Tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu trong những năm trước đây chưa nghiêncứu về thuế bảo vệ môi trường, do đó qua việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng,thực trạng công tác quản lý thuế BVMT
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS ĐỖ THỊ THÚY PHƯƠNG
THÁI NGUYÊN - 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ht t p : / / w w w.lr c -tnu e d u.vn/
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan
Những nội dung trong Luận văn này do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của
TS Đỗ Thị Thúy Phương.
Mọi tham khảo dùng trong Luận văn đều được trích nguồn gốc rõ ràng.Các nội dung trong nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực vàchưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng 5 năm 2014
Tác giả luận văn
Phạm Thị Quỳnh
Trang 4Tác giả xin chân thành cảm ơn TS Đỗ Thị Thúy Phương, cùng các thầy cô
giáo trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên đã tận tâm giúp đỡtrong suốt thời gian học tập cũng như trong quá trình thực hiện luận văn
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo và các đồng nghiệp tạiCục Thuế tỉnh Thái Nguyên và các bạn bè khác đã giúp đỡ trong quá trình thực hiệnluận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng 5 năm 2014
Tác giả
Phạm Thị Quỳnh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
viii MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
1 2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2 3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
2 4 Ý nghĩa khoa học của đề tài và đóng góp mới của đề tài 3
5 Bố cục của Luận văn
3 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 5
1.1 Cơ sở lý luận về quản lý thuế bảo vệ môi trường
5 1.1.1 ơ bảo vệ môi trường
5 1.1.2 Lý luận chung về thuế
7 1.1.3 Lý luận chung về thuế BVMT 17
1.1.4 Lý luận về quản lý thuế BVMT 21
1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế BVMT 34
1.1.6 Sự cần thiết phải tăng cường quản lý thuế BVMT 37
1.2 Kinh nghiệm quản lý thuế BVMT ở một số Cục Thuế và bài học cho Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên 39
1.2.1 Công tác quản lý thuế BVMT tại một số Cục Thuế 39
Trang 64 1.2.2 Một số bài học kinh nghiệm rút ra cho công tác quản lý thuế BVMT
tại Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên 47
Chương 2 PHƯƠ .51
2.1 Các câu hỏi nghiên cứu 51
2.2 Phương pháp nghiên cứu đề tài 51
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 51
Trang 72.2.2 Phương pháp xử lý và tổng hợp thông tin 51
2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 52
2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 53
2.3.1 Các chỉ tiêu phản ánh số lượng hàng hóa dịch vụ gây ô nhiễm 53
2.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh số thuế phải nộp, số thuế đã nộp và tình hình chấp hành Luật thuế BVMT của doanh nghiệp 53
2.3.3 Các chỉ tiêu phản ánh kết quả quản lý thu thuế BVMT của Cục Thuế 53
Chương 3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI CỤC THUẾ TỈNH THÁI NGUYÊN 50
3.1 Đặc điểm của tỉnh Thái Nguyên 56
3.1.1 điều kiện tự nhiên 56
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 59
3.2 Sơ lược về lịch sử phát triển của Cục thuế tỉnh Thái Nguyên 64
3.2.1 Lịch sử phát triển, vị trí, chức năng 64
3.2.2 Nhiệm vụ quyền hạn 65
3.3 Thực trạng công tác quản lý thuế BVMT tại Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên 70
3.3.1 thuế 2011 - 2013 70
3.3.2 Kết quả thực hiện công tác quản lý thuế BVMT tại Cục thuế tỉnh Thái Nguyên 74
3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế BVMT của Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên 85
3.4.1 Yếu tố kinh tế 85
3.4.2 Thể chế, chính sách 86
3.4.3 Công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT 86
3.4.4 Công tác thanh tra, kiểm tra thuế BVMT 87
3.4.5 Công tác quản lý tạo lập, sử dụng và kiểm tra hóa đơn 87
3.4.6 Công tác quản lý nợ thuế BVMT, cưỡng chế thuế BVMT 87
3.4.7 Tin học hóa và cơ sở dữ liệu về tổ chức, cá nhân nộp thuế 88
Trang 83.4.8 Công tác tổ chức và trình độ năng lực đội ngũ cán bộ công chức
ngành thuế 88
3.4.9 Trụ sở, phương tiện làm việc của cơ quan thuế 88
3.4.10 Sự phối hợp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quản lý thuế BVMT 89
3.5 Đánh giá tình hình quản lý thuế BVMT tại Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên 89
3.5.1 Kết quả đạt được 89
3.5.2 Những mặt còn hạn chế 95
3.5.3 Một số nguyên nhân làm hạn chế công tác quản lý thuế BVMT tại Cục thuế tỉnh Thái Nguyên 95
Chương 4 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI CỤC THUẾ TỈNH THÁI NGUYÊN 99
4.1 Quan điểm, mục tiêu, định hướng quản lý thuế BVMT tại Cục thuế tỉnh Thái Nguyên 99
4.1.1 Quan điểm 99
4.1.2 Mục tiêu quản lý thuế BVMT tại Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới 101
4.1.3 Định hướng quản lý thuế BVMT tại Cục thuế tỉnh Thái Nguyên 102
4.2 Giải pháp hoàn thiện quản lý thuế BVMT tại Cục thuế tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới 103
4.2.1 Căn cứ đưa ra giải pháp 103
4.2.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý thuế BVMT tại Cục thuế tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới 104
4.3 Kiến nghị để thực hiện các giải pháp đề ra 116
