tài liệu tái bảo hiểm, kế toán bảo hiểm và tổng quan về bảo hiểm
Trang 1MỞ ĐẦU 1/ Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Kế toán, với tư cách là một bộ phận cấu thành của hệ thống công cụ quantrọng để quản lý nền kinh tế quốc dân nói chung, quản lý doanh nghiệp nói riêng,trong đó có doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH)
Là một bộ phận của nền kinh tế, hoạt động kinh doanh BH luôn đóng vaitrò tích cực cho việc duy trì sự ổn định và phát triển nền kinh tế - xã hội, nhằmthực hiện chức năng là tấm "lá chắn" kinh tế để khắc phục hậu quả tài chính dothiên tai, tai nạn bất ngờ gây ra cho nền kinh tế, cung cấp sự đảm bảo tài chínhcho các tổ chức, cá nhân tham gia BH Hoạt động kinh doanh BH tạo ra nguồnvốn nhàn rỗi lớn để đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển đất nước Trong thời giantới, với việc Việt Nam tham gia hội nhập kinh tế ở mức độ cao hơn, các Hiệp địnhThương mại tự do ASEAN, Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ có hiệulực đầy đủ và với việc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới, ngành BH sẽ phảiđối mặt với những thách thức, khó khăn không nhỏ
Vì hệ thống luật pháp là điều kiện cơ bản của hội nhập, nên việc xây dựng
và ban hành hệ thống văn bản pháp luật về BH, trong đó có hệ thống kế toán ápdụng cho các DNBH phù hợp với chuẩn mực quốc tế và thông lệ chung của cácnước về kế toán BH Từ đó, tạo môi trường pháp lý ổn định và lành mạnh, đủ hiệulực để phát triển thị trường BH đáp ứng quá trình mở cửa, hội nhập là yêu cầu hếtsức cấp bách
Tuy nhiên, cho đến nay Việt Nam chưa có các nguyên tắc, chuẩn mực kếtoán để áp dụng riêng cho DNBH Việc xây dựng và ban hành chế độ kế toán ápdụng cho DNBH chưa được tiến hành trong điều kiện giải quyết tốt mối quan hệgiữa chế độ tài chính và thuế với chế độ kế toán Nhiều nội dung quy định trongchế độ kế toán áp dụng cho DNBH còn chưa đầy đủ, rõ ràng dẫn đến tình trạng ápdụng không thống nhất, dễ tuỳ tiện trong các DNBH Vì vậy, việc hoàn thiện kếtoán BH trong xu thế mở cửa và hội nhập là cần thiết và mang tính thời sự Từ đó,
Trang 2giúp cho Nhà nước quản lý và kiểm tra, giám sát đối với DNBH và giúp DNBHnâng cao khả năng quản lý, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững trong kinh tế thịtrường.
Từ những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài "Hoàn thiện kế toán bảo hiểm trong xu thế mở cửa và hội nhập" làm đề tài nghiên cứu Luận án tiến sỹ kinh tế.
2/ Mục đích của đề tài nghiên cứu
Luận án nhằm góp phần làm rõ hơn những vấn đề lý luận về bảo hiểm,kinh doanh BH ảnh hưởng đến công tác kế toán và kế toán BH trong xu thế mởcửa và hội nhập Đồng thời, khảo sát thực tế và phân tích, đánh giá thực trạng về
hệ thống kế toán do Nhà nước quy định áp dụng cho DNBH cũng như thực tếthực hiện ở các DNBH hiện nay Từ đó, rút ra những ưu điểm và những hạn chế,đối chiếu với thông lệ quốc tế và các nước để vận dụng và đề xuất những kiếnnghị, giải pháp hoàn thiện hệ thống kế toán áp dụng cho DNBH Việt Nam
3/ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu hệ thống kế toán áp dụng cho DNBH và thực
tế thực hiện ở 2 loại hình DNBH phi nhân thọ và DNBH nhân thọ, không đề cậpđến DN môi giới BH và hoạt động BH không mang tính kinh doanh như BH xãhội, BH y tế Trong đó, luận án tập trung nghiên cứu chủ yếu vào hoàn thiệnkhung pháp lý về kế toán các hoạt động kinh doanh chủ yếu mà các DNBH phinhân thọ và DNBH nhân thọ đang tiến hành, đó là hoạt động kinh doanh BH vàhoạt động đầu tư Đối với hoạt động kinh doanh BH được nghiên cứu chi tiết theo
3 loại: Kinh doanh BH gốc, nhận tái và nhượng tái BH Do giới hạn phạm vinghiên cứu, đối với hoạt động đầu tư, Luận án chỉ đề cập đến kế toán đầu tư tráiphiếu là hoạt động đầu tư chủ yếu và quan trọng nhất hiện nay của các DNBH.Đồng thời, Luận án cũng nghiên cứu những vấn đề cơ bản tổ chức công tác kếtoán quản trị trong DNBH
4/ Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Trang 3- Luận án đã hệ thống hoá những vấn đề cơ sở lý luận tổng quan về BH và
kế toán BH trong xu thế mở cửa và hội nhập Đồng thời luận án đã khái quát cácnội dung chủ yếu của chuẩn mực quốc tế và quy định của các nước có thị trường
BH phát triển (Mỹ, Úc) về kế toán áp dụng cho DNBH
- Trên cơ sở nghiên cứu khảo sát thực tế về chế độ kế toán và chế độ tàichính, thuế áp dụng cho DNBH và thực tế thực hiện của các DNBH, luận ánkhẳng định rằng để hoàn thiện kế toán BH trong xu thế mở cửa và hội nhập cầnphải xây dựng và ban hành hệ thống kế toán áp dụng cho DNBH trên cơ sở chuẩnmực quốc tế và thông lệ các nước về kế toán BH
- Để góp phần tăng cường công tác quản lý kinh tế tài chính, phát triểnngành BH Việt Nam vững chắc trong xu thế mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế.Luận án đề xuất các vấn đề cần hoàn thiện hệ thống kế toán áp dụng cho cácDNBH, bao gồm: Nội dung các nguyên tắc kế toán, chuẩn mực kế toán và nộidung các vấn đề phải hoàn thiện chế độ kế toán áp dụng cho DNBH cho phù hợpvới từng giai đoạn, các vấn đề cần hoàn thiện trong tổ chức công tác kế toán quảntrị Đồng thời phân tích rõ các vấn đề phải sửa đổi, bổ sung trong chế độ tài chính,thuế có liên quan làm cơ sở hoàn thiện kế toán BH
Trang 4Chương 1 TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM VÀ KẾ TOÁN BẢO HIỂM
TRONG XU THẾ MỞ CỬA VÀ HỘI NHẬP
1.1 BẢO HIỂM VÀ KINH DOANH BẢO HIỂM
1.1.1 Bảo hiểm và phân loại nghiệp vụ bảo hiểm
1.1.1.1 Khái niệm bảo hiểm và kinh doanh bảo hiểm
Theo các chuyên gia bảo hiểm (BH), một định nghĩa đầy đủ và thích hợpcho BH phải bao gồm việc hình thành một quỹ tiền tệ (quỹ BH), sự chuyển giaorủi ro và kết hợp số đông các đơn vị, đối tượng riêng lẻ và độc lập, chịu cùng rủi
ro như nhau thành một nhóm tương tác
Tuy nhiên, BH do đáp ứng nhu cầu đảm bảo an toàn của con người vốn dĩrất phong phú và biến động, nên cũng rất đa dạng Rất khó tìm kiếm một địnhnghĩa về BH cho nhiều góc nhìn khác nhau, tương ứng với các lĩnh vực khác nhaucủa đời sống kinh tế - xã hội Sau đây là một số trích dẫn:
Theo Tiến sỹ David Bland, “BH là một hợp đồng theo đó một bên, (gọi làdoanh nghiệp BH - DNBH), bằng việc thu một khoản tiền (gọi là phí BH), camkết thanh toán cho bên kia (gọi là người được BH-NĐBH) một khoản tiền, hoặchiện vật tương đương với khoản tiền đó khi xảy ra một sự cố đi ngược lại quyềnlợi của NĐBH" [24]
Theo Từ điển thuật ngữ kinh doanh BH (KDBH) của Bảo Việt: “BH là cơchế chuyển giao theo hợp đồng gánh nặng hậu quả của một số rủi ro thuần tuýbằng cách chia sẻ rủi ro cho nhiều người cùng gánh chịu” [49]
Theo Từ điển BH Pháp - Việt, Nhà xuất bản Thống kê 1996:
BH là một nghiệp vụ mà theo đó, một bên là NĐBH chấp nhận trả mộtkhoản tiền gọi là phí BH hay khoản đóng góp cho chính mình hay chomột người thứ ba khác để trong trường hợp rủi ro xảy ra, sẽ được trảmột khoản bồi thường từ một bên khác là người BH, người chịu tráchnhiệm đối với toàn bộ rủi ro, đền bù những thiệt hại theo luật số lớn
Trang 5Theo Giáo trình Lý thuyết BH của Học viện Tài chính, “BH là phươngpháp chuyển giao rủi ro được thực hiện qua hợp đồng BH, trong đó bên mua BHchấp nhận trả phí BH và DNBH cam kết bồi thường hoặc trả tiền BH khi xảy ra
sự kiện BH” [45]
Sự khác nhau trong các quan niệm xuất phát từ việc nhìn nhận BH ở cácgóc độ và cách thức tiếp cận khác nhau BH là một lĩnh vực rộng và phức tạp hàmchứa yếu tố kinh doanh, pháp lý và kỹ thuật nghiệp vụ đặc trưng nên rất khó tìmđược một định nghĩa hoàn hào thể hiện được tất cả những khía cạnh đó Điều cóthể chấp nhận được là xây dựng một khái niệm từ góc độ và cách thức tiếp cậnhữu ích cho mục đích nghiên cứu Theo cách hiểu chung nhất, BH là một phươngthức chuyển giao, phân tán rủi ro trên cơ sở quy luật số đông, theo đó một bên(người tham gia BH) nộp một khoản tiền nhất định (được gọi là phí BH) cho bênkia (DNBH) để đổi lấy lời hứa rằng khi rủi ro/sự kiện BH xảy ra, DNBH sẽ bồithường hoặc trả tiền BH cho NĐBH hoặc người thụ hưởng BH
Khái niệm đưa ra ở đây muốn nhấn mạnh nguồn gốc ra đời như một loạiphương pháp chuyển giao rủi ro; đặc thù pháp lý: hợp đồng và các chủ thể đặctrưng của quan hệ BH
Hiện nay, hoạt động BH ở Việt Nam tồn tại dưới 2 dạng: Hoạt động BHkhông mang tính kinh doanh (hay còn gọi là BHXH) và hoạt động BH mang tínhkinh doanh (hay còn gọi là KDBH)
Mặc dù đều vận dụng nguyên tắc tương hỗ, số lớn bù số ít để chuyển giaorủi ro giữa những NĐBH và các nguồn tài chính đóng góp được tập trung quản lý,đầu tư trong thời gian tạm thời nhàn rỗi bởi các tổ chức BH, BHXH và KDBH làhai hệ thống hoàn toàn độc lập và có những điểm khác biệt như sau [45]:
- BHXH không có mục đích kinh doanh mà nhằm thực hiện phúc lợi xãhội Hoạt động BHXH được tiến hành bởi cơ quan BHXH quản lý thống nhất từtrung ương đến cơ sở, trong khi đó KDBH được thực hiện bởi sự vận hành của thịtrường BH với sự tham gia của các DNBH, môi giới BH và đại lý BH
- Phạm vi BH của BHXH chỉ giới hạn cho các rủi ro ảnh hưởng đến tính
Trang 6mạng, sức khoẻ, khả năng lao động của con người mà không bảo đảm cho nhữngrủi ro tác động trực tiếp đến các đối tượng là tài sản và trách nhiệm dân sự.
