ĐẶT VẤN ĐỀ Sốt xuất huyết dengue (SXHD) là bệnh nhiễm siêu vi do muỗi lây truyền có tốc độ lan nhanh nhất trên thế giới. Trong hơn 50 năm qua, tần suất mới mắc tăng lên gấp 30 lần với sự mở rộng vùng địa lý sang những quốc gia mới, từ thành thị đến nông thôn. Ở những vùng có dịch, SXHD là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây nhập viện và tử vong ở trẻ em. Ước tính trên toàn thế giới, có trên 3 tỉ người sống trong vùng dịch tễ dengue trên hơn 100 quốc gia, hằng năm có khoảng 100 triệu trường hợp bệnh có biểu hiện lâm sàng, khoảng 2% đến 5% trong số đó là nặng [124]. SXHD là một bệnh hệ thống và “động”, với diễn tiến bệnh và kết cuộc khó đoán trước. Biểu hiện có thể từ không triệu chứng đến sốc, xuất huyết nặng có thể gây tử vong. Hầu hết các trường hợp bệnh tự giới hạn và hồi phục, tuy nhiên có tỉ lệ nhỏ các trường hợp bệnh diễn tiến nặng, đa số đặc trưng bởi thất thoát huyết tương có thể kèm theo xuất huyết. Ở hầu hết các quốc gia đang phát triển có những bệnh dịch gây sốt như sởi, sốt thương hàn, leptospirosis hay các dịch bệnh do vi rút đường hô hấp khác. Trong vài ngày đầu của sốt, các bệnh này có thể giống nhau về biểu hiện lâm sàng như đau đầu, đau cơ và phát ban gây khó khăn cho công việc chẩn đoán của các bác sĩ tuyến cơ sở. Các dấu hiệu của SXHD như xuất huyết hay thất thoát huyết tương thường thấy sau giai đoạn sốt cấp thoái lui, điển hình là sau ngày 3 hay 4 của sốt. Và những dấu hiệu cảnh báo (DHCB) cũng như dấu hiệu nặng của bệnh cũng xuất hiện trong giai đoạn này. Một số bệnh nhân sốt nghi ngờ SXHD, kể cả các bệnh sốt khác bị nhập viện theo dõi không cần thiết vì lý do không muốn bỏ sót các trường hợp SXHD diễn tiến nặng. Việc nhập viện những bệnh nhân nghi ngờ SXHD không cần thiết này cho thấy đã gây nên gánh nặng tài chính đáng kể ở các quốc gia đang phát triển [40],[121]. Lý tưởng là chỉ những bệnh nhân SXHD cảnh báo hoặc nặng mới nên nhập viện. Phân biệt sớm SXHD trong 72 giờ đầu với các bệnh sốt khác giúp các nhà lâm sàng nhận diện được những bệnh nhân cần theo dõi sát hơn những DHCB hoặc dấu hiệu nặng của bệnh SXHD, hạn chế sử dụng kháng sinh không cần thiết. Chẩn đoán sớm những trường hợp chỉ điểm cũng có thể giúp các hành động kiểm soát vec-tơ sớm trong cộng đồng được dễ dàng và hạn chế lây truyền bệnh thêm. Tuy nhiên, việc xác định chẩn đoán SXHD bằng xét nghiệm huyết thanh học chỉ thực hiện sau ngày 5 và bằng chứng của thất thoát huyết tương khó đo lường. Ngoài ra những xét nghiệm đắt tiền như PCR không sẵn có tại y tế tuyến cơ sở của những quốc gia nghèo. Trong thời gian gần đây, một trong những công cụ giúp chẩn đoán sớm SXHD ngay từ ngày sốt đầu tiên được sử dụng ngày càng nhiều là xét nghiệm phát hiện kháng nguyên NS1 của vi rút dengue (DENV). Tuy nhiên, giá trị chẩn đoán của xét nghiệm này thay đổi qua nhiều nghiên cứu thực hiện tại nhiều nơi [49],[104],[114], chúng tôi muốn đánh giá lại giá trị của xét nghiệm nhanh NS1 trên dân số trẻ em Tiền Giang. Đối với dân số không tiếp cận được với xét nghiệm nhanh NS1 cũng như những phương tiện xét nghiệm đắt tiền khác cần có những chỉ tố lâm sàng và/hoặc cận lâm sàng đơn giản và sớm nhằm đưa ra một chẩn đoán đáng tin cậy cho những trường hợp SXHD ưu tiên nhập viện. Trong khi chờ đợi một xét nghiệm chẩn đoán SXHD sớm nhanh, nhạy và giá thành rẻ được phổ biến rộng rãi thì rất cần các mô hình chẩn đoán sớm. Song song đó, SXHD là một bệnh biểu hiện lâm sàng phức tạp, có thể diễn tiến nặng dẫn đến tử vong. Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) năm 2009 đã đưa ra các dấu hiện cảnh báo các trường hợp có thể diễn tiến nặng, tuy nhiên những dấu hiệu và triệu chứng này thường xuất hiện sau 72 giờ. Do đó, việc nhận diện nhóm bệnh nhân nguy cơ bị SXHD nặng trong giai đoạn sớm trước 72 giờ sẽ giúp các bác sĩ cho nhập viện và theo dõi sát phát hiện sớm biến chứng nặng để điều trị kịp thời. Ngoài ra, nó sẽ gợi ý cho việc nhắm đến những chiến lược tiêm ngừa và những thử nghiệm lâm sàng can thiệp điều trị trong tương lai. Vì những lý do trên, chúng tôi đặt ra câu hỏi nghiên cứu giá trị của thử nghiệm phát hiện kháng nguyên NS1 trong chẩn đoán sớm SXHD tại Tiền Giang là như thế nào và vai trò của các yếu tố dịch tễ, lâm sàng, huyết học và sinh hóa trong chẩn đoán sớm SXHD từ đó xây dựng mô hình chẩn đoán sớm SXHD cũng như vai trò của các yếu tố này trong tiên lượng sớm SXHD nặng ở trẻ em ra sao? Từ đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Giá trị của thử nghiệm phát hiện kháng nguyên NS1 và các yếu tố dịch tễ, lâm sàng, huyết học và sinh hóa trong chẩn đoán và tiên lượng sớm SXHD nặng ở trẻ em”. Nghiên cứu này là một nhánh của nghiên cứu đa trung tâm của Đơn vị nghiên cứu lâm sàng Đại học Oxford- Việt Nam (OUCRU-VN) hợp tác thực hiện tại 5 tỉnh thành phía Nam, trong đó có Tiền Giang. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, huyết học và sinh hóa trong 72 giờ đầu của SXHD. 2. Xác định độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương và giá trị tiên đoán âm của thử nghiệm phát hiện nhanh NS1 vi rút dengue (Dengue NS1Ag Strip) trong chẩn đoán SXHD trong 72 giờ đầu. 3. Xác định mối liên quan giữa các yếu tố dịch tễ, lâm sàng, huyết học và sinh hóa trong 72 giờ đầu với SXHD và xây dựng mô hình chẩn đoán sớm SXHD trong 72 giờ đầu. 4. Xác định các yếu tố tiên lượng sớm trong 72 giờ đầu SXHD nặng.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ ĐẠI HỌC Y
DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HUỲNH CÔNG THANH
GIÁ TRỊ CỦA THỬ NGHIỆM PHÁT HIỆN KHÁNG NGUYÊN NS1 VÀ CÁC YẾU TỐ DỊCH TỄ, LÂM SÀNG, HUYẾT HỌC VÀ SINH HÓA TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ TIÊN LƯỢNG SỚM
SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE NẶNG Ở TRẺ EM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2019
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Sốt xuất huyết dengue (SXHD) là bệnh nhiễm siêu vi do muỗi lây truyền
có tốc độ lan nhanh nhất trên thế giới Trong hơn 50 năm qua, tần suất mới mắctăng lên gấp 30 lần với sự mở rộng vùng địa lý sang những quốc gia mới, từthành thị đến nông thôn Ở những vùng có dịch, SXHD là một trong nhữngnguyên nhân hàng đầu gây nhập viện và tử vong ở trẻ em Ước tính trên toàn thếgiới, có trên 3 tỉ người sống trong vùng dịch tễ dengue trên hơn 100 quốc gia,hằng năm có khoảng 100 triệu trường hợp bệnh có biểu hiện lâm sàng, khoảng2% đến 5% trong số đó là nặng [124]
SXHD là một bệnh hệ thống và “động”, với diễn tiến bệnh và kết cuộc khóđoán trước Biểu hiện có thể từ không triệu chứng đến sốc, xuất huyết nặng cóthể gây tử vong Hầu hết các trường hợp bệnh tự giới hạn và hồi phục, tuynhiên có tỉ lệ nhỏ các trường hợp bệnh diễn tiến nặng, đa số đặc trưng bởi thấtthoát huyết tương có thể kèm theo xuất huyết
Ở hầu hết các quốc gia đang phát triển có những bệnh dịch gây sốt như sởi,sốt thương hàn, leptospirosis hay các dịch bệnh do vi rút đường hô hấp khác.Trong vài ngày đầu của sốt, các bệnh này có thể giống nhau về biểu hiện lâmsàng như đau đầu, đau cơ và phát ban gây khó khăn cho công việc chẩn đoán củacác bác sĩ tuyến cơ sở Các dấu hiệu của SXHD như xuất huyết hay thất thoáthuyết tương thường thấy sau giai đoạn sốt cấp thoái lui, điển hình là sau ngày 3hay 4 của sốt Và những dấu hiệu cảnh báo (DHCB) cũng như dấu hiệu nặng củabệnh cũng xuất hiện trong giai đoạn này Một số bệnh nhân sốt nghi ngờSXHD, kể cả các bệnh sốt khác bị nhập viện theo dõi không cần thiết vì lý
do không muốn bỏ sót các trường hợp SXHD diễn tiến nặng Việc nhập việnnhững bệnh nhân nghi ngờ SXHD không cần thiết này cho thấy đã gây nên gánhnặng tài chính đáng kể ở các quốc gia đang phát triển [40],[121]
Trang 3Lý tưởng là chỉ những bệnh nhân SXHD cảnh báo hoặc nặng mới nênnhập viện Phân biệt sớm SXHD trong 72 giờ đầu với các bệnh sốt khác giúp cácnhà lâm sàng nhận diện được những bệnh nhân cần theo dõi sát hơn nhữngDHCB hoặc dấu hiệu nặng của bệnh SXHD, hạn chế sử dụng kháng sinhkhông cần thiết Chẩn đoán sớm những trường hợp chỉ điểm cũng có thể giúpcác hành động kiểm soát vec-tơ sớm trong cộng đồng được dễ dàng và hạnchế lây truyền bệnh thêm Tuy nhiên, việc xác định chẩn đoán SXHD bằng xétnghiệm huyết thanh học chỉ thực hiện sau ngày 5 và bằng chứng của thất thoáthuyết tương khó đo lường Ngoài ra những xét nghiệm đắt tiền như PCR khôngsẵn có tại y tế tuyến cơ sở của những quốc gia nghèo Trong thời gian gần đây,một trong những công cụ giúp chẩn đoán sớm SXHD ngay từ ngày sốt đầutiên được sử dụng ngày càng nhiều là xét nghiệm phát hiện kháng nguyên NS1của vi rút dengue (DENV) Tuy nhiên, giá trị chẩn đoán của xét nghiệm này thayđổi qua nhiều nghiên cứu thực hiện tại nhiều nơi [49],[104],[114], chúng tôimuốn đánh giá lại giá trị của xét nghiệm nhanh NS1 trên dân số trẻ em TiềnGiang
Đối với dân số không tiếp cận được với xét nghiệm nhanh NS1 cũng nhưnhững phương tiện xét nghiệm đắt tiền khác cần có những chỉ tố lâm sàngvà/hoặc cận lâm sàng đơn giản và sớm nhằm đưa ra một chẩn đoán đáng tin cậycho những trường hợp SXHD ưu tiên nhập viện Trong khi chờ đợi một xétnghiệm chẩn đoán SXHD sớm nhanh, nhạy và giá thành rẻ được phổ biến rộngrãi thì rất cần các mô hình chẩn đoán sớm
Song song đó, SXHD là một bệnh biểu hiện lâm sàng phức tạp, có thể diễntiến nặng dẫn đến tử vong Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) năm 2009 đã đưa
ra các dấu hiện cảnh báo các trường hợp có thể diễn tiến nặng, tuy nhiên nhữngdấu hiệu và triệu chứng này thường xuất hiện sau 72 giờ Do đó, việc nhận diệnnhóm bệnh nhân nguy cơ bị SXHD nặng trong giai đoạn sớm trước 72 giờ sẽgiúp các bác sĩ cho nhập viện và theo dõi sát phát hiện sớm biến chứng nặng đểđiều trị kịp thời Ngoài ra, nó sẽ gợi ý cho việc nhắm đến những chiến lược tiêmngừa và những thử nghiệm lâm sàng can thiệp điều trị trong tương lai
Trang 4ra sao? Từ đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Giá trị của thử nghiệm phát hiệnkháng nguyên NS1 và các yếu tố dịch tễ, lâm sàng, huyết học và sinh hóa trongchẩn đoán và tiên lượng sớm SXHD nặng ở trẻ em” Nghiên cứu này là mộtnhánh của nghiên cứu đa trung tâm của Đơn vị nghiên cứu lâm sàng Đại họcOxford- Việt Nam (OUCRU-VN) hợp tác thực hiện tại 5 tỉnh thành phía Nam,trong đó có Tiền Giang.
