1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nhận thức về rối loạn trầm cảm của học sinh trung học phổ thông tỉnh thái bình

126 222 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 2,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tóm lại 1 từ thực trạng tỉ lệ mắc trầm cảm trong xã hội và gánh nặng do trầm cảm gây ra; 2 từ xu hướng và kết hợp các nghiên cứu đi trước về hiểu biết của cộng đồng trong và ngoài nước v

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

-oOo -

VŨ THỊ DUYÊN

NHẬN THỨC VỀ RỐI LOẠN TRẦM CẢM CỦA HỌC SINH

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH THÁI BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

Hà Nội – 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

-oOo -

VŨ THỊ DUYÊN

NHẬN THỨC VỀ RỐI LOẠN TRẦM CẢM CỦA HỌC SINH

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH THÁI BÌNH

Chuyên ngành: TÂM LÝ HỌC LÂM SÀNG TRẺ EM VÀVỊ THÀNH NIÊN

Mã số: THÍ ĐIỂM

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

Cán bộ hướng dẫn: TS TRẦN VĂN TÍNH

Hà Nội – 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, quý thầy, cô giáo, các cán bộ quản lý chuyên ngành Tâm lý học lâm sàng trẻ em và vị thành niên Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi học tập

và nghiên cứu tại trường

Tiếp theo, tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến người hướng dẫn nghiên cứu khoa học – giảng viênPGS.TS Đặng Hoàng Minh – người đã định hướng nghiên cứu ban đầu cho tôi và TS Trần Văn Tính lời biết ơn sâu sắc về sự nhiệt tâm trong quá trình chỉ dạy và định hướng cho tôi những hướng đi quan trọng đúng đắn trong quá trình nghiên cứu và đặc biệt là đạo đức trong nghiên cứu thật nghiêm túc để tôi hoàn thành đề tài này một cách tốt nhất

Tôi cũng không quên gửi lời cảm ơn tới BGH hai trường thuộc tỉnh Thái Bình cùng các thầy cô, cũng như các em học sinh trường THPT Thái Ninh và trường THPT Chuyên Thái Bình đã tạo điều kiện tốt nhất giúp đỡ cho tôi rất nhiều trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài nghiên cứu này

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã luôn bên tôi, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu chương trình thạc sĩ này

Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 11 năm 2017

Tác giả

Vũ Thị Duyên

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC THUẬT NGỮ ANH VIỆT vi

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬN THỨC RỐI LOẠN TRẦM CẢM 5

1.1 Nghiên cứu về nhận thức sức khỏe tâm thần và rối loạn trầm cảm 5

1.1.1 Nghiên cứu về nhận thức sức khỏe tâm thần trong và ngoài nước 5

1.1.2 Tổng quan nghiên cứu nhận thức về rối loạn trầm cảm trong và ngoài nước 10

1.2 Những vấn đề lý luận về nhận thức 14

1.2.1 Khái niệm về nhận thức 14

1.2.2 Các mức độ của nhận thức 16

1.2.3 Mối liên hệ giữa nhận thức và các hiện tượng tâm lý khác 19

1.3 Những vấn đề lý luận về rối loạn trầm cảm 20

1.3.1 Khái niệm về rối loạn trầm cảm 20

1.3.2 Các yếu tố nhân khẩu và dịch tễ học 22

1.3.3 Biểu hiện lâm sàng của rối loạn trầm cảm 23

1.3.4 Nguyên nhân dẫn đến trầm cảm 25

1.3.5 Hậu quả của rối loạn trầm cảm 27

1.3.6 Một số liệu pháp điều trị rối loạn trầm cảm 29

1.4 Nhận thức của học sinh trung học phổ thông về rối loạn trầm cảm 34

Trang 5

1.5 Các yếu tố nguy cơ và một số phương pháp phòng chống trầm cảm ở học

sinh trung học phổ thông 35

1.6 Một số đặc điểm tâm – sinh lý ở học sinh trung học phổ thông 38

1.6.1 Đặc điểm sinh lý 38

1.6.2 Đặc điểm tâm lý 38

1.7 Nghiên cứu nhận thức của học sinh trung học phổ thông về rối loạn trầm cảm 41

CHƯƠNG 2TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42

2.1 Tổ chức nghiên cứu 42

2.1.1 Tiến trình nghiên cứu 42

2.1.2 Thời gian thực hiện nội dung nghiên cứu 42

2.2 Phương pháp nghiên cứu 43

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 43

2.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 43

2.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu học sinh 46

2.2.4 Phương pháp thống kê toán học 46

2.3 Chọn mẫu điều tra 47

2.4 Sơ lược địa bàn nghiên cứu vàmẫu nghiên cứu 48

2.4.1 Địa bàn nghiên cứu 48

2.4.2 Mẫu nghiên cứu 49

CHƯƠNG 3KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 51

3.1 Nhận thức của học sinh THPT về rối loạn trầm cảm 51

3.1.1 Nhận thức của học sinh về triệu chứng của rối loạn trầm cảm 51

3.1.2 Nhận thức của học sinh về hướng điều trị rối loạn trầm cảm 54

3.1.3 Nhận thức của học sinh về các yếu tố nguy cơ gây nên rối loạn trầm cảm 56

3.1.4 Nhận thức của học sinh về hậu quả rối loạn trầm cảm 59

Trang 6

3.1.5 Nhận thức của học sinh THPT về các biện pháp ngăn ngừa nguy cơ rối

loạn trầm cảm 62

3.1.6 Nhận thức của học sinh trong việc tìm kiếm sự trợ giúp người mắc rối loạn trầm cảm 66

3.1.7 Nguồn thông tin học sinh sử dụng để nâng cao hiểu biết về rối loạn trầm cảm 68

3.1.8 Những yếu tố khiến học sinh thiếu hiểu biết đầy đủ về rối loạn trầm cảm 69

3.1.9 Ý kiến đề xuất của học sinh giúp bản thân phòng chống rối loạn trầm cảm 75

3.2 So sánh nhận thức của học sinh về rối loạn trầm cảm 80

3.3 Kết quả phỏng vấn nghiên cứu 81

3.4 Bàn luận về kết quả nghiên cứu 84

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 89

1 Kết luận 89

2 Khuyến nghị 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC THUẬT NGỮ ANH VIỆT

DSM: Diagnostic and Statistical

Mannual of Mental Disorders

Sổ tay thống kê và chẩn đoán các rối loạn tâm thần

DALYs: Disability adjusted life year Điều chỉnh cuộc sống cho người khuyết

tật ECT: Electro Convulsive Therapy Liệu pháp sốc điện

ICD: International Statistical

Classification of Diseases and Related

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Tiến trình thực hiện nghiên cứu 42

Bảng 2.2 Nội dung nghiên cứu nhận thức rối loạn trầm cảm của học sinh THPT trong bảng khảo sát 44

Bảng 2.3 Thống kê mẫu nghiên cứu (HS) của hai trường 50

Bảng 3.1 So sánh nhận thức của HS về triệu chứng trầm cảm 53

Bảng 3.2 Nhận thức của HS về các yếu tố gây nên rối loạn trầm cảm 56

Bảng 3.3 So sánh nhận thức của HS về các yếu tố nguy cơ gây nên RLTC 58

Bảng 3.4 Mức độ hiểu biết của HS về hậu quả của RLTC 59

Bảng 3.5 So sánh mức độ hiểu biết của HS về hậu quả của RLTC giữa các biến 61

Bảng 3.6 Mức độ hiểu biết của HS về các biện pháp ngăn ngừa nguy cơ RLTC 62

Bảng 3.7 So sánh nhận thức về các biện pháp ngăn ngừa nguy cơ rối loạn trầm cảm giữa các biến 65

Bảng 3.8 Nhận thức của HS về người trợ giúp RLTC 66

Bảng 3.9 Nguồn thông tin HS sử dụng để nâng cao hiểu biết về RLTC 68

Bảng 3.10 Yếu tố khiến học sinh thiếu hiểu biết đầy đủ về RLTC 69

Bảng 3.11 Tương quan mức độ ảnh hưởng giữa các yếu tố khiến học sinh thiếu hiểu biết về rối loạn trầm cảm 74

Bảng 3.12 Hồi quy dự đoán về nhận thức của học sinh 74

Bảng 3.13 So sánh nhận thức của HS theo các biến trường, lớp, và giới 80

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Nhận thức của học sinh THPT về các triệu chứng trầm cảm 51 Biểu đồ 3.2 Nhận thức về hướng điều trị RLTC của HS THPT 54 Biểu đồ 3.3 Tần số học sinh đưa ra ý kiến đề xuất bản thân phòng chống rối loạn trầm cảm theo ý kiến 1 75 Biểu đồ 3.4 Tần số học sinh đưa ra ý kiến đề xuất bản thân phòng chống rối loạn trầm cảm theo ý kiến 2 76 Biểu đồ 3.5 Tần số học sinh đưa ra ý kiến đề xuất bản thân phòng chống rối loạn trầm cảm theo ý kiến 3 78

Trang 11

sa đà vào các hiện tượng xã hội không tốt như lạm dụng chất hoặc tự tử [24],[43] Rối loạn trầm cảm ở các nước đang phát triển đại diện cho một yếu tố quyết định quan trọng liên quan tới sức khỏe tâm thần Trên toàn cầu, người ta ước tính

rằng gần 350 triệu người bị trầm cảm [78] Ở Anh, được báo cáo rằng 60% thanh thiếu niên trải qua các triệu chứng trầm cảm [44] Trong khu vực Đông Địa Trung

Hải, tỉ lệ rối loạn tâm thần ở trẻ em và thanh thiếu niên là 10% - 36%, đó là tương

đương hoặc cao hơn đáng kể so với ước tính toàn cầu [109].Trầm cảm là một trong

những nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tử vong trên thế giới ngày nay [111]

và đặt một gánh nặng kinh tế quan trọng đối với xã hội [41],[72] Trong số trẻ vị

thành niên, trầm cảm tuổi từ 13 -16 chiếm 63,75% Tỉ lệ nữ mắc nhiều hơn nam (1,16/1) Phần lớn trẻ được phát hiện chẩn đoán muộn: sau 6 tháng phát bệnh là 62,5%, sau một năm phát bệnh là 45% Các triệu chứng đặc trưng như giảm khí sắc, mất quan tâm hứng thú, giảm năng lượng, dễ mệt mỏi 82% Rối loạn giấc ngủ 93,75%, giảm tập trung chú ý và giảm tự tin chiếm 90% [8]

Trên thế giới cũng đã có một số công trình nghiên cứu về nhận thức trầm cảm

ở các lứa tuổi khác nhau nhưng tập trung vào tuổi vị thành niên và tuổi thanh niên Tuy nhiên họ cũng chỉ dừng lại ở mức độ khảo sát nhận thức của đối tượng các biểu hiện trầm cảm, nguyên nhân và tìm kiếm sự giúp đỡ, còn lại các chiều cạnh khác như hiểu biết về hậu quả, về các yếu tố nguy cơ góp phần khởi phát và duy trì trầm cảm, về các nguồn thông tin,… thì chưa thấy có nhiều đề tài nghiên cứu

Trang 12

[71],[20],[48] Đặc điểm nữa là các công trình nghiên cứu ở nước ngoài chỉ áp dụng những chính sách, giáo dục phù hợp với điều kiện kinh tế, phong tục, tập quán và văn hóa ở nước họ chứ chưa thể mang những chính sách đó áp dụng cho Việt Nam

Do đó, thực hiện các công trình nghiên cứu ở Việt Nam để có những chính sách hỗ trợ phù hợp với điều kiện kinh tế, văn hóa,….là điều rất cần thiết Ngoài ra, ở Việt Nam cũng đã quan tâm đến vấn đề trầm cảm được thể hiện qua một số công trình nghiên cứu Tuy nhiên, đại đa số là nghiên cứu về mức độ, tỉ lệ trầm cảm ở các đối tượng, còn vấn đề nhận thức về rối loạn trầm cảm thì có rất ít đề tài nghiên cứu Mà

có nghiên cứu, thì mới tập trung nghiên cứu ở các vùng trực thuộc thành phố, thủ

đô, và đối tượng nhắm tới chủ yếu là sinh viên, người đi làm, người già, còn đối tượng học sinh THPT và các vùng lân cận xa thành phố, vùng quê thì có rất ít đề tài chọn đối tượng ở các địa bàn này