- Về cơ bản, mức đóng góp BHXH được ấn định thống nhất bởi quy địnhchung của luật pháp, phụ thuộc chủ yếu vào thu nhập của NĐBH không giống cácyếu tố định phí BH rất linh hoạt trong KDBH Các khoản chi trả BHXH được tínhtheo những căn cứ, định mức cụ thể, thống nhất và phụ thuộc vào mức đóng gópBHXH rất khác với việc xác định số bồi thường hoặc tiền trả BH dựa trên nhiềunguyên tắc, phương pháp khác nhau trong hoạt động KDBH
- BHXH không áp dụng nguyên tắc sàng lọc đối tượng BH và phân chia rủi
ro nhưng đây là những nguyên tắc kỹ thuật quan trọng của hoạt động KDBH
- Quyền được nhận các khoản trả BHXH được bảo đảm bởi việc tham giađóng góp BHXH Việc tham gia BHXH chủ yếu là theo quy định bắt buộc, trongkhi đó các hợp đồng BH là thoả thuận giữa DNBH và bên mua BH (ngay cả đốivới những loại BH bắt buộc, các tổ chức, cá nhân tham gia BH vẫn có quyền lựachọn DNBH và thoả thuận một số điều khoản của hợp đồng BH)
Cho dù nhiều điểm khác biệt như trên, BHXH không loại trừ hoạt độngKDBH mà cùng tồn tại để bổ sung cho nhau Trong khi BHXH mang lại sự bảođảm cơ bản có tính đồng loạt cho một bộ phận nhất định dân chúng trước một sốrủi ro chung thì hoạt động KDBH cung cấp hàng loạt các sản phẩm BH nhằm đápứng nhu cầu đa dạng có thể là cao hơn, đặc biệt hơn, rộng rãi hơn của các thànhviên xã hội Theo Luật kinh doanh BH (Điều 3, Chương 1) thì: “Kinh doanh BH
là hoạt động của DNBH nhằm mục đích sinh lợi, theo đó DNBH chấp nhận rủi rocủa NĐBH, trên cơ sở bên mua BH đóng phí BH để DNBH trả tiền BH cho ngườithụ hưởng hoặc bồi thường cho NĐBH khi xảy ra sự kiện BH” [46]
Như vậy, hoạt động KDBH bảo đảm sự ổn định tài chính cho nền kinh tế,chống lại các nguy cơ rủi ro; giải quyết các vấn đề xã hội như tạo thêm công ănviệc làm cho người lao động, nâng cao nhận thức của người dân về vai trò và ýnghĩa của BH Đối tượng tham gia BH mang tính kinh doanh là tổ chức, cá nhânthuộc mọi thành phần kinh tế theo nguyên tắc tự nguyện Đối tượng được BH là
Trang 7con người, tài sản và trách nhiệm dân sự Hoạt động KDBH do các DNBH tiếnhành và nó tạo ra nguồn vốn nhàn rỗi lớn để đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển đấtnước Thông qua hoạt động đầu tư vốn, ngành BH đã góp phần thúc đẩy hìnhthành thị trường tài chính, thị trường vốn và có vai trò đặc biệt quan trọng trong
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Qui mô hoạt động KDBH không chỉ giới hạn trong phạm vi một quốc gia
mà còn hoạt động rộng khắp vượt ra ngoài phạm vi quốc gia thông qua các nghiệp
vụ tái BH và nhận tái BH
1.1.1.2 Phân loại nghiệp vụ bảo hiểm
Nghiệp vụ BH được phân loại theo nhiều cách khác nhau tuỳ theo mụcđích của các nhà lập pháp và DNBH Tuy nhiên, liên quan đến những vấn đề kếtoán, các nghiệp vụ BH được phân loại theo các tiêu thức sau đây:
Một là, phân loại nghiệp vụ BH theo đối tượng BH, theo tiêu thức này, các
loại nghiệp vụ BH được xếp vào 3 nhóm: BH tài sản, BH trách nhiệm dân sự và
BH con người
- Bảo hiểm tài sản, bao gồm những nghiệp vụ BH có đối tượng BH là các
tài sản và những lợi ích liên quan, như BH hàng hoá xuất nhập khẩu, BH vật nuôi,cây trồng, BH công trình xây dựng, lắp đặt,
- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự, bao gồm những nghiệp vụ BH có đối
tượng BH là trách nhiệm bồi thường của NĐBH phát sinh theo quy định về tráchnhiệm dân sự của pháp luật, như BH trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, BHtrách nhiệm của chủ sử dụng lao động, BH trách nhiệm sản phẩm,
- Bảo hiểm con người, bao gồm những nghiệp vụ BH có đối tượng BH là
tuổi thọ, tính mạng, sức khoẻ và tai nạn con người BH con người được chia thành
BH nhân thọ và BH con người phi nhân thọ
BH nhân thọ có các loại cơ bản sau: BH cho sự kiện tử vong của NĐBH,
BH cho sự kiện còn sống của NĐBH, BH nhân thọ hỗn hợp
BH con người phi nhân thọ có các dạng cơ bản sau: BH tai nạn, BH sức
khoẻ, BH sinh mạng, BH kết hợp
Trang 8Hai là, phân loại nghiệp vụ BH theo luật định: Luật Kinh doanh BH (điều
7, chương I) đã phân chia các nghiệp vụ BH thành 2 nhóm, gồm 18 nghiệp vụ:
Nhóm 1: BH nhân thọ bao gồm 6 nghiệp vụ: BH trọn đời, BH sinh kỳ, BH tử
kỳ, BH hỗn hợp, BH trả tiền định kỳ và các nghiệp vụ BH nhân thọ khác
Nhóm 2: BH phi nhân thọ bao gồm 12 nghiệp vụ: BH sức khỏe và BH tai nạn
con người; BH tài sản và BH thiệt hại; BH hàng hóa vận chuyển đường bộ, đườngbiển, đường sông, đường sắt và đường hàng không; BH hàng không; BH xe cơgiới; BH cháy, nổ; BH thân tàu và trách nhiệm dân sự của chủ tàu; BH tráchnhiệm chung; BH tín dụng và rủi ro tài chính; BH thiệt hại kinh doanh; BH nôngnghiệp và các nghiệp vụ BH phi nhân thọ khác
Ba là, phân loại nghiệp vụ BH theo kỹ thuật quản lý nghiệp vụ [42], theo
tiêu thức này, các nghiệp vụ BH được phân thành 2 loại sau:
+ Các nghiệp vụ BH được quản lý theo kỹ thuật phân chia: Kỹ thuật phân
chia được hiểu là DNBH thu phí BH cho một niên độ và sử dụng vào việc bồithường cho những thiệt hại xảy ra trong niên độ, phí BH không đưa vào tích luỹ
để trả lại cho NĐBH vào thời điểm kết thúc hợp đồng Nếu hợp đồng BH chưa kếtthúc hiệu lực vào cuối năm tài chính, thì DNBH sẽ phân bổ một phần phí BHtương ứng với thời gian hiệu lực còn lại cho năm tài chính sau để bồi thường chonhững rủi ro có thể xảy ra Đây chính là cơ sở quan trọng của việc hình thành cáckhoản dự phòng nghiệp vụ sẽ được nghiên cứu ở phần sau
Kỹ thuật phân chia được áp dụng cho các hợp đồng ngắn hạn, rủi ro ổnđịnh trong suốt thời hạn của hợp đồng BH Như vậy, các nghiệp vụ được quản lýtheo kỹ thuật phân chia chủ yếu là các nghiệp vụ BH phi nhân thọ
+ Các nghiệp vụ BH được quản lý theo kỹ thuật tồn tích: Kỹ thuật tồn tích
là kỹ thuật quản lý đặc thù của BH nhân thọ (những nghiệp vụ BH dài hạn) Kỹthuật này dựa trên việc tích luỹ các khoản phí tiết kiệm (một phần phí BH) đượcxác định bằng phương pháp toán học để nhằm thực hiện các cam kết của DNBHđối với người tham gia BH trong suốt thời gian hiệu lực của hợp đồng Nhữngkhoản phí BH sẽ được DNBH đầu tư trên thị trường vốn và các khoản lãi thu
Trang 9được tích luỹ để tiếp tục đầu tư sinh lời DNBH sẽ thanh toán khoản tiết kiệmdưới hình thức số tiền BH hoặc các khoản trợ cấp định kỳ cho người thụ hưởngkhi xảy ra sự kiện BH hoặc khi người thụ hưởng sống đến một thời điểm quyđịnh.
Với kỹ thuật tồn tích vốn, các nghiệp vụ BH nhân thọ dài hạn đã tạo ra sựtích tụ các nguồn vốn to lớn để tài trợ cho nền kinh tế Hoạt động đầu tư vốn củaDNBH nhằm mục đích đảm bảo thực hiện các cam kết của mình
Phân loại nghiệp vụ BH theo tiêu thức này có ý nghĩa quan trọng, tạo cơ sởcho việc nghiên cứu nguyên tắc, phương pháp kế toán phản ánh sự hình thành và
sử dụng các khoản dự phòng nghiệp vụ BH
Bốn là, phân loại nghiệp vụ BH theo tính chất BH (tính bắt buộc hoặc tự nguyện), theo tiêu thức này, các nghiệp vụ KDBH được phân thành hai nhóm:
+ Nhóm BH tự nguyện: Bao gồm những nghiệp vụ BH mà hợp đồng BH
được ký kết theo ý nguyện của bên mua BH và dựa trên nguyên tắc thoả thuận.Đại bộ phận các nghiệp vụ BH thuộc loại BH tự nguyện
+ Nhóm BH bắt buộc: Bao gồm những nghiệp vụ BH mà pháp luật có quy
định về nghĩa vụ tham gia BH của các tổ chức, cá nhân có mối quan hệ nhất địnhvới loại đối tượng bắt buộc phải được BH Các nghiệp vụ BH được triển khai theoquy định của luật pháp
1.1.2 Đặc điểm hợp đồng bảo hiểm và hoạt động kinh doanh bảo hiểm
1.1.2.1 Đặc điểm hợp đồng bảo hiểm
Hợp đồng BH là sự thoả thuận bằng văn bản giữa bên mua BH và DNBH.Đặc trưng cơ bản của hợp đồng BH là:
- Bên mua BH phải đóng phí BH cho DNBH trước khi xảy ra các sự kiệnđược BH, DNBH phải bồi thường hoặc chi trả tiền BH khi xảy ra sự kiện BH đãquy định trong hợp đồng
- Hợp đồng BH được thiết lập để BH cho các sự kiện không chắc chắn,DNBH có thể sẽ phải chi trả tiền nếu rủi ro xảy ra và không phải chi trả tiền nếu
Trang 10rủi ro không xảy ra Bên mua BH thường phải đóng phí BH ngay khi ký kết hợpđồng còn DNBH chỉ thực hiện chi trả tiền khi xảy ra rủi ro. Do đó, chu trìnhKDBH là DNBH phải thu tiền trước, chi trả sau và được gọi là chu trình kinhdoanh đảo ngược.
