1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH NGHỀ TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC ĐẾN NĂM 2020 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

97 120 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH NGHỀ TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC ĐẾN NĂM 2020 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030 ĐẶT VẤN ĐỀ Trong lịch sử phát triển loài người, nghề thủ công

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH NGHỀ TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC ĐẾN NĂM 2020

VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

2012

-MỤC LỤC QUY HOẠCH

Trang 2

PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH NGHỀ TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC ĐẾN NĂM 2020

2 Tình hình phát triển các ngành nghề tiểu thủ công

nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2000-2010 24

Phần II Quan điểm, mục tiêu và định hướng phát triển ngành

nghề tiểu thủ công nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc đến năm

Trang 3

2 Về mặt bằng sản xuất và đầu tư kết cấu hạ tầng các

cụm tiểu thủ công nghiệp làng nghề

88

5 Giải pháp về thị trường, xúc tiến thương mại 92

IV Giải pháp về khoa học, công nghệ, môi trường 98

V Giải pháp về tổ chức điều hành quy hoạch 100Phần IV Phụ lục

1 Danh sách các làng nghề được công nhận theo quyết

định của UBND tỉnh Vĩnh Phúc tính đến năm 2010

3 Một số dự án kêu gọi đầu tư giai đoạn 2011-2020 105

4 Bản đồ hiện trạng phân bố các cụm công nghiệp trên

địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

106

5 Bản đồ quy hoạch các cụm công nghiệp trên địa bàn

tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030

107

Trang 4

QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH NGHỀ TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC ĐẾN NĂM 2020

VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong lịch sử phát triển loài người, nghề thủ công xuất hiện như là nghề phụcủa nông nghiệp, do lao động nông nghiệp tiến hành Dần dần, nghề thủ côngphát triển thành các hoạt động của những thợ thủ công chuyên nghiệp, hộ sảnxuất thủ công chuyên nghiệp, sau đó mở rộng dần thành các làng nghề, các khuvực làng nghề tiểu thủ công nghiệp và khi hoạt động chuyên sâu, đạt được mộtquy mô nhất định sẽ tách ra khỏi nông nghiệp hình thành các doanh nghiệp côngnghiệp có quy mô, trình độ kỹ thuật công nghệ độc lập và hiện đại hoá dần Các làng nghề Việt Nam đã ra đời từ hàng ngàn năm trước đây tại các vùngdân cư tập trung ở châu thổ sông Hồng Những di chỉ khảo cổ được pháthiện và khảo sát trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc cho thấy có khá nhiều hiện vật làcác sản phẩm thủ công với trình độ sản xuất khá cao, lưu thông đã khá rộng vàphổ biến Vĩnh Phúc là một địa phương nằm trong châu thổ sông Hồng có nghềthủ công tương đối sớm, nhưng không nhiều nghề, quy mô sản xuất nhỏ, tổ chứcphân tán, chủ yếu dưới hình thức nghề phụ của các hộ gia đình; giai đoạnchuyển từ sản xuất thủ công sang thủ công chuyên nghiệp chậm hơn rất nhiều sovới tỉnh khác ở đồng bằng sông Hồng

Tiểu thủ công nghiệp (TTCN) là lĩnh vực sản xuất bao gồm các cơ sở côngnghiệp nhỏ và các nghề thủ công (kỹ thuật sản xuất chủ yếu làm bằng tay).TTCN là một bộ phận hợp thành của công nghiệp nông thôn, là động lực trựctiếp giải quyết việc làm và thu nhập cho người lao động và các hộ gia đình ởnông thôn Ngoài việc góp phần hỗ trợ và thúc đẩy các ngành kinh tế khác pháttriển, TTCN còn tạo việc làm cho nhiều người khi nông nhàn, tăng thu nhập chongười lao động, rút ngắn khoảng cách giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị Nông thôn là khu vực chiếm hơn 77% dân số toàn tỉnh với hơn 62% số ngườitrong độ tuổi lao động, nhiều lao động không có việc làm thường xuyên và thờivụ; chất lượng lao động chưa cao; bình quân ruộng đất thấp, cơ sở hạ tầng thiếuđồng bộ, môi trường nông thôn ngày càng ô nhiễm; chênh lệch về thu nhập vàđời sống khu vực nông nghiệp, nông thôn so với khu vực thành thị và các ngànhkinh tế khác trên địa bàn còn khá lớn TTCN với thu nhập bình quân tuỳ thuộcngành nghề thường cao hơn sản xuất nông nghiệp từ 2 đến 4 lần không chỉ giảiquyết việc làm, cải thiện điều kiện sống ở khu vực nông thôn mà còn góp phầncông nghiệp hoá, hiện đại hoá, xoá bỏ sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị.Quy hoạch phát triển các ngành nghề trên địa bàn là giải pháp đầu tiên nhằm

Trang 5

thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh đã được nêu trong Nghịquyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV

I SỰ CẦN THIẾT PHẢI QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH

NGHỀ TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNHPHÚC

Tốc độ tăng trưởng của Vĩnh Phúc thời gian qua luôn đạt mức cao so với cáctỉnh Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, là một trong những tỉnh đứng đầu của cảnước về tốc độ tăng trưởng và cao hơn nhiều so với tốc độ trung bình của cảnước Tuy nhiên, mặt trái của tăng trưởng cũng làm nảy sinh nhiều thách thứclớn về kinh tế, xã hội và môi trường trên địa bàn tỉnh thể hiện qua các mặt sau:

- Diện tích đất nông nghiệp ngày càng giảm, đã làm cho nông dân mất một phầnkhá lớn tư liệu sản xuất Những dự kiến khai thác và sử dụng lực lượng laođộng thừa do mất đất đã không thực hiện được một cách hiệu quả do trình độtay nghề của số lao động này còn hạn chế; việc đào tạo nghề chưa đáp ứngđược yêu cầu của các doanh nghiệp

- Cơ cấu công nghiệp của Vĩnh Phúc đã có sự dịch chuyển dần sang các ngành

sử dụng công nghệ cao, cần ít lao động, đặc biệt là ở nhiều doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài và một số doanh nghiệp trong các khu công nghiệp.Những ngành này càng phát triển bao nhiêu thì lao động dôi dư càng lớn bấynhiêu; sự phân hoá giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư trên địa bàn tỉnh và

cả nước cũng đang gia tăng

- Các khu công nghiệp đã và đang hình thành hiện chưa hoạt động hết côngsuất nhưng các chỉ tiêu về ô nhiễm môi trường ngày càng rõ rệt Trên địa bànchưa có các công trình xử lý chất thải tập trung ngoại trừ khu xử lý nước thảitại khu công nghiệp Khai Quang, KCN Bình Xuyên

- Công nghiệp Vĩnh Phúc phát triển chưa đồng bộ, thiếu hệ thống các ngành hỗtrợ, kể cả những ngành, lĩnh vực cơ bản có nhu cầu lớn; chưa thiết lập đượcmối quan hệ hợp tác có hiệu quả với các tỉnh cùng nằm trong vùng kinh tếtrọng điểm Bắc Bộ, thể hiện qua số lượng cũng như chủng loại các bán thànhphẩm lưu thông qua lại còn hạn chế

- Phần lớn các cơ sở sản xuất công nghiệp tập trung dọc theo quốc lộ 2, gầnvới Hà Nội, chưa khai thác được tiềm năng lao động khu vực nông thôn Mặt hàng thủ công mỹ nghệ là mặt hàng tiềm năng, trọng điểm của côngnghiệp nông thôn cần khuyến khích đầu tư phát triển vì:

 Thị phần trên thế giới của hàng Thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam cònthấp (chiếm 11% kim ngạch nhập khẩu các sản phẩm từ mây tre lá, 11% kim

Trang 6

ngạch gốm sứ và 2,6% sản phẩm kim loại của EU, …) là mặt hàng có khảnăng phát triển sản xuất trong khoảng thời gian ngắn

 Nguồn nguyên liệu cho hàng TCMN chủ yếu là gỗ, đá, đất, mây, tre, nứa,cói, lá… sẵn có trong tự nhiên, dễ trồng, dễ khai thác tại Việt Nam

 Hàng TCMN của Việt Nam sử dụng nhiều lao động thủ công, chi phí sảnthấp, giá cả phải chăng có khả năng cạnh tranh với một số nước trong khuvực và được thị trường chấp nhận

 Việt Nam đã chính thức là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới(WTO), thuế nhập khẩu của các nước thành viên giảm thuận lợi cho hàngTCMN xuất khẩu của Việt Nam

 Nguyên phụ liệu khác phải nhập khẩu cho hàng TCMN không lớn, có thể tổchức sản xuất trong nước; đây là một ưu thế để nâng cao sức cạnh tranh vàgiá trị gia tăng của sản phẩm, nâng cao tỷ lệ thực thu ngoại tệ trong xuất khẩuhàng TCMN Việt Nam

 Việc sản xuất hàng TCMN có thể thu hút một lực lượng lớn lao động phổthông tại địa phương, thời gian đào tạo ngắn, có thể thực hiện ngay tại nơisản xuất Theo nghiên cứu “Quy hoạch tổng thể phát triển ngành tiểu thủcông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2010, tầm nhìn đến năm 2020” củaCục Công nghiệp địa phương, cứ xuất khẩu 1 triệu USD/năm thì thu hútđược khoảng 3,5 đến 4 ngàn lao động

 Thị trường trọng điểm nhập hàng TCMN của Việt Nam là Mỹ, các nước EU,Nhật Bản, Đài Loan và hiện đang phát triển các thị trường tiềm năng khácnhư Bắc Âu, Đông Âu, Nam Phi, Canada

Do sản xuất mang tính tự phát, các cơ sở sản xuất nhỏ đan xen trong khu dân

cư, mặt bằng sản xuất chật chội, sử dụng máy móc, thiết bị chắp vá, không đồng

bộ, tạo nên loại hình ô nhiễm phân tán, khó kiểm soát Ý thức bảo vệ môi trườngsinh thái của người dân làng nghề còn hạn chế, việc đầu tư xử lý các chất phátthải gây ô nhiễm môi trường ít được quan tâm nên tình trạng ô nhiễm môitrường tại các làng nghề ngày càng gia tăng, chất lượng môi trường tại hầu hếtkhu vực sản xuất trong các làng nghề đều không đạt tiêu chuẩn Theo Cục Côngnghiệp địa phương, khảo sát 52 làng nghề điển hình trong cả nước vừa qua chothấy 46% làng nghề có môi trường bị ô nhiễm nặng đối với không khí, nước, đấthoặc cả ba dạng; 27% ô nhiễm vừa và 27% ô nhiễm nhẹ So với các làng không

có nghề phụ, tỷ lệ người mắc bệnh ở nhiều làng nghề đang có xu hướng tăngcao, đặc biệt là nhóm trực tiếp tham gia lao động gây ra những tổn thất khôngnhỏ về kinh tế xã hội Công tác quản lý, kiểm soát gặp nhiều khó khăn, lại chưa

có những chế tài đủ mạnh đối với những cơ sở gây ô nhiễm môi trường nênthường nảy sinh các xung đột xã hội gay gắt

Trang 7

Vĩnh Phúc hiện có trên 50 làng nghề TTCN, sử dụng khoảng 40% lao độngcông nghiệp trong toàn tỉnh, nhưng chưa tạo được việc làm ổn định, mức thunhập chưa cao, nhiều nơi sản xuất gây ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến đờisống dân cư Tính chất tự phát trong các làng nghề khiến cộng đồng này gặpnhiều hạn chế về khả năng tổ chức quản lý, về nguồn lực tài chính, về kiến thứcthị trường, về công nghệ kỹ thuật và bảo vệ môi trường Việc quy hoạch pháttriển tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh hy vọng sẽ khắc phục được các tồntại, bất cập nêu trên.

II MỤC TIÊU CỦA ĐỀ ÁN

Mục tiêu của đề án nhằm quy hoạch phát triển tiểu thủ công nghiệp trên địabàn theo hướng phát triển nhanh, bền vững, đồng hành với phát triển kinh tế xãhội và phát triển các ngành khác, trên cơ sở khai thác tiềm năng, nguồn lực sẵn

có, đón bắt cơ hội, vận dụng linh hoạt cơ chế thị trường Việc quy hoạch pháttriển tiểu thủ công nghiệp, làng nghề được tiến hành đồng bộ với quy hoạch cácngành khác, quy hoạch vùng nguyên liệu và bảo vệ môi trường; phát triển làngnghề lồng ghép với các chương trình, dự án phát triển kinh tế xã hội ở địaphương

Phát triển tiểu thủ công nghiệp làng nghề theo hướng phát huy các nghềtruyền thống, hình thành các nghề mới, đa dạng hoá sản phẩm, đáp ứng tốt nhucầu của thị trường nhằm tạo thêm việc làm và thu nhập, bảo đảm an sinh xã hội

ở nông thôn, góp phần công nghiệp hóa nông thôn, từng bước cải tạo và nângcao đời sống của nhân dân

Tỉnh Vĩnh Phúc phấn đấu đến năm 2015 sẽ hình thành 11 cụm công nghiệp,

23 cụm TTCN làng nghề trên địa bàn để thu hút các doanh nghiệp vừa và nhỏ,các hộ sản xuất TTCN vào sản xuất tập trung để nâng cao hiệu quả sản xuất,kiểm soát và xử lý chất thải, bảo vệ môi trường Cùng với khôi phục các làngnghề truyền thống là xây dựng, nhân cấy một số nghề mới trong khu vực nôngnghiệp nông thôn như nghề mây tre đan xuất khẩu, thêu ren xuất khẩu, chế biếnnông sản thực phẩm, nghề mộc mỹ nghệ, trong đó tập trung vào một số nghề sửdụng nhiều lao động, vừa học vừa làm, tăng thu nhập cho người lao động gópphần xoá đói giảm nghèo, tạo tiền đề cho sự phát triển bền vững

III PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở một số nghề, ngành sản xuất tiểu thủ côngnghiệp tiêu biểu, có lợi thế cạnh tranh, có khả năng phát triển bền vững, có thểcải thiện thu nhập cho người dân khu vực nông nghiệp, nông thôn trên địa bàntỉnh Vĩnh Phúc

Sở Công thương đã phối hợp với các cấp, ngành, các doanh nghiệp triểnkhai thực hiện các đề án hỗ trợ, nhân cấy, phát triển nghề, hình thành các làng

Trang 8

nghề mới Với hình thức hỗ trợ đào tạo thợ lành nghề, truyền nghề, chuyển đổimặt hàng sản xuất, từ sản xuất những sản phẩm phục vụ tiêu dùng trong nướcsang những sản phẩm để xuất khẩu, một số làng nghề truyền thống đã và đangđược phát triển như: làng đá Hải Lựu (Sông Lô), làng mộc Thanh Lãng, lànggốm Hương Canh (Bình Xuyên); đan lát Triệu Đề (Lập Thạch), nuôi và chế biếncác sản phẩm từ rắn Vĩnh Sơn (Vĩnh Tường) Một số làng nghề mới đã vàđang được khuyến khích như: mây tre đan, mây xiên, ươm tơ… Các mô hìnhtrình diễn kỹ thuật, hỗ trợ đổi mới cho các cơ sở sản xuất đạt kết quả tốt sẽ đượctiếp tục nhân rộng như: mô hình chuyển giao công nghệ phun phủ sơn bóngcông nghiệp trong sản xuất đồ gỗ tại làng nghề mộc Thanh Lãng, mô hình sảnxuất chiếu tre, trúc của Công ty TNHH Sông Hồng, mô hình trình diễn kỹ thuậtsản xuất dụng cụ cơ khí cầm tay của Công ty TNHH Tiến Thịnh, mô hình trìnhdiễn kỹ thuật sấy nguyên liệu sản phẩm mây tre đan của doanh nghiệp mây tređan Tiến Đa Đây là những ngành nghề TTCN có thể quy hoạch phát triểnnhằm tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho người lao động, góp phần xóa đóigiảm nghèo, xoá bỏ sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị, tạo tiền đề cho sựphát triển bền vững