Như đã nói ở trên, trầm cảm ở trẻ VTN ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động chức năng cuộc sống Tuy nhiên, vấn đề này không phải ai cũng nhận thức một cách đúng đắn và hiểu biết rõ cũng như áp dụng vào cuộc sống tốt.Nếu nhận thức sai lầm, không đúng đắn về rối loạn trầm cảm có thể dẫn đến hậu quả tồi tệ Học sinh THPT có dấu hiệu trầm cảm nhưng không có hiểu biếthoặc có hiểu biết nhưng vẫn còn mơ hồ, không rõ ràng về các biện pháp can thiệp mà e ngại, thờ ơ, hoặc tự mình giải quyết hay cố tình lảng tránh đều dẫn đến hậu quả nghiêm trọng và có thể dẫn tới tự tử do chính hành vi của mình gây ra Nếu rối loạn trầm cảm mà không được phát hiện kịp thời thì sẽ dẫn đến hậu quả khôn lường, có thể là gánh nặng cho gia đình và xã hội Do đó nghiên cứu về nhận thức của VTN về rối loạn trầm cảm là rất cần thiết giúp định hướng giáo dục, y tế, các chính sách xã hội cho các em có một cuộc sống cân bằng trong các hoạt động sinh hoạt cá nhân, vui chơi và học tập

Tóm lại (1) từ thực trạng tỉ lệ mắc trầm cảm trong xã hội và gánh nặng do trầm cảm gây ra; (2) từ xu hướng và kết hợp các nghiên cứu đi trước về hiểu biết của cộng đồng trong và ngoài nước về trầm cảm; (3) từ thực tiễn thiếu vắng các nghiên cứu về nhận thức của trầm cảm ở các biểu hiện, nguyên nhân, cách điều trị, các yếu tố nguy cơ, các nguồn thông tin,… chúng tôi tiến hành thực hiện luận văn

với đề tài: ―Nhận thức về rối loạn trầm cảm của học sinh THPT tỉnh Thái Bình‖

Trang 13

Tôi hi vọng rằng, qua đề tài nghiên cứu này có thể phát hiện được thực trạng mức

độ nhận thức rối loạn trầm cảm, đồng thời đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao nhận thức của học sinh THPT về rối loạn trầm cảm; qua đó hỗ trợ học sinh ngăn ngừa và phòng tránh rối loạn trầm cảm được tốt nhất có thể

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Thông qua phát hiện thực trạng nhận thức của học sinh về rối loạn trầm cảm,

từ đó đưa ra các khuyến nghị giúp học sinh có những biện pháp phòng ngừa nguy

cơ mắc phải rối loạn trầm cảm, nâng cao sức khỏe tâm thần học đường, giúp cho học sinh có một đời sống tâm lý tích cực

3 Từ mục đích nghiên cứu, một số câu hỏi đƣợc đặt ra cho đề tài gồm:

Câu hỏi 1: Thực trạng nhận thức của học sinh THPT về rối loạn trầm cảm

như thế nào?

Câu hỏi 2: Nhận thức của học sinh THPT về trầm cảm có khác biệt giữa các

biến khối lớp (tuổi), giới tính và biến trường (vùng miền) hay không?

Câu hỏi 3: Có những yếu tố nào khiến học sinh thiếu hiểu biết về rối loạn

trầm cảm?

Câu hỏi 4: Học sinh tìm hiểu về rối loạn trầm cảm qua nguồn thông tin nào?

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Mức độ và đặc điểm nhận thức của học sinh THPT về rối loạn trầm cảm

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Tiến hành nghiên cứu 560 học sinh thuộc hai trường: trường THPT Thái Ninh thuộc huyện Thái Thụy, trường THPT Chuyên Thái Bình trực thuộc Thành phố Thái Bình

- Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 11/2016 đến tháng 11/2017

5 Giả thuyết cho đề tài nghiên cứu

Giả thuyết 1: Nhận thức của học sinh về rối loạn trầm cảm còn hạn chế

Giả thuyết 2: Có sự khác biệt trong nhận thức về rối loạn trầm cảm của học sinh

THPT xét theo khối lớp, giới tính, trường học

Trang 14

Giả thuyết 3: Có những yếu tố chủ quan và khách quan dẫn đến học sinh thiếu hiểu

biết về rối loạn trầm cảm hoặc nhận thức chưa đúng về vấn đề này

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về trầm cảm và nhận thức của học sinh về rối loạn trầm cảm ở trong và ngoài nước

- Nghiên cứu thực trạng nhận thức của học sinh về rối loạn trầm cảm Các thực trạng nhận thức của học sinh được thể hiện ở các chiều cạnh sau: nhận thức về các biểu hiện, cách điều trị, nguyên nhân, hậu quả của rối loạn trầm cảm, các yếu tố nguy cơ và phòng ngừa, các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức, các cách can thiệp của rối loạn trầm cảm và một số yếu tố ảnh hưởng đến sự hiểu biết của học sinh về rối loạn trầm cảm

- Nghiên cứu về các biện pháp giúp học sinh nhận thức đúng đắn đề phòng ngừa việc mắc phải rối loạn trầm cảm trong học đường

- Đề xuất các biện pháp/ kiến nghị để nâng cao sức khỏe tâm thần học đường cho học sinh Việt Nam nói chung và học sinh tại tỉnh Thái Bình nói riêng

7 Đạo đức nghiên cứu

- Thông tin mà người tham gia cung cấp được bảo mật

- Mọi số liệu được xử lý là số liệu thu thập được thực tế tại cơ sở nghiên cứu

- Những số liệu sau khi phân tích hoàn toàn chính xác

- Không trình bày nghiên cứu cũng như số liệu của các đề tài khác làm của mình

- Học sinh tham gia vào việc khảo sát điền phiếu và phỏng vấn hoàn toàn

không có sự ép buộc nào

8 Cấu trúc đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo thì luận văn dự kiến gồm 3 chương nội dung chính như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận

Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Phân tích kết quả nghiên cứu thực tiễn

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬN THỨC RỐI LOẠN TRẦM CẢM

1.1 Nghiên cứu về nhận thức sức khỏe tâm thần và rối loạn trầm cảm

1.1.1 Nghiên cứu về nhận thức sức khỏe tâm thần trong và ngoài nước

1.1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Hiểu biết về những kiến thức sức khỏe tâm thần là một điều quan trọng cho bản thân mỗi người và cộng đồng toàn thế giới [58],[90] Bằng chứng cho thấy kiến thức về sức khỏe tâm thần chính là cải thiện các rối loạn, nhận thức tốt hơn về cách thức tìm kiếm sự giúp đỡ và điều trị, giảm sự kỳ thị đối với những người bị mắc bệnh tâm thần, thúc đẩy sớm việc nhận diện ra các rối loạn tâm thần ở bản thân và cải thiện sức khỏe tâm thần bằng cách sử dụng các dịch vụ y tế [94],[45] Hiểu biết

về sức khỏe tâm thần trên 4 lĩnh vực: (1) làm thế nào để hiểu về rối loạn tâm thần và duy trì sức khỏe tốt; (2) hiểu được các triệu chứng của rối loạn tâm thần và cách điều trị chúng; (3) giảm sự kỳ thị đối với những người mắc bệnh tâm thần và (4) tăng cường hiệu quả tìm kiếm sự trợ giúp [64],[108]

Trên thế giới, các nghiên cứu liên quan đến nhận thức và hiểu biết của cộng đồng về sức khỏe tâm thần ngày càng được quan tâm nhiều hơn từ khoảng những năm 1950 Đến năm 1997, tác giả Jorm giới thiệu về ―hiểu biết sức khỏe tâm thần‖

và đã xác định nó như là ―kiến thức và niềm tin về rối loạn tâm thần mà được xác định, hỗ trợ và kiểm soát cũng như phòng ngừa‖ Hiểu biết về sức khỏe tâm thần bao gồm các thành phần khác nhau như: (a) khả năng nhận ra các rối loạn cụ thể hoặc các loại bệnh tâm lý khác nhau; (b) những kiến thức về các yếu tố có nguy cơ

và nguyên nhân; (c) kiến thức về sự can thiệp của chính bản thân; (d) kiến thức về

sự giúp đỡ chuyên nghiệp; (e) thái độ với loại hình giúp đỡ và (f) kiến thức về việc tìm kiếm thông tin về sức khỏe tâm thần Nhiều thành viên của công chúng không thể nhận biết đúng rối loạn tâm thần và không hiểu ý nghĩa của thuật ngữ tâm thần

Ví dụ: Theo một kết quả nghiên cứu tại Úc người bị trầm cảm nặng hoặc tâm thần phân liệt có một số dấu hiệu về sức khỏe tâm thần trong đó hiểu biết về những dấu

Trang 16

hiệu của trầm cảm ở mức độ thấp nhất [55] Bên cạnh đó có người cho rằng loại bệnh này còn liên quan tới rối loạn về thể chất Tương tự như vậy, các cuộc khảo sát

ở Châu Âu đã tìm thấy sự thiếu hiểu biết về các dấu hiệu tâm thần phân liệt và hưng cảm là phổ biến [26],[47]

Phương Tây cho thấy các rối loạn trầm cảm và tâm thần phân liệt thường được công chúng xem như là do môi trường xã hội, do các căng thẳng xảy ra trong thời gian gần đây gây nên [77],[74].Trong một nghiên cứu của Mỹ về điều trị tâm lý cho bệnh trầm cảm, họ tin rằng trị liệu bằng liệu pháp nhận thức - hành vi có hiệu quả[18] Bên cạnh đó nghiên cứu của Jorm (2000) lại cho rằng, cộng đồng những nước đang phát triển chưa có sự hiểu biết đầy đủ về sức khỏe tâm thần Họ thường điều trị bằng phương pháp truyền thống là tâm linh, họ cho rằng nguyên nhân gây nên bệnh tâm thần là do các tà thần, ma quỷ[56] Họ tin rằng nguyên nhân nào dẫn đến rối loạn trầm cảm và các bệnh tâm thần thì điều trị bằng các hướng theo nguyên nhân đó sẽ có hiệu quả tốt Ví dụ ở Malaysia niềm tin của bệnh nhân tâm thần tin vào các nguyên nhân siêu nhiên và được điều trị bởi các thầy lang nhiều hơn là điều trị bằng thuốc [89]

Theo Levav (2004) nghiên cứu tại Israel thì những người tham gia nghiên cứu chấp nhận nguyên nhân đa yếu tố của rối loạn tâm thần và cho rằng có thể chữa trị được đối với bệnh tâm thần phân liệt và trầm cảm [68] Theo hướng tiếp cận này, kết quả của các nghiên cứu gần đây cho thấy cộng đồng nhận thức về các rối loạn tâm thần và gọi đúng được các tên bệnh của mình vẫn còn hạn chế [71]

Công trình của Jorm (2006) cho rằng nhận thức về trầm cảm và tâm thần phân liệt của người Úc cao hơn so với 8 năm trước được thể hiện qua sự lựa chọn các chuyên gia hỗ trợ sức khỏe tâm thần, thuốc, tâm lý trị liệu và việc nhập viện khoa tâm thần ngày một tăng [54] Một nghiên cứu khác trên đối tượng khách thể

là thanh niên cho ra kết quả hầu như người tham gia đã xác định và gọi tên bệnh trầm cảm một cách chính xác Trong đó nữ giới nhận diện vấn đề đạt tỉ lệ cao hơn nam giới Nam giới đã đưa ra các ý kiến về việc tìm đến sự trợ giúp từ các nhà tâm

lý học, chuyên gia tư vấn để trị liệu bệnh tâm thần và họ cũng cho rằng rượu là một

