1. Trang chủ
  2. » Mẫu Slide

BÀI THUYẾT TRÌNH TẬP TÍNH BẨM SINH Ở ĐỘNG VẬT

44 940 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 30,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tập tính là chuỗi phản ứng của động vật trả lời các kích thích từ môi trường bên trong hoặc bên ngoài cơ thể nhờ đó động vật thích nghi với môi trường sống và tồn tại.. Khoa học nghiên

Trang 1

Bài thuyết trình

TẬP TÍNH BẨM SINH

Ở ĐỘNG VẬT

Trang 2

Tập tính là chuỗi phản ứng của động vật trả lời các kích thích

từ môi trường( bên trong hoặc bên ngoài cơ thể) nhờ đó

động vật thích nghi với môi trường sống và tồn tại.

Khoa học nghiên cứu các hoạt động sống, tập tính của sinh vật gọi là tập tính học (ethology)

I Khái niệm tập tính

1 Khái niệm:

Trang 3

Ví dụ : Khi hổ báo săn mồi thì chúng tiến gần đến con mồi, sau đó nhảy

vồ lên hoặc rượt đổi tiến gần con mồi.

Các hoạt động tiến lại gần, nhảy vồ lên, rượt đuổi là các chuỗi phản ứng của hổ báo để có thể săn mồi→ đảm bảo cho hỏ báo có thể bắt được con mồi →tồn tại và phát triển

Chuỗi các hành động khi săn mồi của hổ được gọi là tập tính  kiếm 

ăn của hổ báo

Ý nghĩa : Tập tính giúp cho sinh vật thích nghi được với môi trường để

tồn tại và phát triển.

Trang 5

Là chuỗi phản xạ không điều kiện mà trình tự của chúng trong hệ thần kinh đã được gen quy định sẵn từ khi sinh ra, nghĩa là có kích thích thì đông tác xảy ra liên tục theo một trình tự nhất định Tập tính bẩm sinh là tập tính sinh ra đã

có, được truyền từ bố mẹ thường rất bền vững không thay đổi đặc trưng cho loài

vd : đứa trẻ sinh ra đã biết mút vú mẹ và không cần phải học; co đồng tử khi bị chói mắt; cười khi bị cù…

2.1 Tập tính bẩm sinh

Trang 6

Là chuỗi phản xạ có điều kiện Là tập tính được hình thành trong quá trình sống của cá thể, thông qua quá trình học tập và rút kinh nghiệm Quá trình hình thành tập tính học được chính là quá trình hình thành các mối liên hệ mới

giữa các noron Sự hình thành các mối liên hệ mới giữa

các noron là cơ sở giải thích tại sao tập tính học được có thể thay đổi.

Vd: Con khỉ có thể chạy xe đạp, con cá heo có thể chơi với

bóng…

2.2 Tập tính học được

Trang 7

Trong nhiều trường hợp khó phân biệt được tập tính hoàn

toàn là bẩm sinh hay do học tập mà có Nhất là các tập tính học được đã hình thành và phát triển thành các kỹ năng, kỹ xảo, thói quen.

Tập tính hỗn hợp bao gồm cả tập tính bẩm sinh và tập tính thứ sinh có được do học tập Càng ở nhóm động vật bậc cao, phần lớn tập tính được xem là tập tính hỗn hợp.

Vd: tập tính bắt chuột ở mèo là tập tính hỗn hợp vừa do bẩm sinh vừa do mèo mẹ dạy cho, tập tính xây tổ ở chim vừa

mang tính bẩm sinh vừa do học được từ đồng loại,…

2.3 Tập tính hỗn hợp

Trang 8

3 Cơ sở thần kinh của tập tính bẩm sinh

Trang 9

Cơ sở thần kinh của tập tính là các phản xạ không điều

kiện và có điều kiện.

Tập tính bẩm sinh là chuỗi phản xạ không điều kiện, do

kiểu gen qui định, bền vững, không thay đổi.

Tập tính học được là chuỗi phản xạ có điều kiện, không

bền vững và có thể thay đổi

Sự hình thành tập tính học được ở động vật phụ thuộc vào mức độ tiến hóa của hệ thần kinh và tuổi thọ của chúng.

Khi số lượng các xináp trong cung phản xạ tăng lên thì

mức độ phức tạp của tập tính cũng tăng lên.