- Hợp đồng BH phải được lập thành văn bản và bằng chứng giao kết củahợp đồng BH là giấy chứng nhận BH, đơn BH, điện báo, telex, fax và các hìnhthức khác theo quy định Theo thời hạn, hợp đồng BH có 2 loại: Hợp đồng ngắnhạn và hợp đồng dài hạn Thời hạn của hợp đồng BH chi phối nguyên tắc xác địnhdoanh thu, chi phí, nợ phải trả, nguồn vốn nhàn rỗi của từng hợp đồng BH
1.1.2.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh bảo hiểm ảnh hưởng đến công tác
kế toán
Thứ nhất, Kinh doanh bảo hiểm là một ngành dịch vụ
Hoạt động kinh doanh của DNBH chủ yếu có 2 loại: KDBH và hoạt độngđầu tư, trong đó KDBH bao gồm 3 loại hoạt động là BH gốc, nhận tái BH vànhượng tái BH
- Kinh doanh bảo hiểm gốc: Là việc DN cung cấp các dịch vụ BH trực tiếp
cho các tổ chức, cá nhân tham gia BH
- Kinh doanh nhận tái bảo hiểm: Là việc DNBH, DN tái BH nhận một
phần hay toàn bộ rủi ro của DNBH khác
- Kinh doanh nhượng tái bảo hiểm: Là việc DNBH, DN tái BH chuyển một
phần hay toàn bộ rủi ro đã nhận BH cho DNBH khác
Cụ thể, sau khi ký hợp đồng trực tiếp với bên mua BH, DNBH gốc có thểphải ký hợp đồng tái BH, chuyển một phần trách nhiệm đã nhận BH và phí BHcho các DN nhận tái BH Khi có tổn thất thuộc trách nhiệm BH, DN nhận tái BH
sẽ bồi thường lại cho DNBH gốc một phần tổn thất tương ứng với phần tráchnhiệm đã nhận
Do nhu cầu BH đa dạng với những đối tượng BH có giá trị lớn với rủi ronguy hiểm; thực tế có khả năng xảy ra thiệt hại hết sức lớn, thậm chí không xácđịnh trước được giá trị thiệt hại tối đa có thể, trong khi đó khả năng tài chính của
Trang 11Người được bảo hiểm rủi ro
Người BH gốc (trực tiếp) Hay người nhượng tái BH
Hợp đồng BH
Người nhận tái BH C (Người nhận chuyển nhượng tái BH)
Các hợp đồng tái BH
từng DNBH dù mạnh đến mấy, cũng bị khống chế ở một mức độ nhất định và rấtkhó co dãn trước nhu cầu rất khác nhau đó Từng DNBH hoạt động đơn độc khó
có thể đáp ứng được những trường hợp vượt quá khả năng tài chính cho phép Do
đó, tái BH và nhượng tái BH là những nghiệp vụ không thể thiếu được trongKDBH và các DNBH phải phối hợp hoạt động để thoả mãn tối đa nhu cầu BH của
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ về quan hệ giữa 3 loại BH
b ả o hiểm
C h u
t r ì n hhoạt động KDBH ngược với chu trình SXKD thông thường, trong đó DNBH bán
"Lời cam kết", phí BH được thu trước và chi bồi thường hoặc trả tiền BH được
thực hiện sau khi xảy ra sự kiện BH Đặc điểm này tạo ra một khối lượng tiền
Trang 12nhàn rỗi trong suốt quá trình hoạt động của DNBH từ khi thu phí cho đến khi trảtiền BH hoặc bồi thường BH Do vậy, DNBH đã trở thành những nhà đầu tư lớn,quan trọng của nền KTQD Nó không chỉ đóng vai trò của một công cụ an toàn
mà còn có vai trò của một trung gian tài chính quan trọng của nền kinh tế
Mặt khác, hoạt động KDBH dựa trên "quy luật số lớn"; quy luật số lớn ở
đây được hiểu không chỉ là số đông các rủi ro thuộc một sản phẩm BH mà còn là
số đông rủi ro của nhiều loại sản phẩm BH do DNBH tiến hành Vì vậy, hoạtđộng KDBH thực chất là thiết lập một quỹ phí BH từ sự đóng góp của các bênmua BH Quỹ này có quy mô lớn hơn rất nhiều quỹ dự trữ do các cá nhân đơn lẻlập ra và có khả năng đáp ứng các nhu cầu tài chính to lớn phát sinh do xảy ra cácrủi ro có mức độ thiệt hại tài chính nghiêm trọng
Thứ ba, Đặc điểm hoạt động tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm
Do thời gian thu phí BH và chi bồi thường hoặc trả tiền BH tách rời nhau,thậm chí cách xa nhau hàng chục năm đối với KDBH nhân thọ Từ đó tạo ranguồn vốn nhàn rỗi rất lớn trong các DNBH Do đó, hoạt động đầu tư luôn gắnvới KDBH và nó có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự tồn tại của một DNBH,trong xu thế KDBH khi các khoản lãi từ việc kinh doanh các sản phẩm BH ngàycàng giảm sút thì hoạt động đầu tư sẽ mang tính quyết định tạo ra lợi nhuận choDNBH, cụ thể:
- Trong KDBH nhân thọ, đầu tư vốn nhàn rỗi là một sự bắt buộc, tương tựnhư các ngân hàng thương mại Vốn đầu tư được sử dụng từ nhiều nguồn khácnhau: từ vốn điều lệ, quỹ dự trữ bắt buộc, các khoản dự phòng nghiệp vụ, Nguồn vốn này có quy mô tương quan tỷ lệ thuận với quy mô KDBH
- Hoạt động đầu tư được thực hiện dưới nhiều hình thức Nguyên tắc đầu
tư là: an toàn, sinh lời và đảm bảo khả năng thanh toán bồi thường hay trả tiền BHkhi xảy ra sự kiện BH
1.1.3 Đặc điểm chi phí, doanh thu và dự phòng nghiệp vụ
1.1.3.1 Đặc điểm chi phí của doanh nghiệp bảo hiểm
* Chi phí trực tiếp kinh doanh bảo hiểm
Trang 13Theo mục đích và công dụng của chi phí, chi phí trực tiếp KDBH gồm cácnội dung sau:
- Chi bồi thường (trong BH phi nhân thọ) hoặc trả tiền BH (trong BH phi
nhân thọ) khi xảy ra sự kiện BH Chi bồi thường có 2 loại:
+ Chi bồi thường BH gốc: Là số tiền mà DNBH chi trả trực tiếp cho
NĐBH hoặc người thụ hưởng BH khi xảy ra sự kiện BH thuộc phạm vi tráchnhiệm của các hợp đồng BH gốc
+ Chi bồi thường nhận tái BH: là số tiền mà DNBH phải trả cho DN
nhượng tái BH khi xảy ra tổn thất thuộc trách nhiệm nhận tái BH
- Chi hoa hồng: Là khoản chi phí phát sinh trong quá trình khai thác giành
dịch vụ BH mà DNBH trả cho các trung gian BH hoặc DN nhượng tái BH khi
nhận được dịch vụ BH Chi hoa hồng có 2 loại:
+ Chi hoa hồng BH gốc: Là khoản tiền mà DNBH trả cho các đại lý, môi
giới BH khi các trung gian này mang lại các hợp đồng BH cho DNBH
+ Chi hoa hồng nhận tái BH: Là khoản tiền mà DNBH trả cho DN nhượng
tái BH khi DN này chuyển nhượng dịch vụ cho DNBH
Khác với các hoạt động kinh doanh khác, chi hoa hồng BH được hạch toánvào chi phí trực tiếp KDBH mà không hạch toán vào chi phí bán hàng
- Dự phòng nghiệp vụ: Là các khoản trích lập dự phòng nghiệp vụ theo quy
định được tính vào chi phí trực tiếp KDBH vào cuối năm tài chính
- Chi giám định tổn thất: Là khoản tiền chi ra để thực hiện việc giám định
các tổn thất thuộc trách nhiệm BH
- Chi đánh giá rủi ro của các đối tượng BH: Là các khoản chi cho công
việc thu thập thông tin, điều tra và thẩm định về đối tượng BH trước khi DNBH
ký kết hợp đồng và trong quá trình thực hiện hợp đồng BH
- Chi đòi người thứ ba: Là khoản tiền mà DNBH chi ra để yêu cầu những
người gây thiệt hại cho đối tượng BH mà theo quy định DNBH được thế quyềnNĐBH để đòi bồi thường
- Chi xử lý hàng bồi thường 100%: Là khoản chi cho việc bán, thanh lý
Trang 14những đối tượng BH tổn thất toàn bộ đã được bồi thường và DNBH được quyềnthu hồi
- Chi đề phòng, hạn chế rủi ro, tổn thất: Là khoản chi cho việc tổ chức các
biện pháp phòng ngừa rủi ro và hạn chế tổn thất cho các đối tượng BH đượcDNBH bảo đảm theo các hợp đồng
- Các khoản chi phí khác.
* Các khoản ghi giảm chi phí trực tiếp kinh doanh bảo hiểm
Trong hoạt động KDBH gốc, khi xảy ra tai nạn, tổn thất, DNBH phải giámđịnh, giải quyết và chi trả bồi thường cho NĐBH theo hợp đồng, sau đó mới thubồi thường phần trách nhiệm của nhà nhận tái BH, thu đòi người thứ ba và thuhàng đã xử lý bồi thường 100% Vì vậy, các khoản trên được ghi giảm chi phí đểxác định chi bồi thường thuần của hoạt động KDBH gốc
* Chi phí tài chính
Khác với doanh nghiệp SXKD, trong KDBH nhân thọ, có khoản chi phí tàichính đặc thù là lãi trả cho các chủ hợp đồng BH nhân thọ: Là khoản tiền DNBHcam kết trả cho chủ hợp đồng BH nhân thọ đã ký kết
1.1.3.2 Đặc điểm doanh thu và xác định kết quả kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm
* Doanh thu hoạt động KDBH bao gồm các khoản:
- Doanh thu phí BH có 2 loại: Doanh thu phí BH gốc và phí nhận tái BH;
- Doanh thu về hoa hồng nhượng tái BH;
- Doanh thu từ các dịch vụ đại lý giám định tổn thất, đại lý xét giải quyếtbồi thường và yêu cầu người thứ 3 bồi hoàn, đại lý xử lý hàng bồi thường 100%
* Các khoản điều chỉnh giảm doanh thu hoạt động KDBH có 3 loại:
+ Phí chuyển nhượng tái BH cho các DN nhận tái BH.
+ Các khoản hoàn phí BH gốc, phí nhận tái BH, hoặc hoàn hoa hồngnhượng tái BH do thay đổi hợp đồng
+ Các khoản giảm phí BH gốc, phí nhận tái BH, hoặc giảm hoa hồngnhượng tái BH do không xảy ra tai nạn, tổn thất theo hợp đồng cam kết
Trang 15- Doanh thu hoạt động tài chính: gồm các tiền lãi, cổ tức và lợi nhuận
được chia và các khoản khác liên quan đến hoạt động tài chính
* Đặc điểm về xác định kết quả kinh doanh: Do đặc thù của KDBH,
DNBH chỉ xác định kết quả kinh doanh vào cuối năm tài chính
1.1.3.3 Đặc điểm dự phòng nghiệp vụ
Dự phòng nghiệp vụ BH là một trong các yếu tố quan trọng nhất đối với
sự tồn tại của DNBH Đó là khoản tiền mà DNBH bắt buộc phải trích lập nhằmmục đích thanh toán cho những trách nhiệm BH được xác định trước và phát sinh
từ hợp đồng BH được giao kết Tính chất bắt buộc của việc trích lập dự phòng BHđược bắt nguồn từ 2 phương diện: kỹ thuật nghiệp vụ BH và luật pháp
Từ phương diện kỹ thuật nghiệp vụ: Trong hoạt động KDBH, năm nghiệp
vụ và năm tài chính về cơ bản không trùng nhau Năm tài chính của DNBHthường bắt đầu từ ngày 01/01 và kết thúc vào ngày 31/12 mỗi năm dương lịch.Thời hạn BH khác nhau tuỳ theo từng loại nghiệp vụ BH nên trách nhiệm củaDNBH phát sinh trong năm tài chính này nhưng lại giải quyết vào năm tài chínhsau Để thực hiện các cam kết với bên mua BH là thanh toán các trách nhiệmđược xác định trước và phát sinh từ hợp đồng BH đã ký kết, DNBH phải trích lậpcác loại dự phòng nghiệp vụ
Trên phương diện luật pháp: Luật pháp của các quốc gia đều phải bảo vệ
tối đa quyền lợi của NĐBH trước DNBH Bởi vậy Nhà nước kiểm tra chặt chẽkhả năng thanh toán của DNBH, tránh việc DNBH thu phí mà không thực hiệncam kết vào thời điểm cần thiết đối với NĐBH Ở các nước, luật pháp bắt buộcDNBH phải luôn dự trữ đầy đủ khoản phí BH thu được để có khả năng thực hiệnđược các cam kết của mình Phần phí giữ lại được sử dụng để bồi thường chonhững tổn thất xảy ra thuộc phạm vi của hợp đồng BH đã ký kết Ở nước ta, LuậtKinh doanh BH quy định tại Điều 77, Khoản 2: "DNBH được coi là đủ khả năngthanh toán khi đã trích lập đầy đủ dự phòng nghiệp vụ " Dự phòng nghiệp vụluôn là đối tượng kiểm tra, giám sát của Nhà nước đối với DNBH Kiểm tra việctrích lập đúng, đủ dự phòng nghiệp vụ sẽ cho thấy DNBH có tôn trọng các cam
Trang 16kết với NĐBH hay không Từ đó, bảo vệ quyền lợi của người tham gia BH vàDNBH tập trung nguồn vốn đầu tư dài hạn cho nền kinh tế.
