Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử ở việt nam
Trang 1BỘ THƯƠNG MẠI
KẾ HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2006 - 2010
DỰ THẢO 2
Hà Nội, tháng 3 năm 2005
Trang 3Mục tiêu của Kế hoạch là tới 2010 TMĐT sẽ góp phần nâng cao đáng kể năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhờ ứng dụng mạnh mẽ TMĐT và nhờ sự công khai, minh bạch và hiệu quả của nhiều dịch vụ công do các cơ quan nhà nước cung cấp qua mạng
Để đạt được mục tiêu này, nhà nước sẽ đẩy mạnh tuyên truyền, đào tạo về TMĐT cho các doanh nghiệp, kịp thời xây dựng môi trường pháp lý thuận lợi cho TMĐT và phát huy vai trò tiên phong của các cơ quan nhà nước trong việc ứng dụng TMĐT trong mua sắm công
Sáu chính sách lớn của Kế hoạch sẽ là cơ sở để triển khai nhiều chương trình, dự án cụ thể Chính sách thứ nhất là triển khai mạnh mẽ và liên tục hoạt động phổ biến, tuyên truyền, đào tạo về TMĐT Chính sách thứ hai là nhanh chóng tạo lập môi trường thuận lợi cho TMĐT với việc ban hành đầy đủ và đồng bộ các văn bản quy phạm pháp luật liên quan tới TMĐT Chính sách tiếp theo
là các cơ quan chính phủ ở mọi cấp cần phải đi tiên phong trong việc hỗ trợ và ứng dụng TMĐT Chính sách thứ tư và thứ năm là phát triển hạ tầng kỹ thuật cho TMĐT trên cơ sở chuyển giao công nghệ từ nước ngoài, tổ chức thực thi các quy định pháp luật liên quan tới TMĐT một cách cương quyết, kịp thời Cuối cùng, chính sách thứ sáu là tích cực tham gia các hoạt động hợp tác quốc tế về TMĐT
Trên cơ sở sáu chính sách này sẽ triển khai nhiều chương trình, dự án cụ thể Mỗi chương trình, dự án sẽ do một cơ quan chịu trách nhiệm chủ trì song song với sự phối hợp chặt chẽ với các
cơ quan khác Kinh phí triển khai các chương trình, dự án chủ yếu huy động từ toàn xã hội và nguồn ngân sách hàng năm cấp cho từng cơ quan nhà nước Tuy nhiên, nhà nước cần thiết lập Quỹ phát triển TMĐT từ ngân sách nhà nước để tài trợ cho những dự án khó xác định thuộc thẩm quyền của một cơ quan cụ thể, hoặc những dự án chỉ cần đầu tư nhỏ nhưng sẽ kích thích mạnh mẽ mọi đối tượng ứng dụng TMĐT
Trang 4Chương I
NHỮNG VẤN ĐỀ CHỦ YẾU LIÊN QUAN TỚI
SỰ PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM
I TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRÊN THẾ GIỚI
1 Tình hình phát triển chung
Thương mại điện tử (TMĐT) đang phát triển mạnh mẽ trên phạm vi toàn thế giới Tuy nhiên,
sự khác biệt trong ứng dụng TMĐT giữa các nước phát triển và đang phát triển rất lớn Các nước phát triển chiếm hơn 90% tổng giá trị giao dịch TMĐT toàn cầu Gần đây một số nền kinh tế ở châu
Á như Hàn quốc hay Đài loan đã vươn lên vị trí cao trong bảng xếp hạng ứng dụng TMĐT toàn cầu
Về nhận thức, TMĐT đã trở thành một khái niệm quen thuộc đối với các doanh nghiệp và hầu
hết người dân tại các nước phát triển và đang dần dần trở nên quen thuộc với các doanh nghiệp của các nước đang phát triển Doanh nghiệp ngày càng nhận thức rõ các cơ hội của TMĐT và quan tâm tới việc xây dựng các mô hình kinh doanh TMĐT, đưa TMĐT thành một phần không thể tách rời của chiến lược phát triển doanh nghiệp
Về nguồn nhân lực cho TMĐT, mức độ phổ cập công nghệ thông tin (CNTT) đang tăng nhanh,
nhiều trường đại học đã có chương trình đào tạo chuyên ngành về TMĐT Các doanh nghiệp, đặc biệt là các công ty đa quốc gia, đã chú trọng tới việc đào tạo cán bộ về TMĐT Hoạt động quảng cáo, bán hàng và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ khách hàng thông qua mạng Internet đã trở thành một hoạt động không thể tách rời khỏi thành công của nhiều doanh nghiệp trên phạm vi toàn thế giới
Về xây dựng chính sách và môi trường pháp lý cho TMĐT, có sự chênh nhau khá rõ rệt trong
