1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

pp phân tích hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

18 160 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 242,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vậy hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn... Bản chất của hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh là: Khái niệ

Trang 1

BÁO CÁO SINH HOẠT HỌC THUẬT

Bộ môn Quản trị Kinh doanh CHUYÊN ĐỀ: PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP

Người báo cáo: Võ Đình Quyết

1 Khái niệm về hiệu quả

+ Hiệu quả (Efficiency)

Hiệu quả là sự liên quan giữa nguồn lực đầu vào khan hiếm (như lao động, vốn, máy móc…) với kết quả trung gian hay kết quả cuối cùng Hiệu quả là một phạm trù được sử dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật, xã hội Hiểu theo nghĩa rộng, hiệu quả thể hiện mối tương quan giữa các biến số đầu ra thu được (outputs) so với các biến số đầu vào đã được sử dụng để tạo ra những kết quả đầu ra đó

+ Hiệu quả phân bố (Allocative effciency)

Là khả năng đạt được lợi nhuận tối đa ở một mức giá cho trước với những đầu ra và đầu vào cho trước

+ Hiệu quả kinh tế (Economic effciency)

Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực…) để đạt được mục tiêu xác định

H = K/C (1) Với H: là hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (quá trình kinh tế nào đó); K: là kết quả thu được từ hiện tượng (quá trình) kinh tế đó;

C: là chi phí toàn bộ để đạt được kết quả đó

Và có thể khái niệm ngắn gọn: hiệu quả kinh tế phản ánh chất lượng hoạt động kinh tế và được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó

Quan điểm này đã đánh giá được tốt nhất trình độ sử dụng các nguồn lực ở mọi điều kiện “động” của hoạt động kinh tế Vậy hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn

Trang 2

lực (lao động, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu và tiền vốn) nhằm đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đã xác định

Bản chất của hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh là:

Khái niệm hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng đã khẳng định bản chất của hiệu quả kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh là phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, thiết bị máy móc, nguyên nhiên vật liệu và tiền vốn) để đạt được mục tiêu cuối cùng của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận

Tuy nhiên, để hiểu rõ bản chất của phạm trù hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng cần phân biệt ranh giới giữa hai khái niệm hiệu quả và kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh Hiểu kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là những gì mà doanh nghiệp đạt được sau một quá trình sản xuất kinh doanh nhất định, kết quả cần đạt cũng là mục tiêu cần thiết của doanh nghiệp Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp có thể là những đại lượng cân đong đo đếm được như số sản phẩm tiêu thụ mỗi loại, doanh thu, lợi nhuận, thị phần, … và cũng có thể là các đại lượng chi phí phản ánh mặt chất lượng hoàn toàn có tính chất định tính như uy tín của doanh nghiệp, là chất lượng sản phẩm, … Như thế, kết quả bao giờ cũng là mục tiêu của doanh nghiệp Trong khi đó, công thức (1) lại cho thấy trong khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh người ta đã sử dụng cả hai chỉ tiêu kết quả (đầu ra) và chi phí (các nguồn lực đầu vào) để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh

Để tiến hành bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng như thực hiện sự kết hợp giữa lao động với các yếu tố vật chất để tạo ra kết quả phù hợp với

ý đồ của doanh nghiệp và từ đó có thể tạo ra lợi nhuận Như vậy, mục tiêu bao trùm lâu dài của kinh doanh là tạo ra lợi nhuận, tối đa hóa lợi nhuận trên cơ sở nguồn lực sẵn có Để đạt được mục tiêu này, quản trị doanh nghiệp phải sử dụng nhiều phương pháp khác nhau Hiệu quả kinh doanh là một công cụ để các nhà quản trị thực hiện chức năng quản trị của mình Việc xem xét và tính toán hiệu quả

Trang 3

kinh doanh không những chỉ cho biết việc sản xuất đạt ở trình độ nào mà còn cho phép các nhà quản trị phân tích, tìm ra các nhân tố để đưa ra các biện pháp thích hợp trên cả hai phương diện tăng kết quả, giảm chi phí kinh doanh, nhằm nâng cao hiệu quả

Bản chất của phạm trù hiệu quả đã chỉ rõ trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất càng cao, doanh nghiệp càng có khả năng tạo ra kết quả cao trong cùng một nguồn lực đầu vào hoặc tốc độ tăng kết quả lớn hơn so với tốc độ tăng việc sử dụng các nguồn lực đầu vào Đây là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp đạt được mục tiêu lợi nhuận tối đa Do đó xét trên phương diện lý luận và thực tiễn, phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh đóng vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá,

so sánh, phân tích kinh tế nhằm tìm ra một giải pháp tối ưu nhất, đưa ra phương pháp đúng đắn nhất để đạt được mục tiêu lợi nhuận tối đa Với tư cách là một công

cụ đánh giá và phân tích kinh tế, phạm trù hiệu quả không chỉ được sử dụng ở giác

