TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH HOÀNG XUÂN BÍNH RÈN LUYỆN KĨ NĂNG SIÊU NHẬN THỨC NHẰM BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC PHÁT HIỆN VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC HÌNH HỌC KHÔNG GIAN... Vì vậy, c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
HOÀNG XUÂN BÍNH
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG SIÊU NHẬN THỨC NHẰM BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC PHÁT HIỆN
VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC HÌNH HỌC KHÔNG GIAN
Trang 2Người hướng dẫn khoa học:
1 TS TRẦN LUẬN
2 TS NGUYỄN THỊ CHÂU GIANG
Phản biện 1 GS.TS BÙI VĂN NGHỊ
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Phản biện 2 PSG TS VŨ DƯƠNG THỤY
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Phản biện 3 PSG TS ĐÀO THÁI LAI
Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Trường,
họp tại Trường Đại học Vinh, số 182 Lê Duẩn, Thành phố Vinh, Nghệ An
Vào hồi giờ, ngày tháng năm 2019
Có thể tìm hiểu luận án tại:
1 Thư viện Quốc gia Việt Nam
2 Trung tâm Thông tin & Thư viện Nguyễn Thúc Hào, Đại học Vinh
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Sự cần thiết phải đổi mới DH ở trường THPT
Trong những năm gần đây, việc đổi mới PPDH ở nước ta đã có một số chuyển biến tích cực Các PPDH hiện đại như DH phát hiện và GQVĐ, DH kiến tạo, DH khám phá, đã và đang được các nhà sư phạm, các thầy cô giáo quan tâm nghiên cứu
và áp dụng ở một góc độ nào đó qua từng tiết dạy, qua từng bài tập
Tuy nhiên, PPDH ở trường phổ thông hiện nay vẫn chưa quan tâm nhiều đến rèn luyện những kĩ năng cần thiết theo hướng phát triển năng lực nhận thức của người học
1.2 Rèn luyện kĩ năng SNT là một xu hướng DH mới
Siêu nhận thức (metacognition) ho c tư duy về tư duy (thinking about thinking) được giải th ch là năng lực kiểm soát quá tr nh suy nghĩ của cá nhân, đ c biệt là nhận thức về việc lựa chọn và s dụng các chiến lược giải toán SNT là tự phân t ch quá tr nh suy nghĩ của một người nào đó trong khi GQVĐ R n luyện kĩ năng SNT (metacognitive skills) cho HS trong quá tr nh dạy học Toán ở trường phổ thông là một xu hướng DH mới đang được chú trọng trên thế giới hiện nay Việc r n luyện kĩ năng SNT cho HS nhằm giúp HS hiểu được quá tr nh suy nghĩ của bản thân trong quá trình giải bài toán và ý nghĩa của bài toán mang lại, từ đó tạo cho các em niềm say mê hứng thú học tập
1.3 Tính cấp bách của đề tài
Ở nước ta, trong chương tr nh giảng dạy môn Toán chưa đề cập một cách tường minh về kĩ năng SNT, m c dù đã có một số tài liệu về PPDH đề cập đến vấn đề này Ở một góc độ nào đó và một số công trình nghiên cứu đã đề cập đến cách thức điều khiển quá trình học tập, tiếp thu nhận thức của HS theo hướng phát huy tính sáng tạo DH SNT thực sự là một xu hướng DH mới của thế giới Vì vậy, chúng tôi mong muốn tập trung nghiên cứu để làm rõ vai trò của SNT trong trong học tập, các
kĩ năng SNT nhằm bồi dưỡng năng lực phát hiện và GQVĐ và các biện pháp nhằm rèn luyện các kĩ năng SNT ấy Ngoài ra, chúng tôi cũng mong muốn làm rõ những ưu điểm của việc rèn luyện các kĩ năng SNT, từ đó xác định và đề xuất các biện pháp r n luyện kĩ năng SNT nhằm bồi dưỡng năng lực phát hiện và GQVĐ trong DH Toán ở trường THPT
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Rèn
