1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ MỘT SỐ TỔN THƯƠNG ĐỘNG MẠCH VÀNH BẰNG PHƯƠNG PHÁP NONG BÓNG CÓ PHỦ THUỐC

173 99 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 173
Dung lượng 9,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Can thiệp bằng bóng phủ thuốc Paclitaxel trong điều trị tái hẹp lại trong Stent và tổn thương động mạch vành nhỏ là phương pháp điều trị có tỷ lệ thành công cao, an toàn và hiệu quả. Thành công về mặt kĩ thuật tiến hành đạt 100%. Thành công về kết quả sau thủ thuật đạt 96,7% . Chưa gặp các biến chứng nặng (Tỷ lệ tử vong là 0%), biến cố tim mạch chính chỉ có là tái can thiệp mạch đích có tỷ lệ 5%, có 2 bệnh nhân xuất huyết tiêu hoá cao nhẹ và 1 bệnh nhân có tách thành động mạch vành

Trang 2

Người hướng dẫn khoa học:

1 GS.TS NGUYỄN LÂN VIỆT

2 PGS.TS.PHẠM MẠNH HÙNG

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

Tôi là Nguyễn Minh Hùng, nghiên cứu sinh khóa 29 – Trường Đại học

Y Hà Nội, chuyên ngành Nội – Tim mạch, xin cam đoan:

1 Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn

của GS.TS Nguyễn Lân Việt và PGS.TS Phạm Mạnh Hùng

2 Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã

được công bố tại Việt Nam

3 Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác,

trung thực và khách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của cơ sơnơi nghiên cứu

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả

Nguyễn Minh Hùng

Trang 4

ĐMLTT : Động mạch liên thất trước

ĐMLTS : Động mạch liên thất sau

BTTMCB : Bệnh tim thiếu máu cục bộ

NMCT : Nhồi máu cơ tim

TBMN : Tai biến mạch não

XHTH : Xuất huyết tiêu hóa

THA : Tăng huyết áp

RLLP : Rối loạn lipit máu

HSHQ : Hệ số hồi quy

NC : nghiên cứu

2 TIẾNG ANH

ACC : Trường môn Tim mạch Hoa Kỳ

(American College of Cardiology)

AHA : Hội Tim mạch Hoa Kỳ (American Heart Association)

CCS : Phân loại đau thắt ngực ổn định theo Hội Tim mạch Canada

(Canadian Cardiovascular Society)PTCA : Nong mạch vành qua da với bóng thường(Percutanueous

Transluminal Coronary Angioplasty) BMS : Stent kim loại trần (Bare Metal Stent)

DEB : Bóng phủ thuốc (Drug Eluting Balloon)

PEB : Bóng phủ thuốc Paclitaxel (Paclitaxel Eluting Balloon)

Trang 5

IVUS : Siêu âm trong lòng mạch (IntraVascular UltraSound)

OCT : Chụp cắt lớp quang học (Optical Coherence Tomography)TIMI : Phân loại dòng chảy trong động mạch vành dựa trên nghiên

cứu TIMI (Thrombolysis In acute Myocardioal Infarction)

TMP : Mức độ tưới máu cơ tim (TIMI myocardial perfusion)

Dd : Đường kính thất trái cuối tâm trương

Ds : Đường kính thất trái cuối tâm thu

EF : Phân số tống máu thất trái

FS : Chỉ số co ngắn cơ tim

Vd : Thể tích thất trái cuối tâm trương

Vs : Thể tích thất trái cuối tâm thu

ISR : Tái hẹp lại trong Stent (In-Stent Restenosis)

SVD : Bệnh lí mạch nhỏ (small vessel disease)

TLR :Tái tưới máu lại tổn thương đích (Target Lesion

Revascularisation)

TLF :Thất bại tổn thương đích (Target Lesion Failure)

MACE : Các biến cố tim mạch chính (Major Adverse Cardiac Events)

RCT : Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng

(Randomized Controlled Trial)

RVD : Đk mạch tham chiếu (Reference Vessel Diameter)

MLD : Đk lòng mạch nhỏ nhất (Minimum luminal Diameter)

DS : % mức độ hẹp (Diameter stenosis)

BR : Hẹp lại trên 50% (DS>50%) (Binary restenosis)

RS : % mức độ hẹp ngay sau can thiệp(Residual Stenosis)

LLL : mức độ mất lòng mạch muộn) (Late Lumen Loss)

BARC : Tiêu chuẩn Hiệp hội nghiên cứu Hàn lâm về chảy máu

(Bleeding Academic Research Consortium)DAPT : Nghiệm pháp kháng tiểu cầu kép (dual antiplatelet therapy)

Trang 6

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 TÌNH HÌNH BỆNH LÍ ĐỘNG MẠCH VÀNH TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 4

1.1.1 Trên thế giới 4

1.1.2 Tại Việt Nam 5

1.2 TÁI HẸP SAU CAN THIỆP ĐMV 5

1.2.1 Định nghĩa 6

1.2.2 Phân loại tái hẹp trong Stent 7

1.2.3 Cơ chế của tái hẹp ĐMV 8

1.2.4 Đáp ứng sinh học trong tái hẹp ĐMV 8

1.2.5 Các yếu tố ảnh hương tái hẹp ĐMV 10

1.2.6 Các phương pháp phòng chống tái hẹp ĐMV 13

1.3 BỆNH LÍ MẠCH MÁU NHỎ 19

1.3.1 Định nghĩa 19

1.3.2 Các can thiệp cho mạch nhỏ với bóng thường và BMS 20

1.3.3 Can thiệp mạch nhỏ với Stent phủ thuốc 23

1.3.4 BVS trong can thiệp mạch nhỏ 27

1.4 NGUYÊN LÍ CỦA BÓNG PHỦ THUỐC TRONG ĐIỀU TRỊ CAN THIỆP ĐMV 28

1.5 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ QUỐC TẾ VỀ BÓNG PHỦ THUỐC 31

1.5.1 Tổn thương mạch vành chưa can thiệp 32

1.5.2 Bệnh lí mạch nhỏ 34

1.5.3 PEB cho tất cả các dạng tổn thương 35

Trang 7

1.5.6 Tắc mạch vành mạn tính 36

1.5.7 Tái hẹp trong Stent 37

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 41

2.1.1.Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân 41

2.1.2.Tiêu chuẩn loại trừ 41

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 42

2.2.2 Cỡ mẫu 42

2.2.3 Thời gian và địa điểm tiến hành nghiên cứu 42

2.2.4 Trang thiết bị nghiên cứu 42

2.3 QUY TRÌNH TIẾN HÀNH NGHIÊN CỨU 45

2.3.1 Chuẩn bị bệnh nhân 45

2.3.2 Phương pháp can thiệp nong bóng phủ thuốc 46

2.3.3 Theo dõi sau can thiệp nong bóng phủ thuốc 48

2.3.4 Biến chứng sau can thiệp nong bóng phủ thuốc và xử trí 49

2.4 CHỈ TIÊU NGHIÊN CỨU 50

2.4.1 Đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu: 50

2.4.2 Các chỉ tiêu nghiên cứu hiệu quả 52

2.4.3 Đánh giá các yếu tố liên quan ảnh hương đến mức độ hẹp lại 53

2.5 CÁC TIÊU CHUẨN CHẨN ĐOÁN 54

2.5.1.Tiêu chuẩn chẩn đoán tăng huyết áp 54

2.5.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn lipit máu 54

2.5.3 Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường 55

Trang 8

2.6 THU THẬP VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU 55

2.7 ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU 56

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 58

3.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA CÁC ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 58

3.1.1 Đặc điểm lâm sàng của nhóm nghiên cứu 58

3.1.2 Đặc điểm cận lâm sàng của nhóm nghiên cứu 61

3.2 KẾT QUẢ CAN THIỆP NONG BÓNG PHỦ THUỐC 64

3.2.1 Về mặt hình ảnh chụp ĐMV chọn lọc 64

3.2.2 Kết quả can thiệp nong bóng phủ thuốc 70

3.3 KẾT QUẢ THEO DÕI DỌC THEO THỜI GIAN 73

3.3.1 Kết quả theo dõi lâm sàng 73

3.3.2 Theo dõi các biến cố tim mạch chính 75

3.3.3 Tái hẹp lại sau can thiệp ĐMV 78

3.4 MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ HẸP LẠI ĐMV SAU NONG BÓNG PHỦ THUỐC 81

3.4.1 Tuổi và giới 81

3.4.2 Các yếu tố nguy cơ bệnh mạch vành 82

3.4.3 Ảnh hương của yếu tố viêm CRP hs 84

3.4.4 Yếu tố về vị trí và số lượng nhánh ĐMV tổn thương 84

3.4.5 Yếu tố về đặc điểm tổn thương ĐMV 84

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 86

4.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG NHÓM NGHIÊN CỨU 86

4.1.1 Tuổi và giới 86

4.1.2 Mức độ đau thắt ngực trên lâm sàng theo phân loại CCS 86

4.1.3 Đặc điểm cận lâm sàng nhóm nghiên cứu 86

Trang 9

4.2.1 Vị trí tổn thương và số nhánh tổn thương ĐMV 87

4.2.2 Đặc điểm tổn thương ĐMV 88

4.2.3 Dòng chảy ĐMV trước can thiệp 90

4.3 KẾT QUẢ SỚM CỦA PHƯƠNG PHÁP CAN THIỆP ĐMV CÓ DÙNG BÓNG PHỦ THUỐC PACLITAXEL 90

4.3.1 Thành công về kỹ thuật can thiệp: 90

4.3.2 Thành công về kết quả can thiệp 91

4.4 KẾT QUẢ THEO DÕI DỌC CÁC BIẾN CỐ TIM MẠCH CHÍNH 93

4.4.1 Biến cố tim mạch chính trong quá trình theo dõi 93

4.4.2 Huyết khối sau can thiệp nong bóng phủ thuốc 95

4.4.3 Tách thành động mạch vành 98

4.4.4 Đặt Stent cứu nguy 99

4.5 MỨC ĐỘ HẸP LẠI SAU CAN THIỆP NONG BÓNG PHỦ THUỐC 99

4.6 ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ HẸP LẠI SAU NONG BÓNG PHỦ THUỐC PACLITAXEL 104

