Cụ thể là: Nhận thức của sinh viên về hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook Hoạt động của sinh viên khi sử dụng mạng xã hội Facebook Cảm xúc của sinh viên khi sử dụng mạng xã hội Fa
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA TÂM LÝ – GIÁO DỤC
TIỂU LUẬN
Nghiên cứu hành vi sử dụng mạng xã hội
Facebook của sinh viên trường Đại học Sư Phạm
Đà Nẵng, tháng 12 năm 2018
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG 3
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ 4
MỞ ĐẦU 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI FACEBOOK CỦA SINH VIÊN ….7
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
1.2 Các khái niệm cơ bản 11
1.3 Biểu hiện hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook của sinh viên 19
Chương 2 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Khách thể và địa bàn nghiên cứu 29
2.2 Tổ chức phương pháp nghiên cứu 31
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36
3.1 Biểu hiện của hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook của sinh viên trường Đại học Sư Phạm về nhận thức 36
3.2 Biểu hiện của hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook của sinh viên trường Đại học Sư Phạm về cảm xúc……… …… 45
3.3 Biểu hiện của hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook của sinh viên trường Đại học Sư Phạm về hoạt động 48
3.4 Biểu hiện của hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook của sinh viên trường Đại học Sư Phạm qua sức khỏe 56
3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook của sinh viên 57
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
PHỤ LỤC 62
Trang 3DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Thông tin khách thể
Bảng 2.2 Quy điểm cho câu hỏi đánh giá mức độ
Bảng 3.1 Nhận thức của sinh viên về khái niệm MXH Facebook và hành vi sử dụng
MXH Facebook
Bảng 3.2 Nhận thức của sinh viên về tầm quan trọng của MXH Facebook
Bảng 3.3 Nhận thức của sinh viên về lợi ích và tác hại của MXH Facebook
Bảng 3.4.So sánh sự khác biệt về mức độ nhận thức của sinh viên về lợi ích và tác hại của
MXH Facebook
Bảng 3.5 Biểu hiện hành vi sử dụng MXH Facebook của sinh viên về cảm xúc
Bảng 3.6 So sánh sự khác biệt về biểu hiện cảm xúc của sinh viên qua hành vi sử dụng
Trang 4DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Nhận thức của sinh viên về mục đích sử dụng MXH Facebook Biểu đồ 3.2 Thời gian bắt đầu sử dụng MXH Facebook của sinh viên Biểu đồ 3.3 Thời gian sinh viên sử dụng MXH Facebook trong một ngày Biểu đồ 3.4 Số lượng bạn vè trên MXH Facebook của sinh viên
Biểu đồ 3.5 Những hoạt động sinh viên thường sử dụng MXH Facebook Biểu đồ 3.6 Biểu hiện hành vi sử dụng MXH Facebook qua cơ thể
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sự phát triển của mạng máy tính mang lại những thay đổi lớn cho cuộc sống của con người Mạng máy tính là một nguồn dự trữ thông tin vô cùng lớn với khả năng thông tin liên lạc một cách nhanh chóng và chính xác đã trở thành một nhân tố quan trọng trong
sự phát triển của mỗi cá nhân, mỗi quốc gia Ngoài ra, với hàng loạt những ứng dụng, tiện ích như “trò chơi trực tuyến”, “tán gẫu”, “nhật kí điện tử”, “mạng xã hội”… mạng máy tính đã trở thành một công cụ giải trí hấp dẫn mà chưa có một loại hình nào có thể sánh bằng Trong hàng loạt tính năng và tiện ích của Internet thì mạng xã hội mà cụ thể là Facebook đã trở thành một ứng dụng có sức lan tỏa đến mức “đáng sợ” trong thời gian gần đây, phát triển mạnh mẽ và thu hút một lượng lớn người sử dụng, chủ yếu là thanh thiếu niên và sinh viên Việc sử dụng Facebook đã dẫn đến hàng loạt vấn đề cụ thể về hành vi, trạng thái và cả những áp lực cùng với những diễn tiến phức tạp trong đời sống con người
Với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ và mạng xã hội trên Internet ngày nay, sự tiếp cận với Facebook trở nên dễ dàng và có sức hút ngày càng lớn Chính vì vậy, việc nghiên cứu về hành vi sử dụng Facebook của con người dưới góc độ Tâm lí học để
có những kiến giải mang tính khoa học là điều cần thiết cho Tâm lý học hiện đại
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài này nhằm tìm hiểu hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook của sinh viên ở trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận về hành vi, những biểu hiện của việc sử dụng Facebook, yếu tố ảnh hưởng dẫn đến sử dụng Facebook
- Khảo sát thực trạng sử dụng Facebook của sinh viên tại trường Đại học Sư phạm hiện nay Các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng Facebook của sinh viên
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng: Hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook của sinh viên Đại học Sư phạm
- Khách thể: Sinh viên tại trường Đại học Sư phạm
Trang 65 Giả thuyết
Sinh viên trường Đại học Sư phạm có nhận thức về mạng xã hội Facebook ở mức
độ cao, hoạt động trên mạng xã hội Facebook ở mức độ trung bình và cảm xúc tích cực ở mức trung bình khi sử dụng mạng xã hội Facebook Có các yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook của sinh viên, trong đó chủ yếu là yếu tố bên trong