luyện kĩ năng SNT nhằm bồi dưỡng năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học HHKG ở trường THPT’’
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đ ch nghiên cứu của luận án là xác định các kĩ năng SNT, ý nghĩa và vai trò của các kĩ năng SNT Từ đó, đề xuất các biện pháp rèn luyện các kĩ năng SNT nhằm bồi dưỡng năng lực phát hiện và GQVĐ cho HS trong DH HHKG ở trường THPT
Trang 43 Khách thể, đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình DH HHKG lớp 12 cho HS THPT
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Các kĩ năng SNT cần rèn luyện nhằm bồi dưỡng năng lực phát hiện và GQVĐ
cho HS trong DH HHKG ở trường THPT
4 Giả thuyết khoa học
Nếu xác định được các kĩ năng SNT cần thiết đối với việc bồi dưỡng năng lực phát hiện và GQVĐ đồng thời xây dựng được các biện pháp rèn luyện phù hợp cho
HS trong DH HHKG ở trường THPT thì sẽ bồi dưỡng được năng lực phát hiện và GQVĐ cho HS, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả DH môn Toán ở trường THPT
5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về rèn luyện kĩ năng SNT, năng lực phát hiện và
GQVĐ cho HS trong DH HHKG ở trường THPT
- Tìm hiểu thực trạng về vấn đề rèn luyện kĩ năng SNT trong quá trình DH Toán ở trường THPT
- Xác định một số kĩ năng SNT cần thiết cho việc bồi dưỡng năng lực phát hiện
và GQVĐ
- Xây dựng một số biện pháp sư phạm rèn luyện kĩ năng SNT trên
- TN sư phạm nhằm kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đã
đề xuất
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Do khuôn khổ nội dung và thời lượng nghiên cứu, chúng tôi chỉ tập trung xác định và xây dựng các biện pháp sư phạm để rèn luyện kĩ năng SNT nhằm phát hiện
và GQVĐ cho HS trong DH HHKG ở trường THPT
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Mục đ ch: Tìm hiểu tình hình nghiên cứu về những vấn đề có liên quan, phân tích và tổng hợp các quan điểm triết học, tâm lý học, giáo dục học về DH tích cực, về
tư duy, về năng lực, về nhận thức, về SNT Từ đó, có cơ sở lý luận cho việc đánh giá kết quả điều tra, nghiên cứu, vận dụng vào việc dạy và học môn Toán
- Tài liệu nghiên cứu: Các văn kiện của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tài liệu triết học, tâm lý học, lý luận và PPDH bộ môn Toán, các bài báo và tạp chí có liên quan
6.2 Phương pháp quan sát và điều tra
- Mục đ ch: Quan sát điều tra đối với HS THPT, GV THPT về thái độ tích cực học tập, các phương pháp DH giúp HS tích cực, sáng tạo, về thực tế s dụng các kĩ năng SNT trong dạy và học
Trang 5- Cách thức: Tiến hành dự giờ quan sát GV dạy, HS học tập; S dụng bảng hỏi, thảo luận với các nhà sư phạm, với từng nhóm GV, nhóm HS về thái độ, động cơ dạy
và học, về các PPDH tích cực, về phát triển tư duy và SNT S dụng các phương pháp định t nh và định lượng trong nghiên cứu Kết quả điều tra, khảo sát sẽ được tổng kết và phân tích cụ thể
6.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Mục đ ch: Kiểm định tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp sư phạm nhằm rèn luyện kĩ năng SNT cho HS trong DH HHKG ở trường THPT
- Cách thức: Tập huấn cho GV; dạy mẫu, dạy th nghiệm để so sánh kết quả giữa nhóm TN và nhóm ĐC
7 Những đóng góp của luận án
Các kết quả nghiên cứu của đề tài hướng tới những đóng góp sau đây:
7.1.Về mặt lý luận
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của SNT
- Nghiên cứu một cách có hệ thống, xác định được luận cứ khoa học về việc
h nh thành và phát triển kĩ năng SNT cho HS trong DH HHKG ở trường THPT
- Hệ thống và phân tích các quan niệm, mô hình khác nhau trên thế giới về SNT
- Xác định một số thành tố cơ bản, đ c điểm, chức năng của SNT và các mức
độ biểu hiện của HS có kĩ năng SNT
- Vai trò của SNT trong giáo dục nói chung và trong học tập Toán nói riêng
- Xác định cơ sở lý luận của một số kĩ năng SNT nhằm bồi dưỡng năng lực phát hiện và GQVĐ cho HS
- Xác định được các hoạt động tương th ch để rèn luyện kĩ năng siêu nhận thức
- Xác định một số định hướng cơ bản và đề xuất các biện pháp r n luyện các kĩ năng SNT nhằm bồi dưỡng năng lực phát hiện và GQVĐ cho HS trong DH HHKG ở trường THPT
7.2 Về mặt thực tiễn
- Luận án là tài liệu tham khảo để đổi mới việc DH Toán theo hướng phát triển
kĩ năng SNT nhằm bồi dưỡng năng lực phát hiện và GQVĐ của HS
- Luận án là một tài liệu để cho GV và HS tham khảo
Vì vậy, chúng tôi hy vọng việc DH tăng cường rèn luyện kĩ năng SNT cho HS
sẽ được triển khai rộng ở nước ta sau năm 2019
8 Bố cục của luận án
Ngoài phần Mở đầu, kết luận, danh mục các công trình công bố của tác giả và tài liệu tham khảo, nội dung luận án bao gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Một số biện pháp rèn luyện kĩ năng SNT nhằm bồi dưỡng năng lực
phát hiện và GQVĐ cho HS trong dạy học HHKG ở trường THPT Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 6Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Phát hiện và giải quyết vấn đề trong dạy học Toán
1.1.1 Vấn đề trong dạy học Toán
1.1.2 Phát hiện và giải quyết vấn đề
1.1.2.1 Phát hiện vấn đề
1.1.2.2 Giải quyết vấn đề
1.1.3 Mối liên hệ giữa tư duy và giải quyết vấn đề
1.1.4 Vai trò của hoạt động phát hiện và giải quyết vấn đề trong môn Toán
1.2 Năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề trong Toán học
1.2.1 Năng lực
1.2.2 Năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề
1.2.3 Phát triển năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề trong dạy học Hình học không gian ở trường trung học phổ thông
1.3 Tổng quan lịch sử nghiên cứu về siêu nhận thức
1.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
1.3.1.1 SNT là gì?
Khái niệm siêu nhận thức được đưa ra lần đầu vào năm 1976 bởi nhà tâm lý
học người Mỹ J.H.Flavell Theo ông, siêu nhận thức là: Sự hiểu biết của cá nhân
liên quan đến quá trình nhận thức của bản thân, các sản phẩm và những yếu tố khác
có liên quan trong đó còn đề cập đến việc theo dõi tích cực, điều chỉnh kết quả và sắp xếp các quá trình này để luôn hướng tới mục tiêu đặt ra [94]
1.3.1.2 Nguồn gốc của khái niệm SNT
Khái niệm Siêu nhận thức bắt đầu được s dụng từ những nghiên cứu của Flavell từ năm 1976, tuy nhiên trước đó, đã có một số nghiên cứu về những khía cạnh khác nhau của SNT, chẳng hạn như:
Nhà tâm lý học Xô viết L.X Vưgôtxki (1896 - 1934) [80] dù không đề cập đến khái niệm SNT nhưng các nghiên cứu của ông đã hướng tới việc giúp HS GQVĐ, cách x lý khi đứng trước một tình huống mới Thuyết văn hóa xã hội của L.X Vưgôtski cho rằng sự tương tác xã hội làm cho tư duy và hành vi con người thay đổi một cách liên tục Sự thay đổi đó tùy thuộc vào hoàn cảnh văn hóa, lịch s xác định Hoàn cảnh văn hóa xã hội cung cấp các công cụ tư duy để con người hình thành quan niệm riêng về thế giới Thành phần quan trọng trong tâm lý học văn hóa xã hội là khái niệm vùng phát triển gần Đó là khoảng nằm giữa tr nh độ phát triển hiện tại
