Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý chất thải nguy hại tại một số cơ sở sản xuất tại Khu kinh tế Nghi Sơn, tỉnh Thanh HóaĐánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý chất thải nguy hại tại một số cơ sở sản xuất tại Khu kinh tế Nghi Sơn, tỉnh Thanh HóaĐánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý chất thải nguy hại tại một số cơ sở sản xuất tại Khu kinh tế Nghi Sơn, tỉnh Thanh HóaĐánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý chất thải nguy hại tại một số cơ sở sản xuất tại Khu kinh tế Nghi Sơn, tỉnh Thanh HóaĐánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý chất thải nguy hại tại một số cơ sở sản xuất tại Khu kinh tế Nghi Sơn, tỉnh Thanh HóaĐánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý chất thải nguy hại tại một số cơ sở sản xuất tại Khu kinh tế Nghi Sơn, tỉnh Thanh HóaĐánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý chất thải nguy hại tại một số cơ sở sản xuất tại Khu kinh tế Nghi Sơn, tỉnh Thanh HóaĐánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý chất thải nguy hại tại một số cơ sở sản xuất tại Khu kinh tế Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa
Trang 1- -
HOÀNG THỊ MINH
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI TẠI MỘT SỐ CƠ SỞ SẢN XUẤT TẠI KHU KINH TẾ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 2- -
HOÀNG THỊ MINH
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI TẠI MỘT SỐ CƠ SỞ SẢN XUẤT TẠI KHU KINH TẾ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
Ngành: Khoa học môi trường
Mã số ngành: 8.44.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích trong luận văn đều đã được ghi rõ nguồn gốc./
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Minh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian thực tập và nghiên cứu tại Khu Kinh tế Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình Để luận hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ của nhiều cơ quan, doanh nghiệp, cá nhân Với tình cảm sâu sắc, chân thành, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến tất cả các cơ quan, doanh nghiệp và cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ trong quá trình nghiên cứu đề tài
Trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu Trường Đại hoc Nông lâm Thái Nguyên, Phòng Đào tạo - Đào tạo sau Đại học, Khoa Môi trường, Khoa Quản lý Tài nguyên cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo đã tận tụy dạy dỗ tôi trong suốt thời gian học tập cũng như thời gian thực tập tốt nghiệp
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này trong thời gian qua
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Lãnh đạo và cán bộ Ban Quản lý Khu Kinh tế Nghi Sơn và các Khu công nghiệp, phòng Tài nguyên và Môi trường - UBND huyện Tĩnh Gia; Ban lãnh đạo và đội ngũ cán bộ Chi cục Bảo vệ môi trường Thanh Hóa nơi tôi nghiên cứu đề tài, đã tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt thời gian thực tập
Với điều kiện thời gian cũng như kinh nghiệm còn hạn chế của một học viên, luận văn này không thể tránh được những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các thầy cô để tôi hoàn chỉnh đề tài này tốt hơn, phục vụ tốt hơn công tác thực tế sau này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Minh
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ viii
1 Tính cấp thiết của đề tài 21
2 Mục tiêu của đề tài 23
2.1 Mục tiêu tổng quát 23
2.2 Mục tiêu cụ thể 23
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 24
3.1 Ý nghĩa khoa học 24
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 24
CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 25
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 25
1.2 Cơ sở pháp lý 31
1.3 Cơ sở thực tiễn 33
1.3.1 Quản lý chất thải nguy hại trên Thế giới 33
1.3.2 Quản lý chất thải nguy hại tại Việt Nam 35
Chương II NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 2
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 2
2.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 2
2.3 Nội dung nghiên cứu 2
2.3.1 Giới thiệu chung về KKT Nghi Sơn 2
2.3.2 Đánh giá hiện trạng phát sinh CTNH tại một số cơ sở sản xuất tại KKT Nghi Sơn 2
2.3.3 Đánh giá hiện trạng quản lý CTNH tại một số cơ sở sản xuất tại KKT Nghi Sơn 3
Trang 62.3.4 Đánh giá công tác quản lý chất thải nguy hại qua ý kiến của các nhóm
đối tượng nghiên cứu 3
2.3.5 Đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất thải nguy hại tại KKT Nghi Sơn 3
2.4 Phương pháp nghiên cứu 4
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp và tổng hợp các tài liệu 4
2.4.2 Phương pháp điều tra, khảo sát, thu thập số liệu sơ cấp: Chủ yếu sử dụng phương pháp phỏng vấn 4
2.4.3 Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu 6
2.4.4 Phương pháp kế thừa 6
2.4.5 Phương pháp chuyên gia 6
Chương III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 7
3.1 Tình hình chung về KKT Nghi Sơn 7
3.1.1 Điều kiện tự nhiên và xã hội 8
3.1.2 Hạ tầng kỹ thuật 10
3.1.3 Hạ tầng xã hội 12
3.1.4 Quy hoạch các khu chức năng 12
3.1.5 Về thu hút các Dự án đầu tư 13
3.1.6 Các chính sách ưu đãi, đầu tư đối với các dự án đầu tư vào KKT Nghi Sơn 14
3.2 Tình hình phát sinh chất thải nguy hại tại một số cơ sở sản xuất tại KKT Nghi Sơn 17
3.3 Tình hình quản lý, xử lý CTNH tại một số cơ sở sản xuất tại KKT Nghi Sơn 22
3.3.1 Việc đăng ký Sổ đăng ký chủ nguồn thải CTNH của các cơ sở 22
3.3.2 Hiện trạng công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải nguy hại của một số cơ sở sản xuất, kinh doanh tại KKT Nghi Sơn 25
3.3.4 Những vấn đề khó khăn, tồn tại trong công tác quản lý CTNH tại KKT Nghi Sơn 37
3.4 Đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất thải nguy hại tại KKT Nghi Sơn 42
3.4.1 Mục tiêu 42
3.4.2 Nội dung thực hiện 42
Trang 73.4.3 Giải pháp thực hiện: 43
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 55
1 Kết luận 55
2 Kiến nghị 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BTNMT Bộ Tài nguyên và Môi trường
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Lượng chất thải rắn công nghiệp phát sinh năm 2011Error! Bookmark not defined
Bảng 1.2: Đặc trưng phát thải chất thải rắn từ sản xuất của một số loại hình làng
nghề Error! Bookmark not defined
Bảng 1.3: Thống kê công nghệ xử lý chất thải nguy hại ở Việt NamError! Bookmark not defined
Bảng 1.4: Tổng hợp số lượng các đơn vị trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa được
cấp Sổ đăng ký chủ nguồn thải CTNH qua các năm [13] 33
Bảng 3.1: Danh sách một số cơ sở sản xuất có phát sinh CTNH 17
Bảng 3.2: Thành phần, khối lượng chất thải nguy hại phát sinh 40
Bảng 3.3: Chi tiết lượng chất thải nguy hại phát sinh của từng doanh nghiệp 44
Bảng 3.4: Tỷ lệ của từng loại chất thải nguy hại phát sinh 20