6 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vị nội dung: chỉ nghiên cứu hành vi sử dụng Facebook của sinh viên
- Phạm vi khách thể: tiến hành nghiên cứu 60 sinh viên tại trường ĐHSP-ĐHĐN
7 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập và phân tích tài liệu
Kết hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại và hệ thống hóa lý thuyết: thu thập tài liệu tham khảo, tham khảo các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài, khái quát và xây dựng cơ sở lý thuyết cho đề tài
- Phương pháo điều tra bằng bảng hỏi
Mục đích: Dựa trên cơ sở lý luận, người nghiên cứu xây dựng bảng hỏi để tìm hiểu
hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook của sinh viên Cụ thể là:
Nhận thức của sinh viên về hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook
Hoạt động của sinh viên khi sử dụng mạng xã hội Facebook
Cảm xúc của sinh viên khi sử dụng mạng xã hội Facebook
Thời gian, thời điểm khi sử dụng mạng xã hội Facebook của sinh viên
Hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook biểu hiện qua cơ thể của sinh viên
Yếu tố ảnh hưởng đến vi sử dụng mạng xã hội Facebook của sinh viên
Cách thức tiến hành: thiết kế bảng hỏi, trưng cầu ý kiến bằng câu hỏi, kết hợp với
việc tổng hợp cơ sở lý thuyết để thiết kế bảng hỏi sử dụng trong đề tài
Xác định thời gian cho việc trả lời bảng hỏi
Tính toán các giá trị, độ tin cậy câu trắc nghiệm và bảng hỏi
Tiến hành sửa chữa những câu chưa đạt yêu cầu
Khảo sát chính thức
Đưa bảng hỏi đến từng khách thể
Trang 7 Khách thể hoàn thành bảng hỏi một cách độc lập trong thời gian cho phép
- Phương pháp phỏng vấn
Mục đích: thu thập, bổ sung, làm rõ hơn những thông tin về hành vi sử dụng
Facebook của sinh viên
Nội dung: Đánh giá hành vi sử dụng Facebook của sinh viên của sinh viên và các
yếu tố ảnh hưởng
Cách thức tiến hành: Phỏng vấn trực tiếp trên sinh viên
- Phương pháp thống kê toán học
Mục đích: Xử lý và mã hóa các thông số cần dùng trong đề tài nghiên cứu
Cách thức tiến hành: Tính tay để xử lý các thông số sau trong đề tài nghiên cứu:
Tần số
Điểm trung bình cộng
Các thông số so sánh
Độ tương quan
8 Cấu trúc của đề tài nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận & kiến nghị, phụ lục và danh mục TLTK, bài nghei6n cứu đươc chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chường 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chuong 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI SỬ DỤNG MẠNG XÃ
HỘI FACEBOOK CỦA SINH VIÊN
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trang 81.1.1 Những nghiên cứu về hành vi con người
1.1.1.1 Những nghiên cứu hành vi con người trên thế giới
Những nghiên cứu về hành vi được các nhà khoa học nghiên cứu từ rất sớm
Khởi nguồn của tiếp cận Hành vi là Chủ nghĩa hành vi của John Broadus Watson đầu thể kỷ XX Chủ nghĩa hành vi nhấn mạnh vai trò quyết định của các yếu tố môi trường bên ngoài đối với tâm lý bên trong, xem hành vi có thể học tập được, đồng thời bác bỏ ý nghĩ của các yếu tố thuộc về cá nhân bên trong
Các nghiên cứu thực nghiệm của nhà sinh lý học người Nga là Ivan Petrovich Pavlov ( 1849 – 1936) về phản xạ có điều kiện Lý thuyết này được biết đến với tên gọi
là lý thuyết điều kiện hóa cổ điển, đã chứng minh rằng, bằng các tác động bên ngoài ( các kích thích từ môi trường) hoàn toàn có thể tạo ra các phản xạ hoặc làm mất các phản xạ
B.F.Skinner (1904 – 1990) nghiên cứu về điều kiện hóa tạo tác Khác biệt với điều kiện hóa cổ điển của Pavlov, Skinner phát hiện ra rằng, hành vi là hệ quả của chính tác động của nó lên môi trường, do vậy lý thuyết của ông được biết đến với tên gọi là điều kiện hóa tạo tác Luận điểm chính của thuyết hành vi tạo tác là hành vi được phát triển hoặc duy trì bằng sự củng cố tích cực hoặc tiêu cực và bị hạn chế bởi sự trừng phạt hay bởi kích thích gây cảm xúc tiêu cực
Nhà tâm lý học Gordon Allport (1897 – 1967) trong các công trình nghiên cứu của mình đã chứng minh ảnh hưởng của nhóm đến hành vi, tri giác và quan điểm của các thành viên Những nghiên cứu này dựa trên quan điểm của thuyết hành vi cổ điển và hành vi theo cơ chế “kích thích – phản ứng” [10]
Đặc biệt từ đầu thế kỉ 21, vấn đề nghiên cứu con người trở nên cần thiết hơn bao giờ hết trong việc giải quyết các vấn đề nảy sinh từ cuộc sống cũng như khai phá hết tiềm năng của con người nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội
Tại Đại học Carnegie Mellon, Burke công bố một nghiên cứu cho thấy nói chuyện với bạn bè thân trên Facebook đã được kết hợp với cải thiện hạnh phúc Năm 2013, Burke và Kraut công bố mộtn ghiên cứu cho thấy người dùng Facebook đã liên lạc với bạn bè thân thiết về cơ hội việc làm có nhiều khả năng tìm được việc làm hơn là những người liên lạc với những người quen biết Năm 2014, Burke và đồng nghiệp Robert Kraut vừa công bố một nghiên cứu theo chiều dọc của 3,649 người dùng Facebook sự tương tác với người dùng khác trên Facebook làm tăng sự gần gũi, bất kể bao nhiêu nỗ lực tương tác này mất [11]