4.3.1 Đối với Nhà nước 116
4.3.2 Đối với Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế, Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên 117
4.3.3 Đối với Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên 119
KẾT LUẬN 121
TÀI LIỆU THAM KHẢO 123
Trang 9: Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài: Bảo vệ môi trường
: Đăng ký kinh doanh: Tổng sản phẩm quốc nội: Hội đồng nhân dân: Mã số thuế
: Ngoài quốc doanh: Nhà xuất bản: Người nộp thuế: Ngân sách nhà nước: Sử dụng đất nông nghiệp: Sử dụng đất phi nông nghiệp: Thu nhập cá nhân
: Thành phố: Tiến sỹ: Tự khai tự nộp: Ủy ban nhân dân
Trang 10giai đoạn 2011 - 2013 451.4 T 2011 - 2013 46Bảng 3.1 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu của tỉnh Thái
Nguyên năm 2012, 2013 và kế hoạch năm 2014
của các doanh nghiệp năm 2012; 2013 74Bảng 3.5 Tình hình sản lượng khai thác than các loại và nghĩa vụ thuế
BVMT của các doanh nghiệp năm 2012; 2013 75Bảng 3.6 Thống kê số lượng NNT theo loại hình doanh nghiệp thuộc đối
tượng nộp thuế BVMT giai đoạn 2011 - 2013 76Bảng 3.7 Thống kê tỷ lệ nộp hồ sơ khai thuế BVMT năm 2011, 2012,
2013 77
Bảng 3.8 Kết quả thu, nộp thuế BVMT tại Cục thuế tỉnh Thái Nguyên giai
đoạn 2012 - 2013 77Bảng 3.9 Tình hình nợ thuế BVMT giai đoạn 2012 - 2013 81Bảng 3.10 Tình hình thực hiện kế hoạch thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp phải
nộp thuế BVMT năm 2012, 2013 82Bảng 3.11 Kết quả kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp phải nộp thuế BVMT
Trang 11viigiai đoạn 2012 - 2013 83
Trang 12DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 3.1 Mô hình tổ chức quản lý theo chức năng của hệ thống thuế Việt
Nam 69
Biểu đồ 3.1 Tình hình phát sinh thuế BVMT theo từng loại hàng hóa giai đoạn
2012 - 2013 81
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong suốt hơn 30 năm kể từ Hội nghị môi trường đầu tiên của thế giới(Stockholm 1972) cho đến nay, cộng đồng thế giới đã có nhiều nỗ lực để đưa vấn đếmôi trường vào các chương trình nghị sự ở cấp quốc tế và quốc gia Tuy nhiên, hiệntrạng môi trường toàn cầu vẫn đang tiếp tục trở nên tồi tệ hơn Suy giảm đa dạngsinh học tiếp diễn, trữ lượng cá tiếp tục giảm sút, sa mạc hóa ngày càng cướp đi nhiềuđất đai màu mỡ, tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu đã hiển hiện rõ ràng Thiêntai trên thế giới ngày càng nhiều và ngày càng khốc liệt, có thể kể đến một ví dụđiển hình đó là thảm họa động đất và sóng thần mới diễn ra ở Nhật Bản đầu tháng 4năm 2011 Trong tháng 11 năm 2013 tại Philippines số người chết vì bão lên đến hơn3.600 người
Trong thời gian qua tại Việt Nam, tăng trưởng kinh tế, quá trình công nghiệphoá và phát triển đô thị tăng nhanh đã tác động xấu đến môi trường sinh thái như sựgia tăng phát thải nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt; gia tăng số lượng chấtthải rắn trong sinh hoạt và trong công nghiệp; gia tăng phát thải các chất gây ô nhiễmkhông khí từ các quy trình sản xuất công nghiệp và giao thông vận tải; ô nhiễm ngàycàng gia tăng cả trên mặt đất, trong lòng đất, sông hồ và trong không khí
Để bảo vệ và cải thiện môi trường, Quốc hội nước Cộng hòa xã h ội chủnghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 8 ngày 15 tháng 11 năm 2010 đã thông qua
“Luật thuế bảo vệ môi trường” Mục tiêu của Luật thuế này, một mặt sẽ bổ sungvào nguồn thu tài chính để đầu tư, cải tạo môi trường, mặt khác sẽ hạn chế hoạtđộng gây hại đến môi trường của các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân
Thái Nguyên được thiên nhiên ban tặng cho một nguồn tài nguyên khoángsản đa dạng và phong phú Các loại tài nguyên khoáng sản như quặng sắt, than
mỡ, thiếc, tài nguyên làm vật liệu xây dựng, tuy có tr ữ lượng không lớn nhưng
đã được thăm dò và nhiều loại đang khai thác là nhân tố quan trọng trong việc
Trang 142hình thành một số trung tâm công nghiệp chuyên môn hoá của tỉnh Tuy nhiên,hiện nay tình trạng ô nhiễm môi trường trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên ngày càng
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ht t p : / / w w w.lr c -tnu e d u.vn/
3
gia tăng và khó kiểm soát, tính chất vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trườngngày càng phức tạp, nhiều "điểm nóng" về ô nhiễm môi trường còn tồn tại, gâybức xúc trong dư luận Vì vậy, việc tuân thủ pháp luật về bảo vệ môi trường làviệc làm cần thiết
Quản lý thuế bảo vệ môi trường là một trong những sắc thuế cần đượcxây dựng để hoàn thiện hệ thống chính sách thuế Tuy nhiên, quản lý thuế bảo
vệ môi trường là công tác quản lý thuế mới, hiện nay vẫn còn tồn tại chủ yếunhư: chính sách thuế chưa thực sự đồng bộ, còn phức tạp, sắc thuế còn nhiềumức thuế suất, bộ máy thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạm về thuế, quản lý nợ vàcưỡng chế thuế thì còn quá nhỏ so với yêu cầu quản lý thuế Vì vậy, hoànthiện công tác quản lý thuế bảo vệ môi trường để nâng cao chất lượng quản lý,đồng thời nhằm bảo vệ môi trường sinh thái, nhằm góp phần thay đổi nhận thứccủa con người đối với môi trường, tạo thêm nguồn lực để khôi phục môi trường
sinh thái Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác quản lý thuế bảo vệ môi trường tại Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên”.