việc xây dựng chính sách và môi trường pháp lý cho TMĐT giữa các nước phát triển và đang phát triển Các nước đang phát triển hiện còn ở giai đoạn xây dựng chiến lược CNTT quốc gia, chủ yếu quan tâm các vấn đề về hạ tầng CNTT cơ bản, phát triển nguồn nhân lực, bản địa hóa ứng dụng TMĐT, xây dựng chuẩn và bước đầu xây dựng khung pháp lý cho TMĐT Trong khi đó các nước phát triển đã hình thành chiến lược phát triển TMĐT từ thập kỷ trước và cơ bản đã xây dựng được môi trường thuận lợi cho sự phát triển của TMĐT
Về hạ tầng CNTT và truyền thông, phần lớn các nước phát triển đã xây dựng được hạ tầng
tiên tiến về CNTT và TT với tỷ lệ cao các máy tính được nối mạng LAN, WAN và Internet tốc độ cao Hơn thế nữa, các nước phát triển, đặc biệt là Hoa Kỳ, tiếp tục thống lĩnh công nghệ phần mềm Trong những năm gần đây song song với sự mở cửa khá nhanh thị trường viễn thông, hạ tầng CNTT
và TT của các nước đang phát triển đạt được nhiều tiến bộ, số người sử dụng Internet tăng nhanh, tuy nhiên về tổng thể thì khoảng cách về hạ tầng CNTT và TT giữa hai nhóm nước này còn cách nhau rất
xa
Về bối cảnh kinh tế xã hội, TMĐT phát triển thuận lợi nhất ở những nước mà xã hội mang
tính mở, các quan hệ kinh doanh dựa trên chữ tín, nhà nước đã cung cấp những dịch vụ công cần thiết liên quan tới thương mại và đóng vai trò chất xúc tác cho TMĐT, cộng đồng doanh nghiệp năng động và đã có kinh nghiệm ứng dụng CNTT Ngoài ra, quan hệ đối tác chiến lược trên cơ sở hợp tác thường xuyên và chặt chẽ giữa các doanh nghiệp đã trở thành tập quán kinh doanh trong xã hội và văn hoá tiêu dùng của người dân và văn hoá doanh nghiệp đã được hình thành với những tiền đề vững chắc
Tỷ lệ người sử dụng Internet trên 10.000 người (*)
Trang 5Trung Quốc là nước đứng ngay sau Hoa Kỳ về số người sử dụng Internet Tuy nhiên, hơn hai
phần ba số người sử dụng Internet tại Trung Quốc chưa bao giờ tiến hành giao dịch mua bán trực
tuyến Với tiềm năng phát triển thương mại to lớn, tăng trưởng TMĐT của Trung Quốc có ý nghĩa
quyết định cho cả Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và một phần nào đó ảnh hướng không nhỏ tới
TMĐT toàn thế giới Tuy nhiên, tại Trung quốc hệ thống thanh toán trực tuyến chưa phát triển, hầu
hết các giao dịch B2C được tiến hành dưới hình thức giao dịch trực tuyến nhưng thanh toán vẫn theo
phương thức truyền thống Hệ thống đảm bảo an toàn trên mạng còn nhiều yếu, có tới 80% người
mua bán trực tuyến có vấn đề liên quan tới an toàn mạng Thêm vào đó mạng lưới giao thông vận tải
chưa hiệu quả cũng làm giảm lợi ích từ hoạt động TMĐT của các doanh nghiệp
2.2 Hàn Quốc
Theo đánh giá của OECD, năm 2004 Hàn Quốc đứng thứ nhất trong số 30 nước thành viên của
tổ chức này về mức độ đóng góp của CNTT đối với toàn nền kinh tế cũng như đối với xuất khẩu
Mức tăng hàng năm của mua bán trực tuyến đạt khoảng 85% trong 2 năm 2001 và 2002 Ước đoán
tổng giá trị TMĐT năm 2002 đạt 29 tỷ USD và sẽ tăng khoảng 10 lần vào năm 2006
Chính phủ Hàn Quốc rất tích cực hỗ trợ TMĐT phát triển Năm 2000, Chính phủ đã ban hành
Chính sách toàn diện đối với phát triển TMĐT, năm 2002 Chính phủ tiếp tục ban hành Chiến lược
quốc gia thúc đẩy kinh doanh điện tử
3 Xu hướng phát triển TMĐT tới 2010
Các nước đang phát triển sẽ là thị trường tiềm năng cho TMĐT do tỷ lệ kết nối Interrnet tăng
nhanh, kinh tế tăng trưởng khá ổn định và nhận thức ngày càng rõ các cơ hội do TMĐT mang lại
Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương sẽ vươn lên dẫn đầu về mức độ ứng dụng TMĐT Phương thức
kinh doanh B2B tiếp tục chiếm ưu thế so với B2C trong các giao dịch TMĐT toàn cầu Trong