PHẦN I HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN NGÀNH NGHỀ TIỂU THỦ CÔNG

NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC

I KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH VĨNH PHÚC

I.1 Đặc điểm tự nhiên

Vĩnh Phúc - cửa ngõ Tây Bắc của Thủ đô Hà Nội, thuộc vùng Châu thổ sôngHồng là một trong 7 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Phía Bắc giáptỉnh Thái Nguyên và tỉnh Tuyên Quang; Phía Đông và phía Nam giáp Thủ đô

Hà Nội; Phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ Do tiếp giáp với Thủ đô Hà Nội và nằmtrong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ nên các nhà đầu tư có nhiều thuận lợi khi

sử dụng các công trình kỹ thuật hạ tầng của khu vực này

Vĩnh Phúc nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình hàngnăm 24,20C; lượng mưa 1.500 - 1.700 ml; độ ẩm trung bình 84 - 85%, số giờnắng trong năm 1.400 - 1.800 giờ Hướng gió thịnh hành là hướng Đông - Namthổi từ tháng 4 đến tháng 9, gió Đông - Bắc thổi từ tháng 10 tới tháng 3, kèmtheo sương muối Riêng vùng núi Tam Đảo có khí hậu quanh năm mát mẻ, nhiệt

độ trung bình 180 C thích hợp với các hoạt động du lịch, nghỉ ngơi, giải trí

Trang 9

Sau khi Mê Linh sáp nhập Hà Nội năm 2008, tổng diện tích đất tự nhiên củaVĩnh Phúc là 123.176,43 ha; trong đó rừng chiếm 26,7% diện tích với 10.821,51

ha rừng sản xuất

Do đặc điểm vị trí địa lý nên nơi đây hình thành 3 vùng sinh thái rõ rệt:Đồng bằng, trung du và miền núi hết sức thuận tiện cho phát triển nông – lâmnghiệp, thủy sản, công nghiệp và du lịch – dịch vụ

Địa hình núi cao chủ yếu thuộc dãy Tam Đảo, đứng giữa vùng trung du dàihơn 50 km chạy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam, từ huyện Sơn Dương (TuyênQuang) đến huyện Sóc Sơn Hà Nội, là danh giới tự nhiên giữa tỉnh Vĩnh Phúc

và Tuyên Quang Dãy Tam Đảo có trên 10 đỉnh cao trên 1.400m, đỉnh núi giữa(giữa 3 tỉnh Tuyên Quang, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc) cao 1529m đến cuối dãy ởđèo Nhe cao 600m và đến Dõm còn 300m rồi hoà vào đồng bằng Sóc Sơn Trênđịa phận của Vĩnh Phúc bắt đầu từ xã Đạo Trù (Tam Đảo) đến xã Ngọc Thanh(Phúc Yên) có chiều dài 30 km Địa hình núi thấp ở Vĩnh Phúc rộng hàng chục

km2 đại diện là núi Sáng thuộc địa phận xã Đồng Quế và Lãng Công (huyệnSông Lô) cao 633m, đây là một dạng địa hình xâm thực, bóc mòn Ngoài ra cònnúi sót gồm núi Đinh, núi Trống (Vĩnh Yên) chạy theo hướng Tây Bắc - ĐôngNam, có chiều dài vài km, rộng vài trăm mét, với độ cao từ 50-70m

Một trong những ưu thế của Vĩnh Phúc so với các tỉnh xung quanh Hà Nội là

có diện tích đất đồi khá lớn của vùng trung du, có đặc tính cơ lý tốt thuận tiệncho việc xây dựng và phát triển công nghiệp Ở Vĩnh Phúc huyện nào cũng cóđồi, nhiều đồi nhất là hai huyện Lập Thạch và Tam Dương Các huyện đồngbằng như Vĩnh Tường, Yên Lạc còn sót lại một ít đồi gò như đồi Me, gò ĐồngĐậu Đồi ở Vĩnh Phúc như bát úp, kích thước không lớn, ở vùng đồng bằng chỉcao từ 20 - 50m, ở vùng trung du cao từ 50 - 200m

Địa hình đồng bằng chiếm 40% diện tích toàn tỉnh bao gồm đồng bằngchâu thổ được hình thành do quá trình lắng đọng trầm tích tại các cửa sông lớnnhư Sông Hồng, Sông Lô, Sông Phó Đáy và hệ thống sông suối từ dãy Tam Đảochảy ra Diện tích đồng bằng được phân bố trên toàn bộ huyện Yên Lạc, hầu hếthuyện Vĩnh Tường, chiếm diện tích lớn ở Tam Dương, Bình Xuyên Đồng bằngchâu thổ phì nhiêu đã thu hút con người đến sinh cư lập nghiệp từ rất sớm Đồngbằng liền kề với núi (đồng bằng giới hạn) được hình thành do sức bóc mòn, xâmthực của nước mặt bồi lắng tạo thành, bao quanh là đồi núi So với đồng bằngchâu thổ, đồng bằng liền kề với núi kém màu mỡ hơn Ngoài ra còn có thunglũng, bãi bồi sông được hình thành chủ yếu do tác động xâm thực của dòngchảy, là nguồn phù sa màu mỡ tạo thuận lợi cho canh tác nông nghiệp, đồng thờicòn cung cấp cát, sỏi, thạch anh và silíc cho ngành xây dựng

Trang 10

Vĩnh Phúc có hệ thống sông ngòi, đầm hồ dày đặc, ngoài giá trị về kinh tếcòn tạo ra môi trường cảnh quan, tạo điều kiện cho ngành du lịch phát triểntrong tương lai Hệ thống Sông gồm Sông Hồng, Sông Lô và Sông Phó Đáy.Sông Hồng bắt nguồn từ Trung Quốc chảy qua Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, chảyvào địa phận Vĩnh Phúc Sông Lô chảy vào Vĩnh Phúc qua huyện Sông Lô, LậpThạch dài 43 km Sông Phó Đáy chảy vào địa phận Vĩnh Phúc từ xã Quang Sơnđến xã Sơn Đông (Lập Thạch) rồi đổ vào Sông Lô dài 55 km Ngoài ra còn cóSông Phan, Sông Cầu Bòn, Sông Bá Hạ, Sông Cà Lồ đều được bắt nguồn từ dãyTam Đảo và chảy về phía Nam của tỉnh Hệ thống đầm, hồ phân bố rải rác khắptrên địa bàn tỉnh như đầm Vạc (Vĩnh Yên), đầm Dưng, Vực Xanh, Vực Quảng

Cư, đầm Ngũ Kiên (Vĩnh Tường), đầm Tam Hồng, Cốc Lâm (Yên Lạc) Hồ ĐáNgang, hồ Khuân, hồ Bò Lạc, suối Sải (Sông Lô), Vân Trục (Lập Thạch), hồ ĐạiLải (Phúc Yên), hồ Xạ Hương, hồ Làng Hà (Tam Đảo)

Nhờ địa hình tự nhiên, Vĩnh Phúc có tiềm năng lớn về tài nguyên du lịch tựnhiên và nhân văn Vĩnh Phúc có một quần thể danh lam, thắng cảnh tự nhiênnổi tiếng: Rừng Quốc gia Tam Đảo, thác Bản Long, hồ Đại Lải, hồ Làng Hà, Nhiều lễ hội dân gian đậm đà bản sắc dân tộc và rất nhiều di tích lịch sử, vănhóa mang đậm dấu ấn lịch sử và giá trị tâm linh như danh thắng Tây Thiên,Tháp Bình Sơn, Đền thờ Trần Nguyên Hãn, Di chỉ Đồng Đậu

Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ ngay cạnh Hà Nội, thiên nhiên

ưu đãi Vĩnh Phúc có đủ cả ba vùng sinh thái: đồng bằng - trung du - miền núi cónhiều tiềm năng phát triển du lịch và cung cấp nguyên vật liệu tại chỗ cho tiểuthủ công nghiệp; Con người Vĩnh Phúc cần cù, chịu khó, năng động, sáng tạo,nguồn lao động chiếm khoảng 61,6% dân số, trong đó chủ yếu là lao động trẻ,

có tinh thần ham học hỏi cầu tiến, có khả năng tiếp thu kiến thức, nâng cao taynghề; Vĩnh Phúc dẫn đầu khu vực đồng bằng sông Hồng về chỉ số tính năngđộng và tiên phong của lãnh đạo tỉnh cũng như cơ sở hạ tầng phục vụ phát triểnkinh tế xã hội Đó là những nhân tố cơ bản cùng với sự phát triển kinh tế mạnh

mẽ trong những năm qua, đã và đang tạo tiền đề thuận lợi cho phát triển tiểu thủcông nghiệp trên địa bàn tỉnh

I.2 Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh phúc

Vĩnh Phúc có 9 huyện, thành, thị (trong đó có 1 thành phố là Vĩnh Yên; 1 thị

xã là Phúc Yên và huyện Sông Lô mới tách ra từ Lập Thạch năm 2009) Theokết quả điều tra dân số đến ngày 01/4/2009, toàn tỉnh có 269.163 hộ trong đó có69.045 hộ thuộc khu vực thành thị (chiếm 25,65%) và 200.118 hộ thuộc khu vựcnông thôn (chiếm 74,35%); tổng dân số tỉnh Vĩnh Phúc là 1.000.838 người, sốngười thuộc khu vực thành thị chiếm 22,42%, số người ở khu vực nông thônchiếm 77,58% Mật độ dân số 813 người/km2 Nam chiếm 49,5%, nữ chiếm50,5%; Số người từ 15 tuổi trở lên chiếm 75,43% dân số toàn tỉnh, trong đó số

Trang 11

người chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật chiếm tới 86,70% Dân số VĩnhPhúc đứng thứ 40/63 tỉnh, thành phố và đứng thứ 9/11 tỉnh, thành phố thuộc khuvực Đồng bằng sông Hồng

Tại thời điểm tái lập tỉnh năm 1997, xuất phát điểm nền kinh tế của tỉnh rấtthấp, kinh tế thuần nông, tỷ trọng nông nghiệp chiếm 52,54% giá trị GDP, côngnghiệp chiếm 12,86%; thu nhập bình quân đầu người gần 140 USD, thu ngânsách dưới 100 tỷ đồng Nắm bắt thời cơ, vận hội, khai thác các tiềm năng, lợithế sẵn có, không ngừng đổi mới, trong từng năm, từng thời điểm, Tỉnh ủy, Hộiđồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã chọn và xác định đúng hướng đi, đồngthời, chỉ đạo quyết liệt, huy động các nguồn lực tập trung tăng trưởng kinh tế, điđôi với xây dựng đời sống văn hoá, đảm bảo an sinh xã hội Trong giai đoạn2001-2008 ngành công nghiệp – xây dựng phát triển nhanh chóng, đặc biệt làcông nghiệp Giá trị sản xuất công nghiệp (GTSXCN) giai đoạn 2000-2007 tăngbình quân 26,99 %/năm Sau khi tách Mê Linh, giai đoạn 2005–2010 GTSXCNtăng bình quân 23,83%/năm

Theo báo cáo số 51/BC-BQLCKCN của Ban quản lý các khu công nghiệptỉnh Vĩnh Phúc, tính đến hết năm 2010, trên địa bàn tỉnh có 611 dự án còn hiệulực, gồm 495 dự án DDI với tổng vốn đầu tư đăng ký là 30.599,86 tỷ đồng và

116 dự án FDI với tổng vốn đầu tư 2.313,0 triệu USD Vốn thực hiện của các dự

án DDI là 11.308,64 tỷ đồng, đạt 36,96% tổng vốn đầu tư đăng ký; của các dự

án FDI là 895,95 triệu USD, đạt tỷ lệ 38,7% tổng vốn đầu tư đăng ký Có 229 dự

án đã hoạt động SXKD, chiếm 37,64% tổng số dự án đầu tư , gồm 143 dự ánDDI và 86 dự án FDI Các dự án mới đầu tư và tăng vốn năm 2010 chủ yếuthuộc lĩnh vực công nghiệp sản xuất lắp ráp ô tô, xe máy, linh kiện điện tử, máytính, vật liệu xây dựng,…

Với vai trò là nền tảng của kinh tế, ngành công nghiệp đã góp phần thúc đẩyphát triển kinh tế - xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của cả tỉnh, tạo vị thế mớicho công nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc đối với vùng đồng bằng sông Hồng và với cảnước

Nếu như công nghiệp tạo bước đột phá cho sự tăng trưởng, thu ngân sách,thì nông nghiệp Vĩnh Phúc được quan tâm đầu tư thích đáng, tạo nền tảng vữngchắc cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Vĩnh Phúc là địa phương điđầu trong cả nước có Nghị quyết chuyên đề về phát triển nông nghiệp, nôngthôn, nâng cao đời sống nông dân Vĩnh Phúc đã xây dựng nhiều chương trình,

đề án, dự án để triển khai thực hiện nghị quyết, xây dựng nhiều cơ chế, chínhsách hỗ trợ nông nghiệp, nông thôn, nông dân như: miễn thuỷ lợi phí cho nôngnghiệp; hỗ trợ giáo dục mầm non; bồi dưỡng, nâng cao kiến thức, cung cấpthông tin cho nông dân; hỗ trợ vùng trồng trọt và xây dựng khu sản xuất tậptrung; đầu tư kiên cố hoá kênh mương; cấp đất dịch vụ; hỗ trợ đào tạo chuyểnđổi nghề Kinh phí đầu tư từ nguồn ngân sách tỉnh cho khu vực nông nghiệp,

Trang 12

nông thôn giai đoạn 2006 - 2010 khoảng 1.000 tỷ đồng Cùng với sự phát triểncủa công nghiệp - nông nghiệp, các ngành dịch vụ đa dạng đang hình thành vàphát triển, giá trị sản xuất tăng bình quân 19,7%/năm, giá trị tăng thêm 19,35%.Doanh thu các ngành vận tải, du lịch, bưu chính, viễn thông, ngân hàng đều tăngmạnh, tạo nguồn thu đáng kể cho ngân sách

Việc quy hoạch, xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển đô thị và nông thônmới, quy hoạch phát triển ngành, vùng, từng lĩnh vực, từng địa phương đượcquan tâm đặc biệt Tỉnh đã chỉ đạo điều chỉnh, bổ sung quy hoạch tổng thể pháttriển kinh tế - xã hội, quy hoạch đô thị, công nghiệp, giao thông vận tải địnhhướng phát triển đến năm 2030 Cùng với công tác quy hoạch, hệ thống kết cấu

hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư, nâng cấp, nhất là giao thông, 97% tuyếnđường tỉnh lộ, 63,4% tuyến đường giao thông nông thôn được nâng cấp, cứnghoá

Không chỉ phát triển kinh tế, các lĩnh vực văn hoá - xã hội của tỉnh ngàycàng phát triển, từng bước kết hợp hài hoà với tăng trưởng kinh tế Giáo dục -đào tạo của tỉnh luôn khẳng định được vị thế trong toàn quốc Tỷ lệ học sinh tốtnghiệp trung học phổ thông thường xuyên cao hơn bình quân chung cả nước; tỷ

lệ đỗ vào các trường đại học, cao đẳng hàng năm đạt trên 30%, có 215 sinhviên/1 vạn dân Từ 1998 đến nay, tỉnh liên tiếp có học sinh đoạt giải cao trongcác kỳ thi olimpic quốc tế và khu vực Tỷ lệ lao động qua đào tạo đến năm 2010,đạt 46%, bình quân mỗi năm giải quyết việc làm cho gần 25 nghìn lao động.Toàn tỉnh có 95% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế xã và 85% cóbác sỹ Công tác giảm nghèo được thực hiện lồng ghép với nhiều chương trìnhphát triển kinh tế - xã hội, số hộ nghèo bình quân giảm 2,68%/năm; Tỉnh đã xoátrên 5.000 ngôi nhà tranh, tre, nứa lá dột nát cho các hộ nghèo Đến nay, hầu hếtcác xã đều có nhà văn hoá, số gia đình văn hoá đạt trên 80%; Thôn, làng, khuphố văn hoá đạt trên 65%