và tr nh độ phát triển có thể đạt được Tr nh độ phát triển hiện tại được xác định bằng khả năng độc lập GQVĐ Tr nh độ phát triển có thể đạt được được xác định bằng khả
Trang 7năng GQVĐ với sự trợ giúp của người khác
1.3.1.3 Một số mô hình của SNT
a Mô hình của J.H.Flavell
Sơ đồ 1.1 Mô hình siêu nhận thức của J.H.Flavell [98]
b Mô hình của Ann Brown
Sơ đồ 1.2 Mô hình siêu nhận thức của Ann.Brown [88]
c Mô hình của Tobias & Everson
Sơ đồ 1.3 Mô hình phân cấp quá trình siêu nhận thức
của Tobias và Everson [127]
Những chiến lược nhận thức
Những kinh nghiệm nhận thức
Kiến thức siêu nhận thức
Những mục tiêu nhận thức
Siêu nhận thức
Đ c điểm:
+ Có thể nói + Ổn định + Có thể sai lầm + Phụ thuộc vào độ tuổi
Đ c điểm:
+ Không thường được nói ra
+ Không ổn định + Phụ thuộc vào nhiệm
vụ và t nh huống
Trang 81.3.1.4 Một số nghiên cứu về siêu nhận thức trong giáo dục
1.3.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Phải nói rằng nghiên cứu sâu về SNT ở Việt Nam là chưa nhiều Trước tiên, là khái niệm "Siêu nhận thức chưa được đề cập rõ mà chỉ mang tính giới thiệu dưới các các thuật ngữ như tự nhận thức hay tư duy về tư duy trong Giáo tr nh tâm lý học giáo dục [39]
Theo Từ điển Tâm lý học: SNT là thuật ngữ chỉ hành động suy nghĩ về tư duy
hoặc nhận thức về nhận thức Đó là khả năng để bạn kiểm soát suy nghĩ của bạn [12]
Về nghiên cứu lý luận và hệ thống lại các nghiên cứu đã có, có đề tài "Nghiên cứu lý thuyết SNT và đề xuất khả năng ứng dụng trong giáo dục trung học" của Hồ Thị Hương Tác giả đã hệ thống lại những quan điểm về SNT, giới thiệu và phân tích một số mô hình SNT của các tác giả kinh điển cũng như làm nổi bật chức năng và tầm quan trọng của lý thuyết SNT trong DH
Tác giả s dụng khái niệm "SNT là hình thức của nhận thức, là quá trình tư
duy bậc cao bao gồm sự hiểu biết về tư duy của mình, theo dõi quá trình nhận thức,
nỗ lực để điều chỉnh quá trình nhận thức có liên quan khi cần thiết và ứng dụng vào GQVĐ" để định hướng cho việc nghiên cứu những nội dung của đề tài Khái niệm
này phân biệt rõ sự khác nhau và liên quan giữa hai khái niệm "nhận thức" và "siêu nhận thức"
đồng ý theo từ điển Tâm lý học: Nhận thức là hiểu được điều gì đó, tiếp thu được
những kiến thức về điều gì đó, hiểu biết những quy luật về những hiện tượng, quá trình nào đó [12]
1.4.1.2 Quá trình nhận thức
1.4.1.3 Kĩ năng nhận thức
1.4.2 Khái niệm và mô hình siêu nhận thức
Trong luận án này, chúng tôi s dụng khái niệm SNT của J.H Flavell (trang
17) và mô h nh của Tobias & Everson (xem: c Mô hình của Tobias & Everson, trang 27) để nghiên cứu v theo mô h nh này phù hợp với khái niệm SNT của J.H.Flavell và
cách chia quá trình SNT được nhỏ mịn, cụ thể, phù hợp với nhận thức của HS và gần
gũi với bốn bước giải toán của G Polya
Trang 91.4.3 Sự khác nhau giữa nhận thức và siêu nhận thức
Tóm lại, từ những nghiên cứu Sơ đồ 1.5 về mô hình siêu nhận thức và nhận thức, từ phân t ch hành động của P.Ia Galperin và khung nhận thức - SNT của Artzt
