theodore W.Schutlz đã trình bày quan điểm có hệ thống đầu tiên về vốn con người, ôngcho rằng:

Sự thất bại trong sử dụng nguồn vốn con người rõ ràng với tư cách

là một loại hình vốn, một loại phương tện sản xuất và một sản phẩm của đầu

Trang 17

năng

Trang 18

lực mà với nó, theo định nghĩa này, tất cả người lao động đều được trả lương

ngang nhau [209, tr.15]

Tuyên bố của Schultz đã định hình những nét cơ bản cho lý thuyết vềvốn, nó đã được bổ sung, phát triển thêm bởi những nhà kinh tế học khác

như Johnson, Becker Gary S Becker (2010),[200] trong tác phẩm Vốn con

người: Phân tích lý thuyết và kinh nghiệm, liên quan đặc biệt đến giáo dục.

Công trình nghiên cứu về những tác động của đầu tư vào nguồn nhân lựcđến việc làm, thu nhập và do đó đến tăng trưởng kinh tế nói chung Theoông, vốn con người không chỉ là thể lực vốn có mà còn là giá trị bổ sung củangười lao động khi anh ta có được tri thức, kỹ năng và những tài sản hữuích khác đối với các ông chủ lao động trong quá trình sản xuất và trao đổi.Điểm khác biệt quan trọng giữa thể chất và vốn con người là ở chỗ vốn conngười là giá trị phụ trội gắn liền và xuất phát từ chính bản thân người

lao động Do đó, "người lao động có thể trở thành chủ tư bản không phải

từ sự phổ biến của quyền sở hữu tập hợp vốn như trong quan hệ tư bản công nhân mà từ sự thu thập tri thức và kỹ năng có thể đem lại giá trị kinh tế Điều đó có nghĩa là, với tri thức và kỹ năng, người lao động có thể đòi hỏi một giá cao hơn cho sức lao động của họ bỏ ra" [200].

-Trong các lý thuyết về phát triển hiện đại, con người được coi làđộng lực quan trọng nhất của sự phát triển, là yếu tố quyết định việc tổ chức

sử dụng hiệu quả các nguồn lực khác, không dựa trên nền tảng phát triển caocủa nguồn nhân lực thì không thể sử dụng hợp lý, thậm chí có thể làm cạnkiệt, huỷ hoại các nguồn lực khác Các lý thuyết này cho rằng một quốc giamuốn phát triển kinh tế xã hội nhanh và bền vững phải hội đủ 5 yếu tố và 3điều kiện cần thiết Năm yếu tố đó là: con người và nguồn nhân lực; vốn tàichính; khoa học công nghệ; trình độ quản lý; khả năng tếp thị Ba điều kiện

Trang 19

thông, liên kết ở trong nước

Trang 20

với các nước trên thế giới Trong đó, yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế xã

-hội với tốc độ nhanh là con người và khoa học công

nghệ

Nhấn mạnh tầm quan trọng của yếu tố nguồn nhân lực, rất nhiều tácgiả đã lấy ví dụ minh chứng từ sự phát triển kinh tế mạnh mẽ của các nước

khu vực Đông Á Tác phẩm The East Asian Miracle: economic growth and

public policy (Thần kỳ Đông Á: Phát triển kinh tế và chính sách công) của

World Bank (1993) [213], hay bài viết Inequality and growth reconsidered:

lesson from East Asia (Xem xét lại sự bất bình đẳng và tăng trưởng: những

bài học từ Đông Á) của 3 tác giả Nancy Birdsal, David Ross, và RicharchSabot (1995; 1996) [199], đều đi tới một kết luận rằng, một trong nhữngnguyên nhân quan trọng tạo nên thần kỳ Đông Á, khiến cho các nước này

có giai đoạn phát triển kinh tế với tốc độ gấp hai, gấp ba lần các nước pháttriển ở Âu