I.3 Đánh giá chung

Vận dụng sáng tạo các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước vàotình hình cụ thể của địa phương, sự nỗ lực phấn đấu của Đảng bộ và nhân dâncác dân tộc trong tỉnh, Vĩnh Phúc đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trêntất cả các lĩnh vực Nền kinh tế của tỉnh liên tục đạt tốc độ tăng trưởng cao, vớinhững con số đầy sức thuyết phục Bình quân trong vòng 10 năm (1997- 2007)tốc độ tăng trưởng GDP của Vĩnh Phúc đạt 17,5%/năm; Năm 2008, đạt 17,77%;Năm 2009 do tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu, tốc độ tăng trưởng củaVĩnh Phúc vẫn đạt 8,82%/năm Năm 2010, tốc độ tăng trưởng kinh tế của VĩnhPhúc đạt 21,42%; Trong đó, khu vực dịch vụ tăng 25,72%, khu vực công nghiệp

- xây dựng tăng 21,30% và khu vực nông, lâm nghiệp, thuỷ sản tăng 15,13%

Trang 13

Điểm nhấn của kinh tế tỉnh Vĩnh Phúc từ khi tái lập tỉnh đến nay là sựchuyển dịch tích cực, đúng hướng cơ cấu kinh tế; tỷ trọng công nghiệp - xâydựng - dịch vụ tăng liên tục từ 47,5% (năm 1997) lên 85,38%, (năm 2010);tương ứng với nông - lâm nghiệp - thuỷ sản giảm từ 52,54% (năm 1997) xuốngcòn 14,62% (năm 2010) Công nghiệp khẳng định rõ vai trò nền tảng trong toàn

bộ nền kinh tế của tỉnh với GTSXCN chiếm hơn 75% GTSX toàn tỉnh, đóng gópgần 55% GDP và gần 90% ngân sách tỉnh Giá trị sản xuất công nghiệp giaiđoạn 1997 - 2000 tăng trung bình 75,7 %/năm nhờ xuất phát điểm thấp (năm

1997, công nghiệp mới chiếm 12,86 % GDP), từ 2001 - 2007 tăng trung bình29,15%/năm; sau khi tách Mê Linh giai đoạn 2005-2010 tăng trung bình23,83%/năm Do ảnh hưởng suy thoái kinh tế toàn cầu, trong điều kiện khókhăn, GTSXCN vẫn tăng 5,49% năm 2009 và 23,28% năm 2010

Không chỉ tập trung phát triển công nghiệp, tỉnh còn chú trọng đến việc khôiphục, phát triển các làng nghề tiểu thủ công nghiệp để giải quyết việc làm, khaithác các nguồn lực tại chỗ, đẩy mạnh phát triển kinh tế khu vực nông thôn của

tỉnh

Sự tăng trưởng của các ngành kinh tế là yếu tố tạo cho Vĩnh Phúc có mứcthu ngân sách nhà nước liên tục tăng nhanh, trong đó, thu nội địa chiếm tỷ trọnglớn và ngày càng ổn định Tốc độ tăng thu ngân sách đạt trên 39% năm, trong

đó, thu nội địa chiếm khoảng 80% Từ năm 2004, tỉnh đã tự cân đối được ngânsách và đóng góp cho ngân sách Trung ương Năm 2010, thu ngân sách đạt trên

15 nghìn tỷ đồng Đó là những con số cực kỳ ấn tượng tại thời điểm không ítkhó khăn đối với nền kinh tế như hiện nay

Đánh giá tình hình sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ

tỉnh Vĩnh Phúc nhiệm kỳ 2005 - 2010, Hội nghị thống nhất: mặc dù có nhiều

khó khăn, thách thức, nhưng với sự nỗ lực phấn đấu cao, tỉnh đã đạt được nhữngthành tựu quan trọng và toàn diện trên các lĩnh vực Kinh tế duy trì tốc độ tăngtrưởng cao, bình quân đạt 17,4%/năm GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt

31 triệu đồng, tương đương 1.630 USD Thu hút đầu tư từ các thành phần kinh

tế tiếp tục được đẩy mạnh Hệ thống kết cấu hạ tầng được đầu tư, nâng cấp theo

hướng hiện đại Các lĩnh vực văn hoá - xã hội có nhiều tiến bộ Các đối tượngchính sách xã hội, người nghèo, hộ nghèo được quan tâm Hoạt động đối ngoạiđược mở rộng Vĩnh Phúc sẽ tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, tạo thuận lợicho các dự án triển khai, nhanh chóng đi vào hoạt động; Đẩy mạnh hoạt độngxúc tiến đầu tư để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào tỉnh; Nắm bắt tình hình hoạtđộng của các doanh nghiệp để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho những doanhnghiệp đã và đang đầu tư trên địa bàn; Tập trung thực hiện một số nhiệm vụ, giảipháp chủ yếu sớm đưa các dự án đầu tư ở khu vực nông nghiệp - nông thôn vàokhai thác sử dụng Hỗ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận các nguồnlực để phát triển

Trang 14

II. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN NGÀNH NGHỀ TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP TỈNH VĨNH PHÚC GIAI ĐOẠN 2000-2010

II.1 Tình hình chung

Việt Nam hiện có nguồn nguyên liệu, nhân lực và kỹ năng thuận lợi để sảnxuất các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp (TTCN), trong đó tiềm năng xuất khẩuhàng thủ công mỹ nghệ (TCMN) là rất lớn nhưng tính bền vững chưa cao TheoHiệp hội làng nghề Việt Nam năm 2008, cả nước có khoảng 2.790 làng có nghề,trong đó hơn 2.000 làng nghề truyền thống Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) lànơi có mật độ làng nghề lớn nhất cả nước với khoảng 1.000 làng nghề truyềnthống, nổi tiếng như: gốm Bát Tràng (Hà Nội), chum vại Hương Canh (VĩnhPhúc), lụa Vạn Phúc (Hà Đông), Tranh Đông Hồ (Bắc Ninh) Các làng nghềvới hơn 1,3 triệu thợ thủ công chuyên nghiệp đã thu hút và giải quyết việc làmcho khoảng 11 triệu lao động (thuộc 1,423 triệu hộ gia đình), trong tổng số 45triệu lao động khu vực nông thôn Kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm của làngnghề liên tục tăng, năm 2007 đạt khoảng 750 triệu USD; năm 2008 đạt gần 1 tỷUSD Việc làm tại các làng nghề tuy chưa đem lại thu nhập cao cho người laođộng địa phương nhưng tương đối ổn định Nhiều làng nghề như Đồng Kỵ, ĐaHội (Bắc Ninh), lụa Vạn Phúc, mây tre đan Phú Vinh (Hà Nội) có mức thu nhậptrung bình 1,2 triệu đồng/người/tháng; công nhân kỹ thuật hoặc có tay nghềkhoảng 3,0 triệu đồng/người/tháng Nhờ nguồn nguyên liệu sẵn có trong nước,nguyên phụ liệu nhập không đáng kể, giá trị thực thu của một số ngành thủ công

mỹ nghệ có thể đạt tới 95-97% Các nhóm nghề phổ biến và có giá trị kinh tếvăn hóa cao nhất là nghề đồ gỗ mỹ nghệ, gốm sứ, mây tre đan, thêu ren, dệt lụa,dệt chiếu cói Năm 2009, khủng hoảng kinh tế toàn cầu tác động đến các làngnghề khá rõ rệt, kể cả công nhân thời vụ có khoảng 5 triệu lao động làng nghềthiếu việc làm, trong đó các ngành như gốm sứ, gỗ xuất khẩu, mây tre, đan lát…chịu ảnh hưởng nặng nề nhất Thị trường xuất khẩu suy giảm, sản xuất của các

cơ sở, các hộ làm nghề bị đình đốn, lao động mất việc làm và thu nhập Tuy làngnghề với quy mô hộ gia đình là chủ yếu, có cơ cấu sản xuất đa dạng, lao động cótính thời vụ, khi mất việc có thể chuyển sang nghề khác nhưng ở khía cạnh giảiquyết việc làm và cải thiện thu nhập ở khu vực nông thôn thì đây là vấn đề đángquan ngại; việc mất bạn hàng và thị trường truyền thống sẽ khiến làng nghề khó

Trang 15

tỉnh Năm 2007, toàn tỉnh có gần 16 ngàn cơ sở TTCN (tăng 1,40 lần so với năm2000), thu hút hơn 34 ngàn lao động (tăng 1,54 lần so với năm 2000);GTSXTTCN theo giá cố định 1994 tăng 3,95 lần so với năm 2000 Giai đoạn2000-2007, GTSXTTCN tăng trung bình 21,67%/năm thấp hơn tốc độ tăngtrung bình 26,99%/năm của GTSXCN chung cùng thời kỳ

Giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2000-2007khi chưa tách huyện Mê Linh về Hà Nội

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Phúc năm 2002-2008

Nếu không tính huyện Mê Linh, năm 2005 có hơn 12 ngàn cơ sở TTCN sửdụng gần 28 ngàn lao động; GTSXTTCN chiếm 2,66% GTSXCN-TTCN trêntoàn tỉnh So với năm 2005, năm 2010 có số cơ sở TTCN tăng 1,25 lần; số laođộng TTCN tăng 1,17 lần nhưng giá trị SXTTCN theo giá cố định năm 1994tăng 3,34 lần Tốc độ tăng GTSXTTCN giai đoạn 2005-2010 đạt trung bình28,37%/năm, cao hơn tốc độ tăng trung bình 23,83%/năm của giá trị SXCN-TTCN cùng thời kỳ Giá trị SXTTCN năm 2010 chiếm 4,07% giá trị SXCN-TTCN trên địa bàn tỉnh

Giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2005-2010sau khi tách huyện Mê Linh

Trang 16

Nguồn: Niờn giỏm thống kờ tỉnh Vĩnh Phỳc năm 2009-2011

Trờn địa bàn tỉnh hiện cú hơn 50 làng nghề TTCN đang hoạt động với 10nhúm nghề chủ yếu là nghề mộc, nghề mõy tre đan, nghề rốn kim khớ, nghề đỏ,nghề chế biến bụng vải, tỏi chế tơ nhựa, nghề chế biến lương thực thực phẩm,nghề chế biến rắn, nghề gốm và nghề thờu

Theo điều tra của Cục thống kờ tỉnh Vĩnh Phỳc năm 2010 cú hơn 15 ngàn cơ

sở sản xuất TTCN, tập trung nhiều nhất tại huyện Lập Thạch tiếp theo là VĩnhTường; Yờn Lạc; Sụng Lụ đều trờn 10%; cũn lại là Bỡnh Xuyờn; Tam Dương;Vĩnh Yờn, Phỳc Yờn và ớt nhất là huyện Tam Đảo 3,53%

Các cơ sở sản xuất TTCN Vĩnh Phúc phân theo địa bàn năm 2010

Vĩnh T ờng 18,64% Yên Lạc

17,52%

Sông Lô

11,80%

Tam D ơng 7,91%

Vĩ nh Yên 7,48%

Lập Thạch 18,76%

Phúc Yên 4,55%

Tam Đảo 3,53%

Bì nh Xuyên 9,82%

TTCN sử dụng 39,9% lực lượng lao động cụng nghiệp của tỉnh và phõn bốtheo địa bàn như sau:

Trang 17

Lao động TTCN Vĩnh Phúc phân theo địa bàn năm 2010

Vĩnh T ờng 16,11%

Yên Lạc 21,23%

Sông Lô

10,27%

Tam D ơng 8,05%

Vĩnh Yên 8,82%

Lập Thạch 18,61%

Phúc Yên 4,40%

Tam Đảo 2,12%

Bì nh Xuyên 10,38%

Cỏc cơ sở TTCN đó khai thỏc những lợi thế sẵn cú của địa phương để sảnxuất, kinh doanh cú hiệu quả, gúp phần tăng thu ngõn sỏch và giải quyết việclàm cho hơn 3 vạn lao động Doanh thu tiểu thủ cụng nghiệp trờn địa bàn năm

2010 phõn theo ngành cụng nghiệp cấp III như sau:

Cơ cấu tiểu thủ công nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc theo doanh thu ngành công nghiệp cấp III năm 2010

Các sf khác 0,55%

Hoá chất, d ợ c 0,00%

SXPP điện n ớ c 0,00%

Dệt may da giày 4,53%

Kthác KS 1,22%

CB gỗ tre nứa 36,29%

CB thực phẩm 13,36%

Ctạo sắt thép, CK 16,05%

Gạch gốm TT 28,00%

Năm 2010, doanh thu của cỏc sản phẩm khoỏng phi kim loại gạch ngúi chiếm

tỷ trọng lớn nhất 27,9%; tiếp theo là cỏc sản phẩm giường tủ bàn ghế đứng thứ 2với 24,67%; cỏc sản phẩm sản xuất từ kim loại 12,44%; tiếp theo là cỏc sảnphẩm từ gỗ tre nứa 9,08%; chế biến thực phẩm khỏc 7,35%; may 4,41%; cấukiện kim loại 3,61%; đồ uống 3,12%; xay sỏt sản xuất bột 2,86%; cưa xẻ bảoquản gỗ 2,49%; khai thỏc cỏt đỏ sỏi 1,22% cũn lại cỏc ngành nghề khỏc đều

cú tỷ trọng dưới 1%

Trang 18

Doanh thu của một số ngành TTCN có tỷ trọng lớn giai đoạn 2008-2010

Công nghiệp chế

biến

988.30 1,5 1.734.8 28,4 2.813.5 52,7 99,58% 99,23% 98,78% 2.1

SX chế biến thực

phẩm, đồ ưống

130.65 7,1 219.176 ,9 380.439 ,2 13,17% 12,54% 13,36%

2.3 Dệt may, da giày

48.114 ,7 97.887, 0 129.143 ,1 4,85% 5,60% 4,53%

Trong đó:

SXVLXD, khoáng

phi k.loại

245.63 8,1 588.130,2 794.702,0 24,75% 33,64% 27,90%

Trang 19

2.6 Hoá chất 165,0 1.533,3 0 0,02% 0,09% 0,00% 2.7

Sản xuất các sản

phẩm khác

56.547 ,4 27.212, 2 15.532, 8 5,70% 1,56% 0,55%

Nguồn xử lý số liệu : Cục thống kê tỉnh Vĩnh Phúc

Năm 2005, trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc có 21 làng nghề đăng ký; trong 7huyện thị của tỉnh, chỉ có 5 huyện (Bình Xuyên, Mê Linh, Vĩnh Tường, YênLạc, Lập Thạch) là có làng nghề sản xuất tiểu thủ công nghiệp; 3 xã có 2 nghề;chế biến thực phẩm có 3 làng nghề; sản xuất, khai thác vật liệu xây dựng có 2làng nghề; tái chế phế liệu có 1 làng nghề; thêu thủ công có 10 làng nghề và 5làng nghề thủ công khác Theo quyết định số 44/2005/QĐ-UBND về tiêu chuẩn

để được công nhận làng nghề (có trên 50% số lao động làm nghề; có trên 30%

số hộ làm nghề và giá trị sản xuất của nghề chiếm hơn 50% tổng giá trị sản xuấtcủa làng) tính đến 2010, trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đã có 22 làng nghề TTCN

đã được công nhận, trong đó:

- Nghề rèn có Bàn Mạch - Lý Nhân huyện Vĩnh Tường;

- Nghề mộc có 11 làng nghề là Bích Chu, Thủ Độ, Văn Hà, Vân Giang(huyện Vĩnh Tường); Vĩnh Đông, Vĩnh Đoài, Vĩnh Trung, Lũng Hạ (huyệnYên Lạc); Hợp Lễ, Yên Lan, Xuân Lãng (huyện Bình Xuyên);