Trang 17

cách để ứng phó với trầm cảm, giải tỏa được những cảm xúc buồn chán mỗi khi có

sự khó khăn trong cuộc sống Nam giới cũng cho rằng thuốc kháng sinh có ích trong việc hỗ trợ điều trị trầm cảm [104] Deribew và Tamirat (2005) cũng phát hiện trong một nghiên cứu tại Ethiopia và thấy rằng người ta chỉ nhận biết những tình trạng loạn thần nặng là các rối loạn tâm thần Họ nhận thấy điều trị y khoa hiện đại được đa số người dân chuộng hơn Một số đáng kể người dân đề nghị hỗ trợ gia đình và chăm sóc tại nhà Rõ ràng, người ta thích chăm sóc bệnh nhân bị tâm thần trong gia đình hơn nhưng sẽ mang bệnh nhân đến bệnh viện tâm thần nếu tình trạng rất nặng[1],[107]

Nghiên cứu ở cộng đồng Nam phi – những nước đang phát triển về sự hiểu biết sức khỏe tâm thần chủ yếu đi vào tìm hiểu thái độ và nhận thức về các triệu chứng cũng như nguyên nhân và cách điều trị những bệnh tâm thần như trầm cảm, tâm thần phân liệt, rối loạn hoảng loạn hoặc lạm dụng chất gây nghiện cho thấy rằng những người tham gia nghiên cứu đã có sự nhìn nhận những biểu hiện như căng thẳng, thiếu ý chí, thất bại trong cuộc sống là những lý do họ mắc bệnh này Những liệu pháp được cộng đồng nơi đây cho rằng có hiệu quả chữa trị cho các

bệnh tâm thần như tư vấn tâm lý, trị liệu tâm lý [28] Ở một số nước đang phát triển

khác thì có tới hơn nửa dân số chưa có hiểu biết về sức khỏe tâm thần [73]

Có ít công trình nghiên cứu nói về nhận thức, niềm tin và hiểu biết của cộng đồng các nước Phương Đông vốn phần lớn là các nước đang phát triển hoặc có mức thu nhập trung bình – thấp Đặc biệt là các nước Đông Nam Á trong đó có Việt Nam thì càng ít các nghiên cứu về vấn đề này Theo một số tác giả nghiên cứu thì tỉ

lệ mắc các rối loạn tâm thần ở các nước đang phát triển còn cao hơn phương Tây do tác động của các vấn đề kinh tế xã hội như trình độ dân trí thấp, nền kinh tế thấp, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe còn ít dẫn đến việc chăm sóc sức khỏe chưa cao [38] Ngay cả ở các em học sinh trung học mà kiến thức nhận biết về sức khỏe tâm thần còn thấp cũng như có thái độ tiêu cực và có sự xa lánhvới những người mắc rối loạn tâm thần [34] Gần đây, Tổ chức Y tế thế giới đã quan tâm tới sự cải thiện, nâng cao kiến thức về sức khỏe tâm thần ở các nước đang phát triển đang dần được vạch ra [82]

Trang 18

1.1.1.2 Các nghiên cứu trong nước

Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam về nhận thức đối với các vấn đề sức khỏe tâm thần chưa được quan tâm nhiều cũng như chưa được khảo sát bài bản và

có hệ thống Một số ít các nghiên cứu đã được thực hiện với quy mô còn nhỏ dẫn đến tính đại diện chưa cao và các công trình nghiên cứu thường tập trung vào các phương diện hoặc các năng lực hiểu biết về các biểu hiện của vấn đề sức khỏe tâm thần hoặc các nguyên nhân, yếu tố nguy cơ được nhận biết về các loại hình can thiệp cũng như hiệu quả của can thiệp

Các công trình nghiên cứu về năng lực nhận diện các biểu hiện của rối loạn tâm thần như nghiên cứu của Mc Kenvey và David Sang (1999) tiến hành trên 283 phụ huynh người Việt Nam Kết quả nghiên cứu về nhận thức các biểu hiện tổn thương sức khỏe tâm thần ở trẻ được bố mẹ chọn các dấu hiệu nặng nề Nghĩa là các bậc cha mẹ cũng đã nhận diện về loại bệnh tâm thần Đồng thời một số các bậc cha

mẹ tin vào những phương pháp không có bằng chứng khoa học như dùng thảo dược,

cúng bái, châm cứu, bấm huyệt [76]

Nghiên cứu của Van der Ham và cs (2011) đã sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi cho 200 cá nhân và thảo luận 8 nhóm khách thể sống tại Huế nhằm đánh giá nhận thức của cộng đồng về các biểu hiện tổn thương sức khỏe tâm thần và hành vi tìm kiếm sự giúp đỡ Kết quả cho thấy cha mẹ thường quan niệm biểu hiện của rối loạn sức khỏe tâm thần là nói những điều vô lý, cười nói một mình, bỏ nhà

đi lang thang [65] Ngoài ra, hơn một nửa khách thể tham gia không thể xác định rối loạn tâm thần họ đang mắc; tâm thần phân liệt được mô tả là rối loạn tâm thần thường gặp nhất và nặng nhất còn trầm cảm là nhẹ nhất; nguyên nhân gây ra rối loạn tâm thần là stress, căng thẳng và học hành hoặc suy nghĩ quá nhiều; chỉ đề nghị

đi khám ở bệnh viện hoặc cơ sở điều trị tâm thần nếu người bệnh có những hành vi kích động, đi lang thang Còn những triệu chứng khác thì nên nhận hỗ trợ từ gia đình hoặc bạn bè Nhìn chung cho thấy người dân cộng đồng ở vùng ngoại ô miền Trung Việt Nam hiểu biết về sức khỏe tâm thần chưa cao

Trang 19

Trong những năm gần đây có một số luận văn thạc sĩ của các học viên ngành tâm lý học bắt đầu có những công trình nghiên cứu và công bố kết quả nghiên cứu của mình đối với nhận thức về sức khỏe tâm thần Đó là nghiên cứu của Đặng Thị Thanh Tùng (2015) khi khảo sát trên 221 bậc phụ huynh về nhận thức của họ đối với các biểu hiện tổn thương sức khỏe tâm thần ở trẻ Kết quả nghiên cứu đã kết luận một số điểm như sau: (a) Nhận thức về các dấu hiệu của loạn thần và rối loạn tâm thần nặng, tuy nhiên đã có một tỉ lệ lớn hơn các bậc cha mẹ nhìn nhận biểu hiện hành vi hung tính, không vâng lời cha mẹ như dấu hiệu tổn thương sức khỏe tâm thần Các biểu hiện phàn nàn đau cơ thể hay ăn quá nhiều hoặc quá ít chưa được nhận diện là tổn thương sức khỏe tâm thần mà chỉ là biểu hiện của một thói quen xấu; (b) Nhận thức về tên các bệnh tâm thần hay vấn đề sức khỏe tâm thần tập trung vào những bệnh tâm thần nặng, những bệnh được truyền thông và xã hội đề cập nhiều trong thời gian gần đây nhưng lại không cho rằng những biểu hiện hành vi vi phạm pháp luật, chống đối xã hội, nghiện game, béo phì là các bệnh hay vấn đề sức khỏe tâm thần; (c) Nhận thức về nguyên nhân gây ra bệnh tâm thần phù hợp với việc nhận diện các biểu hiện tổn thương sức khỏe tâm thần và gọi tên bệnh tâm thần

là do yếu tố sinh học, không xác định do các yếu tố động cơ cá nhân, xã hội hay tương tác liên cá nhân Bên cạnh đó, hành vi ứng xử của các bậc cha mẹ khi con có các biểu hiện tổn thương sức khỏe tâm thần cũng tương xứng với mức độ nhận thức

về dấu hiệu bệnh và nhận thức về nguyên nhân Điều này có nghĩa là phần lớn cha

mẹ mới chỉ có những chiến lược chung là tìm sự trợ giúp từ ngoài gia đình hoặc trực tiếp nói chuyện với con trẻ để trẻ cảm thấy khá hơn chứ chưa có những hành

vi ứng xử cụ thể phù hợp với khuyến nghị của các nhà trị liệu để giảm thiểu các vấn

đề hành vi cảm xúc như ―khuyến khích trẻ thể hiện cảm xúc ra bên ngoài‖ hay ―dạy cho trẻ kỹ năng‖, ―thưởng cho trẻ khi trẻ làm những hành vi tốt để củng cố‖ hoặc ―phạt

tước quyền lợi để loại trừ những hành vi không mong muốn‖[10]

Trần Ngọc Ly (2015) tiến hành nghiên cứu nhận thức trên 235 giáo viên tiểu học về sức khỏe tâm thần học sinh Kết quả nghiên cứu khẳng định với những trường hợp trẻ có rối loạn về cảm xúc như lo âu, trầm cảm, rối loạn stress sau sang

Trang 20

chấn thì giáo viên cho rằng nguyên nhân là do trẻ gặp những sự kiện tiêu cực trong cuộc sống Giáo viên cũng không thể phân biệt được sự khác nhau giữa 5 nhóm rối loạn này Với rối loạn dạng cơ thể, hơn 50% giáo viên được hỏi cho rằng chắc là trẻ

có vấn đề về thể chất Với những trẻ có rối loạn hành vi như rối loạn tăng động giảm chú ý, rối loạn hành vi chống đối hoặc tự kỷ thì giáo viên lại cho rằng do các

em thiếu kỹ năng xã hội hoặc kiểm soát cảm xúc cũng như năng lực trí tuệ có vấn

đề Cũng trong nghiên cứu này, giáo viên nhận định nguyên nhân gây ra các rối loạn tâm thần ở học sinh bao gồm sang chấn tâm lý, nguyên nhân tâm lý, nguyên nhân về nhận thức và về sinh học, thể chất Nhận định về các hình thức hỗ trợ can thiệp phù hợp cho rối loạn tâm thần ở học sinh bao gồm tư vấn gia đình và giáo dục tại trường Nghiên cứu cũng khẳng định các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức của giáo viên bao gồm tuổi, trình độ học vấn, khối lớp, số năm kinh nghiệm, khu vực sống của giáo viên [9]

Tóm lại, việc tìm hiểu nhận thức về sức khỏe tâm thần của cộng đồng đang ngày càng được quan tâm nhiều hơn và nó có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe của con người, nâng cao chất lượng cuộc sống Việc nghiên cứu sâu về nhận thức của từng rối loạn như trầm cảm thì cần được các nhà nghiên cứu đi vào sâu và cụ thể hơn nữa

1.1.2 Tổng quan nghiên cứu nhận thức về rối loạn trầm cảm trong và ngoài nước

1.1.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Theo Loureio và cộng sự (2013) đã công bố công trình nghiên cứu ở lứa vị thành niên về hiểu biết rối loạn trầm cảm, những kiến thức về sự trợ giúp từ các chuyên gia và phương pháp điều trị, hiểu biết về kiến thức cũng như kỹ năng ứng phó và ngăn ngừa các rối loạn này của trẻ ở Bồ Đào Nha Họ cho rằng sự trợ giúp

từ các chuyên gia sức khỏe tâm thần, người thân trong gia đình hoặc bạn bè là tốt Nhận diện về hướng điều trị thì họ nhận thấy rằng thuốc vitamin là có hiệu quả Bên cạnh đó họ cũng hiểu biết được các yếu tố có thể là nguy cơ gây là trầm cảm như việc hút thuốc, uống rượu,…[71]

Trang 21

Một cuộc điều tra của Karasz năm 2005 cộng đồng người Mỹ chính gốc cho rằng những nguyên nhân của trầm cảm đa dạng, từ sự mất cân bằng hormone đến các vấn đề thần kinh, còn người Mỹ gốc Á thì cho rằng những căng thẳng và vấn đề trong cuộc sống liên quan trầm cảm nhiều hơn và họ chọn việc tự quản lý để vượt qua trầm cảm [57] Ngoài ra, những người đã từng bị trầm cảm thường có kinh nghiệm nhận diện các triệu chứng trầm cảm của bản thân cao hơn so với những người chưa từng bị trầm cảm, những người bị trầm cảm nặng thường nhận ra việc cần sự trợ giúp hơn là những người bị trầm cảm nhẹ hoặc không bị trầm cảm [92]