Trang 9Nghiên cứu của McLoughlin và Burgess cho rằng mô hình hành vi rủi ro được biết đến thường xuyên hơn ở Australia là “Sexting” và “Texting” Sexting liên quan đến việc
sử dụng hình ảnh của bản thân hoặc với người khác trong một hành vi sex thân mật hoặc phô trương thân thể Các bức ảnh được chụp bằng di động sau đó được phát tán cho bạn
bè nhờ MXH [13]
Hành vi đã được quan tâm, nghiên cứu dưới góc độ tâm lý ngày càng được nghiên cứu sâu hơn, đa dạng hơn
1.1.1.2 Những nghiên cứu hành vi con người ở Việt Nam
Luận văn thạc sĩ Tâm lý học của tác giả Nguyễn Thị Diễm My nghiên cứu hành vi với đề tài “ Hành vi nói dối của học sinh THCS tại TPHCM” Kết quả nghiên cứu cho thấy có đến 79,8% học sinh thừa nhận mình đã nói dối ít nhất một lần và 5,2% học sinh
tự đánh giá mình đã nói dối liên tục từ 2 tháng trở lên, 2,08% học sinh cho rằng mình đã nói dối liên tục trên 4 tháng và 12,9% học sinh thừa nhận liên tục nói dối trên 6 tháng Tác giả đã làm cho lịch sử nghiên cứu vấn đề về hành vi thêm phong phú [7]
Vấn đề mà giới trẻ đang bị cuốn vào cuộc sống của bản thân đấy là nghiện mạng xã hội Facebook Tác giả Nguyễn Thị Đào Lưu đã đưa ra kết quả nghiên cứu trong luận văn thạc sĩ “ Hành vi nghiện mạng xã hội Facebook ở học sinh lớp 9 tại TP.HCM” là 61,5% các em học sinh cho rằng Facebook có vai trò quan trọng và rất quan trọng Các em cho rằng cuộc sống của mình sẽ thật sự nhàm chán, thậm chí cuộc sống rất tẻ nhạt nếu không
có Facebook [4]
Luận văn Thạc sĩ “Một số biểu hiện ở hành vi mua sắm của nữ doanh nhân tại TP.HCM” của tác giả Nguyễn Võ Huệ Anh cho thấy các nhóm sản phẩm ưu tiên trong việc mua sắm của nữ doanh nhân là: thực phẩm (88%), vật dụng sinh hoạt gia đình (69,5%), quần áo (58,5%), sách, báo, tạp chí (54,4%) Mức độ nghiện mua sắm hay còn gọi là mua hàng cưỡng bức trong nữ doanh nhân lên đến 9% [3]
1.1.2 Những nghiên cứu về mạng xã hội, mạng xã hội Facebook
Từ khi trang mạng xã hội (MXH) đầu tiên ra đời trên thế giới (1995), các trang MXH đã nhanh chóng trở thành một hiện tượng phổ biến toàn cầu thu hút đông đảo người dùng nhất là giới trẻ Thanh thiếu niên sử dụng MXH để tiết lộ trên trang cá nhân các thông tin về bản thân như là tính cách, sở thích, nhu cầu, phản ánh xu hướng xã hội của bản thân và nhận được phản hồi từ cộng đồng MXH
Theo Trung tâm rối loạn ăn uống tại Sheppard Pratt, 51% người sử dụng Facebook được khảo sát cho biết họ cảm thấy tự ý thức hơn về cơ thể sau khi nhìn thấy hình ảnh
Trang 10của mình trên mạng xã hội “Facebook khiến cho những thành viên dành nhiều thời gian
và năng lượng để chỉ trích cơ thể mình và họ muốn bản thân mình trông giống như một người khác hơn” - Tiến sĩ Harry Brandt nói 80% những người được khảo sát cho biết họ đăng nhập vào Facebook ít nhất 1 lần/ngày và việc tiếp xúc với hình ảnh bản thân và bạn
bè là thường xuyên 44% nói rằng họ muốn có cơ thể hoặc trọng lượng như bạn mình khi nhìn vào các bức ảnh và 32% thừa nhận cảm thấy buồn khi so sánh hình ảnh Facebook của mình và người khác 37% còn nói rằng họ cảm thấy cần thiết phải thay đổi các phần trên cơ thể họ nữa Các phát hiện cho thấy rằng thật sự nguy hiểm khi nhìn vào hình ảnh trên Facebook có thể khiến cho mọi người ám ảnh về trọng lượng của mình dẫn đến việc
cơ thể sẽ phải chịu những thay đổi từ việc giảm cân sai quy cách và các hành vi kiểm soát cân nặng gây nguy hiểm khác Nghiên cứu đã lấy mẫu 600 Mỹ người sử dụng Facebook trong độ tuổi từ 16 đến 40 [7]
Nghiên cứu về nhu cầu giao tiếp, xây dựnginình bạn ở sinh viên đại học sử dụng Facebook của tác giả Lampe, Ellison và Steinfeld trên 1440 sinh viên năm 1 tại ĐH Michigan cho thấy: sinh viên sử dụng Facebook để tìm kiếm đốit ác quan hệ tình dục ở mức thấp nhất, tiếp theo là tìm người hẹn hò và xếp ở mức cao nhất là để điểm tra những người mà hẹn hò và xếp ở mức cao nhất là để kiểm tra những người mà họ sẽ hẹn hò, kiểm tra ra những người mà họ đã gặp mặt ở ngoài [11]
Trên Internet, những thanh thiếu niên có thể tham gia vào rất nhiều những hoạt động và một trong số đó có thể có khả năng gây nghiên Từ góc độ tâm lý học, điều này
là hợp lý để nói về “Chứng rối loạn nghiện Facebook” hay rộng hơn “Chứng rối loạn nghiện trang MXH” Các tiêu chí nghiện được Young đưa ra như: Không quan tâm tới cuộc sống cá nhân, tinh thần lo âu, trải nghiệm thay đổi tâm trạng, sự khoan dung và che giấu hành vi gây nghiện., xuất hiện ở một số người dùng Facebook thái quá
Yuong đã đưa ra 8 tiêu chuẩn nghiện như sau:
1/ Bận tâm bởi Internet
2/ Có nhu cầu sử dụng Internet ngày càng tăng để được thỏa mãn
3/ Nỗ lực nhiều lần nhưng không thành trong việc kiểm soát
4/ Kích động hoặc dễ bị kích kích khi có xu hướng giảm hoặc ngừng sử dụng
5/ Tiêu tốn thời gian lên mạng nhiều hơn dự kiến
6/ Các mối quan hệ quan trọng, hoạt động nghề nghiệp, xã hội, giải trí bị mất hoặc
có nguy cơ bị mất do sử dụng internet và các ứng dụng
7/ Nói dối gia đình, nhà trị liệu để che dấu hiện trạng thực sự về việc sử dụng