- Mỹ chính là chính sách phát triển nguồn nhân lực với mức đầu tư và tch

luỹ vốn nhân lực cao ở các nước này Bài viết Asia's four little dragons: a

comparison of the role of education in their development [214] (Bốn con

rồng nhỏ châu Á: một sự so sánh về vai trò của giáo dục trong phát triển)

của Paul Moris (1996; 2000) và Another look at East Asia Miracle (Một cái

nhìn khác về thần kỳ Đông Á) của Ranis G (1996) [215], đều đề cập tớiĐông Á dưới góc độ giáo dục và nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dụctrong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ quá trình xây dựng vàphát triển đất nước Nhiều quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore…

đã trở thành những con rồng Châu Á ở những thập kỷ cuối thế kỷ 20 và tạo

ra sự tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao, phát triển bền vững t rongnhững năm đầu của thế kỷ XXI, cũng là nhờ chiến lược đúng đắn trong việcphát triển nguồn nhân lực quốc gia

Trang 21

khẳng định trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Trong chiếnlược

Trang 22

phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 (Văn kiện đại hội Đảng lần IX), ĐảngCộng sản Việt Nam đã nêu rõ: giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồnnhân lực được coi là một trong những bước đột phá quan trọng.

Trần Văn Tùng, Lê Ái Lâm (1996), Phát triển nguồn nhân lực - kinh

nghiệm thế giới và thực tễn Việt Nam [121] Trong công trình này, các tác giả

đã giới thiệu khái quát về vai trò của nguồn nhân lực ở một số nước trên thếgiới dưới tác động của giáo dục - đào tạo, đồng thời nêu bật vai trò của giáodục - đào tạo trong việc phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam

GS, TS Bùi Văn Nhơn (2006), Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã

hội [86] Cuốn sách này gồm 6 chương, nội dung chính của công trình này tập

trung làm rõ cơ sở tự nhiên hình thành nguồn nhân lực xã hội; vai trò nguồnnhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội; những đặc điểm chủ yếu củanguồn nhân lực Việt Nam; những yêu cầu và các hình thức phát triểnnguồn nhân lực; ý nghĩa của việc sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực xã hộitrong quá trình phát triển của một quốc gia

Phạm Công Nhất (2007), Phát huy nhân tố con người trong phát triển

lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay [81] Trên cơ sở khẳng định phát

triển nguồn lực con người là yếu tố quyết định thành công của sự nghiệpcông nghiệp hoá, hiện đại hoá, tác giả đã nêu thực trạng của nguồn nhân lựcViệt Nam và những định hướng chủ yếu để phát triển nguồn nhân lực cóchất lượng ở Việt Nam hiện nay

Bùi Quang Bình (2009), Vốn con người và đầu tư vào vốn con người [7],

cho rằng, vốn con người là những kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm tch luỹtrong mỗi con người nhờ quá trình học tập, rèn luyện và lao động Nguồnvốn này được khai thác sử dụng trong quá trình người lao động tham gia vàosản xuất và được phản ánh qua năng suất lao động và hiệu quả công việc của

họ Cùng với vốn hữu hình nó tạo ra tài sản của nền kinh tế, nhưng vốn conngười

Trang 23

là phần cấu thành quan trọng nhất trong đó, góp phần vào tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế của mỗi nước.

Đoàn Văn Khái (2005), Nguồn lực con người trong quá trình công

nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam [56] Công trình đã trình bày nội dung,

đặc điểm và tnh tất yếu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam; phântch vai trò của nguồn lực con người - yếu tố quyết định sự nghiệp côngnghiệp hoá, hiện đại hoá; từ đó, đề ra một số giải pháp cơ bản nhằm khaithác và phát triển nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá,hiện đại hoá ở Việt Nam