4.6.1 Tuổi và giới 104

4.6.2 Các yếu tố nguy cơ bệnh mạch vành 106

4.6.3 Vị trí và số lượng mạch máu tổn thương 107

4.6.4 Ảnh hương của yếu tố viêm – CRPhs 108

4.6.5 Đặc điểm tổn thương ĐMV 109

KẾT LUẬN 112

HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU 114

KIẾN NGHỊ 115 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

Trang 11

Bảng 3.1 Đặc điểm lâm sàng chung của nhóm nghiên cứu 58

Bảng 3.2 Đặc điểm các yếu tố nguy cơ bệnh mạch vành 60

Bảng 3.3 Đặc điểm kết quả xét nghiệm máu nhóm nghiên cứu 62

Bảng 3.4 Đặc điểm ĐTĐ của nhóm nghiên cứu 63

Bảng 3.5 Đặc điểm siêu âm tim của nhóm nghiên cứu 64

Bảng 3.6 Tần suất các nhánh ĐMV tổn thương 65

Bảng 3.7 Kết quả chụp ĐMV theo số lượng nhánh tổn thương 67

Bảng 3.8 Đặc điểm tổn thương ĐMV của nhóm nghiên cứu 68

Bảng 3.9 Các đặc điểm tổn thương ĐMV khác của nhóm nghiên cứu 69

Bảng 3.10 Kết quả can thiệp nong bóng phủ thuốc 71

Bảng 3.11 Thay đổi của CCS sau 6 tháng theo dõi 74

Bảng 3.12 Biến đổi của các chỉ số siêu âm tim từ sau 6 tháng 74

Bảng 3.13 So sánh biến cố tim mạch chính trong 3 tháng đầu 76

Bảng 3.14 So sánh biến cố tim mạch chính trong 6 tháng đầu 76

Bảng 3.15 Biến cố tim mạch chính trong cả quá trình theo dõi 77

Bảng 3.16 Biến chứng XHTH cao 78

Bảng 3.17 Kết quả chụp lại ĐMV từ sau 6 tháng 79

Bảng 3.18 Mối liên quan đơn biến giữa các yếu tố nguy cơ ảnh hương đến phần trăm hẹp của đường kính lòng mạch sau can thiệp với Bóng phủ thuốc 82

Bảng 3.19 Mối liên quan đơn biến giữa các yếu tố nguy cơ ảnh hương đến mất lòng mạch muộn (LLL, mm) của lòng mạch sau can thiệp với Bóng phủ thuốc 83

Trang 12

thuốc paclitaxel 85Bảng 3.21: Mô hình hồi quy tuyến tính đa biến với biến đầu ra là mức độ

mất lòng mạch muộn (LLL.mm) sau can thiệp với bóng phủ thuốc paclitaxel 85Bảng 4.1 So sánh với các kết quả nghiên cứu của các tác giả khác cho

nhóm tái hẹp trong Stent 101Bảng 4.2 So sánh với các kết quả nghiên cứu của các tác giả khác cho

nhóm tổn thương mạch nhỏ 103

Trang 13

Biểu đồ 3.1 Phân bố các đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi 59

Biểu đồ 3.2 Phân loại mức độ đau ngực theo CCS 60

Biểu đồ 3.3 Phân bố các tổn thương ĐMV 66

Biểu đồ 3.4 Mức độ hẹp ĐMV trung bình trước và sau can thiệp 72

Trang 14

Hình 1.1 Phân loại tái hẹp trong Stent ĐMV 7

Hình 1.2 Tái hẹp trong Stent sau can thiệp ĐMV 12

Hình 1.3 Cơ chế tác dụng của Paclitaxel lên chu kỳ tế bào181 31

Hình 2.1 Máy chụp mạch kỹ thuật số Infinitive của hãng Toshiba 43

Hình 2.2 Hình ảnh Bóng phủ thuốc Sequent Please và thành phần cấu tạo của bóng 45

Hình 2.3 Cách luồn ống thông vào ĐMV trái (A) và ĐMV phải (B) 48

Hình 2.4 Bộ dụng cụ can thiệp ĐMV qua da 50

Hình 2.5 Đường kính lòng mạch thay đổi ơ các thời điểm 52

Hình 3.1 Ca lâm sàng nong bóng phủ thuốc 80

Sơ đồ 1.1 Cơ chế tái hẹp ĐMV sau can thiệp 12

Sơ đồ 1.2 Sơ đồ nghiên cứu 57

6,15,34,47,48,52,56,60,62,67,73,81

Trang 15

1-5,7-14,16-33,35-46,49-51,53-55,57-59,61,63-66,68-72,74-80,82-ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh lí động mạch vành hay còn gọi là bệnh tim thiếu máu cục bộ là

bệnh lí tại tim, gây ra do hẹp động mạch vành cấp máu cho tim[1] Mặc dù,đến nay đã có nhiều tiến bộ trong việc điều trị đặc biệt là những tiến bộ củacan thiệp động mạch vành qua da hay mổ bắc cầu nối chủ vành nhưng vẫn cónhững tổn thương là những thách thức khó khăn như tái hẹp lại trong Stentmạch vành hay các tổn thương mạch nhỏ, chỗ phân nhánh, trên các đối tượngbệnh nhân có nhiều yếu tố nguy cơ như tiểu đường, tăng huyết áp, rối loạnlipit máu…[2]

Bệnh lý động mạch vành (ĐMV) đang ngày càng trơ nên phổ biến trênthế giới và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ơ cả các quốc gia phát triểncũng như những nước đang phát triển Trên thế giới, ước tính có 110,6 triệungười có bệnh lí mạch vành, số người mắc bệnh lí mạch vành tăng tới 73,3%

từ năm 1990 đến 2015 Theo NHANES (National Health and NutritionExamination Survey), thống kê từ năm 2011-2014, ước tính có 16,5 triệungười Mỹ trên 20 tuổi có bệnh lí mạch vành [3]

Cùng với sự thay đổi lối sống theo hướng Âu hóa, tại các nước đang pháttriển (trong đó có Việt Nam), bệnh lí ĐMV đã trơ thành nguyên nhân gây tửvong và bệnh tật hàng đầu Thống kê tại Viện Tim mạch Việt Nam cho thấy:nếu những năm 1980 chỉ có khoảng 1% số bệnh nhân nằm điều trị nội trú là

do bệnh lí ĐMV thì những năm 2002 là 7,5% và năm 2007 là 11,5% [4] Mặc dù có nhiều tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị, nhưng bệnh lýĐMV vẫn là một loại bệnh nặng, diễn biến phức tạp, có nhiều biến chứngnguy hiểm, luôn đe dọa tính mạng người bệnh, vì thế tỷ lệ tử vong vẫn còncao Ở Mỹ, tỷ lệ tử vong do nhồi máu cơ tim khoảng 30%, trong đó một nửabị tử vong ngay trong giờ đầu tiên Ở Pháp, tỷ lệ tử vong do nhồi máu cơ timcũng vào khoảng 30% trong tổng số các trường hợp tử vong nói chung Theothống kê của Tổng hội y dược học Việt Nam năm 2001, tỷ lệ tử vong do

Trang 16

nguyên nhân bệnh tim mạch nói chung là 7,7%, trong đó 1,02% chết vì nhồimáu cơ tim [5].