và Armour - Thomas có thể thấy sự khác nhau giữa nhận thức và SNT thể hiện rõ nét
ở những điểm sau đây:
- Về đối tượng: Đối tượng của nhận thức là thế giới vật chất xung quanh và những h nh ảnh trong đầu còn đối tượng của SNT ch nh là quá tr nh nhận thức
- Về sản phẩm: Quá tr nh nhận thức thường đi đến những sản phẩm nhất định như lời giải của bài toán, khái niệm, t nh chất… trong khi đó quá tr nh SNT không đi đến sản phẩm cụ thể mà chỉ có tác động cải tiến/ cải thiện quá tr nh nhận thức
- Về quá tr nh: Trong quá tr nh giải quyết một vấn đề nào đó (quá tr nh nhận thức) thường k m theo các hoạt động SNT song hành, các hoạt động này không trực tiếp giải quyết vấn đề trên mà có chức năng giám sát, điều chỉnh HĐ giải quyết vấn đề
1.4.4 Thành phần, đặc điểm và chức năng của siêu nhận thức
1.4.4.1 Thành phần của SNT
Tóm lại, qua nghiên cứu chúng tôi thấy rằng SNT có ba thành phần ch nh đó là: + Lập kế hoạch
+ Theo dõi, điều chỉnh quá tr nh GQVĐ
+ Đánh giá quá tr nh GQVĐ (Đánh giá kết quả và đánh giá quá tr nh dẫn đến kết quả đó)
1.4.4.2 Đặc điểm của siêu nhận thức
Đ c điểm của SNT là:
- Nhận thức về quá tr nh tư duy của bản thân
- Theo dõi t ch cực và chủ động quá tr nh nhận thức trong mối quan hệ với các nhiệm vụ học tập
- Người học tự t m tòi phương pháp GQVĐ
- Giám sát và điều chỉnh quá tr nh nhận thức của bản thân
- Đánh giá quá tr nh và kết quả đạt được so với mục tiêu đ t ra
Tóm lại, đ c điểm của SNT là nhận thức về quá tr nh suy nghĩ của bản thân và
có nguồn gốc từ bên trong đầu óc của con người gắn với các HĐ tr tuệ, tinh thần và cách thức người ta cảm nhận vấn đề
1.4.4.3 Chức năng của siêu nhận thức
Theo Wilson (1998), SNT có ba chức năng cơ bản: chức năng nhận biết (awareness function); chức năng giám sát (Monitoring function), chức năng đánh giá (evaluation function) và chức năng điều chỉnh (regulation function)
Trang 10Sơ đồ 1.6 Mô hình chức năng của siêu nhận thức Wilson [133]
Trong đó, chức năng nhận biết liên quan đến sự nhận thức của bản thân trong quá tr nh học tập, về những KT vốn có, hiểu biết về những chiến lược học tập và những yêu cầu trong khi GQVĐ hay những t nh huống riêng
Tóm lại, các nhà nghiên cứu đã cho rằng SNT có các chức năng sau:
+ Nhận biết liên quan đến nhận thức của bản thân;
+ Lập kế hoạch;
+ Theo dõi, giám sát và điều chỉnh quá tr nh GQVĐ;
+ Đánh giá kết quả và quá tr nh dẫn đến kết quả đó
1.4.5 Đối tượng của hoạt động siêu nhận thức
Đối tượng của HĐ SNT là:
- Cách thức nhận thức về chiến lược tư duy của một người trong tiến trình phản ánh các sự vật hiện tượng;
- Từ cách hiểu trên th đối tượng của HĐ SNT trong DH môn Toán là cách thức nhận thức về chiến lược tư duy của chủ thể trong tiến tr nh lĩnh hội tri thức Toán học;
- Với cách hiểu trên th HĐ SNT cần phải làm bộc lộ đối tượng SNT nói trên bao gồm:
+ Đánh giá được tiến tr nh tư duy phù hợp với quy luật;
+ Đánh giá được tiến trình nhận thức theo một lôgic khoa học: Lựa chọn đúng các tiền đề và giải quyết đúng đắn các vấn đề;
+ HĐ giám sát, điều chỉnh quá trình nhận thức;
+ Phản biện được các con đường nhận thức (cách thức tư duy)
1.4.5 Vai trò của siêu nhận thức trong học môn Toán
1.5 Rèn luyện kĩ năng siêu nhận thức theo hướng bồi dưỡng năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học Hình học không gian ở trường trung học phổ thông