Trang 6phương thức B2C, loại hình bán lẻ tổng hợp (siêu thị TMĐT) dù chiếm tỉ lệ không cao trong tổng số cửa hàng bán lẻ trực tuyến nhưng lại nắm giữ phần lớn giá trị giao dịch B2C trên thị trường ảo Việc kết hợp cửa hàng bán lẻ trực tuyến với các kênh phân phối truyền thống vẫn là phương thức kinh doanh được nhiều doanh nghiệp lựa chọn
II TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM
1 Tình hình phát triển tới năm 2004
Nhiều doanh nghiệp đã bắt đầu nhận thức được vai trò quan trọng của TMĐT đối với hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng chưa biết cách triển khai ứng dụng TMĐT Tỷ lệ doanh nghiệp đã lựa chọn công nghệ và bố trí nhân sự phục vụ việc tham gia TMĐT còn thấp, doanh nghiệp cũng chưa chú trọng đầu tư kinh phí cho đào tạo Một tỷ lệ rất thấp các doanh nghiệp có cơ cấu tổ chức hợp lý để phục vụ việc triển khai những dự án TMĐT hiện tại và tương lai của đơn vị mình Chi phí cho việc kết nối Internet đã được cải thiện đáng kể nhưng vẫn còn tương đối cao, tốc độ đường truyền chậm là một trong những trở ngại lớn cho các doanh nghiệp tham gia TMĐT
Nhiều doanh nghiệp chưa đầu tư thoả đáng cho ứng dụng TMĐT do nhà nước chưa thừa nhận giá trị pháp lý đối với các giao dịch thương mại sử dụng các phương tiện điện tử và các quy định liên quan về bảo mật, thanh toán, chữ ký điện tử, v.v
Chính phủ chưa có sự chỉ đạo, hướng dẫn hoặc định hướng chính thức nào và chưa có chính sách khuyến khích, hỗ trợ cần thiết cho doanh nghiệp Nguồn nhân lực phục vụ ứng dụng TMĐT còn thiếu và chưa đủ trình độ để đáp ứng nhu cầu, mặc dù các trung tâm đào tạo CNTT, các khoa CNTT vẫn tiếp tục tăng về số lượng
Tập quán kinh doanh và tâm lý tiêu dùng tại VN cũng chưa hoàn toàn thuận lợi cho các ứng dụng của TMĐT Người dân còn chưa quen với phương thức mua hàng gián tiếp, doanh nghiệp cũng chưa xây dựng được những quan hệ đối tác đủ tin cậy để đưa phương thức B2B vào áp dụng cho các giao dịch thương mại thường xuyên
3 Một số hoạt động liên quan tới TMĐT tới 2005
3.1 Đường lối chung
• Ngày 17/10/2000, Bộ Chính trị có Chỉ thị 58/CT-TW về đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong
sự nghiệp hiện đại hoá, công nghiệp hoá đất nước giai đoạn đến 2010 Chỉ thị nêu rõ:
“Tập trung phát triển các dịch vụ điện tử trong các lĩnh vực tài chính (thuế, kho bạc, kiểm toán…) ngân hàng, hải quan, hàng không, thương mại, thương mại điện tử…”
• Ngày 24/5/2001, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 81/QĐ-TTg phê duyệt nhiệm vụ của Chỉ thị 58/TC-TW, trong đó giao nhiệm vụ cho Bộ Thương mại “Tổ chức triển khai các biện pháp xúc tiến thương mại để hỗ trợ các doanh nghiệp tìm kiếm thị trường trong
Trang 7và ngoài nước và xuất khẩu sản phẩm CNTT; khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp nước ngoài có các hoạt động hợp tác, kinh doanh và hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam trong phát triển CNTT; triển khai kế hoạch phát triển TMĐT của Việt Nam và chuẩn bị tích cực tham gia dự án về TMĐT của ASEAN và các tổ chức kinh tế khu vực, quốc tế”
3.2 Tổ chức bộ máy
• Ngày 3/2/1998, Thủ tướng Chính phủ có Công văn số 363/VPCP-VPUB giao Bộ Thương mại xây dựng đề án thành lập Hội đồng quốc gia về TMĐT, Bộ Thương mại đã phối hợp với trên 10 Bộ, Ngành chủ chốt hoàn thành và trình Thủ tướng Chính phủ Đề án vào đầu tháng 4/1999 Tuy nhiên, Hội đồng này không được thành lập
• Ngày 14/2/2001, Bộ trưởng Bộ Thương mại có Quyết định số 0113/2001/QĐ-BTM thành lập Ban Chỉ đạo ứng dụng và phát triển TMĐT Ban Chỉ đạo đã xây dựng Đề án phát triển TMĐT giai đoạn 2001-2005 và đã trình Chính phủ vào tháng 6/2001 Đề án này cũng chưa được phê duyệt