Với việc áp dụng kỹ thuật can thiệp động mạch vành qua da trong điềutrị NMCT đã cho ưu thế hơn hẳn về hiệu quả sớm cũng như lâu dài so vớicác phương pháp điều trị kinh điển và đã được áp dụng rộng rãi trên thế giới.Việc đặt Stent trong động mạch vành đã có ưu thế vượt trội so với nong bằngbóng đơn thuần Tuy nhiên, hiệu quả lâu dài bị hạn chế do hiện tượng tái hẹptrong lòng mạch được can thiệp trước đó Theo các nghiên cứu, tỷ lệ tái hẹp

từ 35-40% đối với nong bằng bóng và từ 20-25% đối với đặt Stent sau 6 tháng[6,7] Đây chính là một trong những nguyên nhân khiến bệnh nhân tái pháttriệu chứng và phải nhập viện để tái can thiệp mạch vành

Sự ra đời Stent bọc thuốc chống tái hẹp đã tạo ra bước ngoặt lớn trongcan thiệp mạch vành Vào năm 2001, với thành công của thử nghiệm RAVEL,thử nghiệm đầu tiên trên người, các sản phẩm Stent bọc thuốc bắt đầu đượclưu hành trên thị trường với các tên gọi phổ biến như Cypher (2002, hãngCordis), Taxus (2003, hãng Boston Scientific)…cũng như đã được chứngminh trong nhiều thử nghiệm lâm sàng về tính an toàn và hiệu quả trong điềutrị đối với đa số các bệnh nhân với nhiều kiểu tổn thương giải phẫu khác nhau[8],[9],[10],[11],[12]

Tuy nhiên, từ năm 2005, các nghiên cứu lâm sàng lại cho thấy đã có tăng

tỉ lệ huyết khối muộn sau đặt Stent bọc thuốc, và làm tăng tỉ lệ tử vong củaStent bọc thuốc so với Stent thường và đặt dấu hỏi cho mức độ an toàn củaStent phủ thuốc Vấn đề này đã được nghiên cứu trong nhiều các nghiên cứugộp và qua nhiều dữ liệu đã được báo cáo [13],[14] Các nghiên cứu cũng chothấy có tới 85% lòng mạch không đươc phủ hết bơi Stent dẫn tới không đạtđược nồng độ thuốc theo yêu cầu Nồng độ thuốc cao trên Stent làm chậm quátrình hàn gắn nội mạc, các nghiên cứu autopsy cho thấy sau 40 tháng, Stentbọc thuốc vẫn không được nội mạc phủ hết

Trang 17

Sự ra đời của bóng phủ thuốc (DEB) bước đầu đã giúp khắc phục đượcnhững hạn chế của Stent bọc thuốc (DES) Từ năm 2002, Bruno Scheller vàUlrich Speck đã phát triển một kĩ thuật sử dụng ống thông có bóng phủ thuốc(DEB), bóng nong với cấu trúc bề mặt đặc biệt được gắn với thuốc chống táihẹp (paclitaxel) được trộn với chất mang có ái tính sinh học để điều trị cáctrường hợp tái hẹp trong Stent Từ đó đến nay đã có nhiều bằng chứng y họctrong việc chứng minh hiệu quả của DEB trong điều trị tái hẹp trong Stent(ISR) cũng như có thể áp dụng can thiệp trong trường hợp mạch nhỏ (SVD),nhiều tổn thương, bệnh nhân có tiểu đường Bóng phủ thuốc không cópolymer nên không gây viêm và hình thành huyết khối như Stent bọc thuốc.Các thử nghiệm lâm sàng gần đây đã chỉ ra việc giảm một cách có ý nghĩa tỉ

lệ tái hẹp trong điều trị tái hẹp trong Stent (ISR) và các tổn thương mạch vành

có kích thước nhỏ (SVD) [15],[16],[17]

Ở Việt Nam, từ năm 2002 đã áp dụng tim mạch can thiệp trong điều trịNMCT Đặc biệt từ năm 2009 một số trung tâm Tim mạch trong nước đã bướcđầu áp dụng bóng phủ thuốc trong điều trị tái hẹp trong Stent, một số tổnthương mạch vành khác và bước đầu thu được kết quả đáng khích lệ Tuynhiên chưa có nghiên cứu nào phân tích khả năng của DEB trong điều trị bệnh

lý mạch vành Do đó, chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm hai mục tiêu sau:

1 Đánh giá kết quả của phương pháp can thiệp động mạch vành qua

da với bóng phủ thuốc paclitaxel trong điều trị tái hẹp trong Stent

và tổn thương động mạch vành nhỏ

2 Đánh giá một số yếu tố có ảnh hưởng đến mức độ hẹp lại [biểu thị bằng phần trăm hẹp của đường kính lòng mạch (DS) và chỉ số mất lòng mạch muộn (LLL)] ở những bệnh nhân đã được nong bóng phủ thuốc paclitaxel

Trang 18

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 TÌNH HÌNH BỆNH LÍ ĐỘNG MẠCH VÀNH TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

1.1.1 Trên thế giới

Bệnh lí động mạch vành là nguyên nhân tử vong hàng đầu trên thế giớiđặc biệt ơ những nước thu nhập trung bình và cao Năm 2012, tử vong do mọinguyên nhân ước tính trên thế giới là 56 triệu người với 17,5 triệu người chết

do bệnh tim mạch (chiếm 31%) Bệnh tim thiếu máu cục bộ có tỷ lệ tử vong

là 13% (với 7,4 triệu người), trong khi đột quỵ chiếm 12% (6,7 triệu người tửvong) Ở các nước thu nhập cao, 70% tử vong xảy ra ơ những người trên 70tuổi do bệnh tim mạch, ung thư, sa sút trí tuệ, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

và tiểu đường Mặc dù, tỷ lệ sống còn của các bệnh nhân mắc bệnh lí mạchvành tăng trong vài thập kỷ qua nhưng các nghiên cứu ước tính số lượngngười mắc bệnh lí tim mạch sẽ vượt quá 23,6 triệu người vào năm 2030 [19].Ước tính hiện nay, cứ 3 người Mỹ trương thành thì có một người mắc bệnh lítim mạch (xấp xỉ 71,3 triệu người), trong đó hơn 17 triệu người mắc bệnh límạch vành và 10 triệu người xuất hiện cơn đau thắt ngực [3] Tuổi là yếu tốnguy cơ mạnh nhất của bênh lí tim mạch Bệnh tim và đột quỵ là nguyên nhânđứng hàng thứ nhất và thứ năm trong các nguyên nhân tử vong tại Hoa Kỳ vàcả hai nguyên nhân này chiếm 28,6% các ca tử vong theo các số liệu thống kênăm 2015[18]

Trang 19

1.1.2 Tại Việt Nam

Theo thống kê của Phạm Việt Tuân tại Viện Tim mạch quốc gia ViệtNam [20] từ năm 2003- 2007 tỷ lệ BTTMCB chiếm 18,3% tổng số bệnh nhânnằm viện và với tỷ lệ tăng dần: 2003 là 11,2% lên 24% năm 2007

Việt Nam đã ứng dụng đặt Stent ĐMV cho các bệnh nhân có BTTMCB

từ rất sớm từ đó tới nay kĩ thuật đặt Stent được áp dụng rộng rãi, ngày cànghoàn thiện tại nhiều trung tâm trong cả nước Tuy nhiên, tỉ lệ tái hẹp và tái canthiệp lại chưa được đánh giá đầy đủ Theo tác giả Nguyễn Quốc Thái nghiêncứu trong 216 bệnh nhân NMCT cấp cho thấy tỉ lệ tái hẹp sau đặt Stent là16,7% [163] Theo tác giả Bùi Long, nghiên cứu trên 122 bệnh nhân có hộichứng vành cấp được đặt Stent phủ thuốc có Polymer tự tiêu cho thấy tỉ lệ táihẹp lại là 5,5% và tái can thiệp tổn thương đích là 3,3% [21]

1.2 TÁI HẸP SAU CAN THIỆP ĐMV

Sự ra đời của kĩ thuật can thiệp bệnh mạch vành qua da từ năm 1977 dobác sĩ Andreas Gruentzig là người khơi xướng đã làm nên cuộc cách mạngtrong điều trị bệnh mạch vành đồng thời tạo ra sự phát triển nhanh chóng củacác phương pháp can thiệp qua da mới trong điều trị bệnh lý mạch vành Tuyvậy, hiện tượng hẹp lại của lòng mạch sau can thiệp vẫn là một hạn chế chínhbất kể kỹ thuật can thiệp nào Tỷ lệ tái hẹp sau nong ĐMV bằng bóng từ 30-60%, sau đặt Stent kim loại trần (BMS) là 16-44% và 3% - 20% đối với DES[90] Mặc dù tỉ lệ tái hẹp cao, kỹ thuật đặt Stent thường vẫn được sử dụng chotới hiện nay trong trường hợp bệnh nhân có chống chỉ định dùng liệu phápkép tiểu cầu kéo dài Theo tác giả Cassese và cs khi nghiên cứu 10004 bệnhnhân cho thấy tỷ lệ tái hẹp là 30,1%, 14,6% và 12,2% tương ứng cho BMS,DES thế hệ thứ nhất, và DES thế hệ thứ hai [164]

Trang 20

1.2.1 Định nghĩa: Tái hẹp trong Stent (ISR) là sự giảm đường kính trong

lòng Stent theo thời gian do tăng sản lớp nội mạc mạch máu mới Trên hìnhảnh chụp mạch, tái hẹp được định nghĩa khi hẹp lại ≥50% tại vị trí đặt Stenthoặc trong vòng 5mm tới hai đầu Stent Tái hẹp trên lâm sàng để chỉ định táican thiệp lại tổn thương đích (TLR), với tiêu chuẩn về mặt hình ảnh chụpmạch (hẹp lại từ 50% đk lòng mạch) sẽ có thêm một trong các tiêu chuẩn sau:

có triệu chứng lâm sàng của cơn đau thắt ngực tái phát, hình ảnh thiếu máu cơtim (thay đổi hình ảnh ĐTĐ, hay nghiệm pháp gắng sức dương tính), bằngchứng về tình trạng thiếu máu cơ tim với các thăm dò không xâm định hướng[phân suất dự trữ vành FFR < 0,8; hình ảnh siêu âm nội mạch IVUS cho diệntích vùng cắt ngang < 4mm2 (vị trí thân chung < 6mm2)] hoặc tái hẹp ≥ 70%

bất kể có triệu chứng hay không [26], [90]