Trang 5MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả đặc điểm lâm sàng, huyết học và sinh hóa trong 72 giờ đầu của SXHD
2 Xác định độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương và giá trị tiên đoán âmcủa thử nghiệm phát hiện nhanh NS1 vi rút dengue (Dengue NS1Ag Strip) trongchẩn đoán SXHD trong 72 giờ đầu
3 Xác định mối liên quan giữa các yếu tố dịch tễ, lâm sàng, huyết học và sinhhóa trong 72 giờ đầu với SXHD và xây dựng mô hình chẩn đoán sớm SXHDtrong 72 giờ đầu
4 Xác định các yếu tố tiên lượng sớm trong 72 giờ đầu SXHD nặng
Trang 6CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 LỊCH SỬ CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1 Trên thế giới
Bản ghi chép cổ xưa nhất đến nay về căn bệnh có lâm sàng tương đồngvới sốt dengue được tìm thấy trong bộ sách bách khoa về triệu chứng bệnh vàđiều trị bằng tiếng Trung Hoa phát hành lần đầu trong khoảng thời nhà Tần(năm 265- 420), sau đó được biên tập chính thức vào năm 610 (thời nhàĐường) và một lần nữa vào năm 992 thời Bắc Tống [160]
Bệnh giống SXHD cũng được mô tả trong những bản viết tại Tây Ấn vàonhững năm 1600 mà không có những hình ảnh lâm sàng chi tiết [60] Bản mô
tả đầu tiên về hội chứng lâm sàng đặc trưng của SXHD được Benjamin Rush,người đã chăm sóc cho những bệnh nhân trong suốt trận dịch năm 1780 tạiPhiladelphia viết [176]
Tên gọi “sốt gãy xương” dành cho dengue được cho là tên gọi phổ biếnnhất cho bệnh này trong trận dịch đầu tiên được mô tả về một căn bệnh cólâm sàng tương đồng với dengue tại Philadelphia vào năm 1780 [175] Nhữngtrận dịch này được phỏng đoán có nguyên nhân là do dengue dựa vào bệnhcảnh lâm sàng và dịch tễ hay gặp ở Bắc Mỹ trong suốt thế kỷ 18 và 19.DENV gần như chắc chắn là nguyên nhân của bệnh sốt 5 đến 7 ngày gây ra ởnhững thực dân Châu Âu tại Châu Á nhiệt đới trong suốt giai đoạn này Cănbệnh tương tự cũng xảy ra ở những thực dân tại Châu Úc nhiệt đới
Vào năm 1801, nữ hoàng Tây Ban Nha đã dùng thuật ngữ “dengue” để
mô tả căn bệnh sốt cấp xảy ra ở các thành viên trong triều đình Tây Ban Nhavới các triệu chứng đau nhức xương khớp, xuất huyết và vàng da [175] Trậndịch lớn ở Caribe năm 1828, xảy ra ở một cộng đồng đa chủng tộc, đa ngôn
Trang 7ngữ đã giúp quốc tế hóa việc sử dụng thuật ngữ “dengue” cho căn bệnh này
và dùng trong y văn liên tục đến ngày nay
Sự phát hiện tác nhân và nhận diện vật truyền bệnh [162]
Các nhà nghiên cứu đã sớm có gợi ý rằng DENV được truyền qua muỗi,nhưng đến năm 1906, sự truyền bệnh thật sự do một vật truyền bệnh thật sự,muỗi Aedes aegypti, mới được Bancroft chứng minh Simmons cũng chứngminh vai trò của Aedes albopictus trong việc lây truyền DENV Sau đó, một
số loài Aedes khác cũng thấy có vai trò lây lan bệnh
Kimura and Hotta là những người đầu tiên phân lập được DENV từ mẫumáu của những bệnh nhân trong trận dịch dengue tại Nagasaki, Nhật Bản năm
1943 và từ đó đã mở ra kỷ nguyên mới cho các nghiên cứu về dengue [162].Trong các trận dịch dengue từ năm 1897 đến 1902 ở Úc, năm 1928 ở Hy Lạp
và năm 1931 ở Đài Loan, người ta đã mô tả một hội chứng nặng đặc trưng vớisốc, xuất huyết và tử vong Đến năm 1960, trong khi nghiên cứu về bệnh bạiliệt ở Philippin, Hammon đã phân lập được 2 týp virút dengue mới, gọi làDENV-3 và 4 [61]
Hội nghị Các bệnh SXH do muỗi được TCYTTG tổ chức tại Bangkok từngày 19 đến 24 tháng 10 năm 1964 đã giới thiệu thuật ngữ “SXHD” [59].Năm 1966, Cohen và Halstead đã công bố bản mô tả kinh điển đầy đủ về hộichứng sốc dengue, bao gồm sinh lý bệnh do thất thoát dịch và protein quanhững mao mạch bị tổn thương, từ đó đưa ra những nguyên tắc hồi sức hợp lý[41] Tỉ lệ mắc SXHD đã tăng rất nhanh trên thế giới trong những thập niêngần đây Không những thế, bệnh SXHD còn lây lan ra nhiều khu vực màtrước đây chưa từng xảy ra và bùng phát thành nhiều vụ dịch lớn
1.1.2 Tại Việt Nam [5]
Từ năm 1913, Gaide đã có báo cáo đầu tiên về bệnh giống như denguetại miền Bắc và miền Trung Năm 1929, Boyé đã viết về một vụ dịch denguetại miền Nam Năm 1958, Chu Văn Tường và cộng sự thông báo về một trận
Trang 8dịch SXHD nhỏ tại Hà Nội căn cứ trên một số bệnh nhi điều trị tại bệnh việnBạch Mai Vào năm 1960 có 2 vụ dịch nhỏ xảy ra ở Cái Bè và An Giang(miền Nam Việt Nam) được chẩn đoán lâm sàng là SXHD Cùng năm đó cómột vụ dịch dengue cổ điển rất lớn bùng phát ở các tỉnh miền Bắc Đến năm
1963, vụ dịch SXHD đầu tiên được xác định mầm bệnh ở Việt Nam bùngphát ở đồng bằng sông Cửu Long đã được báo cáo Năm 1969 xảy ra trậndịch SXHD ở Miền Bắc Từ đó, SXHD tăng dần và lan rộng ra cả nước, từcác thành phố lớn đông dân về các vùng nông thôn, cứ vài năm lại xảy ra mộttrận dịch SXHD Năm 1983 là năm có SXHD lớn nhất trên phạm vi cả nước.Một vụ dịch lớn năm 1997 tấn công 42 tỉnh thành trong cả nước bao gồm19/19 tỉnh miền Nam, 14/14 tỉnh miền Trung và Tây Nguyên và 9/28 tỉnhmiền Bắc với tổng số bệnh nhân 107.188 người
Giai đoạn từ 1980 - 1999, trung bình mỗi năm ghi nhận 100.000 trườnghợp mắc, 300 - 400 trường hợp tử vong, tỉ lệ tử vong trung bình từ 0,08-0,09% Giai đoạn từ 2000 – 2015, nhờ có Chương trình mục tiêu quốc gia,tình hình dịch đã giảm, trung bình mỗi năm ghi nhận khoảng 50.000 đến100.000 trường hợp mắc, gần 100 trường hợp tử vong Tuy nhiên, theoTCYTTG, so với tình hình chung của thế giới trong giai đoạn 2004-2010,Việt Nam là quốc gia đứng thứ 3 về số ca mắc SXHD trung bình mỗi năm[66]
Trong những năm gần đây, bệnh sốt xuất huyết đã giảm, có tỉ lệ mắctrên/100.000 dân là 56,7, thấp hơn so với một số nước và tỉ lệ phần trăm tửvong/ mắc (0,029) thấp nhất so với các quốc gia trong khu vực Trong 7 thángđầu năm 2017 ghi nhận 58.888 trường hợp mắc, trong đó có 50.497 trườnghợp nhập viện và 17 trường hợp tử vong [3]
Tại Tiền Giang, kể từ trận dịch đầu tiên vào năm 1960 xuất hiện ở Cái
Bè được mô tả và xác định, SXHD đã phát thành dịch lớn vào các năm 1979,
1983, 1987, 1988 Theo số liệu Hội nghị giao ban Công tác điều trị SXHD
Trang 9khu vực phía Nam, trong năm 2017 Tiền Giang không còn nằm trong 10 tỉnh
có số trường hợp mắc SXHD cao nhất cả nước nhưng lại là một trong 12 tỉnh
có số tử vong cao nhất (2 trường hợp) [2] Tỉnh Tiền Giang nằm trong vùngkhí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm thuộc vùng đồng bằng Sông Cửu Long cókhí hậu với nhiệt độ cao ổn định (nhiệt độ trung bình 26,90C), lượng mưa(lượng mưa trung bình 1450 mm) và độ ẩm (83%) thích hợp để muỗi sốngsót, sinh sản và phát triển Song song đó, tình trạng đô thị hóa diễn ra nhanh,mật độ cân cư khá đông cùng với tập quán sinh hoạt của người dân đã tạođiều kiện thuận lợi cho bệnh SXHD lây lan và diễn ra quanh năm
1.2 XÉT NGHIỆM CHẨN ĐOÁN SXHD
1.2.1 DENV:
Vi rút gây bệnh SXHD thuộc họ Flaviviridae, giống flavivirut DENVcấu tạo bởi một ARN sợi đơn cực dương, khoảng 11.000 nucleotide, nằmtrong lõi capsid hình khối hai mươi mặt, đường kính 30 nm, bên ngoài là vỏlipo-protein tạo thành khối cầu (đường kính 50 nm) Các protein cấu trúc lõi
C, tiền màng prM và vỏ E của virion được mã hoá từ đầu 5’ của bộ gien virút Có 7 protein không cấu trúc (ký hiệu là NS) là: NS1, NS2A, NS2B, NS3,NS4A, NS4B và NS5 Glycoprotein vỏ có liên quan tới hoạt tính ngưng kếthồng cầu và hoạt tính trung hoà vi rút để tạo ra kháng thể Protein lõi C có thểchiết tách sau khi hoà tan lớp vỏ với chất tẩy ion Protein không cấu trúc NS1vừa là enzym vừa là kháng nguyên đặc hiệu cho DENV, trong khi các proteinkhông cấu trúc khác (NS2A-NS2B, NS3, NS4A-NS4B và NS5) cũng có vaitrò như một men nhưng không có tính kháng nguyên [6],[9],[17]
DENV hình thành một phức hệ khác biệt so với các vi rút thuộc giốngflavivirut khác do đặc điểm kháng nguyên và đặc điểm sinh học Có 4 týphuyết thanh được đặt tên là: DENV-1, DENV-2, DENV-3 và DENV-4 Nếunhiễm một trong 4 týp này sẽ tạo được miễn dịch suốt đời đối với týp huyết
Trang 10thanh đó nhưng không gây miễn dịch bảo vệ chéo cho các týp khác mặc dù 4týp có sự tương đồng về mặt kháng nguyên [10],[17].