Bảng 3.5: Số liệu điều tra về tình hình đăng ký cấp Sổ đăng ký chủ nguồn thải
CTNH 23
Bảng 3.6: Tỷ lệ số cơ sở được cấp Sổ đăng ký chủ nguồn thải CTNH 24
Bảng 3.7 Đánh giá công tác phân loại, lưu chứa chất thải nguy hại tại các
cơ sở Error! Bookmark not defined
Bảng 3.8: Công tác xử lý CTNH tại các cơ sở 27
Bảng 3.9: Tỷ lệ của từng loại chất thải nguy hại được xử lý theo quy định 28
Bảng 3.10: Các phương tiện, thiết bị được phép vận hành của Công ty 30
Bảng 3.11: Các phương tiện, thiết bị được phép vận hành của Công ty 31
Trang 11
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thanh Hóa là tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ có 27 đơn vị hành chính gồm 02 thành phố, 01 thị xã và 24 huyện với tổng dân số trên 3,7 triệu người, diện tích là 1.113.341,71 ha có cả 3 vùng: Miền núi, đồng bằng và trung du Trong những năm qua, cùng với sự phát triển chung của cả nước theo định hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, Thanh Hóa có tốc độ phát triển nhanh
về công nghiệp với nhiều doanh nghiệp đã và đang tích cực đầu tư vào các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, làng nghề Trên địa bàn tỉnh hiện có 05 Khu công nghiệp (KCN Lễ Môn, KCN Tây Bắc Ga, KCN Bỉm Sơn, KCN Hoàng Long, KCN Lam Sơn), 01 Khu kinh tế Nghi Sơn (KKT Nghi Sơn) và
57 cụm công nghiệp, 156 làng nghề đang hoạt động [10]
KKT Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa được thành lập từ năm 2006 theo Quyết định số 102/2006/QĐ-TTg ngày 15/5/2006 của Thủ tướng Chính phủ
về việc thành lập và ban hành quy chế hoạt động của KKT Nghi Sơn Phạm vi của Khu kinh tế Nghi Sơn bao gồm 12 xã: Hải Bình, Xuân Lâm, Tĩnh Hải, Hải Yến, Mai Lâm, Hải Thượng, Hải Hà, Nghi Sơn, Trúc Lâm, Trường Lâm, Tùng Lâm, Tân Trường thuộc huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa với tổng diện tích 18.611,8 ha, là một trong 5 khu kinh tế trọng điểm được Chính phủ ưu tiên đầu tư với nhiều cơ chế, chính sách ưu đãi hấp dẫn Với 172 dự án đầu tư vào KKT Nghi Sơn, trong đó các dự án trọng điểm, có tác động đòn bẩy phát triển như dự án Lọc hóa dầu Nghi Sơn, Nhiệt điện Nghi Sơn, xi măng Công Thanh, cảng biển nước sâu Nghi Sơn và nhiều dự án khác, KKT Nghi Sơn đang đứng trước cơ hội, vận hội lớn để phát triển trong tương lai [4] [15]
Tuy nhiên, đi đôi với sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp đã kéo theo vấn đề ô nhiễm môi trường do các loại chất thải ngày càng
Trang 12gia tăng về chủng loại và số lượng, trong đó chất thải nguy hại (CTNH) hiện nay là vấn đề mà các cấp, các ngành, người dân và doanh nghiệp quan tâm Lượng phát thải CTNH ngày càng nhiều, hơn nữa lại rất đa dạng về nguồn cũng như chủng loại trong khi công tác phân loại tại nguồn còn kém càng dẫn đến khó khăn cho công tác quản lý và xử lý
Chất thải nguy hại theo định nghĩa của Luật Bảo vệ môi trường năm
2014, đó là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây nhiễm, dễ cháy, dễ nổ, gây ăn mòn, gây ngộ độc hoặc có đặc tính nguy hại khác Chất thải nguy hại thường phát sinh ở các cơ sở công nghiệp như rác thải có liên quan đến thuỷ ngân, kim loại nặng, chì, asenic, giẻ lau dầu mỡ, bóng đèn neon vỡ,
Trong những năm qua, thông qua việc tuyên truyền và triển khai thực hiện các văn bản quy pháp luật liên quan đến công tác quản lý CTNH, công tác quản lý CTNH của tỉnh Thanh Hóa nói chung và của KKT Nghi Sơn nói riêng đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận: Các cơ sở phát sinh CTNH với khối lượng lớn đã thực hiện việc đăng ký chủ nguồn thải CTNH với Sở Tài nguyên và Môi trường, đã thực hiện việc thu gom, hợp đồng xử lý CTNH với các đơn vị có chức năng, định kỳ hằng năm báo cáo tình hình quản lý CTNH gửi về Sở Tài nguyên và Môi trường theo quy định,…Tuy nhiên, trên thực tế công tác quản lý chất thải nguy hại vẫn còn nhiều bất cập: Công tác thu gom, phân loại còn chưa được triệt để, hạ tầng cơ sở để xử lý CTNH vẫn còn thiếu bởi, hiện tại, trên địa bàn tỉnh vẫn chưa có bãi chôn lấp, xử lý an toàn CTNH, chỉ mới có 02 đơn vị được Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp giấy phép hành nghề quản lý CTNH Do đó, chỉ có một số doanh nghiệp có số lượng CTNH lớn hợp đồng với các đơn vị có đủ chức năng để đem CTNH đi
xử lý, các đơn vị có số lượng CTNH ít rất khó hợp đồng được với các đơn vị
có đủ chức năng nên phần lớn vẫn đang thực hiện việc lưu giữ tại đơn vị để tìm kiếm các đơn vị có đủ chức năng đem đi xử lý Việc được cấp giấy phép
Trang 13hành nghề quản lý CTNH cho doanh nghiệp ngoài việc rườm rà, phức tạp về thủ tục hành chính (TTHC) còn đòi phải có năng lực tài chính mạnh do đó có nhiều tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh có nguyện vọng đầu tư vào lĩnh vực này đến nay vẫn chưa thực hiện được; Nhiều doanh nghiệp không có cán bộ chuyên trách về môi trường, hoặc chỉ có cán bộ kiêm nhiệm Vì vậy, việc đầu
tư nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến CTNH còn rất hạn chế, dẫn đến tình trạng đơn vị, doanh nghiệp chưa có cách nhìn đúng đắn về việc kê khai CTNH và thực hiện thu gom, bảo quản, vận chuyển và xử lý CTNH theo đúng quy định nên đã gây khó khăn cho việc theo dõi, cập nhật thông tin về quá trình hoạt động của các chủ nguồn phát thải CTNH, dẫn đến việc quản lý, kiểm soát CTNH vẫn còn nhiều thiếu sót Tình trạng lén đổ chất thải nguy hại
ra môi trường vẫn còn nhiều,…[12]
Xuất phát từ tình hình thực tế và yêu cầu của công tác thu gom, xử lý chất thải nguy hại tại KKT Nghi Sơn, đồng thời tìm ra những giải pháp cho công tác này Được sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông,
tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý chất thải nguy hại tại một số cơ sở sản xuất tại Khu kinh tế Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa”
2 Mục tiêu của đề tài
2.1 Mục tiêu tổng quát
Đánh giá hiện trạng quản lý CTNH tại một số cơ sở sản xuất tại Khu kinh tế Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa từ đó đề xuất các giải pháp quản lý CTNH hiệu quả cho Khu kinh tế Nghi Sơn
Trang 143.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý CTNH đối với KKT Nghi Sơn góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa theo hướng bền vững
Trang 15CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Quản lý chất thải nguy hại (CTNH) là một vấn đề tương đối mới mẻ và đang khá bức xúc trong công tác bảo vệ môi trường tại Việt Nam hiện nay Cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá mạnh mẽ của nước ta, lượng chất thải cũng liên tục gia tăng, tạo sức ép rất lớn đối với công tác bảo
vệ môi trường Theo báo cáo của Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố, lượng chất thải nguy hại phát sinh trên toàn quốc tính đến hết năm