Mất lòng mạch muộn (LLL) thường được sử dụng với ý nghĩa tươngtự như ISR và đại diện cho phần mạch bị thu hẹp lại sau đặt Stent ơ thời điểmchụp lại Sau đặt Stent cho các tổn thương hẹp mạch vành, “acute gain” hayphần mạch mơ rộng ngay sau can thiệp, được đo như sự chênh lệch về kíchthước lòng mạch tối thiểu (MLD) tại vị trí can thiệp giữa trước và sau canthiệp LLL là sự chênh lệch về kích thước MLD tại thời điểm sau can thiệp vàtại thời điểm chụp lại Trong khi, “net gain” đại diện cho kích thước lòngmạch được mơ rộng tại thời điểm chụp lại, được tính bằng hiệu số của “ acutegain” trừ đi LLL LLL đại diện cho hiệu quả của thiết bị can thiệp và kĩ thuậtcan thiệp Phần trăm mức độ hẹp được tính như sau [1- (MLD/ RVD)] vớiRVD là đường kính mạch tham chiếu [92]

Trang 21

1.2.2 Phân loại tái hẹp trong Stent

Hình 1.1 Phân loại tái hẹp trong Stent ĐMV[160]

Theo tác giả Mehran, hình thái tái hẹp trong Stent có 4 loại [160]: Loại

1 là nhóm tái hẹp ổ, khu trú với chiều dài tổn thương tái hẹp <10mm ơ các vịtrí không chịu lực (chỗ khớp nối hoặc chỗ trống Stent), thân Stent, bờ trước

và bờ sau Stent (không cả hai) hoặc cả hai đầu (nhiều điểm); Loại 2: tái hẹp

lan tỏa trong Stent với chiều dài tổn thương >10mm, không lan ra ngoài bờ

Stent; Loại 3: tái hẹp lan tỏa tăng sinh, chiều dài tổn thương > 10mm và lan ra ngoài bờ Stent; Loại 4: tổn thương tái hẹp “tắc hoàn toàn” và dòng chảy TIMI

0 tại vị trí tổn thương

Tái hẹp loại 1: tái hẹp ổ

Tái hẹp loại 2, 3, 4: tái hẹp lan tỏa

Loại 1A: Khớp nối hoặc chỗ trống Loại 1B: Bờ Stent

Loại 1C: Thân Stent Loại 1D: Nhiều điểm

Loại 2: Tái hẹp trong Stent Loại 3: Tái hẹp tăng sinh

Loại 4: Tắc hoàn toàn

Trang 22

1.2.3 Cơ chế của tái hẹp ĐMV (Sơ đồ 1.1)

1.2.3.1 Co chun của thành mạch

Được định nghĩa là sự khác biệt giữa đường kính lòng mạch khi bơmbóng với đường kính lòng mạch tối thiểu sau khi bóng xẹp đi Phần lớn sự cochun thành mạch xảy ra trong vòng 30 phút sau khi bóng nong xẹp đi [28] Cochun thành mạch thường xảy ra sau nong động mạch vành bằng bóng ơ nhữngtổn thương lệch tâm, tổn thương ơ lỗ động mạch vành

1.2.3.2 Dầy lên của lớp áo trong

Là phản ứng của thành mạch máu khi bị tổn thương do nong độngmạch vành bằng bóng và các dụng cụ khác Các yếu tố đông máu và tế bàoviêm hoạt động do sự kích hoạt của các chất trung gian hoá học, các yếu tốtăng trương dẫn đến hình thành huyết khối, quá sản lớp áo trong (tế bào cơtrơn di trú và tăng sinh) [29]

1.2.3.3 Tái cấu trúc âm tính động mạch vành

Các nghiên cứu thực nghiệm và hình ảnh siêu âm trong lòng mạch chothấy hiện tượng sự co lại của mạch máu và giảm đường kính lòng mạch saucan thiệp mạch vành không đặt Stent [30] Sự tái cấu trúc là yếu tố chínhgây tái hẹp sau nong động mạch vành bằng bóng và cắt mảng xơ vữa cóđịnh hướng [31]

1.2.4 Đáp ứng sinh học trong tái hẹp ĐMV

Tái hẹp ĐMV là hậu quả của một loại các biến đổi phức tạp về phân tử

và tế bào trong quá trình hồi phục lại thành mạch sau khi bị tổn thương Đáp

ứng sinh học thường gồm 4 giai đoạn Kết tụ tiểu cầu và huyết khối: ngay

sau đặt Stent tại vị trí tổn thương mạch máu và kéo dài 4 tuần Lớp nội mạc bịlột trần và lớp áo giữa bị bóc tách sau can thiệp Tổn thương gây kết tụ và

Trang 23

hoạt hoá tiểu cầu, tạo ra một lượng lớn các yếu tố kích hoạt dòng thác viêm vàphóng thích các phân tử kết dính gây hình thành huyết khối như PDGF,thrombin và thromboxane A2 Thrombin sẽ thúc đẩy sự tăng sản nội mạc, sự

di trú các tế bào cơ trơn.[32],[33] Giai đoạn viêm: từ vài ngày đến vài tuần,

các bạch cầu sẽ tụ tập tại vị trí tổn thương tiết ra các yếu tố ảnh hương tới quátrình lành mô Đáp ứng viêm có thể kéo dài vài tháng Các bạch cầu trung tínhthâm nhiễm vào thành mạch trong vòng 24h sau đó là các bạch cầu đơn nhân,nếu thành mạch có lõi lipit và tổn thương mạch máu sâu thì mức độ thâmnhiễm bạch cầu càng cao Các tế bào viêm phóng thích các cytokines nhưinterleukin-1, yếu tố hoại tử mô gây kích thích tế bào cơ trơn thành mạch ditrú và tăng sinh Các lympho bào, mô bào cũng thâm nhiễm quanh các mắt

cáo Stent kích hoạt tế bào cơ trơn tăng sinh [34],[35] Giai đoạn tăng sinh:

các tế bào cơ trơn di chuyển và tăng sinh nhằm hàn gắn vết thương nội mạcnhờ các bạch cầu phóng thích và hoạt hoá các men tiêu huỷ mô tạo thành conđường cho các tế bào cơ trơn di trú Tế bào cơ trơn di chuyển tới huyết khối,tạo ra các chất tân tạo nội mạc mới, các tế bào này tăng sinh và tổng hợp cácchất nền ngoại bào là thành phần chính của tổn thương tái hẹp Sự tăng sinh tếbào cơ trơn thành mạch là yếu tố chìa khoá trong sinh bệnh học của sự tái hẹp

và là đích chính trong điều trị tái hẹp.[36],[37] Giai đoạn tái cấu trúc muộn: sự tích tụ các chất nền thành mạch, protein, chất xơ Protein chất nền

tạo ra các kích thích cơ học và hoá học khác nhau Nhiều thành phần ngoạibào biến đổi các tín hiệu của chúng qua các thụ thể chuyên biệt bề mặt gọi làintegrin hỗ trợ cho sự di trú và tăng sinh trong đáp ứng phân bào Các thànhphần chất nền khác và yếu tố tăng trương điều hoà hoạt tính của tế bào cơ trơnđáp ứng sự phát triển và tái cấu trúc thành mạch Các metoproteinases(MMPs) nền là nhóm các protein cơ bản trong sự pha loãng chất nền, có vaitrò trong quá trình tái hẹp qua sự di trú của tế bào cơ trơn và bạch cầu.[36]

Trang 24

Xơ vữa mạch máu mới là yếu tố góp phần vào hiện tượng tái hẹp Sự

hình thành lớp nội mạc mới do tổn thương thành mạch sau can thiệp với bóngqua da hay đặt Stent, một loạt các đáp ứng sinh học được kích hoạt bơi tổnthương lớp nội mạc và trung mạc dẫn tới tăng sinh và di trú của lớp tế bào cơtrơn mạch máu và tích tụ các chất nền ngoại bào, kích hoạt hệ thống đôngcầm máu Nhiều năm sau đặt Stent, hiện tượng viêm tại chỗ có thể dẫn tớihình thành và phát triển các mảng xơ vữa mạch máu mới với đặc điểm là xuấthiện các tế bào bọt trong các lớp tân mạc, có/không lớp lõi hoại tử và calcihoá [38] Các mảng xơ vữa mới này có thể gây tái phát triệu chứng không ổnđịnh và NMCT ơ bệnh nhân tái hẹp sau can thiệp Tỉ lệ các mảng xơ vữa mớinày tăng cao hơn trong nhóm DES so với BMS (31% so với 16%, p<0,01).Các yếu tố tiên lượng cho hình thành các mảng xơ vữa mới là tuổi trẻ, thờigian đặt Stent dài, sử dụng Stent thế hệ thứ nhất (SES, PES) [39]