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Nguyên, kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thuế đối BVMT thời gian qua
- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế BVMT tại Cục
Thuế tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ht t p : / / w w w.lr c -tnu e d u.vn/
4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ht t p : / / w w w.lr c -tnu e d u.vn/
5
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác tổ chức quản lý thuế BVMT tại Cục
T ý của Nhà nước
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: nghiên cứu trên địa bàn tại tỉnh Thái Nguyên
- Phạm vi về mặt thời gian: thu thập thông tin thứ cấp từ các tài liệu đã đượccông bố từ năm 2011 - 2013
4 Ý nghĩa khoa học của đề tài và đóng góp mới của đề tài
4.1 Ý nghĩa khoa học
Trên cơ sở nghiên cứu khoa học, hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thựctiễn, luận văn có những đóng góp sau:
- Trên cơ sở chủ trương, đường lối, quan điểm, pháp luật của Đảng và Nhà nước
về thuế BVMT, luận văn nêu bật vai trò quan trọng của thuế BVMT và quản lý thuthuế BVMT trong phát triển kinh tế - xã hội
- Luận văn là tài liệu khoa học có ý nghĩa thiết thực cho công tác quản lý thuếBVMT đạt hiệu quả cao
- Từ những nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm tại Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên
và của các tỉnh khác về quản lý thuế thuế BVMT, rút ra những bài học kinh nghiệmnhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế BVMT ở các địa phương khác trong thời giantới
4.2 Đóng góp mới của đề tài
ý thuế trên địa bàn tỉnh TháiNguyên Tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu trong những năm trước đây chưa nghiêncứu về thuế bảo vệ môi trường, do đó qua việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng,thực trạng công tác quản lý thuế BVMT nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện côngtác quản lý thuế BVMT tại Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên để quản lý thu thuế có hiệuquả
5 Bố cục của Luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đượcchia ra 4 Chương nội dung chính như sau:
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ht t p : / / w w w.lr c -tnu e d u.vn/
6Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý thuế BVMTChương 2: Phương pháp nghiên cứu
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ht t p : / / w w w.lr c -tnu e d u.vn/
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ht t p : / / w w w.lr c -tnu e d u.vn/
8
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC
QUẢN LÝ THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
1.1 Cơ sở lý luận về quản lý thuế bảo vệ môi
vệ môi trường Chỉ thị của Bộ Chính trị về tăng cường công tác BVMT trong thời
kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã nêu quan điểm của Đảng về công tác
BVMT, đó là “Bảo vệ môi trường là một vấn đề sống còn của đất nước, của nhân
loại; là nhiệm vụ có tính xã hội sâu sắc…” (Chỉ thị 36-CT/TW, 1998) Tiếp theo
đó, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15 tháng 11 năm
2004 về BVMT trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.Nghị quyết tiếp tục khẳng định các quan điểm của Chỉ thị số 36/CT-TW và bổsung, phát triển các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp lớn, cập nhật xu thếcủa thời đại và phù hợp với yêu cầu của thực tiễn đặt ra, nhấn mạnh quan điểm
“Bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là một trong những nội dung cơ bản của
phát triển bền vững, phải được thể hiện trong các chiến lược, qui hoạch, kế hoạch,
dự án phát triển kinh tế - xã hội của từng ngành và từng địa phương Khắc phục tư tưởng chỉ chú trọng phát triển kinh tế - xã hội mà coi nhẹ bảo vệ môi trường Đầu
tư cho bảo vệ môi trường là đầu tư cho phát triển bền vững” và “Bảo vệ môi trường là biểu hiện của nếp sống văn hoá, đạo đức, là tiêu chí quan trọng của xã hội văn minh và là sự nối tiếp truyền thống yêu thiên nhiên, sống hài hoà với tự nhiên của cha ông ta" (Nghị quyết số 41-NQ/TW, 2004) Chỉ thị số 29-CT/BBT
ngày 21 tháng 1 năm 2009 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 41 NQ/TW cập nhật những nhận thức mới và đề ra các quan điểm, mục tiêu, nhiệm
-vụ BVMT phù hợp với tình hình, nhiệm -vụ
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ht t p : / / w w w.lr c -tnu e d u.vn/
9
Với tính chất là một thuật ngữ pháp lý, bảo vệ môi trường được định nghĩatrong Luật Bảo vệ môi trường số 52/2005/QH11, của Quốc hội nước Cộng hoà xãhội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ht t p : / / w w w.lr c -tnu e d u.vn/
10
2005 Tại điểm 3, điều 3, Chương I, Luật BVMT số 52/2005/QH11 ngày
29/11/2005 quy định: “Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học” (Luật BVMT số 52/2005/QH11, 2005).
1.1.1.2 Đặc điểm, vai trò của công tác
BVMT
- Đặc điểm của bảo vệ môi trường:
+ BVMT phải gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế và bảo đảm tiến bộ xã
hội để phát triển bền vững đất nước
+ BVMT của quốc gia phải gắn với bảo vệ môi trường khu vực và toàn cầu.Hoạt động bảo vệ môi trường phải thường xuyên, lấy phòng ngừa là chính kết hợpvới khắc phục ô nhiễm, suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường
+ BVMT phải phù hợp với quy luật, đặc điểm tự nhiên, văn hóa, lịch sử,trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn
- Vai trò của bảo vệ môi trường: Công tác BVMT là sự nghiệp của toàn xãhội, quyền và trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân Sửdụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, phát triển năng lượng sạch, năng lượngtái tạo; đẩy mạnh tái chế, tái sử dụng và giảm thiểu chất thải
1.1.1.3 Nội dung quản lý nhà nước về công tác quản lý
BVMT
- Quan điểm công tác quản lý BVMT
+ Ưu tiên giải quyết các vấn đề môi trường bức xúc; tập trung xử lý các cơ
sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; phục hồi môi trường ở các khu vực bị ônhiễm, suy thoái; chú trọng BVMT đô thị, khu dân cư
+ Đầu tư BVMT là đầu tư phát triển; đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư chobảo vệ môi trường và bố trí khoản chi riêng cho sự nghiệp môi trường trong ngânsách nhà nước hàng năm
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ht t p : / / w w w.lr c -tnu e d u.vn/
11+ Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, vận động, kết hợp áp dụng các biện pháphành chính, kinh tế và các biện pháp khác để xây dựng ý thức tự giác, kỷ cươngtrong hoạt động BVMT
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ht t p : / / w w w.lr c -tnu e d u.vn/
12
+ Ưu đãi về đất đai, chính sách thuế, hỗ trợ tài chính cho các hoạt độngBVMT và các sản phẩm thân thiện với môi trường; kết hợp hài hoà giữa bảo vệ và
sử dụng có hiệu quả các thành phần môi trường cho phát triển
- Mục tiêu công tác quản lý BVMT
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục và vận động mọi người tham giaBVMT, giữ gìn vệ sinh môi trường, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và đa dạng sinhhọc Bảo vệ và sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên Nghiên cứu khoahọc, chuyển giao, ứng dụng công nghệ xử lý, tái chế chất thải, công nghệ thân thiệnvới môi trường Đóng góp kiến thức, công sức, tài chính cho hoạt BVMT
điển thì thuế được quan niệm rất đơn giản: "Để duy trì quyền lực công cộng, cần
phải có những sự đóng góp của những người công dân của Nhà nước đó là thuế khoá " (Mác - Ăng Ghen,
1962, tr.522) Và với quan điểm này, thuế chỉ là sự đóng góp của công dân để duy trìquyền lực nhà nước Khi những giai cấp không phải là giai cấp cai trị, nghĩ rằng việcbắt buộc nộp thuế chỉ dùng để bảo vệ quyền lợi cho giai cấp cai trị, thì họ sẽ khôngcoi thuế là nghĩa vụ công dân và sẽ bằng nhiều cách để tránh thuế và trốn thuế Quanđiểm này đã hỗ trợ rất nhiều cho các nhà kinh tế có quan điểm xã hội trong việc củng
cố lập trường đấu tranh giai cấp Khái niệm nêu trên mới nhấn mạnh một chiều, theoquan niệm của từng góc độ khác nhau thì thuế được hiểu:
Trên góc độ phân phối thu nhập thì: Thuế là hình thức phân phối và phân phốilại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tậptrung của nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năngnhiệm vụ của Nhà nước
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ht t p : / / w w w.lr c -tnu e d u.vn/
13
Trên góc độ người nộp thuế thì: Thuế được coi là khoản đóng góp bắt buộc màmỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho nhà nước theo luật định để đápứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ Nhà nước
Trên góc độ kinh tế học thì: Thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó Nhànước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sangkhu vực công, nhằm thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước
Ở nước ta, đến nay cũng chưa có một khái niệm thống nhất về thuế Theo Từ
điển tiếng Việt thì “Thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc các tổ chức
kinh doanh, tuỳ theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp buộc phải nộp cho nhà nước theo mức quy định” (Trung tâm từ điển học, 1998) .