Trang 10

1.Đặc điểm của tập tính bẩm sinh:

Từ khi sinh ra đã có, mang tính chất bản năng và được di truyền từ

Trang 11

2 Phân loại tập tính bẩm sinh

Tập tính bẩm sinh

Tập tính di cư

Tập tính tự vệ - bảo vệ lãnh thổ

Tập tính sinh sản Tập tính kiếm ăn – bắt mồi

Trang 12

3 Ứng dụng của một số tập tính bẩm sinh của một số loài động vật:

Trang 13

3.1 Tập tính tự vệ

Gia cầm thường có tập tính sống theo

đàn, chúng di chuyển tìm kiếm thức ăn,

ăn theo đàn, gà con đi theo gà mẹ.Tập

tính này giúp cho gia cầm giữ ấm vào

mùa đông Vì vậy, trong nuôi gà công

nghiệp khi thấy đàn gà có hiện tượng

tản ra xung quanh đó là do nhiệt độ

chuồng nuôi cao cần hạ nhiệt, nếu thấy

chúng tranh nhau vào giữa đàn thì cần

tăng nhiệt độ lên Biết được tập tính này

của gà ta có thể chăn nuôi gà tốt hơn,

giúp gà không bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ

môi trường làm gà bị mắc bệnh.

Trang 14

Một số loại động vật khi gặp kẻ thù chúng sẽ tiết

ra các nọc độc để bảo vệ cơ thể người ta ứng dụng nọc độc trong cuộc sống như:

Trang 15

- Dùng nọc rắn để chế tạo huyết thanh kháng nọc, chữa cho những người bị

rắn cắn Khoảng 400 loài rắn có nọc độc và huyết thanh của loài nào chỉ

chữa được cho người bị rắn đó cắn Hiện gần 100 quốc gia đã chế tạo trên dưới 200 loại huyết thanh Việt nam đã điều chế thành công lợi huyết thanh kháng nọc rắn hổ đất, lục tre, hổ chúa và chàm quạp…

- Nọc rắn còn được dùng chế thuốc giảm đau, chống viêm thấp khớp, đau

cơ, đau dây thần kinh… dưới dạng tiêm hay thuốc mỡ - Nọc rắn độc hổ

mang ở brazil có chất captopril gây hạ huyết áp rất nhanh khiến con mồi bủn rủn, tê liệt Các nhà khoa học đã mô phỏng và chế tạo được chất nhầy này

để chữa trị bệnh tăng huyết áp.

- Loại nọc độc làm đông máu được ứng dụng chế tạo thuốc cầm máu, chống chảy áu nội tạng.

- Từ nọc độc của rắn hổ mang, các nhà khoa học đã trích ra một chất có tên

là contortrastin, có khả năng chống chế tế bào ung thư, làm chậm sự lan

truyền của các khối u.

Dựa vào tập tính phóng nọc độc của rắn để thu

nọc rắn chữa bệnh:

3.1 Tập tính tự vệ

Trang 16

- Nọc rắn đã đắt nhưng nọc bò cạp còn đắt hơn, muốn có 1g nọc phải lấy từ 8000 con bò cạp (mỗi con chỉ lấy một lần).

Nọc bò cạp được dùng để điều trị những rối loạn của hệ thần kinh.

- Viện ung thư và chiếu xạ sinh học canada đã điều chế thành công loại thuốc có tên là escozul từ nọc độc của bò cạp xanh, dùng điều trị một số bệnh ung thư, parkinson, viêm khung

chậu Thuốc được áp dụng cho hơn 70000 bệnh nhân, kết

quả khả quan.

Nọc độc của bò cạp:

3.1 Tập tính tự vệ

Trang 17

- Những người nuôi ong thường không bị thấp khớp vì trong quá trình tiếp xúc với ong, họ không thể tránh khỏi một vài

lần bị ong đốt Từ thực tế này, các nhà khoa học đã nghiên cứu và phát hiện nọc ong có khả năng chữa bệnh khớp Họ chế tạo được dược phẩm chứa mellitine có tác dụng kháng viêm giảm đau mạnh gấp nhiều lần hydrocortison, dùng trong bệnh thấp khớp Melltine còn được dùng trong phẫu thuật

chỉnh hình và thẩm mĩ để làm các tế bào mịn màng hơn khi trở thành sẹo.

- Các nhà khoa học đang hy vọng chế tạo từ nọc ong một loại vacxin chống dị ứng – căn bệnh tăng rất nhanh trong 20 năm gần đây.