1.5.1 Kĩ năng
1.5.2 Một số kĩ năng siêu nhận thức có ảnh hưởng mạnh/rõ đến năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề trong học Hình học không gian ở trường trung học phổ thông
1.5.2.1 Kĩ năng lập kế hoạch
Kĩ năng lập kế hoạch có các kĩ năng thành phần sau đây:
Giám sát
Đánh giá Nhận biết
Điều chỉnh
Trang 11a Kĩ năng định hướng
b Kĩ năng xác định mục tiêu
c Kĩ năng lựa chọn chiến lược GQVĐ
d Kĩ năng lựa chọn tri thức phương pháp
e Kĩ năng lựa chọn KT tiền đề để GQVĐ
f Kĩ năng phân t ch bài toán
1.5.2.2 Kĩ năng giám sát, điều chỉnh
Kĩ năng giám sát và điều chỉnh có các kĩ năng thành phần sau đây:
a Kĩ năng phát hiện vấn đề (phát hiện mâu thuẫn, khó khăn);
b Kĩ năng nhận biết;
c Kĩ năng giám sát quá trình GQVĐ;
d Kĩ năng điều chỉnh quá trình GQVĐ;
e Kĩ năng theo dõi việc học và đưa ra phương pháp giải quyết phù hợp trong từng t nh huống cụ thể
1.5.2.3 Kĩ năng đánh giá quá trình GQVĐ
Kĩ năng đánh giá quá tr nh GQVĐ có các kĩ năng thành phần sau đây:
a Kĩ năng lựa chọn đúng các tiền đề cho các bước lập luận GQVĐ;
b Kĩ năng duyệt lại các bước lập luận (lập luận có đúng quy tắc hay không);
c Kĩ năng xem xét các cách chứng minh có đúng hay không;
d Kĩ năng lựa chọn cách GQVĐ tối ưu (đối với tr nh độ của HS);
e Kĩ năng phát hiện và s a chữa sai lầm;
f Kĩ năng tương tác, chia sẻ và tư duy phê phán trong tiến trình GQVĐ
1.5.3 Mối quan hệ giữa kĩ năng siêu nhận thức với năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề trong học môn Toán
1.5.4 Các hoạt động tương thích để rèn luyện kĩ năng siêu nhận thức
Hoạt động siêu nhận thức là điều cần thiết trong việc áp dụng chiến lược của kiến thức siêu nhận thức để đạt được mục tiêu nhận thức Nó cho phép các quy định
và kiểm soát các quá trình nhận thức (Alexander, Carr, & Schwanen fl ugel, 1995)
Flavell (1979) phân biệt kiến thức siêu nhận thức, đó là kiến thức tường thuật
về sự tương tác giữa con người, nhiệm vụ và đ c điểm chiến lược, từ điều hành hoạt động Ông có sự phân biệt giữa kế hoạch, giám sát và đánh giá như là các thành phần chính ở cấp bậc cao nhất của hoạt động siêu nhận thức trước khi bắt đầu một công việc, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ và sau khi hoàn thành nhiệm vụ, tương ứng
Qua nghiên cứu thành phân của các kĩ năng siêu nhận thức chúng tôi nhận thấy rằng các hoạt động tương th ch để rèn luyện các kĩ năng SNT bao gồm các hoạt động sau đây:
- Hoạt động tìm hiểu vấn đề;
- Hoạt động liên tưởng nhằm huy động kiến thức;
- Hoạt động phát hiện và s a chữa sai lầm;
Trang 12- Hoạt động so sánh, đánh giá;
- Hoạt động toán học hóa các tình huống thực tiễn;
- Hoạt động sáng tạo, tìm kiếm giải pháp khác;
- Hoạt động biến đổi ngôn ngữ;
- Hoạt động biến đổi đối tượng;
- Hoạt động quy lạ về quen
1.5.5 Các biểu hiện của học sinh có kĩ năng siêu nhận thức
SNT là một HĐ rất khó đo lường, nhận biết Để phát hiện ra HĐ này, người ta thường s dụng hai hình thức: quan sát và phỏng vấn Quan sát các đối tượng nghiên cứu trong một hoàn cảnh cụ thể để xem các phản ứng Tuy nhiên, việc này không thể chỉ ra một cách rõ ràng các HĐ SNT bởi quan sát chỉ thấy được những biểu hiện ra bên ngoài mà không thấy được quá tr nh suy nghĩ của đối tượng Phỏng vấn làm rõ hơn quá tr nh suy nghĩ để cho ra kết quả của đối tượng được nghiên cứu, tuy nhiên phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người được phỏng vấn bởi họ có thể thay đổi những suy nghĩ đang, đã diễn ra trong đầu mình cho phù hợp với ý muốn của mình