Mỗi loại hình KDBH có các nghiệp vụ dự phòng khác nhau Cụ thể là:
- Trong KDBH phi nhân thọ: có 3 loại dự phòng chủ yếu
+Dự phòng phí chưa được huởng (gọi tắt là dự phòng phí): được sử dụng
để bồi thường cho trách nhiệm sẽ phát sinh trong thời gian còn hiệu lực của hợpđồng BH trong năm tiếp theo Cơ sở thiết lập của dự phòng phí là sự khác biệtgiữa năm tài chính và thời gian hiệu lực của hợp đồng BH
Các DNBH khoá sổ kế toán vào cuối năm tài chính để xác định kết quảkinh doanh, nhưng các hợp đồng BH được ký kết ở mọi thời điểm trong năm Ởthời điểm cuối năm tài chính sẽ có nhiều hợp đồng BH mà hiệu lực kéo dài sangnăm tài chính sau Như vậy, DNBH phải trích lại một phần phí BH tương ứng vớithời gian hiệu lực còn lại của các hợp đồng BH để đảm bảo chi trả cho những rủi
ro và chi phí liên quan có thể phát sinh từ những hợp đồng này
+ Dự phòng bồi thường cho khiếu nại chưa giải quyết (gọi tắt là dự phòng bồi thường): Được sử dụng để bồi thường cho các tổn thất đã phát sinh thuộc
trách nhiệm BH chưa khiếu nại hoặc đã khiếu nại nhưng đến cuối năm tài chínhchưa được giải quyết
Việc trích lập dự phòng bồi thường là xuất phát từ sự khác biệt về thờiđiểm xảy ra tổn thất và thời điểm bồi thường và tính không chắc chắn trong việckhai báo tổn thất, phân chia trách nhiệm và mức độ thiệt hại Mặt khác, do thu tiềntrước khi bồi thường và trả tiền BH nên DNBH phải luôn duy trì khoản dự phòng
để thực hiện các cam kết với người tham gia BH vào bất kỳ thời điểm nào Vìmục đích bồi thường vào bất cứ thời điểm nào cho những tổn thất chưa xảy ra khihợp đồng đang có hiệu lực, DNBH phải trích lập các loại dự phòng nghiệp vụ
Trong KDBH phi nhân thọ, có nhiều tổn thất xảy ra nhưng chưa được bồithường ngay trong năm tài chính, thời gian giải quyết bồi thường có thể kéo dàinhiều năm, đặc biệt là BH trách nhiệm dân sự có tổn thất phức tạp kéo theo sựkiện tụng đòi hỏi DNBH phải lập dự phòng để đảm bảo cho những tổn thất phải
Trang 17bồi thường.
+ Dự phòng bồi thường cho các dao động lớn về tổn thất: Được sử dụng
để bồi thường khi có dao động lớn về tổn thất hoặc tổn thất lớn xảy ra mà tổng phí
BH giữ lại trong năm tài chính sau khi đã trích lập dự phòng phí chưa được hưởng
và dự phòng bồi thường cho khiếu nại chưa giải quyết không đủ để chi trả tiền bồithường đối với phần trách nhiệm giữ lại của DNBH
Trong KDBH nhân thọ: Có 5 loại dự phòng
+ Dự phòng toán học: Là khoản chênh lệch giữa giá trị hiện tại của số tiền
BH và giá trị hiện tại của phí BH sẽ thu được trong tương lai, được sử dụng để trảtiền BH đối với những trách nhiệm đã cam kết khi xảy ra sự kiện BH
+ Dự phòng phí chưa được hưởng áp dụng đối với các hợp đồng BH nhân thọ có thời hạn dưới một năm: Được sử dụng để trả tiền BH sẽ phát sinh trong
thời gian còn hiệu lực của hợp đồng BH trong năm tiếp theo:
+ Dự phòng bồi thường: Được sử dụng để trả tiền BH khi xảy ra sự kiện
BH nhưng đến cuối năm tài chính chưa được giải quyết
+ Dự phòng cam kết chia lãi: Được sử dụng để trả lãi mà DNBH đã thoả
thuận với bên mua BH trong hợp đồng BH
+ Dự phòng bảo đảm cân đối: Được sử dụng để trả tiền BH khi xảy ra sự
kiện BH do có biến động lớn về tỷ lệ tử vong, lãi suất kỹ thuật và giá trị của cáctài sản đầu tư
1.2 XU THẾ MỞ CỬA, HỘI NHẬP VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM 1.2.1 Sự cần thiết của hội nhập quốc tế trong lĩnh vực bảo hiểm
Hiện nay, xu hướng toàn cầu hoá và khu vực hoá đang diễn ra trong mọi lĩnhvực của đời sống kinh tế - xã hội, đòi hỏi mỗi quốc gia, chính phủ và mỗi ngànhcủa nền KTQD phải có những chính sách điều chỉnh thích hợp, theo hướng từngbước hoà nhập vào khuôn khổ pháp lý, cơ cấu tổ chức, trình độ phát triển của thếgiới và khu vực
Bản chất của hoạt động KDBH là phân tán, chia sẻ rủi ro Thị trường BH
Trang 18Việt Nam cũng giống như bất cứ thị trường BH nào trên thế giới đều có mối quan
hệ tái BH với các thị trường BH quốc tế như thị trường BH Luân Đôn, Hoa Kỳ,Nhật Bản và Châu Âu, Do đó, hoạt động của các thị trường BH trên thế giới gắnkết và hợp tác với nhau để duy trì sự ổn định của toàn bộ hệ thống
Ngoài đặc điểm chung xuất phát từ bản chất của chính hoạt động KDBH, từkhi Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành, các nhà đầu tư nướcngoài làm ăn tại Việt Nam đều có mong muốn được BH với các nhà BH quốc tếđược phép hoạt động tại Việt Nam Vì vậy, việc tham gia của các DNBH nướcngoài tại Việt Nam cũng là yêu cầu đòi hỏi cấp thiết để cải thiện môi trường đầu
tư nước ngoài và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Hơn nữa, trong quá trình ký kết các Hiệp định thương mại song phương và
đa phương, các đối tác thương mại lớn của Việt Nam như Hoa Kỳ, EU đều đòi hỏiViệt Nam phải mở cửa thị trường BH như một điều kiện để thúc đẩy trao đổithương mại hai chiều và thúc đẩy việc xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang cácnước đó [20]
Như vậy, sự phát triển của hoạt động KDBH ở Việt Nam không thể tách rời
và đứng ngoài xu thế hội nhập quốc tế Trước nhu cầu phát triển mạnh mẽ củangành BH để đáp ứng các nhu cầu của nền KTQD, việc từng bước hội nhập quốc
tế trong lĩnh vực BH là một tất yếu khách quan, đòi hỏi phải được nghiên cứu đểsớm triển khai đồng bộ với các phân ngành khác trong lĩnh vực dịch vụ tài chính
1.2.2 Quan điểm hội nhập quốc tế trong lĩnh vực bảo hiểm
Trong quan hệ thương mại quốc tế, mở cửa thị trường là một quá trình vớinhiều bước nối tiếp nhau Theo một nghiên cứu của UNCTAD, qúa trình mở cửathị trường BH bao gồm các cấu phần sau đây:
- Thiết lập điều kiện cạnh tranh cần thiết lành mạnh;
- Chuyển đổi từ cơ chế cơ quan quản lý nhà nước điều tiết hoặc ấn định tỷ lệphí BH sang cơ chế thị trường quyết định giá cả của sản phẩm BH;
- Giảm dần mức độ kiểm soát đối với sản phẩm BH;
- Cho phép các nhà đầu tư tư nhân trong nước và nước ngoài tham gia vào
Trang 19thị trường [20].
Trong điều kiện của Việt Nam hiện nay, quan điểm hội nhập quốc tế tronglĩnh vực BH là thực hiện trên cơ sở phù hợp với trình độ phát triển của thị trường
và theo lộ trình phù hợp, mở cửa một cách chọn lọc và có điều kiện Cụ thể là:
Một là, quan điểm khuyến khích đầu tư nước ngoài và mở cửa thị trường BH phải được thực hiện từng bước, phù hợp với mức độ phát triển của thị trường.
Hiến pháp Nước CHXHCN Việt Nam và Luật Đầu tư nước ngoài đã thểhiện rõ quan điểm của Việt Nam trong thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài vàphát triển hội nhập Quan điểm phát triển ngành BH là “thu hút các nguồn lựctrong nước và nước ngoài cho đầu tư phát triển kinh tế xã hội; nâng cao năng lựctài chính, kinh doanh của các DN hoạt động KDBH, đáp ứng yêu cầu cạnh tranh
Hai là, mở cửa thị trường BH không đồng nhất với việc nới lỏng các quy định quản lý nhà nước.
Bên cạnh những nguyên tắc hội nhập quốc tế về tiếp cận thị trường và đãingộ quốc gia, phải đảm bảo không hạn chế chủ quyền quốc gia trong việc duy trìhay áp dụng mới các biện pháp quản lý nhà nước phục vụ cho các mục tiêu quốcgia, đặc biệt là trong điều kiện ngành BH nước ta còn đang non trẻ và ở trong giaiđoạn phát triển ban đầu Do BH là một ngành dịch vụ tài chính nhạy cảm đòi hỏiphải có sự quản lý nhà nước hết sức chặt chẽ, quá trình mở cửa thị trường phảiđược thực hiện trên cơ sở vừa từng bước xoá bỏ các hàng rào tiếp cận thị trường,các biện pháp phân biệt đối xử; vừa tăng cường các yêu cầu về các chuẩn mực
Trang 20nghiệp vụ để đảm bảo tăng cường chất lượng dịch vụ vừa bảo vệ được quyền lợicủa bên mua BH.
Ba là, mở cửa thị trường BH phải được thực hiện một cách chọn lọc trên cơ
sở định hướng phát triển thị trường BH Việt Nam.
Các đối tác nước ngoài xin phép đầu tư hoạt động tại Việt Nam phải lànhững DNBH có khả năng tài chính vững mạnh, đã có uy tín trên thị trường BHquốc tế, đã thành công trong việc triển khai hoạt động KDBH tại các nước có điềukiện, hoàn cảnh kinh tế xã hội tương tự Việt Nam Các đối tác này phải có đónggóp vào việc phát triển thị trường BH, có quan hệ hợp tác với các đối tác ViệtNam, có chương trình đào tạo và chuyển giao công nghệ quản lý cho Việt Nam.Lĩnh vực xem xét cho các DNBH nước ngoài đang hoạt động tại Việt Namphải là các lĩnh vực đóng góp thiết thực cho sự phát triển kinh tế - xã hội mà nềnkinh tế có nhu cầu nhưng các DNBH trong nước chưa có khả năng triển khai, đặcbiệt là các loại hình BH trách nhiệm nghề nghiệp, BH tín dụng và rủi ro tài chính,các sản phẩm BH đầu tư dài hạn,… [20]
1.2.3 Ảnh hưởng của xu thế mở cửa và hội nhập đối với sự phát triển của hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam
Theo nội dung và lộ trình thực hiện các cam kết hội nhập kinh tế đa phương
và song phương trong lĩnh vực BH (xem phụ lục số 1), Việt Nam đã có nhữngbước đi tuần tự để “mở cửa” thị trường BH trong nước bằng cách cho phép thànhlập thêm các DNBH; các DNBH nước ngoài được mở văn phòng đại diện tại ViệtNam; cho phép các DNBH nước ngoài liên doanh với các DN trong nước của ViệtNam để tiến hành hoạt động KDBH Cho đến nay, Việt Nam có 26 DNBH thuộcmọi thành phần kinh tế, trong đó có 14 DNBH có vốn đầu tư nước ngoài (baogồm 7 công ty liên doanh và 7 DNBH 100% vốn đầu tư nước ngoài) Tới năm
2002, quy mô về vốn và thị phần của các DNBH có vốn đầu tư nước ngoài đãchiếm tới 53% và 35% tương ứng Có thể nói, Việt Nam đã thực hiện chính sách
mở cửa thị trường BH rất tích cực so với các nước trong khu vực
Là một ngành dịch vụ tài chính linh hoạt và được đánh giá là rất “nhạy cảm”
Trang 21trước những thay đổi của môi trường kinh doanh, xu thế mở cửa và hội nhập cótác động nhiều mặt đến sự phát triển của hoạt động KDBH thể hiện cả ở khía cạnhtích cực và tiêu cực [41].