Trần Thọ Đạt, Đỗ Tuyết Nhung (2008), Tác động của vốn con người

đối với tăng trưởng kinh tế các tỉnh thành phố Việt Nam [31] Công trình đã

phân tch các tác động của vốn con người đến quá trình tăng trưởng kinh tếthông qua việc xem xét các nền kinh tế cấp tỉnh, thành phố của Việt Nam.Mặc dù vốn con người bao gồm cả giáo dục, sức khoẻ cũng như nhiều khíacạnh khác của vốn xã hội nhưng nghiên cứu này chỉ tập trung vào giáo dụccoi nó như là nhân tố cơ bản nhất của vốn con người Tác phẩm cũng chothấy vốn con người là nhân tố quan trọng khi giải thích sự tăng trưởng kinh

tế các tỉnh, thành phố ở Việt Nam cũng như giải thích khoảng cách chênhlệch giữa các vùng kinh tế ở Việt Nam Tác giả cũng đưa ra những kiến nghịchính sách nhằm thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế trong đó nhấnmạnh sự gia tăng đầu tư vào giáo dục, đồng thời, chú ý tới tác động khácnhau của vốn con người ở những vùng kinh tế khác nhau

Cù Chí Lợi (chủ biên) (2009), Tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng

kinh tế tại Việt Nam [70] Trong cuốn sách này, các tác giả trình bày các

nguồn lực tăng trưởng (bao gồm các nguồn vốn đầu tư, nhân lực và cácnguồn lực khác); Thực trạng tăng trưởng kinh tế; Đánh giá và luận giải tăngtrưởng ở Việt Nam (bao gồm các đánh giá chung và trình bày một sốnguyên nhân về

Trang 24

tnh trạng hiệu quả thấp của nền kinh tế; Tăng trưởng kinh tế và vấn đề chấtlượng sống (việc làm, thu nhập, đói nghèo, giáo dục, y tế, chỉ số phát triểncon người và một số vấn đề cần được cải thiện) Nghiên cứu cũng trình bàycác nhân tố tác động tới tăng trưởng ở Việt Nam, dự báo tăng trưởngtrong thời gian tới… Theo các tác giả, Việt Nam trong những năm qua đãkhông tận dụng được lợi thế của thời đại trong việc đẩy cao năng suấtthông qua tác động vào nguồn vốn con người, mô hình tăng trưởng kinh tếcủa Việt Nam chủ yếu là tăng trưởng qua số lượng của các yếu tố đầuvào Vì vậy, nếu không có sự điều chỉnh về mô hình và chất lượng tăngtrưởng thì nền kinh tế Việt Nam hoàn toàn có khả năng đối diện với nguy cơgiảm tăng trưởng.

Ngoài ra, chủ đề vai trò của nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế

- xã hội cũng thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa họcCộng Hoà Dân Chủ Nhân Dân Lào Sỉ Sổm Phon Vông Pha Chăn (2009),

với Phát huy nhân tố con người trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở

Thành phố Viêng Chăn hiện nay" [100]; Đa Von Bút Tha Nu Vông (2011), với Phát huy nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Thủ đô Viêng Chăn hiện nay [29]; Vi La Phăn Sỉ Li Thăm (2011), với Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát triển nguồn nhân lực ở Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào trong giai đoạn mới [127]; Sẳn Xay Nha

Xẻng (2011), với Phát huy vai trò của giáo dục đối với phát triển phụ nữ ở

Thủ đô Viêng Chăn [99] v.v… là những tác phẩm têu biểu mô tả vai trò

của nguồn nhân lực như một yếu tố đầu vào của quá trình phát triển kinh tế

- xã hội của Lào

Nhìn chung, các tài liệu phong phú trên đã cho thấy một bức tranh đadạng, nhiều màu sắc về các nghiên cứu nguồn nhân lực trên thế giới Tất cảcác nghiên cứu ấy đều có một nhận định chung rằng, chính nguồn nhân lực -

Trang 25

trọng nhất

Trang 26

đối với tnh cạnh tranh của một nền kinh tế trong thời đại toàn cầu hoá.

Dù coi nguồn nhân lực là một loại vốn hay là động lực trong phát triển,các công trình nghiên cứu gần đây đều thống nhất cho rằng nguồn nhân lực

là yếu tố quyết định hàng đầu cho sự tăng trưởng và phát triển của mỗi quốcgia Đúng như phát biểu của ngài Federico Mayor [216], Tổng Giám đốc

UNESCO rằng "Nếu có ai hỏi tôi cái gì ngày nay làm nên sự giàu có của các

nước, tôi sẽ trả lời là không phải là khả năng công nghệ hay sức mạnh kinh tế

mà là khả năng của các công dân nước ấy ".