- Nghề gốm sứ có Hương Canh huyện Bình Xuyên;

- Nghề mây tre đan có Triệu Xá, Xuân Lan (huyện Lập Thạch), Cao Phong(huyện Sông Lô);

- Nghề đá mỹ nghệ có Hải Lựu huyện Sông Lô;

- Nghề nuôi rắn có Vĩnh Sơn huyện Vĩnh Tường

- Tái chế nhựa có Tảo Phú - Tam Hồng và Đông Mẫu – Yên Đồng huyện YênLạc; Tái chế bông có Thôn Gia- Yên Đồng huyện Yên Lạc; Nghề cơ khívận tải có Việt An- Việt Xuân huyện Vĩnh Tường

Tính đến cuối năm 2011, toàn tỉnh đã hình thành 14 cụm công nghiệp(CCN); 11 cụm được hình thành trước và 3 cụm được hình thành sau Quyết định105/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; 6 CCN cơ bản hoàn thành cáchạng mục công trình hạ tầng, 6 CCN đã bồi thường GPMB nhưng chưa triểnkhai đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật; CCN Hương Canh II, chưa lập lại quyhoạch chi tiết khi chuyển chủ đầu tư từ UBND huyện Bình Xuyên sang choCông ty TNHH thương mại XNK tổng hợp Hà Thành; CCN An Tường chưathực hiện xong phương án bồi thường GPMB Diện tích đã quy hoạch của 14

Trang 20

CCN trên là 279,79 ha, diện tích đất công nghiệp có khả năng cho thuê là 165,07ha; trong đó, đã cho thuê là 68,76 ha, tỷ lệ lấp đầy bình quân là 41,7% Tại cáccụm CN đã có 99 dự án đi vào sản xuất kinh doanh với vốn đầu tư khoảng1.065,4 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho khoảng 6.126 lao động, chiếm 9,18%tổng số lao động công nghiệp trên địa bàn tỉnh

Theo Sở Công Thương Vĩnh Phúc: huyện Bình Xuyên đã hình thành 3 CCN,tổng diện tích quy hoạch 69,32 ha, tỷ lệ lấp đầy bình quân 15,14%; huyện VĩnhTường đã hình thành 5 CCN, tổng diện tích quy hoạch 114,76 ha, tỷ lệ lấp đầybình quân 45,67%; huyện Yên Lạc đã hình thành 4 CCN, tổng diện tích quyhoạch 59,22 ha, tỷ lệ lấp đầy bình quân 47,02%; huyện Tam Dương mới hìnhthành Cụm Công nghiệp Hợp Thịnh đã cho thuê khoảng 11ha/41,3 ha diện tích

đất công nghiệp; huyện Lập Thạch mới hình thành Cụm Công nghiệp Lập Thạch

đã thực hiện bồi thường giải phóng mặt bằng và san lấp được 3,6ha/7,2 ha quyhoạch

Một số kết quả đã đạt được: Cụm làng nghề rèn Lý Nhân (huyện VĩnhTường), diện tích quy hoạch 10,6 ha; vốn đầu tư 13,44 tỷ đồng; đã đưa được 28

hộ sản xuất của làng nghề vào cụm; Cụm làng nghề rắn Vĩnh Sơn (huyện VĩnhTường), diện tích 20,6 ha; vốn đầu tư 17,65 tỷ đồng; phục vụ cho 75 hộ nuôi rắntiêu biểu ở địa phương, giải quyết việc làm cho 300 lao động tại xã; Cụm TTCNthị trấn Yên Lạc (huyện Yên Lạc) có diện tích 6,3 ha vốn đầu tư xấp xỉ 14,6 tỷđồng; Cụm làng nghề Tề Lỗ (huyện Yên Lạc) tái chế sắt vụn, được xây dựngtrên diện tích 22,9 ha; tổng vốn đầu tư trên 47 tỷ đồng; đưa được 523 hộ vàocụm, giải quyết tình trạng ô nhiễm tại khu dân cư; Cụm làng nghề mộc ThanhLãng (Bình Xuyên), diện tích quy hoạch 17,7 ha; vốn đầu tư 34 tỷ đồng; đangchuẩn bị đưa các hộ sản xuất ra nơi làm việc mới 3 cụm làng nghề mộc AnTường (Vĩnh Tường), gốm Hương Canh (Bình Xuyên), chế biến khoáng sảnXuân Hoà (Lập Thạch) đang triển khai thực hiện, với tổng mức đầu tư 60 tỷđồng, trên diện tích gần 40 ha

Để khôi phục và phát triển nghề thủ công truyền thống, Trung tâm Khuyếncông và Tư vấn phát triển Doanh nghiệp Vĩnh Phúc đã xây dựng nhiều chươngtrình khôi phục và phát triển làng nghề theo hướng sản xuất thủ công mỹ nghệ

và làm hàng xuất khẩu Trung tâm đã mời các nghệ nhân ở làng nghề đan látKhả Ðào (Hà Nội) và làng nghề đan lát Ngọc Ðồng (Hà Nam) về mở lớp dạynghề mây tre đan xuất khẩu cho hơn 5.000 học viên thuộc những làng nghềtruyền thống đan lát ở xã Triệu Ðề, Ðồng Ích, Văn Quán (Lập Thạch), TrungKiên (Yên Lạc), Minh Quang (Tam Đảo) Sau một thời gian học nghề, các họcviên đã làm nòng cốt cho việc khôi phục những làng nghề đan lát, từ sản xuấthàng tiêu thụ trong nước đã chuyển sang làm hàng mây tre đan xuất khẩu sangcác nước Bắc Âu, Bắc Mỹ, đem lại thu nhập cao Tại Hải Lựu, sau thời gian họcnghề từ những nghệ nhân làm đá mỹ nghệ Đà Nẵng, các thanh niên đã có thể tự

Trang 21

tay phá đá tạo hình làm những sản phẩm đá mỹ nghệ có chất lượng cao Ðếnnay, làng nghề đá Hải Lựu được khôi phục với hơn 500 lao động Hai công tyTNHH Thanh Sơn, Tiến Thành chuyên sản xuất đá mỹ nghệ phục vụ cho nhucầu nội địa và xuất khẩu sang các nước Bắc Âu, Bắc Mỹ đem về cho làng đá HảiLựu hàng trăm tỷ đồng/năm Làng nghề mộc Thanh Lãng, huyện Bình Xuyêncũng tuyển chọn các thợ mộc khéo tay đưa sang học nghề mộc mỹ nghệ ở làngmộc Ðồng Kỵ, tỉnh Bắc Ninh Lớp thợ mộc trẻ ở Thanh Lãng còn phối hợp vớicác thợ mộc có kinh nghiệm lâu năm phục chế lại các họa tiết hoa văn ở nhữngđình làng bị hư hỏng, chế tác nhiều sản phẩm mộc theo lối cổ, phục vụ chokhách hàng trong và ngoài tỉnh Bình quân mỗi năm làng mộc Thanh Lãng đạtdoanh thu hơn 100 tỷ đồng

Cùng với việc mời thầy giỏi về truyền nghề, trung tâm đã tổ chức mở các lớpđào tạo các nghề, thêu, mây tre đan, nghề mộc tại những xã còn trắng về côngnghiệp, tiểu thủ công nghiệp Sau khi được đào tạo, truyền nghề các học viên đãtrở thành lực lượng lao động kỹ thuật nòng cốt tại các làng nghề, các doanhnghiệp Trung tâm còn hỗ trợ xây dựng các mô hình sản xuất như phôi thép chấtlượng cao tại Công ty TNHH Nguyệt Ánh, sản xuất linh kiện phụ tùng ôtô, xemáy tại Công ty Cosmos, sản xuất phân hữu cơ vi sinh tại Công ty TNHH QuếLâm phương Bắc, sản xuất đồ nội thất từ tấm cót tại Công ty cổ phần Tre Việt;

hỗ trợ đầu tư thiết bị nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm cho một số nghề; phốihợp với các trung tâm dạy nghề và giới thiệu việc làm tổ chức bồi dưỡng kiếnthức, đào tạo tin học và ứng dụng thương mại điện tử cho cán bộ quản lý doanhnghiệp và cán bộ khuyến công xã, huyện Với cách làm này, nhiều làng nghềTTCN đã từng bước được khôi phục và phát triển, góp phần cải thiện đời sốngnhân dân, tạo việc làm xoá đói giảm nghèo và đổi thay diện mạo nông thôn củatỉnh Vĩnh Phúc

Tỉnh Vĩnh Phúc đã quy hoạch các cụm công nghiệp, làng nghề tiểu thủ côngnghiệp và có các đề án khôi phục hỗ trợ phát triển các làng nghề TTCN mang lạinhững kết quả đáng khích lệ Một số làng nghề truyền thống đã và đang pháttriển như: đá Hải Lựu (Lập Thạch), mộc Thanh Lãng, gốm Hương Canh (BìnhXuyên); đan lát Triệu Đề (Lập Thạch) Hàng chục xã trước đây còn trắng về

CN – TTCN nay đã có nghề mới như nghề thêu ở Thanh Lãng, Phú Xuân, TânPhong (Bình Xuyên), nghề mây tre đan ở Vân Trục, Văn Quán, Cao Phong,Đồng Thịnh (Lập Thạch), nghề mộc ở Lý Nhân (Vĩnh Tường) Nhiều làngnghề phát triển theo hướng sản xuất thủ công mỹ nghệ và làm hàng xuất khẩunhư làng mộc Thủ Độ (xã An Tường, huyện Vĩnh Tường)

II.2 Tình hình phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2000-2010

II.2.1 Gốm mỹ nghệ

Trang 22

Lịch sử nghề gốm ở Vĩnh Phúc đã có từ lâu đời, các di chỉ khảo cổ văn hoáPhùng Nguyên cho biết nghề gốm đã tạo hình và trang trí hoa văn bằng phươngpháp bàn xoay và nung gốm trong những lò gốm Những khu lò gốm cổ ở LũngHoà và Thanh Lãng tập trung hàng chục lò một nơi cho thấy quy mô lớn cùngcấu trúc khá hoàn chỉnh của lò gốm lúc bấy giờ Lò đã được cải tiến đáng kể,nhiệt độ trong lò nung được nâng cao, cho phép ra đời kỹ thuật tráng men tronggiai đoạn này Đến thời Lý -Trần, đồ gốm đã có một bước phát triển mạnh mẽvới sự ra đời của đồ gốm men ngọc và đồ gốm hoa nâu Nhiều ngọn tháp caotầng nổi tiếng trên đất Vĩnh Phúc đã được xây dựng như tháp Bình Sơn, thápchùa Chò, tháp chùa Vũ Di, cùng với các tượng Phật bằng đất nung đã thúc đẩynghề gốm thời này phát triển mạnh Đến thời Lê - Nguyễn, nhiều trung tâm sảnxuất gồm có tính chất chuyên môn hoá được hình thành ở khắp nơi như BátTràng ở Hà Nội, Thổ Hà, Phù Lãng ở Bắc Ninh, Vân Đình ở Hà Tây, Hợp Lễ,Chu Đậu, Làng Cậy -Hải Dương Trên đất Vĩnh Phúc nhiều khu lò gốm cũng

đã ra đời trong giai đoạn này và có tiếng như Lò Canh ở Hương Canh, Lò Hiển

Lễ ở gần Xuân Hoà, khu lò gốm Làng Hoa, Làng Láp… Đồ gốm Hương Canhcũng như Hiển Lễ khá đa dạng, nhưng chủ yếu là đồ sành gia dụng như chum,vại, chĩnh, nồi đình, ấm, chõ, chảo rang, tiểu sành… Gốm sành nâu ở đây tuykhông tráng men như gốm Phù Lãng nhưng với chất đất nguyên liệu dẻo quánhlại được nung trong lò có nhiệt độ cao nên sản phẩm chắc khoẻ, chống ẩm,chống thấm tốt nên đã tồn tại và phát triển suốt mấy trăm năm, trở thành nhữnglàng nghề truyền thống Tuy nhiên, phần lớn các hộ vẫn sử dụng phương phápsấy thủ công đốt than, củi nên chất lượng sản phẩm không ổn định, giá sản phẩmkhông cao lại gây ô nhiễm môi trường Làng Hiển Lễ, xã Cao Minh, thị xã PhúcYên vốn có nghề gốm cổ truyền nhưng đến nay cả làng chỉ còn một vài nhàlàm, nghề gốm đã không còn phát triển như trước đây nữa Vĩnh Phúc đã quyhoạch cụm TTCN làng nghề gốm Hương Canh với diện tích 3 ha để đưa các cơ

sở vào sản xuất tập trung và bảo vệ môi trường Trung tâm khuyến công tỉnhđang chuyển giao công nghệ lò ga tự động giúp người sản xuất gốm có biệnpháp nung sấy mới đảm bảo chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường

Nghề gốm Vĩnh Phúc có vị trí thuận lợi có thể giao lưu khắp mọi miền đấtnước lại giàu nguồn đất sét và cao lanh nên liên tục phát triển qua các giai đoạnlịch sử cho đến tận hôm nay Với sự phát triển nhanh chóng của đồ nhôm, đồnhựa, đồ thuỷ tinh có thể thay thế đồ gốm gia dụng và kỹ thuật gốm sứ hiện đại

dễ dàng lấn át đồ gốm thủ công cả về số lượng cũng như chất lượng nên nghềgốm truyền thống của Vĩnh Phúc cũng như nhiều làng gốm khác gặp muôn vànkhó khăn để tồn tại chưa nói đến phát triển Hầu hết các gia đình vốn làm đồsành chuyển hướng sang sản xuất gạch ngói Dân Hương Canh giàu lên nhưngnghề gốm truyền thống lại sa sút nghiêm trọng Nghề sản xuất gạch ngói thủcông cũng chỉ phát triển mạnh được vài năm lại gặp khó khăn do ô nhiễm môi

Trang 23

trường, do thiếu đất nguyên liệu phải đi mua từ xa về, giá thành tăng cao khôngthể cạnh tranh được với gạch tuy nen của Liên hiệp gốm sứ Hợp Thịnh cách đókhông xa Hương Canh nay chỉ còn một vài nhà sản xuất đồ sành truyền thốngquyết tâm sống chết với nghề do cha ông để lại Hiển Lễ cũng có tình trạngtương tự, đã có thời trước đây hầu như cả làng đều sống về nghề gốm Có giađình trực tiếp sản xuất, có gia đình lo việc giao lưu trao đổi Nghề làm gốm ởđây tuy là nghề phụ, nhưng lại là nguồn sống chính Hiện nay, chỉ còn một sốgia đình tiếp tục sản xuất đồ sành gia dụng cung cấp cho thị phần có thu nhậpthấp.