Nọc ong

3.1 Tập tính tự vệ

Trang 18

Tơ nhện có chức năng như lưới để bắt các loài động vật khác, hoặc như tổ kén để bảo vệ cho con của chúng

Trong một số trường hợp, nhện thậm chí có thể sử dụng lụa như một nguồn thực phẩm Người ta đã phát triển các phương pháp tạo tơ nhện bằng cách ép buộc

Các nhà nghiên cứu của Đại học Wyoming Hoa Kỳ đã tạo ra tằm có thể nhả tơ chắc chắn như tơ nhện Thành công trên nhờ vào sự phát hiện một loài nhện đặc biệt ở Madagascar vào năm 2009, được gọi là nhện Caerostris darwini Loài nhện này không những tạo ra mạng lưới lớn nhất (với các tấm lưới trải dài đến 25m), mà tơ của nó được công nhận chắc chắn nhất trong loài (có thể hấp thu năng lượng cao gấp 3 lần sợi Kevlar)

Ứng dụng của tơ nhện lai tằm mới được trải rộng qua nhiều lĩnh vực, từ vật dụng như dù, túi khí xe hơi, trang phục thể thao, đến các mục đích điều trị y khoa, như băng phủ vết thương, chỉ khâu, dây chằng và gân nhân tạo, hỗ trợ các khớp lành sau đợt chấn thương, thậm chí còn giúp dây thần kinh phục hồi và tái tạo

Tơ nhện được sử dụng làm áo giáp chống đạn

Tập tính giăng tơ của nhện

3.1 Tập tính tự vệ

Trang 19

3.1 Tập tính tự vệ

Trang 20

Theo một công trình nghiên cứu về rươi, mùa sinh sản chính của rươi là tháng 5-6 (rươi chiêm) và tháng 10-11 (rươi mùa)

Từ tháng 1 đến tháng 6, do thủy triều lên

về đêm nên rươi di cư sinh sản ban đêm Rươi thường nổi nhiều vào các ngày cuối, đầu và giữa tháng như ngày 29, 30; mồng 1, mồng 2: ngày 14, 15 rằm Các ngày khác chỉ nổi rải rác, ít và khi có, khi không.

Những ngày cuối tháng, rươi lại thường nổi vào lúc 1-2 giờ sáng; những ngày

giữa tháng, ngày rằm, rươi lại thường nổi đồng loạt lúc 19-20 giờ Các ngày khác

có khi lại nổi lúc 7-8 giờ sáng

3.2 Tập tính sinh sản

1 Rươi:

Trang 21

Rươi không có công dụng chữa bệnh Nhưng trong con rươi chứa nhiều thành phần dinh dưỡng , nên ăn rươi cung cấp một lượng lớn dinh dưỡng cho cơ thể đặc biệt là đạm Từ lâu người dân đã dùng rươi để làm nguyên liệu chế biến những món dân

dã đặc biệt thơm ngon mà giờ đây đã trở thành một món đặc sản quý hiếm.

thông qua tập tính sinh sản theo mùa của rươi mà người ta có thể khai thác với số lượng lớn đem lại hiệu quả kinh tế cao

Ứng dụng:

3.2 Tập tính sinh sản

Trang 22

3.2 Tập tính sinh sản

Trang 23

Tò vò có ở nhiều nơi thuộc đồng bằng, trung du và miền núi, thường sống

và làm tổ ở tường nhà hoặc dưới mái hiên Tổ được xây bằng đất có mái khum Đến mùa sinh sản, tò vò đẻ trứng lên con mồi là nhện hoặc sâu đã được chuẩn bị sẵn Sau đó, nó lấy đất bịt kín miệng tổ Tò vò con sau khi

nở, ăn xác con mồi, rồi biến thành nhộng, sau thành tò vò trưởng thành Lúc này, tò vò cắn tổ chui ra ngoài

2.Tò vò

3.2 Tập tính sinh sản

Trang 24

Bộ phận dùng làm thuốc của tò vò là tổ, lấy về, phơi hoặc sấy khô Khi dùng, đốt tồn tính Tổ tò vò được dùng trong y học cổ truyền và kinh nghiệm dân gian với tên thuốc là thổ phong sào Dược liệu có vị ngọt, tính bình, không độc, có tác dụng trấn kinh, giải độc, tiêu sưng, làm se, tiêu thũng, thường được dùng trong những trường hợp sau:

Chữa thổ tả, sốt rét: Tổ tò vò 30g, vỏ già của quả bầu rượu 30g Hai thứ đốt tồn

tính, tán bột, uống với nước gừng làm hai lần trong ngày.

Chữa kém tiêu, đầy bụng ở trẻ em: Tổ tò vò 30g, xác nhện 3-4 cái, sắc với 200ml

nước còn 50ml, uống làm một lần trong ngày.

Chữa sốt cao, trẻ em co giật: Tổ tò vò 30g, vỏ quả bầu 20g, rễ chỉ thiên 20g Tất

cả đốt thành tro, thêm nước đun sôi để nguội, khuấy đều, để lắng Gạn lấy

nước trong mà uống.