Tuy nhiên, trong tiến trình phát triển xã hội, việc quy định thuế phải được sửdụng chung cũng là một vấn đề cần xem xét Có những loại thuế được thu chỉ nhằmmột mục đích định trước và trao cho một số đối tượng quy định
Trong tài liệu của khối các trường kinh tế, các nhà quản lý kinh tế, tài chính,
đặc biệt trong lĩnh vực thuế nêu khái niệm về thuế: “Thuế là một khoản đóng góp
bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, nhằm sử dụng cho mục đích công cộng” (Giáo trình thuế của
Học viện Tài chính, 2009, tr.5)
1.1.2.2 Đặc điểm của Thuế
Qua phân tích nguồn gốc của sự ra đời của thuế và khái niệm chung về thuếnêu trên, có thể khẳng định rằng: Thuế là một công cụ tài chính của Nhà nước, được
sử dụng để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung nhằm sử dụng cho mục đích côngcộng Thuế khác với các công cụ tài chính khác như phí, lệ phí, tiền phạt, giá cả …Điều này thể hiện qua các đặc điểm cơ bản của thuế trong kinh tế thị trường như sau:
- Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền
Theo phương thức đánh thuế trong nền kinh tế thị trường, về nguyên tắc, thuế
là một khoản trích nộp dưới hình thức tiền tệ, khác với hình thức nộp thuế bằng hiệnvật đã tồn tại từ thời xa xưa hoặc khác với chế độ giao nộp sản phẩm trong nền kinh
tế phi thị trường Nhiều quan điểm cho rằng, đây chính là sự khác biệt cơ bản và đầutiên của thuế trong nền kinh tế thị trường và thuế trong các nền kinh tế khác Chính
sự phát triển của hoạt động trao đổi hàng hoá bằng tiền đã làm cho thuế phát triển, và
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ht t p : / / w w w.lr c -tnu e d u.vn/
14ngược lại, việc bắt buộc nộp các khoản thuế bằng tiền đã góp phần thúc đẩy sự pháttriển của nền kinh
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ht t p : / / w w w.lr c -tnu e d u.vn/
cổ vật phải nộp thuế cho nhà nước với một tỷ lệ hiện vật tùy theo quy định cụ thể Kỹthuật này giúp Nhà nước sưu tập được những di sản quốc gia quý giá từ dân chúng đểbảo tồn tập trung những giá trị văn hoá của dân tộc, nhân loại
- Luôn gắn liền với quyền lực nhà nước
Đặc điểm này thể hiện tính pháp lý tối cao của thuế Thuế là nghĩa vụ cơ bảncủa công dân đã được quy định trong Hiến Pháp - Đạo luật gốc của một quốc gia.Việc ban hành, sửa đổi, bổ sung, hay bãi bỏ bất kỳ một thứ thuế nào cũng chỉ có một
cơ quan duy nhất có thẩm quyền, đó là Quốc Hội - Cơ quan quyền lực Nhà nước tốicao Mặt khác tính quyền lực Nhà nước cũng thể hiện ở chỗ Nhà nước không thể thựchiện thu thuế một cách tuỳ tiện mà phải dựa trên những cơ sở pháp luật nhất định đãđược xác định trong các văn bản pháp luật do các cơ quan quyền lực Nhà nước banhành Ở các quốc gia, do vai trò quan trọng của thuế đối với việc hình thành quỹngân sách Nhà nước và những ảnh hưởng của nó đối với đời sống kinh tế - xã hội nênthẩm quyền quy định, sửa đổi, bãi bỏ các Luật thuế đều thuộc cơ quan lập pháp Ðây
là nguyên tắc sớm được ghi nhận trong pháp luật của các nước Hiến pháp nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có
sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” đồng thời, Hiến pháp cũng quy định:
“Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân; Nhà nước bảo đảm
các quyền của công dân; công dân phải làm tròn nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và xã hội; Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định”
(Hiến pháp, 2013)
Như vậy, theo quan điểm này công dân không có quyền từ chối trả thuế, cũngkhông có quyền tự ấn định hay thỏa thuận mức đóng góp của mình, mà chỉ có quyềnchấp hành Trường hợp đối tượng nộp thuế nào cố tình không chấp hành sẽ bị cơquan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật để buộc họphải làm tròn nghĩa vụ nộp thuế của mình theo luật định
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ht t p : / / w w w.lr c -tnu e d u.vn/
16Đây là đặc trưng cơ bản nhất của thuế nhằm phân biệt với tất cả các hình thức
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ht t p : / / w w w.lr c -tnu e d u.vn/
17
động viên tài chính cho Ngân sách Nhà nước khác
- Luôn gắn liền với thu nhập