• Ngày 16/1/2004, Chính phủ đã ban hành Nghị định 29/NĐ-CP về chức năng, nhiệm vụ của Bộ Thương mại Nghị định giao Bộ Thương mại chức năng quản lý nhà nước về TMĐT và thành lập Vụ Thương mại điện tử để tham mưu cho Bộ thực hiện chức năng này
• Ngày 9/3/1999, Thủ tướng Chính phủ có Công văn số 944/VPCP-TCQT giao Bộ Thương mại lập Phương án từng bước tham gia và ứng dụng TMĐT ở Việt Nam Bộ Thương mại phối hợp với Tổng cục Bưu điện trình Thủ tướng Chính phủ Phương án từng bước tham gia và ứng dụng TMĐT ở Việt Nam
• Ngày 25/1/2002, Thủ tướng Chính phủ có Công văn số 68/VPCP-TH giao Bộ Thương mại làm đầu mối xây dựng Pháp lệnh TMĐT Bộ Thương mại đã hoàn thành Dự thảo 6 Pháp lệnh này vào cuối năm 2003
• Tháng 11/2003 Quốc Hội quyết định xây dựng Luật Giao dịch điện tử và thu hút dự thảo Pháp lệnh TMĐT vào luật này
• Ngày 17/7/2002, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 95/2002/QĐ-TTg giao Bộ Thương mại chủ trì dự án Tổ chức triển khai và phát triển TMĐT thời kỳ đến 2005 Dự án này mới bắt đầu triển khai giai đoạn đầu
• Ngày 28/6/1999, Thủ tướng Chính phủ có Công văn số 3148/TC-HCSN giao Bộ Thương mại xây dựng Dự án quốc gia về “Kỹ thuật TMĐT” Bộ Thương mại làm đầu mối, phối hợp với trên 20 Bộ, Ngành triển khai nghiên cứu 14 tiểu dự án và xây dựng một báo cáo tổng hợp của Dự án từ tháng 9/1999, hoàn tất các thủ tục nghiệm thu Dự án vào đầu năm
2002
• Năm 2001, Bộ Thương mại đã tổ chức nghiên cứu đề tài khoa học cấp nhà nước (Đề tài KC.01-05) về một số vấn đề kỹ thuật và công nghệ chủ yếu trong TMĐT và triển khai thử nghiệm
• Một số bộ ngành và nhiều tổ chức, doanh nghiệp đã tiến hành các nghiên cứu và thử nghiệm ở mức độ khác nhau về các khía cạnh liên quan tới TMĐT
3.5 Hợp tác quốc tế
• Ngày 13/6/2000, Ủy ban quốc gia về Hợp tác kinh tế có Thông báo số 56/UB-TV giao Bộ Thương mại làm đầu mối tổng hợp, xây dựng Hiệp định khung eASEAN Bộ Thương mại
Trang 8đã phối hợp với các Bộ, Ngành liên quan để xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ ký Hiệp định khung eASEAN vào tháng 11/2000
• Ngày 4/10/2002, Văn phòng Chính phủ có Công văn số 5549/VPCP-TCQT thông báo ý kiến của Phó Thủ tướng Vũ Khoan về việc đồng ý giao Bộ Thương mại làm đầu mối Việt Nam tham gia AFACT (Tổ chức tạo thuận lợi cho Thương mại và kinh doanh điện tử khu vực Châu Á - Thái Bình Dương)
• Bộ Thương mại, Bộ Bưu chính Viễn thông, Bộ Khoa học và Công nghệ và một số cơ quan nhà nước khác đã chủ động tham gia hợp tác quốc tế về các chủ đề liên quan tới TMĐT trong cả khuôn khổ hợp tác đa phương với APEC, ASEM, UNCITRAL, v.v cũng như song phương với một số nước như Hàn quốc, Nhật bản
4 Xu hướng phát triển trong giai đoạn 2006 – 2010
Việt Nam đặt ra mục tiêu phát triển kinh tế cao trong giai đoạn 2006 – 2010 và coi phát triển thương mại mạnh mẽ, đặc biệt là xuất khẩu, là một yếu tố quan trọng để đạt được mục tiêu phát triển kinh tế Hội nhập kinh tế quốc tế trở nên sâu sắc và toàn diện với việc gia nhập WTO và cuối năm
2005 hoặc trong năm 2006 cũng sẽ góp phần tạo ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển của TMĐT Quốc Hội và Chính phủ cũng quyết tâm xây dựng môi trường pháp lý thuận lợi cho TMĐT Giai đoạn 2001 – 2005 TMĐT đã bắt đầu hình thành ở Việt Nam, giai đoạn 5 năm tiếp theo sẽ chứng kiến
sự phát triển mạnh mẽ của TMĐT
Có thể dự đoán các doanh nghiệp có quan hệ đối tác mạnh với nước ngoài sẽ là lực lượng đi tiên phong ứng dụng TMĐT ở Việt Nam, đồng thời các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn cần sự hỗ trợ của Nhà nước để có thể tiếp thu những ứng dụng tiên tiến của TMĐT một cách hiệu quả Loại hình giao dịch thương mại B2B sẽ dần dần chiếm ưu thế