1.1.2 Những công trình nghiên cứu về chính sách của nhà nước nhằm phát triển nguồn nhân lực

Vấn đề nguồn nhân lực dưới khía cạnh quản lý cũng nhận được sựquan tâm khá sâu rộng của các nhà nghiên cứu Charles Greer (2001),

"Strategic human resources management" [217] (Chiến lược quản lý nguồn

nhân lực) phân tch sự tác động qua lại giữa nguồn nhân lực với các chiếndịch quản lý cũng như những định hướng về đầu tư phát triển nguồn nhânlực; Arthur Sherman, George Bohlander và Scott Swell (1997) [218]

"Managing human resources" (Quản lý nguồn nhân lực) với phần tổng quan

về quản lý và phát triển nguồn nhân lực

Cũng đề cập tới vấn đề nguồn nhân lực ở các nước châu Á, nhưngnhững ấn phẩm dưới đây lại quan tâm tới khía cạnh khác của vấn đề, đó lànhững vấn đề xã hội đặt ra đối với quá trình phát triển của các quốc gia đangphát triển, kém phát triển tại châu Á Một số công trình nghiên cứu đáng chú

ý như cuốn Human resource policy and economic development [219] (Chính

sách nguồn nhân lực và phát triển kinh tế), xuất bản vào năm 1990 và tái bảnnăm 1991 của Ngân hàng Phát triển châu Á, đề cập đến chính sách và xuhướng phát triển kinh tế, biến đổi cơ cấu lao động, nguồn nhân lực lao động

ở các nước đang phát triển ở châu Á; cuốn Human resources in development

along the Asian

Trang 27

-Pacific Rim [208], (Nguồn nhân lực trong phát triển ở khu vực Châu Á - Thái

Bình Dương), nghiên cứu các chính sách kinh tế, sự thay đổi dân số, y tế, giáodục, các nước châu Á cũng đã rút ra những bài học về chính sách phát triểnnguồn nhân lực qua khủng hoảng tài chính, tiền tệ năm 1997 Một trongnhững nguyên nhân của cuộc khủng hoảng là do chưa chú ý đúng mức đếnphát huy nội lực trong phát triển, thiếu sự độc lập về trí tuệ và năng lực quản

lý nguồn nhân lực và thị trường lao động tại chính đất nước mình

Tác giả Phạm Minh Hạc (1996), Phát triển giáo dục, phát triển con

người phục vụ phát triển kinh tế- xã hội [40], đã làm rõ vai trò quan trọng của

giáo dục - đào tạo trong việc phát triển con người trong sự nghiệpcông nghiệp hoá, hiện đại hoá và xây dựng hệ thống giải pháp nhằm nângcao chất lượng giáo dục Việt Nam để phục vụ hiệu quả việc phát triển conngười

Mai Quốc Chính (chủ biên) (1996), Nâng cao chất lượng nguồn nhân

lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [13], đã phân

tích vai trò của nguồn nhân lực và sự cần thiết phải nâng cao chất lượngnguồn nhân lực, từ đó đề xuất những giải pháp chính sách chủ yếu nhằmnâng cao chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam đáp ứng yêu cầu CNH, HĐHđất nước

Nguyễn Hữu Dũng (2003), Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở

Việt Nam [18] Trong cuốn sách này, tác giả đã trình bày có tnh hệ thống một

số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến phát triển, phân bố, sử dụngnguồn lực con người trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa ở Việt Nam; đồng thời, đề xuất các chính sách và giải phápnhằm phát triển, phân bố hợp lý và sử dụng có hiệu quả nguồn lực con ngườitrong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam

Trang 28

Ngoài ra, còn một số luận văn Thạc sĩ nghiên cứu về nguồn nhân lựcphục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội tại một số địa phương của ViệtNam Các nghiên cứu này, đã vận dụng lý luận về nguồn nhân lực vào phân

Trang 29

tch, đánh giá thực trạng nguồn nhân lực của các địa phương, từ đó đưa racác giải pháp phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế -

xã hội của các địa phương này trong thời gian tới Tiêu biểu cho hướng

nghiên cứu này là Trương Tuấn Dũng (2009), Nguồn nhân lực cho phát triển

kinh tế tỉnh Hòa Bình [20]; Trần Văn Đỉnh (2010), Nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế

- xã hội tỉnh Hà Giang [35]; Nguyễn Quốc Thanh (2010), Nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội ở thành phố Thanh Hóa [105]; Lê Thị Mai

(2005), Phát triển nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá,

hiện đại hóa ở tỉnh Bến Tre [76].