Gốm là dạng sơ khai của sứ nên chưa kết khối hoàn toàn, các tạp chất chưa

phân hủy hết, kém bền và vẫn thấm khi sử dụng Các sản phẩm gốm được khách

hàng trong và ngoài nước ưa chuộng nhờ tính độc đáo, trang trí phù hợp với thịhiếu đương đại, nhiệt độ nung cao giúp sản phẩm không bị nứt vỡ do thời tiếtthay đổi và không chứa các chất gây nguy hại cho người dùng Nếu chỉ làmnhững loại chum, vại, bát, đĩa truyền thống thì nghề gốm khó phát triển được,nhưng đa dạng hoá mặt hàng thì phải đầu tư cho nghiên cứu thị trường, áp dụngtiến bộ kỹ thuật vào nhiều khâu trong quá trình sản xuất giúp tăng năng suất, hạgiá thành, đảm bảo chất lượng của sản phẩm, trong khi đại đa số các cơ sở sảnxuất là hộ gia đình thiếu mặt bằng, công nghệ, kỹ thuật và vốn do đó rất cần có

sự hỗ trợ từ phía Nhà nước

II.2.2 Mây tre đan lát

Công việc nhà nông luôn gắn liền với nong, nia, giần, sàng, thúng mủng, bồcót những đồ đan từ đơn giản đến phức tạp do chính tay những người nôngdân tạo nên Cho đến nay, mây tre đan không chỉ đi vào đời sống sinh hoạt hàngngày mà còn đang trở thành mặt hàng mang bản sắc Việt Nam (VN) trên thịtrường thế giới Nghề mây tre đan ở Vĩnh Phúc tuy thu nhập chưa cao nhưng làmột trong những nghề tiểu thủ công nghiệp có vai trò quan trọng, giải quyết việclàm cho một lực lượng lao động lớn trong nông thôn nhờ nguyên liệu là loại cây

có thể phát triển trên địa hình vùng đồi gò của Vĩnh Phúc

Để khôi phục và phát triển nghề mây tre đan, Vĩnh Phúc đã đón các nghệnhân ở làng nghề đan lát Khả Ðào (tỉnh Hà Tây cũ) và làng nghề đan lát NgọcÐồng (tỉnh Hà Nam) về mở lớp dạy nghề mây tre đan xuất khẩu cho hơn 5.000học viên ở những làng nghề đan lát Triệu Ðề, Ðồng Ích, Văn Quán, Trung Kiên,Tam Hồng, Minh Quang, Tam Ðồng Sau thời gian học nghề, các học viên đãtrở thành nòng cốt khôi phục những làng nghề đan lát của tỉnh Trung tâmKhuyến công và TVPTCN Vĩnh Phúc cũng đã tổ chức các khóa đào nghề mâytre đan xuất khẩu do các thợ lành nghề của doanh nghiệp tư nhân Thịnh Vượng

và các cán bộ kỹ thuật của Hợp tác xã Mây tre đan xuất khẩu Cao Thắng thựchiện Các học viên được hướng dẫn các kỹ thuật cơ bản để đan một số sản phẩm

Trang 24

mây tre đan xuất khẩu, sau 2 tháng học nghề, nguyên liệu và sản phẩm sẽ đượccác doanh nghiệp trên cung ứng và bao tiêu Hợp tác xã mây tre đan xuất khẩuCao Thắng được thành lập năm 2004 với ngành nghề sản xuất kinh doanh chính

là sơ chế cây mây và đan hàng mây tre xuất khẩu Từ nguồn vốn ban đầu 100triệu đồng, đến nay, vốn cố định Hợp tác xã trên 1 tỷ đồng, với 2.500m2 nhàxưởng, 1 lò sấy 3 tấn nguyên liệu/ngày Năm 2009, giá trị sản xuất kinh doanhcủa Hợp tác xã đạt 3,8 tỷ đồng, thu nhập bình quân của người lao động 1 triệuđồng/tháng Hợp tác xã đã triển khai đào tạo, truyền nghề cho 22 lớp với 770học viên các địa phương thuộc 3 huyện Sông Lô, Lập Thạch, Vĩnh Tường Những làng nghề đan lát nổi tiếng trên địa bàn tỉnh là: Minh Tân, TrungKiên, Vân Giang (huyện Yên Lạc), Triệu Đề (Lập Thạch), Bích Chu (VĩnhTường) Triệu Đề là xã có truyền thống làm nghề đan lát, tập trung chủ yếu ởphía nam của xã Hiện xã có 7 thôn tham gia làm nghề, năm 2006 thôn Triệu Xávinh dự được UBND tỉnh công nhận là làng nghề truyền thống

Hầu hết các cơ sở sản xuất nguyên liệu, mây tre trên địa bàn tỉnh vẫn chưaứng dụng công nghệ sấy để bảo quản, chưa bảo đảm được độ bền sản phẩm,chưa tự hoàn thiện được quy trình, mới chỉ cung cấp nguyên liệu thô, gia côngbán thành phẩm và chuyển cho công ty cấp 1 để hoàn thiện và xuất khẩu, nêngiá trị gia tăng không cao; phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết; không chủđộng được tiến độ giao hàng, do đó nghề mây tre đan trên địa bàn tỉnh chưa cóbước phát triển đột phá Phương pháp sấy và bảo quản mây tre đan hiện nay ởVĩnh Phúc chủ yếu dùng lưu huỳnh (diêm sinh), phơi nắng hoặc bằng lò hun Đểrút ngắn thời gian sản xuất, đảm bảo yêu cầu về chất lượng cũng như tiến độgiao hàng xuất khẩu, Trung tâm Khuyến công tỉnh đã thử nghiệm và ứng dụngcông nghệ sấy bảo quản nguyên liệu, sản phẩm mây tre đan tại doanh nghiệp tưnhân Tiến Đa và làng nghề sơ chế mây tre Cao Phong (Lập Thạch) Về chi phíđầu tư hết khoảng 90-100 triệu đồng, hiệu quả của mô hình sấy: về thời gian tốn

ít, hết khoảng 1,5h, năng suất 2mẻ/ngày, diện tích sử dụng 18m2, chỉ cần 1-2 laođộng; chi phí sản xuất cho một mẻ sấy là 65.000đồng/mẻ, khả năng thu hồi vốnkhoảng 24 tháng

Hiện nay, hàng thủ công mỹ nghệ mây tre đang có thị trường tương đối lớntại các nước Bắc Âu, Bắc Mỹ Nếu có hướng đi đúng, hàng sản xuất đạt chấtlượng cao và có khách hàng nhập khẩu thường xuyên, số lượng lớn sẽ đem lạithu nhập cao, ổn định cho những người thợ làng nghề mây tre đan Khôi phục vàphát triển làng nghề ở Vĩnh Phúc theo hướng sản xuất hàng mỹ nghệ và hàngxuất khẩu không chỉ giúp cho Vĩnh Phúc phá được thế "thuần nông" mà còn gópphần từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, gópphần phát triển du lịch - dịch vụ ở Vĩnh Phúc những năm tới đây Tuy nhiên,việc tìm thị trường ổn định cho các sản phẩm thủ công mỹ nghệ tại các làng

Trang 25

nghề đang là vấn đề quan trọng đối với những người thợ thủ công và các cấp,ngành hữu quan Có đầu ra ổn định mới đem lại sự phát triển lâu dài cho cáclàng nghề thủ công của cả nước nói chung và các làng nghề thủ công của tỉnhVĩnh Phúc nói riêng

II.2.3 Chế biến gỗ gia dụng, đồ mỹ nghệ

Chế biến gỗ gia dụng và mỹ nghệ là ngành đóng góp doanh thu tiểu thủ côngnghiệp lớn thứ hai sau gạch ngói thủ công Tỉnh Vĩnh Phúc đã triển khai nhiều

cơ chế chính sách nhằm thu hút các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sảnxuất và chế biến gỗ như: miễn tiền thuê đất từ 2 đến 3 năm đầu cho các cơ sởmới thành lập; các doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,được dùng giá trị quyền sử dụng đất để thế chấp vay vốn ngân hàng Các hộ, cơ

sở đầu tư phát triển nghề mộc được miễn giảm các loại thuế từ 2 đến 3 năm;được vay vốn ngân hàng lãi suất thấp để đầu tư, đổi mới công nghệ nhờ đótình hình ngành chế biến gỗ gia dụng, mỹ nghệ trên địa bàn Vĩnh Phúc tại cáclàng nghề phát triển khá nhanh, đem lại thu nhập ổn định cho nhân dân Điểmqua một số làng nghề tiêu biểu dưới đây có thể thấy hầu hết các hộ đều làm nghềmộc; Một số gia đình có vốn đầu tư mở xưởng lớn và thuê nhân công; Những hộ

có ít vốn và chưa có nhiều mối giao hàng thì nhận hàng về gia công; Nghề mộc

đã giúp cho 60-70% số hộ khá và giàu

Đồ gỗ Thanh Lãng đã trở nên nổi tiếng với những chiếc sập gụ, tủ chè, tủchùa, tủ tường kiểu dáng đẹp, kết hợp hài hoà với những đường nét hoa vănchạm trổ, điêu khắc tinh tế, đặc sắc, mềm mại, sinh động; ngày càng khẳng địnhthương hiệu trên thị trường trong và ngoài nước… Được sự giúp đỡ, tạo điềukiện của chính quyền địa phương đã hình thành 9 doanh nghiệp kinh doanh nghềmộc Số hộ làm nghề mộc lên tới 1.608 hộ (toàn thị trấn có 2.743 hộ) với 3.267lao động Thợ Thanh Lãng có thể làm ra nhiều sản phẩm phong phú, đa dạngnhư các công trình ở đình, chùa, nhà kiểu cổ, đồ thờ, hoành phi, câu đối, cuốnthư, những đồ giả cổ như sập, tủ chè, bàn ghế mỹ nghệ hay các sản phẩm đồ gỗgia dụng trang trí nội thất Trên địa bàn có những mô hình hợp tác theo nhómmang lại hiệu quả kinh tế cao như nhiều gia đình chung vốn, chung nhân vật lựcđầu tư làm ăn, hoặc một hộ đứng ra tổ chức rồi thuê từng cá thể, gia đình hợp tácsản xuất Hiện có 478 hộ trực tiếp mở xưởng sản xuất kinh doanh, thu hút 1.167lao động với mức lương bình quân từ 1,8 đến 2 triệu đồng/người/tháng Thunhập từ nghề mộc hàng năm thường chiếm tỷ trọng cao, năm 2008 ngành nàymang về cho địa phương 80 tỷ/157 tỷ đồng tổng sản phẩm xã hội, chiếm 51%.Nghề mộc đã làm giàu cho nhiều hộ gia đình ở Thanh Lãng; Toàn thị trấn cóhơn 60% hộ khá, giàu; Năm 2009, thu từ ngành nghề đạt 95,4 tỷ đồng, bìnhquân thu nhập đầu người đạt 13,2 triệu đồng/năm 5 năm qua, Thanh Lãng đãphối hợp với các ngành chức năng mở 26 lớp đào tạo, nâng cao tay nghề chạm

Trang 26

khảm, khắc gỗ cho gần 500 thợ trẻ; tổ chức 3 cuộc thi thợ mộc giỏi Thanh Lãngcòn ưu tiên đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật, quy hoạch và xây dựng cụm làng nghềvới diện tích 8,2 ha Làng mộc Minh Tân cách đó không xa tuy số thợ có taynghề giỏi không bằng Thanh Lãng nhưng có tư duy thị trường nhạy bén nên sảnphẩm của họ có mặt khắp từ Bắc vào Nam Nhiều gia đình ở Thanh Lãng chủyếu sản xuất theo đơn đặt hàng của Minh Tân Cụm công nghiệp làng nghề doUBND huyện Bình Xuyên quy hoạch tại thị trấn sắp hoàn thành, hy vọngthương hiệu “mộc Lãng” sẽ được nhiều người biết đến hơn tạo điểm nhấn quantrọng trong phát triển ngành tiểu thủ công nghiệp huyện Bình Xuyên.

Nằm ở vùng đất bãi bên bờ Sông Hồng, xã An Tường có làng nghề BíchChu, Thủ Độ với hai ngôi đình làng có từ những năm cuối thế kỷ XVI thờ ông tổ

đã tạo dựng làng nghề mộc, Từ rất lâu, Bích Chu nổi tiếng về kỹ thuật làm đồ

gỗ, làng gồm 800 hộ và hầu hết đều làm nghề mộc Bích Chu không chỉ làm ra

đồ gỗ dân dụng bình dân như tủ, giường, bàn ghế mà còn sáng tạo ra ra những

đồ gỗ có giá trị mỹ thuật cao gồm các tượng gỗ bày ở điện thờ, đình miếu,những bức đại tự sơn son thếp vàng, những mâm, quả hộp hoa văn sắc sảo mangđậm nét văn hóa truyền thống Làng nghề mộc Thủ Độ tuy không có tiếngbằng các làng mộc khác trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc nhưng những năm gần đâyluôn đứng đầu về doanh thu, thị trường tiêu thụ; Đó là nhờ làng nghề đã nhạybén trong cơ chế thị trường, đa dạng hoá sản phẩm, sản xuất theo nhu cầu thịtrường, luôn đảm bảo chất lượng sản phẩm Nhiều mặt hàng như đồ gỗ gia dụng,

đồ gỗ trang trí nội thất, đồ gỗ mỹ nghệ, đồ khảm, bàn ghế sa lông, các loại tủ, đồthờ, câu đối, hoành phi, cuốn thư… được sản xuất đạt trình độ tinh xảo nên đãthu hút được đông đảo khách hàng Sản phẩm của làng mộc Thủ Độ không chỉđược tiêu thụ rộng rãi trên thị trường trong nước mà còn xuất khẩu ra thị trườngnước ngoài, đạt hàng trăm tỷ đồng mỗi năm Toàn làng Thủ Độ có trên 1.000 hộdân, thì có tới 70% số hộ làm nghề mộc và có tới 1/3 số hộ chuyên làm nghềmộc Doanh thu hàng năm của làng nghề chiếm 60% tổng thu nhập của cả xã, số

hộ khá giầu chiếm trên 70% Hiện nay làng mộc Thủ Độ có 10 doanh nghiệpchuyên làm nghề mộc, với nguồn vốn hàng trăm tỷ đồng, thu hút được 400 đến

500 lao động địa phương và các vùng lân cận Lương của công nhân bậc cao đạt

từ 2 đến 2,5 triệu đồng/tháng; thấp là từ 700.000 đồng đến 900.000 đồng/tháng.Công cụ làm mộc đã được cơ khí hoá, điện khí hoá một phần nên năng suất cao,sản phẩm làm ra phong phú về chủng loại và mẫu mã giúp đồ gỗ An Tườngđược người tiêu dùng cả nước biết đến Để tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ

mở rộng quy mô sản xuất, xã An Tường đã quy hoạch trên 2 ha xây dựng cụmcông nghiệp - TTCN; đồng thời đầu tư hàng tỷ đồng xây dựng đường giaothông, điện, nước phục vụ cụm công nghiệp

Trang 27

Vĩnh Đông nằm ở phía đông nam thị trấn Yên Lạc có 4.836 nhân khẩu, 1.105

hộ chiếm 1/3 dân số toàn thị trấn Nghề mộc của làng đã có từ nhiều năm nayvới sản phẩm đặc trưng là bàn ghế, giường tủ, làm nhà… Đến nay, các hộ có vốnlớn đã đầu tư lán, xưởng, máy móc thiết bị công nghệ sản xuất trị giá đến hàng

tỷ đồng Năm 2008 làng mới có 198 lán xưởng; trung bình mỗi lán chỉ có từ 5đến 7 lao động, thu nhập bình quân từ 1,5 đến 2 triệu đồng/người/tháng Đếnnăm 2009 làng đã phát triển lên tới 376 lán xưởng, trung bình mỗi lán xưởng có

từ 9 đến 15 lao động, thu nhập bình quân từ 1,5 đến 2,5 triệu đồng/người/tháng.Những đợt cao điểm các lán xưởng đã tận dụng tối đa số lao động nhàn rỗi trong

và ngoài địa phương, tổng giá trị thu nhập từ công nghiệp - tiểu thủ công nghiệptrung bình một năm đạt hơn 20 tỷ đồng, trong đó nghề mộc đạt 12,5 tỷ đồng.Nghề mộc phát triển đã giải quyết nhiều việc làm cho lao động địa phương; số

hộ khá và giàu của làng hiện chiếm tới 78% Hiện làng không còn nhà tranh tre,nứa lá Mức thu nhập bình quân đầu người đạt 11,9 triệu đồng/người/năm VĩnhĐông đã được UBND tỉnh công nhận danh hiệu làng nghề truyền thống năm2009