Đặc điểm này thể hiện rõ nội dung kinh tế của thuế Nhà nước thực hiện thuthuế thông qua quá trình phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân,
mà kết quả của nó là một bộ phận thu nhập của người nộp thuế được chuyển giao bắtbuộc cho Nhà nước mà không kèm theo bất kỳ một sự cấp phát hoặc những quyền lợinào khác cho người nộp thuế Thuế, cho dù dưới bất kỳ hình thức nào đều buộc ngườitrả thuế phải lấy một khoản thu nhập của mình ra thanh toán cho Nhà nước mà khôngcần biết mình đã chuẩn bị được khoản thu nhập đó hay chưa
Với đặc điểm này, thuế không giống như các hình thức huy động tài chính tựnguyện hoặc hình thức phạt tiền tuy có tính chất bắt buộc, nhưng chỉ áp dụng đối vớinhững tổ chức cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật
- Không hoàn trả trực tiếp và được sử dụng để đáp ứng chi tiêu công cộng
Tính chất không hoàn trả trực tiếp được thể hiện trên các khía cạnh:
Thứ nhất, sự chuyển giao thu nhập thông qua thuế không mang tính chất đối
giá Về mặt pháp lý, thuế không là giá cả của dịch vụ cung cấp Vì vậy, NNT khôngthể phản đối việc thực hiện nghĩa vụ thuế bằng cách viện cớ là Nhà nước sử dụng tiềnthuế không có hiệu quả Họ cũng không thể đòi hỏi số tiền thuế do họ nộp phải phân
bổ cho dịch vụ công này hay hoạt động khác Mặt khác, họ cũng không thể từ chốinộp thuế với lý do số thuế thu được tài trợ cho các khoản chi tiêu trái với nhữngnguyên tắc của nó
Thứ hai, các khoản thuế đã nộp cho Nhà nước sẽ không được dùng phục vụ
trực tiếp cho NNT nghĩa là mức thuế mà các tầng lớp trong xã hội chuyển giaocho Nhà nước không hoàn toàn dựa trên mức độ người nộp thuế thừa hưởngnhững dịch vụ và hàng hoá công cộng do Nhà nước cung cấp Người nộp thuếkhông có quyền đòi hỏi Nhà nước cung cấp hàng hoá, dịch vụ công cộng trực tiếpcho mình mới nộp thuế cho Nhà nước Người nộp thuế sẽ nhận được một phần cáchàng hoá, dịch vụ công cộng mà Nhà nước đã cung cấp cho cả cộng đồng, phầngiá trị mà người nộp thuế được hưởng thụ không nhất thiết tương đồng với khoảnthuế mà họ đã nộp cho Nhà nước Đặc điểm này của thuế giúp ta phân địn h rõthuế với các khoản phí, lệ phí và giá cả
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ht t p : / / w w w.lr c -tnu e d u.vn/
18
Khái niệm chi tiêu công cộng ngày nay không chỉ được hiểu theo nghĩa bóhẹp trong các khoản chi tiêu cho việc duy trì bộ máy nhà nước Trên thực tế, nhà nướchiện nay còn thực hiện nhiều chức năng kinh tế, xã hội, văn hoá và tất yếu các hoạtđộng này cũng chỉ được chi trả bằng thuế
1.1.2.3 Vai trò của Thuế
- Thuế là công cụ tập trung nguồn thu chủ yếu cho NSNN.
Để huy động nguồn lực vật chất cho mình, Nhà nước có thể sử dụng nhiềuhình thức khác nhau như: phát hành thêm tiền; phát hành trái phiếu để vay trong nước
và ngoài nước; bán một phần tài sản quốc gia; thu thuế Trong các hình thức nêutrên thì thuế là công cụ chủ yếu và có vai trò quan trọng nhất Vì so với các hình thứchuy động khác, sử dụng công cụ thuế có những ưu điểm:
+ Thuế là một công cụ phân phối có lĩnh vực và phạm vi rộng lớn Đối tượngnộp thuế bao gồm các thể nhân, pháp nhân theo quy định cụ thể của từng Luật thuế
+ Phương thức huy động của thuế là sử dụng phương pháp chuyển giao thunhập bắt buộc Chính vì vậy, nguồn thu từ thuế được đảm bảo tập trung một cáchnhanh chóng, thường xuyên và ổn định
+ Thông qua thu thuế một bộ phận của tổng sản phẩm xã hội và thu nhậpquốc dân trong nước tạo ra đã tập trung vào Nhà nước để đảm bảo nhu cầu chi tiêucông cộng và thực hiện các biện pháp kinh tế - xã hội
+ Tính ưu thế của động viên thông qua thuế so với các công cụ khác còn thểhiện ở chỗ: thuế kết hợp hài hoà giữa phương pháp cưỡng bức và kích thích vật chấtnhằm tạo ra sự quan tâm của các đối tượng nộp thuế tới chất lượng sản xuất và hiệuquả kinh doanh
Số liệu thống kê trên cho thấy số thu thuế và phí chiếm phần lớn trong tổngthu NSNN và tăng nhanh qua các năm, đảm bảo về cơ bản yêu cầu chi thường xuyênngày càng tăng của NSNN, giảm bội chi ngân sách, giảm lạm phát, từng bước gópphần ổn định trật tự xã hội, an ninh quốc phòng và giành một phần để tăng tích luỹ
Do vậy có thể khằng định thuế là nguồn thu quan trọng và chủ yếu của NSNN
- Thuế tham gia vào điều tiết kinh tế vĩ mô.