Chữa tràng nhạc: Tổ tò vò, vỏ quả trứng gà, tóc rối, xơ mướp, đốt thành tro,

trộn đều, hòa với nước, nặn thành bánh rồi đắp.

Chữa mụn nhọt sưng đau, lở loét: Tổ tò vò 30g, xác rắn lột 20g Hai thứ đốt tồn

tính, tán bột, uống làm hai lần trong ngày.

3.2 Tập tính sinh sản

Trang 26

Bọ rùa là tên gọi chung cho các loài côn trùng nhỏ, mình tròn hình cái trống, phủ giáp trụ, trên mặt cánh có những chấm

đen (có loài không có) Người ta phân loại

bọ rùa tùy theo số chấm và hình thái cơ thể Bọ rùa là thiên địch tốt, để trừ sâu

Vào mùa xuân, rệp lúa từ trứng nở ra, bọ rùa cũng “thức giấc” sau kì trú đông, vì thế chúng có đủ lượng thức ăn dồi dào.

3.Bọ rùa

3.2 Tập tính sinh sản

Trang 27

Bọ rùa cái đẻ trứng ở mặt sau lá cây Trứng hình bầu dục màu

vàng, dài khoảng 1 đến 1,5 mm và bám chặt ở mặt ngoài lá cây Một

bọ rùa đẻ 10-20 trứng một lần, một đời có thể đẻ đến mấy ngàn

trứng.

Trứng sau 1-2 tuần sẽ nở ra ấu trùng Sau đó, nó đi tìm các con rệp lúa để ăn Ấu trùng này mình đầy lông lá, một ngày ăn khoảng 10 con rệp, càng lớn nó càng ăn nhiều.

Qua ba lần lột xác và hoá nhộng, trong khoảng 1-2 tháng là thành trùng Trong thời gian này, tối thiểu nó ăn tới hơn 1000 con rệp.

3.2 Tập tính sinh sản

Trang 28

Bọ rùa một trong số những loài thiên địch có vai trò quan trọng trong việc làm giảm mật độ của quần thể rệp và một số loài sâu hại trên đồng ruộng Trong điều kiện canh tác nông nghiệp hiện nay, việc triển khai thực hiện sản xuất nông nghiệp an toàn, bền vững vẫn chỉ dừng lại ở từng vùng, từng khu vực nhất định Do vậy các loài bọ rùa thiên địch nói chung tồn tại ngoài tự nhiên

đồng ruộng vẫn đang phải chịu tác động ảnh hưởng của thuốc hóa học ở hầu hết các khu vực sản xuất nông nghiệp Vì vậy,

cần thiết phải tiến hành các nghiên cứu để duy trì nguồn giống của các loài bọ rùa thiên địch nói chung và bọ rùa đỏ Nhật Bản nói riêng trong phòng thí nghiệm (PTN) để có thể chủ động nhân nuôi ra một số lượng lớn bọ rùa để đưa ra sử dụng phòng trừ rệp hại cây trồng trên đồng ruộng Trong bài viết này, chúng tôi công

bố các kết quả nghiên cứu thời gian phát triển của BRNB qua

các thế hệ nhân nuôi liên tiếp trong PTN.

3.2 Tập tính sinh sản

Trang 29

3.2 Tập tính sinh sản

Trang 30

loài cây trồng và 69 loại

côn trùng có hại thường

hiệu quả sâu đục thân

ngô, sâu cuốn lá nhỏ hại

lá, sâu đo xanh hại đay,

sâu xanh hại bông…

4.Ong mắt đỏ

3.2 Tập tính sinh sản

Trang 31

Ví dụ: Ong mắt đỏ tự tìm trứng và để trứng trên trứng của sâu đục thân kí sinh trên đó dẫn đến trứng của sâu đục thân không nở ra sâu mà nở ra ong Ong đó lại tiếp tục kí sinh lên ổ trứng khác trên đám ruộng mía

Phương pháp này làm giảm lượng sâu đục thân tới 30%- 70% đặc biệt là sâu đục thân 4 vạch, 5 vạch Vì thế người ta nhân nuôi ong mắt đỏ Nước

Mỹ bắt đầu áp dụng ong mắt đỏ để tiêu diệt trứng của nhiều loại sâu hại

từ thập kỷ 20 – 30 Liên Xô (cũ) bắt đầu ứng dụng từ thập kỷ 30 – 40

Trung Quốc bắt đầu ứng dụng từ năm

1934 và bắt đầu sản xuất lớn từ sau thập kỷ 50 Nước ta bắt đầu thả ong mắt đỏ từ năm 1973 nhưng chỉ áp

dụng vào đồng ruộng được vài năm gần đây.