Nghiên cứu khác gồm 202 thanh thiếu niên Úc tuổi từ 15 – 17 tuổi về khả năng của họ đối với các kiến thức cũng như tìm kiếm sự giúp đỡ đối với rối loạn trầm cảm cho thấy rằng các em hiểu biết chưa tốt (có một sự nhầm lẫn) về trầm cảm Mặc dù, các em có thể phân biệt mức độ nghiêm trọng cũng như thời gian phục hồi được các triệu chứng như chán nản và không chán nản [52] Bên cạnh đó, nghiên cứu ở Anh, người Anh bản xứ nhận định trầm cảm của họ liên quan đến vấn

đề y khoa hơn cũng như những thay đổi về hoàn cảnh xã hội Họ xác định trầm cảm

là mang khí sắc trầm và cảm giác vô vọng; trong khi đó, người Anh gốc Nam Á thường định nghĩa trầm cảm bằng sự lo lắng [67] Một nghiên cứu khác trên lứa tuổi học sinh trung học phổ thông ở Thụy Điển cũng đưa ra kết quả rằng, học sinh đã có

sự nhận diện được vấn đề trầm cảm tuy nhiên vẫn còn ở mức độ thấp, trong đó nữ giới nhận diện vấn đề cao hơn nam giới Nghiên cứu cũng chỉ ra các nguồn trợ giúp cho trầm cảm và tâm thần phân liệt là các nhà chuyên môn về sức khỏe tâm thần

[86] Kết quả khác cho rằng, học sinh trung học phổ thông thường chưa nhận ra

được đúng các biểu hiện của rối loạn trầm cảm, khả năng nhận ra những biểu hiện của rối loạn trầm cảm còn bị lẫn lộn, chưa chính xác và năng lực nhận ra việc cần tìm kiếm sự trợ giúp khi có nguy cơ mắc rối loạn trầm cảm chưa tốt [52] Một nghiên cứu khác về nhận thức rối loạn trầm cảm và lo âu của học sinh đưa ra kết quả thanh thiếu niên có nhận thức tốt về trầm cảm hơn là về lo âu, cũng như việc tìm kiếm sự giúp đỡ để giải quyết vấn đề trầm cảm nhiều hơn Trong đó phần lớn

Trang 22

học sinh đã nhận ra các triệu chứng của trầm cảm Học sinh tìm ra được nguồn trợ giúp là gia đình, bạn bè và cố vấn là có hiệu quả[79] Trong nghiên cứu của Niewsma (2009) thì hiểu biết về triệu chứng trầm cảm ở người Ấn bản địa và người

Ấn định cư tại Mỹ khá tương đồng nhau nhưng người Ấn bản địa không thể xác định người nhà của mình có bị trầm cảm cũng như phần lớn cho rằng nguyên nhân gây ra trầm cảm có liên quan khả năng kiểm soát cảm xúc của bản thân [85] Một nghiên cứu khác chỉ ra rằng giữa các vùng miền khác nhau có sự nhận thức về các biểu hiện rối loạn trầm cảm khác nhau, giữa các lứa tuổi cũng có sự nhận thức khác nhau về các biểu hiện và nguyên nhân cũng như tìm kiếm sự giúp đỡ rối loạn trầm

cảm [48]

Trong một bài báo phát triển khả năng hiểu biết rối loạn trầm của người Úc của Ruth A Parslow và Anthony F Jorm cho thấy rằng, hiểu biết về các triệu chứng trầm cảm mọi người trong cộng đồng không thể nhận thức đúng về trầm cảm Như việc tìm kiếm sự giúp đỡ từ các chuyên gia theo sự hiểu biết của họ còn kém Nhiều người Úc không biết rõ tên các nguồn hỗ trợ và họ không sử dụng nếu họ bị rối loạn trầm cảm Người Úc tin rằng môi trường xã hội có ảnh hưởng đến trầm cảm [95]

Một số thanh thiếu niên có nhận thức tốt hơn về trầm cảm và có nhiều khả năng tìm kiếm đến sự giúp đỡ Các nguồn hỗ trợ mà các em có sự lựa chọn nhiều nhất cũng là những nhóm người thân cận như bạn bè, gia đình và những người tham vấn [79]

Công trình nghiên cứu của Jianli Wang và Daniel Lai trên dân số ở Alberrta, Canada đưa ra kết quả gần nửa dân số tham gia nghiên cứu cho rằng những người bị trầm cảm không thể tự mình nhận ra bản thân bị trầm cảm Họ chưa nhận ra trầm cảm là rất nguy hiểm tới tính mạng cũng những các hoạt động chức năng khác trong cuộc sống của họ Tuy nhiên họ cũng đồng ý với việc nhận sự điều trị từ các chuyên gia về sức khỏe tâm thần là có hiệu quả cho rối loạn trầm cảm [51]

Trong mỗi nền văn hóa, những niềm tin về trầm cảm họ thường nghĩ rằng có một sự tác động nào đó gây nên và những hậu quả gây ra với xã hội, gia đình và bản thân cần được xem xét cho những chính sách chăm sóc và hướng điều trị khác nhau

Trang 23

Xét về yếu tố văn hóa, các nhà nghiên cứu và nhân viên y tế có thể tìm cách để tôn trọng những niềm tin khác nhau mà không ép buộc, cũng như các cách sử dụng kiến thức khoa học chính xác mà không phá vỡ hệ thống niềm tin thuộc về văn hóa [37],[46]

1.1.2.2 Các nghiên cứu trong nước

Thông qua việc tìm kiếm tài liệu cũng như tổng hợp tài liều có liên quan tới đề tài, chúng tối phát hiện ra một điều rằng, cho đến nay chưa có nhiều công trình đi sâu vào nghiên cứu vấn đề nhận thức của cộng đồng về rối loạn trầm cảm Gần đây, có báo cáo của tỉnh Đà Nẵng trong việc khảo sát và can thiệp nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về trầm cảm (VVAF, 2012) cung cấp những số liệu liên quan những kiến thức về triệu chứng, nguyên nhân và lựa chọn điều trị của người dân[11]

Ngoài ra, một số luận văn thạc sĩ của học viên chuyên ngành Tâm lý học cũng đã có những báo cáo nhận thức về rối loạn trầm cảm này Đó là nghiên cứu của Nguyễn Thị Bình (2015) cho thấy rằng nhóm sinh viên đã có hiểu biết về khái niệm trầm cảm Còn nhận thức đúng bản chất của trầm cảm thì phần đông sinh viên chưa nhận thức được một cách rõ ràng Ngoài ra ở nhóm sinh viên còn hiểu biết về một số biểu hiện triệu chứng cả về mặt tâm lý lẫn thực thể của rối loạn trầm cảm như: vẻ mặt u sầu, buồn bã, vô cảm, giảm năng lượng, tự sát, đau dạ dày, mệt mỏi… Họ cho rằng các nguyên nhân gây ra trầm cảm là do tâm lý gây ra Về sự hiểu biết hậu quả thì họ cho rằng hậu quả cho bản thân và gia đình là chủ yếu Cách điều trị, can thiệp cũng như yếu tố phòng ngừa rối loạn trầm cảm ở nhóm sinh viên

họ cho rằng can thiệp bằng tâm lý là có hiệu quả [2]

Nghiên cứu của Giang Ngọc Thụy Vy (2015) cho biết rằng nhóm bệnh nhân nhận diện về các triệu chứng quan trọng của rối loạn trầm cảm ở nhóm các yếu tố thực thể nhiều hơn là tâm lý Nhóm bệnh nhân này cho rằng nguyên nhân gây ra trầm cảm là do các yếu tố tâm linh như bùa phép, ma quỷ Ngoài những vấn đề trên, năng lực nhận diện về các yếu tố can thiệp và điều trị thì nhóm bệnh nhân này đa phần chọn hướng tự quản lý để vượt lên và khi vượt quá ngưỡng chịu đựng của họ thì họ lựa chọn tìm kiếm sự giúp đỡ [14]

Trang 24

Tóm lại, sau khi điểm qua các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về hiểu biết rối loạn trầm cảm, chúng tối thấy rằng đa số các đề tài được phổ biến ở nước ngoài, được phủ đều ở lứa tuổi từ thanh thiếu niên đến trung niên và chủ yếu

đề cập tới sự hiểu biết của cộng đồng về các triệu chứng, những phương pháp can thiệp và tìm kiếm sự hỗ trợ từ các phương tiện khác nhau Còn ở Việt Nam đã có một số công trình được nghiên cứu chủ yếu đối tượng khách thể ở người bệnh, ở sinh viên và người già, còn ở lứa tuổi học sinh trung học phổ thông thì có một công trình nghiên cứu nhận thức về trầm cảm và lo âu nhưng mới chỉ dừng ở mức độ tìm hiểu các triệu chứng, nguyên nhân chứ chưa khai thác hết các nội dung của rối loạn trầm cảm Bên cạnh đó, đối tượng khách thể mà đề tài hướng đến là những học sinh

Hà Nội còn như các tỉnh lân cận hoặc cách xa Thủ đô thì chưa có hoặc nếu có thì có rất ít Chính vì những điều trên, người nghiên cứu chọn đề tài này để nghiên cứu nhằm mở rộng phạm vi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu và

bổ sung vào những công trình nghiên cứu ở Việt Nam cho phong phú cũng như đa dạng hơn giúp ích được cho nền giáo dục, y tế, xã hội tại Việt Nam ngày một phát triển Khi tiến hành nghiên cứu đề tài này, chúng tôi chọn vùng quê của tỉnh Thái Bình để nghiên cứu xem thực trạng nhận thức của học sinh trung học phổ thông về các vấn đề liên quan đến rối loạn trầm cảm như thế nào từ đó có những khuyến nghị giúp ích cho việc định hình các chính sách, nghiên cứu tiếp theo và chương trình giáo dục, y tế tại trường học và địa phương cho phù hợp với đối tượng học sinh trung học phổ thông nói chung và đặc biệt là học sinh trung học phổ thông tại Thái Bình nói riêng Bên cạnh đó nhằm giúp học sinh phòng ngừa mắc phải rối loạn trầm cảm đồng thời giúp giáo viên hiểu về rối loạn trầm cảm của học sinh để có hướng giáo dục tốt Đề tài nghiên cứu sẽ góp phần mở rộng phạm vi địa bàn và khách thể nghiên cứu, mở rộng một số nội dung nghiên cứu liên quan tới rối loạn trầm cảm

1.2 Những vấn đề lý luận về nhận thức

1.2.1 Khái niệm về nhận thức

Từ điển Tâm lý năm 2001 do tác giả Nguyễn Khắc Viện chủ biên nhận thức

theo tiếng pháp: Nhận thức ―Connaissance‖ là quá trình hoặc kết quả phản ánh và

Trang 25

tái hiện hiện thực vào trong tư duy, nhận biết và hiểu biết thế giới khách quan [15]

Quá trình ấy đi từ cảm giác đến tri giác, từ tri giác đến tri thức, diễn ra ở các mức độ:

Thứ nhất là kinh nghiệm hàng ngày của con người về các đồ vật cũng như người khác, thường mang tính tự phát và hỗn hợp với tình cảm, thành kiến cũng như thiếu hệ thống thiếu hệ thống

Thứ hai là khoa học cũng như các khái niệm được xây dựng một cách chặt chẽ, có hệ thống cấu trức với ý thức về phương pháp và suy nghĩ của tư duy để chứng nghiệm đúng – sai

Tác giả Phạm Minh Hạc, cho rằng nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người, hai mặt còn lại là tình cảm và hành động Trong khi hoạt động để tồn tại trong thế giới tự nhiên và môi trường xã hội, con người phải nhận thức, phản ánh hiện thực xung quanh và cả hiện thực của bản thân mình, để trên cơ

sở đó, con người tỏ thái độ, tình cảm và hành động Nhận thứccủa con người về thế giới quan đi từ thấp tới cao, từ đơn giản tới phức tạp