Hình 1.1 Cấu trúc của DENV
“Nguồn: Marianneau P,1997” [90].
1.2.2 Đáp ứng miễn dịch của bệnh SXHD
Đáp ứng miễn dịch của bệnh SXHD bao gồm đáp ứng bẩm sinh và thuđược Các đáp ứng này ảnh hưởng lên sự nhân lên của vi rút và mức độ nặngcủa bệnh, từ nhiễm trùng không triệu chứng đến thoát huyết tương và xuấthuyết đe dọa tử vong
Nhiễm vi rút huyết thông thường xảy ra ở bệnh nhân SXHD trước khikhởi sốt và có các triệu chứng, đạt đỉnh cao vào 2- 3 ngày sau khi khởi bệnh,hoặc 2- 3 ngày trước khi hạ sốt Đáp ứng kháng thể khi nhiễm DENV baogồm kháng thể IgM và IgG kháng các protein vỏ vi rút Đáp ứng miễn dịchthay đổi tùy thuộc vào tình trạng sơ hay tái nhiễm bệnh, vì thế việc chẩn đoánhuyết thanh học bệnh SXHD cũng tùy thuộc vào giai đoạn bệnh Hình 1.2 mô
tả các thời điểm phát hiện DENV và các kháng thể IgM, IgG thông thườngtrong sơ nhiễm
Trang 12diện Ví dụ, những trường hợp chủng ngừa viêm não Nhật Bản sau đó nhiễmDENV phát triển nhiều kháng thể IgM hơn so với những cá thể nhiễm DENVlần thứ 2 Tỉ lệ và số lượng kháng thể được sản xuất trong suốt quá trìnhnhiễm DENV lần 2 được sử dụng để xác định đáp ứng huyết thanh học đốivới nhiễm DENV Loại kháng thể chiếm ưu thế là IgG phát hiện với mức cao,ngay cả trong giai đoạn cấp và tồn tại từ 10 tháng cho đến suốt đời Mức IgM
ở giai đoạn hồi phục sớm trong tái nhiễm dengue thấp hơn so với sơ nhiễm và
có thể không phát hiện được trong một số trường hợp Để phân biệt sơ nhiễm
và tái nhiễm dengue, ngày nay người ta thường dùng tỉ lệ kháng thể IgM/IgGhơn là thử nghiệm HI
Dengue sơ nhiễm Dengue tái nhiễm
Ngày sau khi khởi phát triệu chứng Ngày sau khi khởi phát triệu chứng
Hình 1.3 Mô hình đáp ứng kháng thể trong sơ nhiễm và tái nhiễm dengue
* “Nguồn: Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Bệnh Hoa Kỳ” [35]
Do các kháng thể tăng tương đối chậm nên kết quả huyết thanh học cóthể âm tính trong giai đoạn sớm của bệnh Chính vì vậy bệnh phẩm cần được
Trang 13thu thập ít nhất 7 ngày sau khi khởi triệu chứng Kháng thể IgM sinh ra trongbệnh SXHD phản ứng cao nhất với týp huyết thanh vi rút gây bệnh, nhưngcũng cho phản ứng chéo với các týp huyết thanh DENV khác và với cácflavivirut khác ở mức thấp hơn Lý tưởng là kháng thể IgM nhận biết khángnguyên DENV cần được so sánh định lượng với các flavivirut khác đang lưuhành trong cùng vùng địa lý.
Kháng thể sinh ra trong bệnh SXHD có khả năng bảo vệ chống lại týphuyết thanh DENV khác loài trong thời gian ngắn Mức kháng thể trung hòatương quan với khả năng bảo vệ nhiều bệnh nhiễm vi rút, đây cũng là trườnghợp của bệnh SXHD Sự hiện diện mức kháng thể có thể đo lường đượcthường mang tính bảo vệ, ngoại trừ mức kháng thể phản ứng chéo thấp sinh rabởi một vi rút khác týp huyết thanh với vi rút gây bệnh Trong trường hợpnày, kháng thể sẽ tăng cường sự nhân lên vi rút và độ nặng của bệnh (theo giảthuyết tăng cường miễn dịch trong sinh bệnh học bệnh SXHD)
Tóm lại, đáp ứng miễn dịch trong sơ nhiễm DENV đặc trưng bởi khángthể IgM xuất hiện sớm tăng cao, còn kháng thể IgG xuất hiện muộn ở mức độthấp và tăng dần Trong tái nhiễm thì ngược lại, kháng thể IgG xuất hiện sớm,tăng cao nhanh và tồn tại suốt đời, còn kháng thể IgM xuất hiện muộn ở mức
độ thấp, đôi khi xét nghiệm không tìm thấy kháng thể IgM (âm tính giả) [47]
1.2.3 Các xét nghiệm chẩn đoán nhiễm DENV [147]
Chẩn đoán nhiễm dengue đã đi một đoạn đường dài và ngày nay đã cónhiều kỹ thuật mới Chẩn đoán SXHD nhanh và chính xác vô cùng quan trọngtrong khảo sát dịch tễ, điều trị lâm sàng, nghiên cứu và thử nghiệm vắc xin.Các phương pháp chẩn đoán cận lâm sàng để xác định nhiễm dengue có liênquan đến phát hiện vi rút, acid nucleic của vi rút, kháng nguyên hoặc khángthể hoặc là sự kết hợp các kỹ thuật này với nhau
1.2.3.1 Xét nghiệm chẩn đoán và giai đoạn bệnh
Trang 14Sau khởi phát bệnh, vi rút có thể được phát hiện trong huyết thanh, huyếttương, các tế bào máu tuần hoàn hay các mô khác trong 4-5 ngày đầu Tronggiai đoạn sớm của bệnh, người ta dùng các phương pháp như phân lập vi rút,phát hiện acid nucleic hoặc kháng nguyên Ở cuối giai đoạn cấp, xét nghiệmmiễn dịch học là một phương pháp lựa chọn để chẩn đoán.
Có nhiều phương pháp chẩn đoán cận lâm sàng để giúp điều trị bệnhnhân và kiểm soát bệnh Tùy theo mục đích (như chẩn đoán lâm sàng, khảosát dịch tễ, phát triển vắc xin), trang bị xét nghiệm và sự thông thạo kỹ thuậttại chỗ, chi phí và thời điểm lấy máu mà người ta lựa chọn phương pháp chẩnđoán nào
Giai đoạn vi rút huyết trong dengue ở bệnh nhân thì ngắn, điển hình xuấthiện 2-3 ngày trước khởi sốt và kéo dài trong 4-7 ngày bệnh Trong suốt giaiđoạn này, có thể phát hiện DENV, axit nucleic của nó và kháng nguyên vi rútlưu hành [147]
Hình 1.4 Biểu đồ thời gian của sơ nhiễm và tái nhiễm dengue cùng các phương pháp có thể sử dụng để phát hiện nhiễm vi rút.
“Nguồn: TCYTTG, 2009” [145].