Trang 118/ Sử dụng Internet để trốn tránh khó khăn hoặc để giải tỏa sự hoảng loạn
Năm 2012 là một năm đầy phát triển của MXH Facebook Theo báo cáo lợi nhuận quý ba của Facebook, có tổng cộng 1,01 tỉ người dùng tích cực hàng tháng, tăng trưởng 26% mỗi năm Trên bản đồ thế giới, Việt Nam xếp thứ 54 tên tổng số 213 nước có người
sử dụng Facebook Một điều đáng ghi nhận nữa là trong tháng vừa qua, tính về tốc độ tăng trường , Việt Nam chỉ xếp sau Libya để trở thành nước có số người sử dụng Facebook tăng nhiều thứ hai Từ đây, xuất hiện hàng loạt vấn đề về hành vi sử dụng Facebook ở Việt Nam [1]
Theo thống kê của Facebook, Việt Nam là nước có số lượng người sử dụng dịch vụ MXH này tăng nhanh nhất trên thế giới với tỉ lệ tăng 26,5%/tháng Cũng trong thời gian này, Facebook lần đầu tiên đã lột vào top 10 trang web được truy cập nhiều nhất Việt Nam và vẫn tiếp tục nằm trong top 10 cho tới thời điểm này [6]
Theo thống kê mới nhất của Facebook về thói quen sử dụng Facebook của người Việt, thì hiện có khoảng 30 triệu người dùng MXH này (trong đó có 27 triệu người dùng hoạt động trên di động) Tính riêng mỗi ngày cũng có đến 20 triệu người dùng Facebook (17 triệu người hoạt động trên di động) thườn xuyên truy cập Facebook Con số trên cao hơn 13% so với mức sử dụng MXH trung bình mỗi ngày trên toàn cầu Cùng đó, người Việt hiện dành khoảng 2,15 tiếng mỗi ngày trên Facebook, nhiều hơn 1 tiếng so với các MXH khác và gấp đôi thời gian để xem tivi Tại Việt Nam, tính đến tháng 1/2015, lượng người dùng Facebook mỗi ngày tăng trưởng ấn tượng hơn với 55% cũng trong khoảng thời gian trên Về độ tuổi người dùng, có đến ¾ người Việt Nam dùng Facebook ở độ tuổi 18-34 Facebook được sử dụngc hủ yếu để trò chuyện với bạn bè hoặc truy cập trang của một thương hiệu nào đó Trong đó, các bà mẹ sử dụng Facebook với tần suất cao hơn với xu hướng chia sẻ mốc thời gian trong cuộc đời, khoảnh khắc thường nhật khi nuôi con Điều này cho thấy chưa có bất kì đối thủ với mạng Facebook tại Việt Nam [9]
1.2 Các khái niệm cơ bản
1.2.1 Các khái niệm hành vi
Sự ra đời của thuyết hành vi vào những năm 20 của TK XX được coi là một bước ngoặt trong lịch sử tâm lý học, hành vi trở thành đối tượng của khoa học tâm lý Với tác phẩm mang tính cương lĩnh được công bố năm 1913, “ Psychology as the Behaviourist Views It”, B.Watson đã được coi là người sáng lập Tuy nhiên, theo thuyết hành vi, bao gồm thuyết hành vi cổ điển của J.B.Watson (1878 – 1958), thuyết hành vi mới của E.C.Tolman (1886 – 1959) và C.L.Hull (1884-1952), thuyết hành vi xã hội và tâm lý học hành vi tạo tác của B.F.Skinner đã đưa ra ba dạng hành vi: hành vi phản xạ có điều kiện,
Trang 12hành vi phản xạ không điều kiện, hành vi tạo tác Các dạng hành vi códđiều kiện vàk hông điều kiện do kích thích (S) gây ra gọi là phản ứng kiểu S Chúng chỉ là một phần xác định trong cấu thành của hành vi và chỉ dựa vào phản ứng S thôi thì không có sự thích nghi với cuộc sống thực tế Thực chất, quá trình thích nghi được cấu trúc trên cơ sở các thử nghiệm tích cực – do các tác động của con vật lên môi trường xung quanh một cách ngẫu nhiên có thểd ẫn đến kết quả dương tính Những phản ứng sinh ra không phải
do kích thích mà do cơ thể tự tạo ra gọi là tạo tác Đây là phản ứng dạng R
Về cơ chế sinh học, cả hành vi có điều kiện cổ điển lẫn hành vi tạo tác đều có cơ sở
là phản xạ có điều kiện, nhưng chúng khác nhau về tính chủ động của hành vi cơ thể đối với kích thích môi trường Về nguyên tắc, cả hai đều là sơ đồ trực tiếp S ->R Điều khác
cơ bản là trong sơ đồ cổ điển S -> R, các kích thích (S) đóng vai trò tín hiệu, còn trong sơ
độ tạo tác, vai trò tín hiệu này đượcye chển vào trong hành vi củng cố Nói cách khác, trong sơ đồ hành vi tạo tác, hành vi củng cố có vai trò kích thích (S) trong sơ đồ S -> R
Vì vậy, có thể diễn đạt mối quan hệ này trong sơ đồ S -> s -> r -> R
Sau này nhờ những thành tựu nghiên cứu về hành vi của con người, khái niệm hành
vi trong tâm lý học không còn được hiểu một cách máy móc và cứng nhắc như trong thuyết hành vi Khi bàn về mô hình S – R, Piaget lưu ý đến tính tích cực của hành vi người: “Hành vi – đó là sự tìm kiếm những hoàn cảnh hay đối tượng còn thiếu hoặc còn chưa tồn tại… Hành vi được hiểu là tính tích cực có định hướng” [10]
Tâm lý học hoạt động quan niệm hành vi con người là biểu hiện bên ngoài của hoạt động được điều chỉnh bởi cấu trúc tâm lý bên trong Đối lập với tâm lý học hành vi, trong
đó ý thức bị loại ra ngoài phạm vi nghiên cứu Vugotxki khẳng định “Không nghiên cứu phản xạ, mà nghiên cứu hành vi, cơ chế, thành phần, cấu trúc của hành vi” và phải nghiên cứu cả ý thức trong nghiên cứu hành vi [5]
Một số xu hướng khác, chú ý đến các yêu tố can thiệp giữa kích thích và phản ứng
Sơ đồ, S-R thành S-O-R (trong đó Organism: yếu tố sinh học) Sau này, sơ đồ còn được
mở rộng thêm như chứ C (Contigency) là điều kiện tình huống bất ngờ
Theo Hersey và Hard, đơn vị cơ sở của hành vi là một hành động Toàn bộ hành vi