1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng tái hẹp ĐMV

1.2.5.1 Các yếu tố dự báo tái hẹp liên quan đến bệnh nhân

Các yếu tố dự báo liên quan đến bệnh nhân là đái tháo đường (đặc biệt lànhững người đái tháo đường phải dùng insulin) [40],[41] và hội chứng mạchvành cấp [42] Sự tăng tỷ lệ tái hẹp trong số bệnh nhân đái tháo đường là dorối loạn chức năng nội mạc, sản sinh bất thường các yếu tố tăng trương, tăngkhả năng ngưng kết tiểu cầu và huyết khối [43] Cũng có bằng chứng vềinsulin và tình trạng kháng Insulin trong sinh bệnh học của tái hẹp ĐMV ơnhững bệnh nhân tiểu đường [40] Ở những bệnh nhân hội chứng mạch vànhcấp, tình trạng viêm và huyết khối trầm trọng hơn bơi can thiệp ĐMV và kếtquả là tăng cường hình thành huyết khối và tăng sinh lớp áo trong dẫn đếntăng hiện tượng tái hẹp Các yếu tố bất thường về gen như: gen đa hình tháicủa enzym chuyển dạng angiotensin, receptor GP IIb/IIIa của tiểu cầu,

Trang 25

apolipoprotein-E… Ở một số bệnh nhân, phản ứng dị ứng với các thành phầncủa Stent như chrome, molybdenum, nickel cũng làm phát triển lớp áo trongtân tạo (neointima) quá mức [44] Hơn nữa, với bằng chứng của vai trò viêmtrong tái hẹp ĐMV được đánh giá qua sự tăng của protein phản ứng C (CRP)sau khi đặt Stent có liên quan làm tăng nguy cơ tái hẹp [45] Có mối liên quan

có ý nghĩa giữa CRP trước thủ thuật với quá sản lớp áo trong tân tạo, do đóđịnh lượng CRP trước can thiệp có thể giúp ích tiên lượng tái hẹp trong Stentsau khi đặt [46]

1.2.5.2 Các yếu tố dự báo liên quan đến tổn thương và thủ thuật can thiệp ĐMV

Tính chất của thương tổn ĐMV có ảnh hương đến tái hẹp ĐMV là:đường kính mạch tham chiếu, đường kính lòng mạch tối thiểu trước can thiệp,chiều dài tổn thương và đường kính lòng mạch tối thiểu sau can thiệp Có mốitương quan nghịch giữa đường kính mạch tham chiếu với tái hẹp cả sau canthiệp bằng bóng [47] và đặt Stent [48] Đường kính mạch máu dưới 2,8mmlàm tăng nguy cơ tái hẹp Đường kính lòng mạch nhỏ trước can thiệp cũng làyếu tố dự báo tái hẹp [47],[49],[50] Chiều dài tổn thương đã là yếu tố tiênlượng mạnh nhất trong thời kỳ nong ĐMV bằng bóng và tiếp tục có giá trị khi

sử dụng Stent Trong một phân tích gộp của bốn nghiên cứu Stent ĐMV thìchiều dài Stent cũng là yếu tố dự báo tái hẹp quan trọng [51] Đường kínhlòng mạch tối thiểu sau can thiệp tương quan đến tái hẹp sau nong ĐMV bằngbóng [47],[52] Kuntz và cộng sự [31] đã đưa ra quan điểm rằng đường kínhmạch sau can thiệp càng lớn càng làm giảm tái hẹp Quan điểm này đượcnhấn mạnh khi sử dụng siêu âm trong lòng mạch đánh giá diện tích mặt cắtngang sau khi đặt Stent [53] Diện tích mặt cắt ngang >9mm2 là yếu tố dự báomạnh không bị tái hẹp [54].Một số yếu tố khác như: tổn thương tái hẹp, tổnthương ơ lỗ ĐMV với ĐM chủ, tổn thương tại chỗ chia, tắc mạn tính và tổnthương ơ mảnh ghép tĩnh mạch [37]

Trang 26

Hình 1.2 Tái hẹp trong Stent sau can thiệp ĐMV (mặt cắt ngang) [27]

Sơ đồ 1.1 Cơ chế tái hẹp ĐMV sau can thiệp [26]

Trang 27

1.2.6 Các phương pháp phòng chống tái hẹp ĐMV

1.2.6.1 Dược trị liệu

Có nhiều loại thuốc đã được nghiên cứu trong việc phòng chống tái hẹptrong Stent như các thuốc chống ngưng tập tiểu cầu, chống viêm, chống tăngsinh tế bào Phần lớn thử nghiệm cho kết quả âm tính, chỉ có một số nghiêncứu là cho kết quả dương tính[55], [59],[60]

Thử nghiệm CREST (Cilostazol for Restenosis trial) là thử nghiệmngẫu nhiên đánh giá hiệu quả phòng ngừa tái hẹp sau đặt Stent trên mạch tựnhiên [55] Với 705 BN được đặt Stent đưa vào nghiên cứu, các bệnh nhânđược sử dụng asprin và clopidogrel (trước và sau can thiệp 1 tháng), đượcngẫu nhiên phối hợp cilostazol 200mg/ngày (354 BN) hoặc nhóm chứng(351BN) duy trì cùng aspirin trong 6 tháng Kết quả, tỉ lệ tái hẹp trong nhómdùng cilostazol ít hơn (20,8% so cới 31,4%, p=0,002), ơ nhóm BN tiểuđường, tỉ lệ tái hẹp trong nhóm dùng cilostazol cũng thấp hơn đáng kể( 17,7% so 37,7%, p=0,01)

Thử nghiệm SHARP (Subcutaneous Heparin and AngioplastyRestenosis Prevention trial), với 339 BN được điều trị ngẫu nhiên so sánh vớinhóm chứng, sau 4 tháng theo dõi cho thấy không có sự khác biệt về kết cụchoặc tỉ lệ tái hẹp[56] Việc sử dụng các thuốc chống viêm hay chống phân bàođường toàn thân cũng được đưa vào nghiên cứu dự phòng tái hẹp nhưcorticosteroids và colchicine chỉ ra ít hoặc không có hiệu quả [57][58]

Thử nghiệm CAPARES (the Coronary Angioplasty Study AmlordipineRestenosis) với 635 BN sau can thiệp mạch vành, được ngẫu nhiên điều trịvới Amlodipine hoặc nhóm chứng Các bệnh nhân được điều trị 2 tuần trướccan thiệp và duy trì 4 tháng sau đó Kết quả cho thấy không có sự khác biệt vềkích thước lòng mạch nhỏ nhất sau can thiệp nhưng tỉ lệ tái can thiệp lại và

Trang 28

các biến cố tim mạch chính giảm hơn ơ nhóm dùng amlodilpine [59] Cácnghiên cứu tổng hợp ơ những bệnh nhân được điều trị thuốc chẹn kênh calcichứng minh giảm tỉ lệ tái hẹp nhưng việc áp dụng trong thực hành hạn chế do

lo ngại làm tăng tỉ lệ thiếu máu cơ tim [60]

1.2.6.2 Xạ trị trong lòng mạch (Vascular Brachytherapy)

Xạ trị trong lòng mạch đã từng là một biện pháp điều trị hứa hẹn đểlàm giảm tỷ lệ tái hẹp Từ rất nhiều năm nay, đặc tính ức chế sinh trương củabức xạ ion hóa đã được ứng dụng thành công để điều trị các rối loạn tăng sinh

lành tính như sẹo lồi, mòng mắt, thoái hóa điểm vàng (macular

malformation), dị dạng động tĩnh mạch, u tạo xương (heterotopic ossification)

[61],[62] Dựa trên những kinh nghiệm này, xạ trị trong lòng mạch đã đượcnghiên cứu như một biện pháp nhằm ức chế tăng sinh nội mạc mạch máu

Có nhiều loại hoạt chất phóng xạ được ứng dụng để xạ trị liệu tronglòng mạch, thường được chia thành 2 nhóm lớn là nhóm phát tia bêta và nhómphát tia gama Các hoạt chất phát tia bêta (như phosphorus-32 (32P), strontium(90Sr/Y) và 188Re) có năng lượng thấp , mức độ đâm xuyên qua mô thấp và dễdàng che chắn bằng chì ơ khoảng cách xa, với thời gian phân rã tương đối thấp(dưới 5 phút) Trong khi ấy, hoạt chất phát tia gama như iridium-192 (192Ir) cómức năng lượng cao, tính đâm xuyên qua mô cao và có thời gian phân rã dàihơn (có thể lên đến 30 phút) và không dễ dàng che chắn [63],[64]

Xạ trị trong lòng mạch để ngăn ngừa tái hẹp sau khi nong động mạchvành lần đầu tiên được giới thiệu vào năm 1992 do một số nhà nghiên cứutiên phong khi thực hiện hàng loạt các nghiên cứu thử nghiệm và sau đó đãminh chứng hiệu quả rõ rệt và bền vững làm giảm hình thành lớp tân mạc saukhi mạch máu bị tổn thương do nong Trong những thử nghiệm này, xạ trịđược áp dụng dưới hai dạng liều cao (đưa vào bằng hệ thống ống thông có

Trang 29

chứa chất phát xạ) hoặc dạng liều thấp (Stent có hoạt tính phóng xạ) Kết quảhứa hẹn của những thử nghiệm tiền lâm sàng đã thúc đẩy việc áp dụng xạ trịtrong lòng mạch trên lâm sàng đối với mạch ngoại vi và sau đó là mạch vành,

để nhanh chóng trơ thành các sản phẩm thương mại lần đầu được dùng ơ châu

Âu năm 1999 Tháng 11 năm 2000, cơ quan quản lý thuốc và thực phẩm củaHoa kỳ (FDA) chấp thuận dùng xạ trị trong lòng mạch để điều trị tái hẹptrong Stent (ISR) [65].[66],[67],[68],[69]