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ht t p : / / w w w.lr c -tnu e d u.vn/
19Nền kinh tế thị trường, bên cạnh những mặt tích cực cũng chứa đựng nhữngkhuyết tật vốn có của nó Nhà nước thực hiện điều tiết nền kinh tế ở tầm vĩ môbằng
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ht t p : / / w w w.lr c -tnu e d u.vn/
+ Thuế kích sự tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm
Thuế có ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế, đến việc điều tiết kinh tế thịtrường của Nhà nước Thông qua thuế, Nhà nước thực hiện định hướng phát triểnsản xuất Chính sách thuế có định hướng phân biệt, có thể góp phần tạo ra sự pháttriển cân đối hài hoà giữa các ngành, các khu vực, các thành phần kinh tế, làm giảmbớt chi phí xã hội và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Trong nền kinh tế thị trường xảy
ra các chu kỳ kinh doanh đó là chu kỳ dao động lên xuống về mức độ thất nghiệp và
tỷ lệ lạm phát, sự ổn định nền kinh tế với tình trạng có đầy đủ công ăn việc làm, lạmphát ở mức thấp để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bền vững
+ Thuế thực hiện vai trò tái phân phối các nguồn tài chính, góp phần đảmbảo công bằng xã hội
Nhà nước dùng thuế để điều tiết phần chênh lệch giữa người giàu và ngườinghèo, thông qua việc trợ cấp hoặc cung cấp hàng hoá công cụ Thông qua thuế Thunhập, Nhà nước thực hiện vai trò điều chỉnh vĩ mô trong lĩnh vực tiền lương và thunhập, hạn chế sự phân hoá giàu nghèo và tiến tới công bằng xã hội Một khía cạnhkhác của chính sách thuế nhằm điều chỉnh thu nhập là các khoản thuế đánh vào tiêudùng như: thuế GTGT, thuế Tiêu thụ đặc biệt
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ht t p : / / w w w.lr c -tnu e d u.vn/
21
Với những hàng hoá dịch vụ thiết yếu việc giảm thuế sẽ có lợi cho ngườinghèo hơn và sự chênh lệch về thu nhập cũng được giảm bớt Trái lại những mặthàng xa xỉ, cao cấp việc tăng thuế sẽ góp phần phân phối lại một bộ phận thu nhậpcủa người giàu trong xã hội Tuy nhiên, khi sử dụng công cụ thuế để điều chỉnh thunhập, mức thu nên xây dựng hợp lý tránh tình trạng điều tiết quá lớn làm giảm khátvọng làm giàu của nhà kinh doanh và giảm khả năng tăng trưởng kinh tế của đấtnước
+ Thuế là công cụ kiềm chế lạm phát
Nguyên nhân của lạm phát có thể do cung, cầu làm cho giá cả hàng hoá tănglên hoặc do chi phí đầu vào tăng Thuế được sử dụng để điều chỉnh lạm phát, ổnđịnh giá cả thị trường Nếu cung nhỏ hơn cầu thì nhà nước dùng thế để điều chỉnhbằng cách giảm thuế đối với các yếu tố sản xuất, giảm thuế thu nhập để kích thíchđầu tư sản xuất ra nhiều khối lượng sản phẩm nhiều hơn Nếu lạm phát do chi phítăng, gia tăng thất nghiệp, sự trì trệ của tốc độ phát triển kinh tế, giá cả đầu vàotăng, nhà nước dùng Thuế hạn chế tăng chi phí bằng cách giảm thuế đánh vào chiphí, kích thích tăng năng suất lao động
+ Thuế góp phần
kinh tế thế giới:
Bảo hộ hợp lý nền sản xuất trong nước tránh khỏi sự cạnh tranh từ bên ngoàiđược coi là hết sức cần thiết đối với các nước Điều này được thể hiện rõ nét thôngqua thuế xuất nhập khẩu Để kích thích sản xuất trong nước phát triển, kích thíchsản xuất hàng hoá xuất khẩu, nhà nước đánh thuế rất thấp hoặc không đánh thuế vàohàng xuất khẩu Khuyến khích xuất khẩu hàng hoá đã qua chế biến, hạn chế xuấtkhẩu nguyên liệu thô Đánh thuế nhập khẩu thấp đối với hàng hoá máy móc thiết bịtrong nước chưa sản xuất được và đánh thuế nhập khẩu cao đối với hàng hoá máymóc thiết bị trong nước đã sản xuất được hoặc hàng hoá tiêu dùng sa xỉ
Hiện nay, xu hướng hội nhập kinh tế đang phát triển mạnh mẽ ở trong khuvực và trên thế giới Sự ưu đãi, các hiệp định về thuế, tính thông lệ quốc tế củachính sách thuế có thể làm gia tăng sự hoà nhập kinh tế giữa một số quốc gia vớikhu vực và cộng đồng quốc tế
Nhà nước thường sử dụng công cụ thuế để điều tiết vĩ mô nền kinh tế:
+ Xác định mối quan hệ hợp lý giữa thuế trực thu và thuế gián thu
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ht t p : / / w w w.lr c -tnu e d u.vn/
22
+ Thay đổi thuế suất: thuế suất hay định suất thuế là linh hồn của mỗi sắcthuế Thay đổi thuế suất tức là mức thu thuế hay đại lượng thu thuế tính trên mộtđơn vị đối tượng chịu thuế
Thay đổi thuế suất được coi là một phương pháp quan trọng trong quá trìnhnhà nước sử dụng công cụ thuế để điều tiết nền kinh tế Thông qua việc đánh thuếvới thuế suất cao hay thấp vào các ngành nghề, mà nhà nước tác động và làm thayđổi mối quan hệ giữa cung và cầu trên thị trường nhằm góp phần điều tiết vĩ mô,đảm bảo giữa các ngành nghề trong nền kinh tế
+ Áp dụng các biện pháp ưu đãi thuế: Ưu đãi thuế tức là hình thức cho NNTđược hưởng các điều kiện thuận lợi khi nộp thuế Qua thực hiện ưu đãi thuế, nhànước đã điều tiết nền kinh tế một cách linh hoạt, tùy thuộc vào điều kiện cụ thể củacục diện nền kinh tế để đạt được những mục tiêu đã đặt ra
- Thuế là công cụ để điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội trong phân phối.
Một trong những khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường là có chênh lệchlớn về mức sống, về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội Kinh tế thịtrường càng phát triển thì khoàng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư ngàycàng có xu hướng gia tăng Chính vì vậy Nhà nước cần phải can thiệp vào quá trìnhphân phối thu nhập, của cải của xã hội Thuế là một công cụ để Nhà nước tác độngtrực tiếp vào quá trình này Việc điều hòa thu nhập giữa các tầng lớp dân cư đượcthực hiện một phần thông qua thuế gián thu mà đặc biệt là hình thức thu thuế tiêuthụ đặc biệt Các sắc thuế trực thu đặc biệt là thuế thu nhập cá nhân với việc sửdụng thuế suất lũy tiến là sắc thuế có tác dụng rất lớn trong vấn đề điều tiết thu nhập
và đảm bảo công bằng xã hội
- Thuế còn là công cụ để thực hiện kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Để đảm bảo thu được thuế và thực hiện thu đúng các quy định của các luậtthuế đã ban hành, cơ quan thuế và các cơ quan liên quan phải bằng mọi biện phápnắm vững số lượng, quy mô các cơ sở sản xuất, kinh doanh ngành nghề và lĩnh vựckinh doanh, những mặt hàng họ được phép kinh doanh Từ công tác quản lý thu mà
cơ quan thuế sẽ phát hiện ra những khó khăn mà họ gặp phải để giúp đỡ họ tìm mọibiện pháp tháo gỡ Như vậy qua công tác quản lý
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ht t p : / / w w w.lr c -tnu e d u.vn/
23
thuế mà họ có thể kết hợp kiểm tra, kiểm soát toàn diện các mặt hoạt động của các cơ
sở kinh tế, đảm bảo thực hiện tốt quản lý nhà nước về mọi mặt của đời sống kinh tế -
xã hội
1.1.2.4 Một số khái niệm cơ bản
* Hệ thống thuế: Hệ thống thuế là tổng hợp các hình thức thuế khác nhau mà
giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau và việc xây dựng các loại thuế,
phương pháp thu nộp thuế được thực hiện theo những nguyên tắc nhất định.