III NHỮNG THÁCH THỨC CHỦ YẾU ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2006 - 2010
Mặc dù cơ hội cho sự phát triển TMĐT tại Việt Nam trong năm năm tới là to lớn nhưng các thách thức cũng rất nặng nề Tại thời điểm xuất phát của giai đoạn này Việt Nam phải đương đầu với một số thử thách chủ yếu sau
1 Nguồn nhân lực cho TMĐT còn thiếu
• Phần lớn doanh nghiệp mới nghe nói tới TMĐT nhưng chưa biết tới lợi ích, các điều kiện tham gia TMĐT
• Tuyệt đại đa số dân chúng chưa biết tới khái niệm TMĐT
• Các cơ quan nhà nước mọi ngành, mọi cấp chưa biết tới khái niệm TMĐT
• Mới có rất ít lãnh đạo doanh nghiệp và cán bộ quản lý có kiến thức ban đầu về TMĐT
• Một số trường đại học bắt đầu quan tâm tới đào tạo về TMĐT nhưng đội ngũ giảng viên hầu như chưa hình thành
• Số công chức nhà nước biết tới TMĐT rất ít, được đào tạo manh mún từ năm 2000 nhờ sự
hỗ trợ của một số dự án song phương và đa phương
• Chưa hình thành nguồn nhân lực đáp ứng việc ứng dụng, chuyển giao và phát triển công nghệ về TMĐT, kỹ năng kinh doanh TMĐT, giải quyết tranh chấp trong TMĐT
• Chương trình đào tạo nguồn nhân lực CNTT theo Quyết định 95
2 Môi trường pháp lý và chính sách chưa hình thành
2.1 Khung pháp lý:
Trang 9• Giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu: đang xây dựng Luật giao dịch điện tử, Luật Thương mại (sửa đổi) , Bộ Luật dân sự (sửa đổi)
• Chưa có chiến lược phát triển TMĐT dài hạn
• Chưa có chính sách, giải pháp cụ thể nào được ban hành
2.3 Vấn đề thực thi các qui định pháp luật
• Các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Giao dịch điện tử và một số luật khác: có thể mất vài năm mới ban hành đủ
4.1 Bộ máy quản lý còn non yếu
• Mới chính thức giao Bộ Thương mại thống nhất quản lý nhà nước về TMĐT vào đầu năm
2004, nguồn lực còn hạn chế
• Chưa có các tổ chức hỗ trợ TMĐT thuộc nhà nước hoặc phi lợi nhuận
• Chưa có cơ quan thống kê về TMĐT
4.2 Bối cảnh kinh tế - xã hội chưa thuận lợi
• Chính phủ điện tử còn non yếu, chưa cung cấp các dịch vụ công thiết yếu cho TMĐT: hải quan điện tử, thuế điện tử, cấp phép xuất nhập khẩu điện tử, đăng ký đầu tư điện tử, v.v
• Tâm lý, tập quán mua bán: mua bán trực tiếp,
• Văn hóa doanh nhân, chữ tín của doanh nghiệp, khai man giá trị mua bán, mua bán hóa đơn, v.v
Trang 102006, hoàn thành việc cắt giảm thuế quan theo AFTA trong ASEAN, thực hiện đầy đủ các cam kết với Hoa Kỳ theo Hiệp định Thương mại song phương, tham gia ký kết và triển khai Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Trung quốc (ACFTA) cũng như nhiều cam kết quốc tế khác liên quan tới thương mại Đồng thời với việc tiếp tục mở cửa thị trường trong nước theo lộ trình của các cam kết quốc tế, hàng hoá và doanh nghiệp Việt Nam cũng có cơ hội rất lớn để thâm nhập thị trường toàn cầu Phát triển mạnh mẽ thương mại điện tử sẽ giúp các doanh nghiệp nắm bắt được các cơ hội mới
2 Doanh nghiệp là lực lượng nòng cốt ứng dụng và phát triển TMĐT
Doanh nghiệp là người bán, người mua, người phát triển phát triển công nghệ lớn nhất Chính mỗi doanh nghiệp sẽ tự quyết định có tham gia thương mại điện tử hay không, tham gia như thế nào, vào thời điểm nào, sẽ đầu tư nhân lực và nguồn lực ra sao, v.v Nói cách khác, doanh nghiệp là lực lượng nòng cốt đối với việc ứng dụng và phát triển thương mại điện tử
3 Nhà nước có vai trò tạo ra môi trường thuận lợi, cung cấp nhiều dịch vụ công hỗ trợ cho TMĐT và tích cực ứng dụng TMĐT