là một chuỗi hành động [3]
Theo từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên thì “hành vi là toàn bộ nói chung những phản ứng, cách cư xử biểu hiện ra ngoài của một người trong một hoàn cảnh cụ thể nhất định” [16, tr 423] Ở đây đề cập đến hoàn cảnh của sự xuất hiện hành vi (tức là những tác động bên ngoài chủ thể) và hành vi ở đây phải là những hành xử người khác có thể quan sát được [3]
Trang 13Theo Từ điển Tâm lý học của tác giả Nguyễn Khắc Viện, từ tiếng Anh “Behavior” thường dùng trong sách vở tâm lý có thể dịch qua tiếng Pháp với hai từ khác nhau là
“comportement” và “conduit”; qua tiếng Việt cũng thành hai từ là ứng xử và hành vi Từ ứng xử tương đương với từ comportement [3]
Theo Từ điển Tâm lý học của tác già Nguyễn Văn Lũy – Lê Quang Sơn, định nghĩa: Hành vi là một hệ thống có mục đích rõ ràng của những hành động này tiến hành sự tiếp xúc thực tế của cơ thể với những điều kiện xung quanh tạo ra mối quan hệ của thực thể sống với những tính chất của môi trường Sự bảo toàn và phát triển cuộc sống của chúng [hụ thuộc vào những tính chất này Những điều kiện xung quanh chuẩn bị thõa mãn nhu cầu của cơ thể, đảm bảo sự đạt được những mục đích nhất định [2]
Từ ứng xử chỉ mọi phản ứng của một động vật khi bị một yếu tố nào trong môi trường kích thích, các yếu tố bên ngoài và tình trạng bên trong gộp thành một tình huống,
và tiến trình của ứng xử để thích ứng có định hướng nhằm giúp chủ thể thích nghi với hoàn cảnh Khi nhấn mạnh về tính khách quan, tức là các yếu tố bên ngoài kích thích cũng như phản ứng đều là những hiện tượng có thể quan sát được, chứ không như tình ý bên trong, thì nói là ứng xử Khi nhấn mạnh mặt định hướng, mục tiêu thì gọi là hành vi [3]
- Hành vi bộc lộ và hành vi ngầm ẩn
Tất cả những hành vi của con người mà người khác có thể trực tiếp quan sát được là hành vi bộc lộ Những hành vi này dễ xác minh, tức là khi nó được một nhà nghiên cứu quan sát, ghi lại, đánh giá thì một nhà nghiên cứu khác có thể kiểm tra được Những hành
vi như đi, đứng, nói, cười, mua, bán… đều thuộc hành vi bộc lộ
Hành vi bộc lộ là cơ sở vật chất của các mối quan hệ người – người, nhờ có hành vi bộc lộ mà của cải được làm ra, các công việc trên thế giới được thực hiện Trước đây, hành vi ngầm ẩn được xem là không quan trọng với những người khác ngoài chủ thể của
nó, nhưng gần đây các nhà khoa học đã nhận thức lại ý nghĩa của loại hành vi này Nhiều
Trang 14nhà khoa học đã khẳng định rằng tuy nó không có tác động trực tiếp nhưng rất quan trọng
và có ý nghĩa lâu dài
- Hành vi biểu tượng và hành vi phi biểu tượng
Nhìn chung hành vi biểu tượng và hành vi phi biểu tượng đều rất quan trọng đối với cuộc sống xã hội Có thể nói hành vi biểu tượng là cách thức làm việc của xã hội, là mọi việc do con người làm và mọi công cụ mà họ sử dụng trên thực tế có cơ sở đối chiếu với biểu tượng của nó hoặc có ý nghĩa bằng lời
Nếu hành vi biểu tượng là cách thức làm việc của xã hội thì hành vi phi biểu tượng
là nội dung của cuộc sống xã hội Nếu sự điều khiển bằng biểu tượng không thực hiện đến cùng để có những hành vi phi biểu tượng thì có lẽ không có cuộc sống của con người, vì thế không có xã hội
1.2.2 Khái niệm mạng xã hội Facebook
1.2.2.1 Khái niệm mạng xã hội
Theo hướng tiếp cận toán học, Trần Minh Đức (2012) cho rằng MXH có thể xem
như: “Một hệ thống các đỉnh (node) gắn với nhau thành một mạng gồm các liên kết
(hoặc các cung) Theo tác giả, MXH được xem như mạng phức hợp, hay nói cách khác là
một tập các hệ thống được tạo bởi các yếu tố đồng nhất hoặc không đồng nhất kết nối với nhau thông qua sự tương tác khác nhau giữa các yếu tố này và được trải ra trên diện rộng Mạng phức hợp có hai thuộc tính là “hiệu ứng thế giới nhỏ” và “đặc trưng co dãn tự do” Theo hướng tiếp cận xã hội, nhấn mạnh yếu tố con người, MXH được nghiên cứu trên quan hệ cá nhân – cộng đồng để tạo thành mạng lưới xã hội Tác giả Nguyễn Thị Lê
Uyên, Viện Nghiên cứu Phát triển TP.HCM định nghĩa mạng lưới xã hội là: “Một tập
hợp các mối quan hệ giữa các thực thể xã hội gọi chung là actor Các thực thể xã hội này không nhất thiết chỉ là các cá nhân mà còn lạ các nhóm xã hội.Khi mạng lười xã hội này được thiết lập và phát triển thông qua phương tiện truyền thông Internet, nó được hiểu là MXH ảo” [8]
Từ những khái niệm được các nhà nghiên cứu đưa ra, có thể hiểu là: MXH là một dịch vụ kết nối các thành viên cùng sở thích trên Internet lại với nhau, với nhiều mục đích khác nhau Khi các cá nhân tham gia vào xã hội ảo thì khoảng cách về không gian địa lý, giới tính, độ tuổi, thời gian trở nên vô nghĩa Nhờ vào những ưu thế này mà MXH đang cót ốc độ lây lan chóng mặt và có sức hút với người dùng ở mọi lứa tuổi, đặc biệt là thanh niên trên toàn thế giới [14]
1.2.2.2 Khái niệm mạng xã hội Facebook