2015 ước khoảng 800 ngàn tấn/năm (CTNH này được thống kê dựa trên số lượng chất thải nguy hại tối đa dự kiến phát sinh từ các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và không bao gồm chất thải nguy hại phát sinh từ các hộ gia đình) Trong khi đó, hiện cả nước có 90 doanh nghiệp, với 56 đại lý thu gom CTNH có địa bàn hoạt động từ hai tỉnh trở lên được Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp phép; khoảng 130 đơn vị do các địa phương cấp phép hoạt động Tuy nhiên, thực tế cho thấy, trước sự gia tăng nhanh chóng của chất thải nguy hại, công tác quản lý, xử lý trong thời gian qua ở nước ta vẫn chưa thật sự đáp ứng được yêu cầu bảo vệ môi trường Do vậy, việc quản lý và xử lý chất thải nguy hại không an toàn đã để lại những hậu quả nặng nề về môi trường; gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng, nhất là hiện nay chưa có công nghệ xử lý chất thải nguy hại hoàn thiện, đạt được các tiêu chí về kỹ thuật, kinh tế - xã hội và môi trường phù hợp với điều kiện của Việt Nam…[2]
* Khái quát về chất thải nguy hại
a/ Các định nghĩa về chất thải nguy hại
Khái niệm về thuật ngữ “CTNH” (Hazardous Waste) lần đầu tiên xuất hiện vào thập niên 70 của thế kỷ trước tại các nước Âu - Mỹ, sau đó mở rộng
Trang 16ra nhiều quốc gia Sau một thời gian nghiên cứu phát triển, tùy thuộc vào sự phát triển khoa học kỹ thuật và xã hội cũng như quan điểm của mỗi nước mà hiện nay trên thế giới có nhiều cách định nghĩa khác nhau về CTNH trong luật
và các văn bản dưới luật về môi trường Chẳng hạn như sau:
- Định nghĩa của Philipine: CTNH là chất có độc tính, ăn mòn, gây kích thích, hoạt tính, có thể cháy, nổ mà gây nguy hiểm cho con người và động vật
- Định nghĩa của Canada: CTNH là những chất mà do bản chất và tính chất của chúng có khả năng gây nguy hại đến sức khỏe con người và/hoặc môi trường, và những chất này yêu cầu các kỹ thuật xử lý đặc biệt để loại bỏ hoặc giảm đặc tính nguy hại của nó [5]
- Định nghĩa của Mỹ: Được đề cập trong đạo luật RCRA (Resource Conservation and Recovery Act -1976: Đạo luật về thu hồi và bảo tồn tài nguyên), chất thải (ở các dạng rắn, lỏng, bán rắn và các bình khí) có thể được coi là CTNH khi:
+ Nằm trong danh mục CTNH do Cục Bảo vệ môi trường Hoa Kỳ EPA (United States Environmental Protection Agency) đưa ra (gồm 4 danh sách)
+ Có một trong 4 đặc tính (khi phân tích) do EPA đưa ra gồm cháy - nổ,
ăn mòn, độc tính và phản ứng Các phân tích để thử nghiệm này cũng do EPA quy định
+ Được chủ nguồn thải (hay nhà sản xuất) tự công bố là CTNH
Bên cạnh đó, CTNH còn gồm các chất gây độc tính đối với con người ở liều lượng nhỏ Đối với các chất chưa có các chứng minh của nghiên cứu dịch
tễ trên con người, các thí nghiệm trên động vật cũng có thể được dùng để ước đoán tác dụng độc tính của chúng lên con người
Theo Công ước Basel, chất thải nguy hại được phân làm 7 nhóm, với
236 danh mục hoá chất độc hại [4]
Qua các định nghĩa được nêu ở trên cho thấy hầu hết các định nghĩa đều đề cập đến đặc tính (cháy - nổ, ăn mòn, hoạt tính và độc tính) của CTNH
Có định nghĩa đề cập đến trạng thái của chất thải (rắn, lỏng, bán rắn, khí), gây tác hại do bản than chúng hay khi tương tác với các chất khác có định nghĩa không đề cập Nhìn chung nội dung của định nghĩa sẽ phụ thuộc nhiều vào
Trang 17tình trạng phát triển khoa học - xã hội của mỗi nước Việc này sẽ giúp cho công tác quản lý chất thải nguy hại được dễ dàng hơn
Tại Việt Nam, định nghĩa về CTNH lần đầu tiên được đưa ra tại Quyết định 155/1999/QĐ-TTg ngày 16/7/1999 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế quản lý chất thải nguy hại quản lý CTNH Tại Điều 3, Mục
2 Quy chế quy định: CTNH là chất thải có chứa các chất hoặc hợp chất có một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp (dễ cháy, dễ nổ, làm ngộ độc, dễ
ăn mòn, dễ lây nhiễm và các đặc tính gây hại khác), hoặc tương tác chất với chất khác gây nguy hại đến môi trường và sức khoẻ con người, so sánh định nghĩa này trong quy chế có nhiều điểm tương đồng với định nghĩa của Liên Hợp quốc và Mỹ [15]
Tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khoá XI, đã thông qua Luật Bảo vệ môi trường số 52/2005/QH11, theo đó, định nghĩa về chất thải nguy hại như sau: Chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ,
dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác [9]
Đến năm 2014, tại kỳ họp 7, Quốc hội khóa 13 đã thông qua Luật Bảo
vệ môi trường số 55/2014/QH13 (thay thế Luật Bảo vệ môi trường năm 2005), tuy nhiên định nghĩa về chất thải nguy hại vẫn giữ nguyên nội dung như định nghĩa của Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 [10]
Hiện nay, việc phân định, phân loại CTNH được thực hiện theo quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư số 36/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về quản lý chất thải nguy hại và quy chuẩn kỹ thuật môi trường về ngưỡng chất thải nguy hại [2]
b/ Nguồn gốc phát sinh chất thải nguy hại
Do tính đa dạng của các loại hình công nghiệp, các hoạt động thương mại tiêu dùng trong cuộc sống hay các hoạt động công nghiệp mà chất thải nguy hại có thể phát sinh từ nhiều nguồn thải khác nhau Việc phát thải có thể
do bản chất của công nghệ, hay do trình độ dân trí dẫn đến việc thải chất thải
có thể là vô tình hay cố ý [8]
Theo quy định tại Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định về quản lý chất thải nguy hại:
Trang 18Danh mục nhóm chất thải được phân loại theo các nhóm nguồn hoặc dòng thải chính như sau:
1 Chất thải từ ngành thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản, dầu khí
4 Chất thải từ nhà máy nhiệt điện và các cơ sở đốt khác
5 Chất thải từ ngành luyện kim và đúc kim loại
6 Chất thải từ ngành sản xuất vật liệu xây dựng và thuỷ tinh
7 Chất thải từ quá trình xử lý, che phủ bề mặt, gia công kim loại và các vật liệu khác
8 Chất thải từ quá trình sản xuất, điều chế, cung ứng, sử dụng các sản phẩm che phủ (sơn, véc ni, men thuỷ tinh), chất kết dính, chất bịt kín và mực
in
9 Chất thải từ ngành chế biến gỗ, sản xuất các sản phẩm gỗ, giấy và bột giấy
10 Chất thải từ ngành chế biến da, lông và dệt nhuộm
11 Chất thải xây dựng và phá dỡ (bao gồm cả đất đào từ các khu vực bị
14 Chất thải từ ngành nông nghiệp
15 Thiết bị, phương tiện giao thông vận tải đã hết hạn sử dụng và chất thải từ hoạt động phá dỡ, bảo dưỡng thiết bị, phương tiện giao thông vận tải
16 Chất thải hộ gia đình và chất thải sinh hoạt từ các nguồn khác
17 Dầu thải, chất thải từ nhiên liệu lỏng, chất thải dung môi hữu cơ, môi chất lạnh và chất đẩy (propellant)
Trang 1918 Các loại chất thải bao bì, chất hấp thụ, giẻ lau, vật liệu lọc và vải bảo vệ
c/ Tác động của chất thải nguy hại đối với môi trường và sức khỏe của con người
CTNH có thể gây tác hại nghiêm trọng đến môi trường sinh thái và sức khỏe cộng đồng ở mức độ khó lường trước nếu không được quản lý, xử lý hợp lý Trên thế giới, có thể kể một số trường hợp điển hình về tác hại của CTNH như sau:
* Vấn đề an toàn:
CTNH ảnh hưởng đến vấn đề an toàn do tính chất dễ cháy nổ, hoạt tính hóa học cao, gây ăn mòn, các chất nguy hại có thể ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng của con người Ngoài ra, CTNH còn phá hủy vật liệu nhanh chóng
Do đó, chúng gián tiếp có ảnh hưởng đến an toàn và sức khỏe con người
Những mối nguy hại tác động lên cộng đồng và môi trường:
- Nguy cơ cháy: cháy sinh ra tác động chính với con người là gây phỏng do nhiệt độ cao, gây tổn thương da, làm mất oxy gây ngạt Các tác
Trang 20động này có thể dẫn đến tử vong đối với con người và động vật Cháy làm phá hủy vật liệu dẫn đến phá hủy công trình Một số chất dễ cháy hay sản phẩm sinh ra từ quá trình cháy là chất độc nên gây ô nhiễm môi trường khí, nước, đất
- Nguy cơ nổ: nổ là các phản ứng hóa học xảy ra cực nhanh, giải phóng
ra một lượng khí rất lớn tạo áp suất cao cục bộ cho vùng không khí xung quanh Ngoài ra, bao bì của chất nổ cũng góp phần gây tác hại Khi nổ, vỏ bị
xé vụn và bắn ra xung quanh, có thể gây thương tích cho những đối tượng nằm trong tầm bắn của chúng
- Các phản ứng hóa học: các phản ứng hóa học ăn mòn vật liệu, làm hỏng hay sụp đổ công trình…Ăn mòn, cháy da, ảnh hưởng đến phổi và mặt Chất gây ô nhiễm không khí, nhiễm độc nước, gây ô nhiễm đất
* Vấn đề sức khỏe con người:
Chất nguy hại gây tổn thương cho các cơ quan trong cơ thể, kích thích,
dị ứng, gây độc cấp tính và mãn tính, có thể gây đột biến gen, lây nhiễm, rối loạn chức năng tế bào dẫn đến các tác động nghiêm trọng cho con người và động vật như gây ung thư, ảnh hưởng đến sự di truyền
Con người khi tiếp xúc với CTNH có thể biểu hiện nhiễm độc qua các triệu chứng lâm sàng và rối loạn chức năng như sau :
- Biểu hiện ở đường tiêu hóa: tăng tiết nước bọt hay khô miệng, kích thích đường tiêu hóa, nôn, tiêu chảy, chảy máu đường tiêu hóa, vàng da
- Biểu hiện ở đường hô hấp: tím tái, thở nông, ngừng thở, phù phổi
- Biểu hiện rối loạn tim mạch: mạch chậm, mạch nhanh, trụy mạch, ngừng tim
- Các rối loạn thần kinh, cảm giác và điều nhiệt: hôn mê, kích thích và vật vã, nhức đầu nặng, chóng mặt, điếc, hoa mắt, co giãn đồng tử, tăng giảm thân nhiệt
- Rối loạn bài tiết: vô niệu,…
Bên cạnh các ảnh hưởng độc hại đối với sinh vật sống, CTNH có thể gây hư hại không khí, nước và đất Chất thải thâm nhập vào không khí có thể làm giảm chất lượng không khí một cách trực tiếp hay gián tiếp thông qua
Trang 21việc tạo thành các chất ô nhiễm thứ cấp Các chất độc hại hòa tan, lơ lửng hay nổi trên mặt nước có thể cản trở việc sử dụng nguồn nước và ảnh hưởng đến các sinh vật nước
Đất bị ảnh hưởng bởi CTNH có thể biến đổi các tính chất vật lý, hóa học và khả năng dinh dưỡng đối với cây trồng Ví dụ đất bị ảnh hưởng của nước muối đậm đặc từ ngành hóa dầu có thể trở nên không thích hợp đối với
sự phát triển của cây trồng và do vậy đất này bị cằn cỗi và dễ dàng bị xói mòn [6]
1.2 Cơ sở pháp lý
- Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 ngày 23/6/2014;
- Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường;
- Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường;
- Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 9/4/2007 của Chính phủ về quản
- Nghị định số 114/2015/NĐ-CP ngày 9/11/2015 của Chính phủ sửa đổi
bổ sung điều 21 Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế
- Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ quy định về quản lý chất thải và phế liệu;
- Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;
Trang 22- Thông tư số 121/2008/TT-BTC ngày 12/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn cơ chế ưu đãi và hỗ trợ tài chính đối với hoạt động đầu tư cho quản lý chất thải rắn;
- Thông tư số 35/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường về việc bảo vệ môi trường khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao
- Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường quy định về quản lý CTNH;
- Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31/12/2015 của Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về quản lý chất thải y tế;
- Quyết định số 170/2012/QĐ-TTg ngày 08/02/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể hệ thống xử lý chất thải rắn y
tế nguy hại đến năm 2025;
- Quyết định số 674/QĐ-UBND ngày 25/02/2010 của Chủ tịch UBND tỉnh Phê duyệt Quy hoạch bảo vệ môi trường tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020;
- Quyết định số 485/QĐ-UBND ngày 18/02/2009 của Chủ tịch UBND tỉnh về việc phê duyệt Quy hoạch quản lý chất thải rắn tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020;
- Quyết định số 3927/QĐ-UBND ngày 13/11/2014 của Chủ tịch UBND tỉnh về việc Ban hành Quy chế phối hợp trong công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh
- Quyết định số 4307/2017/QĐ-UBND ngày 10/11/2017 của Chủ tịch UBND tỉnh về việc Ban hành Quy chế phối hợp bảo vệ môi trường trong Khu kinh tế Nghi Sơn và các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh;
- Quyết định số 3407/QĐ-UBND, ngày 8/9/2016 của UBND tỉnh Thanh Hóa Phê duyệt điều chỉnh quy hoạch quản lý chất thải rắn tỉnh Thanh Hóa đến năm 2025;
Trang 23- QCVN 03:2008/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về giới hạn cho phép của kim loại nặng trong đất
- QCVN 15:2008/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật trong đất
- QCVN 07:2009/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng chất thải nguy hại
- QCVN 41:2011/BTNMT- Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về đồng xử lý chất thải nguy hại trong lò nung xi măng;
- QCVN 02:2012/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về lò đốt chất thải rắn y tế;
- QCVN 30:2012/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về lò đốt chất thải công nghiệp;
- QCVN 56:2013/BTNMT- Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tái chế dầu thải
- QCVN 50:2013/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng nguy hại đối với bùn thải từ quá trình xử lý nước [28] [29]
1.3 Cơ sở thực tiễn
1.3.1 Quản lý chất thải nguy hại trên Thế giới
Trên thế giới, việc quản lý chất thải nguy hại đã hình thành từ thập niên
60 và đã trở thành vấn đề được quan tâm hàng đầu trong những năm 80 của thế kỷ XX Sự phát triển của các loại hình công nghiệp, sự gia tăng của nhu cầu tiêu dùng, hưởng thụ vật chất của con người,…đã dẫn đến gia tăng một cách đáng kể các loại chất thải ra môi trường trong đó có CTNH Từ thực tế trên, các quốc gia tiên tiến (Mỹ, Nhật, Úc,…) đã cho ra đời và ngày càng hoàn thiện Bộ Luật BVMT, trong đó các quy định về quản lý chất thải nguy hại là thành phần không thể thiếu được trong Bộ Luật Mặc dù, vẫn còn nhiều
sự khác biệt trong các nội dung và điều khoản trong các Bộ Luật nhưng nhìn chung các Bộ Luật đều cho thấy các nước đều đã quan tâm đến vấn đề quản lý CTNH Vượt ra ngoài biên giới quốc gia, những công ước quốc tế có liên quan đến việc quản lý CTNH cũng đã lần lượt ra đời, nói lên sự cảnh báo