Từ điển Giáo dục học định nghĩa: ―Nhận thức là quá trình hay kết quả phản ánh và tái tạo hiện thực vào trong tư duy của con người‖ Nhận thức là một quá trình con người tiếp nhận và hiểu biết về thế giới khách quan, là kết quả của quá trình nhận thức đó Ở đó, nhận biết ở mức độ thấp, còn hiểu biết ở mức độ cao tương đương với việc hiểu được các thuộc tính bản chất của sự vật, sự việc [16]

Từ điển Cambrige định nghĩa nhận thức theo chiều hướng tâm lý học là quá trình, sản phẩm, là hoạt động liên kết khi có sự tác động của hình thái năng lượng lên bộ phận giác quan, cho phép ý thức về sự vật hoặc trạng thái của thế giới bên ngoài hoặc khả năng để phản ứng khác nhau với chúng Như vậy, nhận thức đã phản ánh được cả cái nhìn chủ quan của con người trong quá trình phản ánh sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan mà không chỉ đơn thuần là phản ánh khách quan khi nhận biết về hiện thực [75]

Trong một số nghiên cứu khác còn cho rằng, nhận thức không chỉ đơn thuần

là sự phản ánh và tái hiện hiện thực khách quan trong tư duy của con người mà còn

là thái độ, quan điểm, đánh giá của chủ thể về sự vật, hiện tượng đó Nhận thức là quá trình tương tác để xây dựng nên cấu trúc sơ cấu và phân loại chúng khi con

Trang 26

người tương tác nhận thức, cảm xúc, xã hội và vật lý với môi trường Ngoài ra nhận thức còn là sự đánh giá hình thành trong tâm trí về một sự vật nào đó, là thái độ, quan điểm về vấn đề nào đó [53],[87],[91]

Như vậy, Nhận thức là một quá trình tâm lý, bao gồm khởi đầu, diễn biến và kết thúc Quá trình tâm lý này thường gắn với những mục đích nhất định, khác nhau

nên nhận thức của con người cũng là một hoạt động Đặc trưng nổi bật nhất của hoạt động nhận thức chính là phản ánh hiện thực khách quan vào não bộ của con người Không chỉ phản ánh hiện thực xung quanh ta mà còn phản ánh hiện thực của bản thân ta, nó không chỉ phản ánh cái bên ngoài mà còn phản ánh cái bên trong, không chỉ phản ánh cái thực tại mà còn phản ánh cái đã qua và cái sẽ tới trong hiện thực khách quan Nhờ có nhận thức mà con người mới có thể hiểu về thế giới khách quan, các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan, qua đó cải tạo được thế giới xung quanh và cao hơn nữa là con người có thể cải tạo được chính bản thân mình, phục vụ được nhu cầu của chính mình

1.2.2 Các mức độ của nhận thức

1.2.2.1 Xét về mặt tâm lý học

Dựa vào tính chất phản ánh và hoạt động, nhận thức được chia thành hai mức

độ khác nhau là: nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính

Nhận thức cảm tính: Là quá trình tâm lý, phản ánh những thuộc tính bên

ngoài, cụ thể của sự vật hiện tượng đang trực tiếp tác động vào giác quan của con người Nhận thức cảm tính gồm hai mức độ là: Cảm giác và tri giác.Mức độ thứ nhất: Cảm giác là quá trình nhận thức phản ánh một cách riêng lẻ từng thuộc tính của sự vật, hiện tượng khi chúng đang trực tiếp tác động vào giác quan Còn Tri giác là tổng hợp các cảm giác, là quá trình tâm lý phản ánh một cách trọn vẹn những bản chất, thuộc tính của sự vật cũng như hiện tượng khi chúng trực tiếp tác

động vào giác quan [6]

Nhận thức lý tính: Nhận thức lý tính phản ánh những yếu tố thuộc bản chất,

hướng đến cái chưa biết và cái mới của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà con người chưa biết Nhận thức lý tính bao gồm hai mức độ là tư duy và

Trang 27

tưởng tượng Ở đó, Tư duy là một quá trình nhận thức phản ánh những mối liên hệ, những mối quan hệ có quy luật cũng như những thuộc tính của sự vật và hiện tượng

mà trước đó con người chưa biết Còn, Tưởng tượng là một quá trình tâm lý phản ánh những cái không có hoặc nói cách khác là chưa từng có trong kinh nghiệm,lý

ức của chúng tathông qua việc xây dựng những cái mới dựa trên cơ sở những biểu

tượng đã có từ trước.[6]

Mối liên hệ giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính: nhận thức cảm

tính và nhận thức lý tính đều là các mức độ nhận thức khác nhau của con người, chúng có quan hệ biện chứng với nhau để nhận thức của con người trở nên hoàn chỉnh Mối liên hệ này còn được kiểm nghiệm trong thực tiễn, thực tiễn là cơ sở, là động lực của nhận thức

Như vậy, hoạt động nhận thức giúp cho con người nhận biết được những thuộc tính ngoài và những thuộc tính bên trong của sự việc, hiện tượng Nói cách khác, hoạt động nhận thức giúp con người hiểu biết về các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan

1.2.2.2 Xét về mặt giáo dục

Xét về mặt giáo dục, nhận thức được chia làm nhiều mức độ khác nhau Theo như phân loại mức độ nhận thức của nhà tâm lý học giáo dục người Mỹ (1956) – Benjamin Bloom có tất cả 6 mức độ nhận thức theo thứ tự tăng dần – từ thấp đến cao như sau:

Mức 1: Biết (ghi nhớ): Là mức độ nhận thức ở bậc thấp, chỉ nắm được những dấu hiệu bên ngoài của khái niệm, chưa có khả năng liên hệ những dấu hiệu bên ngoài với bản chất bên trong, chưa có khả năng vận dụng để giải quyết những tình huống, những hiện tượng Hiểu biết ở mức độ này được biểu hiện bằng các dấu hiệu sau: nhận ra vấn đề, nhắc lại, kể lại, tái tạo, định nghĩa, nhận biết được hình thức bên ngoài, nhận biết được một số biểu hiện cụ thể, khẳng định, kiểm tra,

Mức 2: Hiểu: Nắm được một số thuộc tính bản chất, nắm được một mối liên

hệ giữa những thuộc tính bản chất với những dấu hiệu bên ngoài, nắm được một số khái niệm nhưng có thể chưa biết vận dụng tốt những thuộc tính đó để giải quyết

Trang 28

vấn đề như: Liên kết, thay đổi, phân loại, làm rõ, phân biệt, so sánh, sắp xếp, tương phản, khái quát hóa, mở rộng, giải thích,

Mức 3: Áp dụng: Nắm vững các thuộc tính bản chất, nắm vững khái niệm

mà có thể dùng khái niệm để giải quyết vấn đề, tình huống Một số từ thường dùng như: áp dụng, đánh giá, tính toán, chọn, hoàn tất, giải nghĩa, điều khiển, vận hành,

tổ chức, trình diễn, phác thảo,…

Mức 4: Phân tích – Phân tích năng lực trong nhận thức như chia thông tin thành nhiều thành tố khác nhau để biết được các mối quan hệ nội tại và cấu trúc của chúng Các động từ thường khởi đầu như: Phân tích, lý giải, so sánh, xác định, tính toán, kết nối, bố trí…

Mức 5: Tổng hợp: Tổng hợp là năng lực trong nhận thức bằng cách liên kết các thông tin lại với nhau tạo ra ý tưởng mới, khái quát hóa thông tin suy ra hệ quả Các từ thường dùng như: Biện luận, tích hợp, phát triển, thiết kế, cấu trúc, tóm tắt, kiến tạo, tạo ra,…

Mức 6: Đánh giá: Đánh giá là năng lực bằng cách đưa ra nhận định, phán quyết

về giá trị của thông tin, vấn đề, sự vật, hiện tượng theo một mục đích cụ thể nào đó Các động từ khởi đầu là: giải thích, quyết định, khuyến cáo, chỉnh sửa, phê chuẩn,…

Năm 2001 hai tác giả là Anderson – là học trò của Bloom và Krathwohl là cộng sự của Bloom đã điều chỉnh lại mức độ nhận thức mà Bloom đã xây dựng từ năm

1956 Các mức độ từ 1 đến 4 hai tác giả giữ nguyên giống như Bloom còn lại hai mức độ

5 là đánh giá và mức 6 là sáng tạo thì có sự khác nhau

Mức 5: Đánh giá: Đánh giá là dựa trên các tiêu chuẩn để đưa ra các lời phê bình, đánh giá, nhận xét, báo cáo

Mức 6: Sáng tạo: Đặt các thành tố lại với nhau thành mức độ ổn định của tổng thể, tái cấu trúc những thành tố theo một mô hình mới theo cấu trúc thông qua việc sáng tạo, lập kế hoạch cho sự vật Đây là quá trình tư duy khó nhất trong mô hình nhận thức mới [110]

Trang 29

Năm 1956 Năm 2001

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đánh giá khả năng nhận diện các triệu chứng, nguyên nhân, biện pháp phòng ngừa, hậu quả, việc tìm kiếm nguồn trợ giúp,… của học sinh ở mức độ một – các em biết có chính xác hay không? đúng, sai hay không biết?, và vấn đề đưa ra có hữu ích, ảnh hưởng như thế nào, các em có khẳng định được vấn đề hay không?

1.2.3 Mối liên hệ giữa nhận thức và các hiện tượng tâm lý khác

1.2.3.1 Mối quan hệ giữa nhận thức và tình cảm

Nhận thức và xúc cảm, tình cảm có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, không thể tách rời nhau Nhận thức làm nền tảng cho xúc cảm, tình cảm, định hướng cho đời sống tình cảm của con người Nhờ có nhận thức mà con người xác định được mối quan hệ sự vật, hiện tượng với nhu cầu của bản thân để nảy sinh những rung động tương ứng Nhận thức càng sâu sắc sẽ giúp đời sống tình cảm

Sáng tạo

Đánh giá Phân tích

Áp dụng Hiểu ý nghĩa Ghi nhớ

Đánh giá

Tổng hợp Phân tích Vận dụng Lĩnh hội Kiến thức

Trang 30

càng ổn định hơn Ngược lại, tình cảm lại ảnh hưởng khá lớn đến nhận thức, nó có thể là động lực cho con người vươn đến những tìm tòi, khám phá nhưng cũng có thể khiến nhận thức con người bị sai lệch, mù quáng khi cường độ xúc cảm, tình cảm quá mạnh Do đó, mỗi khi ra quyết định nào đó con người ngoài phân tích những thiệt – hơn, được – mất, còn tính đến yếu tố ấy mang ý nghĩa như thế nào đối với bản thân mình Chính sự kết hợp hài hòa giữa nhận thức và đời sống tình cảm sẽ tạo

ra những con người cân bằng, ngược lại, có thể tạo nên những người sống rất lý trí, cứng nhắc, nguyên tắc hoặc những người ủy mị yếu đuối [6]

1.2.3.2 Mối quan hệ giữa nhận thức và hành vi

Giữa nhận thức và hành vi thì nhận thức có vai trò quan trọng trong việc giúp

cá nhân hình thành thái độ, động lực để tiến tới hành vi của con người Nhận thức là cái đầu tiên, tiếp nhận mọi thông tin, xử lý thông tin qua hệ thống não bộ, là sự định hướng và sự điều chỉnh hành vi của cá nhân cho phù hợp với các tình huống, văn cảnh diễn ra trong hoạt động thực tiễn Giữa nhận thức và hành vi có sự tác động qua lại lẫn nhau, gắn bó chặt chẽ cho nhau Thông thường, khi con người nhận thức đúng về một vấn đề nào đó trong thế giới khách quan, thì nó sẽ định hướng, điều chỉnh và thúc đẩy hành động của con người theo hướng tích cực phù hợp với các chuẩn mực của xã hội Hành vi của con người cũng phản ánh ngược lại nhận thức

Từ kết quả của hành vi, con người biết đâu là đúng, đâu là sai, hiệu quả của hoạt động bản thân vừa làm tới đâu, và như vậy, hành vi tác động ngược lại nhận thức,

để từ đó, giúp con người định hướng lại, cải tiến cao hơn cho phù hợp với những hoạt động, chức năng cuộc sống