Trang 15Facebook là một MXH đang có sức lan tỏa mạnh mẽ và là món ăn tinh thân không thể thiếu đối với giới trẻ Chúng ta thường xuyên dành cho MXH Facebook một khoảng thời gian nhất định trong ngày, điều này đang dần lôi kéo mọi thứ nghiêng về phía bàn cân Facebook, sử dụng MXH Facebook như chiếc cầu nối để mọi người cùng trao đổi, chơi game, chia sẻ, kết nối mọi thông tin trong đời sống thườnggayày, thậm chí có thể theo dõi những thông tin từ người nổi tiếng
MXH Facebook được hiểu là “MXH Facebook là dịch vụ nối kết các thành viên
cùng sở thích trên Internet lại với nhau với nhiều mục đích khác nhau không phân biệt không gian và thời gian qua những tính năng như kết bạn, chat, email, phim ảnh, voice chat… nhằm phục vụ những yêu cầu công cộng chung và những giá trị của xã hội”
Đặc điểm của mạng xã hội Facebook
- Tính liên kết cộng đồng: Đây là đặc điểm nổi bật của MXH ảo, nó cho phép mở rộng phạm vi kết nối giữa người với người trong không gian đa dạng Người sử dụng có thể trở thành bạn của nhau thông qua yêu cầu mời kết bạn mà không cần gặp gỡ trực tiếp Việc gửi yêu cầu này tạo ra một cộng đồng mạng với số lượng thành viên lớn Những người có cùng một mối quan tâm cũng có thể tập hợp lại thành các nhóm trên MXH để giao lưu, chia sẻ thông tin trên mạng thông qua việc bình luận hay dẫn các đường liên kết trên trang chung của nhóm
- Tính đa dạng phương tiện: Hoạt động theo nguyên lí của web 2.0, MXH có rất nhiều tiện ích nhờ sự kết hợp giữa các yếu tố chữ viết, âm thanh, hình ảnh, hình ảnh động,…Sau khi đăng kí mở tài khoản, người sử dụng có thể xây dựng không gian riêng cho bản thân Nhờ những tiện ích và dịch vụ mà MXH cung cấp, người dùng có thể chia
sẻ đường dẫn, tệp âm thanh, hình ảnh, video,… Không những vậy họ có thể tham gia vào các trò chơi trực tuyến đòi hỏi có nhiều mối quan hệ mới trong xã hội ảo
- Tính tương tác: Thể hiện không chỉ ở chỗ thông tin được truyền đi và sau đó được phản hồi từ người nhận mà còn phụ thuộc vào cách người dùng sử dụng ứng dụng của MXH
- Khả năng truyền tải và lưu trữ lượng thông tin khổng lồ: Tất cả các trang MXH nói chung, Facebook nói riêng đều có những ứng dụng trông tương tự nhau như cho phép người sử dụng đăng tâm sự, đăng nhạc hoặc video clip, viết bài,…nhưng phân bố dung lượng khác nhau Các trang MXH lưu trữ thông tin và nhóm sắp xếp chúng theo trình tự thời gian, nhờ đó, người sử dụng có thể truy cập và tìm lịa thông tin đã từng đăng tải
Tính năng của mạng xã hội Facebook
Trang 16MXH Facebook có nhiều loại tính năng khác nhau, trong đó các tính năng phổ biến nhất
có thể kể đến là:
- Tạo hồ sơ cá nhân
- Kết bạn trực tuyến
- Tham gia nhóm trực tuyến
- Chia sẻ, bày tỏ ý kiến
- Tìm hiểu, theo dõi thông tin
- Tính bảo mật
MXH Facebook có khuyến cáo người dùng về các điều khoản sử dụng, trong đó tính bảo mật Điều khoản này công bố rõ ràng về những thông tin mà trang mạng sẽ thu thập từ người dùng, chia sẻ chúng, làm cách nào để người dùng thay đổi hoặc xóa bỏ thông tin, bởi lẽ “cuộc sống riêng tư trên Internet phụ thuộc vào khả năng của người dùng trong việc kiểm soát thông tin cá nhân được công bố và kiểm soát khả năng truy cập của những người được cấp phép”
- Kết nối mọi người gần nhau hơn
Một trong những tiện ích đầu tiên của Facebook mà đa số người sử dụng công nhận
đó là góp phần kết nối và đưa mọi người đến gần nhau hơn Có thể nói, Facebook là khu vực chúng ta có thểnắm bắt đầy đủ thông tin cơ bản của một người, như: Họ, tên, giới tính, địa chỉ (sinh sống, làm việc), ngày sinh, số điện thoại, những công việc đã từng học, từng tham gia, phương châm sống Trên ứng dụng Facebook, người ta dễ dàng làm quen với nhiều người Vói khả năng chat miễn phí, với những hình động dễ thương, nhí nhảnh
và cũng không giới hạn thì đây là một công cụ giúp chúng ta có thể trò chuyện và tán gẫu một cách dễ dàng, thuật tiện
Khi giao tiếp trên Facebook, chúng ta có thể kết nối với bạn bè của mình và nhận được thông tin cập nhật về cuộc sống của họ Chúng ta có thể giữ liên lạc với bạn bè của bạn ngay cả khi không có thời gian gặp gỡ họ Đôi khi còn sẽ tìm được bạn cũ một thời
mà khó có thể gặp ở nơi khác Hoặc giúp chúng ta tạo lập mối quan hệ mới thông qua một số tính năng như: gợi ý kết bạn theo nơi sống, khu vực, trường học, nơi làm việc,…
- Giải trí
MXH Facebook là một kênh giải trí con người có thể giải hòa được những căng thẳng, áp lực sau những giờ làm việc, học tập, hoạt động khác MXH Facebook chứa một lượng thông tin khổng lồ về bạn bè, những hoạt động nghệ thuật, pháp luật, thời sự,… Đặc biệt nhất Facebook chứa một lượng “game online” có sự liên kết giữa các thành viên
Trang 17trong danh bạ Bên cạnh đó MXH Facebook còn chứa những tin tức nóng của thời sự, pháp luật chính trị, sinh viên có thể cấp nhật những tin tức mang tính thời sự, chính trị, pháp luật, địa điểm du lịch, khu ăn uống, và hơn hết là xem tin tức từ phía bạn bè
- Nơi chia sẻ thông tin
Một trong những tiện ích khác không thể phủ nhận của MXH Facebook là việc chia sẻ: Thông tin, hình ảnh (cá nhân, tập thể hoặc của một nhóm người nào đó), tin tức thời
sự mọi người đang quan tâm, cả những “tin” vừa phát hiện (tai nạn giao thông, hỏa hoạn,…) với tốc độ tính bằng giây Bên cạnh đó, thông qua MXH Facebook giúp người