* Phân loại thuế: Tuỳ theo điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước mà
hệ thống pháp luật thuế bao gồm nhiều loại thuế khác nhau Ðể định hướng xâydựng và quản lý hệ thống thuế, việc sắp xếp các Luật thuế có cùng tính chất thànhnhững nhóm khác nhau, gọi là phân loại thuế
Phân loại thuế là việc sắp xếp các loại thuế trong hệ thống pháp luật thuếthành những nhóm khác nhau theo những tiêu thức nhất định Tuỳ thuộc vào mụctiêu, yêu cầu của từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội mà cơ cấu và nội dungcác Luật thuế có khác nhau Cũng tuỳ thuộc vào cơ sở, mục đích phân định, thôngthường thuế được phân loại theo các tiêu thức sau:
- Căn cứ vào tính chất của nguồn tài chính động viên vào Ngân sách Nhànước, thuế được phân làm 2 loại: thuế trực thu và thuế gián thu
+ Thuế gián thu là loại thuế mà Nhà nước sử dụng nhằm động viên một phầnthu nhập của người tiêu dùng hàng hoá, sử dụng dịch vụ thông qua việc thu thuế đốivới người sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ
+ Thuế trực thu là loại thuế mà Nhà nước thu trực tiếp vào phần thu nhập củacác pháp nhân hoặc thể nhân Sự phân loại thuế thành thuế trực thu và thuế gián thu
có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng chính sách pháp luật thuế
- Căn cứ vào đối tượng thu thuế Theo cách phân loại này thuế được chiathành các loại:
+ Thuế thu vào hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ như thuế giá trị giatăng, thuế đánh vào sản phẩm hàng hoá như thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặcbiệt
+ Thuế thu vào thu nhập như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ht t p : / / w w w.lr c -tnu e d u.vn/
24+ Thuế thu vào tài sản như thuế nhà đất, thuế đánh vào việc khai thác hoặc
sử dụng một số tài sản quốc gia như thuế tài nguyên, thuế sử dụng đất, sử dụng vốncủa Ngân sách Nhà nước, thuế khác và lệ phí, phí
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ht t p : / / w w w.lr c -tnu e d u.vn/
25
* Các yếu tố cơ bản cấu thành một sắc thuế.
Khác với các hình thức động viên tài chính khác, thuế thực hiện chuyển giaothu nhập dưới các hình thức biểu hiện cụ thể của mình bằng một sắc thuế Mỗi sắcthuế đều phải được quy định bằng một văn bản pháp luật và được gọi là một luậtthuế Trong một luật thuế thông thường chứa đựng các yếu tố cơ bản sau đây:
- Chủ thể chịu sự điều chỉnh của một luật thuế (Đối tượng nộp thuế):
Chủ thể chịu sự điều chỉnh của một luật thuế chỉ rõ khoản thuế đó do chủ thểnào phải nộp Luật thuế gọi chủ thể đó là đối tượng nộp thuế
Đối tượng nộp thuế theo luật định là thể nhân hoặc pháp nhân có trách nhiệmphải nộp thuế cho Nhà nước theo luật pháp quy định Đối tượng nộp thuế khôngnhất thiết là đối tượng chịu thuế Trong nhiều trường hợp đối tượng nộp thuế cũngchính là đối tượng chịu thuế, khi trong sắc thuế đó người nộp thuế không có khảnăng chuyển giao gánh nặng thuế cho người khác
- Khách thể chịu sự điều chỉnh của luật thuế (Đối tượng chịu thuế):
Khách thể trong luật thuế chỉ rõ đối tượng được đưa ra làm cơ sở tính thuế hayđối tượng chịu thuế Trong luật thuế, người ta gọi khách thể là đối tượng chịu thuế
Do cơ sở thuế là thu nhập, hàng hoá hay tài sản, nê đối tượng chịu thuế cũng
có thể là thu nhập, giá trị hàng hoá hoặc giá trị của tài sản Mỗi một luật thuế có mộtđối tượng chịu thuế riêng Đối tượng chịu thuế có thể được tính trên một đơn vị,trên một đơn vị vật lý hoặc một đơn vị giá trị
- Mức thuế phải nộp trên một đơn vị đối tượng chịu thuế (Thuế suất):
Mức thuế thể hiện mức độ động viên của Nhà nước trên một đơn vị của đốitượng chịu thuế Trong ngôn ngữ luật thuế người ta gọi mức thuế phải nộp là thuếsuất hay định suất
Trong một luật thuế, thuế suất là linh hồn của sắc thuế, mang trong mình nógánh nặng của thuế, thể hiện nhu cầu cần tập trung nguồn tài chính và biểu hiệnchính sách điều chỉnh kinh tế - xã hội của Nhà nước, đồng thời cũng là mối quantâm hàng đầu của người nộp thuế Vì vậy, việc xác định thuế suất trong một luậtthuế phải quán triệt quan điểm vừa coi trọng lợi ích chung của quốc gia vừa phải
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ht t p : / / w w w.lr c -tnu e d u.vn/
26
chú ý thích đáng đến lợi ích của người nộp thuế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tập trung và tích tụ trong việc sử dụng công cụ thuế
1.1.3 Lý luận chung về thuế BVMT
1.1.3.1 Khái niệm về thuế BVMT
Khái niệm thuế BVMT thường được tiếp cận dưới hai góc độ:
Theo nghĩa rộng, thuế BVMT là toàn bộ các khoản thuế mà chủ thể nộp thuếphải đóng góp liên quan đến việc tác động đến môi trường thông qua hành vi củamình Dưới giác độ này, thuế BVMT được hiểu là thuế liên quan đến môi trường
Theo nghĩa hẹp, thuế BVMT được hiểu là một loại thuế riêng biệt, đượcQuốc hội ban hành dưới hình thức Luật, điều chỉnh quan hệ thuế giữa Nhà nước vàcác chủ thể có hành vi tác động tiêu cực đến môi trường
Như vậy, thuế BVMT là loại thuế mà các chủ thể có khả năng tác động tiêucực đến môi trường phải nộp nhằm phòng, chống ô nhiễm môi trường và đảm bảophát triển bền vững Đa phần các quốc gia trên thế giới đều giải thích khái niệmthuế BVMT theo nghĩa rộng, tuy nhiên ở Việt Nam, khái niệm thuế BVMT lại đượchiểu theo nghĩa hẹp tại khoản 1, điều 2 Luật thuế bảo vệ môi trường số 57/2010,
ngày 15 tháng 11 năm 2010 đưa ra khái niệm về thuế BVMT như sau: “Thuế BVMT
là loại thuế gián thu, thu vào sản phẩm, hàng hóa (sau đây gọi chung là hàng hóa) khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trường” (Luật thuế BVMT, 2010).