Trang 151.2.3.2 Các phương pháp chẩn đoán để phát hiện nhiễm dengue [147]
Chẩn đoán xác định nhiễm dengue bởi các xét nghiệm: phát hiện vi rút,
bộ gien vi rút hay kháng nguyên NS1, hoặc đảo ngược huyết thanh của IgMhoặc IgG trong mẫu huyết thanh kép (IgM/IgG chuyển từ âm sang dương tínhhoặc tăng gấp 4 lần hiệu giá kháng thể chuyên biệt)
Tiêu chuẩn chẩn đoán một trường hợp có thể nhiễm dengue là huyếtthanh học IgM dương tính hoặc hiệu giá kháng thể xét nghiệm ức chế ngưngkết hồng cầu có giá trị từ 1/1280 trở lên
Bảng 1.1 Chẩn đoán xác định và có thể nhiễm dengue, phân tích kết quả
và đặc tính mẫu thử “Nguồn: TCYTTC, 2012” [46]
nguyên
NS1 (+) Hóa mô miễn dịch (+) Mô tử thiết Đảo ngược huyết
thanh IgM
IgM chuyển từ (-) sang (+) trong mẫu huyết thanh kép
Huyết thanh cấp (ngày 1-5) và huyết thanh hồi phục (15-21 ngày sau mẫu huyết thanh đầu)
Đảo ngược huyết thanh IgG
IgG chuyển từ (-) sang (+) trong mẫu huyết thanh kép hoặc IgG tăng gấp 4 lần giữa 2 mẫu huyết thanh kép
Có thể
nhiễm
dengue
đơn lấy sau ngày 5 Nồng độ IgG cao Nồng độ IgG cao trong
ELISA hoặc HI (≥ 1280)
Trang 161.2.3.3 Phân lập vi rút
Trong giai đoạn sớm của bệnh, phân lập và định danh DENV thường sửdụng rộng rãi và là xét nghiệm chuẩn vàng cho chẩn đoán bệnh SXHD hiệntại Trong phương pháp này, huyết thanh bệnh nhân cấy truyền vào các dòng
tế bào muỗi Sau khi vi rút nhân lên trong tế bào nhiễm, týp huyết thanh vi rút
sẽ dễ dàng định danh bằng kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang nhuộm tế bàonhiễm với các kháng thể đơn dòng đặc hiệu cho mỗi týp huyết thanh DENV.Chủng vi rút phân lập rất quan trọng cho các nghiên cứu vi rút học tiếp diễn
và xác định đặc tính sinh học của chúng Thời gian nhiễm DENV trong máungắn, tiêu biểu là bắt đầu 2 hoặc 3 ngày trước khi khởi sốt và kéo dài cho đếnngày thứ 4 hoặc 5 của bệnh Huyết thanh là mẫu bệnh phẩm chọn lựa chophương pháp phân lập vi rút, tuy nhiên DENV cũng có thể phát hiện trong cácbệnh phẩm khác như huyết tương, bạch cầu và mô tử thiết
Nhược điểm của phương pháp này là quy trình tốn nhiều thời gian, đòihỏi kết quả nuôi cấy và nhu cầu về thiết bị nuôi cấy tế bào cũng như kỹ năngphòng thí nghiệm chuyên nghiệp Ngoài ra, một số chủng vi rút không dễdàng phát hiện vì nồng độ vi rút thấp trong mẫu bệnh phẩm
1.2.3.4 Phát hiện axit nucleic vi rút [146]
Phát hiện RNA DENV từ máu, huyết tương và huyết thanh bằng phảnứng khuếch đại gien phiên mã ngược (RT-PCR) là một phương pháp nhạy,chuyên biệt và nhanh chóng để xác định nhiễm dengue Chúng cho độ nhạy
và độ đặc hiệu tốt hơn khi so với phân lập vi rút với thời gian quay vòngnhanh hơn nhiều
Tất cả những xét nghiệm phát hiện axit nucleic liên quan đến 3 bước cơbản: (i) chiết tách axit nucleic và tinh chế; (ii) khuếch đại axit nucleic; (iii)phát hiện sản phẩm khuếch đại Có thể xảy ra kết quả dương tính giả và có thểphòng ngừa điều này bằng cách cô lập chính xác các bước khác nhau của xétnghiệm và quan sát quy trình khử nhiễm nghiêm ngặt
Trang 17Độ nhạy của RT-PCR thông thường thay đổi từ 48,4 đến 98,2% và cógiới hạn phát hiện ở mức 1–50 đơn vị thành lập mảng (PFUs) [155],[161],[169],[180] Những xét nghiệm này sử dụng những mồi gắn với những vùngbảo tồn đã biết của bộ gien DENV nhằm tránh cho kết quả âm tính giả donhững đột biến tự nhiên trong quá trình sao chép bộ gien RNA vi rút Độnhạy của RT-PCR tùy thuộc nhiều vào cửa sổ cơ hội ngắn ngủi trùng với giaiđoạn vi rút huyết, có thể kéo dài đến 8 ngày kể từ lúc khởi bệnh Tuy nhiên,RT-PCR hiếm khi dương tính sau ngày thứ 6.
Real-time RT-PCR (RT-PCR định lượng) dựa trên huỳnh quang có độnhạy và ngưỡng phát hiện tốt hơn (0,1-3,0 PFUs) nhờ độ nhạy của phát hiệnhuỳnh quang trong máy luân nhiệt (thermocycler) [38],[125],[140],[152],[168] là hệ thống xét nghiệm một bước sử dụng cặp mồi và các que dò đặchiệu cho mỗi týp huyết thanh DENV Chỉ cần sử dụng một que dò huỳnhquang phát hiện và định lượng sản phẩm của phản ứng mà không cần điện
di Nhiều xét nghiệm RT-PCR định lượng được triển khai hoặc ở dạng
“đơn mồi” (chỉ phát hiện một týp huyết thanh DENV mỗi lần xét nghiệm)hoặc “đa mồi” (có thể định danh tất cả bốn týp huyết thanh DENV từ mộtmẫu bệnh phẩm duy nhất) RT-PCR đa mồi còn tránh khả năng bộinhiễm trong quá trình thao tác mẫu bệnh phẩm [38],[70],[168],[178],[180].Ngoài mẫu thử máu, RT-PCR có thể được sử dụng để phát hiện RNADENV trong mô, kể cả những mẫu cố định formalin RNA DENV có thểđược phát hiện trong mẫu thử nước tiểu và nước bọt, sử dụng real-time RT-PCR Đối với nước tiểu, mẫu thử được thu thập từ ngày 6 đến ngày 16 saukhởi sốt cho thấy tỉ lệ phát hiện cao hơn (50-80%) so với những mẫu lấy từngày 1 đến ngày 3 (25-50%) [163] Do đó RT-PCT phát hiện dengue sử dụngmẫu thử nước tiểu có thể mở rộng cửa sổ cơ hội cho việc phát hiện RNA virút so với mẫu thử máu (đến ngày 8) Tuy nhiên nồng độ RNA trong mẫu thử
Trang 18nước tiểu và nước bọt thấp (10–50 PFUs/ml) so với mẫu thử huyết thanh (7,9
Gần đây, phương pháp LAMP PCR (PCR khuếch đại qua trung gianvòng) đã được phát triển hứa hẹn thay đổi trang thiết bị ít đắt tiền hơn và dễthực hiện hơn so với xét nghiệm RT-PCR và real-time PCR Tuy nhiên, việcthực hiện chúng cần được so sánh với những phương pháp phát hiện axitnucleic gần đây
1.2.3.5 Phát hiện kháng nguyên vi rút
Kháng nguyên NS1 của DENV
NS1 flavivirut là một glycoprotein trọng lượng phân tử là 46-50kilodalton chứa 353-354 acid amin, biểu hiện ở cả hai dạng liên kết màng(mNS1 = membrane associated NS1) và bài tiết (sNS1 = secreted NS1) và có
cả hai định tố đặc hiệu nhóm và đặc hiệu týp Điều khác thường vớiglycoprotein vi rút này là protein không tạo thành một phần của cấu trúc hạt
vi rút (virion) nhưng lại được biểu hiện trên bề mặt tế bào nhiễm cũng nhưđược bài tiết ra ngoài tế bào NS1 di chuyển vào lưới nội bào tương qua trình
tự tín hiệu kỵ nước mã hóa trong vùng tận cùng C của vỏ E, là nơi nó đượcnhị trùng nhanh chóng sNS1 chịu sự oligomer hóa hơn nữa trước khi bài tiếtdưới dạng hexamer (hình 2.1) Chức năng của NS1 chưa được biết đầy đủnhưng bằng chứng ban đầu cho thấy NS1 có liên quan trong sự sao chépRNAvi rút NS1 được sản sinh ở tất cả các flavivirut và đóng vai trò then chốt
Trang 19cho sự nhân lên và sống còn của vi rút Protein NS1 chỉ được bài tiết trong tếbào động vật có vú, nhưng không có trong tế bào côn trùng [10],[24],[44].
Hình 1.5 Cấu trúc bộ gien của DENV.
Bộ gien của DENV mã hóa 3 protein cấu trúc: lõi (C), màng (M) và vỏ (E) và 7 protein không cấu trúc (NS1, NS2A, NS2B, NS3, NS4A, NS4B và NS5).
Mức NS1 DENV huyết tương hoặc huyết thanh có liên quan đến nồng độ
vi rút máu và độ nặng của bệnh [63],[83],[151] Alcon đã báo cáo khángnguyên NS1 được tìm thấy trong máu tuần hoàn từ ngày đầu đến ngày thứ 9của bệnh: mức NS1 0,04 đến 2 µg/ml trong mẫu huyết thanh giai đoạn cấp và0,04 µg/ml trong giai đoạn hồi phục (ngày 8 trở đi) Trong tái nhiễm, nồng độNS1 thay đổi từ 0,01 đến 2 µg/ml và không thể phát hiện trong mẫu huyếtthanh hồi phục [23],[48],[149] Shu và cộng sự cũng có những báo cáo tương
Trang 20tự [122] NS1 thậm chí có thể phát hiện đến 18 ngày sau khởi bệnh ở một sốtrường hợp nhiễm DENV-1 [148] Do đó việc xác định kháng nguyên NS1trong bệnh nhân SXHD là một xét nghiệm hứa hẹn trong chẩn đoán sớm bệnhnhân SXHD và mở ra cửa sổ cơ hội lớn hơn cho chẩn đoán SXHD nếu so vớiphân lập vi rut, RT-PCR hay NASBA [109],[163] Các kit phát hiện dựa trênthu bắt NS1 có độ nhạy thay đổi từ 54,2% đến 93,4% [29],[30],[32],[37],[48],[75],[85],[108],[133],[139],[140],[153],[167],[170] và cho thấy có thể xácđịnh nhiễm dengue ở những mẫu huyết thanh có RT-PCR âm tính và táinhiễm [153] Tuy nhiên, xét nghiệm phát hiện NS1 kém nhạy hơn trong táinhiễm (67,1–77,3%) so với sơ nhiễm (94,7–98,3%) [29],[37],[75],[167], có lẽ
do có kháng thể kháng NS1 phản ứng chéo làm hạn chế phát hiện các proteinNS1 tự do trong huyết tương hoặc huyết thanh [83],[149]
Kháng thể kháng NS1 cũng có thể sử dụng để phát hiện nhiễm denguetrong các nguồn mẫu thử khác như các mô gan, phổi và thận [84] qua hóa mômiễn dịch, có thể sử dụng trong các nghiên cứu sau tử vong Kháng thể đơndòng NS1 chuyên biệt týp huyết thanh đã được xây dựng và ứng dụng cho cácxét nghiệm nhận diện týp huyết thanh dengue dựa vào NS1 Nghiên cứu củaPuttikhunt và cộng sự cho thấy độ nhạy chung là 76,5% và độ đặc hiệu là100% trong chẩn đoán dengue, trong khi đó độ nhạy từng týp huyết thanh là100% cho DENV-1, 3 và 4 và 82,4% đối với DENV-2 [174] Tuy nhiên độnhạy của những xét nghiệm này thay đổi theo những dòng DENV khác nhaubởi vì mức độ bài tiết NS1 có vẻ tùy thuộc vào từng dòng [179]
1.2.3.6 Phát hiện kháng thể (IgM và IgG)
Phát hiện kháng thể kháng dengue (IgM và IgG) là xét nghiệm được sửdụng rộng rãi nhất trong chẩn đoán dengue [42] Có 2 phiên bản của nhữngtest này: ELISA hoặc test nhanh ELISA cho độ nhạy tốt hơn, trong khi đó ưuđiểm của test nhanh là sử dụng tại giường bệnh
Trang 21Đáp ứng kháng thể hình thành IgM kháng dengue có thể phát hiện sớmvào ngày 3-5 sau khởi bệnh Mức IgM tiếp tục tăng trong khoảng 2 tuần sau
đó và có thể tồn tại trong khoảng 179 ngày đối với sơ nhiễm và 139 ngày đốivới tái nhiễm [172] Do đó, mẫu IgM đơn làm tăng khả năng một bệnh nhânsốt bị dengue, tuy nhiên nếu muốn chẩn đoán xác định cần phải có huyếtthanh kép để chứng minh sự gia tăng hiệu giá kháng thể IgM
Người ta thấy đáp ứng IgM sớm (dưới 2 tháng) có thể phản ứng chéo vớitất cả 4 týp huyết thanh [156] và các flavivirut khác [166] Do đó thông tindịch tễ học về tỉ lệ lưu hành cuả các flavivirut khác sẽ hữu ích để hướng dẫnphân tích một kết quả IgM dương tính Dương tính giả cũng thấy ở nhữngbệnh nhân nhiễm dengue hoặc sốt rét trước đó [159]
Trong sơ nhiễm, IgG có thể chỉ được phát hiện sau 10 ngày khởi bệnh,điều này khiến nó ít hữu dụng trong chẩn đoán sớm Tuy nhiên sự tăng nhanhcủa mức IgG trong tái nhiễm (từ ngày 4 sau khởi bệnh) [103] có thể gợi ýdengue khi sử dụng tỉ số IgM và IgG [32],[152],[159],[166],[172] Bệnh nhânSXHD được xác định là sơ nhiễm nếu tỉ số kháng thể IgM/IgG kháng DENVlớn hơn 1,8; hoặc là tái nhiễm nếu tỉ số trên nhỏ hơn 1,8 khi xét nghiệmnhững mẫu huyết thanh bệnh nhân SXHD ở những vùng lưu hành bệnh [68].Phát hiện kháng thể trung hòa dengue
Kháng thể trung hòa ức chế nhiễm vi rút và do đó có thể cho độ đặc hiệutốt hơn trong phân biệt kháng thể kháng dengue với kháng thể flavivirut phảnứng chéo khác [86],[177] Những kháng thể này có thể đo bằng xét nghiệmtrung hòa giảm đám hoại tử (plaque reduction neutralizing tests (PRNTs) doRussell phát triển đầu tiên [177] Đến nay, PRNT vẫn là xét nghiệm được sửdụng rộng rãi nhất cho các nghiên cứu miễn dịch Tuy nhiên, nó đòi hỏi tốncông sức, thời gian và cho công suất thấp [173], do đó nó không được sửdụng thường quy trong chẩn đoán SXHD Các xét nghiệm mới như xét
Trang 22nghiệmvi trung hòa ELISA…đã được phát triển để vượt qua những hạn chếliên quan đến PRNT.