sử dụng nắm được những thông tin mình quan tâm Có thể thấy, tất cả những thông tin chúng ta cần sẽ có trong tích tắc, chỉ bằng một cú “click” chuột, một dòng “status”,… Bên cạnh đó chúng ta còn chia sẻ ý kiến cá nhân về một vấn đề nào đó trong xã hội, cảm xúc, tâm trạng cá nhân, hay những câu triết lí cuộc sống MXH Facebook còn có thể giúp chúng ta xây dựng được hình ảnh của bản thân, thể hiện mình bằng cách trang trí dòng thời gian của mình trên Facebook, qua các hình ảnh cá nhân, đăng thông tin về học vấn, nơi làm việc, thành tích cá nhân…Cảm xúc của mọi người chia sẻ, chúc mừng, hỏi han, quan tâm sẽ làm cho người dùng có được những cảm xúc tích cực và hơn hết là được thể hiện mình dù trong môi trường sống ảo
- Facebook là một môi trường quảng cáo, kinh doanh hiệu quả cho các doanh nghiệp Với những thông tin mà người dùng chia sẻ, Facebook sẽ dựa vào đó mà đặt quảng cáo với từng đối tượng sao cho phù hợp với sở thích của họ Như vậy thì quảng cáo sẽ được quan tâm hơn
Facebook giúp quảng bá hình ảnh cho những người nổi tiếng ca sĩ, diễn viên,…đây
là nơi thích hợp để quảng bá hình tượng của họ
Hơn nữa chúng ta có thể tham gia các hoạt động kinh doanh online qua trang Facebook Bán hàng online là một trong những hình thức đang được các tiểu thương lựa chọn Nhanh chóng lan truyền, hình ảnh sét nét, ít tốn mặt bằng và người mua hàng có thể tốn ít thời gian đi lại
Đánh giá sự tác động của MXH đối với giới trẻ
- Tác động tích cực
MXH Facebook ra đời có thể nói là một bước tiến mới của ngành công nghệ thông tin, thu hút sự quan tâm của rất nhiều người trên thế giới nói chung và đặc biệt là những người trẻ nói riêng Sau khi xuất hiện, MXH đã nhanh chóng trở thành công cụ truyền thông cá nhân phổ biến nhất tại nhiều nước trên thế giới Tính đến nay, hơn 75% người
Trang 18truy cập Internet ở Việt Nam có sử dụng MXH Facebook , phổ biến ở giới trẻ 15-25 tuổi Đặc biệt với tuổi vị thành niên, gần như 100% các em trong độ tuổi từ 15-18 tại các thành phố lớn có tài khoản Facebook và tham gia tưỡng tác trên đó Facebook giúp các thành viên có thể liên tục và kịp thời cập nhật thông tin của nhau cũng như các thông tin xã hội, thế giới [12]
Giới trẻ trong đó có sinh viên, những người sinh ra và lớn lên trong thời kỳ đổi mới, đối tượng nhạy cảm nhất trước những biến đổi vô cùng nhanh chóng của đất nước ta av2 thế giới Họ mang đặc điểm riêng: trẻ, có tri thức, dễ tiếp thu cái mới, nhạy cảm với vấn
đề chính trị xã hội Với đặc điểm trẻ tuổi, có tình độ và năng lực sáng tạo, khả năng tiếp nhận cái mới nhanh và linh hoạt, thích nghi kịp thời với sự thay đởi nhanh chóng của xã hội hiện đại nên sử ra đời và phát triển của MXH Facebook đã tác động không nhỏ đến đối tượng này Facebook với những tính năng đa dạng, nguồn thông tin phong phú, do đó người dùng có thể dễ dàng tiếp nhận, chia sẻ và chọn lọc thông tin một cách có hiệu quả Qua khảo sát cho thấy có rất nhiều bạn trẻ công nhận vai trò tích cực của Facebook trong học tập, giao tiếp, giải trí và tìm kiếm cơ hội nghề nghiệp MXH giúp mọi người trên thế giới xích lại gần nhau hơn Rất nhiều người trẻ đã biết cách sử dụng MXH một cách hiệu quả Họ sử dụng đây là nơi để cung cấp cho mình nguồn tri thức, nâng cao giá trị bản thân., là nơi để gắn kết cộng đồng, là nơi để sẻ chia những người bất hạnh, niềm vui của những người có cùng trái tim biết thông cảm và giúp đỡ những người có hoàn cảnh đáng thương, cần sự trợ giúp của xã hội
Bên cạnh việc đáp ứng được nhu cầu thể hiện bản thân của giới trẻ thì MXH cũng làm thay đổi thói quen thu thập và chia sẻ thông tin của họ Thay vì thu thập thông tin từ báo chí truyền thống, giới trẻ đang bắt đầu có thói quen thu thập thông tin qua MXH và truy cập các sản phẩm báo chí qua MXH Nếu họ thấy thông tin hay, bổ ích sẽ chia sẻ thông tin đó trên trang của họ Do đó, đây lại là một cách tác động hết sức tích cực đến báo chí truyền thống
- Tác động tiêu cực
Công nghệ nói chung và MXH Facebook nói riêng đang là một phần của cuộc sống Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực kề bên thì MXH cugn4 mang lại không ít những tác động tiêu cực Những giá trị ảo từ Facebook đang tác động trực tiếp đến cuộc sống hiện thực của giới trẻ
Trong những hệ lụy mà Facebook mang lại, phổ biến nhất là sự phát triển này đã làm nảy sinh biểu hiện “nghiện” Facebook của không ít những bạn trẻ, nhất là tuổi thanh thiếu niên Họ dành quá nhiều thời gian của mình để lên mạng và đắm chìm trong những
Trang 19trang Facebook Nhiều bạn nghiên đến mức quên cả giờ ăn, ngủ và kết quả là sức khỏe giảm sút nghiệm trọng, kết quả học tập, làm việc giảm sút Bên cạnh đó, một bộ phận giới trẻ đang có xu hướng sống ảo, những bạn này thường tự vẽ ra cho mình một cuộc sống khác hoàn toàn với thế giới ngoài Một số bạn trẻ lại xem Facebook như một cứu cánh, họ sống trong thế giới ảo đó, quên mất bản thân trong đời thực
1.2.3 Khái niệm hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook của sinh viên
1.2.3.1 Khái niệm sinh viên