1.3 Những vấn đề lý luận về rối loạn trầm cảm

1.3.1 Khái niệm về rối loạn trầm cảm

Theo từ điển Tâm lý học của Vũ Dũng định nghĩa: ―Trầm cảm là trạng thái xúc cảm mạnh đặc trưng bởi bối cảnh cảm xúc âm tính, bởi những thay đổi của môi trường về những quan điểm của động cơ nhận thức và bởi tính thụ động của hành vi

nói chung” [3]

Trang 31

Theo Bảng phân loại bệnh quốc tế (ICD - 10) và Bảng phân loại tâm thần lần thứ 4 của hiệp hội tâm thần học Mỹ (DSM - IV) thì: ―Trầm cảm là trạng thái rối loạn cảm xúc, biểu hiện qua khí sắc trầm, buồn, mất mọi quan tâm thích thú, giảm năng lượng dẫn đến tăng sự mệt mỏi và giảm hoạt động, phổ biến là tăng sự mệt mỏi sau một số cố gắng nhỏ, tồn tại trong một khoảng thời gian kéo dài, ít nhất là hai tuần‖

Thông qua phân tích, chúng tôi có thể hiểu trầm cảm như sau:

Trầm cảm là một trạng thái rối loạn cảm xúc được biểu hiện một cách rõ rệt qua khí sắc trầm, hành vi chậm chạp, kèm theo cảm giác mất hứng thú với mọi hoạt động trong cuộc sống, chán chường, bi quan và có ý nghĩ tự sát, ảnh hưởng đến các hoạt động chức năng trong cuộc sống của cá nhân

Trầm cảm có đặc trưng: là sự thiếu hụt các kỹ năng như giải quyết vấn đề

kém có xu hướng lo lắng hoặc thấy quá sức hơn là thực sự hành động; lựa chọn hoạt động kém sẽ dẫn đến thất bại trong việc nhận ra các hoạt động có hiệu quả; căng thẳng và có kỹ năng tự an ủi, giải tỏa kém; thiếu tinh thần để tham dự vào hoạt động

xã hội như không cười, không biết nói chuyện với người khác; trầm cảm còn có đặc trưng nữa là suy nghĩ tiêu cực, nhâm nha, nhai đi nhai lại một sự kiện tiêu cực, đồng

thời cảm thấy vô phương hỗ trợ, thiếu kiểm soát nên thiếu bền bỉ để đương đầu Các loại trầm cảm

- Trầm cảm chính – là sự hiện diện nghiêm trọng các triệu chứng trong ít nhất

2 tuần

o Tâm trạng mất cân bằng trong 2 tuần

o Có ít nhất 4 triệu chứng sau (đối với trẻ em, chỉ cần 2): Tăng hoặc giảm cân,

có vấn đề về giấc ngủ, tăng hoặc giảm hoạt động hơn bình thường, mất năng lượng, cảm thấy vô ích hoặc tội lỗi, khó tập trung hoặc quyết định, có suy nghĩ tự sát hoặc cái chết

o Các triệu chứng gây ra khó chịu và mất chức năng

- Trầm cảm mãn tính (Dysthymic Disorder - DD) – ít nghiêm trọng nhưng kéo dài

- Rối loạn trầm cảm không xếp loại (Depressicer Disorder NOS) – mất cân bằng về cảm xúc nhưng không đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán trầm cảm chính hay DD

Trang 32

Trong nghiên cứu này, chúng tôi chỉ tập trung vào tìm hiểu rối loạn trầm cảm chủ yếu hay còn gọi là trầm cảm chính

Từ những lý luận về nhận thức và khái niệm về rối loạn trầm cảm, chúng tôi đưa ra khái niệm nhận thức về rối loạn trầm cảm như sau:

Khái niệm về nhận thức rối loạn trầm cảm là ―Khả năng hiểu biết về các vấn

đề liên quan đến rối loạn trầm cảm như các biểu hiện, nguyên nhân, cách chữa trị, tìm kiếm nguồn trợ giúp,…cũng như khả năng vận dụng từ những hiểu biết đó trong việc phòng tránh và ngăn ngừa nguy cơ mắc rối loạn trầm cảm‖

1.3.2 Các yếu tố nhân khẩu và dịch tễ học

Theo thống kê của tổ chức Y tế thế giới thì hàng năm có 3 -5 % dân số thế giới

- tương đương với hàng trăm triệu người mắc bệnh trầm cảm [93],[33] Theo một nghiên cứu ở 8 cộng đồng chính tại Châu Âu và Mỹ, tỉ lệ mắc phải trầm cảm suốt đời

từ 5- 17% Tỉ lệ mới mắc hằng năm là 1,59% [19]

Tỉ lệ nữ/ nam là 2/1 Khoảng 50% bệnh nhân khởi phát ở độ tuổi 20 – 50 tuổi, cao nhất ở độ tuổi 25 – 44 tuổi [27] Trầm cảm ở thanh niên là khá phổ biến, một năm tỷ lệ mà người bị trầm cảm chính tăng lên từ 2% trong thời thơ ấu và dao động từ 4% lên 7% ở tuổi thanh niên [32] Theo khảo sát Quốc gia Comorbidity (NCS) thì tỷ lệ tuổi thọ của người bị trầm cảm chính ở thanh thiếu niên độ tuổi từ

15 – 18 tuổi là 14% [59], và khoảng 20% thanh thiếu niên sẽ có một rối loạn trầm cảm trong khoảng thời gian ở lứa tuổi 18 [23],[24] Tương tự như trầm cảm ở người lớn, trầm cảm vị thành niên thường là dai dẳng và theo định kỳ [23],[24],[62] 12 % trẻ em sẽ tái phát trong vòng 1 năm, 40% sẽ tái phát trong vòng 2 năm, và 75% sẽ tái phát lần thứ 2 trong vòng 5 năm [60],[61],[69]

Những nghiên cứu gần đây, hội chứng trầm cảm ngày càng gia tăng ở những người trẻ dưới 20 tuổi, có thể liên quan đến việc lạm dụng rượu hay chất kích thích

ở nhóm này Trầm cảm xảy ra cả ở những người có mối quan hệ khép kín hay những người ly dị, ly thân Không có mối liên quan rõ ràng nhưng trầm cảm thường xảy ra ở vùng nông thôn hơn thành thị Trầm cảm thường có 1 hay nhiều rối loạn tâm thần khác đi kèm, thường là nghiện chất, rối loạn hoảng loạn, ám ảnh cưỡng chế hay ám ảnh sợ xã hội [19]

Trang 33

1.3.3 Biểu hiện lâm sàng của rối loạn trầm cảm

Có một số tác giả nghiên cứu về sự hiểu biết của bệnh nhân đối với các triệu chứng của trầm cảm cho thấy có 82% người được hỏi cho biết các triệu chứng bệnh

có liên quan đến cảm xúc vô dụng, mệt mỏi liên tục có (77%), ý tưởng tự sát (77%), sức khỏe kém, mệt mỏi (75%) Các triệu chứng khác mà người tham gia khảo sát trả lời đối với trầm cảm về các vấn đề suy nghĩ và sự tập trung (71%), cảm giác tội lỗi (70%) Những vấn đề như khó chịu, tức giận hoặc căng thẳng ít hơn, mặc dù khá thường xuyên và thường đi kèm với trầm cảm Mặt khác, mất cảm giác ngon miệng có liên quan tới trầm cảm (56%) [83]

Biểu hiện lâm sàng của rối loạn trầm cảm gồm có các triệu chứng theo tiêu chuẩn chẩn đoán trầm cảm:

Chẩn đoán theo Bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 (ICD – 10) [17]

Ba triệu chứng cơ bản: Khí sắc trầm; Mất quan tâm, hứng thú và sở thích; Giảm năng lượng/ giảm hoạt động/ tăng mệt mỏi

Các triệu chứng phổ biến khác: Giảm sút sự tập trung và sự chú ý; Giảm sút tính tự trọng và lòng tự tin; Có những ý tưởng bị tội và không xứng đáng (kể cả giai đoạn nhẹ); Nhìn vào tương lai ảm đạm và bi quan; Có ý tưởng và hành vi tự huỷ hoại hoặc tự sát; Rối loạn giấc ngủ; rối loạn ăn uống;

Căn cứ trên các triệu chứng cơ bản và các triệu chứng phổ biến, có thể phân chia trầm cảm thành giai đoạn trầm cảm nhẹ; giai đoạn trầm cảm vừa; giai đoạn trầm cảm nặng

Các giai đoạn trầm cảm nhẹ, vừa, nặng được mô tả chi tiết ở trên chỉ được chẩn đoán cho một giai đoạn trầm cảm đơn độc (đầu tiên) Những giai đoạn trầm cảm sau đó được chẩn đoán theo các tiêu chuẩn chẩn đoán trầm cảm tái diễn Để phân biệt được các giai đoạn này dựa vào sự phán đoán lâm sàng phức tạp, cần tính đến số lượng, loại và mức độ trầm trọng của triệu chứng hiện có Phạm vi của các hoạt động xã hội và nghề nghiệp thường là một điểm hướng dẫn chung có ích trong khi xác định các mức độ trầm trọng của giai đoạn trầm cảm nặng; nhưng các ảnh hưởng cá nhân, xã hội, văn hóa, làm gián đoạn mối quan hệ mềm mại giữa mức độ trầm trọng của các triệu chứng và hiệu suất xã hội là phổ biến và mạnh mẽ để làm

Trang 34

cho việc đưa hiệu suất xã hội thành một tiêu chuẩn chủ yếu của mức độ trầm trọng trở nên không trầm trọng

Chẩn đoán theo DSM – IV [22] giai đoạn trầm cảm chủ yếu được chẩn đoán dựa trên:

A Có ít nhất 5 trong số các triệu chứng sau đây xuất hiện đồng thời trong khoảng

thời gian 2 tuần và thể hiện một sự thay đổi so với hoạt động trước đó: ít nhất một trong các triệu chứng phải là hoặc khí sắc trầm cảm hoặc mất thích thú hoặc mất thú vui

(1) Khí sắc trầm cảm gần như suốt ngày, hầu như mỗi ngày, được khai báo bởi bệnh nhân (ví dụ: cảm thấy buồn hay trống rỗng) hoặc được nhận thấy bởi những người khác (ví dụ: khóc) chú ý: ở trẻ em và thanh thiếu niên có thể biểu lộ sự

dễ bực tức

(2) Giảm sút rõ rệt sự thích thú hoặc thú vui trong tất cả hoặc gần như tất cả các hoạt động hầu như suốt ngày, gần như mỗi ngày (được nhận thấy bởi bệnh nhân hoặc bởi những người khác)

(3) Giảm cân đáng kể mà không do theo một chế độ ăn kiêng nào cả hoặc tăng cân (ví dụ: thay đổi trọng lượng cơ thể quá 5% trong1 tháng), giảm hay tăng cảm giác ngon miệng gần như mỗi ngày Chú ý: ở trẻ em có thể có tình trạng không đạt mức tăng trọng như thế

(4) Mất ngủ hoặc ngủ nhiều hầu như mỗi ngày

(5) Kích động hoặc chậm chạp tâm thần vận động tâm thần hầu như mỗi ngày (được nhận thấy bởi những người khác chứ không phải chỉ là những cảm giác chủ quan của bệnh nhân về sự bứt rứt hay chậm chạp bên trong cơ thể)

(6) Mệt mỏi hoặc mất năng lượng hầu như mỗi ngày

(7) Cảm thấy không xứng đáng hoặc tội lỗi quá mức hoặc không phù hợp (có thể đến mức hoang tưởng) hầu như mỗi ngày (không chỉ là sự tự trách móc hoặc có cảm giác tội lỗi do bị bệnh)

(8) Giảm khả năng suy nghĩ, tập trung chú ý hoặc khả năng quyết định hầu như mỗi ngày (do bệnh nhân khai báo hoặc được nhận thấy bởi người khác)

Trang 35

(9) Những suy nghĩ về cái chết hoặc ý tưởng tự sát tái diễn (không chỉ là sợ chết), các ý tưởng tự tử tái diễn nhưng không có kế hoạch chính xác, hay có mưu toan tự tử hoặc có kế hoạch cụ thể tự tử