Hiện tượng huyết khối muộn sau khi xạ trị trong lòng mạch liên quan đến một số yếu tố khơi phát như: hiện tượng chậm nội mạc hóa, không liền các vết tách thành động mạch, thiếu hụt ATP hoặc do tăng số Stent phải đặt thêm sau khi xạ trị liệu[70], [71]

Hiện tượng hẹp rìa Stent (edge effects) sau khi xạ trị trong lòng mạchđược định nghĩa là hình ảnh hẹp trên phim chụp chọn lọc động mạch vành sau

xạ trị trong lòng mạch tại vị trí trong vòng 5mm về phía đầu gần hoặc về phíađầu xa của đoạn tiếp xúc với nguồn chiếu xạ Hình ảnh siêu âm trong lòngmạch và các nghiên cứu tế bào học cho thấy tăng sinh tân mạc bất thường làhiện tượng chủ yếu gây hẹp Điều này là một trong những hạn chế chính đểtriển khai xạ trị trong lòng mạch Hẹp rìa thường gặp với các Stent thường,phối hợp giữa tăng sinh nội mạc và tái cấu trúc âm, gặp cả trong các Stentmang xạ hoặc khi dùng ống thông xạ trị Cơ chế của hiện tượng này có thể doliều chiếu xạ thấp ơ rìa tổn thương lại kích thích tăng sinh nội mạc[72]

1.2.6.3 Stent phủ thuốc (Drug Eluting Stent)

Vào tháng 9/1999, thành công của các nghiên cứu tiền lâm sàng vớimột thiết bị mới, được gọi là Stent phủ thuốc (DES) đã được công bố [73].Thiết bị này bao gồm một khung Stent, một chất mang (dựa vào công nghệpolymer) và thuốc chống phân bào được phóng thích dần trong vòng vài tuần

Trang 30

Vào năm 2001, thử nghiệm RAVEL (Randomized Study With the

Sirolimus-Coated Bx Velocity Balloon Expandable Stent) thực hiện trên 238 BN với tổn

thương không phức tạp, ngẫu nhiên được sử dụng Stent Cypher (SES) vàBMS Sau 1 năm theo dõi tỷ lệ tái hẹp là 0% ơ nhóm Stent Cypher so với26,6% nhóm BMS [73] Ngay sau đó, vào năm 2002, Stent Cypher (hãngCordis) đã được chấp nhận sử dụng trên lâm sàng theo tiêu chuẩn châu Âu.Vào năm 2003, Stent Taxus(hãng Boston Scientific), Stent phủ thuốc thứ haicũng đã được chấp thuận sử dụng ơ Châu Âu Stent phủ thuốc cũng đượcchấp thuận cho sử dụng phòng và điều trị tái hẹp trong Stent Việc sử dụngStent phủ thuốc tại Mỹ và nhiều nước khác như Thụy sĩ rất phổ biến, chiếmtới 90% các loại Stent được sử dụng [74]

Có rất nhiều các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên khẳng định việc giảm

tỉ lệ tái hẹp một cách có ý nghĩa thống kê khi so sánh Stent phủ thuốc (DES) vớiStent kim loại trần(BMS) Nghiên cứu thử nghiệm ngẫu nhiên với cỡ mẫu lớn là

HORIZONS-AMI (Harmonizing Outcomes With Revascularization and Stents

in Acute Myocardial Infarction) báo cáo kết quả về chụp mạch và lâm sàng

sau 13 và 24 tháng trên 3006 BN bị NMCT cấp có ST chênh lên được điều trịPES hoặc BMS Sau 24 tháng theo dõi, nhóm PES giảm có ý nghĩa tỷ lệ táithông tổn thương đích và tái thông mạch đích bị thiếu máu Hơn nữa, không

có sự khác biệt có ý nghĩa về các tiêu chí an toàn như tử vong, NMCT, độtquỵ và huyết khối trong Stent [75]

Báo cáo dựa trên phân tích tổng hợp của Kastrati và cộng sự trên 2786

BN được can thiệp ĐMV thì đầu cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩavề tử vong, NMCT hoặc huyết khối trong Stent giữa BMS và DES, nhưng cósự khác biệt có ý nghĩa về nguy cơ tái can thiệp ơ nhóm Stent phủ thuốc (HR:0,38; 95% CI: 0,29-0,50; p<0,001) [76]

Trang 31

Tuy nhiên, từ năm 2005, các dữ liệu lâm sàng đầu tiên đã chỉ ra việctăng tỉ lệ biến chứng huyết khối muộn trong Stent phủ thuốc Hai phân tíchtổng hợp được báo cáo tại Hội nghị Tim mạch Châu Âu tại Barcelona vàotháng 9/2006 đã chỉ ra nguy cơ tăng tỉ lệ tử vong của DES so với BMS [77],[78] Như một đặc điểm của DES là sự giải phóng thuốc chống phân bào kéodài và phụ thuộc vào các cấu trúc Stent mà có đến 85% vùng được đặt Stentkhông được phủ kín bơi các cấu trúc này mà dẫn tới nồng độ thuốc sẽ thấphơn ơ những vùng này, bơi vậy xu hướng các mắt Stent sẽ có nồng độ thuốccao dẫn tới sẽ làm chậm hoặc không được nội mạc hóa hoàn toàn tại các mắtStent này Các nghiên cứu autopsy cho thấy ơ nhóm có DES sau 40 thángvùng có DES vẫn chưa được nội mạc hóa hoàn toàn gây viêm và nguy cơhình thành huyết khối muộn trong Stent [79] Hơn thế nữa, các lớp chấtpolyme trên Stent nơi mang các thuốc tái hẹp cũng có thể gây viêm và hìnhthành huyết khối [80].

1.2.6.4 Bóng phủ thuốc (Drug Eluting Balloon)

Bóng phủ thuốc là một phương pháp mới, rất hứa hẹn trong điều trị táihẹp trong Stent, cũng như đối với các tổn thương mạch nhỏ Thuận lợi củabóng phủ thuốc paclitaxel là cho phép phân bố thuốc chống tái hẹp tối ưu màkhông cần thêm lớp kim loại thứ hai hay các chất cấu trúc polymer gây hiệntượng viêm và hình thành huyết khối như trong cấu trúc của Stent bọc thuốc.Bóng phủ thuốc paclitaxel, chất chống phân bào thuộc họ taxanes có khả năngphòng ngừa tái hẹp trong lòng mạch nhờ ái tính cao với lipit và khả năng gắnkết cao Với cấu tạo đặc biệt làm cho bóng phủ thuốc có khả năng phóng thíchthuốc rất nhanh mà vẫn đảm bảo được nồng độ thuốc cao hơn khi so sánh vớinồng độ thuốc được đưa vào từ Stent trong vài tuần

Trang 32

Cơ chế phân phối thuốc tại chỗ không cần Stent và, đặc biệt, không cầnchất mang – polymer, vẫn đạt được hiệu quả chống tăng sinh và phân bàotương tự như DES và giảm thiểu nguy cơ độc thuốc khi phóng thích kéo dài,

có tính an toàn cao hơn Cơ chế này phù hợp cho các tổn thương tái hẹp cónguy cơ cao như tổn thương mạch máu nhỏ, chỗ phân nhánh hoặc trongStent Các lợi ích của việc phóng thích thuốc chống phân bào tại chỗ khôngStent là rất nhiều: (1) PEB cho phép phóng thích thuốc chống phân bào đồngđều lên toàn bộ bề mặt tiếp xúc mạch máu (trong khi thuốc chỉ tập trung chủyếu ơ vị trí tiếp xúc trực tiếp với khung Stent trong cấu trúc của DES) Tínhchất này đảm bảo thuốc phân bố đều trên vị trí tổn thương làm tăng hiệu quảcủa thuốc lên thành mạch; (2) Nồng độ thuốc chống tái hẹp ơ thành mạch sẽcao nhất vào thời điểm can thiệp, khi thành mạch bị tác động trong quá trìnhcan thiệp Điều này khác với Stent phủ thuốc, Stent phủ thuốc có nồng độthuốc tập trung cao và kéo dài, đặc biệt tại vị trí mang thuốc dẫn tới chậm hàngắn nội mạc và nguy cơ cao hình thành huyết khối muộn; (3) Sự vắng mặt củalớp polymer mang thuốc chống phân bào (như trong cấu trúc nhiều loại DES)giúp cho làm giảm nguy cơ viêm mạn tính và nguy cơ gây huyết khối muộn;(4) Không có thêm cấu trúc một lớp Stent cho phép bảo tồn hình thái giảiphẫu của lòng mạch, đặc biệt là trong trường hợp tổn thương ơ vị trí phânnhánh hoặc các mạch nhỏ, cũng như làm giảm các dòng chảy bất thườngquan sát được sau đặt Stent; (5) Giảm thời gian và sự phụ thuộc quá mứcvào liệu pháp chống ngưng tập tiểu cầu ; (6) PEB có thể sử dụng với cáctổn thương mà việc đặt Stent có thể không phù hợp như tổn thương mạchnhỏ, tái hẹp trong Stent hay tổn thương nhánh bên ơ các tổn thương chỗphân nhánh [182]

Bóng phủ thuốc đã được chứng minh hiệu quả trong điều trị tái hẹpStent thường [15],[16] Thử nghiệm PEPCAD-DES đánh giá hiệu quả của

Trang 33

bóng phủ thuốc paclitaxel trong điều trị tái hẹp trong Stent phủ thuốc[81].Nghiên cứu PEPCAD I đánh giá hiệu quả của bóng phủ thuốc trong tổnthương mạch nhỏ [82].