* Những tác động tích cực
Sự xuất hiện các DNBH có vốn đầu tư nước ngoài đã thổi một luồng giómới vào hoạt động KDBH của thị trường BH Việt Nam Những đóng góp tích cựccủa hội nhập quốc tế đối với sự phát triển của hoạt động KDBH thể hiện ở một sốnội dung cơ bản sau:
Một là, sự thâm nhập của các DNBH có vốn đầu tư nước ngoài đã góp phần
đáng kể trong việc tăng doanh thu phí BH và đáp ứng nhu cầu được tham gia BHngày càng cao của mọi tầng lớp nhân dân Nhờ có sự xuất hiện của các DNBH cóvốn đầu tư nước ngoài, số lượng khách hàng tham gia BH đã tăng rõ rệt, khôngchỉ do bản thân các DNBH có vốn đầu tư nước ngoài khai thác được các dịch vụmới mà các DNBH trong nước cũng tìm cách để khai thác nhằm duy trì thị phần
và tốc độ tăng trưởng của mình Các DNBH có vốn đầu tư nước ngoài đang duytrì tốc độ tăng trưởng cao (trên 10% hàng năm) Trong những năm tới, việc nớilỏng dần các quy định về lĩnh vực tham gia của các DNBH có vốn đầu tư nướcngoài sẽ góp phần rất lớn vào việc tăng doanh thu, khai thác tốt tiềm năng của thịtrường và đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước
Hai là, nhờ có quá trình hội nhập mà chất lượng dịch vụ BH đã có được
những bước cải tiến đáng kể Các DNBH có vốn đầu tư nước ngoài đã cung cấpnhiều sản phẩm BH hấp dẫn với chất lượng dịch vụ cao Đồng thời, các DNBHnày đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng cáo từ đó góp phần đáng kể vào việcnâng cao nhận thức của người dân về sự cần thiết phải tham gia BH Sự có mặtcủa các DNBH có vốn đầu tư nước ngoài sẽ thúc đẩy môi trường cạnh tranh buộccác DNBH trong nước phải tự đổi mới, tăng cường hiệu quả kinh doanh, nâng caochất lượng dịch vụ, đa dạng hoá sản phẩm, để có thể đứng vững, phát triển trênthương trường và nâng cao hình ảnh, uy tín của mình
Ba là, Việt Nam sẽ có cơ hội tranh thủ được vốn, kinh nghiệm, kỹ thuật
Trang 22công nghệ BH và kỹ năng quản lý của các DNBH có vốn đầu tư nước ngoài đểphục vụ cho việc phát triển thị trường BH nói riêng và cho sự phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước nói chung, cụ thể:
- Sự tham gia của các DNBH có vốn đầu tư nước ngoài với trình độ quản lýtiên tiến là một kinh nghiệm quý cho các DNBH trong nước Thông qua hoạtđộng liên doanh hoặc hợp tác, các DNBH trong nước đã học hỏi được các kinhnghiệm, đặc biệt là kỹ thuật nghiệp vụ và công nghệ quản lý tiên tiến
- Các DNBH có vốn đầu tư nước ngoài đã góp phần tích cực vào việc đàotạo cán bộ cho ngành BH Việt Nam Thực tế cho thấy thị trường BH Việt Namcòn rất mới mẻ, trình độ cán bộ còn chưa cao Các DNBH có vốn đầu tư nướcngoài đã có biện pháp hỗ trợ tích cực như tổ chức các buổi hội thảo, các chươngtrình trao đổi kinh nghiệm, đóng góp ý kiến vào việc xây dựng cơ chế, chínhsách, từ đó góp phần vào việc nâng cao trình độ và hoàn thiện chính sách quản
lý của thị trường BH Việt Nam
- Sự thâm nhập của các DNBH có vốn đầu tư nước ngoài với những côngnghệ tiến tiến đã góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động KDBH.Các DNBH trong nước đứng trước thách thức cạnh tranh đã tự mình tìm cách đẩynhanh tốc độ ứng dụng công nghệ tiên tiến vào quản lý hoạt động KDBH nhưnâng cấp hệ thống máy tính, sử dụng mạng LAN, WAN và các công nghệ tiêntiến khác
Bốn là, sự xuất hiện ngày càng nhiều các DNBH có vốn đầu tư nước ngoài
tại Việt Nam sẽ giúp cho các nhà đầu tư quốc tế yên tâm hơn về khả năng đáp ứngnhững nhu cầu về BH của họ Một thị trường BH phát triển lành mạnh trong quátrình hội nhập sẽ gián tiếp cải thiện môi trường đầu tư Từ đó giúp các nhà đầu tưnước ngoài yên tâm hơn về cam kết mở cửa và tin tưởng vào môi trường đầu tưlành mạnh ở Việt Nam Sự phát triển của các DNBH này sẽ tạo nên một kênh thuhút vốn mới trong dân, góp phần khơi thông nội lực để phục vụ mục tiêu pháttriển của đất nước Ngoài ra, các DNBH này cũng góp phần nâng cao năng lựccủa thị trường, tăng thu cho NSNN
Trang 23* Những tác động tiêu cực
Tuy nhiên, quá trình mở cửa và hội nhập cũng có những tác động tiêu cựcđến sự phát triển của hoạt động KDBH thể hiện ở một số điểm sau:
Thứ nhất, các DNBH có vốn đầu tư nước ngoài thâm nhập vào thị trường
BH Việt Nam hầu hết là những tập đoàn BH có doanh thu và vốn lớn, kinhnghiệm hoạt động hàng trăm năm, đã có nhiều năm hoạt động KDBH ở khu vựcChâu Á – Thái Bình Dương Trong khi đó, các DNBH trong nước hầu hết là các
DN mới thành lập, vốn không lớn, kinh nghiệm chưa nhiều Vì vậy, quá trìnhcạnh tranh giữa những tập đoàn lớn, kinh nghiệm lâu năm với những DN có vốnnhỏ, kinh nghiệm ít chắc chắn sẽ diễn ra không cân sức Hơn nữa, công nghệ quản
lý của các DNBH này tận dụng được hệ thống quản lý ở các nước ASEAN vừanhanh, vừa tiết kiệm chi phí còn các DN trong nước lại phải tự mày mò nên vừatốn kém, lại vừa chưa đáp ứng tốt nhất yêu cầu quản lý
Thứ hai, các DNBH có vốn đầu tư nước ngoài với cơ chế tài chính thông
thoáng đã tiến hành hàng loạt các biện pháp tuyên truyền, quảng cáo, tài trợ, trong khi đó các DN trong nước do bị hạn chế của cơ chế tài chính nên gặp không
ít khó khăn, làm cho quá trình cạnh tranh càng trở nên không cân sức
Như vậy, nếu không được chuẩn bị kỹ, các DNBH trong nước có thể gặpnhiều khó khăn, thậm chí đi đến chỗ phá sản do sự yếu kém về năng lực tài chính,kinh nghiệm, công nghệ và đội ngũ chuyên gia, cán bộ quản lý Ngoài ra, sự
“chảy máu chất xám” trong các DNBH trong nước do những cán bộ có năng lực
bị thu hút vào các DNBH có vốn đầu tư nước ngoài do chính sách đãi ngộ tốt hơn.Cuối cùng, thị trường BH trong nước có thể bị chi phối bởi các DNBH có vốn đầu
tư nước ngoài Điều này đi ngược lại chính sách của Đảng và Nhà nước là củng
cố và phát triển mạnh các DNBH trong nước và giữ vững vai trò chủ đạo của cácDNNN trong môi trường cạnh tranh
Tóm lại, việc Việt Nam tiếp tục thực hiện chính sách hội nhập kinh tế ở mức
độ và tốc độ cao hơn, các Hiệp định Thương mại tự do ASEAN và Hiệp địnhThương mại Việt Nam – Hoa Kỳ có hiệu lực đầy đủ và việc gia nhập WTO,
Trang 24ngành BH Việt Nam sẽ đứng trước những cơ hội, thời cơ thuận lợi cho việc pháttriển, đồng thời cũng phải đối mặt trực tiếp với những thách thức, khó khăn khôngnhỏ Hội nhập kinh tế khu vực và thế giới mạnh mẽ hơn đồng nghĩa với việc ngàycàng có nhiều các DNBH có vốn đầu tư nước ngoài, các DNBH nước ngoài (loại
DN nước ngoài không đầu tư vào Việt Nam) hoạt động tại thị trường BH ViệtNam, đồng thời thị trường BH Việt Nam trở thành một bộ phận của thị trường BHkhu vực và thế giới Do đó, sự phát triển thị trường BH Việt Nam trong thời giantới sẽ chịu tác động, ảnh hưởng lớn của nền kinh tế, đặc biệt là từ môi trường đầu
tư trong khu vực và trên thế giới
1.2.4 Quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm trong xu thế mở cửa và hội nhập
1.2.4.1 Sự cần thiết của hệ thống các văn bản pháp luật riêng cho doanh nghiệp bảo hiểm
Xuất phát từ đặc thù hoạt động KDBH và trước xu thế mở cửa và hội nhậpquốc tế về BH, ở các nước, KDBH là một hoạt động bị Nhà nước kiểm tra cực kỳgắt gao và bên cạnh các quy định chung, hoạt động KDBH phải được điều chỉnhbằng hệ thống các văn bản pháp luật riêng Sự tồn tại hệ thống luật pháp về BH làcần thiết, xuất phát từ đặc thù của lĩnh vực KDBH và ảnh hưởng tác động nhiềumặt của hội nhập quốc tế đến sự phát triển của hoạt động KDBH như đã nêu trên
Trước hết, hoạt động KDBH nhằm đưa những NĐBH thoát khỏi những
mối hiểm nguy đa dạng, trầm trọng và cấp thiết Họ cần đến BH trong tình trạng
đó Vì thế quyền lợi của các tổ chức, cá nhân tham gia BH đòi hỏi phải có sự bảotrợ chặt chẽ bởi pháp luật Nhà nước, đặc biệt là khi kỹ thuật BH phức tạp, thuậtngữ chuyên môn khó hiểu và trình độ nhận thức về BH trong đại đa số dân chúngnói chung còn hạn chế
Thứ hai, ngay cả khi không có ý đồ gian lận, DNBH có thể bị sai sót khi
xác định mức phí BH hoặc dự phòng bồi thường vì phí - giá cả của sản phẩm BHkhông phải hình thành trên cơ sở chi phí mà DNBH đã bỏ ra để cấu tạo nên sảnphẩm Nó được xác định trên cơ sở tính toán tần suất tổn thất và chi phí trung
Trang 25bình/ một tổn thất Nếu phí ấn định quá cao sẽ không đảm bảo quyền lợi chongười tham gia BH, đặc biệt là đối với BH bắt buộc và BH nhân thọ Nếu ấn địnhphí BH và lập dự phòng bồi thường quá thấp, có thể dẫn đến tình trạng thiếu hụtkhả năng thanh toán, không đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ theo cam kết BH.