Trang 24cùng mối quan tâm sâu sắc của nhân loại đối với các loại chất thải độc hại đang tồn tại và đe dọa cuộc sống của con người, cần có sự phối hợp hành động của nhiều của quốc gia trong công tác quản lý CTNH
Hiện nay, các nước phát triển có những biện pháp quản lý CTNH rất hiệu quả, điển hình như:
- Tại Hoa Kỳ: Hầu hết các CTNH đều phát sinh từ hoạt động công nghiệp ví dụ như các dung môi methylene chloride, đây là một loại chất gây ung thư được sử dụng trong chất tẩy sơn Trichloroethylene đây là một loại dung môi được tìm thấy trong nước ngầm tại Hoa Kỳ, uống hoặc hít phải lượng cao của Trichloroethylene có thể dẫn đến tổn thương của gan, phổi và
hệ thần kinh Trong nhiều ngành công nghiệp, lượng bùn thải còn lại sau khi
xử lý nước thải công nghiệp chiếm phần lớn các CTNH phát sinh Bùn và nước thải từ các hoạt động mạ điện thường chứa cadmium, đồng, chì và niken CTNH phát sinh từ hộ gia đình bao gồm các loại như dầu động cơ, chất làm loãng sơn và tẩy, bóng đèn huỳnh quang, các loại thuốc trừ sâu,…Các loại CTNH này có thể được vận chuyển đến địa điểm khác để được phân loại, lưu trữ hoặc xử lý, hoặc có thể được quản lý tại nơi phát sinh [24] [25]
- Tại Canada: CTNH có thể phát sinh từ vô số nguồn như dư lượng từ các hoạt động công nghiệp, NM sản xuất chế biến và các bệnh viện hoặc nó
có thể là chất thải đã qua sử dụng như chất thải bôi trơn, thuốc trừ sâu,…Tại Canada, trách nhiệm quản lý và giảm thiểu chất thải được thực hiện bởi chính phủ liên bang, tỉnh và thành phố Ví dụ, chính quyền thành phố có trách nhiệm thu thập và quản lý chất thải từ các nhà máy để tái chế, phân loại và xử
lý, trong khi chính quyền tỉnh có trách nhiệm phê duyệt, cấp phép và giám sát các hoạt động quản lý chất thải [22]
- Tại Hàn Quốc: Tổng lượng CTNH phát sinh năm 2016 là 3.092.597 tấn/năm trong đó bao gồm các loại CTNH chính như 24,3% axit, 22,5% dầu thải, 18,2% các chất thải dung môi hữu cơ, 13,4% tro bay, 5% bùn thải Đối với mỗi loại chất thải này tại Hàn Quốc áp dụng nhiều biện pháp quản lý riêng biệt đối với chúng Trong đó 61,1% tái chế, 17,5% chôn lấp, 16,5% thiêu đốt, 4,9% áp dụng phương pháp xử lý khác Axit thải và chất thải dung
Trang 25môi hữu cơ được tái chế cao, nhưng tro bay và bùn thì chủ yếu là chôn lấp [23][26]
1.3.2 Quản lý chất thải nguy hại tại Việt Nam
Theo Báo cáo môi trường quốc gia giai đoạn 2011 -2015, thực trạng công tác quản lý CTNH của cả nước như sau:
Tính từ khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 ra đời, công tác quản lý CTNH đã đạt được các thành tựu đáng ghi nhận Hầu hết CTNH phát sinh từ các cơ sở sản xuất lớn đã được quản lý chặt chẽ từ khi phát sinh đến khi được
xử lý cuối cùng, các chất thải này hầu hết được thu gom, xử lý bởi các cơ sở
có chức năng và số lượng thu gom, xử lý được đều gia tăng hằng năm, góp phần quan trọng trong việc thu gom, vận chuyển và xử lý CTNH đạt các quy chuẩn về môi trường, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường và bảo vệ sức khỏe cộng đồng Một trong những nền tảng chính để đạt được thành tựu nêu trên là việc từng bước hoàn thiện hệ thống pháp lý về quản lý CTNH, trong
đó có việc ban hành Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14/4/2011 quy định về quản lý CTNH và các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia liên quan đến xử
lý CTNH như QCVN 07:2009/BTNMT về ngưỡng CTNH, QCVN 41: 2011/BTNMT về đồng xử lý CTNH trong lò nung xi măng,…
Hiện nay, nhằm tiếp tục kiện toàn cơ sở pháp lý phục vụ công tác quản
lý chất thải nói chung và quản lý CTNH nói riêng cũng như đảm bảo phù hợp với điều kiện của đất nước trong giai đoạn hiện nay, trong năm 2014, với sự
ra đời của Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ môi trường năm 2005) là một loạt các văn bản triển khai Luật trong lĩnh vực quản lý CTNH là: Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu; Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT quy định về quản lý CTNH (thay thế Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14/4/2011);
…Với hệ thống cơ sở pháp lý cơ bản hoàn chỉnh này sẽ tạo động lực cho công tác quản lý CTNH để thực hiện tốt nhiệm vụ trong thời gian tới, đặc biệt là giải quyết được các điểm nóng về quản lý CTNH như thu gom, xử lý đối với chất thải y tế, thu gom, xử lý đối với chủ nguồn thải vùng sâu, vùng xa, chủ nguồn thải có số lượng phát sinh thấp hơn dưới 600kg/năm
Trang 26Tình hình phát sinh và quản lý CTNH của từng ngành như sau:
- Chất thải công nghiệp nguy hại:
Theo thống kê từ báo cáo của các địa phương cho thấy tổng lượng CTNH phát sinh trên toàn quốc hiện nay khoảng 800.000 tấn/năm Ước tính trong chất thải rắn công nghiệp, lượng CTNH chiếm tỷ lệ khoảng 20 - 30%
Tỷ lệ này thay đổi tùy loại hình công nghiệp, trong đó ngành cơ khí, điện, điện tử, hóa chất là những ngành có tỷ lệ CTNH cao Chất thải rắn công nghiệp từ ngành cơ khí có khoảng 50% là chất thải độc hại chứa kim loại nặng, chất ăn mòn và dễ cháy; CTR công nghiệp từ ngành công nghiệp dệt, may mặc chứa khoảng 44,5% chất thải độc hại; CTR công nghiệp từ ngành công nghiệp điện, điện tử có trên 70% là chất thải độc hại chứa các cặn kim loại nặng gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; CTR công nghiệp từ ngành hoá chất có khoảng 62% là chất thải độc hại dưới dạng vi sinh vật và kim loại hòa tan; CTR công nghiệp từ ngành công nghiệp thực phẩm có khoảng 20% chưa các vi khuẩn làm thối rữa; Các CTR công nghiệp khác như thuộc da, xà phòng, sản xuất tân dược cũng tạo ra chất thải độc hại Khối lượng CTNH được thu gom, xử lý ngày càng tăng qua từng năm, cụ thể trong năm 2012 là 165.624 tấn, năm 2013 là 186.657 tấn (tăng 12,7% so với năm 2012), năm
2014 là 320.275 tấn (tăng 93,4% so với năm 2012), chiếm tỷ lệ khoảng 40% tổng lượng chất thải nguy hại phát sinh trên toàn quốc So với 5 năm từ 2005 -
2010, trong giai đoạn từ 2011 đến 2015, việc thu gom, xử lý CTNH tại một số
cơ sở sản xuất quy mô lớn đã bắt đầu được quan tâm Đa phần các chủ nguồn thải có phát sinh lượng CTNH lớn hằng năm đều đã đăng ký và được cấp Sở đăng ký chủ nguồn thải CTNH Lượng CTNH phát sinh từ các chủ nguồn thải này đều đã được thu gom và đưa đến các cơ sở đã cấp phép để xử lý Một phần lượng chất thải nguy hại phát sinh từ các nguồn thải khác được xử lý bởi chính các chủ nguồn thải (bằng các công trình BVMT tại cơ sở), bởi các cơ sở
xử lý do địa phương cấp phép hoặc được xuất khẩu ra nước ngoài để tái chế,
xử lý Một số CTNH đặc thù (ví dụ như chất thải có chưa PCB) do chưa có công nghệ xử lý phù hợp thì hiện đang lưu giữ tại nơi phát sinh Với tình hình như vậy, nhìn chung lượng CTNH phát sinh tại hầu hết các chủ nguồn thải lớn
Trang 27đều đã được quản lý đúng theo các quy định hiện hành Tuy nhiên, tại các cơ