Mặc dù doanh nghiệp là lực lượng nòng cốt, đóng vai trò quyết định trong ứng dụng và phát triển thương mại điện tử nhưng Nhà nước đóng vai trò quan trọng Nhà nước có nhiệm vụ tạo ra môi trường thuận lợi cho ứng dụng và phát triển thương mại điện tử, xây dựng khung khổ pháp lý, thiết lập sự cạnh tranh lành mạnh, hỗ trợ tạo ra cơ chế giải quyết tranh chấp, bí mật riêng tư, bảo vệ người tiêu dùng, v.v Đồng thời, Nhà nước cũng là khách hàng rất lớn của các doanh nghiệp, chiếm tỷ trọng đáng kể trong các giao dịch thương mại
Nhà nước có nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ công hỗ trợ cho thương mại điện tử như hải quan điện tử, thuế điện tử, đăng ký đầu tư điện tử, cấp phép nhập khẩu điện tử, v.v Nếu nhà nước không hoàn thành tốt nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ công này thì thương mại điện tử cũng rất khó phát triển một cách toàn diện và mạnh mạnh mẽ
4 Nhà nước và doanh nghiệp cần chủ động, tích cực trong hợp tác quốc tế để tạo ra môi trường thuận lợi, thu hút công nghệ tiên tiến cho sự phát triển TMĐT
Thương mại điện tử mang tính toàn cầu Ngay từ năm 1998, Hội nghị bộ trưởng lần thứ hai của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã nhấn mạnh thương mại điện tử trên phạm vi toàn cầu đang tăng trưởng nhanh chóng và tạo ra nhiều cơ hội mới cho thương mại Các thành viên cũng cam kết tiếp tục duy trì thực tế không đánh thuế hải quan đối với các giao dịch điện tử qua biên giới Năm
2001 WTO tiếp tục khẳng định thương mại điện tử tạo ra nhiều cơ hội mới nhưng đồng thời cũng đặt
ra những thách thức mới cho thương mại của mọi thành viên, dù là thành viên phát triển hay đang
Trang 11phát triển, đồng thời WTO thừa nhận tầm quan trọng của việc tạo ra và duy trì một môi trường thuận lợi cho sự phát triển của thương mại điện tử trong tương lai Đồng thời, các nước thành viên một lần nữa cam kết tiếp tục duy trì thực tế không đánh thuế hải quan đối với các giao dịch điện tử qua biên giới
Các tổ chức kinh tế thương mại quốc tế và khu vực khác như APEC, ASEM, ASEAN đều coi thương mại điện tử có ý nghĩa quan trọng trong phát triển kinh tế thương mại và cố gắng tạo ra môi trường quốc tế thuận lợi cho thương mại điện tử Các tổ chức chuyên môn, đặc biệt là các tổ chức thuộc hệ thống Liên Hợp quốc như UNCTAD, UNCITRAL, AFACT, v.v có nhiều hoạt động để tạo ra môi trường thuận lợi trên phạm vi toàn cầu cho các hoạt động thương mại điện tử
Ngoài việc tham gia các hoạt động quốc tế đa phương và nhiều bên, chúng ta cũng cần đẩy mạnh các hoạt động hợp tác song phương với các nước và khu vực có khoa học công nghệ tiên tiến
và có quan hệ kinh tế thương mại chặt chẽ như Hoa Kỳ, EU, Nhật bản, Hàn quốc, v.v
5 Phát triển TMĐT gắn chặt với ứng dụng và phát triển CNTT
Sự phát triển của thương mại điện tử gắn chặt với sự phát triển của CNTT và chính phủ điện
tử Trong những năm qua CNTT ở nước ta đã phát triển khá nhanh Chiến lược phát triển CNTT và truyền thông đặt TMĐT như một trong những trụ cột chính của phát triển CNTT trong những năm tới
Kế hoạch tổng thể phát triển TMĐT cần phù hợp với Chiến lược phát triển CNTT và truyền thông cũng như Kế hoạch tổng thể phát triển Chính phủ điện tử ở Việt Nam tới 2010
ưu thế và có tác động chủ yếu tới nâng cao năng lực cạnh tranh của từng doanh nghiệp cũng như của toàn bộ nền kinh tế
Thống kê về TMĐT cho thấy tại những nước có hạ tầng CNTT tiên tiến, tỷ lệ hộ gia đình có máy vi tính cao, kết nối Internet qua broadband, loại hình giao dịch B2B vẫn cao gấp nhiều lần so với B2C
Phấn đấu tới năm 2010 phần lớn (khoảng 70%) các doanh nghiệp lớn nắm vững kỹ năng kinh doanh trên mạng và tiến hành các giao dịch B2B
2 Hầu hết (khoảng 90%) các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNV&N) biết tới lợi ích của TMĐT và