Làng mộc Lũng Hạ (Yên Phương, Yên Lạc) chủ yếu làm đồ mỹ nghệ như: tủchè, trường cuốn, hoành phi, câu đối, đồ thờ… từ gỗ mít với những đường chạmkhắc thủ công tinh xảo Làng có hơn 200 hộ thường xuyên làm mộc với trên1.200 lao động Hầu hết các hộ đều tận dụng lao động trong nhà, thu nhập bìnhquân trên đầu người mỗi tháng đạt 1-1,2 triệu đồng Các loại máy cưa xẻ lớn,nhỏ, máy bào, máy soi, máy lộng, máy chà… đã thay thế dần lao động thủ côngnên năng suất lao động đã tăng gấp 3-4 lần; Nghề mộc đã đem lại cho người dânLũng Hạ những đổi thay về đời sống vật chất và tinh thần Làng thường tổ chứccác cuộc thi tay nghề để phát hiện những thợ giỏi, những sản phẩm mới độc đáo,

có chất lượng nhằm phát triển sản xuất và mở rộng thị trường tiêu thụ Hàngnăm giá trị sản xuất từ nghề mộc của Lũng Hạ chiếm 60% giá trị sản xuất củalàng Để phát huy những giá trị của một làng nghề truyền thống, Lũng Hạ dựkiến sẽ quy hoạch một khu sản xuất tập trung

II.2.4 Chế tác đá

Người dân miền Bắc nước ta dùng đồ đá từ lâu nhưng ít ai biết đến nơi đãchế tác ra chúng, đó là Hải Lựu thuộc tỉnh Vĩnh Phúc Hải Lựu là xã có nhiềutiềm năng phát triển kinh tế của huyện Sông Lô được tách ra từ huyện LậpThạch Tiềm năng lớn nhất của Hải Lựu là nguồn nguyên liệu đá tập trung trêndãy núi Thét có độ cao trung bình là 150-200m so với mực nước biển với trữlượng gần 400 triệu m3 Đâylà nguồn nguyên liệu lớn, phù hợp với làm đá xâydựng và mỹ nghệ Khu Đồng Trăm có đá nổi vân màu ngũ sắc dùng làm vật liệutrang trí trong xây dựng Khu Đồng Trổ có đá xanh đá xám với nhiều màu sắc

từ trắng ngà, gan gà, da cóc hợp tiêu chuẩn lý hóa để làm các sản phẩm bền

Trang 28

chắc, tồn tại song hành cùng thời gian Chỉ với các dụng cụ đơn giản như búa,đục, choòng, vồ gỗ lim, com pa, dây dọi làng đá Hải Lựu từ bao đời nay đãcung cấp đồ đá cho khắp mọi nơi Nghề khai thác đá ở Hải Lựu vẫn theo lốitruyền thống đục, bẩy, đẽo nên năng suất lao động thấp, người chế tác đá mỹnghệ rất khó khăn trong việc lựa chọn nguyên liệu phù hợp với tác phẩm củamình

Trong những năm gần đây, được sự hỗ trợ của chương trình khôi phục vàphát triển các làng nghề của tỉnh, nghề đá tại xã Hải Lựu huyện Lập Thạch cónhiều biến chuyển tích cực Năm 2006, Hải Lựu đã được UBND tỉnh công nhận

là Làng nghề đá truyền thống, đây là động lực để nghề đá tại đây ngày càng pháttriển, nâng cao thu nhập, đời sống cho người dân trong xã Trước đây các sảnphẩm được sản xuất từ đá của xã Hải Lựu chỉ đơn thuần là các vật dụng đơngiản hàng ngày như cối đá, máng lợn, bậc thang… gần đây khi nền kinh tế thịtrường phát triển thì nghề đá đã có nhiều khởi sắc, các sản phẩm đá đã phongphú hơn, chất lượng, giá trị cao hơn như các sản phẩm đá mỹ nghệ, vật liệu xâydựng cao cấp phục vụ các công trình trùng tu, xây dựng chùa chiền, đền thờ,miếu mạo, dân dụng trong đó có cả những sản phẩm lớn như voi đá, ngựa đá,tòa sen tượng phật chân cột đình, bia văn tự, đỉnh lư hương thắp nhang sân chùa,nhịp cầu bằng đá không chỉ cung cấp cho thị trường trong nước mà còn xuấtkhẩu Một số thợ đá xã Hải Lựu được truyền nghề trạm khắc đá mỹ nghệ donhững nghệ nhân nổi tiếng của làng đá Non Nước-Đà Nẵng truyền dạy Sau thờigian học nghề, các học viên đã tự tay chọn đá, pha đá, tạo hình, đục trạm nhữngsản phẩm đá mỹ nghệ không thua kém gì so với sản phẩm đá mỹ nghệ ở ÐàNẵng Lớp thợ này là nòng cốt để nhân rộng và phát triển những sản phẩm tinhxảo Nhiều công ty, doanh nghiệp dần dần được hình thành, đa số các doanhnghiệp là người dân tại xã, do đó có sự liên kết rất lớn giữa các doanh nghiệpvới nhau tạo nên một thế mạnh trong phát triển làng nghề Những doanh nghiệpnày là đầu mối khai thác, sản xuất và bao tiêu sản phẩm, thu hút nhiều lao độngđịa phương Năm 2007, nghề đá mới thu hút 112 hộ với 258 lao động, đến nay

đã thu hút hơn 500 lao động; doanh thu của nghề đá hàng năm khoảng 20 tỷđồng thu nhập bình quân của lao động nghề đá là 2-2,5 triệu đồng/tháng Công

ty TNHH Thanh Sơn và Tiến Thành đã đầu tư một số trang thiết bị hiện đạichuyên sản xuất đá mỹ nghệ phục vụ cho nhu cầu nội địa và xuất khẩu sang cácnước Bắc Âu, Bắc Mỹ đem về cho làng đá Hải Lựu hàng trăm triệu đồng/năm

II.2.5 Công cụ cầm tay, (rèn)

Làng nghề rèn xã Lý Nhân là một trong các địa chỉ cung cấp các dụng cụcầm tay, nông cụ hàng đầu của tỉnh Vĩnh Phúc Xã Lý Nhân nằm ở phía tây bắchuyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc có 282,6 ha diện tích đất tự nhiên trong đódiện tích đất canh tác là 141,7ha Phía bắc giáp Phú Thịnh, phía nam giáp An

Trang 29

Tường, phía đông giáp Thượng Trưng, phía tây là nhánh sông con của dòngsông Hồng, giáp với xã Minh Châu thuộc huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây cũ (naythuộc Hà Nội) Lý Nhân có 3 thôn: Bàn Mạch, Vân Giang và Văn Hà thì cả 3thôn đều được tỉnh công nhận là các làng nghề truyền thống Toàn xã có 1.133

hộ dân với gần 5.000 nhân khẩu thì có tới 559 hộ làm nghề truyền thống với 394

hộ làm nghề rèn và 265 hộ làm nghề mộc, chiếm tới trên 60% tổng số hộ giađình tham gia các làng nghề Các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp tại địaphương đã giải quyết việc làm cho gần 1.700 lao động địa phương với mức thunhập bình quân 1,5 triệu đồng/ người/tháng Năm 2009, doanh thu từ các làngnghề đạt xấp xỉ 15 tỷ đồng Hiện nay, thu nhập bình quân đầu người trên địa bàn

xã Lý Nhân đạt 4,4 triệu đồng/tháng, trong đó riêng các hộ gia đình sản xuất tiểuthủ công nghiệp thu nhập bình quân trên 7 triệu đồng/tháng Nhiều hộ gia đình

có thu nhập hàng năm trên 100 triệu đồng

Hai thôn Vân Giang và Văn Hà nằm ở ngoài đê có nghề mộc, chỉ có BànMạch là nằm phía trong của đê nổi tiếng với nghề rèn Nghề rèn ở đây đã tồn tại

và phát triển rất lâu đời Lúc đầu Bàn Mạch chỉ rèn các nông cụ phục vụ cho sảnxuất nông nghiệp Khi những tinh hoa của làng rèn ra tới kinh thành thì các nghệnhân của Bàn Mạch đã kiêm luôn cả việc rèn vũ khí Từ đó, các sản phẩm rèncủa Bàn Mạch được khắp nơi ưa thích bởi chất lượng của nó Một con dao dochính người thôn Bàn Mạch làm ra có thể dùng mòn đến tận gáy mà vẫn cònsắc Mỗi lò rèn lại có một bí quyết riêng của mình Đó là những bí quyết giatruyền mà không loại sách vở nào có thể dạy được Một thợ học nghề chỉ cần 2năm là có thể làm ra được sản phẩm, nhưng để rèn được một sản phẩm tốt thì cóthể mất cả đời mà vẫn không học được Người dân Bàn Mạch đã mạnh dạn ápdụng các thành tựu khoa học vào sản xuất, từng bước cơ khí hóa nghề rèn truyềnthống để tăng năng suất, giảm ngày công lao động Nhiều hộ đã tự trang bị máycán thép, búa máy, máy đột đập, máy mài… thay thế cho nhân lực, đưa nghề rèntruyền thống phát triển có quy mô lớn, tập trung, ổn định củng cố và phát huythương hiệu nghề rèn đã có từ lâu ở Bàn Mạch Năm 2007, có 394/680 hộ tronglàng và 70% số người lao động trong độ tuổi của làng theo nghề rèn Năm 2006,thu nhập từ nghề rèn đã chiếm 52,3% giá trị sản xuất của làng So với nghềnông, nghề rèn tuy có vất vả nhưng lại cho thu nhập cao hơn nhiều lần Với sự

hỗ trợ của các công cụ hiện đại, thu nhập bình quân cho một lao động làm nghề

là khoảng 1 triệu đồng/tháng Hiện nay, làng nghề rèn Bàn Mạch đã xây dựngmột khu sản xuất riêng, tách rời khỏi khu dân cư để tránh tiếng ồn và bảo vệ môitrường Khu sản xuất này là nơi tập trung các loại máy móc cơ khí lớn với 7 máycán, 33 máy búa, 10 máy đột dập các loại… của 28 hộ dân với hơn 100 laođộng Mỗi ngày nơi đây có thể làm ra hàng vạn sản phẩm có chất lượng tốt, đemlại nguồn thu nhập cao và giải quyết việc làm cho phần lớn lao động trong thôn.Các thành phẩm này không đơn thuần là sản phẩm của máy móc mà vẫn giữ

Trang 30

được cốt lõi và tinh hoa của nghề rèn truyền thống, được người tiêu dùng tintưởng và ngày càng tạo nên thương hiệu riêng của làng rèn Lý Nhân

II.2.6 Sản xuất gạch

Sản xuất vật liệu xây dựng là ngành đóng góp giá trị sản xuất công nghiệpđứng thứ hai sau ngành cơ khí chế tạo của Vĩnh Phúc Các sản phẩm chủ yếucủa ngành là gạch men ốp lát, gạch ngói xây dựng, cát sỏi, đá Sản xuất gạchngói xây dựng của Vĩnh Phúc đứng thứ 2 vùng Đồng bằng sông Hồng (sau HàTây cũ nay là Hà Nội)

Tỷ trọng sản xuất gạch xây của Vĩnh Phúc so với cả nước năm 2008

Sản phẩm Đơn vị Vĩnh Phúc Cả nước Tỷ lệ/cả nướcGạch xây 1000 viên 739.552 18.190.000 4,07%

Nguồn tổng hợp : Niên giám thống kê 2008

Theo số liệu điều tra của Sở Xây dựng, trên địa bàn tỉnh có gần 1.000 cơ sởsản xuất gạch ngói, với 12.000 lao động, mỗi năm sản xuất trên 700 triệu viêngạch và gần 150 triệu viên ngói; Hơn 60% sản lượng gạch ngói được sản xuất từcác lò thủ công và có doanh thu lớn nhất trong các nghề TTCN Không thể phủnhận vai trò của các cơ sở sản xuất gạch ngói thủ công trong việc giải quyết việclàm và thu nhập cho hơn chục ngàn lao động địa phương, song các lò gạch ngóithủ công cũng đang là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Việckhai thác đất làm gạch, khói bụi trong quá trình vận chuyển, đốt và dỡ gạch lantoả trên phạm vi rộng ảnh hưởng đến sức khoẻ, mùa màng và đời sống sinh hoạtcủa cư dân quanh vùng

Thực hiện chiến lược phát triển vật liệu xây dựng đến năm 2010 theohướng bền vững, bảo vệ môi trường, UBND tỉnh đã có nhiều cơ chế hỗ trợ,khuyến khích các cơ sở sản xuất hợp tác, đầu tư công nghệ, chuyển đổi sangphương thức lò đứng, lò nung tuy nel, khai thác hợp lý và có kế hoạch nguồnnguyên liệu, góp phần bảo vệ môi trường và sức khoẻ nhân dân cùng với việckiên quyết giải toả, tháo dỡ và đình chỉ các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môitrường, song đến nay, nhiều địa phương vẫn thực hiện cầm chừng Điển hình là

xã Thanh Trù có gần 300 lò gạch ngói đều nằm trong khu dân cư với mật độ cao

và đốt theo phương pháp thủ công, không có biện pháp xử lý đã gây ô nhiễmmôi trường nặng nề cho cộng đồng dân cư nơi đây Trong khi Hương Canh, TamCanh hiện đã dẹp hết nghề gạch ngói thủ công thì Thanh Trù vẫn cho ra thịtrường hơn 6 triệu viên gạch ngói các loại mỗi tháng Các lò thủ công liên tụcnhả khói phun bụi, hàng chục xe vận tải các loại liên tục qua lại chở đất, than,củi cho các lò và chở sản phẩm đi tiêu thụ; Hàm lượng CO2, bụi xỉ than của lò,bụi đất ở quanh các khu vực lò gạch đã vượt tiêu chuẩn cho phép tới 20 lần; Gần

Trang 31

200 ha đất canh tác đã bị đào phá, trong đó gần 100 ha bị đào sâu biến dạngthành thùng đào, thùng đấu, không có khả năng cải tạo lại thành ruộng Đảng uỷ,Hội đồng nhân dân đã ra Nghị quyết chuyên đề về chuyển đổi cơ cấu sản xuất,giảm dần nghề gạch ngói, cấm phá đất canh tác UBND tỉnh cũng đã yêu cầuUBND thành phố Vĩnh Yên phối hợp với Sở Tài nguyên - Môi trường tỉnh xử lýcác vi phạm trên nhưng chưa khắc phục được do thu nhập sản xuất gạch ngóikhá cao so với nghề nông; Trung bình mỗi lò gạch công suất từ 40 đến 50 vạnviên nung từ 6 đến 8 đợt/năm, sau khi trừ các chi phí cũng lãi 70 đến 80 triệuđồng/năm Các chủ lò có đóng góp một phần vào ngân sách địa phương đồngthời giải quyết công ăn việc làm cho một số lao động trên địa bàn nên chínhquyền có phần lúng túng trước những bức xúc về đời sống sinh hoạt của ngườidân, việc làm, thu nhập, bảo vệ môi trường dẫn đến thiếu kiên quyết khi xử lý

Ô nhiễm môi trường do sản xuất gạch, ngói thủ công vẫn đang là sự nhứcnhối đối với nhân dân nhiều địa phương như Thanh Trù (Vĩnh Yên), Tân Phong(Bình Xuyên), Đồng Cương, Bình Định (Yên Lạc), Đồng Tĩnh (Tam Dương),Cao Đại (Vĩnh Tường) và một số địa phương khác trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

Cử tri các địa phương này đã nhiều lần kiến nghị các cấp chính quyền giải quyếtdứt điểm, nhất là đối với các lò gạch xen lẫn trong khu dân cư gây ô nhiễm môitrường và ảnh hưởng đến sức khoẻ người dân trong vùng Để khắc phục, các chủ

lò gạch đối phó bằng cách hùn vốn cải tiến lò, xây bầu đốt và ống khói cao, tạocửa hút gió hợp lý để đẩy khói bụi lên cao làm loãng mật độ ô nhiễm tại chỗ;Tuy nhiên, số lượng còn chưa nhiều, một số làm còn mang tính đối phó với cơquan có thẩm quyền Mong muốn của đông đảo nhân dân đang sống tại các vùngnày là tỉnh cần có biện pháp mạnh, đủ sức răn đe, xử lý tiến tới xoá bỏ các lò thủcông; định hướng và hỗ trợ sản xuất các vật liệu thay thế gạch nung thân thiệnvới với môi trường giải quyết triệt để tình trạng ô nhiễm diễn ra nhiều năm quatại địa bàn