độ tổng hợp, đánh giá chung trình độ sử dụng tổng hợp các nguồn lực đầu vào trong phạm vi hoạt động của toàn doanh nghiệp, mà còn sử dụng để đánh giá trình

độ sử dụng của từng yếu tố đầu vào ở phạm vi toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như ở từng bộ phận cấu thành của doanh nghiệp Nâng cao hiệu quả kinh doanh tức là đã nâng cao khả năng sử dụng các nguồn lực

có hạn trong sản xuất, đạt được sự lựa chọn tối ưu Trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực sản xuất thì nâng cao hiệu quả kinh doanh là điều kiện không thể không đặt ra đối với bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào

Từ công thức định nghĩa về hiệu quả kinh tế, chúng ta thấy khi thiết lập mối quan hệ tỷ lệ giữa “đầu vào” và “đầu ra” sẽ có thể cho một dãy các giá trị khác nhau Vấn đề được đặt ra là trong các giá trị đạt được thì giá trị nào phản ánh tính hiệu quả (nằm trong miền có hiệu quả), các giá trị nào sẽ phản ánh tính hiệu quả cao cũng như những giá trị nào nằm trong miền không đạt hiệu quả

+ Hiệu quả kỹ thuật là khả năng tạo ra một lượng đầu ra cho trước từ một

lượng đầu vào nhỏ nhất hay khả năng tạo ra một lượng đầu ra tối đa từ một lượng đầu vào cho trước, ứng với một trình độ công nghệ nhất định

Trang 4

2 Các quan điểm đánh giá hiệu quả

+ Phương pháp dãy số thời gian để đánh giá hiệu quả

Khái niệm: dãy số thời gian là dãy các trị số của chỉ tiêu thống kê được sắp xếp theo thứ tự thời gian Dãy số thời gian cho phép thống kê học nghiên cứu đặc điểm biến động của hiện tượng theo thời gian vạch rõ xu hướng và tính quy luật của sự biến động, đồng thời dự đoán các mức độ của hiện tượng trong tương lai

+ Kết cấu:

Dãy số thời gian gồm 2 phần: Thời gian và chỉ tiêu của hiện tượng nghiên

cứu

 Thời gian có thể đo bằng ngày, tháng, năm…tùy theo mục đích nghiên cứu Đơn vị thời gian phải đồng nhất trong dãy số thời gian Độ dài thời gian giữa hai thời gian liền nhau gọi là khoảng cách thời gian

 Chỉ tiêu về hiện tượng nghiên cứu là chỉ tiêu được xây dựng cho dãy số thời gian Các trị số của chỉ tiêu được gọi là các mức độ của dãy số thời gian Các trị số này có thể là tuyệt đối, tương đối hoặc bình quân

+ Phương pháp thống kê để đánh giá hiệu quả

Phương pháp này sử dụng các số liệu thống kê để xác định các chỉ số đánh giá Số liệu gồm có số liệu đầu vào (chi phí), số liệu đầu ra (doanh thu) Có hai loại chỉ tiêu đánh giá:

 Dạng thuận: H = Kết quả kinh tế /Chi phí kinh tế = Q/C

Trong đó: H biểu thị mỗi đơn vị đầu vào có khả năng tạo ra bao nhiêu đơn vị đầu ra Chỉ tiêu H được dùng để xác định ảnh hưởng của hiệu quả sử dụng nguồn lực hay chi phí thường xuyên đến kết quả kinh tế

 Dạng nghịch: E = Chi phí kinh tế / Kết quả kinh tế = C/Q

Chỉ tiêu E cho biết để có một đơn vị đầu ra cần bao nhiêu đơn vị đầu vào Chỉ tiêu E là cơ sở để xác định quy mô tiết kiệm hay lãng phí nguồn lực hay chi phí thường xuyên

Trang 5

+ Phương pháp đồ thị: Là phương pháp mô tả bằng đồ thị để có thể so

sánh và đánh giá tính hiệu quả Phương pháp này biểu thị rất trực quan và sinh động

3 Đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp dựa trên phương pháp tài chính

Để đánh giá hiệu quả của Doanh nghiệp dựa trên phương pháp tài chính, người ta sử dụng năm thước đo cơ bản:

+ Tỷ suất lợi nhuận

+ Bảo tồn và phát triển vốn

+ Tình hình tài chính lành mạnh

+ Đóng góp cho ngân sách nhà nước

+ Cải thiện thu nhập cho người lao động

4 Phương pháp phân tích đường bao dữ liệu (Data Envelopment Analysis –

DEA)

Phương pháp phân tích đường bao dữ liệu dùng để xây dựng đường giới hạn sản xuất, được đề xuất đầu tiên bởi Farrell (1957) Farell (1957) phân ra hiệu quả thành hai loại, đó là hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bố

Theo một cách khác, Fare và cộng sự (1958) giới thiệu phương pháp phi tham số để ước lượng hiệu quả phân bố Fare và cộng sự (1985) giới thiệu phương pháp phi tham số để ước lượng hiệu quả giữa các doanh nghiệp với việc mở rộng

mô hình của Farell thông qua nới lỏng các ràng buộc chặt chẽ về hiệu suất không đổi theo quy mô và sự hoán đổi mạnh mẽ các đầu vào – những giả định vốn là điểm yếu trong phương pháp của Farell

Afriat (1972) đề xuất bằng cách dựa vào hàm sản xuất cổ điển (hàm đòi hỏi

sự tương thích, dạng hàm sản xuất, và ngoại sinh) nhưng không cần bất kỳ giả định nào về dạng hàm Phương pháp này được sử dụng với số liệu chuỗi thời gian, được áp dụng trong nhiều nghiên cứu đánh giá hiệu quả kỹ thuật

Theo Coelli (2005), tình trạng này xảy ra cho đến khi khái niệm và phương pháp “phân tích đường bao dữ liệu” được sử dụng trong bài báo của Charnel,

Trang 6

Cooper (1978) Năm 1978, Charnel, Cooper và Rhodes cũng đề xuất một phương pháp với giả thiết tối thiểu hoá đầu vào và với điều kiện kết quả sản xuất không thay đổi theo quy mô

Phương pháp phân tích đường bao dữ liệu (Data Envelopment Analysis – DEA) được phát triển bởi Charnes, Cooper, và Rhodes vào năm 1978 DEA dựa trên cơ sở xây dựng đường giới hạn hiệu quả, tương tự như hàm sản xuất trong trường hợp khi xuất lượng không phải là một đại lượng vô hướng, mà là một

véc-tơ Đường giới hạn hiệu quả có hình dạng màng lồi hoặc hình nón lồi trong không gian của các biến số nhập lượng và xuất lượng Đường giới hạn được sử dụng như

là một tham chiếu đối với các trị số hiệu quả của mỗi DN được đánh giá Tuy nhiên, phương pháp DEA có các đặc trưng như: chỉ cho phép đánh giá hiệu quả tương đối của các DN được đánh giá, tức là hiệu quả giữa chúng so với nhau Mức

độ hiệu quả của các DN được xác định bởi vị trí của nó so với đường giới hạn hiệu quả trong một không gian đa chiều của đầu vào/đầu ra Phương pháp xây dựng đường giới hạn hiệu quả - đó là giải nhiều lần bài toán quy hoạch tuyến tính Đường giới hạn được hình thành giống như những đoạn thẳng kết nối các điểm hiệu quả nhất, nhờ đó tạo thành một đường giới hạn khả năng sản xuất lồi.[8]

Do tính chất phân mảnh, liên tục của đường giới hạn sản xuất phi tham số trong phương pháp DEA có thể dẫn đến vấn đề đo lường thiếu chính xác mức độ hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Vấn đề này phát sinh khi xuất hiện một phần của đường giới hạn sản xuất nằm song song với các trục toạ độ, điều này không xảy ra đối với hầu hết các đường giới hạn sản xuất có chứa tham số

Dựa vào đặc điểm của hệ thống sản xuất, DEA được phân ra thành hai loại

mô hình: tối thiểu hóa đầu vào, với giả định đầu ra không đổi và mô hình tối đa hóa đầu ra, với giả định đầu vào không đổi

Sau này, các bài báo của Fare, Grosskopf và Logan (1983); Banker, Charnes, Cooper (1984) còn đề cập tới một số giả định khác và xây dựng thêm mô hình phân tích đường bao dữ liệu với điều kiện kết quả sản xuất thay đổi theo quy

mô Gần đây, các nhà nghiên cứu bắt đầu nghiên cứu thêm một số mô hình phân

Trang 7

tích DEA mở rộng nhằm khắc phục một số hạn chế của DEA cũng như mở rộng sự ứng dụng của nó trong phân tích kinh tế