có ứng dụng nhất định
Tại Việt Nam cũng như hầu hết các nước khác trên thế giới, DNV&N rất năng động và có vị trí quan trọng trong nền kinh tế Tuy nhiên, các doanh nghiệp này bị hạn chế về nguồn lực nên ứng dụng TMĐT là cơ hội để họ đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường, tiết kiệm chi phí giao dịch và chăm sóc khách hàng, v.v Thực tế ở Việt Nam tới 2005 cho thấy chính các doanh nghiệp vừa và nhỏ là lực lượng tiên phong trong việc ứng dụng TMĐT
Trang 12Phấn đấu tới năm 2010 hầu hết (khoảng 90%) các DNV&N biết tới lợi ích của TMĐT và có những ứng dụng nhất định vào từng khâu hay của toàn bộ các khâu của giao dịch thương mại
3 Một bộ phận đáng kể (khoảng 15%) hộ gia đình và cá nhân có thói quen mua sắm trên mạng (B2C)
Việt Nam là một nước đang phát triển có thu nhập thấp Tuy nhiên, Việt Nam đã đề ra mục tiêu GDP năm 2010 sẽ tăng gấp đôi so với năm 2001 Những thành tựu phát triển kinh tế trong giai đoạn năm năm 2001 – 2005 cho thấy việc đạt được mục tiêu này có thể là hiện thực Thu nhập bình quân đầu người, nhất là ở các vùng đô thị, tăng nhanh trong khi chi phí cho máy tính cá nhân và Internet giảm mạnh sẽ tạo ra cộng đồng ngày càng tăng các hộ gia đình và cá nhân sử dụng Internet cho các mục đích khác nhau, đặc biệt là cho việc mua sắm trên mạng
Đồng thời, tỷ lệ thanh niên được đào tạo tốt, tiếp thu nhanh cái mới và hấp thụ ảnh hưởng của văn hoá thương mại các nước tiên tiến, v.v ngày càng tăng nhanh sẽ là yếu tố quan trọng thúc đẩy các hộ gia đình và các cá nhân, đặc biệt ở vùng đô thị, mua sắm hàng hoá qua mạng Internet
Các doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ thiết yếu như nước máy, điện, điện thoại, ngân hàng, v.v đang phát triển mạnh các hình thức thanh toán tự động Nhiều siêu thị bán lẻ và các nhà cung cấp dịch vụ khác đã và sẽ tiếp tục ứng dụng mạnh mẽ hình thức bán hàng hoá và dịch vụ qua mạng Các doanh nghiệp này sẽ tạo ra động lực và thói quen cho các hộ gia đình và cá nhân ứng dụng TMĐT trong mua sắm hàng hoá và dịch vụ của họ
Chính vì vậy, song song với việc ưu tiên hỗ trợ loại hình B2B, cố gắng để tới năm 2010 một
bộ phận đáng kể (khoảng 15%) hộ gia đình và cá nhân có thói quen mua hàng hoá và dịch vụ trên mạng
4 Tất cả các chào thầu mua sắm chính phủ được công bố trên các trang tin điện tử của các cơ quan Chính phủ và 30% mua sắm chính phủ được tiến hành trên mạng (B2G)
Việt Nam đã đặt ra mục tiêu và triển khai các biện pháp mạnh mẽ thực hiện cải cách hành
chính nhằm nâng cao hiệu quả, đơn giản thủ tục, minh bạch hoá, hiện đại hoá nền hành chính của đất
nước Song song với Chương trình cải cách hành chính, Việt Nam cũng xây dựng Kế hoạch tổng thể phát triển Chính phủ điện tử tới năm 2010 Đây chính là các tiền đề quan trọng để các cơ quan chính phủ cung cấp các dịch vụ công gắn chặt với TMĐT như thuế điện tử, hải quan điện tử, cấp giấy phép nhập khẩu điện tử, chứng nhận xuất xứ hàng hoá qua mạng, v.v Đồng thời quá trình cải cách hành chính và xây dựng chính phủ điện tử cũng tạo điều kiện và bắt buộc các cơ quan chính phủ phải minh bạch hoá các hoạt động mua sắm chính phủ sử dụng ngân sách nhà nước Dần dần, các cơ quan chính phủ từ cấp trung ương tới địa phương phải tuân thủ chặt chẽ các quy định về đấu thầu, cạnh tranh trong mua sắm công, công khai việc mua sắm trên mạng
Mục tiêu đặt ra là tới năm 2010 hầu hết các chào thầu mua sắm chính phủ sẽ được công bố công khai trên mạng và 30% mua sắm chính phủ ứng dụng TMĐT hình thức B2G
III CÁC CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