Do đó, nếu các sai sót này không được phát hiện kịp thời thì DNBH sẽ không thựchiện được các cam kết và dẫn đến phá sản, gây thiệt hại cho NĐBH và các chủ nợcủa DNBH Ngoài ra, DNBH sử dụng phí do bên mua BH trả trước để đầu tư vànếu đầu tư không thận trọng sẽ rất nguy hiểm cho NĐBH
Mặt khác, cạnh tranh trong KDBH rất phức tạp, một sản phẩm mới có thể
bị bắt chước dễ dàng, thực tế đã có DNBH vì cái lợi thiển cận, cục bộ mà đã quá
đà trong việc sử dụng những thủ đoạn cạnh tranh liều lĩnh, bỏ qua cả những khíacạnh đạo đức, những yêu cầu về mặt kỹ thuật nghiệp vụ trong KD
Thứ ba, trước xu thế mở cửa và hội nhập kinh tế trong lĩnh vực BH, các
nước đều có ý thức đầy đủ về lợi ích xã hội của hoạt động KDBH và vai trò, độnglực của các DNBH trong nền kinh tế
Vì những lý do cơ bản đó mà từng quốc gia phải có hệ thống các văn bảnpháp luật riêng cho DNBH để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cánhân tham gia BH và DNBH đồng thời để điều chỉnh, thúc đẩy hoạt động KDBHphát triển Tất cả các nước đều thành lập cơ quan quản lý Nhà nước về BH (gọitắt là cơ quan quản lý BH) để quản lý toàn diện và kiểm tra, giám sát thườngxuyên mọi hoạt động kinh doanh của DNBH
1.2.4.2 Yêu cầu quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm
Trước xu thế mở cửa và hội nhập quốc tế trong lĩnh vực BH, yêu cầu côngtác quản lý nhà nước phải đặt trọng tâm vào các tiêu trí thận trọng và bảo vệkhách hàng Cụ thể là:
- Quy định chế độ quản lý tài chính đối với DNBH phải đảm bảo tính thậntrọng và đầy đủ, bao gồm các nội dung: mức vốn điều lệ, quản lý và sử dụng vốn,tài sản, dự phòng nghiệp vụ, khả năng thanh toán và khôi phục khả năng thanhtoán, doanh thu và chi phí, hệ thống chỉ tiêu giám sát DNBH, đặc biệt là giám sát
Trang 26độ an toàn và tin cậy của các DN nhận tái BH,
- Thiết lập hệ thống thông tin hữu hiệu phục vụ quản lý nhà nước, gồm:+ Tăng cường tính hữu hiệu và hiệu quả của CMKT, chế độ kế toán vàBCTC định kỳ áp dụng với các DNBH
+ Tăng cường minh bạch hoá thông tin thị trường phục vụ khách hàng thamgia BH, đặc biệt là tăng cường giám sát hoạt động của các trung gian BH
- Thiết lập cơ chế cho phép cơ quan quản lý can thiệp khi cần thiết để bảo vệquyền lợi khách hàng, đặc biệt là tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạtđộng tài chính của DNBH, đưa vào khuôn khổ cơ chế cảnh báo sớm và có biệnpháp can thiệp phù hợp khi có biến động bất thường về tài chính của DNBH [20]
1.3 KẾ TOÁN BẢO HIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA KẾ TOÁN TRONG QUẢN LÝ KINH DOANH BẢO HIỂM
1.3.1 Kế toán Bảo hiểm
Xuất phát từ đặc thù của hoạt động KDBH, để đáp ứng yêu cầu quản lýkinh doanh của DNBH và yêu cầu quản lý của Nhà nước đối với hoạt độngKDBH, hệ thống kế toán áp dụng cho DNBH có các đặc trưng cơ bản khác vớicác doanh nghiệp SXKD như sau:
1.3.1.1 Đối tượng cung cấp thông tin và đặc điểm báo cáo tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm
Thứ nhất, đối tượng cung cấp thông tin trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm có 2 loại:
* Đối với báo cáo tài chính lập để công khai
BCTC mà DNBH lập để công khai là nhằm cung cấp các thông tin trungthực, khách quan, có độ tin cậy cao và có khả năng so sánh được cho tất cả cácđối tượng có nhu cầu sử dụng gồm: Nhà nước, ban lãnh đạo DNBH, các nhà đầu
tư, các chủ sở hữu vốn, các chủ nợ, người mua, người bán và các tổ chức, cá nhântham gia BH… Để từ đó người sử dụng BCTC có đủ các thông tin cần thiết đểđánh giá đúng thực trạng tài chính và tình hình hoạt động của DNBH khi đưa ra
Trang 27các quyết định kinh tế hoặc thực thi trách nhiệm điều hành, quản lý của mình.
Trên BCTC công khai cần cung cấp đủ các thông tin để người sử dụngBCTC hiểu rõ đặc thù KDBH chi tiết theo 3 loại: KDBH gốc, nhận tái và nhượngtái BH, đặc biệt là hoạt động đầu tư của DNBH Loại BCTC này DNBH phải lậptheo đúng quy định của CMKT, chế độ kế toán áp dụng riêng cho DNBH và cácCMKT khác có liên quan áp dụng cho tất cả các DN thuộc mọi lĩnh vực, trong đó
có DNBH
* Đối với BCTC lập để gửi cơ quan quản lý BH
Để có đầy đủ thông tin giúp cho cơ quan quản lý Nhà nước về BH thựchiện chức năng quản lý và kiểm tra, giám sát được toàn bộ hoạt động KDBH, đặcbiệt là giám sát tài chính DNBH Cuối năm tài chính, ngoài các BCTC lập đểcông khai DNBH còn phải lập BCTC chỉ để gửi cho cơ quan quản lý BH Cơquan quản lý BH sử dụng các thông tin trên các BCTC này để đánh giá tính thanhkhoản, khả năng thanh toán của DNBH trên cơ sở so sánh biên khả năng thanhtoán của DNBH với biên khả năng thanh toán tối thiểu nhà nước quy định và kiểmtra việc trích lập dự phòng nghiệp vụ của DNBH
Các BCTC này sẽ cung cấp đầy đủ các thông tin để cơ quan quản lý BHkiểm tra khả năng của DNBH có thể thực hiện được nghĩa vụ và trách nhiệm củamình đối với bên mua BH Từ đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức,
cá nhân tham gia BH, xác định đúng tình hình tài chính để có biện pháp khắcphục kịp thời nếu DNBH có nguy cơ mất khả năng thanh toán hoặc biến động bấtthường Loại BCTC này DNBH phải lập theo quy định của các nguyên tắc kếtoán, chế độ kế toán áp dụng cho DNBH và các nguyên tắc kế toán, chế độ kếtoán áp dụng cho DNBH phải được nghiên cứu, xây dựng, ban hành cho phù hợpvới chế độ tài chính áp dụng cho DNBH do cơ quan quản lý BH quy định
Như vậy, ngoài BCTC phải lập để công khai như các DNSXKD, DNBHcòn phải lập BCTC gửi cơ quan quản lý BH để phục vụ công tác quản lý và kiểm
Trang 28tra, giám sát của Nhà nước đối với DNBH mà không phải công bố công khai.
Thứ hai, đặc điểm báo cáo tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm:
Để đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin cho người sử dụng BCTC và xuấtphát từ đặc thù của hoạt động KDBH, BCTC của DNBH có các đặc điểm sau:
* Đối với BCTC lập để công khai
- BCĐKT: Khác với DNSXKD, do tính chất hoạt động DNBH không phân
biệt được giữa ngắn hạn và dài hạn nên các tài sản và nợ phải trả trên BCĐKTđược trình bày thứ tự theo tính thanh khoản giảm dần
- Báo cáo KQHĐKD: Người sử dụng BCTC cần được cung cấp các thông
tin về doanh thu, chi phí theo từng loại hoạt động BH gốc, nhận tái BH, nhượngtái BH và hoạt động đầu tư Do vậy, DNBH không thể trình bày các yếu tố thôngtin trên báo cáo KQHĐKD theo chức năng của chi phí mà phải trình bày theo tínhchất của chi phí
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: Khác với DNSXKD, luồng tiền phát sinh lớn
nhất trên báo cáo này của DNBH là: Tiền thu phí BH gốc, phí nhận tái BH và tiềnchi bồi thường, chi hoa hồng, quảng cáo, đề phòng hạn chế tổn thất, chuyển phínhượng tái BH (đối với hoạt động kinh doanh); Tiền chi mua trái phiếu, cho vay
và tiền thu hồi trái phiếu đến ngày đáo hạn, thu tiền gốc cho vay… (đối với hoạtđộng đầu tư)
- Thuyết minh BCTC: Để cung cấp đủ thông tin cho người sử dụng BCTC,
DNBH phải trình bày được trên thuyết minh BCTC các vấn đề đặc thù của hoạtđộng KDBH như sau:
Mức độ tập trung của rủi ro phát sinh từ các hợp đồng BH, bao gồm cả rủi
ro trước và rủi ro sau khi đã điều chỉnh bởi hoạt động nhượng tái BH
Mục tiêu quản lý rủi ro phát sinh từ các hợp đồng BH và chính sách của
DNBH để giảm thiểu các rủi ro này
Trang 29Phương pháp ghi nhận doanh thu, chi phí theo 2 loại hợp đồng BH ngắn
hạn, dài hạn, phương pháp trích lập dự phòng nghiệp vụ…
Tài sản, nợ phải trả, doanh thu, chi phí phản ánh trên BCĐKT và báo cáo
KQHĐKD phải thuyết minh cho từng hoạt động KDBH gốc, nhận tái BH, nhượngtái BH
* Đối với BCTC lập để gửi cơ quan quản lý BH
Mục đích của loại BCTC này là cung cấp thông tin cho cơ quan quản lý
BH để phục vụ kiểm tra, giám sát của Nhà nước đối với DNBH để từ đó có biệnpháp can thiệp, xử lý kịp thời khi cần thiết Vì vậy, nội dung, phương pháp lập vàcác yếu tố của BCTC để công khai có những điểm khác biệt so với BCTC để phục
vụ kiểm tra, giám sát của Nhà nước Sự khác nhau của các yếu tố trong từng loạiBCTC sẽ được trình bày ở mục 1.3.1.3, chương 1
1.3.1.2 Các nguyên tắc kế toán áp dụng cho doanh nghiệp bảo hiểm
Khi lập BCTC để công khai như các DN khác, DNBH phải tôn trọng cácnguyên tắc kế toán quy định trong CMKT số 01- “Chuẩn mực chung” Nhưng khilập BCTC gửi cơ quan quản lý BH thì DNBH phải tôn trọng các nguyên tắc ápdụng riêng cho DNBH, trong đó có nguyên tắc ghi nhận doanh thu và chi phí.Theo nguyên tắc này chi hoa hồng là khoản chi phí khai thác BH lớn nhất đượcghi ngay toàn bộ vào chi phí khi phát sinh mà không được phân bổ dần Mặc dùchi phí BH liên quan đến chi hoa hồng của các hợp đồng chưa hết hiệu lực cuốinăm tài chính không được ghi nhận là doanh thu trong kỳ mà phải tính dần từngphần theo thời gian có hiệu lực của hợp đồng BH Lý do không được phân bổ dầnchi hoa hồng vì toàn bộ chi phí trả trước chưa phân bổ (trong đó có chi hoa hồngnếu phải phân bổ dần) không được coi là tài sản khi xác định biên khả năng thanhtoán của DNBH do chúng không có khả năng chuyển đổi ra tiền Theo đó, DNBHkhông được áp dụng nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí phát sinh đểtạo ra doanh thu đó
Trang 30Nội dung các nguyên tắc kế toán BH làm cơ sở cho việc lập và trình bàyBCTC gửi cơ quan quản lý BH của DNBH sẽ được trình bày chi tiết ở Chương 3(Mục 3.2.2, Chương 3).