B Các triệu chứng không đáp ứng tiêu chuẩn của giai đoạn hỗn hợp

C.Những triệu chứng này gây ra sự đau khổ đáng kể về mặt lâm sàng hoặc sự biến đổi

hoạt động xã hội, nghề nghiệp hoặc trong các lĩnh vực quan trọng khác

D Những triệu chứng này không phải do ảnh hưởng trực tiếp về sinh lý trực tiếp

của một chất (ví dụ: một chất gây lạm dụng, thuốc men) hoặc do của một bệnh nội khoa tổng quát (ví dụ: nhược giáp)

E Các triệu chứng này không được giải thích rõ hơn bởi một tang tóc (nghĩa là sau

cái chết của một người thân), các triệu chứng kéo dài trên 2 tháng hoặc kèm theo một sự suy giảm rõ rệt về hoạt động, về sự bận tâm có tính chất kèm theo một sự thay đổi rõ rệt về hoạt động, về sự bận tâm có tính chất kèm theo một sự thay đổi rõ rệt về hoạt động, về sự bận tâm có tính chất bệnh lý với cảm giác bị mất giá trị, về ý tưởng tự tử, về các triệu chứng loạn thần hoặc về sự chậm chạp tâm thần vận động

1.3.4 Nguyên nhân dẫn đến trầm cảm

1.3.4.1 Nguyên nhân liên quan tới yếu tố di truyền

Yếu tố di truyền là nguyên nhân đầu tiên được quan tâm, có ảnh hưởng tới việc hình thành và gây nên rối loạn trầm cảm Tỉ lệ bệnh ở nhóm sinh đôi cùng

trứng là 65% đến 75%, trong khi sinh đôi khác trứng là 14% đến 19% [29] Ngoài

ra, McGuffin và cs (1996) đã phát hiện ra trong nghiên cứu của ông có 46% các cặp sinh đôi cùng trứng cùng bị trầm cảm, trong khi ở các cặp sinh đôi có khác trứng, tỉ lệ này là 20% Tương tự, Wender và cs (1986) đã tiến hành một nghiên cứu trên 2 nhóm khách thể: Nhóm thứ nhất là họ hàng của những người con nuôi đã trưởng thành và từng bị trầm cảm Thứ hai là nhóm con nuôi Nghiên cứu được tiến hành trên cơ sở tìm hiểu các thông tin về tuổi tác, tình trạng kinh tế - xã hội và khoảng thời gian những người con nuôi sống với mẹ ruột không bị trầm cảm Khi đem so sánh tỉ lệ trầm cảm giữa hai nhóm, thấy rằng ở nhóm khách thể thứ nhất, tỉ

lệ bị trầm cảm nhiều gấp 8 lần và đã từng có ý định tự sát nhiều gấp 15 lần, so với

Trang 36

họ hàng ruột của chính những người con nuôi này Kết quả cũng cho thấy không có

sự khác biệt giữa các nhóm khi xét đến những mức độ trầm cảm nhẹ Ngoài ra một khảo sát khác về nguyên nhân dẫn đến trầm cảm cũng do yếu tố di truyền, cha mẹ hoặc ông bà đã từng bị trầm cảm (47%) thì cũng di truyền sang con [83]

1.3.4.2 Nguyên nhân liên quan tới cơ chế sinh học

Các chất dẫn truyền thần kinh norepinephrine (giảm trong trầm cảm) và serotonin (sự chuyển hóa của serotonin trong dịch não tủy giảm có thể thúc đẩy quá trình trầm cảm và dopamine (tăng trong hưng cảm và giảm trong trầm cảm)) đều được coi là nguyên nhân gây nên trầm cảm Ngày nay, các nhà nghiên cứu đã đưa ra một quan niệm khí sắc là kết quả của sự tương tác giữa serotonin và norepinephrine Hoặc có thể là sự tương tác giữa chất này với các cơ quan chức năng khác của não

bộ để gây nên hậu quả này Ví dụ, Rampello và cs (2000) đã giải thích rằng khí sắc

là kết quả của sự không cân bằng giữa một số chất dẫn truyền thần kinh, bao gồm serotonin và norepinephrine, dopamine và acetylcholine Có thể là serotonin đóng vai trò quá lớn trong việc kiểm soát các cơ quan khác nhau của não, và sự suy giảm chất này đã phá vỡ hoạt động trong các cơ quan này, dẫn đến trầm cảm Khu vực não có liên quan chủ yếu đến trầm cảm là hệ viền Độ quan tâm thích đáng của mỗi lĩnh vực, trước khi một giai đoạn trầm cảm diễn ra Dopamine có liên quan với triệu chứng trầm cảm ở cả cá nhân mạnh khỏe và cá nhân bị trầm cảm khi ông và cộng sự kiểm tra các hiệu ứng kết hợp của năm đa hình liên quan đến dopamine và triệu chứng mức độ trầm cảm Họ sử dụng một phương pháp tiếp cận điểm nguy cơ di truyền trong đó tóm tắt các tác động của nhiều đa hình trong hệ thống sinh học tương tự Điểm số nguy cơ di truyền được sử dụng trong nghiên cứu này biến thể di truyền trong một số khía cạnh của hệ thống dopamine ràng buộc Kết quả cho thấy

số điểm nguy cơ di truyền đã được kết hợp với triệu chứng trầm cảm (β = -0,80, p = 0,003), với điểm số nguy cơ di truyền dopamine thấp (chỉ dẫn truyền thần kinh dopamicnergic thấp hơn) dự đoán mức độ cao hơn của bệnh trầm cảm [63]

Một số yếu tố nội tiết cũng được đề cập ảnh hưởng đến trầm cảm như: Trực tuyến thượng thận và trực tuyến giáp Mối liên quan đến việc tăng tiết cortisol và

Trang 37

trầm cảm được ghi nhận khoảng 50% bệnh nhân trầm cảm có cortisol không giảm khi được tiêm với một liều Dexamethasone Bên cạnh đó người ta thấy rối loạn tuyến giáp có liên quan đến cảm xúc vì giảm phóng thích Thyroid stimulating hormone sau khi tiêm Thyroid stimulating hormone

1.3.4.3 Nguyên nhân liên quan tới tâm lý

Các yếu tố tâm lý như stress, sự kiện chấn thương tâm lý, ly hôn, ly thân từ

vợ hoặc chồng với các con số như sau: ly dị hay ly thân (84%), đau khổ trước người thân trong gia đình hoặc người bạn thân (82%) Các yếu tố bắt nguồn từ mỗi

cá nhân như các vấn đề chưa được giải quyết ở thời thơ ấu (73%), những nét tâm lý căng thẳng (66%) [83] Trầm cảm do cá nhân thiếu kỹ năng sống quan trọng trong việc ứng phó với các tình huống xảy ra trong cuộc sống của mình được thể hiện thông qua cảm xúc, giải quyết vấn đề, việc bảo vệ bản thân,… Ngoài nhân cách dạng ám ảnh, đánh giá về giá trị bản thân thấp, những suy nghĩ sai lệch cũng như nhai đi nhai lại về vấn đề nào đó, cũng là yếu tố nguy cơ gây nên trầm cảm

1.3.4.4 Nguyên nhân thuộc về yếu tố xã hội

Nhiều nhà nghiên cứu lâm sàng cho rằng, những đứa trẻ từng trải qua các sang chấn tâm lý như: thiên tai, tai nạn, kinh tế gia đình khó khăn, mất người thân, cha hoặc mẹ bạo lực, hiếp dâm,… tác động đến cơ thể và về mặt nhận thức của trẻ khiến các yếu tố sinh học trong não bị biến đổi, từ đó dẫn đến thay đổi các chức năng của não bộ [29] Nhiều cá nhân thuộc các dân tộc ít người gặp phải tình trạng kinh tế bất lợi, họ phải đấu tranh với định kiến và sự hòa nhập với dân tộc chiếm số đông, điều này có thể gây nên stress Ngoài ra nghiên cứu của Guo X, et al (2014) cho rằng chè, đồ uống ngọt, cà phê và là đồ uống không còn tiệu thụ nhiều nhất và

có thể có những hậu quả sức khỏe quan trọng, và cũng là yếu tố nguy cơ gây ra trầm cảm [42] Ngoài ra việc hút thuốc và uống rượu cũng là yếu tố nguy cơ gây ra rối loạn trầm cảm [71]

1.3.5 Hậu quả của rối loạn trầm cảm

Theo một khảo sát khác năm 2004 khi nghiên cứu về tổn thất kinh tế của trầm cảm và chính sách hoàn trả trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương đưa ra kết

Trang 38

quả như sau: Tính tổng chi phí của bệnh trầm cảm ở Úc năm 1997 – 1998 đã được ước tính là 1,8 tỉ $ (22% chi phí trực tiếp), năm 1994 ở Đài Loan là 1,4 tỷ $ (25% chi phí trực tiếp) Trong những năm 2000, người ta ước tính rằng, trầm cảm đơn cực chiếm 14,2 triệu DALYs ở Trung Quốc và 22,7 triệu DALYs cho tất cả các nước Châu Á Thái Bình Dương khác Phần lớn các hệ thống chăm sóc sức khỏe Châu Á Thái Bình Dương có bảo hiểm rộng, nhưng không quy định cụ thể đối với bệnh trầm cảm Tuy nhiên, lịch trình lệ phí tổng thể tương đối thấp, giảm bớt các rào cản tài chính cho điều trị ngoại trú của bệnh trầm cảm [106]

Thống kê khác ở Thụy Điển mức chi phí cho trầm cảm tăng lên trong tổng số 1,7 tỷ euro trong năm 1997 đến 3.5 tỷ euro năm 2005, như vậy mức độ tăng gấp đôi gánh nặng của trầm cảm cho xã hôi Lý do chính cho sự gia tăng chi phí được tìm thấy trong sự gia tăng đáng kể chi phí gián tiếp do nghỉ ốm và nghỉ hưu sớm trong suốt thập kỷ qua, trong khi chi phí trực tiếp là tương đối ổn định qua các năm Trong năm 2005, chi phí gián tiếp ước tính 3 tỷ euro (86% tổng chi phí) và chi phí trực tiếp 500 triệu euro (16%) Chi phí thuốc ước đạt 100 triệu euro (khoảng 3% tổng chi phí) [100]

Nghiên cứu của Sobocki và cộng sự (2006) ở Châu Âu về chi phí của bệnh trầm cảm đã đưa ra kết quả trong 28 quốc gia với dân số 466 triệu người, thì ít nhất

21 triệu người bị ảnh hưởng bệnh trầm cảm Tổng chi phí hàng năm của bệnh trầm cảm ở Châu Âu ước đạt 118 tỷ Euro trong năm 2004, tương ứng với chi phí 253 Euro cho mỗi người dân Chi phí trực tiếp cho một bệnh nhân đạt 42 tỷ USD, bao gồm chăm sóc bệnh nhân ngoại trú (22 tỷ Euro), chi phí thuốc (9 tỷ Euro) và nhập viện (10 tỷ Euro) Chi phí gián tiếp do bệnh tật và tử vong được ước tính khoảng 76

tỷ Euro Các chi phí của bệnh trầm cảm tương ứng với 1 % của tổng số nền kinh tế Châu Âu (GDP) [101]

Bên cạnh đó, trầm cảm là nguyên nhân chính gây ra tai nạn tại nhà và nơi làm việc cũng như khiến hiệu quả lao động thấp, ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình

và tăng các chi phí trả bảo hiểm [80]

Trang 39

Trầm cảm tiền dậy thì kết hợp với nguy cơ rối loạn lưỡng cực và trầm cảm

cả đời Trầm cảm chính khiến trẻ có nguy cơ vấn đề xã hội, nghiện ma túy, các rối loạn kép Hậu quả của trầm cảm còn ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động công việc, các mối quan hệ trong xã hội và các hoạt động chức năng trong cuộc sống của con người