mà người phỏng vấn không biết được
HS có kĩ năng SNT được biểu hiện qua các cấp độ sau:
Biểu hiện 1: Về nhận biết vấn đề
Biểu hiện 2: Về hiểu biết vấn đề
Biểu hiện 3: Về theo dõi và điều chỉnh
Biểu hiện 4: Về tự đánh giá
Biểu hiện 5: Về hiểu biết về bản thân
1.6 Thực trạng rèn luyện các kĩ năng siêu nhận thức cho học sinh trung học phổ thông nhằm bồi dƣỡng năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề thông qua dạy học Hình học không gian
1.6.1 Khảo sát thực trạng
1.6.1.1 Mục đích khảo sát
T m hiểu thực trạng việc r n luyện kĩ năng SNT cho HS THPT nhằm bồi dưỡng năng lực phát hiện và GQVĐ trong DH HHKG ở trường THPT hiện nay
1.6.1.2 Đối tượng và thời điểm tiến hành khảo sát
Thời điểm tiến hành khảo sát: Tháng 11 năm 2015
Địa điểm khảo sát: 2 trường THPT có điều kiện phát triển giáo dục khác nhau:
- Trường THPT Chuyên Lê Quý Đôn, thành phố Phan Rang, tỉnh Ninh Thuận
- Trường THPT Đô Lương 1 huyện Đô Lương tỉnh Nghệ An
- Trường THPT Lê Hồng Phong, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
- Trường THPT Trần Quốc Tuấn, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh
Đối tượng khảo sát là cán bộ quản l (04 Phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn), tổ trưởng tổ Toán (04 người), GV dạy Toán (27 GV) và HS (973 em)
Trang 131.6.1.3 Nội dung khảo sát
T m hiểu nhận thức của cán bộ quản l , GV và HS về việc r n luyện kĩ năng SNT cho HS THPT nhằm bồi dưỡng năng lực phát hiện và GQVĐ trong DH HHKG
ở trường THPT hiện nay
1.6.1.5 Kết quả khảo sát (số liệu cụ thể được miêu tả ở Phụ lục 3)
Qua khảo sát thực tiễn: với các phương pháp nêu trên có thể nhận định tóm tắt
về thực trạng về việc r n luyện kĩ năng SNT cho HS THPT nhằm bồi dưỡng năng lực phát hiện và GQVĐ trong DH HHKG ở trường THPT ở Việt Nam hiện nay như sau: Hầu hết các nhà quản lý, các GV và HS chưa có sự hiểu biết về các kĩ năng SNT Do
đó, việc r n luyện kĩ năng SNT nhằm bồi dưỡng năng lực phát hiện và GQVĐ cho
HS trong DH HHKG là chưa có trong các trường THPT hiện nay Về vấn đề này, thực tế hiện nay, GV ở các trường THPT mới chỉ dừng lại ở việc hướng dẫn cho HS giải một bài toán với nhiều cách giải khác nhau và kiểm tra lại lời giải sau khi HS giải xong bài toán
1.6.2 Phân tích nguyên nhân của thực trạng
1.7 Kết luận chương 1
Trong chương 1 của luân án chúng tôi đã nghiên cứu được những vấn đề sau đây:
- T nh h nh nghiên cứu về SNT ngoài nước và trong nước
- Nghiên cứu các mô h nh khác nhau về SNT
- Xác định được thành phần, đ c điểm và chức năng của SNT
- Xác định được đối tượng của HĐ SNT
- Phân biệt được giữa nhận thức và SNT
-Nghiên cứu về vai trò của SNT trong việc dạy và học
- Đưa ra được cơ sở lý luận về các kĩ năng SNT nhằm bồi dưỡng năng lực phát hiện và GQVĐ
- Đưa ra được mối quan hệ giữa kĩ năng SNT và năng lực phát hiện và GQVĐ
- Đưa ra được các HĐ tương th ch để r n luyện kĩ năng SNT
- Đưa ra được những biểu hiện của HS có kĩ năng SNT
- Khảo sát thực trạng về việc r n luyện kĩ năng SNT nhằm bồi dưỡng năng lực phát hiện và GQVĐ cho HS trong DH HHKG ở trường THPT hiện nay