1.3.1 Định nghĩa

Cho tới nay, chúng ta cũng chưa có một định nghĩa hoàn chỉnh cho tổnthương mạch nhỏ Hầu hết các nhà can thiệp đồng thuận rằng kích thướcmạch ≤ 2,5 mm được coi là mạch nhỏ, một số thử nghiệm cũng định nghĩamạch nhỏ khi đường kính < 2,75 mm và thậm chí có nghiên cứu định nghĩamạch nhỏ khi đường kính < 3,0 mm [83],[87],[88],[89]

Các can thiệp cho các tổn thương mạch nhỏ chiếm một tỉ lệ không nhỏ,

từ 30% đến 50% qua các nghiên cứu [83],[87]; trong các thử nghiệm “ all –comers” vẫn có một tỉ lệ cao các bệnh nhân có bệnh lí mạch nhỏ Đây là cácthử nghiệm với một lượng lớn bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu với tỉ lệ

Trang 34

chỉ định “ off-label” cao và có tính đại diện hơn cho nhiều loại tổn thương vàbệnh nhân trong thực hành lâm sàng hàng ngày Trong thử nghiệm ResoluteAll-comers, thử nghiệm này so sánh Stent phủ thuốc Everolimus (EES) vớiStent phủ thuốc Zotarolimus (ZES), và trong thử nghiệm LEADER (Stent phủBiolimus), có tới 68% có bệnh nhân có đường kính mạch tham chiếu ≤ 2,75mm[88],[89] Do vậy, can thiệp cho những mạch vành kích thước nhỏ là mộtvấn đề rất quan trong trên cả hai khía cạnh lâm sàng và kinh tế

1.3.2 Các can thiệp cho mạch nhỏ với bóng thường và BMS

1.3.2.1 Nong bóng thường(PTCA) so sánh với đặt Stent thường (BMS)

Sau thành công ban đầu của can thiệp mạch vành qua da với bóng nongthường cho các mạch lớn, người ta cũng nhanh chóng nhận ra những hạn chếkhi can thiệp ơ các mạch nhỏ cho tỉ lệ tái hẹp cao cần phải tái can thiệp lại.Kích thước mạch nhỏ đã được coi là một yếu tố nguy cơ gây tái hẹp [83]lí dobơi tăng sản nội mạch là yếu tố độc lập với kích thước lòng mạch [91], và mấtlòng mạch muộn thì tương đương ơ cả mạch nhỏ và mạch lớn [92] Ngược lạivới mất lòng mạch muộn, phần trăm đường kính hẹp trực tiếp phụ thuộc vàokích thước mạch Trong các mạch nhỏ, “acute gain” hay sự mơ rộng lòngmạch ngay sau can thiệp thường nhỏ hơn khi so sánh với mạch lớn và kết quả

là “net gain” hay kích thước lòng mạch còn lại sau hiện tượng mất lòng mạchmuộn thì nhỏ hơn và dẫn tới tăng tỉ lệ tái hẹp [93]

Trong nghiên cứu ban đầu, can thiệp qua da với BMS ơ các tổn thươngmạch lớn (> 3,0 mm) được so sánh với các tổn thương mạch nhỏ (< 3mm) vàkhằng định tỉ lệ tái hẹp cao trong nhóm mạch nhỏ (32,6% đối với 19,9%, với p <0,0001) Một phát hiện quan trọng cho thấy mức độ mất lòng mạch muộn là nhưnhau giữa hai nhóm (mạch nhỏ: 1,11 ± 0,85mm đối với mạch lớn: 1,05 ±0,91

mm, với p =NS) Các yếu tố dự báo không tái hẹp là diện tích vùng Stent tốithiểu lớn (OR:1,19, p=0,0001) và tổn thương ngắn (OR:1,037, p=0,01) [84]

Nghiên cứu tổng hợp của Agostoni và cs, với việc phân tích trên 4383

Trang 35

bệnh nhân từ 13 thử nghiệm lâm sàng với đường kính mạch tham chiếu <3mm Một phát hiện quan trọng là không có sự khác biệt về tử vong (OR =0,1, 95% CI: 0,48-1,36) và NMCT (OR =0,8, 95% CI: 0,58-1,11) giữa hainhóm BMS và PTCA Tuy nhiên, các biến cố tim mạch chính hay gặp trongnhóm PTCA hơn (22,7% so với 17,6%) Việc giảm biến cố tim mạch chínhchủ yếu từ giảm tỉ lệ tái can thiệp (OR =0,76, 95%: CI 0,61-0,96) Cần lưu ýrằng, trong các phân tích khi nong bóng tối ưu thì biến cố MACE tương tựBMS (OR =0,84, 95% CI: 0,63-1,12) trong khi PTCA không tối ưu có tỉ lệbiến cố MACE cao hơn đáng kể (OR =0,53, 95% CI: 0,37-0,76, p< 0,001)[98]

Một phân tích tổng hợp khác của tác giả Moreno và cs [99] với 3541bệnh nhân từ 11 nghiên cứu trên các mạch nhỏ (đk < 3mm) Tỉ lệ tái hẹp qua cácnghiên cứu là 25,8 % đối với BMS và 34,2% cho nhóm chỉ nong với bóng thường(RR=0,77, 95% CI: 0,65 – 0,92, p=0,003) Bệnh nhân đặt Stent BMS có tỉ lệMACE thấp (15% so với 21,8% với RR= 0,7, 95% CI: 0,57 – 0,87, p=0,002) và tỉ

lệ tái can thiệp mạch đích tốt hơn (TVR) (12,5 % so với 17%, RR =0,75, 95% CI:0,61 – 0,91, p=0,004) Không có sự khác biệt về tỉ lệ tử vong và NMCT

1.3.2.2 Độ dày thanh chống Stent trong can thiệp mạch nhỏ

Thử nghiệm ISAR-STEREO-2 là nghiên cứu đầu tiên tiến hành ơ mạchlớn so sánh hai loại Stent BMS – một loại có thanh chống mảnh (50µm) và mộtloại có thanh chống dày (140 µm)- và kết quả nghiên cứu cho thấy có giảm đáng

kể tỉ lệ tái hẹp trong nhóm có thanh chống mảnh (17,9%) khi so sánh với nhóm

có thanh chống dày (31,4%) (RR: 0,57, 95% CI: 0,39-0,84, p< 0,001), nhưngkhông có sự khác biệt về tử vong và NMCT ơ thời điểm sau 1 năm[100]

Trong một phân tích khác, Stent với thanh chống mảnh được định nghĩakhi với đường kính thanh chống < 100 µm Tái hẹp là thấp hơn đáng kể trongnhóm thanh chống mảnh (28,5%) so với nhóm có thanh chống dày (36,6%)[101] Trong nghiên cứu so sánh DES có thanh chống dày (Cypher 140 µm,

Trang 36

Stent phủ sirolimus) được so sánh với BMS có thanh chống mảnh (BeStent 76µm), tỉ lệ tái hẹp trên chụp mạch là 8,3% đối với Stent Cypher và 25,5% choBeStent (p< 0,001), điều này tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của liệupháp chống tăng sinh trong điều trị mạch nhỏ và chứng minh nguy cơ cao củacác tổn thương mạch nhỏ này thậm chí khi được điều trị với BMS có thanhchống mảnh[102].

Bảng 1.1 Tóm tắt các nghiên cứu so sánh giữa BMS và PTCA cho can thiệp

mạch nhỏ [94],[95],[96],[97],[103].

Thử

nghiệm

Đk mạch tham chiếu (mm)

Độ dày Stent (µm)

n=381 < 3,0 85 47,0 21,0 33,7 18,8 27,1 15,3COAST

n=588 2,0-2,6 90 32,2 27,2 15,4 11,7 14,4 10,7Park và cs

1.3.2.3 Nong mạch bằng bóng và các thiết bị hỗ trợ

Khoan phá mảng xơ vữa trong bệnh lí mạch nhỏ

Giá trị của khoan phá mảng xơ vữa so sánh với PTCA trong các tổnthương mạch nhỏ (RVD trung bình là 2,46 mm) được báo cáo trong thửnghiệm DART Tiêu chí thất bại mạch đích TVF (bao gồm tử vong, NMCT có

Trang 37

Q, và cần tái tưới máu do có triệu chứng) là như nhau khi so sánh khoan phámảng xơ vữa và nhóm PTCA (30,5% so với 31,2%) Kết quả là “acute gain”kích thước lòng mạch ngay sau can thiệp (với khoan phá 0,86 mm so vớiPTCA 0,88mm) và mất lòng mạch muộn (khoan phá 0,49 mm so với PTCA0,56 mm) là như nhau giữa hai nhóm[105]

Bóng “cutting balloon” trong tổn thương mạch nhỏ

Tương tự, việc sử dụng bóng “cutting balloon” trong tổn thương mạchnhỏ được khảo sát trong một thử nghiệm ngẫu nhiên lớn (RVD bằng 2,86mm) Nghiên cứu này cho thấy tỉ lệ tái hẹp nhị phân trong nhóm dùng bóng

“cutting balloon” (31,4%) so với nhóm PTCA (30,4%)[106]