Như vậy, nếu không điều trị, trầm cảm sẽ là một loại rối loạn trả giá rất lớn trên toàn khu vực Châu Á Thái Bình Dương, với mức chi phí gián tiếp chiếm một tỷ

lệ đáng kể Do đó, điều trị trầm cảm nên là một vấn đề trọng tâm của các nhà hoạch định chính sách để tránh những hậu quả tiêu cực như phải chi phí lớn Để thúc đẩy vấn đề này, sự thiếu thông tin cụ thể về dịch tễ học của rối loạn trầm cảm, cũng như việc sử dụng dịch vụ và chi phí thì cần phải giải quyết [106]

1.3.6 Một số liệu pháp điều trị rối loạn trầm cảm

Trầm cảm được trị liệu dựa trên cơ sở tâm lý vàsinhhọc của con người Trị liệu trên cơ sở tâm lý là tiến trình trong đó bệnh nhân được chuyên gia tâm lý hướng dẫn, đồng hành làm giảm bớt rối loạn tâm lý nhấn mạnh vào sự thay đổi và

là kết quả của sự tương tác giữa chuyên gia tâm lý với thân chủ Trái lại, liệu pháp trị liệu dựa trên cơ sở sinh học là các nhà chuyên môn sẽ sử dụng thuốc kết hợp với các tiến trình y khoa khác để hỗ trợ, cải thiện các chức năng hoạt động tâm lý

Nghiên cứu của Munizza C và cộng sự (2013) khảo sát về niềm tin và thái

độ trước rối loạn trầm cảm ở Ý cho rằng: cách tốt nhất để phục hồi trầm cảm đó chính là tìm kiếm sự giúp đỡ từ bên ngoài (99%): những nguồn trợ giúp có hiệu quả nhất là nhà tâm lý học (55%), các bác sĩ (38%), bác sĩ tâm thần (29%) và bác sĩ thần kinh (21%) trên tổng số người tham gia khảo sát Bên cạnh đó, 1/3 người tham gia trả lời lựa chọn các chuyên gia chăm sóc sức khỏe là nguồn giúp đỡ hữu ích và một

số thành phần hỗ trợ về mặt tình cảm như bạn bè, người thân, đồng nghiệp, các linh mục Dược sĩ và thầy thuốc thực hành y học cổ truyền chiếm 1-2%[83]

Một số liệu pháp điều trị bệnh trầm cảm:

 Liệu pháp tâm lý học

Liệu pháp nhận thức: Giữa nhận thức và hành vi có mối liên hệ mật thiết với

nhau Nhận thức sự vật trong thế giới khách quan vào não bộ và từ đó con người xử

Trang 40

lý thông tin trên não bộ đồng thời phản hồi lại thế giới khách quan Cho nên, nếu nhận thức sai thì sẽ dẫn tới hành vi sai Trị liệu nhận thức là tác động vào nhận thức của con người, làm thay đổi nhận thức tiêu cực (suy nghĩ tiêu cực) (sơ cấu nhận thức) trở nên tích cực hơn và niềm tin tiêu cực duy trì trong trầm cảm Và như vậy, người hỗ trợ cho bệnh nhân bị trầm cảm có thể sử dụng liệu pháp nhận thức này dạy bệnh nhân cách suy nghĩ và kiểu thích nghi mới với thế giới khách quan cụ thể là với môi trường sống Tái thiết lập và xây dựng lại sơ cấu nhận thức và niềm tin vững chắc về hiện thực cho phù hợp với thực tế

Điều trị tâm động học xuyên vào vô thức: Dựa vào giả thuyết của S.Freud

cho rằng nguồn gốc hành vi bất thường là những xung đột trong quá khứ bị dồn nén lại cũng với sự lo âu trước tiềm ẩn sẽ tác động vào phần nhận thức trong suy nghĩ của con người Để bảo vệ cơ thể an toàn không bị ―đau đớn‖ bệnh nhân đã dùng cơ chế phòng vệ như né tránh, phủ nhận, hoặc dồn nén/ ức chế những sự vật, hiện tượng xảy ra để đối mặt với chúng một cách hiệu quả Nhà trị liệu cần tạo ra môi trường tự do sao nhãng có thể giúp thân chủ nghỉ ngơi và tập trung gợi lại quá khứ Đồng thời, nhà trị liệu dấu mình ở mức có thể để giúp hình thành sự chuyển dịch Cách này giúp phân tích và hiểu các xung đột và ham muốn vô thức Phân tâm học thường sử dụng kỹ thuật liên tưởng tự do và yêu cầu bệnh nhân nói ra tất cả những

gì đang được thể hiện trong tâm trí, không chú ý đến sự vô nghĩa hay không liên quan gì đến cụ thể Liên tưởng tự do thực sự có hữu ích giúp nhà tâm lý phân tích tiềm thức của bệnh nhân Tiếp cận này giúp bệnh nhân dám đối đầu với những xung đột bằng cách mang chúng ra khỏi vô thức và đưa vào nhận thức cũng như tham gia vào cuộc sống hàng ngày có ý nghĩa phù hợp với tình huống, sự việc hiện tại có hiệu quả hơn Ngoài ra, một công cụ quan trọng khác là giải thích giấc mơ của bệnh nhân cũng được sử dụng để trị liệu để tìm ra nguyên nhân khiến cho bệnh nhân gặp khó khăn hiện có

Tiếp cận điều trị qua hành vi: Tiếp cận này nhà tâm lý giúp bệnh nhân trải

nghiệm lại những sự kiện trong quá khứ và từ đó thay đổi hành vi của bệnh nhân một cách tích cực hơn Liệu pháp này nhà tâm lý không nhất thiết phải đào sâu vào

Ngày đăng: 06/03/2019, 10:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyen A. (2003),Cultural and social attitudes towards mental inllness in Ho Chi Minh city, Vietnam. Stanford Undergraduate Research Journal, 2, pp. 27 -31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cultural and social attitudes towards mental inllness in Ho Chi Minh city, Vietnam
Tác giả: Nguyen A
Năm: 2003
2. Nguyễn Thị Bình (2015).Nhận thức của sinh viên về rối loạn trầm cảm. Luận văn Thạc sĩ Tâm lý học. Đại học khoa học xã hội và nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận thức của sinh viên về rối loạn trầm cảm
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 2015
3. Vũ Dũng (2008). Từ điển Tâm lý học. Nhà xuất bản từ điển Bách Khoa Hà Nội 4. Trần Thị Minh Đức, (2012). Giáo trình tham vấn tâm lý. Nxb Đại học Quốcgia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tâm lý học". Nhà xuất bản từ điển Bách Khoa Hà Nội 4. Trần Thị Minh Đức, (2012). "Giáo trình tham vấn tâm lý
Tác giả: Vũ Dũng (2008). Từ điển Tâm lý học. Nhà xuất bản từ điển Bách Khoa Hà Nội 4. Trần Thị Minh Đức
Nhà XB: Nhà xuất bản từ điển Bách Khoa Hà Nội 4. Trần Thị Minh Đức
Năm: 2012
6. Lê Thị Thu Hân, Huỳnh Văn Sơn, Trần Thị Thu Mai, Nguyễn Thị Uyên Thy, (2012). Giáo trình tâm lý học đại cương. TPHCM: Nhà xuất bản Đại học Sư Phạm TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tâm lý học đại cương
Tác giả: Lê Thị Thu Hân, Huỳnh Văn Sơn, Trần Thị Thu Mai, Nguyễn Thị Uyên Thy
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư Phạm TPHCM
Năm: 2012
8. Cao Vũ Hùng (2014),Kết quả nghiên cứu rối loạn trầm cảm ở trẻ vị thành niên. Báo thần kinh trẻ em, 13/05/2014. http://thankinhtreem.net/article/ket-qua-nghien-cuu-roi-loan-tr-149 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu rối loạn trầm cảm ở trẻ vị thành niên. Báo thần kinh trẻ em
Tác giả: Cao Vũ Hùng
Năm: 2014
11. Lâm Tứ Trung và cs (2012).Đánh giá hoạt động can thiệp truyền thông dự án chăm sóc sức khỏe tâm thần dựa vào cộng đồng. VVAF Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hoạt động can thiệp truyền thông dự án chăm sóc sức khỏe tâm thần dựa vào cộng đồng
Tác giả: Lâm Tứ Trung và cs
Năm: 2012
12. Lý Minh Tiên, Nguyễn Thị Tứ, Bùi Hồng Hà, Huỳnh Lâm Anh Chương, (2012). Giáo trình Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm. NXB Đại học Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm
Tác giả: Lý Minh Tiên, Nguyễn Thị Tứ, Bùi Hồng Hà, Huỳnh Lâm Anh Chương
Nhà XB: NXB Đại học Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2012
13. Lý Minh Tiên, Nguyễn Thị Tứ, Bùi Hồng Hà, Huỳnh Lâm Anh Chương, (2012). Giáo trình Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm. NXB Đại học Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Tr102 - 107 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm
Tác giả: Lý Minh Tiên, Nguyễn Thị Tứ, Bùi Hồng Hà, Huỳnh Lâm Anh Chương
Nhà XB: NXB Đại học Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Tr102 - 107
Năm: 2012
14. Giang Ngọc Thụy Vy, (2015).Nhận thức của người bệnh trầm cảm về triệu chứng, nguyên nhân và cách điều trị rối loạn này. Luận văn Thạc sĩ Tâm lý học. Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận thức của người bệnh trầm cảm về triệu chứng, nguyên nhân và cách điều trị rối loạn này
Tác giả: Giang Ngọc Thụy Vy
Năm: 2015
17. Tổ chức y tế thế giới (1992). Giai đoạn trầm cảm, Phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 về các rối loạn tâm thần và hành vi. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giai đoạn trầm cảm, Phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 về các rối loạn tâm thần và hành vi
Tác giả: Tổ chức y tế thế giới
Năm: 1992
18. Addis, M. E. & Jacobson, N. S. (1996)Reasons for depression and the process and outcome of cognitive behavioural psychotherapies. Journal of Consulting and Clinical Psychology, 64, 1417 -1424 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Reasons for depression and the process and outcome of cognitive behavioural psychotherapies
19. AkiskaL H. (2005).Mood disorders: historical introduction and conceptual overview. B Sadock, V Sadock (Eds.), Comprehensive Textbooks of Psychiatry, vol. 1, London, Lippincott Williams and Wilkins Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mood disorders: historical introduction and conceptual overview
Tác giả: AkiskaL H
Năm: 2005
20. Annemarie Wright., et al (2005).Recognition of depression and psychosis by young Australians and their beliefs about treatment. The Medical Journal of Australia 183 (1), 18 – 23) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Recognition of depression and psychosis by young Australians and their beliefs about treatment
Tác giả: Annemarie Wright., et al
Năm: 2005
21. Arana G. W., Rosenbaum J. F. (2000).Handbook of psychiatric drug therapy. Lippincott Williams & Wilkins Sách, tạp chí
Tiêu đề: Handbook of psychiatric drug therapy
Tác giả: Arana G. W., Rosenbaum J. F
Năm: 2000
7. Vũ Kim Hoàn, (14/8/2017). Những quan niệm mới trong liệu pháp sốc điện. http://bvtt-tphcm.org.vn/nhung-quan-niem-moi-trong-lieu-phap-choang-dien/ Link
16. Nguyễn, T. V. (2010). Chuyên đề: Tâm lý học nhận thức. Lecture. Retrieved March 27, 2017, from http://hnue.tailieu.vn/doc/chuyen-de-tam-ly-hoc-nhan-thuc-nguyen-van-tuong-258076.html Link
70. Loureiro et al. (2013).Meantal health literacy about depression: a survey of Portuguese youth. BMC Psychiatry 13:129http://www.biomedcentral.com/1471-244X/13/129 Link
78. Mental disorders fact sheet no. 396, October 2015, http://www.who.int/mediacentre/factsheets/fs396/en Link
88. Principal Leadership Magazine, Vol. 4, Number 2, October 2003 http://www.naspcenter.org/principals/nassp_depression.html Link
90. Reavley NJ, Jorm AF. (2011). National survey of mental health literacy and stigma. Canberra: Department of health andageing. http://pmhg.unimelb.edu.au/research_settings/general_community/?a=636496. Accessed 14 Aug 2015 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w