sở sản xuất vừa và nhỏ, vấn đề này vẫn bị buông lỏng CTNH công nghiệp được thu gom, xử lý bởi URENCO và một số đơn vị nhỏ lẻ khác hoặc được các đơn vị sản xuất tự thu gom, xử lý hoặc lưu trữ Hầu hết các cơ sở xử lý CTNH đều là doanh nghiệp tư nhân (chiếm 97% tổng số doanh nghiệp xử lý CTNH do Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp phép hoạt động) Công suất xử
lý của các cơ sở được Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp phép là khoảng 1.300 tấn/năm, các cơ sở này đóng vai trò chính trong việc thu gom, vận chuyển và
xử lý CTNH trên phạm vi cả nước Tổng số lượng CTNH mà các đơn vị này thu gom, xử lý được chiếm khoảng gần 40% tổng lượng CTNH phát sinh trên toàn quốc Việc phát triển các doanh nghiệp tư nhân hoạt động theo cơ chế thị trường giúp cho hoạt động quản lý chất thải có tính cạnh tranh cao, tạo điều kiện cho các chủ nguồn thải CTNH cần chuyển giao có thể chọn lựa doanh nghiệp xử lý có kinh nghiệm và dịch vụ phù hợp, tránh tình trạng độc quyền
và ép giá xử lý Tuy nhiên, việc thu gom, vận chuyển, xử lý CTNH tại các khu vực vùng sâu, vùng xa còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt với các chủ nguồn thải phát sinh lượng CTNH ít (<0,6 tấn/năm) do không tìm được đơn vị có chức năng xử lý để ký hợp đồng chuyển giao Các vấn đề này đã gây ra sức
ép không nhỏ đến công tác thu gom, vận chuyển CTNH ở nước ta thời gian qua
Bảng 1.1: Lượng chất thải rắn công nghiệp phát sinh năm 2011
công nghiệp
CTNH công nghiệp
3 Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung 3.680 1.140
Trang 28- Chất thải nguy hại khu vực nông thôn:
Đối với CTR phát sinh từ khu vực sản xuất ở nông thôn, đáng lưu ý là các loại CTR như bao bì phân bón, thuốc BVTV và CTR phát sinh từ nhóm làng nghề tái chế phế liệu (kim loại, giấy, nhựa) với nhiều thành phần nguy hại cho môi trường và sức khỏe con người Ước tính mỗi năm tại khu vực nông thôn ở nước ta phát sinh hơn 14.000 tấn bao bì hóa chất BVTV, phân bón các loại
Theo kết quả điều tra, thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường và báo cáo của Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về các điểm tồn lưu do hóa chất BVTV từ thời kỳ bao cấp, chiến tranh, không rõ nguồn gốc hoặc nhập lậu (sau đây gọi tắt là điểm ô nhiễm môi trường do hóa chất BVTV tồn lưu), tính đến tháng 6 năm 2015 trên địa bàn toàn quốc thống
kê được 1.562 điểm tồn lưu do hóa chất BVTV trên địa bàn 46 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Căn cứ theo QCVN 54:2013/BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường về ngưỡng xử lý hóa chất BVTV hữu cơ theo mục đích
sử dụng đất thì hiện có khoảng 240 điểm ô nhiễm tồn lưu do hóa chất BVTV
có mức độ rủi ro cao gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng, ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe cộng đồng
Ngoài ra, vấn đề phát sinh chất thải rắn sản xuất tại các làng nghề, trong
đó bao gồm CTNH đang là vấn đề đáng quan tâm Các làng nghề hầu hết có quy mô nhỏ, trình độ sản xuất thấp, công nghệ lạc hậu, loại hình và quy mô sản xuất hoàn toàn phụ thuộc vào nhu cầu thị trường và biến thiên liên tục Phương thức quản lý và hoạt động là manh mún, tự phát, chưa có quy hoạch
cụ thể; hoạt động sản xuất tập trung chủ yếu trong các khu dân cư hiện có Các áp lực đối với môi trường từ hoạt động của cụm công nghiệp và làng nghề hiện nay, đó là: Các làng nghề nằm xen lẫn trong khu dân cư: Hoạt động sản xuất của làng nghề gắn với hoạt động sinh hoạt của nhân dân, diện tích sản xuất và sinh hoạt chật hẹp nên chất thải sản xuất và chất thải sinh hoạt không được phân loại riêng Trong quá trình hoạt động, các chất thải phát sinh thải ra nguồn tiếp nhận nhìn chung chưa được xử lý triệt để, gây nên
Trang 29tình trạng ô nhiễm môi trường Hiện mới có khoảng 21% số cơ sở trong làng nghề có hệ thống xử lý chất thải
Bảng 1.2 Đặc trưng phát thải chất thải rắn từ sản xuất của một số loại hình
làng nghề
STT Loại hình sản xuất Chất thải rắn
1 Chế biến lương thực, thực
phẩm và chăn nuôi, giết mổ
Xỉ than, CTR từ nguyên liệu
2 Dệt nhuộm, ươm tơ, thuộc
- Nhãn mác, tạp chất không tái sinh, cao su
5 Vật liệu xây dựng, khai thác
đá
Xỉ than, xỉ đá, đá vụn
Trong thời gian qua, thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường giai đoạn 2012 - 2015, Quyết định 1946/QĐ - TTg ngày 21 tháng 10 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch xử lý, phòng ngừa ô nhiễm môi trường do hóa chất BVTV tồn lưu trên phạm vi cả nước và các chương trình hỗ trợ có mục tiêu kinh phí từ ngân sách nhà nước nhằm xử lý triệt để, khắc phục ô nhiễm và giảm thiểu suy thoái môi trường cho một số đối tượng thuộc khu vực công ích
và các dự án hợp tác quốc tế, Bộ TN&MT cùng các Bộ và địa phương đã xử
lý được trên 60 điểm tồn lưu hóa chất BVTV bị ô nhiễm nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng; xử lý thí điểm, tiêu hủy hơn 900 tấn hóa chất các loại chất thải chứa hóa chất BVTV tồn lưu; xây dựng hướng dẫn kỹ thuật quản lý các khu vực bị ô nhiễm do hóa chất BVTV
Trang 30- Chất thải rắn y tế
Cùng với sự phát triển và sự tăng nhanh về số lượng giường bệnh điều trị, khối lượng phát sinh CTR từ các hoạt động y tế có chiều hướng ngày càng gia tăng CTR y tế trong bệnh viện bao gồm hai loại là CTR sinh hoạt và CTNH y tế CTR sinh hoạt chiếm khoảng 75 - 80% CTR trong bệnh viện Theo thống kê, mức tăng chất thải y tế hiện nay là 7,6%/năm Ước tính năm
2015, lượng CTR y tế phát sinh là 600 tấn/ngày và năm 2020 sẽ là 800 tấn/ngày Chỉ tính riêng trên địa bàn Hà Nội, qua khảo sát của Sở Y tế, lượng CTR y tế từ hoạt động khám chữa bệnh của các cơ sở y tế trên địa bàn thành phố trong năm 2014 là khoảng gần 3.000 tấn
CTNH y tế chứa các tác nhân vi sinh, chất phóng xạ, hóa chất, các kim loại nặng và các chất độc gây đột biến tế bào là dạng chất thải có thể sẽ gây những tác động tiềm tàng tới môi trường và tới sức khỏe cộng đồng, đặc biệt
là những người phải tiếp xúc trực tiếp
Bảng 1.3 Nguồn phát sinh các loại CTNH đặc thù từ hoạt động y tế
Chất thải lây nhiễm Chất thải lây nhiễm sắc nhọn là chất thải lây
nhiễm có thể gây ra các vết cắt hoặc xuyên thủng, bao gồm: kim tiêm; bơm kim tiêm; đầu sắc nhọn của dây truyền; kim chọc dò; kim châm cứu, lưỡi dao mổ; đinh, cưa dùng trong phẫu thuật và các vật sắc nhọn khác; Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn, bao gồm: Chất thải thấm, dính, chứa máu hoặc dịch sinh học của cơ thể; các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly; Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao, bao gồm: Mẫu bệnh phẩm, dụng
cụ đựng, dính mẫu bệnh phẩm, chất thải dính mẫu bệnh phẩm phát sinh từ các phòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp III trở lên; Chất thải giải phẫu, bao gồm: Mô, bộ phận cơ thể người thải bỏ và xác động vật thí nghiệm