Mặc dù, có không có sự khác biệt về kết quả giữa nhóm PTCA và các thiếtbị hỗ trợ, các thử nghiệm này vẫn khẳng định tính an toàn và hiệu quả trong cáctổn thương phù hợp cho khoan phá mảng xơ vữa (như tổn thương calci hoá nặng)hoặc bóng “cutting balloon” (như tổn thương xơ dễ bị hiện tượng “recoil”)

1.3.3 Can thiệp mạch nhỏ với Stent phủ thuốc

1.3.3.1 DES thế hệ thứ nhất

Stent phủ Sirolimus (SES)

Thử nghiệm SIRIUS 2.25 là một nghiên cứu không ngẫu nhiên, cỡ mẫunhỏ với khoảng 100 bệnh nhân được sử dụng Stent phủ Sirolimus với kíchthước 2,25 mm cho các tổn thương mạch nhỏ, được so sánh với BMS (làmnhóm chứng lịch sử), kết quả cho thấy giảm đáng kể TLR sau 6 tháng ơ nhómSES (4%) so với nhóm Stent Bx Velocity (15%) Tỉ lệ tái hẹp nhị phân trongtổn thương là giảm tới 16,9% trong nhóm SES so với 30,6% tới 45,9% trongnhóm chứng BMS lịch sử[107]

Sau đó, thử nghiệm ngẫu nhiên tiến cứu SES-SMART so sánh SES vớiBMS trong những mạch có đường kính trung bình là 2,2 mm Tỉ lệ tái hẹp nhịphân sau 8 tháng là 53,1% trong nhóm BMS và 9,8% trong nhóm SES (RR

Trang 38

0,18; 95% CI: 0,1 – 0,32, p < 0,001) Tương tự, biến cố MACE là giảm đáng

kể trong nhóm SES, 9,3% so với 31,3% trong nhóm BMS (RR 0,3; 95% CI:0,15-0,55, p< 0,001), phần lớn là giảm TLR (7% so với 21%) và NMCT 91,6% so với 7,8%)[108]

Stent phủ Paclitaxel (PES)

Trong thử nghiệm TAXUS V, Stent có đường kính 2,25mm được sửdụng ơ 18% các bệnh nhân, có đường kính mạch nhỏ trung bình là chỉ 2,08

mm PES có đường kính 2,25 mm đã làm giảm đáng kể tái hẹp trong Stent tới24,7% so với 44,7% trong nhóm BMS Cũng như vậy, biến cố MACE sau 9tháng là thấp hơn trong nhóm PES (18,9%) so với 26,9% trong nhóm BMS.Tuy nhiên, sau 9 tháng, NMCT không Q có cao hơn nhưng không có ý nghĩathống kê trong nhóm PES (5,7%) so với nhóm BMS (2,2%) So sánh trongtoàn bộ nhóm nghiên cứu, bao gồm cả mạch lớn, tỉ lệ tái hẹp trong PES thìthấp hơn tới 15,4% trong nhóm PES so với 29,6% cho nhóm BMS[109]

So sánh đối đầu DES thế hệ thứ nhất

Thử nghiệm SIRTAX là thử nghiệm ngẫu nhiên, tiến cứu so sánh đốiđầu hai Stent phủ thuốc thế hệ thứ nhất Phân tích dưới nhóm của thử nghiệmSIRTAX tập trung vào nhóm mạch nhỏ được định nghĩa ≤ 2,75 mm và thấyrằng ơ thời điểm sau 2 năm SES đã giảm có ý nghĩa biến cố MACE tới 55%

so với PES (10,4% so với 21,4%, p< 0,004) Trong đó chủ yếu là làm giảmTLR (6% so với 17,7%, p< 0,001) Tử vong toàn bộ, tử vong do tim, huyếtkhối Stent và NMCT ơ thời điểm 2 năm là như nhau giữa SES và PES[110]

1.3.3.2 Các DES thế hệ hai và ba

Stent phủ Everolimus(EES)

Stent EES, là Stent phủ thuốc thế hệ hai, được so sánh với PES, thế hệthứ nhất, trong nghiên cứu ngẫu nhiên tiến cứu lớn SPIRIT IV Tiêu chí thấtbại mạch đích đã giảm đáng kể trong nhóm EES (3,9%) so với PES(6,8%) ơnhóm có đường kính mạch tham chiếu ≥ 2,75 mm (RR 0,57, 95% CI 0,35

Trang 39

-0,91) Đáng nói, EES thế hệ hai đã làm giảm tỉ lệ huyết khối Stent tới gần75% [111]

Các nghiên máu từ các thử nghiệm SPIRIT và COMPARE tập trungvào ảnh hương của chiều dài tổn thương và kích thước mạch Mạch lớn được

so sánh với tổn thương nguy cơ cao bao gồm mạch dài hoặc mạch nhỏ và tổnthương dài trong mạch nhỏ Sau 2 năm theo dõi, MACE là khác biệt không có

ý nghĩa thống kê giữa EES và PES trong nhóm mạch lớn (4,8% so với 7,0%,p=0,11); tuy nhiên, cả trong nhóm tổn thương dài hoặc mạch nhỏ, EES có tỉ lệMACE thấp hơn (6,6% so với 11,2%, p< 0,01) và trong nhóm mạch nhỏ vàdài (9,1% so với 12,7%, p=0,008) Hơn nữa, NMCT, TLR và huyết khối Stentcũng thấp hơn ơ nhóm EES [112] Bơi vậy, tổn thương mạch nhỏ nguy cơ caođặc biệt có lợi ích hơn khi sử dụng Stent thế hệ hai

Phân tích gộp của thử nghiệm SPIRIT II và III dành cho các mạch nhỏ(RVD < 2,8 mm) khẳng định việc giảm có ý nghĩa MACE ơ nhóm EES sosánh với PES (5,2% so với 10,7%, p=0,037) Cân nhắc từ các phát hiện trướcđây từ thử nghiệm TAXUS V [52], các phát hiện quan trọng của thử nghiệmSPIRIT II và III là giảm MACE trong đó chủ yếu là giảm biến cố NMCTkhông Q (1,6% so với 5,0%) và TLR (3,0% và 6%) Những phát hiện như vậytrong các tổn thương mạch nhỏ và yếu tố nguy cơ cao của chúng càng nhấnmạnh hơn vai trò của độ dày thanh chống Stent, kiểu polymer và việc lựachọn thuốc chống phân bào trong kết cục của can thiệp mạch vành [113]

Nghiên cứu của tác giả Kitabata và cs với 643 bệnh nhân nghiên cứu,chia 2 nhóm được sử dụng Stent SES (220 bệnh nhân) được so sánh với EES(423 bệnh nhân) cho can thiệp các tổn thương mạch nhỏ (kích thước Stent ≤2,5mm) và chỉ ra không có sự khác biệt biến cố MACE sau 1 năm (EES 9,1% sovới SES 8,6%, p=0,83) Không có huyết khối Stent trong nhóm EES và 1,2%trong nhóm SES (p=0,17) có xuất hiện huyết khối Thử nghiệm này khẳng định

Trang 40

rằng mặc dù thiết kế Stent mới hơn, bệnh lí mạch nhỏ vẫn là một thách thức điềutrị lớn [114]

Stent phủ Zotarolimus

Thử nghiệm ENDEAVOR IV so sánh Stent phủ thuốc thế hệ hai ZES(Endeavor) với PES Stent ZES là Stent với khung cobalt với chất mangphosphorylcholine vận chuyển thuốc zotarolimus hoạt hoá Trong phân tíchdưới nhóm với đường kính mạch tham chiếu < 2,5mm, TVR là thấp hơnnhưng không có ý nghĩa thống kê ơ nhóm ZES thế hệ hai (7,9% so với 10,3%,RR=0,76, 95% CI: 0,44-1,33) Thử nghiệm này khẳng định hiệu quả và độ antoàn như nhau giữa nhóm ZES và PES [115]

ZES thế hệ ba (Endeavor Resolute) so sánh với EES thế hệ hai trongthử nghiệm Resolute All Comers BioLinx, một dạng chất mang polymer khácđược sử dụng để chứa thuốc chống phân bào zotarolimus Trong thử nghiệm

“real-world” này, 70% các can thiệp có ít nhất một mạch có đk ≤ 2,75mm.Trong phân tích dưới nhóm được xác định trước, tổn thương ≤ 2,75mm cótiêu chí chính là thất bại mạch đích (TLF) là gần tương đương ơ thời điểm sau

1 năm (OR = 1,01, 95% CI: 0,69-1,48) khi so sánh với EES Tính trên toàn bộnhóm nghiên cứu, TLF là 8,2% cho nhóm ZES và 8,3% cho nhóm EES [88]

Các loại polymer khác nhau và DES

Trong thử nghiệm RESOLUTE-US, ZES (Endeavor Resolute)- DESthế hệ ba, được so sánh với nhóm chứng lịch sử là Stent Endeavor (thế hệhai) Đây là thử nghiệm so sánh ảnh hương trực tiếp của các loại polymerkhác nhau (phosphorylcholine của Endeavor so với BioLinx của EndeavorResolute) Trong nhóm mạch nhỏ (<2,25mm), TLF sau 1 năm là 4,8%, đạttiêu chí không kém hơn khi so sánh [116]

DES với polymer tự tiêu

Stent SYNERGY với độ dày thanh chống mảnh (74-81 µm) với cấu tạo

Ngày đăng: 06/03/2019, 14:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w