Phương pháp phân tích đường bao dữ liệu sử dụng kiến thức về mô hình toán tuyến tính, mục đích là dựa vào số liệu đã có để xây dựng một mặt phẳng phi tham số (mặt phẳng giới hạn sản xuất) Khi đó, hiệu quả hoạt động của các tổ chức, doanh nghiệp sẽ được tính toán dựa theo mặt phẳng này

Mặc dù phương pháp tham số được sử dụng phổ biến, nhưng các phương pháp phi tham số cũng đang được sử dụng ngày càng nhiều khi chúng ta không xác định được dạng công nghệ hoặc dạng hàm sản xuất Điểm nổi bật của phương pháp DEA là nó có thể giải quyết các ràng buộc trong việc xác định dạng sản xuất

và vô số các phương thức phân phối của phần dư Hơn nữa, ước lượng biên sản xuất dựa trên kết quả hiện có sẽ cho ta một đường biên gần với thực tế hơn Phương pháp này có thể áp dụng ở cấp độ doanh nghiệp với nhiều đầu ra Tuy nhiên, phương pháp DEA cũng có những hạn chế của nó Thứ nhất, kết quả ước lượng (cho phần phi hiệu quả) hoàn toàn phụ thuộc vào đặc điểm thống kê của các quan sát Vì vậy, kiểm định thống kê không thể áp dụng được trong phương pháp này Thứ hai, như đã được Sengupta (2002) nêu ra, DEA chỉ xem xét phía cung mà không xem xét phía cầu và những đặc trưng của thị trường Cuối cùng là độ nhạy, Timmer (1971) lập luận rằng DEA rất nhạy cảm với các quan sát cực trị Tức là khi một doanh nghiệp (hoặc một ngành) hoạt động hiệu quả hơn nhiều so với những doanh nghiệp khác, DEA có thể ước lượng quá cao phần phi hiệu quả của

nó Dù có những hạn chế đó, DEA đang ngày càng được sử dụng rộng rãi

Fare và cộng sự (1985) minh chứng rằng việc sử dụng có hiệu quả đầu vào chưa chắc đã nói lên rằng một doanh nghiệp sẽ đạt mức sản lượng hiệu quả Hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bố và nhiều thuật ngữ khác về sản lượng có thể được xem xét tương ứng với những thuật ngữ hiệu quả của đầu vào và ngược lại vì hiệu quả của đầu vào hay sản lượng đều phản ánh các khía cạnh khác nhau của quá trình sản xuất Do vậy, việc xác định loại hiệu quả cũng quan trọng và cần phải được quan tâm Hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bố DEA đã được nghiên cứu, áp

Trang 8

dụng thành công ở nhiều bài báo, công trình nghiên cứu khoa học quốc tế trong lĩnh vực kinh tế Tuy nhiên, các nghiên cứu, ứng dụng DEA ở Việt Nam hiện nay còn hạn chế Bài viết sẽ giới thiệu mô hình DEA cơ bản trong điều kiện kết quả sản xuất không đổi theo quy mô và quy mô ảnh hưởng đến kết quả sản xuất

Phương pháp phân tích bao số liệu (DEA) – phương pháp phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất của các tổ chức, doanh nghiệp đã được nghiên cứu, sử dụng khá nhiều trong các bài báo, công trình nghiên cứu khoa học quốc tế về kinh

tế Tuy nhiên, ở Việt Nam đặc biệt trong lĩnh vực thủy sản, phương pháp này vẫn còn tương đối mới, chưa được tiếp cận, áp dụng nhiều trong các nghiên cứu đánh giá hiệu quả hoạt động của các tổ chức, doanh nghiệp Do tài liệu trong nước về phương pháp luận của phương pháp DEA đến nay hầu như chưa có, nên trích dẫn

về tài liệu tham khảo chủ yếu là tài liệu nước ngoài

Phương pháp phân tích đường bao số liệu sử dụng kiến thức về mô hình toán tuyến tính, mục đích là dựa vào số liệu đã có để xây dựng một mặt phẳng phi tham số (mặt phẳng giới hạn sản xuất) Khi đó, hiệu quả hoạt động của các tổ chức, doanh nghiệp sẽ được tính toán dựa theo mặt phẳng này

Phương pháp phân tích đường bao dữ liệu nói trên có ưu điểm là áp dụng được cho nhiều lĩnh vực (chỉ cần có thể xác định được giá trị của yếu tố đầu vào

và đầu ra mà không bắt buộc phải có thêm các thông tin cụ thể khác) và có thể được thực hiện trong phạm vi hẹp (kích thước mẫu nhỏ) Các lĩnh vực thường ứng dụng phương pháp này trong phân tích hiệu quả là giáo dục, y tế, tài chính - ngân hàng, bảo hiểm,…