Xỉ Tha Lườn Khăm Phu Vông (2005), Vai trò của chính sách xã hội đối

với việc phát huy nhân tố con người ở Lào hiện nay [129] Trên cơ sở phân

tích khái quát một số khía cạnh lý luận về nhân tố con người và phát huynhân tố con người, đồng thời làm rõ tầm quan trọng của chính sách xã hộitrong việc phát huy nhân tố con người, công trình đã phân tích rõ thực trạng

và những vấn đề đặt ra trong chính sách xã hội của Lào nhằm phát huy nhân

tố con người, từ đó, nêu phương hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm đổimới chính sách xã hội để phát huy hiệu quả nhân tố con người trong nhữngnăm tiếp theo

Ban Tổ chức Trung ương Đảng nhân dân cách mạng Lào (2002), Chiến

lược phát triển nguồn nhân lực đến năm 2020 [136] Nội dung chính trong

công trình này đề cập một cách khá toàn diện, hệ thống về thực trạng nguồnnhân lực ở nước CHDCND Lào, đặc biệt công trình đã chỉ ra những ưu điểm,hạn chế và bài học kinh nghiệm trong công tác đào tạo phát triển nguồnnhân lực ở nước Lào trước yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Côngtrình cũng đã đưa ra và phân tch một hệ thống các giải pháp nhằm phát triểnnguồn nhân lực của nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào đến năm 2020

Ban Tổ chức Trung ương Đảng nhân dân cách mạng Lào (2007), Công

Trang 30

tác phát triển nguồn nhân lực đối với tám tỉnh miền Bắc và chín tỉnh miền

Trang 31

Trung, Nam nước CHDCND Lào [137] Đề tài thuộc Chương trình Khoa học

Công nghệ cấp Nhà nước giai đoạn 2005 - 2008 Đề tài đã nhấn mạnh và làm

rõ công tác phát triển nguồn nhân lực của CHDCND Lào trong thời gian qua.Trong đó, tập trung các vấn đề như tnh nhân đạo - nhân cách, vấn đềgiáo dục đào tạo, vấn đề phát triển con người Lào trở thành người tốt, cólòng yêu nước, yêu chế độ dân chủ nhân dân, yêu chủ nghĩa xã hội; chínhsách và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; phải đầu tưnhiều hơn nữa vào giáo dục - đào tạo để nâng cao chất lượng các bậc học;phải đảm bảo dịch vụ y tế và bảo hiểm xã hội cho nhân dân các dân tộc Lào,đặc biệt là những người nghèo và gia đình chính sách xã hội; về lao động vàtạo công ăn việc làm phải đầu tư nhiều hơn nữa xây dựng các trường trunghọc chuyên nghiệp trên cả nước Cuối cùng, đề tài đề xuất các giải phápphát triển nguồn nhân lực gồm: chiến lược và chính sách đào tạo nguồnnhân lực có chất lượng và phải dành ngân sách thoả đáng cho chiến lượcnày hơn nữa để đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực ở Lào đáp ứng yêucầu CNH, HĐH đất nước

Xư Lao Xô Tu Ky (2007), Nguồn nhân lực cho công nghiệp hiện đại hóa,

hiện đại hóa ở tỉnh Viênhoáhăn [130] Trong công trình này, tác giả đã trình

bày khái niệm, những yêu cầu về nguồn nhân lực trong quá trình CNH, HĐH;trình bày kinh nghiệm của Việt Nam về phát triển nguồn nhân lực phục vụ sựnghiệp CNH, HĐH Đồng thời, tác giả đã phân tch, đánh giá khá rõ nét thựctrạng nguồn nhân lực ở tỉnh Viêng Chăn, qua đó đề ra mục têu và các giảipháp nâng cao hiệu quả chiến lược phát triển nguồn nhân lực của tỉnh đápứng yêu cầu phát triển của địa phương và đất nước trong giai đoạn mới