1.2.4 Chẩn đoán sớm nhiễm DENV
Trong giai đoạn sớm, bệnh SXHD có biểu hiện tương tự các bệnh sốt cấpkhác Hậu quả là chẩn đoán SXHD thường bị trì hoãn hoặc nhầm lẫn với cácbệnh khác Do đó, muốn chẩn đoán xác định SXHD sớm, cần thực hiện cácxét nghiệm chẩn đoán Những xét nghiệm này phải phù hợp sử dụng tronggiai đoạn sớm của bệnh, có thể kể như là RT-PCR, phân lập vi rút và pháthiện NS1 Tuy nhiên, RT-PCR là một xét nghiệm đắt tiền và đòi hỏi trangthiết bị và kỹ thuật mà không phải nơi nào cũng có sẵn, trong khi đó phân lập
vi rút cho kết quả muộn không đáp ứng mục đích chẩn đoán sớm cho thựchành lâm sàng Gần đây, xét nghiệm phát hiện NS1 cho kết quả nhanh, độnhạy và độ đặc hiệu khá tốt và giá thành cũng không quá đắt, do đó có thểđược áp dụng rộng rãi hơn trên các cơ sở y tế nhằm giúp chẩn đoán xác địnhsớm SXHD
Tuy nhiên, đối với những nơi có cơ sở hạ tầng và trang thiết bị còn hạnchế, chẩn đoán thường dựa vào lâm sàng và công thức máu Phân loại SXHDđược TCYTTG đưa ra vào năm 2009 dựa trên những triệu chứng và dấu hiệulại thường không xuất hiện trong vài ngày đầu của bệnh Do đó, một mô hình
có giá trị dựa trên lâm sàng và xét nghiệm thường quy sẽ hữu ích để giúpnhận biết sớm SXHD, đặc biệt ở những cơ sở y tế ban đầu
Trang 231.3 TIÊN LƯỢNG SỚM SXHD NẶNG
1.3.1 Phân loại dengue của TCYTTG và các định nghĩa [58]
Trọng tâm của phân loại trường hợp SXHD là phân biệt giữa sốt dengue
cổ điển và SXHD hay SXHD nặng Để làm rõ những khác biệt này, một ủyban của TCYTTG đã phát triển những hướng dẫn phân loại trường hợpSXHD vào năm 1974, dựa trên những nghiên cứu về các kiểu bệnh trên trẻ
em tại Thái Lan vào những năm 1960, sau đó được điều chỉnh và phát hànhmột vài lần Tuy nhiên, rõ ràng là hệ thống phân loại này không áp dụng toàncầu để điều trị lâm sàng thích hợp Vào năm 2006, Nhóm Công tác Khoa họcdengue TCYTTG đề nghị nghiên cứu thêm về chẩn đoán SXHD và phân loạibệnh nhân để có điều trị tối ưu Những nghiên cứu xa hơn về việc sử dụnghướng dẫn lâm sàng chẩn đoán SXHD, bao gồm nghiên cứu kiểm soát SXHD(nghiên cứu DENCO), đưa đến việc phân loại lại SXHD thành trường hợpnặng và không nặng Sau đó lại được sửa lại thành SXHD có và không cóDHCB và SXHD nặng, và được ban hành năm 2009
SXHD ± DHCB SXHD nặng
Không DHCB Có DHCB 1 Thất thoát huyếttương nặng
2 Xuất huyết nặng
3 Suy cơ quan nặng
Hình 1.6 Phân loại trường hợp SXHD theo TCYTTG 2009 có chỉnh sửa
“Nguồn: S R Hadinegoro (2012)” [58].
Trang 24Bảng 1.2 Bảng phân loại và định nghĩa trường hợp SXHD theo TCYTTG 2009 có điều chỉnh.
(quan trọng khi không
có dấu hiệu của thất
thoát huyết tương)
DHCB*
Đau ở bụng hoặc sờđau
Ói dai dẳng Tích tụ dịch lâm sàng Chảy máu niêm Lừ đừ, bứt rứt Gan to > 2cm Xét nghiệm: tăng Hctcùng lúc với giảm nhanhtiểu cầu đếm
* (Đòi hỏi theo dõi sát
và can thiệp điều trị)
1 Thất thoát huyếttương nặng dẫn đến: Sốc (hội chứng sốcSXHD)
Tích tụ dịch kèm suy
hô hấp
2 Xuất huyết nặngĐược đánh giá bởi bác
Phân loại 2009 thành những mức độ nặng được xem là nhạy hơn trongviệc bắt được bệnh nặng so với hướng dẫn 1997, với độ nhạy lên đến 92% sovới 39% (1997)
Trang 251.3.2 Những yếu tố tiên lượng SXHD nặng
Có những bằng chứng cho thấy mức độ biểu hiện nặng của nhiễm DENVtùy thuộc vào một số yếu tố, ví dụ những yếu tố liên quan vi rút (như độc lựcDENV, tải lượng vi rút) những thành phần vi rút và tình trạng ký chủ khácnhau (tuổi, di truyền, tình trạng dinh dưỡng, phản ứng miễn dịch ký chủ, bệnhkết hợp, dấu hiệu lâm sàng và xét nghiệm cũng như nồng độ các chất khácnhau trong huyết tương)
1.3.2.1 DENV
Những nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và trên thú vật đã chỉ ra rằngmức độ biểu hiện nặng của nhiễm DENV được cho là bị ảnh hưởng bởinhững thuộc tính nội tại và độc lực của dòng và týp huyết thanh bị nhiễm.Những quan sát trên người cũng gợi ý rằng nhiễm vi rút liên tiếp thì quantrọng cho độ nặng của bệnh
Thực tế cho thấy rằng nhiễm khác týp thứ phát với chuỗi gien châu Ácủa týp huyết thanh DENV-2 thì liên quan đến SXHD và hội chứng sốcSXHD ở Đông Nam Á và châu Mỹ Ngược lại chuỗi gien châu Mỹ của týphuyết thanh DENV-2 liên quan với bệnh nhẹ, được cho là ít có khả năng nhân
lên trong Aedes aegypti [141].
1.3.2.2 Thành phần vi rút
Bộ gien vi rút mã hóa 3 protein cấu trúc (C, prM, E) và ít nhất 7 proteinphi cấu trúc (NS1, NS2A, NS2B, NS3, NS4A, NS4B và NS5) Trong số cácprotein phi cấu trúc, NS1 được nói đến nhiều và được cho là giữ vai trò chínhtrong mức độ nặng của bệnh, bởi vì nồng độ NS1 tự do trong huyết thanh liênquan với nồng độ vi rút máu và độ nặng của bệnh Nồng độ NS1 ≥ 600 ng/mLtrong vòng 72 giờ đầu khởi bệnh có thể được sử dụng như là một yếu tố đểtiên lượng SXHD [83]
1.3.2.3 Tải lượng vi rút
Trang 26Tải lượng vi rút cao đóng vai trò quan trọng trong việc gây SXHD Từngày 1 đến ngày 4 của bệnh, tải lượng vi rút ở những trường hợp SXHD nặngcao hơn những trường hợp không nặng [113].