3.2 Tập tính sinh sản

Trang 32

Muốn nhân giống được ong

mắt đỏ người ta phải nhân

nuôi ngoài mạch (Sitotroga

cerealella) hay ngài gạo

(Corcyra Cephalonica) trên hạt thóc, hạt cao lương để lấy

trứng quanh năm và dùng các

trứng này để nuôi ong mắt đỏ

giúp làm giảm lượng sâu hại

đến cây trồng của người nông

dân như lúa, ngô,… đồng thời

góp phần bảo vệ môi trường,

bảo đảm cân bằng sinh học

3.2 Tập tính sinh sản

Trang 33

Ve sầu có tập tính kêu vào mùa hè Tập tính này là do mùa sinh sản của chúng, những con ve đực sẽ phát ra tiếng kêu để mời gọi

ve sầu cái đến làm bạn tình húng phát ra âm thanh từ dưới ngực

và bụng và tiếng kêu này rất to tạo âm thanh bằng cách cọ xát hai cánh vào nhau, ve sầu đực tạo âm thanh bằng cách rung hai cái

"loa" làm bằng màng mỏng, phát triển từ lồng ngực Khi ve co giãn mạnh các vòng sườn, màng mỏng rung động và tạo nên âm

thanh Bụng ve rỗng nên nó có thể khuếch đại âm thanh, tạo

thành tiếng kêu rất to Chúng lắc thân và rung cánh để tạo nhịp cho các "bài hát".

Trang 34

3.2 Tập tính sinh sản

Trang 35

• Các nhà khoa học khẳng định tiếng kêu của ve sầu đực có thể đạt tới 100 decibel Một số loài ve có khả năng tạo âm thanh đến 120 dB ở cự ly

gần, cao hơn cả nhạc trong vũ trường khoảng 100dB Nhóm của Derke hughes (một nhà nghiên cứu của hải quân Mỹ) đang chế tạo một mô

hình vật lý để mô tả chính xác quá trình tạo ra tiếng kêu của ve sầu

Magicicada Mô hình đó có thể giúp các chuyên gia tìm ra bí quyết tạo nên âm thanh lớn nhưng chỉ tiêu tốn ít năng lượng Bí quyết này sẽ giúp

họ tăng cường chất lượng của những thiết bị dành cho việc dò tìm vật thể dưới nước, liên lạc giữa các tàu hay cứu hộ trên biển.

3.2 Tập tính sinh sản

Trang 36

Cá dọn bể hay còn gọi là cá lau kính hay cá tỳ bà ( danh pháp hai phần : Hypostomus punctatus) là loài cá nước ngọt có nguồn gốc

từ Nam Mỹ, Cá được xem là chuyên gia ăn rêu và dọn chất nhớt ở thành bể và đáy bể, cá thích hợp thả nuôi chung với nhiều loài

Chăm sóc: cá dễ nuôi, hoạt động về đêm, thích ứng nhiều điều kiện môi trường khác nhau.

Thức ăn: Cá ăn tảo, thực vật, mùn bã, giáp xác và côn trùng nhỏ ỨNG DỤNG: Vừa dọn sạch vừa trang trí bể.

3.3 Tập tính dinh dưỡng

Cá tỳ bà

Trang 37

3.4 Tập tính di cư

Trang 38

Tập tính di cư:

Là hoạt động thường thấy ở chim, cá… và thường xảy ra theo mùa Động vật di chuyển một quãng đường rất dài để tìm nơi cư trú mới, sau một thời gian, chúng lại quay về chỗ cũ

Là dạng tập tính rất phức tạp thể hiện trong quá trình di cư Chúng thường di cư theo mùa, định kỳ hàng năm để tránh cái lạnh giá,sinh sản hoặc tìm thức ăn

mới…

Tại sao chúng di cư? Khi di cư chúng định hướng bằng cách nào?

Do sự thay đổi của thời tiết và khan hiếm thức ăn -> chim cần di dư để tìm nơi ở mới phù hợp với mình, thường các loài chim di cư là chim ăn thịt.Cá di cư chủ yếu

là để tìm nơi sinh sản Ví dụ như cá hồi, chúng sinh ra tại khu vực nước ngọt, di

cư ra biển, sau đó quay trở lại vùng nước ngọt để sinh sản

Khi di cư động vật sống trên cạn định hướng nhờ vị trí mặt trời, trăng, sao, địa hình; cá định hường nhờ vào thành phần hoá học của nước và hướng dòng nước chảy

3.4 Tập tính di cư

Ngày đăng: 06/03/2019, 18:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w