Thuế BVMT thu vào các sản phẩm mà khi sử dụng sẽ gây ô nhiễm môitrường Người tiêu dùng là người chịu thuế nhưng người sản xuất, nhập khẩu làngười nộp thay Mức thuế môi trường có tính ổn định cao
1.1.3.2 Đặc điểm của thuế BVMT
- Thuế BVMT mang tính chủ quan, thể hiện ý chí của Nhà nước áp đặt mộtmức thu cố định trên một đơn vị sản phẩm gây ô nhiễm mà người tiêu dùng phải trảkhi sử dụng sản phẩm đó nhằm hạn chế việc sử dụng sản phẩm gây ô nhiễm
- Thuế BVMT thu vào các sản phẩm mà khi sử dụng sẽ gây ô nhiễm môitrường Người tiêu dùng là người chịu thuế nhưng người sản xuất, nhập khẩu làngười nộp thay Mức thuế môi trường có tính ổn định cao
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ht t p : / / w w w.lr c -tnu e d u.vn/
27
- Luôn gắn liền với thu nhập của tổ chức, hộ gia đình cá nhân sản xuất, nhậpkhẩu hàng hóa gây ô nhiễm môi trường
- Không hoàn trả trực tiếp và được sử dụng để đáp ứng chi tiêu công cộng
Từ những đặc điểm nêu trên, Luật thuế bảo vệ môi trường quy định tám (08)nhóm hàng hoá vào diện chịu thuế bảo vệ môi trường (đây là 08 nhóm hàng hóa lớn
mà khi sử dụng gây ô nhiễm trên diện rộng) Việc đưa các sản phẩm, hàng hoá (sauđây gọi chung là hàng hoá) vào đối tượng chịu thuế BVMT theo các nguyên tắc:
Thứ nhất, phải là những hàng hoá được sản xuất, nhập khẩu mà khi sử dụng
gây tác động xấu đến môi trường
Thứ hai, phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia và với
thông lệ quốc tế
Thứ ba, đây là loại thuế mới và phức tạp, do đó cần bảo đảm tính khả thi, xác
định rõ loại hàng hoá để quản lý thu thuế được hiệu quả; phải tính đến sự hài hoàvới phát triển kinh tế, không tác động đến năng lực cạnh tranh của hàng Việt Nam,đặc biệt là hàng hoá xuất khẩu
Trên thực tế, có nhiều hàng hóa mà khi sử dụng gây ô nhiễm với các mức độtác động khác nhau đến môi trường Do đó sẽ có rất nhiều loại hàng hoá có thể phảiđưa vào diện chịu thuế môi trường Trong bối cảnh, điều kiện kinh tế - xã hội hiện tạichưa nên đưa tất cả các hàng hóa gây ô nhiễm vào diện chịu thuế bảo vệ môi trường
mà chỉ nên chọn lựa một số hàng hóa gây ô nhiễm đáp ứng các nguyên tắc nêu trên
1.1.3.3 Vai trò của thuế BVMT
- Thuế BVMT là công cụ thu chủ yếu cho ngân sách nhà nước, Luật Thuế này
có thể động viên hợp lý đóng góp của xã hội, tạo nguồn thu cho Chính phủ để giảiquyết vấn đề môi trường Đây chính là ưu điểm lớn của việc sử dụng thuế môitrường so với các biện pháp hành chính khác, vì các doanh nghiệp và người tiêudùng thực sự khó từ bỏ hoàn toàn những hoạt động bị đánh thuế Việc áp dụng thựchiện thuế môi trường sẽ đem lại nguồn thu cho ngân sách nhà nước và do đó mộtphần giải quyết được những khó khăn về tài chính
- Thuế BVMT tham gia vào điều tiết kinh tế vĩ mô, thu nhập thu được từ thuếmôi trường có thể đem lại “lợi ích kép” Lợi ích thứ nhất là BVMT một cách cóhiệu quả và lợi ích thứ hai là mang lại nguồn thu nhập từ thuế môi trường Vớinhững vai trò to lớn như trên, việc áp dụng thuế BVMT là thực sự cần thiết đối với
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ht t p : / / w w w.lr c -tnu e d u.vn/
28
mỗi quốc gia, đặc biệt khi so sánh tính hiệu quả của thuế môi trường với các công
cụ quản lý môi trường khác
- Thuế BVMT là nhằm thay đổi hành vi đầu tư, sản xuất và tiêu dùng, giảmthiểu tác động xấu đến môi trường Khi áp dụng, thuế BVMT sẽ cho phép mỗidoanh nghiệp tự quyết định xem nên trả thuế môi trường hay nên xử lý ô nhiễm đểgiảm thiểu chi phí Những người có chi phí giảm ô nhiễm cao sẽ có khuynh hướngchấp nhận nộp thuế và những người có chi phí giảm ô nhiễm thấp sẽ cố gắng hạnchế sự thải ô nhiễm của mình Do đó, thuế BVMT tạo ra các khuyến khích chongười sản xuất và người sử dụng tránh các hành vi gây hại tới môi trường, đặc biệt
là khi thuế được tăng cường bởi các công cụ hành chính truyền thống
- Thuế BVMT còn là công cụ để thực hiện kiểm tra, kiểm soát các hoạt độngsản xuất, kinh doanh các sản phẩm gây ô nhiễm môi trường
- Tính thuế theo nguyên tắc người gây ô nhiễm trả tiền: Theo nguyên tắc này,người gây ô nhiễm cho môi trường, cho dù là người sản xuất hay là người tiêu dùng,
họ đều phải chịu trách nhiệm về các chi phí phải sử dụng để hoàn trả lại những tổnthất về môi trường mà chính họ là nguyên nhân gây ra; nói cụ thể hơn là người gây
ô nhiễm môi trường phải nộp một số tiền thuế tương ứng với mức ô nhiễm môitrường mà họ gây ra
- Tính thuế theo khối lượng tiêu thụ các nguyên, nhiên liệu đầu vào: Các loạinguyên, nhiên vật liệu được sử dụng cho quá trình sản xuất, nếu chúng là cácnguyên nhân phát sinh ô nhiễm môi trường thì phải chịu một mức thuế tương đươngvới mức ô nhiễm môi trường mà chúng gây ra Phương pháp tính thuế này có rấtnhiều ưu điểm; để hạn chế tối đa, thậm chí tránh được mức thuế ô nhiễm môitrường phải nộp, các doanh nghiệp phải tích cực tìm kiếm và sử dụng các loại