1.3.2.4 Tuổi
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng trẻ nhũ nhi và người lớn tuổi liên quan vớiSXHD nặng Hai nhóm tuổi này nằm trong nhóm bệnh nhân được TCYTTGkhuyên nên nhập viện
1.3.2.5 Di truyền
Nghiên cứu đã cho thấy chủng tộc da đen có nguy cơ bị SXHD/ hộichứng sốc SXHD thấp hơn so với người da trắng Hơn nữa, trong tái nhiễm,những người nhóm máu AB có nguy cơ cao bị SXHD độ 3 hơn độ 1 và 2hoặc sốt dengue [26]
1.3.2.6 Tình trạng dinh dưỡng
Nghiên cứu trên 245 trẻ nhũ nhi ở Việt Nam chủ yếu bị nhiễm DENVtiên phát cho thấy những trẻ nhũ nhi có chiều cao và cân nặng thấp so với tuổichiếm số lượng ít hơn trong số những trẻ bị SXHD/ hội chứng sốc SXHD sovới 533 trẻ khỏe mạnh [165] Tuy nhiên một nghiên cứu khác cho thấy trẻ bịsuy dinh dưỡng có nguy cơ bị hội chứng sốc SXHD cao hơn Do đó, cần cónhững nghiên cứu sâu hơn trước khi sử dụng tình trạng dinh dưỡng như là yếu
tố tiên lượng cho SXHD nặng
1.3.2.7 Phản ứng miễn dịch ký chủ
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng đáp ứng miễn dịch ký chủ có thể đóngvai trò trong phát triển SXHD và sốc SXHD, bao gồm đáp ứng miễn dịch quatrung gian tế bào, sản phẩm cytokin của các tế bào khác nhau
1.3.2.8 Những tế bào của đáp ứng miễn dịch tự nhiên
Trong đáp ứng miễn dịch tự nhiên, tế bào giết tự nhiên đóng vai trò quantrọng Chúng gia tăng số lượng sau nhiễm vi rút Nhiều nghiên cứu cho kết
Trang 27quả khác nhau Do đó, cần có những nghiên cứu xa hơn trước khi sử dụng sốlượng tế bào giết tự nhiên như là một yếu tố tiên lượng SXHD nặng.
1.3.2.9 Những tế bào của đáp ứng miễn dịch chuyên biệt
Tế bào lympho T và B bị hoạt hóa khi phơi nhiễm với kháng nguyênDENV Sự hoạt hóa lympho T dẫn đến hoạt hóa bổ thể và sản xuất nhiềucytokin khác nhau và sự hoạt hóa lympho T quá mức có thể dẫn đến đáp ứngcytokin bệnh lý có liên quan đến bệnh nặng
Cytokin
Nồng độ cytokin và những thụ thể hòa tan được của chúng ở những bệnhnhân SXHD cao hơn bệnh nhân sốt dengue đã gợi ý vai trò của một sốcytokin nào đó trong độ nặng của bệnh Do đó, sự gia tăng của một số cytokin
có thể được sử dụng như là yếu tố tiên lượng SXHD nặng [26],[126]
Đáp ứng miễn dịch dịch thể
Một trong những thuyết về bệnh sinh của SXHD và hội chứng sốcSXHD được đề xuất cách đây 3 thập kỷ được gọi là thuyết tăng cường phụthuộc kháng thể (antibody dependent enhancement, viết tắt ADE) Giả thuyếtnày đề xuất rằng những kháng thể trung hòa sẽ cho sự bảo vệ lâu dài đối vớinhiễm thứ phát vi rút tương đồng trong khi đó trong nhiễm týp huyết thanhDENV khác loại, kháng thể có sẵn không trung hòa được mà còn có thể cóhại
Bên cạnh các kháng thể chống lại vi rút còn có một số kháng thể chốnglại NS1 Kháng thể chuyên biệt với NS1 gắn tế bào nội mạc được cho là gópphần vào hội chứng thất thoát mạch máu thông qua việc hoạt hóa dòng thác
bổ thể phụ thuộc kháng thể Thêm vào đó, NS1 gây ra tự kháng thể vớiprotein gian bào và tiểu cầu, đưa đến giảm tiểu cầu Một giả thuyết khác làkháng thể NS1 phản ứng chéo với tế bào nội mạc và gây tổn thương thôngqua hoạt hóa quá trình viêm của tế bào nội mạc Do đó nồng độ kháng thể
Trang 28NS1 là một ứng cử viên tiên lượng cho độ nặng của bệnh, nhưng không thể sửdụng là yếu tố tiên lượng sớm do xuất hiện muộn trong quá trình bệnh.
1.3.2.10 Bệnh đi kèm
Những bệnh nhân có bệnh đi kèm như tiểu đường, cao huyết áp, suy thậnđược xếp vào nhóm B, khuyên nhập viện theo hướng dẫn của TCYTTG vì làyếu tố nguy cơ bệnh nặng
1.3.2.11 Biểu hiện lâm sàng và kết quả cận lâm sàng
Những biểu hiện lâm sàng có thể được sử dụng như yếu tố tiên lượngnặng là đau bụng, gan to, lừ đừ, tay chân lạnh và xuất huyết Về cận lâm sàng,tiểu cầu đếm ≤ 75.000/mm3 và hematocrit tăng hơn 22% so với giá trị nền làyếu tố tiên lượng nặng [73]
1.3.2.12 Nồng độ các chất khác nhau và tế bào tuần hoàn trong huyết tương/ huyết thanh
Nồng độ elastase cao hơn ở những bệnh nhân bị sốc, tràn dịch màngbụng, tràn dịch màng phổi so với những bệnh nhân huyết áp bình thường.Nồng độ thrombomodulin hòa tan, Hyaluronan huyết thanh cũng tăng rõrệt ở những bệnh nhân hội chứng sốc SXHD Ở những bệnh nhân xác địnhSXHD, nồng độ cao Nitric oxide trong huyết thanh có thể sử dụng như là yếu
tố tiên lượng nặng
Các nghiên cứu cũng cho thấy nồng độ các phân tử kết dính hòa tan(sICAM, sVCAM) và số lượng tế bào nội mạc trong tuần hoàn cũng tăngtrong những trường hợp SXHD nặng
Trong tương lai, những xét nghiệm này được nghiên cứu và phát triểnthành những xét nghiệm có hiệu quả về kinh tế để sử dụng như là yếu tố tiênlượng sớm của SXHD nặng
1.3.3 Tiên lượng sớm SXHD nặng
Mặc dù có những tiến bộ trong điều trị và hồi sức, SXHD với biến chứngnặng vẫn còn là nguyên nhân tử vong ở nhiều quốc gia Châu Á và Mỹ Latinh
Trang 29Tỉ lệ tử vong SXHD đã giảm trong hơn 2 thập kỷ qua và hiện tại còn dưới 1%với điều trị thích hợp [103] nhưng có thể lên đến 26% trong SXHD nặng nếuđiều trị không đúng [116] Một trong những cái giá để đạt được tỉ lệ tử vongthấp chính là gánh nặng đối với hệ thống y tế ở một lượng lớn trường hợpSXHD nhập viện và theo dõi sát.
Thật là một thử thách lớn đối với bác sĩ đa khoa và thậm chí bác sĩchuyên khoa nhiễm để tiên đoán trong vài ngày đầu tiên của bệnh rằng bệnhnhân nào sẽ diễn tiến thành SXHD nặng Những triệu chứng và dấu hiệu điểnhình của biến chứng nói chung chỉ xuất hiện trong giai đoạn nguy hiểm từngày 4 đến ngày 6 của bệnh [79],[103],[123] Do đó, tại nhiều nơi, các bác sĩlàm việc trong phòng khám hoặc khoa cấp cứu thường tiếp cận thận trọng vớinhững trường hợp nghi SXHD và cho bệnh nhân nhập viện theo dõi Điều nàyđưa đến việc bị chia sẻ nguồn lực y tế còn hạn chế, phân loại bệnh nhânkhông đúng, nhập viện không cần thiết và tăng chi phí cho bệnh nhân Nhữngnghiên cứu trước đây đã phát triển những tiếp cận khác nhau để nhận diệnnhững yếu tố tiên lượng sớm SXHD nặng bằng cách sử dụng hồi quy logistichoặc cây phân loại và hồi quy [112],[129],[171] Tuy nhiên, kết quả từ nhữngnghiên cứu trước đây nói chung không hữu dụng ở những cơ sở có nguồn lựchạn chế như là những nơi không có sẵn kỹ thuật RT-PCR và huyết thanh họcthường quy Hơn nữa, đa số những nghiên cứu này chỉ chú ý đến SXHD(DHF), một nhóm trường hợp không nhất thiết có lâm sàng nặng [54],[103],[157],[164] Thật ra, lý do cơ bản để ra đời hệ thống phân loại trường hợpTCYTTG năm 2009 là để phân loại chính xác hơn và không bỏ sót nhữngtrường hợp SXHD nặng trên lâm sàng, bao gồm sốc, xuất huyết nặng và suy
cơ quan [103] Thêm vào đó, hầu hết những nghiên cứu tiên lượng sớm
có giới hạn đáng kể không đưa ra giá trị tiên đoán dương và âm của công
cụ tiên lượng hoặc công cụ tiên lượng dựa trên dữ liệu bệnh nhân đã nhậpviện [39],[52],[73],[129],[154]
Trang 301.4 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
1.4.1 Nghiên cứu thử nghiệm phát hiện kháng nguyên NS1 DENV
và các mô hình chẩn đoán sớm:
Nghiên cứu trên thế giới
Alcon S và cs (2002) [23] đã chứng minh rằng kháng nguyên NS1 củaDENV hiện diện trong huyết thanh bệnh nhân dengue từ ngày đầu tiên saukhởi sốt cho đến ngày thứ 9 Nồng độ kháng nguyên NS1 của DENV tìm thấy
là 0,04 - 2g/mL trong huyết thanh cấp (từ ngày 0 đến ngày 7), và trong huyếtthanh giai đoạn hồi phục (sau ngày 8) là 0,04g/mL Trong trường hợp táinhiễm DENV, mức kháng nguyên NS1 của DENV tìm thấy là 0,01 - 2g/mLtrong huyết thanh cấp và không phát hiện trong huyết thanh giai đoạn hồiphục
Libraty (2002) [82] đã chứng minh nồng độ kháng nguyên NS1 dengue
tự do trong huyết tương bệnh nhân có liên quan chặt chẽ với nhiễm vi rúthuyết và cao hơn ở bệnh nhân SXHD so với bệnh nhân sốt dengue Như vậy,việc phát hiện sớm kháng nguyên NS1 dengue có thể hữu ích trong điều trịbệnh nhân SXHD và các nghiên cứu tương lai về mối tương quan của NS1trong sinh bệnh học vi rút của bệnh SXHD
Xu H và cs (2006) [148] chứng minh kháng nguyên NS1 DENV-1 có thểphát hiện trong huyết thanh bệnh nhân SXHD từ ngày đầu tiên đến 18 ngàysau khi khởi bệnh, với đỉnh cao vào ngày 6 đến ngày 10 Kháng nguyên NS1dengue và kháng thể IgM kháng DENV được phát hiện đồng thời bằng xétnghiệm ELISA trong huyết thanh bệnh nhân cấp nhưng tỉ lệ dương tính củakháng nguyên NS1 dengue cao hơn kháng thể IgM từ ngày 1 đến ngày 3 củabệnh Xét nghiệm trên 469 người cho máu khỏe mạnh, nghiên cứu tìm thấy
độ đặc hiệu của xét nghiệm ELISA kháng nguyên NS1 DEN (BIO-RAD) là98,9% Không có phản ứng chéo nào xảy ra giữa 4 týp DENV với các
Trang 31flavivirut khác là vi rút viêm não Nhật Bản và vi rút sốt vàng trên bệnh phẩmlâm sàng và sản phẩm nuôi cấy vi rút.