Trang 31Chất thải nguy hại
không lây nhiễm
Hóa chất thải bỏ bao gồm các thành phần nguy hại; Dược phẩm thải bỏ thuộc nhóm gây độc tế bào hoặc có cảnh báo nguy hại từ nhà sản xuất; Thiết bị y tế vỡ, hỏng, đã qua sử dụng có chứa thủy ngân và các kim loại nặng; Chất hàn răng amalgam thải bỏ; Chất thải nguy hại khác theo quy định quản lý chất thải nguy hại hiện hành Chỉ tính riêng trên địa bàn Hà Nội, qua khảo sát của Sở Y tế, lượng CTNH y tế từ hoạt động khám chữa bệnh của các cơ sở y tế trên địa bàn thành phố trong năm 2014 là xấp xỉ 1,6 nghìn tấn
Bảng 1.4 Khối lượng chất thải rắn y tế nguy hại của một số địa phương
Theo số liệu báo cáo của Cục Quản lý môi trường (Bộ Y tế) về tình hình quản lý đối với CTR y tế, đã có hơn 90% bệnh viện thực hiện thu gom
Trang 32hàng ngày và có thực hiện phân loại chất thải từ nguồn Tuy vậy, đối với các
cơ sở khám chữa bệnh ở địa phương do các Sở Y tế quản lý, công tác thu gom, lưu giữ và vận chuyển CTR chưa được chú trọng, đặc biệt là công tác phân loại và lưu giữ chất thải tại nguồn Số liệu thống kê từ địa phương trong năm 2013 cho thấy có 32/57 địa phương có số liệu xử lý CTR y tế đạt từ 80% trở lên Nhìn chung, tỷ lệ thu gom CTR y tế trong giai đoạn 2011 - 2015 tăng không cao
Tính đến năm 2015, tỉ lệ CTR y tế được thu gom đạt trên 75%; tỷ lệ CTNH y tế được thu gom, xử lý đạt khoảng 65% Hầu hết các bệnh viện đều tiến hành thu gom, phân loại chất thải, nhưng phương tiện thu gom còn thiếu
và chưa đồng bộ, hầu hết chưa đạt tiêu chuẩn, không có các trang thiết bị đảm bảo cho quá trình vận chuyển được an toàn Tại các cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc sự quản lý của Bộ Y tế, phần lớn CTR y tế phát sinh được thu gom
và vận chuyển đến các khu vực lưu giữ tập trung sau đó được xử lý tại các lò thiêu đốt nằm ngay trong cơ sở hoặc ký hợp đồng vận chuyển và xử lý đối với các cơ sở xử lý chất thải đã được cấp phép tại địa bàn cơ sở khám chữa bệnh
đó Trong khoảng hơn 300 tấn chất thải y tế mỗi ngày chỉ có 1/3 số CTR được đốt bằng lò đốt hiện đại và có thể đảm bảo an toàn môi trường Thống kê cho thấy, hiện cả nước có gần 200 lò đốt rác thải y tế chuyên dụng, trong đó có 2
xí nghiệp đốt rác tập trung tại Hà Nội và TP HCM, còn lại là các lò đốt rác cỡ trung bình và cỡ nhỏ Số lò đốt rác thải y tế này mới chỉ phục vụ cho 453 bệnh viện và cơ sở y tế, chiếm khoảng 40% số bệnh viện Hơn nữa, các lò đốt rác chủ yếu tập trung ở các bệnh viện tỉnh trở lên và một số bệnh viện tuyến huyện thuộc các thị xã, thành phố Còn lại có tới 33% bệnh viện tuyến huyện
và tỉnh không có hệ thống lò đốt chuyên dụng, phải xử lý chất thải y tế nguy hại bằng các lò đốt thủ công, chôn trong khuôn viên bệnh Báo cáo số 231/BC-CP ngày 22 tháng 5 năm 2015 của Chính phủ về công tác bảo vệ môi trường viện, hoặc thải trực tiếp ra bãi rác chung, nơi có đông dân cư sinh sống
và không ít trong số đó được tuồn bán ra ngoài để tái chế Đây thực sự là những mối nguy đe dọa môi trường và cuộc sống của người dân Hiện nay, việc sử dụng công nghệ không đốt, thân thiện với môi trường trong xử lý chất
Trang 33thải y tế đã được khuyến khích và ưu tiến phát triển Điển hình là công nghệ
xử lý chất thải y tế bằng phương pháp không đốt như khử khuẩn bằng lò hấp,
lò vi sóng đem lại hiệu quả về mặt kinh tế lẫn môi trường, do sử dụng ở nhiệt
độ dưới 4000C nên không phát sinh khí thải đặc biệt dioxin/furan và giảm tiêu thụ năng lượng [1]
- Các công nghệ xử lý chất thải nguy hại:
Với công nghệ xử lý chất thải nguy hại đang được sử dụng ở nước ta hiện nay có thể hình dung sơ bộ theo thống kê tại bảng sau:
Bảng 1.5 Thống kê công nghệ xử lý chất thải nguy hại ở Việt Nam
TT Tên công nghệ Số cơ sở
áp dụng
Số modul
hệ thống
Công suất phổ biến
6 Xử lý, tái chế dầu thải 23 25 3-20 tấn/ngày
7 Xử lý bóng đèn thải
tấn/ngày
8 Xử lý chất thải điện tử 18 19 0,3 - 5 tấn/ngày
9 Phá dỡ, tái chế ắc quy chì thải
tấn/ngày
Nhìn chung, các công nghệ hiện có của Việt Nam trong những năm qua
đã có những bước phát triển đáng kể, tuy nhiên về cơ bản còn chưa hiện đại, phần lớn sử dụng các công nghệ có thể áp dụng để xử lý cho nhiều loại CTNH và thường ở quy mô nhỏ vì vậy chỉ đáp ứng được phần nào nhu cầu xử
lý CTNH của Việt Nam Để thực sự đảm bảo công tác quản lý CTNH đạt yêu cầu, cần phát triển công nghệ xử lý CTNH tại Việt Nam cả về chất lượng và
số lượng Ngoài ra, cần tiến hành nghiên cứu chuyên biệt hoá các công nghệ
Trang 34để xử lý các loại CTNH đặc thù Bên cạnh đó cần phải tăng cường công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra để đảm bảo các công nghệ đã được cấp phép hoạt động tuân thủ đúng quy định, đạt các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường [7]
- Xu thế áp dụng một số công nghệ mới
+ Lò đốt quay: Công nghệ này tương tự như lò đốt tĩnh, chỉ khác là
buồng đốt sơ cấp có dạng trụ quay (như lò xi măng) Công nghệ này có ưu điểm có thể đốt các loại chất thải khó cháy như bùn thải do chất thải được khuấy trộn tốt trong lò quay Nhưng nhược điểm của công nghệ này là chi phí đầu tư lớn, đòi hỏi tiêu chuẩn cơ khí cao Ngoài ra, lò quay phát sinh nhiều bụi nên cần phải đầu tư thêm hệ thống lọc bụi túi vải hoặc lọc bụi tĩnh điện Hiện nay Việt Nam đang có một số cơ sở nghiên cứu lắp đặt lò đốt quay nhưng đều chưa đến giai đoạn được cấp phép
+ Lò plasma: Công nghệ lò đốt plasma là công nghệ rất hiện đại, sử
dụng nhiệt độ rất cao để phá huỷ hoàn toàn các chất hữu cơ, chuyển hoá thành các khí tổng hợp và tạo ra xỉ là thuỷ tinh với khối lượng xỉ tạo ra là ít nhất so với các công nghệ đốt khác Hiện nay, tại Việt Nam có một số cơ sở đang tiến hành lập dự án lắp đặt lò đốt plasma Tuy nhiên, cần nghiên cứu kỹ về hiệu quả kinh tế vì đầu tư rất lớn
+ Lò đốt tầng sôi: Đây là công nghệ đốt có hiệu suất tiết kiệm năng
lượng cao hoặc tái sử dụng năng lượng do chất thải tạo thành Tuy nhiên, lò đốt tầng sôi có tốc độ mài mòn bề mặt đốt và truyền nhiệt rất cao, do đó tính kinh tế của nó kém hơn so với lò đốt thông thường [8]
Trang 35Hình 1.1: Hệ thống chưng dầu thải phân đoạn
* Quản lý chất thải nguy hại tại tỉnh Thanh Hóa:
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa có 05 Khu công nghiệp (KCN
Lễ Môn, KCN Tây Bắc Ga, KCN Bỉm Sơn, KCN Hoàng Long, KCN Lam Sơn), 01 Khu kinh tế Nghi Sơn và 57 CCN, 160 làng nghề đang hoạt động [15]
Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, hiện Thanh Hoá có khoảng 158.740
cơ sở phân theo các ngành phi nông nghiệp, lâm ngư nghiệp, dịch vụ, thương mại trong đó, công nghiệp: 91.733; khách sạn, nhà hàng: 13.492; thương nghiệp: 58.076; xây dựng: 2.665; vận tải, kho bãi, thông tin liên lạc: 9.609; văn hoá, y tế, giáo dục: 393; các ngành khác: 7.498 Khối lượng chất thải rắn công nghiệp 37.035 tấn/ngày; trong đó có khoảng 20% là chất thải rắn nguy hại Thành phần chất thải rắn gồm: đất đá, thực phẩm thừa, tro xỉ, bao bì, dầu nhớt, sắt thép phế liệu…[12]