1.3.1.3 Chuẩn mực kế toán áp dụng cho doanh nghiệp bảo hiểm
Do kế toán cho các hợp đồng BH rất đa dạng và khác biệt với thông lệ kếtoán của các lĩnh vực khác nên để làm cơ sở cho việc lập và trình bầy BCTC đểcông khai, ngoài các CMKT áp dụng cho tất cả mọi loại hình DN phải có CMKT
áp dụng riêng cho DNBH CMKT này sẽ quy định các nội dung mang tính chấtđặc thù riêng có của DNBH mà không quy định ở các CMKT áp dụng chung chomọi DN, như:
- Quy định các yếu tố của BCTC và ghi nhận các yếu tố của BCTC cho phùhợp với đặc thù hoạt động của DNBH, gồm doanh thu phí BH, chi phí khai thác
BH, nợ phải trả về trích lập dự phòng nghiệp vụ, chứng khoán đầu tư (là loại tàisản lớn nhất của DNBH)
- Quy định các thông tin trình bày trên Thuyết minh BCTC để người sửdụng BCTC có thể thấy được toàn bộ hoạt động kinh doanh của DNBH
CMKT áp dụng cho DNBH được nghiên cứu, ban hành trên cơ sở cácnguyên tắc kế toán cơ bản và định nghĩa, tiêu chuẩn ghi nhận các yếu tố củaBCTC quy định trong CMKT số 01- “Chuẩn mực chung” cho phù hợp với đặc thùKDBH
1.3.1.4 Đối tượng kế toán
Để đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin, việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phântích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo từng đối tượng kế toán trongDNBH có đặc điểm sau:
- Tài sản: Khác với các DNSXKD, tài sản của DNBH chủ yếu là các
khoản đầu tư tài chính ngắn hạn và dài hạn dưới nhiều hình thức khác nhau như:Tiền gửi có kỳ hạn; các khoản cho vay; các khoản đầu tư mua cổ phiếu, trái phiếu;
Trang 31các khoản đầu tư vào công ty con, đầu tư vào công ty liên kết và liên doanh; Bấtđộng sản đầu tư và các khoản đầu tư khác
Khác với các DN khác, trong DNBH theo mục đích sử dụng thông tin, tàisản được ghi nhận trên BCĐKT lập để công khai thường lớn hơn nhiều so với tàisản được ghi nhận trên BCĐKT lập để gửi cơ quan quản lý BH, cụ thể:
Theo CMKT thì tài sản được ghi nhận trong BCĐKT lập để công khai khiDNBH có khả năng chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai và giá trịcủa tài sản đó được xác định một cách đáng tin cậy Do đó, những tài sản thỏamãn tiêu chuẩn quy định của CMKT sẽ được phản ánh trên BCĐKT để công khainhưng nếu chúng không có khả năng chuyển đổi thành tiền thì không được phảnánh trên BCĐKT để gửi cơ quan quản lý BH vì chúng không được coi là tài sảnkhi xác định khả năng thanh toán của DNBH
- Nợ phải trả: Khác với các DNSXKD, nợ phải trả lớn nhất phản ánh trên
BCĐKT của DNBH là các khoản dự phòng nghiệp vụ
Dự phòng nghiệp vụ là các khoản dự phòng được sử dụng để bồi thườnghoặc chi trả theo cam kết BH cho NĐBH hoặc người thụ hưởng BH và chúngđược tính toán trên cơ sở kỹ thuật nghiệp vụ BH và quy định luật pháp
Các khoản dự phòng nghiệp vụ được hạch toán vào chi phí (trừ dự phòngcam kết chia lãi) Tuy nhiên, không giống các dự phòng giảm giá trị tài sản đượcphản ánh bên phần tài sản của BCĐKT, các khoản dự phòng nghiệp vụ BH đượcthiết lập có mục đích thực hiện một nghĩa vụ của DNBH đối với khách hàng Dovậy, chúng tạo ra một khoản nợ phải trả trên BCĐKT của DNBH
Dự phòng nghiệp vụ BH là khoản nợ mang tính may rủi cũng như bản chấtmay rủi của các rủi ro được BH Chúng có thể trở thành một khoản nợ chắc chắnhoặc có thể sẽ không tiếp tục tồn tại Kỳ hạn nợ của các dự phòng nghiệp vụ phụthuộc vào loại dự phòng thuộc nghiệp vụ BH nào Do đó, DNBH phải phân chiacác khoản dự phòng nghiệp vụ thành 2 loại: nợ ngắn hạn và nợ dài hạn theo thời
Trang 32và khoản nợ phải trả đó phải xác định được một cách đáng tin cậy Do vậy, khi lậpBCTC để công khai, DNBH không được phép trích lập 2 loại dự phòng dao độnglớn (đối với KDBH phi nhân thọ) hoặc dự phòng đảm bảo cân đối (đối với KDBHnhân thọ) vì việc trích lập 2 loại dự phòng này không phải phát sinh từ nghĩa vụhiện tại của DNBH nêu không thỏa mãn tiêu chuẩn ghi nhận nợ phải trả theo quyđịnh của CMKT Tuy nhiên, để đảm bảo duy trì đủ khả năng thanh toán, đặc biệt
là khi có biến động bất thường trong KDBH khi lập BCTC để gửi cơ quan quản lý
BH, các DNBH bắt buộc phải trích lập 2 loại dự phòng này
- Về doanh thu: Doanh thu của DNBH phát sinh từ 2 loại: hoạt động
KDBH và hoạt động đầu tư Trong đó doanh thu chủ yếu đối với hoạt độngKDBH gốc và nhận tái BH là phí BH, đối với hoạt động KD nhượng tái BH làhoa hồng BH
CMKT số 14 “Doanh thu và thu nhập khác” quy định rõ trong phần phạm
vi áp dụng là CMKT này không áp dụng cho kế toán doanh thu hợp đồng BH CácDNBH Việt Nam hiện đang thực hiện ghi nhận doanh thu hoạt động KDBH theoquy định của chế độ tài chính CMKT quốc tế chưa quy định doanh thu hợp đồng
BH Trên thực tế, nhiều nước đã ban hành các CMKT để áp dụng riêng cho hoạtđộng KDBH Trong đó, doanh thu hợp đồng BH được quy định dựa trên cơ sởđịnh nghĩa và tiêu chuẩn ghi nhận doanh thu quy định trong khuôn mẫu cho việclập và trình bầy BCTC (là Chuẩn mực Chung của Việt Nam)
Hoạt động KDBH mang tính xã hội rộng lớn, với số lượng tổ chức, cá nhântham gia BH thuộc mọi thành phần kinh tế DNBH thường có số lượng hợp đồng
Trang 33BH phát sinh hàng năm rất lớn, có thể lên đến hàng triệu, hàng tỷ hợp đồng vớiđối tượng khách hàng rất đa dạng và luôn biến động Do đó, thời điểm ghi nhậndoanh thu dịch vụ KDBH khác với thời điểm ghi nhận doanh thu của các dịch vụ
khác, đó là: Theo CMKT số 14 thì doanh thu của giao dịch về cung cấp dịch vụ được ghi nhận khi kết quả của giao dịch đó được xác định một cách đáng tin cậy Còn theo chế độ tài chính áp dụng cho DNBH ở Việt Nam và cũng là thông lệ chung của các nước thì doanh thu phí BH được ghi nhận khi phát sinh trách nhiệm BH của DNBH đối với bên mua BH Nói cách khác thời điểm ghi nhận doanh thu là thời điểm DNBH đã nhận trách nhiệm trước các rủi ro đã cam kết trên hợp đồng BH chứ không phải là khi kết quả của dịch vụ đó được xác định một cách tin cậy như quy định của CMKT số 14 Cuối năm tài chính, các hợp
đồng BH mà hiệu lực kéo dài sang năm tài chính sau thì DNBH trích lập dựphòng phí chưa được hưởng để doanh thu được ghi nhận trong kỳ theo kết quảdịch vụ đã hoàn thành tại ngày lập BCĐKT
DNBH thường có số lượng rất lớn các hợp đồng BH với các thời hạn khácnhau Với đặc thù đó, DNBH không thể ghi nhận doanh thu khi kết quả dịch vụhoàn thành như quy định của CMKT số 14 mà phải ghi nhận doanh thu ngay tạithời điểm hợp đồng BH có hiệu lực, khi phát sinh trách nhiệm BH của DNBH đốivới bên mua BH
Các DNBH chỉ áp dụng CMKT số 14 các quy định liên quan đến doanhthu hoạt động tài chính đó là: doanh thu tiền lãi được ghi nhận trên cơ sở thời gian
và lãi suất thực tế từng kỳ và doanh thu cổ tức và lợi nhuận được chia được ghinhận khi cổ đông được quyền nhận cổ tức hoặc các bên tham gia góp vốn đượcquyền nhận lợi nhuận từ việc góp vốn
- Về chi phí: Khác với DNSXKD, chi phí trực tiếp KDBH không có chi
phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí SX chung.Trong DNBH, chi phí trực tiếp KDBH gồm: chi bồi thường, chi hoa hồng, dựphòng nghiệp vụ, chi giám định tổn thất, chi đánh giá rủi ro của các đối tượng
BH, chi đòi người thứ ba, chi xử lý hàng bồi thường 100%, chi đề phòng hạn chế
Trang 34rủi ro, tổn thất và các khoản chi khác Các khoản chi phí này phải hach toán chitiết theo 3 loại: KDBH gốc, nhận tái và nhượng tái BH.
Khác với các DN khác, trong DNBH theo mục đích sử dụng thông tin, chiphí được ghi nhận trên báo cáo KQHĐKD để gửi cơ quan quản lý BH thường lớnhơn nhiều so với chi phí ghi nhận trên báo cáo KQHĐKD để công khai theo quyđịnh của CMKT, vì các tài sản thoả mãn tiêu chuẩn ghi nhận theo CMKT nhưngkhông có khả năng chuyển đổi ra tiền phải loại trừ khi xác định biên khả năngthanh toán của DNBH
Như vậy, khác với các DN SXKD, đối với DNBH, chi phí trực tiếp KDBH
là không xác định được trước Chi phí trong kỳ tăng, giảm tuỳ thuộc vào các rủi rocủa hợp đồng BH Nếu xảy ra rủi ro nhiều, DN bồi thường nhiều nhưng khôngquá giá trị BH và ngược lại Vì vậy, chi phí trực tiếp KDBH không ổn định vì rủi
ro trong BH mang tính ngẫu nhiên và trách nhiệm của DNBH kéo dài cho đến khihợp đồng BH hết hiệu lực DNBH không biết chính xác vào thời gian nào rủi ro
sẽ xảy ra và mức độ tổn thất là bao nhiêu Mặt khác, do các yếu tố chi phí không
ổn định và không biết trước nên giá thành dịch vụ BH có thể khác nhau tuỳ thuộcvào rủi ro BH Từ đó rất khó chủ động giảm giá thành, sự cạnh tranh của DNBHchủ yếu là ở chất lượng phục vụ, uy tín của DN
Tóm lại, xuất phát từ yêu cầu cung cấp thông tin kế toán cho từng đốitượng sử dụng BCTC của DNBH nên sẽ có nhiều điểm khác biệt giữa quy địnhcủa cơ quan quản lý Nhà nước về BH và CMKT áp dụng cho các DN, trong đó cóDNBH Đây là thông lệ chung của tất cả các nước và do đó, hệ thống kế toán ápdụng cho DNBH phải đồng thời tuân thủ tất cả các quy định pháp lý có liên quan
1.3.2 Nhiệm vụ kế toán
Để đảm bảo kế toán là công cụ quản lý, giám sát chặt chẽ, có hiệu quả mọihoạt động kinh tế, tài chính, cung cấp thông tin đầy đủ, trung thực, kịp thời, côngkhai, minh bạch, đáp ứng yêu cầu tổ chức, quản lý của DNBH và kiểm tra, giámsát của Nhà nước cho phù hợp với hoạt động KDBH, DNBH cần phải thực hiệntốt các nhiệm vụ kế toán theo quy định của Luật Kế toán (Điều 5, Chương 1) là:
Trang 35- Thu thập, xử lý thông tin, số liệu kế toán theo đối tượng và nội dung côngviệc kế toán, theo quy định của CMKT áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp trong
đó có doanh nghiệp bảo hiểm, theo các nguyên tắc kế toán qui định riêng cho phùhợp với đặc thù kinh doanh bảo hiểm;
- Kiểm tra, giám sát các khoản thu, chi tài chính, các nghĩa vụ thu, nộp,thanh toán nợ; kiểm tra việc quản lý, sử dụng tài sản và nguồn hình thành tài sản;phát hiện và ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về tài chính, kế toán;
- Phân tích thông tin, số liệu kế toán; tham mưu, đề xuất các giải pháp phục
vụ yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính của DNBH;
- Cung cấp thông tin, số liệu kế toán theo quy định của pháp luật như cácdoanh nghiệp sản xuất kinh doanh khác Đồng thời phải cung cấp đầy đủ, kịp thời,chính xác thông tin, số liệu kế toán cho cơ quan quản lý BH để phục vụ cho yêucầu quản lý, kiểm tra, giám sát của Nhà nước đối với toàn bộ hoạt động kinhdoanh BH
1.3.3 Vai trò của kế toán trong quản lý kinh doanh bảo hiểm
Theo Chương 1, Luật Kế toán Việt Nam, “Kế toán là việc thu thập, xử lý,kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính d ưới hình thức giá trị,hiện vật và thời gian lao động” [47] Là một khoa học về quản lý kinh tế và là bộphận cấu thành của hệ thống công cụ quản lý kinh tế - tài chính, trong quản lý
KDBH, vai trò của kế toán được thể hiện rõ ở những điểm chính sau:
Thứ nhất, kế toán với chức năng của mình sẽ cung cấp đầy đủ toàn bộ