Dussart P và cs (2006) [48] tìm thấy kháng nguyên NS1 hiện diện tronghuyết thanh bệnh nhân SXHD từ ngày 0 đến ngày 9 (ngày 0 tương ứng vớingày khởi sốt) trong khi kháng thể IgM không xuất hiện (tỉ lệ xét nghiệmdương tính < 50% bệnh nhân) cho đến giai đoạn hồi phục sớm (ngày 5 đếnngày 10 sau khi khởi sốt) Độ nhạy chung của xét nghiệm ELISA khángnguyên NS1 DEN (81,6%) cao hơn hẳn xét nghiệm MAC-ELISA DEN(26,7%) Độ đặc hiệu của bộ sinh phẩm BIO-RAD là 100% (KTC 97,5%, test
1 đuôi: 92,6%-100,0%)
Maria G Guzman và cs (2010) [57] đã tiến hành nghiên cứu trên 1.385bệnh nhân ở 6 quốc gia Châu Á và Châu Mỹ để so sánh độ nhạy và độ đặchiệu của 2 thử nghiệm Pan-E và Platelia Kết quả cho thấy Platelia thực hiệntốt nhất, có độ nhạy trung bình (trung vị 64%, trong khoảng từ 34- 76%), độđặc hiệu cao (100%) trong chẩn đoán SXHD Độ nhạy xét nghiệm thay đổitheo vùng địa lý, nói chung cả 2 thử nghiệm đều nhạy hơn ở những bệnh nhânĐông Nam Á so với bệnh nhân ở Châu Mỹ
David Chadwick và cs (2006) đã nghiên cứu trên 381 bệnh nhân ngườilớn bị sốt nhập viện để xây dựng công cụ chẩn đoán SXHD Mô hình chỉ dựatrên lâm sàng bao gồm các biến số đau cơ, ửng đỏ da, phát ban, chấm xuấthuyết rải rác và tần số mạch có thể phân biệt SXHD với các bệnh sốt kháccho độ nhạy 74% và độ đặc hiệu 79% Trong khi đó mô hình bao gồm cả lâmsàng và xét nghiệm bao gồm các biến phát ban, hemoglobin, số lượng bạchcầu, creatinin, bilirubin và thời gian Prothrombin có thể chẩn đoán SXHD với
độ nhạy 84% và độ đặc hiệu 85% [36]
Jame A Potts và cs (2010) xây dựng mô hình chẩn đoán sớm SXHDtrước 72 giờ dựa trên các biến số tuổi, số lượng bạch cầu, tiểu cầu,
Trang 32hematocrit, neutrophil, AST và dấu dây thắt cho độ nhạy 89,2% và độ đặchiệu 88,4% Nghiên cứu thực hiện trên trẻ từ 6 tháng đến 15 tuổi [111].
Hope H Biswas và cs (2012) thực hiện nghiên cứu đoàn hệ trên 3.800 trẻ
từ 2 đến 14 tuổi tại Nicaragua Kết quả cho thấy từ ngày 1 đến 3 của bệnh,những trường hợp xét nghiệm dengue dương tính có sốt, nhức đầu, đau sauhốc mắt, đau cơ, đau khớp và ói cao gấp 2 lần so với những bệnh nhân bịSDNNK Ngoài ra, những trường hợp xét nghiệm dengue dương tính nàycũng có phát ban, chấm xuất huyết da, dấu dây thắt dương tính, giảm bạchcầu, số lượng tiểu cầu ≤ 150.000/mm3, tưới máu kém, lạnh chi và hạ huyết ápcao gấp 3-9 lần khi so với những bệnh nhân bị SDNNK [31]
Một nghiên cứu khác trên bệnh nhân từ 12 tuổi trở lên ở Brazil xem xétđặc điểm lâm sàng và xét nghiệm để chẩn đoán sớm bệnh SXHD, tác giả xâydựng mô hình bao gồm sung huyết kết mạc và bạch cầu với độ nhạy 80,8% và
độ đặc hiệu 71,1% Tuy nhiên, nghiên cứu này có cỡ mẫu nhỏ và không cókiểm định mô hình [157]
Nghiên cứu trong nước
Cao Minh Nga và Nguyễn Thanh Liêm (2007) [12] nghiên cứu 66 mẫuhuyết thanh của bệnh nhân người lớn được chẩn đoán Sốt dengue/SXHD trênlâm sàng tại BV Thống Nhất TP.HCM trong tháng 12/2006 Kết quả tỉ lệdương tính chung của lô nghiên cứu là 45,45%
Nguyễn Thị Nhung và Nguyễn Văn Tân Minh (2008) [14] nghiên cứuhồi cứu trên 1.170 trường hợp bệnh nhi làm xét nghiệm NS1 Ag và đối chiếuvới chẩn đoán xuất viện Kết quả: chỉ số Kappa = 0,7; cho thấy sự thống nhấtđáng kể giữa kết quả lâm sàng và cận lâm sàng
Nghiên cứu của tác giả Phạm Văn Bé Bảy (2008) [1] đã cho thấy độnhạy của hai xét nghiệm ELISA kháng nguyên NS1 DEN và RT-PCR DENkhác biệt không ý nghĩa trong chẩn đoán sớm bệnh Sốt dengue/SXHD (p =0,2483)
Trang 33Vũ Thị Quế Hương (2009) và cs [7] nghiên cứu 122 mẫu huyết thanhcấp trong 3 ngày đầu của bệnh cho thấy sự kết hợp hai xét nghiệm ELISAphát hiện kháng nguyên NS1 DEN và phát hiện kháng thể IgM kháng DENVtrong chẩn đoán sớm bệnh SXHD giúp xác định 100% bệnh nhân SXHD khixét nghiệm huyết thanh cấp tính của bệnh nhân thu thập trong vòng 5 ngàyđầu sau sốt.
Trần Kim Phụng (2010) [16] nghiên cứu trên các bệnh nhân có các triệuchứng lâm sàng theo dõi dengue/ SXHD trên địa bàn tỉnh Quảng Trị từ tháng2-11/2008 Kết quả 75 mẫu huyết thanh lấy từ các bệnh nhân này được xétnghiệm bằng 2 sinh phẩm MAC-ELISA và Platelia dengue NS1 Ag của Bio-Rad cho thấy tỉ lệ phát hiện nhiễm dengue của Platelia Dengue NS1 Ag là36%, của sinh phẩm MAC-ELISA là 25,3%
Hà Văn Phúc (2010) [15] nghiên cứu trên 244 bệnh nhân tại Bệnh viện
Đa khoa Vĩnh Thuận, Kiên Giang và Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh từnăm 2005-2008 cho kết quả xét nghiệm ELISA phát hiện kháng nguyên NS1trong 7 ngày của bệnh SXHD cho tỉ lệ dương tính trung bình là 88,64%, caonhất vào ngày thứ 2 của bệnh (96,77%) và giảm dần các ngày sau, xét nghiệm
có độ nhạy trung bình 88,64% và độ đặc hiệu là 100%
Vũ Thị Tường Vân (2011) [21] nghiên cứu trên 315 mẫu máu của bệnhnhân được chẩn đoán lâm sàng là Sốt dengue/SXHD đến khám và điều trị tạiBệnh viện Bạch Mai năm 2009-2010 Kết quả: Tỉ lệ bệnh nhân trong nhómnghiên cứu có kháng nguyên NS1 trong huyết thanh là 60,63% và có khángthể kháng DENV là 83,17% và kháng nguyên NS1 xuất hiện cao nhất ở 3ngày đầu của bệnh (75%) Tỉ lệ kháng nguyên NS1 dương tính ở nhóm sơnhiễm dengue (82,35%) cao hơn so với nhóm tái nhiễm (60,30 %), với p <0,001
Lê Thị Ngân (2011) [13] nghiên cứu trên 242 mẫu máu của những bệnhnhân được chẩn đoán lâm sàng là Sốt dengue/ SXHD vào điều trị tại bệnh
Trang 34viện Bạch Mai Kết quả là kỹ thuật ELISA phát hiện kháng nguyên NS1 và
kỹ thuật RT-PCR phát hiện ARN vi rút rất có giá trị chẩn đoán trong 3 ngàyđầu tiên của bệnh với tỉ lệ dương tính tương ứng là 68,2% và 75% Từ ngàythứ 4 trở đi, khả năng phát hiện ARN vi rút bằng kỹ thuật RT-PCR giảm đáng
kể trong khi kỹ thuật ELISA phát hiện kháng nguyên vẫn phát hiện đượckháng nguyên NS1 trong máu với tỉ lệ cao ngay cả khi kháng thể IgM đặchiệu DENV xuất hiện (67,4 % NS1 dương tính ở ngày thứ 7 của bệnh)
Nguyễn Minh Tuấn và cs (2015) [135] nghiên cứu đa trung tâm tại 5 tỉnhthành phía Nam trên 5729 trẻ sốt trong vòng 72 giờ nghi SXHD Tác giả đãxây dựng mô hình chẩn đoán SXHD sớm sử dụng tuổi bệnh nhân, số lượngbạch cầu và tiểu cầu với độ nhạy 74,8% và độ đặc hiệu 76,3%
1.4.2 Nghiên cứu tiên lượng sớm SXHD nặng
Nghiên cứu trên thế giới
Nhiều tác giả trên thế giới đã nghiên cứu các yếu tố liên quan SXHDnặng Lum 2002 [80] nhận ra tiểu cầu đếm không tiên lượng xuất huyết Thờigian kéo dài của sốc và hematocrit bình thường-thấp lúc vào sốc là những yếu
tố nguy cơ của xuất huyết nặng
Nghiên cứu hồi cứu của K a l a y a n a r o o j S và cs (2005) [71] trên 4.532trường hợp đã xác định SXHD nhập viện cho thấy 80,9% là SXHD và trong
số đó 30,6% bị sốc Trẻ suy dinh dưỡng có nguy cơ vào sốc là 37,8%, caohơn trẻ có cân nặng bình thường (29,9%) và trẻ béo phì (30,2%)
Tantracheewathorn T và cs (2007) [130] nghiên cứu trên 110 trẻ SXHD
và 65 trẻ hội chứng sốc SXHD nhập viện cho kết quả: những yếu tố nguy cơcủa hội chứng sốc SXHD là xuất huyết, nhiễm dengue thứ phát và cô đặc máutrên 22%
Katherine L Anders và cs (2011) [25] nhận thấy ở những trẻ bị SXHDnhập viện, độ tuổi có nguy cơ bị sốc cao nhất là 6-10 tuổi, trẻ gái có nguy cơ
bị sốc và tử vong cao hơn
Trang 35Fariz- Safhan, M.N và cs [50] nghiên cứu hồi cứu trận dịch SXHD năm
2005 ở vùng biển Đông của Peninsular, Malaysia Kết quả cho thấy, xuất huyết nặng (gồm xuất huyết tiêu hóa, xuất huyết nội sọ và ho ra máu) chiếm14,6% AST, ALT và bilirubin tăng liên quan với tăng mức độ xuất huyết (P
< 0.05) Tiểu cầu đếm và nồng độ albumin máu có liên quan nghịch với độnặng xuất huyết (P< 0,001)
Julia N.A Mangione và cs (2014) [89] chứng tỏ rằng các cytokin IFNγand VCAM-1 có liên quan đến hội chứng sốc SXHD, mặc dù vai trò củachúng trong sinh bệnh học SXHD nặng vẫn còn chưa rõ
Có một số nghiên cứu đã phát triển những tiếp cận khác nhau để nhậndiện những yếu tố tiên lượng sớm SXHD nặng bằng cách sử dụng hồi quilogistic hoặc cây hồi qui và phân loại [111],[112],[129],[158] Tuy nhiên, kếtquả từ những nghiên cứu này nói chung không hữu dụng ở những cơ sở cónguồn lực hạn chế như là những nơi không có sẵn kỹ thuật RT-PCR và huyếtthanh học thường qui Hơn nữa, đa số những nghiên cứu này chỉ chú ý đếnnhóm SXHD (DHF), một nhóm trường hợp bao gồm cả những trường hợpkhông nặng [54],[157],[164] Thêm vào đó, hầu hết những nghiên cứu tiênlượng sớm có giới hạn đáng kể không đưa ra giá trị tiên đoán dương và âmcủa công cụ tiên lượng hoặc công cụ tiên lượng dựa trên dữ liệu bệnh nhân đãnhập viện [39],[52],[73],[129],[154]
Nghiên cứu tiến cứu của Potts và cs (2010) trên 1.384 trẻ em Thái bị sốt(trong đó 37 bị sốc SXHD) sử dụng phân tích cây hồi qui và phân loại xuấtphát từ thuật toán gồm các biến số xét nghiệm thu thập ở thời thời điểm vàonghiên cứu (số lượng tiểu cầu, bạch cầu, phần trăm monocyte và hematocrit).Thuật toán tốt nhất có độ nhạy 97% và độ đặc hiệu 48% để nhận diện nhữngbệnh nhân tiến triển thành sốc SXHD [112]
Lukas Tanner và cs (2008) đã thực hiện nghiên cứu tiến cứu trên 1.200bệnh nhân người lớn đến trong 72 giờ đầu của sốt tại Singapore và Việt Nam
Trang 36Tác giả đã xây dựng một toán đồ quyết định có thể tiên đoán SXHD nặng,biểu thị thông qua giảm tiểu cầu đến mức thấp nhất nhỏ hơn hoặc bằng50.000/mm3, toán đồ sử dụng biến số tiểu cầu đếm, giá trị cắt của real-timePCR cho RNA DENV và sự hiện diện của IgG kháng dengue tồn tại từ trước[129].