II.2.7 Chế biến nông sản thực phẩm

Mặc dù có tốc độ phát triển công nghiệp thuộc nhóm nhanh nhất miền Bắcnhưng Vĩnh Phúc vẫn còn gần 60% dân số sống bằng nghề nông lâm thuỷ sảnvới giá trị thu nhập chưa cao Bình quân mỗi lao động khu vực này chỉ tạo ra 5,2triệu đồng GTSX hàng năm; trong khi đó, sản xuất công nghiệp cao gấp 8,45lần, làm dịch vụ gấp 3,7 lần Do đất Vĩnh Phúc đa số bạc màu, nghèo dinhdưỡng; tuy hệ số sử dụng đất cao, bà con đã biết ứng dụng tiến bộ kỹ thuậtnhưng giá trị thu nhập vẫn thấp, năm 2006, bình quân mỗi hecta chỉ đạt 31 triệuđồng, thấp hơn bình quân cả nước và khu vực Đồng bằng sông Hồng

Qua thực tế đánh giá trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc và một số tỉnh lân cận, nhucầu sản xuất và chế biến nông sản xuất khẩu là rất lớn, nhưng các đơn vị hoạtđộng trong lĩnh vực này còn ít, quy mô nhỏ, chưa đáp ứng được nhu cầu của thị

Trang 32

trường Hiện Vĩnh Phúc đã kiện toàn và mở rộng nhà máy chế biến hoa quả TamDương gắn với việc quy hoạch các xã lân cận thành vùng nguyên liệu cho nhàmáy; xây dựng 11 lò giết mổ gia súc, gia cầm tập trung phân bố tương đối đềutrong toàn tỉnh Công ty cổ phần Japfacomfeed 100% vốn đầu tư nước ngoài đãđầu tư trên 10 tỷ đồng xây dựng nhà máy giết mổ gia cầm hiện đại với diện tích

10 ha tại xã Hợp Châu, huyện Tam Đảo (Vĩnh Phúc) Đây là nhà máy giết mổgia cầm đầu tiên của Vĩnh Phúc, có công suất thiết kế 1.500 con/giờ với sảnphẩm nguyên con và cắt mảnh, đảm bảo tuyệt đối an toàn vệ sinh thực phẩmnhờ hệ thống làm lạnh hiện đại và bảo đảm vệ sinh môi trường; tuy nhiện, côngsuất khai thác còn thấp, chưa phát huy được hiệu quả Một số mô hình chế biếnnông sản tiểu thủ công nghiệp đang được Trung tâm Khuyến công của tỉnh phốihợp trình diễn để phổ biến và nhân rộng trên địa bàn góp phần tạo thêm việclàm, thu nhập và cải thiện điều kiện sống cho người dân khu vực nông thônđược giới thiệu dưới đây:

Tại Tân An xã Ngũ Kiên huyện Vĩnh Tường, nghề chế biến thực phẩm cóthời gian hình thành và phát triển trên 50 năm với những sản phẩm như bánh,bún, đậu… phục vụ cho thị trường tiêu dùng trong và ngoài xã; Số hộ tham gialàm nghề là 123/165 hộ trong thôn, giải quyết việc làm cho 146 lao động vớimức thu nhập bình quân trên 1 triệu đồng/người/tháng Doanh thu của thôn năm

2007 trên 1,2 tỷ đồng; Một số cơ sở sản xuất trong thôn đã trang bị máy móc,thiết bị, công nghệ sản xuất mới góp phần tăng năng suất, chất lượng sản phẩm.Đây có thể xem là thôn có nghề chế biến thực phẩm tiêu biểu Trung tâmKhuyến công đã hỗ trợ mua thiết bị, máy móc sản xuất bún bánh cho 11 hộ giađình tại thôn Hòa Loan xã Lũng Hòa huyện Vĩnh Tường thu hút 60 lao độngtrực tiếp và khoảng 150 lao động gián tiếp, với mức thu nhập bình quân 850nghìn đồng/người/tháng Năm 2007, doanh thu trung bình mỗi hộ khoảng 68triệu đồng/hộ/năm Đã có nhiều hộ gia đình tìm hiểu, học hỏi và đầu tư theo môhình trên

Chợ đầu mối Thổ Tang Vĩnh Tường có hàng trăm hộ tham gia sơ chế, bảoquản, xuất khẩu nông sản, thực phẩm Mỗi năm các hộ này tham gia trungchuyển tiêu thụ từ 5.000 đến 7.000 tấn chè; 4000 đến 5000 tấn lạc nhân, hàngchục ngàn tấn nông sản thực phẩm khác ra thị trường nước ngoài, nhiều nhất làsang Trung Quốc, Lào Vĩnh Phúc hiện có 12 doanh nghiệp chế biến tham giaxuất khẩu các sản phẩm chè Các doanh nghiệp thu mua chè từ các tỉnh Yên Bái,Lào Cai, Hà Giang, Phú Thọ đem về sơ chế, phân loại, bao gói chuyển cho cácđầu mối tiêu thụ Tuy nhiên, việc xuất khẩu chè ở Vĩnh Phúc vẫn còn hạn chế dolượng xuất uỷ thác còn nhiều, chất lượng chè chưa cao, vùng nguyên liêu chưa

ổn định Để giúp các doanh nghiệp xuất khẩu chè mở rộng thị trường tiêu thụ,Vĩnh Phúc đã có cuộc tọa đàm hợp tác và phát triển giữa ngành chè Vĩnh Phúc

Trang 33

với Hiệp hội chè-cà phê Liên bang Nga để tìm hiểu sở thích người dân Nga vềcác loại chè và các tiêu chuẩn nhằm tái thiết lập xuất khẩu chè sang thị trườngNga và các nước Đông Âu Tỉnh thành lập Chi hội chè Vĩnh Phúc và trở thànhChi hội chè thứ 10 của cả nước được đăng ký hợp đồng xuất khẩu trực tiếp cácsản phẩm chè ra thị trường nước ngoài Tỉnh cũng đưa ra nhiều chính sách ưuđãi thu hút các doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư vào lĩnh vực sản xuất,chế biến và kinh doanh chè, xây dựng vùng chế xuất hàng hoá có chất lượngchinh phục thị trường thế giới

Tháng 7/2009, Trung tâm Khuyến công và tư vấn phát triển công nghiệpVĩnh Phúc phối hợp với doanh nghiệp Hòa Thủy tổ chức trình diễn kỹ thuật chếbiến nông sản xuất khẩu Doanh nghiệp Hòa Thủy tại Hợp Thịnh, huyện TamDương đã mạnh dạn đầu tư dây chuyền phân loại nguyên liệu - sấy - loại bỏ tạpchất - xử lý nấm mốc - đóng bao nông sản xuất khẩu với tổng vốn đầu tư trên 17

tỷ đồng Nguyên liệu để sản xuất là các loại sản phẩm nông nghiệp như: ngô,lạc, sắn, chuối xanh được thu mua tại các địa phương trong tỉnh và các vùng lâncận; Công suất trung bình đạt 10.300 tấn/năm Đây là một trong những mô hìnhcung cấp nguồn nguyên liệu đảm bảo các yêu cầu về bảo quản, sơ chế để tạo ranhững sản phẩm có giá trị, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho nông sản Dự án đivào hoạt động ổn định giải quyết việc làm thường xuyên cho 120 lao động, vớimức lương trung bình trên 1 triệu đồng/người/tháng, đồng thời, mở ra mộthướng phát triển mới cho ngành chế biến nông sản cung cấp cho thị trườngtrong và ngoài nước

Nhà máy chế biến chè xuất khẩu Phương Nam được xây dựng tại khu Đồi

Me, xã Yên Lập, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc đã thu hút tạo việc làm ổnđịnh cho 50 lao động tại địa phương với mức lương bình quân 1,5 triệuđồng/tháng và đem lại hiệu quả kinh tế cao cho đơn vị sản xuất Chè thu mua từcác nông trường được sơ chế và tiến hành sàng phân số, phân loại và xử lý đạttiêu chuẩn xuất khẩu để đưa đi tiêu thụ Mô hình tiên tiến của Phương Nam hiệnđang được phổ biến và nhân rộng góp phần phát triển ngành chế biến chè củatỉnh

Công ty TNHH Hải Hoà ở xã Thanh Trù, Vĩnh Yên đã mạnh dạn vay vốnngân hàng, tận dụng diện tích đất sẵn có xây nhà xưởng, mua thiết bị dây chuyềnsản xuất tương ớt, tương bần, dấm nếp và hàng chục sản phẩm khác; Thu hút 8-

10 lao động có việc làm ổn định với mức thu nhập từ 1-1,2 triệuđồng/người/tháng, không kể 20 lao động thời vụ Ngoài các khoản thuế nghĩa

vụ, Công ty còn tham gia đóng BHXH, BHYT cho công nhân lao động Sảnphẩm do công ty làm ra đã nhanh chóng tìm được thị trường, mỗi năm cơ sở chếbiến Hải Hoà tiêu thụ hơn 10 tấn đậu tương, 10-15 tấn ớt, cà pháo, cà bát, măngtươi và hàng chục tấn nông sản khác từ các địa phương trong và ngoài tỉnh Năm

Trang 34

2009, Công ty đã đạt doanh thu trên 1 tỷ và thu lãi hơn 80 triệu đồng Mongmuốn của Công ty là được vay thêm vốn ưu đãi để mở rộng mặt bằng sản xuất,thu mua nông sản, thu hút thêm lao động tạo điều kiện cho bà con nông dânnâng cao mức sống và thu nhập

II.3 Đánh giá chung

Vĩnh Phúc là một địa phương nằm trong châu thổ sông Hồng có nghề thủcông tương đối sớm, nhưng không nhiều nghề, quy mô sản xuất nhỏ, tổ chứcphân tán, chủ yếu dưới hình thức nghề phụ của các hộ gia đình Trong lịch sửphát triển của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Vĩnh Phúc, giai đoạn chuyển từsản xuất thủ công sang thủ công chuyên nghiệp chậm hơn rất nhiều so với tỉnhkhác ở đồng bằng sông Hồng

Theo số liệu của Cục thống kê tỉnh Vĩnh Phúc, các cơ sở tiểu thủ côngnghiệp trên địa bàn chủ yếu là hình thức hộ gia đình, mặc dù chiếm hơn 98% số

cơ sở công nghiệp -TTCN trên địa bàn nhưng chỉ sử dụng gần 40% lực lượnglao động công nghiệp -TTCN và chiếm khoảng 4% GTSXCN toàn tỉnh

Tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2005-2010

Nguồn xử lý số liệu: Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Phúc năm 2009- 2011

Lãnh đạo tỉnh luôn coi việc khôi phục phát triển làng nghề là nhiệm vụ quantrọng trong kế hoạch phát triển Kinh tế - Xã hội của tỉnh Điều tra về Chỉ sốNăng lực Cạnh tranh Cấp tỉnh (PCI) trên hàng ngàn doanh nghiệp của cả nước

Trang 35

giai đoạn 2005-2010, Vĩnh Phúc luôn đứng trong tốp đầu về chỉ số tính năngđộng, tiên phong của lãnh đạo tỉnh và cơ sở hạ tầng so với các tỉnh khác trongvùng Đó là một trong những lợi thế để khôi phục và phát triển làng nghề, tiểuthủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh

Thực hiện Nghị quyết của HĐND tỉnh Vĩnh Phúc về chương trình khuyếncông giai đoạn 2006 – 2010, giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp Vĩnh Phúctăng trưởng nhanh, bình quân 28,37%/năm Tỷ trọng giá trị SXTTCN trong cơ

cấu công nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc cũng tăng từ 2,66% lên 4,07% Số cơ sở sản

xuất TTCN tăng từ 12.316 cơ sở (năm 2005) lên 15.339 cơ sở (năm 2010) Một

số làng nghề truyền thống đã và đang được khôi phục, phát triển như: đá HảiLựu, rèn Lý Nhân, mộc Bích Chu, Thanh Lãng, đan lát Triệu Đề, gốm HươngCanh; nhiều làng nghề mới đang dần hình thành như: Yên Thạch, Vân Trục, VănQuán, Đồng Thịnh, Cao Phong (huyện Lập Thạch); Yên Phương (Yên Lạc), LýNhân (Vĩnh Tường); Hợp Hoà, Duy Phiên (Tam Dương); Đạo Đức, Phú Xuân,Tân Phong, Thanh Lãng (Bình Xuyên) đã giải quyết việc làm cho hàng vạn laođộng, nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn Tỉnh đã cấp Giấy chứng nhậncho 19 làng nghề, 4 nghệ nhân và 55 thợ giỏi Tính đến cuối năm 2009, VĩnhPhúc đã :

- Đào tạo nghề được 3.397 người (bình quân mỗi năm đào tạo 1.200 – 1.400lao động); hầu hết là những nghề phù hợp với trình độ người lao động các địaphương, thời gian học nghề ngắn, có thị trường tiêu thụ sản phẩm nên số laođộng đào tạo nghề đều có việc làm ngay tại địa phương

- Thực hiện hỗ trợ chuyển giao công nghệ thiết bị cho 28 doanh nghiệp vớitổng kinh phí hỗ trợ là 1.776 triệu đồng, trong đó nguồn khuyến công quốcgia hỗ trợ 11 mô hình (tổng kinh phí 1.220 triệu đồng), nguồn kinh phíkhuyến công địa phương hỗ trợ 17 mô hình (tổng kinh phí 580 triệu đồng)

- Mở 20 lớp tập huấn cho 808 học viên là các chủ doanh nghiệp, kế toán doanhnghiệp, cá nhân, chủ hộ sản xuất được tập huấn khởi sự doanh nghiệp vànâng cao năng lực quản lý

- Tổ chức được 2 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ khuyến công cho 148 lượt cán bộkhuyến công và lãnh đạo UBND cấp xã

- Hỗ trợ đăng ký xây dựng thương hiệu cho 16 doanh nghiệp và 3 làng nghềtruyền thống

- Hướng dẫn thành lập và được kết nạp vào Hiệp hội làng nghề Việt Nam 5Hội làng nghề

Trang 36

- Đã đầu tư hơn 219 tỷ đồng quy hoạch 8 cụm làng nghề với 81,5 ha, trong đó

có 5 cụm Thanh Lãng, TT Yên Lạc, Tề Lỗ, Vĩnh Sơn và TT Lập Thạch đãđược đầu tư hạ tầng

Sở Công Thương đã phối hợp với các cấp, các ngành, các địa phương, cácdoanh nghiệp quy hoạch các cụm công nghiệp -TTCN, tạo điều kiện thuận lợi về

hạ tầng, thu hút các cơ sở về nơi sản xuất tập trung để phát triển bền vững, hạnchế ô nhiễm môi trường; thực hiện các đề án hỗ trợ, nhân cấy, phát triển nghề,hình thành các làng nghề mới, giải quyết việc làm cho hàng trăm lao động địaphương

Hằng năm, Trung tâm khuyến công Vĩnh Phúc đã tổ chức hỗ trợ xây dựng

mô hình trình diễn kỹ thuật, hỗ trợ chuyển giao công nghệ, thiết bị nhằm khuyếnkhích, giúp đỡ các doanh nghiệp tiếp cận công nghệ mới Các mô hình sau khiđầu tư đã hoạt động hiệu quả, nâng cao năng suất, giảm giá thành sản phẩm, hạnchế ô nhiễm môi trường Một số mô hình đạt kết quả tốt được tiếp tục hỗ trợ đểnhân rộng như: mô hình chuyển giao công nghệ phun phủ sơn bóng công nghiệptrong sản xuất đồ gỗ tại làng nghề mộc Thanh Lãng; Mô hình sản xuất chiếu tre,trúc của Công ty TNHH Sông Hồng; Mô hình trình diễn kỹ thuật sản xuất dụng

cụ cơ khí cầm tay của Công ty TNHH Tiến Thịnh; Mô hình trình diễn kỹ thuậtsấy nguyên liệu sản phẩm mây tre đan của doanh nghiệp mây tre đan Tiến Đa Tuy nhiên, cũng còn một số tồn tại cần xem xét đó là :