thông tin về hoạt động kinh tế - tài chính ở đơn vị, nhằm giúp chủ DNBH điềuhành và quản lý các hoạt động kinh tế - tài chính ở đơn vị đạt hiệu quả cao;
Thứ hai, kế toán phản ánh đầy đủ toàn bộ tài sản hiện có và sự vận động
của tài sản ở đơn vị, qua đó giúp các nhà DNBH quản lý chặt chẽ tài sản và bảo
vệ được tài sản của mình, nhằm nâng cao hiệu quả của việc sử dụng các tài sảnđó;
Thứ ba, kế toán phản ánh được đầy đủ các khoản chi phí bỏ ra trong quá
trình KDBH cũng như kết quả của quá trình đó đem lại nhằm kiểm tra được việc
Trang 36thực hiện nguyên tắc tự bù đắp chi phí và có lãi trong KDBH;
Thứ tư, kế toán phản ánh được cụ thể từng loại nguồn vốn, từng loại tài
sản, giúp cho việc kiểm tra, giám sát tính hiệu quả trong việc sử dụng vốn và tínhchủ động trong KDBH;
Thứ năm, kế toán phản ánh được kết quả lao động của người lao động,
giúp cho việc khuyến khích lợi ích vật chất và xác định trách nhiệm vật chất đốivới người lao động một cách rõ ràng, nhằm khuyến khích người lao động nângcao năng suất lao động;
Trước đây, kế toán là công cụ của cơ quan Nhà nước nói chung Ngày naytrong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế trong lĩnh vực BH, kế toántrước hết là công cụ quản lý của chủ DNBH Sau đó mới là công cụ quản lý, làđiều kiện và phương tiện hữu hiệu của cơ quan Nhà nước để kiểm tra, giám sáthoạt động kinh doanh của DNBH Đối với các cấp quản lý vĩ mô và vi mô nềnkinh tế, kế toán có những vai trò cụ thể khác nhau như sau:
Đối với Nhà nước, kế toán là công cụ quan trọng để cơ quan quản lý BH
thực hiện chức năng quản lý và kiểm tra, giám sát của mình đối với toàn bộ hoạtđộng của DNBH
Đối với các DNBH, kế toán là công cụ quan trọng để điều hành, quản lý và
hoạt động, tính toán kinh tế và kiểm tra việc bảo vệ, sử dụng tài sản, tiền vốn,nhằm bảo đảm quyền chủ động trong kinh doanh và chủ động tài chính củaDNBH
Đối với những nhà quản lý DNBH, kế toán cung cấp các thông tin cần thiết
để ra các quyết định quản lý tối ưu, có hiệu quả cao
Đối với các nhà đầu tư, các cổ đông, các khách hàng, người tham gia BH, các nhà cung cấp, vv kế toán sẽ giúp họ lựa chọn các mối quan hệ phù hợp nhất
để quá trình đầu tư, góp vốn, tham gia BH, nhận tái và nhượng tái BH hay bánhàng đem lại hiệu quả cao
Trong các DN, thông tin kế toán trước hết cần thiết cho người ra quyếtđịnh quản lý bên trong DN, sau là cần thiết cho các đối tượng bên ngoài DN Do
Trang 37phương pháp thực hiện và phạm vi cung cấp thông tin khác nhau nên kế toán DNđược chia thành kế toán tài chính (KTTC) và kế toán quản trị (KTQT) Theo điều
4, Chương 1 của Luật Kế toán thì “KTTC là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phântích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính bằng BCTC cho đối tượng có nhu cầu
sử dụng thông tin của đơn vị kế toán”, còn “KTQT là việc thu nhận, xử lý, phântích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết địnhkinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán” [47]
Để thấy rõ vai trò của KTTC và KTQT trong quản lý KDBH, trước hết cầnphân biệt rõ sự khác nhau giữa 2 loại kế toán này [10] như sau:
- Về đối tượng sử dụng thông tin: Đối tượng sử dụng thông tin của KTQT
là các đối tượng bên trong DN: Các chủ sở hữu, Ban Giám đốc, các bộ phận quảnlý, trong khi đó, thông tin của KTTC chủ yếu lại cung cấp cho các đối tượng ởbên ngoài DN, như: Các cổ đông, người cho vay, khách hàng, nhà cung cấp vàChính phủ (cơ quan thuế, cơ quan quản lý BH, )
- Về nguyên tắc trình bày và cung cấp thông tin: Thông tin KTTC phải
tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực và chế độ hiện hành về kế toán của từng quốcgia, kể cả các nguyên tắc, CMKT quốc tế được các quốc gia công nhận; KTTCphải bảo đảm yêu cầu liên tục, có hệ thống thống nhất giữa các DN và có thể sosánh được Trái lại, thông tin KTQT cần linh hoạt, nhanh chóng và thích hợp vớitừng quyết định cụ thể của người quản lý, không buộc phải tuân thủ các nguyêntắc, CMKT, không phải liên tục, có hệ thống và không bắt buộc phải thống nhấtgiữa các DN Các quy định của Nhà nước về KTQT chỉ mang tính chất hướngdẫn
- Về tính pháp lý của kế toán: KTTC có tính pháp lý cao như: Hệ thống sổ,
phương pháp ghi chép, trình bày và cung cấp thông tin của KTTC đều phải tuântheo các quy định thống nhất Ngược lại, KTQT không có tính pháp lý và tổ chứcKTQT mang tính nội bộ, thuộc thẩm quyền của từng DN phù hợp với đặc thù vàyêu cầu quản lý, điều kiện và khả năng quản lý cụ thể của từng DN
- Về đặc điểm của thông tin
Trang 38Thông tin của KTTC chủ yếu dưới hình thái giá trị Còn thông tin của
KTQT được biểu hiện cả hình thái hiện vật, giá trị và thời gian lao động
Thông tin của KTTC là thông tin về những nghiệp vụ đã phát sinh, đã xảy
ra Trong khi đó, thông tin của KTQT chủ yếu đặt trọng tâm cho tương lai (vìphần lớn nhiệm vụ của nhà quản trị là lựa chọn phương án cho một sự kiện hoặcmột quá trình chưa xảy ra)
Thông tin KTTC chủ yếu là các thông tin kế toán thuần tuý, được thu thập
từ các chứng từ ban đầu về kế toán Thông tin của KTTC bắt buộc phải có tínhkhách quan, độ tin cậy cao Trong KTQT, thông tin được thu thập nhằm phục vụcho chức năng ra quyết định của nhà quản lý và thường không có sẵn, nên ngoàiviệc dựa vào hệ thống ghi chép ban đầu của KTTC, KTQT còn phải kết hợp vớinhiều bộ phận khác như thống kê, hạch toán nghiệp vụ để tổng hợp, phân tích
và xử lý thông tin thành dạng có thể sử dụng được Do đó, thông tin của KTQTcoi trọng tính thích hợp, tính sử dụng linh hoạt hơn là tính chính xác, độ tin cậycủa thông tin
- Về hình thức báo cáo sử dụng và kỳ báo cáo:
Báo cáo được sử dụng trong KTTC là các BCTC BCTC phải thực hiện
thống nhất theo quy định của cơ quan Nhà nước Còn báo cáo của KTQT đi sâuvào từng bộ phận; từng khâu công việc của DN Báo cáo KTQT thay đổi theoquyết định của người quản lý DN
Kỳ báo cáo của KTQT thường xuyên hơn và ngắn hơn kỳ báo cáo của
KTTC Báo cáo của KTTC được lập định kỳ, thường là hàng năm, còn báo cáocủa KTQT được lập thường xuyên theo yêu cầu quản trị DN
1.3.3.1 Vai trò của kế toán tài chính trong quản lý kinh doanh bảo hiểm
Với chức năng tạo lập thông tin và kiểm tra, giám sát về các hoạt độngkinh tế, tài chính của DN và là một bộ phận của hệ thống công cụ quản lý, KTTC
có vai trò quan trọng đối với công tác quản lý KDBH, cụ thể:
- Kế toán phục vụ cho các nhà quản lý kinh tế: KTTC cung cấp những
thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu để đánh giá tình hình và kết quả hoạt động
Trang 39KDBH, thực trạng tài chính của DNBH trong kỳ hoạt động đã qua, giúp cho việckiểm tra, giám sát tình hình tài chính và khả năng thanh toán, tình hình sử dụngvốn và huy động nguồn vốn vào kinh doanh của DNBH Căn cứ vào thông tin doKTTC cung cấp, các nhà quản lý đưa ra các quyết định, các phương án kinhdoanh tối ưu; đồng thời tiến hành xây dựng các kế hoạch kinh tế - kỹ thuật, tàichính của DNBH cũng như xây dựng hệ thống giải pháp khả thi nhằm tăng cườngquản trị DNBH, không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, nâng cao hiệu quảkinh doanh, tăng lợi nhuận cho DNBH;
- Kế toán phục vụ các nhà đầu tư: Thông tin của KTTC được trình bày
dưới dạng các BCTC là những thông tin hết sức tổng quát, phản ánh một cáchtổng hợp và toàn diện nhất về tình hình tài sản, các khoản nợ, nguồn hình thànhvốn, tình hình tài chính cũng như kết quả kinh doanh trong kỳ của DNBH Thôngtin của KTTC là căn cứ quan trọng để tính ra các chỉ tiêu kinh tế để đánh giá hiệuquả sử dụng vốn, hiệu quả kinh doanh của DNBH; đồng thời, những thông tin nàycòn là căn cứ quan trọng trong việc phân tích, nghiên cứu, phát hiện những khảnăng tiềm tàng và dự báo xu hướng phát triển tương lai của DNBH Dựa vàothông tin do KTTC cung cấp, các nhà đầu tư nắm được hiệu quả của một thời kỳkinh doanh và tình hình tài chính của DNBH, từ đó có các quyết định nên đầu tưhay không và cũng biết được DNBH đã sử dụng số vốn đầu tư đó như thế nào;
- Kế toán phục vụ Nhà nước: Qua kiểm tra, tổng hợp các số liệu kế toán,
Nhà nước nắm được tình hình doanh thu, chi phí, lợi nhuận của các DNBH, từ đó
đề ra các chính sách về đầu tư, thu thuế thích hợp cũng như hoạch định chínhsách, soạn thảo luật lệ và thực hiện chức năng kiểm soát vĩ mô Mặt khác, quakiểm tra, giám sát các thông tin, số liệu do KTTC cung cấp, Nhà nước đánh giákhả năng của DNBH có thể thực hiện được nghĩa vụ và trách nhiệm của mình vớingười tham gia BH hay không Từ đó có biện pháp can thiệp và khắc phục kịpthời khi DNBH có nguy cơ mất khả năng thanh toán để bảo vệ quyền lợi ngườitham gia BH
1.3.3.2 Vai trò của kế toán quản trị trong quản lý kinh doanh bảo hiểm
Trang 40KTQT là một bộ phận của công tác kế toán của DNBH, đồng thời là công
cụ quan trọng không thể thiếu đối với công tác quản trị nội bộ DNBH KTQTđược coi như một hệ thống trợ giúp cho các nhà quản lý ra quyết định, là phươngtiện để thực hiện kiểm soát quản lý trong DNBH KTQT có vai trò quan trọngtrong quản trị, điều hành DNBH, cụ thể:
- Là nguồn chủ yếu để cung cấp thông tin cần thiết cho các nhà quản lý racác quyết định kinh doanh KTQT là một khoa học thu nhận, xử lý và cung cấpthông tin kinh tế tài chính về hoạt động KDBH một cách cụ thể về từng loại tàisản, nguồn vốn, doanh thu, chi phí và kết quả từng loại hoạt động KDBH gốc,nhận tái và nhượng tái trong từng thời kỳ, địa điểm theo từng chỉ tiêu kinh tế, từngnghiệp vụ, sản phẩm BH,… Các thông tin này sẽ giúp cho các nhà quản trịDNBH trong việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá tình hìnhthực hiện kế hoạch các hoạt động của mình
- Tư vấn cho nhà quản lý trong quá trình xử lý, phân tích thông tin, lựachọn phương án, ra quyết định kinh doanh phù hợp nhất KTQT cung cấp cho cácnhà quản lý mô hình về nhu cầu vốn cho một hoạt động hay một quyết định cụthể; doanh thu và chi phí cho một loại nghiệp vụ, sản phẩm BH,… KTQT giúpcho nhà quản lý tìm ra giải pháp tác động lên các chi phí để tối ưu hoá mối quan
hệ chi phí – doanh thu – lợi nhuận nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao
- Giúp nhà quản lý thu thập, phân tích thông tin phục vụ cho việc lập kếhoạch kinh doanh, xây dựng dự toán chi phí, tính phí BH,… cho phù hợp với đặcthù KDBH, trình độ và yêu cầu quản lý của DN trên cơ sở tôn trọng định mứckinh tế kỹ thuật của ngành và Nhà nước
- Thông tin do KTQT cung cấp giúp nhà quản lý kiểm tra, giám sát, điềuhành các hoạt động của DNBH; giúp nhà quản lý đánh giá những vấn đề còn tồntại cần khắc phục và đưa ra nhưng quyết định điều chỉnh phù hợp, kịp thời (nếucần) góp phần đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu quản trị DN, như: chấm dứt haytiếp tục triển khai một sản phẩm BH phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của sảnphẩm đó thông qua xem xét các thông tin do KTQT cung cấp