Nghiên cứu trong nước
Tạ Văn Trầm (2001) [19] nghiên cứu trong 5 năm từ 1996-2000, tạiKhoa Nhi Bệnh viện Đa khoa Tiền Giang có 1.157 trường hợp sốc SXHD,trong đó có 34 trường hợp tử vong chiếm tỉ lệ 2,9% Nguyên nhân chính gây
tử vong là sốc kéo dài gây ra các hậu quả xuất huyết tiêu hóa, xuất huyết não,suy hô hấp, sốc không hồi phục…
Phan Hữu Nguyệt Diễm (2004) [4] nghiên cứu trên 231 trường hợpSXHD nhập khoa Hồi sức và khoa Sốt xuất huyết Bệnh viện Nhi đồng 1 chokết quả SXHD có sốc chiếm 179 trường hợp chiếm tỉ lệ 75,5%; trong đó độ 3chiếm 64,1% và độ 4 chiếm 13,4% SXHD có sốc lứa tuổi thường gặp là 5-9tuổi Bệnh nhân sốc nặng có nguy cơ tử vong cao gấp 26 lần
Tiêu Ngọc Trân (2004) nghiên cứu trên 276 trường hợp SXHD tại bệnhviện Nhi đồng 1 từ 2003-2004 cho kết quả: tỉ lệ bệnh nhân sốc là 50,7%.Trong nhóm bệnh nhân sốc, nam chiếm 44,1%; nhóm tuổi có trẻ vào sốc caonhất là 5-9 tuổi Trẻ có gan to khả năng vào sốc cao gấp 21,05 lần so với trẻkhông có gan to Giá trị trung bình của AST ở nhóm có sốc là 101,7 U/L vànhóm không sốc là 71,9 U/L; sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Giá trị trungbình của cholesterol là 98,2 mg% so với nhóm không sốc là 104,2 mg%, sựkhác biệt có ý nghĩa thống kê [20]
Nguyễn Thanh Hùng và cs (2006) [96] nghiên cứu trên 272 trẻ nhũ nhiSXHD nhập viện, trong đó có 13 bệnh nhân bị suy hô hấp cấp (10 có sốc và 3không sốc) vào khoảng ngày 4 đến ngày 7 của bệnh Trong số bệnh nhân bịsuy hô hấp cấp, có 2 bệnh nhân được chẩn đoán quá tải dịch Quá tải dịch
Trang 37cũng có nhiều khả năng nhất là nguyên nhân gây suy hô hấp ở 5 bệnh nhânkhác Sốc kéo dài và có viêm phổi kèm theo có liên quan mạnh đến suy hôhấp cấp.
Phan Văn Nam và Võ Thị Thu Hương (2008) [11] nghiên cứu trên 143trẻ bị sốc SXHD nhập viện tại Bệnh viện Đa khoa Vĩnh Long từ 2003-2004,
có 54 (37,8%) trường hợp tái sốc Các yếu tố liên quan đến tái sốc là ngày vàosốc sớm (ngày thứ tư), còn sốt lúc sốc, SXHD độ 4, xuất huyết tiêu hóa
Lý Tố Khanh (2009) nghiên cứu trên các bệnh nhân SXHD tại Bệnh việnNhi đồng 1 nhận thấy các yếu tố liên quan đến tái sốc là bệnh nhân đượcchuyển từ tuyến trước đến (OR điều chỉnh= 4,3; khoảng tin cậy 95% =1,7-10,7; P=0,02), suy hô hấp (OR điều chỉnh= 7,03; khoảng tin cậy 95% = 2,8-18; p=0,01) [8]
Nguyễn Minh Tuấn (2017) nghiên cứu trên 7563 bệnh nhi nghi SXHD,tác giả đã xây dựng mô hình tiên lượng sớm SXHD nặng gồm các biến số ói,
số lượng tiểu cầu, nồng độ AST và kết quả xét nghiệm nhanh NS1 với độnhạy 87%, độ đặc hiệu 88%, giá trị tiên đoán dương 10%, giá trị tiên đoán âm99% [95]
Trang 38CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Dân số nghiên cứu
2.1.1.1 Dân số mục tiêu: Bệnh nhân có sốt trong vòng 72 giờ đến khám
tại phòng khám Nhi của Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang
2.1.1.2 Dân số chọn mẫu: Bệnh nhân có sốt trong vòng 72 giờ đến
khám tại phòng khám Nhi của Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang từngày 1/6/2011 đến ngày 31/12/2013
2.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu
2.1.2.1 Tiêu chuẩn chọn vào
- Sốt trong vòng 72 giờ đầu của bệnh
- Có biểu hiện lâm sàng nghi SXHD*
2.1.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ
Tiền sử có một trong các bệnh lí: viêm gan, suy gan, suy thận, di chứngnão, bại não, chấn thương cơ xương
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 392.2.1 Nơi nghiên cứu
Nghiên cứu này nằm trong nghiên cứu đa trung tâm được OUCRU-VNtiến hành tại 7 địa điểm thuộc 5 tỉnh thành phía Nam Tại Tiền Giang, nghiêncứu được tiến hành tại phòng khám Nhi và khoa Nhi, bệnh viện Đa khoaTrung tâm Tiền Giang Nơi đây thường tiếp nhận khám, điều trị cho hầu hếtcác trường hợp bệnh nhi bị SXHD của thành phố Mỹ Tho và một số bệnh nhi
từ các huyện lân cận như Chợ Gạo, Châu Thành, Cai Lậy, Tân Phước… đồngthời là tuyến cuối của tỉnh Tiền Giang trong điều trị bệnh nhi
2.2.2 Thiết kế nghiên cứu: đoàn hệ tiến cứu
2.2.3 Cỡ mẫu:
Chúng tôi tính cỡ mẫu cho mục tiêu quan trọng nhất của nghiên cứu làxác định giá trị chẩn đoán của xét nghiệm Dengue NS1 Ag Strip Nhiềunghiên cứu trước đây ở nhiều nơi đã cho thấy xét nghiệm này có độ đặc hiệucao, gần 100% [63],[105],[108],[114],[133] Do đó, trong nghiên cứu này,chúng tôi chỉ tính cỡ mẫu dựa trên công thức để ước tính độ nhạy xét nghiệmnhư sau:
Trong đó:
• nse = số lượng cỡ mẫu để ước tính độ nhạy
• TP = số dương tính thật
• FN = số âm tính giả
• Zα= hằng số của phân phối chuẩn, chọn α= 0,05 thì Zα= 1,96
• Pse = Xác suất dương tính thật (độ nhạy) Xét nghiệm NS1 Strip trong nghiên cứu của tác giả V T Hang tại TP.HCM có độ nhạy 72% [63]
Trang 40• w = sai số giữa 2 xác suất dương tính thật (độ nhạy) và âm tínhthật (độ đặc hiệu) = 0,05.
• Pdis = Tỉ lệ bệnh trong dân số Trong một nghiên cứu tương tựthực hiện tại Singapore và Việt Nam, tỉ lệ SXHD xác định bằng xét nghiệmtrong dân số những trường hợp sốt cấp trong vòng 72 giờ đầu nghi SXHD là30,3% [129]
Thay vào công thức, tính được:
nse= 1022,3 hay nse = 1023 BN
2.2.4 Kỹ thuật chọn mẫu
Chọn mẫu không xác suất, lấy trọn mẫu trong thời gian nghiên cứu
2.2.5 Liệt kê và định nghĩa biến số
Các nhóm biến số trong nghiên cứu này gồm biến số về dịch tễ, lâm sàng
và cận lâm sàng (huyết học, sinh hóa và các xét nghiệm chẩn đoán) (Bảng2.1)
Bảng 2.1: Định nghĩa, phân loại và giá trị các biến số trong nghiên cứu.
Biến số Định nghĩa Loại
biến
Giá trị/Đơn vị
Theo tiêu chuẩn chẩn đoán củaTCYTTG 2009*
Theo tiêu chuẩn chẩn đoán củaTCYTTG 2009** và được xác địnhSXHD
Nhị giá Có, không
Nhị giá Có, khôngNhị giá Có, không
SXHD Xác định SXHD và không có dấu hiệu Nhị giá Có, không