Nguyễn Hải Hữu (2011), Một số vấn đề về phát triển nguồn nhân lực ở

Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào [175] Ở đây, tác giả đã nhấn mạnh những

thay đổi cơ bản về nhận thức và tư duy đối với phát triển nguồn nhân

Trang 32

lực trong thời kỳ đổi mới (1986 - 2009) Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh côngcuộc

Trang 33

đổi mới ở CHDCND Lào đã đạt được những thành tựu to lớn, góp phần đưađất nước Lào đi nhanh hơn vào quá trình CNH, HĐH Tuy nhiên, quá trìnhnày cũng gặp không ít khó khăn, thách thức, nhất là vấn đề phát triển nguồnnhân lực Lực lượng lao động qua đào tạo nghề còn thấp chưa đáp ứng đượcnhu cầu phát triển của nền kinh tế, là lực cản đối với sự phát triển củanền kinh tế - xã hội ở nước CHDCND Lào Do vậy, tác giả nhấn mạnh đểquá trình CNH, HĐH được đẩy mạnh và phát triển thì nguồn nhân lực nóichung và nguồn nhân lực chất lượng cao ở CHDCND Lào cần được chú trọngphát triển cả về lượng và chất Đặc biệt, theo tác giả cần có một giải phápđồng bộ để nâng cao hiệu quả công tác phát triển nguồn nhân lực của Làođáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn hiện nay.

Nguyễn Đình Cử (2011), Những giải pháp góp phần thực hiện đột

phá: Phát triển tài nguyên con người nhằm thúc đẩy sự phát triển nhanh và bền vững ở nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào [163] Trong bài viết, tác

giả đã phân tch thực trạng chất lượng dân số, chất lượng nguồn nhânlực nhằm làm rõ vì sao cần phát triển nguồn tài nguyên con người lại đượclựa chọn là một trong những khâu đột phá ở nước Cộng hòa Dân chủ Nhândân Lào Qua đó, tác giả đưa ra một số kết luận về nguyên nhân dẫn đếnchất lượng nguồn nhân lực chưa cao và cuối cùng đề xuất một số giải phápgóp phần thực hiện khâu đột phá nói trên

Đọc Mại Phạ Kạ Xun (2013), Đầu tư Nhà nước phát triển nguồn nhân

lực tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào [174] Công trình đã phân tch, lý

giải một cách khoa học, hệ thống và có tnh thực tễn cao, đáp ứng đượcmục têu đặt ra: đánh giá thực trạng đầu tư của Nhà nước Lào vào phát triểnnguồn nhân lực; đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằmđầu tư phát triển nguồn nhân lực có chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triểncủa đất nước trong thời kỳ phát triển CNH, HĐH và hội nhập quốc tế

Trang 34

Các tác phẩm trên đều đánh giá rất cao vai trò của nguồn nhânlực trong phát triển kinh tế - xã hội đồng thời phân tch, đề xuất các chínhsách phát triển nguồn nhân lực, tạo tiền đề cho phát triển kinh tế ở các quốcgia và các địa phương.

1.2 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO

VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO

1.2.1 Vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao đối với phát triển kinh tế - xã hội

Với những thành tựu vượt bậc của khoa học - công nghệ từ nhữngnăm đầu của thế kỷ XX cho đến nay, nguồn nhân lực chất lượng cao có vaitrò quyết định đối với phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường củanhân loại Do vậy, những nghiên cứu về nguồn nhân lực chất lượng cao vàlàm thế nào để phát triển nguồn nhân lực này là vấn đề được các nhà quản

lý, các tổ chức nghiên cứu và các nhà khoa học đặc biệt quan tâm Trongnhững năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này được côngbố