Bốn mục tiêu nêu trên đối với TMĐT có thể đạt được nếu thực hiện tốt sáu chính sách lớn Thứ nhất, triển khai mạnh mẽ và liên tục hoạt động phổ biến, tuyên truyền, đào tạo về TMĐT Thứ hai, nhanh chóng tạo lập môi trường thuận lợi cho TMĐT với việc ban hành đầy đủ và đồng bộ các văn bản quy phạm pháp luật liên quan tới TMĐT Thứ ba, các cơ quan chính phủ ở mọi cấp cần phải
đi tiên phong trong việc hỗ trợ và ứng dụng TMĐT Thứ tư, phát triển hạ tầng kỹ thuật cho TMĐT trên cơ sở chuyển giao công nghệ từ nước ngoài Thứ năm, tổ chức thực thi các quy định pháp luật
Trang 13liên quan tới TMĐT một cách cương quyết, kịp thời Thứ sáu, tích cực tham gia các hoạt động hợp tác quốc tế về TMĐT
1 Phổ biến, tuyên truyền, đào tạo về lợi ích và kỹ năng ứng dụng TMĐT phải đi trước một bước và phải tiến hành liên tục Nhà nước phải coi đây là một công việc lớn góp phần phát triển TMĐT trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn
TMĐT gắn chặt với công nghệ tin học và truyền thông hiện đại Tuy nhiên chủ thể của mọi hoạt động thương mại vẫn là con người, không phải là công nghệ mà chính con người là nhân tố quyết định tới thành công của việc ứng dụng TMĐT Kinh nghiệm một số nền kinh tế ở châu Á cho thấy mặc dù không phát minh ra công nghệ nguồn, mang tính cách mạng, nhưng nhờ có chính sách phát triển nguồn nhân lực cho TMĐT tốt nên vẫn xếp thứ hạng cao trong ứng dụng CNTT và TMĐT như Hàn quốc, Đài loan, Singapore Trong khi đó thực tiễn ở Việt Nam tới năm 2005 cho thấy một
số doanh nghiệp ứng dụng CNTT rất tốt nhưng hầu như chưa biết tới lợi ích của TMĐT nên hầu như chưa có kế hoạch triển khai để tận dụng các cơ hội do TMĐT mang lại
Hoạt động phổ biến, tuyên truyền, đào tạo khó thu lợi nhuận, chậm thu hồi vốn nên các doanh nghiệp ít quan tâm kinh doanh Đây chính là một loại hình dịch vụ công thuộc chức năng của nhà nước
1.1 Đẩy mạnh hoạt động phổ biến, tuyên truyền về TMĐT, đặc biệt cho các DNV&N
Ứng dụng TMĐT có liên quan sâu sắc tới nhiều mặt kinh tế xã hội nên đòi hỏi sự hưởng ứng
và tham gia của tất cả tầng lớp nhân dân, mọi lĩnh vực kinh tế, mọi loại hình doanh nghiệp cũng như các tổ chức kinh tế - xã hội
Do đó, việc phổ biến, tuyên truyền sâu rộng về các vấn đề liên quan tới TMĐT có ý nghĩa quyết định tới việc ứng dụng TMĐT Trong giai đoạn 2006 - 2010 cần tập trung phổ biến, tuyên truyền về lợi ích và kỹ năng TMĐT như sau:
i Phổ biến, tuyên truyền cho các nhà quản lý doanh nghiệp, đặc biệt là các DNV&N
i.1 Theo loại hình doanh nghiệp
• Các Tổng công ty lớn của nhà nước: loại hình doanh nghiệp này có quy mô lớn nhưng chưa quan tâm đầy đủ tới công tác đào tạo cán bộ về TMĐT Cần hỗ trợ cho các nhà lãnh đạo các Tổng công ty lớn của nhà nước biết tới lợi ích của TMĐT, từ đó họ sẽ xây dựng
kế hoạch triển khai TMĐT tại chính đơn vị của mình
• Các doanh nghiệp tư nhân, các công ty cổ phần: loại hình doanh nghiệp này nói chung có quy mô vừa và nhỏ, khá năng động trong kinh kinh doanh và dễ tiếp thu công nghệ mới Nếu giới chủ các loại hình doanh nghiệp này hiểu rõ lợi ích của TMĐT họ sẽ nhanh chóng
và mạnh dạn tổ chức triển khai trong doanh nghiệp của họ
• Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: thường có công nghệ tiên tiến, kỹ năng quản
lý cao và nhanh nhậy trong ứng dụng CNTT và TMĐT Hoạt động tuyên truyền đối với đối tượng này chủ yếu cung cấp thông tin cập nhật về môi trường pháp lý, về thực thi quyền sở hữu trí tuệ, cơ chế giải quyết tranh chấp, v.v liên quan tới TMĐT của Việt Nam
i.2 Theo loại hình kinh doanh
Thực tế cho thấy có một số lĩnh vực kinh doanh có những yếu tố thuận lợi cho ứng dụng TMĐT Trong lĩnh vực dịch vụ là các hoạt động kinh doanh trong du lịch, tài chính, vận tải, giải trí,