Chất thải rắn sinh hoạt của các cơ sở sản xuất kinh doanh được các Công ty môi trường địa phương thu gom và xử lý Chất thải rắn phát sinh trong quá trình sản xuất được phân loại: chất thải có khả năng tái chế như sắt vụn, xỉ than được các doanh nghiệp bán cho các cơ sở thu mua phế liệu; chất thải như bã mía dùng làm nhiên liệu cung cấp cho các lò hơi hoặc sản xuất phân bón vi sinh Tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải rắn công nghiệp trung bình đạt khoảng 60% Lượng chất thải rắn còn lại đưa đến nơi quy định của địa phương để xử lý
Trang 36Hiện nay, khó khăn trong công tác xử lý chất thải rắn tại các doanh nghiệp là việc xử lý chất thải nguy hại Chất thải nguy hại phát sinh từ các nguồn sản xuất công nghiệp, làng nghề, y tế, đều có ảnh hưởng rất lớn đến môi trường và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ cộng đồng
Từ năm 2007, Sở Tài nguyên và Môi trường đã thực hiện việc cấp Sổ đăng ký chủ nguồn thải CTNH cho các đơn vị sản xuất, kinh doanh có phát sinh CTNH trên địa bàn tỉnh Tính đến tháng 12/2017, Sở Tài nguyên và Môi trường Thanh Hoá đã cấp 328 sổ đăng ký chủ nguồn thải CTNH cho các cơ sở phát sinh CTNH trên địa bàn tỉnh [14]
Trên địa bàn tỉnh mới có 02 doanh nghiệp được Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp Giấy phép hành nghề quản lý CTNH là Công ty CP môi trường Việt Thảo (đóng trên địa bàn thị xã Bỉm Sơn) và Công ty CP môi trường Nghi Sơn (đóng trên địa bàn huyện Tĩnh Gia) và 01 doanh nghiệp (Công ty xi măng Nghi Sơn) đang được Bộ Tài nguyên và Môi trường xem xét, cấp Giấy phép
xử lý chất thải nguy hại bằng phương pháp đồng xử lý trong lò nung xi măng Trên thực tế, công tác quản lý, xử lý chất thải nguy hại của cơ quan quản lý nhà nước cũng như doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn do nhiều nguyên nhân:
- Pháp luật về quản lý chất thải nguy hại hiện nay vẫn còn chưa sát với thực tế, do đó dẫn đến việc áp dụng vào thực tế còn nhiều khó khăn, vướng mắc Việc quy định về thủ tục hành chính để được cấp phép hành nghề quản
lý chất thải nguy hại đối với một số loại CTNH có khả năng tái sử dụng trực tiếp như: dầu mỡ sử dụng bôi trơn cốt pha, gạch chịu lửa, ) cũng phức tạp như quy định đối với các loại CTNH có tính nguy hại cao (chất thải y tế, hoá chất BVTV, ) dẫn đến việc có nhiều doanh nghiệp có nhu cầu tham gia xử lý CTNH nhưng không thực hiện được do rào cản về thủ tục hành chính và phải
có năng lực tài chính đủ mạnh
- Việc triển khai áp dụng các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường nói chung và quản lý chất thải nguy hại nói riêng là một vấn đề hết sức khó khăn, đòi hỏi phải kết hợp đồng bộ nhiều yếu tố như: Tuyên truyền, giáo dục
để các đối tượng liên quan đến lĩnh vực quản lý chất thải nguy hại hiểu biết và
Trang 37nâng cao được ý thức tự giác trong việc thực hiện trách nhiệm của mình; việc thực hiện chức năng, vai trò quản lý nhà nước trong việc triển khai giám sát thực thi; vấn đề đầu tư vốn, phương tiện xử lý chất thải nguy hại;
- Ý thức thực hiện pháp luật về môi trường nói chung và pháp luật về quản
lý chất thải nguy hại nói riêng của các cơ sở sản xuất kinh doanh còn hạn chế Nhiều doanh nghiệp không có cán bộ chuyên trách về môi trường, hoặc chỉ có cán
bộ kiêm nhiệm Vì vậy, việc đầu tư nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến CTNH còn rất hạn chế, dẫn đến tình trạng đơn vị, doanh nghiệp chưa có cách nhìn đúng đắn về việc kê khai CTNH và thực hiện thu gom, bảo quản, vận chuyển và xử lý CTNH theo đúng quy định nên tình trạng lén đổ chất thải nguy hại ra môi trường vẫn còn nhiều
- Hạ tầng cơ sở để xử lý CTNH đảm bảo yêu cầu về quản lý CTNH theo đúng quy định trên địa bàn vẫn còn thiếu bởi, hiện tại, trên địa bàn tỉnh vẫn chưa có bãi chôn lấp, xử lý an toàn CTNH, chưa có đơn vị có đủ chức năng xử lý chất thải nguy hại Do đó, chỉ có các doanh nghiệp có số lượng CTNH lớn (Nhà máy Nhiệt điện Nghi Sơn, Điện lực Thanh Hoá, Công ty CP mía đường Lam Sơn, ) hợp đồng với các đơn vị có đủ chức năng xử lý CTNH trong và ngoài tỉnh để đem CTNH đi xử lý, các đơn vị có số lượng CTNH ít rất khó hợp đồng được với các đơn vị có đủ chức năng nên phần lớn vẫn đang thực hiện việc lưu giữ tại đơn vị để tìm kiếm các đơn vị có đủ chức năng đem đi xử lý
- Nguồn nhân lực phục vụ cho công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực CTNH của tỉnh còn hạn chế về mặt kinh nghiệm trong khi đó CTNH phát sinh ở tất cả các ngành, lĩnh vực, nên khó tiếp cận và khó hiểu sâu bản chất
- Đầu tư tài chính cho quản lý chất thải nguy hại chưa tương xứng Việc thu gom, xử lý chất thải nguy hại nói chung và chất thải nguy hại công nghiệp nguy hại nói riêng cần được đầu tư thỏa đáng về công nghệ và vốn Trong khi
đó, mức phí thu gom, xử lý chất thải nguy hại còn chưa thoả đáng, vì vậy việc đầu tư cơ sở, công nghệ cũng như hoạt động thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải nguy hại còn manh mún, tự phát và chưa hiệu quả [13]
Trang 38Bảng 1.6: Tổng hợp số lượng các đơn vị trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa được cấp Sổ đăng ký chủ nguồn thải CTNH qua các năm [14]
Trang 39Bảng 1.4: Tổng hợp số lượng các đơn vị trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa được cấp Sổ đăng ký chủ nguồn thải CTNH qua các năm [13]
Trang 40NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Hiện trạng và công tác quản lý chất thải nguy hại phát sinh tại một số
cơ sở sản xuất trên địa bàn Khu kinh tế Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Đề tài được thực hiện tại một số cơ sở sản xuất
có phát sinh CTNH đang hoạt động trong KKT Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa
- Phạm vi thời gian: Đề tài nghiên cứu nghiên cứu về tình hình phát sinh, quản lý CTNH tại một số cơ sở sản xuất đang hoạt động trong KKT Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa từ tháng 12/2015 đến 12/2017
2.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm nghiên cứu: Tại một số cơ sở sản xuất có phát sinh CTNH đang hoạt động trong KKT Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa
- Thời gian tiến hành: Từ tháng 12/2015 đến 12/2017
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Giới thiệu chung về KKT Nghi Sơn
Thu thập số liệu về việc thành lập KKT Nghi Sơn, điều kiện hạ tầng kỹ thuật, quy hoạch, thu hút đầu tư của KKT Nghi Sơn Đánh giá các ưu thế, hạn chế về hạ tầng kỹ thuật, cơ chế chính sách thu hút đầu tư và tiềm lực kinh tế;
xu hướng phát triển trong tương lai của KKT Nghi Sơn
2.3.2 Đánh giá hiện trạng phát sinh CTNH tại một số cơ sở sản xuất tại KKT Nghi Sơn
Qua ý kiến của chủ các cơ sở sản xuất tại KKT Nghi Sơn và tài liệu, số liệu thu thập, tổng hợp từ Sở Tài nguyên và Môi trường, UBND huyện Tĩnh