Bùi Thị Ngọc Lan (2002), Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở

Việt Nam [59] Ở đây, tác giả đã phân tch rõ vị trí, vai trò, chức năng của

nguồn lực trí tuệ - bộ phận trung tâm, làm nên chất lượng và sức mạnh ngàycàng tăng của nguồn nhân lực và là tài sản vô giá của mỗi quốc gia, dân tộc

và của toàn nhân loại Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất những phương hướng

và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy hiệu quả nguồn lực trí tuệ Việt Namtrong công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, lao động trí óc sẽđóng vai trò chủ đạo trong quá trình sản xuất Người lao động trong giai đoạn

hiện nay sẽ được "trí thức hóa" và sẽ trở thành chủ thể của xã hội Vai trò của

tri thức trong phát triển kinh tế - xã hội ngày càng chiếm một vị thế cao hơn

Trang 35

chất

Trang 36

lượng cao là yếu tố mang lại sức mạnh cạnh tranh chủ yếu trên thị trường,

ưu thế về tri thức ở mỗi quốc gia sẽ dần dần thay thế cho ưu thế về vốn,nguồn nguyên liệu và nhân công rẻ

Cuốn sách Xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam phục vụ sự

nghiệp chấn hưng đất nước do GS.TS Nguyễn Văn Khánh (chủ biên) (2010)

[58], là tập hợp các bài tham luận tại hội thảo khoa học có cùng chủ đề Một

điểm chung của các bài viết trong cuốn sách này là quan điểm "Hiền tài là

nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh,

nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn" Như vậy tư tưởng chủ đạo

của cuốn sách là nhân tài hay nguồn nhân lực chất lượng cao là nhân tốquyết định sự phát triển của một đất nước Vì vậy, muốn đất nước phát triểnthì nhất thiết phải phát triển được đội ngũ nhân lực chất lượng cao

Nguyễn Ngọc Tú (2012), Nhân lực chất lượng cao của Việt Nam

trong hội nhập kinh tế quốc tế [116] Trong luận án, tác giả đã nhấn mạnh

tới vai trò quan trọng hàng đầu của nhân lực chất lượng cao trong phát triểnkinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Trong quá trìnhnghiên cứu vai trò, tác động to lớn của nhân lực chất lượng cao tronghội nhập kinh tế quốc tế, thì cũng không thể bỏ qua sự tác động trở lại củahội nhập kinh tế quốc tế đối với việc phát triển nhân lực của đất nước Tácgiả coi nhân lực chất lượng cao là sự cần thiết khách quan trong quá trìnhhội nhập kinh tế quốc tế Đó là đưa kinh tế Việt nam gia nhập phân cônglao động quốc tế, nâng cao khả năng cạnh tranh vào thị trường quốc tế.Như vậy, việc phát triển nhân lực chất lượng cao trong tương lai, phảihướng vào phát triển nhân lực có trình độ đại học, cao đẳng; nhân lựcquản lý hành chính nhà nước; nhân lực khoa học - công nghệ và pháttriển đội ngũ giáo viên đại học và cao đẳng Đây là một khâu đột phá nhằmthực hiện thắng lợi quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 37

Nguyễn Văn Long (2010), Phát huy nguồn nhân lực bằng động lực

thúc đẩy [69], nhấn mạnh trong nền kinh tế tri thức, khi giá trị sản phẩm

hơn

80% là hàm lượng chất xám, tài sản nguồn nhân lực càng được đặt vàomột vị trí quan trọng Thúc đẩy người lao động làm việc hiệu quả là vấn đềhết sức quan trọng trong các tổ chức Người lao động làm việc nhiệt tình,năng suất và hiệu quả công việc cao thì các mục têu của tổ chức sẽ dễ dàngđạt được hơn, từ đó tạo thuận lợi không ngừng phát triển Với quan điểmphát huy nguồn nhân lực bằng động lực thúc đẩy, bài viết xây dựng các luận

cứ góp phần phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự pháttriển nhanh và bền vững