- Hầu hết các cơ sở tiểu thủ công nghiệp có quy mô sản xuất nhỏ lẻ dướidạng hộ gia đình, thiếu vốn, mặt bằng, phát triển theo hướng tự phát, chưamạnh dạn đầu tư chiều sâu nên chưa có điều kiện tự tổ chức sản xuất trựctiếp và bao tiêu sản phẩm, sức cạnh tranh chưa cao

- Do phát triển theo kiểu phân tán, chưa được đầu tư cơ sở hạ tầng, mặtbằng chật hẹp, xen lẫn với khu dân cư, chưa có các biện pháp giảm thiểuphát thải tại nguồn, khó xử lý chất thải dẫn đến môi trường làng nghề cónguy cơ ô nhiễm cao;

- Các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp thường gặp khó khăn khi tiếp cậncác nguồn vốn đầu tư đổi mới công nghệ, kỹ thuật, thay đổi mẫu mã, nângcao chất lượng sản phẩm Năm 2009, khi có nhu cầu về tái cơ cấu do tácđộng của suy thoái kinh tế, các hạn chế này càng bộc lộ rõ: do quy mô sảnxuất kinh doanh nhỏ, giá trị tài sản thế chấp chưa đảm bảo nên vốn vaykhông thể đáp ứng được nhu cầu thực tế

- Các doanh nghiệp hạt nhân ở các làng nghề có thể tạo động lực phát triển

và khai thác các nguồn lực địa phương chưa hình thành, do đó công tácxây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật, hỗ trợ đổi mới cho các cơ sở sảnxuất tại các làng nghề còn hạn chế;

Trang 37

- Chi phí đầu tư di dời các cơ sở ra khu sản xuất tập chung còn bất cập sovới thu nhập của các hộ gia đình sản xuất tiểu thủ công nghiệp;

- Một số nghề TTCN du nhập từ các tỉnh khác nên thường bị động trongnguồn cung nguyên liệu và thị trường tiêu thụ; thiếu các trung tâm trưngbày và giới thiệu sản phẩm để xây dựng thương hiệu của mình;

- Các chính sách tạo điều kiện cho quy hoạch phát triển tiểu thủ côngnghiệp làng nghề như đất đai, ưu đãi đầu tư, tín dụng, thông tin thị trường,khoa học công nghệ còn đang xây dựng và chưa hoàn thiện

- Việc tìm đầu ra ổn định cho các sản phẩm đem lại sự phát triển lâu dàicho các làng nghề TTCN của cả nước nói chung và các làng nghề thủcông của tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng đang là vấn đề được các cấp, cácngành, các cơ sở sản xuất đặt lên hàng đầu Các cơ sở TTCN chưa đủ tiềmlực đầu tư nghiên cứu thị trường, nhiều cơ sở làm hàng không có địnhhướng phát triển rõ rệt và chưa hướng vào một thị trường cụ thể; Chưanắm bắt được nhu cầu thị trường, để tạo ra sản phẩm vừa mang bản sắcvăn hóa dân tộc, vừa đạt yêu cầu chất lượng và phù hợp với thị hiếu, vănhóa của khách hàng

- Đội ngũ cán bộ khuyến công cơ sở còn thiếu và yếu, công tác hỗ trợ xâydựng mô hình trình diễn, đổi mới công nghệ cho các cơ sở sản xuất làngnghề còn ít

Thời gian tới, Vĩnh Phúc sẽ xác định các nhiệm vụ ưu tiên cho từng năm,nâng cao nhận thức tự chuyển đổi nghề cũng như khắc phục ô nhiễm môi trườngcác làng nghề; tiếp tục hỗ trợ các địa phương xây dựng vùng nguyên liệu, tổchức đào tạo nhân rộng nghề mới, gắn với giải quyết việc làm cho nhân dân cácđịa phương dành đất phát triển công nghiệp, đô thị; hỗ trợ thiết thực cho các cơ

sở công nghiệp nông thôn xúc tiến thương mại, tìm thị trường; đào tạo nâng caotay nghề cho lao động

Các cơ sở TTCN cần chủ động liên kết lại, bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau tronghoạt động sản xuất kinh doanh, xây dựng làng nghề hoặc cụm sản xuất tậptrung; tận dụng và phát huy tối đa cơ sở vật chất kỹ thuật và năng suất máy mócthiết bị tại các đơn vị; cộng tác, chia sẻ phân công các hợp đồng lớn theo chuyênmôn hoá hoặc phân khúc thị trường, ổn định việc làm cho lực lượng lao động.Thông qua cụm sản xuất hoặc làng nghề các cơ sở mới quảng bá được nghề, đadạng hóa sản phẩm, thu hút sự quan tâm và lòng tin của khách hàng xây dựngthương hiệu để phát triển bền vững,

Trang 38

PHẦN II QUAN ĐIỂM MỤC TIÊU VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN

NGÀNH NGHỀ TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP CỦA VĨNH PHÚC

ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN 2030

I VAI TRÒ CỦA TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP

 TTCN là một bộ phận hợp thành của công nghiệp nông thôn, đượccoi là động lực trực tiếp giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho khu vực này;

 Các làng nghề TTCN truyền thống là một bộ phận của di sản vănhoá của Việt Nam;

 Phát triển TTCN là góp phần dịch chuyển cơ cấu kinh tế từ khu vực

có năng suất lao động thấp sang khu vực có năng suất lao động cao hơn, chophép khai thác tốt hơn các nguồn lực ở địa phương như nguồn lao động, vốn,tay nghề, sự liên kết truyền thống góp phần phát triển nông thôn và kinh tế địaphương;

 Phát triển TTCN là góp phần xoá bỏ sự cách biệt giữa nông thôn vàthành thị, hạn chế di dân tự do làm nảy sinh các vấn đề xã hội phức tạp tại các

đô thị

Theo Cục Công nghiệp địa phương - Bộ Công Thương, hiện cả nước cókhoảng 100 nghề thủ công với hơn 2.000 làng nghề, tạo việc làm cho 30% laođộng công nghiệp tại nông thôn với thu nhập bình quân cao gấp 2-4 lần so vớilàm nông nghiệp Để phát triển các ngành nghề của địa phương, tận dụng, khaithác hiệu quả nguồn nhân lực, nguyên liệu sẵn có trong thiên nhiên sản xuất cácsản phẩm đa dạng, đáp ứng nhu cầu trong nước và quốc tế, thì không thể thiếuvai trò của TTCN Vĩnh Phúc là vùng đất đa dạng về địa hình, hơn 77% dân sốsống ở nông thôn, có nhiều lợi thế để xây dựng vùng nguyên liệu, phát triển cácngành nghề TTCN trên địa bàn

TTCN với các sản phẩm thủ công mỹ nghệ (TCMN) có giá trị ngoại tệ thựcthu cao nhất TCMN là mặt hàng có truyền thống lâu đời của Việt Nam, đượcxuất khẩu khá sớm so với các mặt hàng khác và đã đóng góp đáng kể vào kimngạch xuất khẩu của cả nước, đồng thời có vai trò quan trọng trong giải quyếtmột số vấn đề kinh tế - xã hội tại nông thôn Trong những năm qua, các mặthàng TCMN có mức độ tăng trưởng khá cao bình quân khoảng 20%/năm vớikim ngạch xuất khẩu tăng từ 300 triệu USD trong năm 2004 lên hơn 750 triệuUSD vào năm 2007 Năm 2008, 2009 mặc dù bị tác động của suy thoái kinh tếtoàn cầu nhưng kim ngạch xuất khẩu cũng đạt gần 1 tỉ USD Thị trường xuấtkhẩu hàng TCMN Việt Nam ngày càng được mở rộng, ngoài các nước như Mỹ,Nga, Nhật Bản, Anh, Pháp, Đức, Hàn Quốc, Đài Loan hiện hàng TCMN ViệtNam đã có mặt tại 163 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Đây cũng là mặthàng có tiềm năng tăng trưởng xuất khẩu rất lớn Kim ngạch xuất khẩu hàng

Trang 39

TCMN trong những năm qua tuy không lớn nhưng có vai trò quan trọng trongchuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, thu hút nhiều lao động tham gia làm hàngxuất khẩu, góp phần xóa đói giảm nghèo ở nông thôn Ngoài ra, mặt hàng nàycòn mang lại giá trị gia tăng lớn, có thể coi là ngành hàng mũi nhọn để tập trungphát triển xuất khẩu trong các năm tới Một số mặt hàng khác như may mặc, gỗ

và da giày phần lớn nguyên liệu đều phải nhập khẩu từ nước ngoài, giá trị giatăng của các ngành này chủ yếu là chi phí nhân công nên giá trị thực thu ngoại tệmang về cho đất nước chỉ chiếm tỷ trọng từ 5-20% trong tổng kim ngạch xuấtkhẩu Đối với hàng TCMN, do sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước, đặc biệt

là các nguồn nguyên vật liệu được thu lượm từ nông lâm sản mang lại hiệu quảthực thu giá trị ngoại tệ rất cao có thể đạt 80%-90% giá trị xuất khẩu HàngTCMN xuất khẩu sử dụng nguyên liệu từ phế thải của quá trình chế biến và thuhoạch nông nghiệp, không chỉ góp phần tích cực bảo vệ môi trường mà cònmang lại nguồn thu ngoại tệ Theo các nhà nghiên cứu, cứ 1 triệu USD xuấtkhẩu của ngành TCMN thì lãi gấp 5 – 10 lần so với ngành khai thác; giải quyếtviệc làm cho 3,5 ngàn đến 4 ngàn lao động, do đó nhóm hàng TCMN được xếpvào nhóm sản phẩm có tiềm năng xuất khẩu lớn và có tỉ suất lợi nhuận cao

Số liệu thống kê cho thấy, nhiều năm trở lại đây, hàng TCMN được xếp vàodanh sách 10 mặt hàng có mức tăng trưởng cao nhất Hàng TCMN sản xuất chủyếu bằng nguồn nguyên liệu sẵn có trong nước, nguyên phụ liệu nhập khẩu ướctính chỉ chiếm từ 3 - 3,5% giá trị xuất khẩu Bên cạnh đó, lực lượng lao động có

kỹ năng và khả năng tiếp thu công nghệ mới khá nhanh chóng, mức lương củalao động Việt Nam thấp so với các nước trong khu vực cũng là một ưu thế chophát triển sản xuất hàng TCMN theo hướng đa dạng và nâng cao sức cạnh tranh

Sự phát triển TTCN đã góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nông thôn theohướng giảm nhanh tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp, tăng giá trị sản xuấtcông nghiệp và dịch vụ, giải quyết việc làm cho nhiều lao động Các làng nghề

đã tạo ra nhiều mặt hàng có giá trị kinh tế cao, tăng kim ngạch xuất khẩu; nhiều

cơ sở đã bước đầu khẳng định được uy tín chất lượng và thương hiệu hàng hoácủa mình đối với khách hàng trong nước và quốc tế

Về thị trường xuất khẩu cũng rất nhiều tiềm năng cho phát triển hàng thủcông mỹ nghệ Những năm gần đây, Hoa Kỳ mỗi năm nhập khẩu tới 13 tỷ USDhàng TCMN, tuy nhiên hàng TCMN của Việt Nam mới chỉ chiếm 1,5% kimngạch nhập khẩu của nước này; Tương tự, EU nhập khẩu khoảng 7 tỷ USDtrong đó Việt Nam chiếm 5,4%; Nhật Bản mỗi năm nhập khẩu khoảng 2,9 tỷUSD, nhưng Việt Nam chỉ chiếm 1,7% kim ngạch; Mấy năm gần đây các doanhnghiệp cũng đã thực hiện nhiều hoạt động xúc tiến thương mại tại thị trườngTrung Đông, nhưng chưa đẩy mạnh xuất khẩu được Trong tương lai, đây sẽ làcác thị trường hứa hẹn của hàng TCMN Việt Nam

Theo Bộ Công Thương, ngoài việc phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn, Bộ Tài chính và các địa phương để giải quyết vấn đề nguyên

Trang 40

liệu, tài chính, mặt bằng sản xuất kinh doanh, vấn đề đẩy mạnh xúc tiến xuấtkhẩu vào một số thị trường trọng điểm sẽ là khâu đột phá để tăng kim ngạchxuất khẩu trong thời gian tới

II QUAN ĐIỂM

1 Quan điểm.

Nông thôn là khu vực tập trung hơn 77% dân số của tỉnh, mức thu nhậpthấp; dân số vẫn tiếp tục tăng, đất đai lại thu hẹp do đô thị hoá và phát triển côngnghiệp khả năng áp dụng sản xuất với quy mô tập trung khó cùng với đất đaibạc màu sẽ làm suy giảm năng suất nông nghiệp vì vậy phát triển các ngànhnghề tiểu thủ công nghiệp tạo thêm việc làm và thu nhập, góp phần chuyển dịch

cơ cấu kinh tế khu vực nông thôn Việc phát triển các khu, cụm công nghiệp, cáckhu kinh tế xã hội tập trung, các đô thị, hệ thống giao thông và các công trình cơ

sở hạ tầng khác thường gắn liền với công tác đền bù giải toả, thu hồi đất, đào tạo

và sắp xếp việc làm cho những người bị thu hồi đất, do đó phát triển TTCN gópphần giải quyết việc làm cho người dân, chuyển dịch lực lượng lao động sangcác khu vực có năng suất và thu nhập cao hơn Việc quy hoạch các cụm côngnghiệp đưa sản xuất về nơi tập trung, tách khỏi khu dân cư, nhằm tăng cườngquản lý và triển khai các biện pháp hỗ trợ phát triển, đồng thời áp dụng các biệnpháp xử lý chất thải bảo vệ môi trường, từng bước cải thiện và nâng cao điềukiện sống của người dân tại các làng nghề TTCN Đặc điểm chung của các làngnghề Việt Nam là thường nằm gần các khu dân cư tập trung, có mạng lưới giaothông đường bộ và đường thủy, thuận lợi cho giao lưu, trao đổi hàng hoá Đâychính là điều kiện thuận lợi để kết nối các ngành nghề, kết nối với các hoạt động

du lịch, phát triển du lịch làng nghề như một số nơi đã làm

Quan điểm phát triển tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc là:

- Phát triển TTCN phải là sự nghiệp của quần chúng dưới sự hỗ trợ và quản lýcủa nhà nước; phải huy động mọi nguồn lực để đảm bảo phát triển bền vững

và ổn định;

- Phát triển TTCN phải gắn liền với quy hoạch phát triển kinh tế xã hội củađịa phương, phải đặt trong mối quan hệ tương hỗ với quy hoạch phát triểncác ngành, quy hoạch đô thị, kết hợp hài hoà nhiều loại hình kinh tế với côngnghệ, thiết bị thích hợp, kết hợp hiện đại với truyền thống, thiết bị tiên tiếnvới tay nghề thủ công, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm;

- Phát triển TTCN phải đi đôi với phát triển sản xuất nông nghiệp trên cơ sởkhai thác hiệu quả nguồn lao động, tài nguyên đất, nguyên liệu sẵn có tại địaphương, gắn liền với du lịch làng nghề… nhằm không ngừng nâng cao mứcsống của cư dân nông thôn, xoá bỏ cách biệt giữa nông thôn và thành thị;

- Phát triển TTCN ở Vĩnh Phúc theo hướng sản xuất các sản phẩm thủ công

mỹ nghệ có lợi thế cạnh tranh, phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu,

Ngày đăng: 06/03/2019, 18:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w