Phương pháp phân tích bao số liệu (DEA) - phương pháp phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất của các tổ chức, doanh nghiệp đã được nghiên cứu, sử dụng khá nhiều trong các bài báo, công trình nghiên cứu khoa học quốc tế về kinh

tế Tuy nhiên, ở Việt Nam đặc biệt trong lĩnh vực thủy sản, phương pháp này vẫn còn tương đối mới, chưa được tiếp cận, áp dụng nhiều trong các nghiên cứu đánh giá hiệu quả hoạt động của các tổ chức, doanh nghiệp DEA đã được nghiên cứu,

áp dụng thành công ở nhiều bài báo, công trình nghiên cứu khoa học quốc tế trong

Trang 9

lĩnh vực kinh tế Tuy nhiên, các nghiên cứu, ứng dụng DEA ở Việt Nam hiện nay còn hạn chế

Như đã được mô tả trong nghiên cứu của Fare và các cộng sự (1994), công nghệ sản xuất tương ứng với mô hình tuyến tính có thể được xác định là: Fare và cộng sự đã chỉ ra rằng, công nghệ này là tập hợp các khả năng sản xuất, được thể hiện là một miền có tính chất là một miền đóng, hàm lồi, kết quả sản xuất không đổi theo quy mô và mang tính chất: không cắt bởi các trục toạ độ

- Phương pháp đường bao dữ liệu theo mô hình tối thiểu hóa đầu vào

Để mô tả vấn đề này, lấy ví dụ giả định với 2 đầu vào là x1, x2 và một đầu ra

là y (theo hình 1.1) Các doanh nghiệp A, B, C và D nằm trên đường giới hạn hiệu quả SS’ là các doanh nghiệp đạt hiệu quả Mức độ phi hiệu quả kỹ thuật được phản ánh bằng khoảng cách từ B đến P Tỷ lệ TE= OB/OP thể hiện hiệu quả kỹ thuật của doanh nghiệp P , nghĩa là có thể giảm chi phí đầu vào của DN P mà không làm ảnh hưởng đến đầu ra Theo định nghĩa, các mức độ hiệu quả này nằm trong giới hạn từ

0 đến 1

- Phương pháp đường bao dữ liệu theo mô hình tối đa hóa đầu ra

x 2 /y

x 1 /y

S

S’

A B

C

D P

Hình 1.1 Mô hình DEA tối thiểu hoá đầu vào

O

Trang 10

y1/x

P

Hình 1.2 Mô hình DEA tối đa hoá đầu ra

O

Hiệu quả kỹ thuật được coi là khả năng của một ngành trong việc sản xuất tối

đa đầu ra trong điều kiện đầu vào cho trước Trong trường hợp của mô hình DEA tối

đa hóa đầu ra lấy ví dụ giả định với 2 đầu ra là y1, y2 và một đầu vào là x (hình 1.2) các doanh nghiệp A, B, C và D nằm trên đường giới hạn hiệu quả SS’ là các doanh nghiệp đạt hiệu quả Mức độ phi hiệu quả kỹ thuật được phản ánh bằng khoảng cách

từ P đến P’ Tỷ lệ TE= OP/OP’ thể hiện hiệu quả kỹ thuật của doanh nghiệp P, nghĩa

là có thể tối đa hóa đầu ra của doanh nghiệp P mà không làm ảnh hưởng đến đầu vào Theo định nghĩa, các mức độ hiệu quả này nằm trong giới hạn từ 0 đến 1

- Mô hình quy mô không ảnh hưởng đến kết quả sản xuất DEA CRS và quy mô ảnh hưởng đến kết quả sản xuất DEA VRS

Như đã nêu phương pháp DEA xây dựng duy nhất một đường biên thực hành tốt nhất cho mỗi ngành Việc đo lường hiệu quả kỹ thuật thường liên quan đến hiệu quả kỹ thuật toàn bộ (overall technical efficient) Phần dư của phi hiệu quả kỹ thuật toàn bộ sẽ thể hiện tất cả các nguyên nhân dẫn đến phi hiệu quả, bao gồm các nhân tố quan sát được và không quan sát được Ước lượng phi hiệu quả toàn bộ sẽ tương ứng với phần phi hiệu quả do các nguyên nhân khách quan như quy mô ngành, khả năng quản lý yếu, hoặc các nhân tố không quan sát được như sai số của ước lượng

S

S’

A

B

C D P’

Ngày đăng: 07/03/2019, 21:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w