Trên thế giới, các nghiên cứu của Lau, J amison, Liu và Rivkin(1993), nghiên cứu về vốn con người các bang của Brazil [220]; Coulombe

và Trembay (2001), nghiên cứu về về vốn con người các tỉnh của Canada[221]; Leung (2004), nghiên cứu về về vốn con người các tỉnh của TrungQuốc [222],… đều nhấn mạnh vai trò quan trọng của nguồn nhân lực chấtlượng cao đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia Đặc biệt,năm 2005 kết quả nghiên cứu của các chuyên gia Ngân hàng phát triển Châu

Á (ADB: Asean Development Bank) [198, tr.76-77] đã đưa ra cảnh báo

rằng, các quốc gia đang phát triển sẽ có nguy cơ rơi vào 3 cái bẫy kỹ năng

thấp nếu thiếu quan tâm đầu tư vào vốn con người, 3 cái bẫy đó là: (i) Kỹ năng thấp, công việc tồi: các nước đang phát triển nếu cố gắng khai thác lợi

thế so sánh tĩnh dựa vào chi phí tiền lương thấp có thể rơi vào vòng

luẩn quẩn: năng suất lao động thấp - ít đào tạo - thiếu những công việc

yêu cầu kỹ năng - năng lực cạnh tranh thấp đối với những thị trường yêu cầu kỹ năng cao hơn (ii) Kỹ năng thấp, công nghệ thấp: bẫy này gắn

liền với tình huống công nhân không có đủ kỹ năng để làm chủ và vận

Trang 38

hành máy móc thiết bị hiện đại nên máy móc, thiết bị không được khaithác hết công suất,

Trang 39

gây lãng phí Hậu quả là các công ty không có động lực để đầu tư đổi mớimáy móc, thiết bị và nâng cao trình độ công nghệ Do đó, năng suất sẽ

tếp tục giảm Và (iii) Kỹ năng thấp, không có sáng kiến: bẫy này liên quan

đến tình trạng nền kinh tế mà ở đó các công ty không có sáng kiến Bởi lẽ,đội ngũ công nhân với kỹ năng thấp không có nhu cầu tch lũy kiến thức và

kỹ năng thông qua việc đầu tư vào giáo dục - đào tạo [198]

Hậu quả của việc mắc phải 3 cái bẫy trên đây sẽ làm cho nền kinh tế

rơi vào cái vòng luẩn quẩn của đói, nghèo: thiếu kỹ năng - thất nghiệp và

thiếu việc làm - nghèo đói.

Sommad Phonesena (2011), Chiến lược đào tạo và phát triển nguồn

nhân lực để đáp ứng cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội tại Lào [180].

Qua bài viết, tác giả đã phân tch sau hơn hai thập kỷ thực hiện chủ trươngđổi mới, đất nước Lào đang bước sang một giai đoạn phát triển mới, trong

đó, vị thế kinh tế và năng lực không còn đơn thuần phụ thuộc vào sự sẵn cócủa các lợi thế cạnh tranh truyền thống, dựa trên tài nguyên thiên nhiên vàchi phí lao động rẻ Trong giai đoạn mới, yếu tố nguồn nhân lực chất lượngcao, có đủ tri thức và kỹ năng, sẽ giữ vai trò then chốt đảm bảo cho khả năngphát triển, hội nhập thành công của nền kinh tế Để đạt được những mụctêu này, đất nước đối mặt với nhiều thách thức yếu tố địa lý, các mức độphát triển chênh lệch kinh tế - xã hội, và đặc biệt hơn nữa là nâng cao chấtlượng nguồn nhân lực còn yếu kém Để làm được điều này, Nhà nước vànhân dân Lào phải cùng đồng tâm hiệp lực với sự giúp đỡ quốc tế thực hiệntốt các chính sách, đã đề ra trong lĩnh vực giáo dục, y tế và dinh dưỡng đểnâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của giai đoạn pháttriển mới

Tóm lại, với các cách tếp cận không giống nhau nhưng các công trìnhnghiên cứu trên đều khẳng định, nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện

Trang 40

quan trọng để các quốc gia có thể phát triển bền vững Đội ngũ lao độngcó

Ngày đăng: 08/03/2019, 01:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w