Sinh viên là người học tập tại các trường ĐH, CĐ Ở đó họ được truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành nghề, chuẩn bị cho công việc sau này của họ Họ được xã hội công nhận qua những bằng cấp đặt được trong quá trình học
1.2.3.2 Khái niệm hành vi sử dụng
Hành vi sử dụng là “ Sử dụng các đồ vật hay loại hình giải trí với bất kỳ hình thức
nào nhằm mục đích phục vụ cho sinh hoạt hằng ngày hay phục vục cho cuộc sống tinh thần, có những biểu hiện hành vi bên trong như nhận thức, xúc cảm, tình cảm, về mặc ý chí”
1.2.3.3 Khái niệm hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook của sinh viên
Hành vi sử dụng MXH Facebook của sinh viên có thể được hiểu là “Hành vi sử dụng MXH Facebook với những mục đích khác nhau nhằm phục vụ các nhu cầu của bản thân sinh viên bằng các hình thức và mức độ truy cập khác nhau Ở một thời lượng và mức độ nhất định nào đó sinh viên sẽ có những biểu hiện hành vi trong nhận thức, hành động và chịu sự tác động đến cuộc sống, học tập, làm việc, giao tiếp và quan hệ xã hội”
1.3 Biểu hiện hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook của sinh viên
1.3.1 Đặc điểm tâm lý của sinh viên
Mỗi giai đoạn phát triển của lứa tuổi khác nhau đều có những đặc điểm tâm lý nổi bật, chịu sự chi phối của hoạt động chủ đạo Sinh viên – những người có hoạt động chủ đạo là học tập để tiếp thu kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo nghề nghiệp ở các trường ĐH, CĐ
Sự phát triển nhận thức, trí tuệ ở sinh viên
Hoạt động nhận thức của sinh viên thực sự là loại hoạt động trí tuệ đích thực, căng thẳng, cường độ cao và có tính lựa chọn rõ rệt Hoạt động trí tuệ này vẫn lấy những sự kiện của các quá trình nhận thức cảm tính làm cơ sở Song các thao tác trí tuệ đã phát triển ở trình độ cao và đặc biệt có ở sự phối hợp nhịp nhàng, tinh tế và uyển chuyển, linh động tùy theo từng hoàn cảnh có vấn đề Nét đặc trưng cho hoạt động học tập của sinh
Trang 20viên là sự căng thẳng nhiều về trí tuệ, sự phối hợp của nhiều thao tác tư duy như phân tích, so sánh, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa Bởi vậy đa số sinh viên lĩnh hội nhanh nhạy, sắc bén những vấn đề mà giáo viên trình bày Họ thường ít thảo mãn với những gì đã biết mà muốn đào sâu, suy nghĩ để nắm vấn đề sâu rộng hơn
Đời sống tình cảm, xúc cảm ở sinh viên
Một số đặc điểm tâm lý nổi bật ở lứa tuổi này là tình cảm ổn định của sinh viên, trong đó phải đề cập đến tình cảm nghệ nghiệp – một động lực giúp họ học tập một cách chăm chỉ, sáng tạo, khi họ thực sự yêu thích và đam mê với nghề lựa chọn Sinh viên là người yêu vẻ đẹp thể hiện ở hành vi, phong thái đạo đức, cũng như vẻ đẹp thẩm mỹ ở các
sự vật hiện tượng của thiên nhiên hoặc con người tạo ra Cá biệt có những sinh viên đã xây dụng được “triết lý” cho cái đẹp của mình theo chiều hướng khá ổn định Bên cạnh tình bạn, tình yêu nam nữ ở tuổi sinh viên là một lĩnh vực rất đặc trưng Tình yêu ở tuổi sinh viên đặt đến hình thái chuẩn mực cùng với nhữ biểu hiện phong phú, đặc sắc của nó Đây là một loại tình cảm đặc biệt và cao cấp của con người, nó chín vào độ tuổi mà sinh viên trải qua Bởi vậy, nhìn chugn tình yêu nam nữ ở độ tuổi sinh viên rất đẹp, lãng mạn, đầy thi vị… trong lĩnh vực này, sinh viên gặp phải những mâu thuẫn nội tại
Một số đặc điểm trong nhân cách của sinh viên
Nổi bật trong sự phát triển nhân cách ở sinh viên chính là sự hoàn thiện tự ý thức và
sự phát triển của định hướng giá trị
Một trong những đặc điểm tâm lý quan trọng nhất ở lứa tuổi thanh niên – sinh viên
là sự phát triển tự ý thức Nhờ khả năng tự đánh giá phát triển àm sinh viên có thể nhìn nhận, xem xét năng lực học tập của mình, kết quả học tập cao hay thấp phụ thuộc vào ý thức, thái độ, vào phương pháp học tập của họ, Nhờ có tự ý thức phát triển, sinh viên có những hiểu biết, thái độ, có khả năng đánh giá bản thân để chủ động điều chỉnh sự phát triển bản thân theo hướng phù hợp với xu thế xã hội Chẳng bạn sinh viên đang học ở các trường, họ nhận thức rõ ràng về những năng lực, phẩm chất của mình, mức độ phù hợp của những đặc điểm đó với yêu cầu của nghề nghiệp, qua đó họ sẽ xác định rõ ràng mục tiêu học tập, rèn luyện và thể hiện bằng hành động học tập hàng ngày trong giờ lên lớp, thực tập nghề hay nghiên cứu khoa học Nhờ khả năng tự đánh giá phát triển mà sinh viên có thể nhìn nhận, xem xét, năng lực học tập của mình, kết quả học tập cao hay thấp phụ thuộc vào ý thức, thái độ, phương pháp học tập của họ
Ở sinh viên đã bước đầu hình thành thế giới quan để nhìn nhận, đánh giá vấn đề cuộc sống, học tập, sinh hoạt hàng ngày Sinh viên là những trí thức tương lai, ở các bạn
Trang 21sớm nảy sinh nhu cầu, khát vọng thành đạt Học tập ở đại học là cơ hội tốt để sinh viện được trải nghiệm bản thân, vì thế, sinh viên rất thích khám phá, tìm tòi cái mới
Định hướng giá trị của sinh viên liên quan mật thiết với xu hướng nhân cách và kế hoạch đường đời của họ Với sinh viên, những ước mơ, hoài bão, những lý tưởng của tuổi thanh xuân dần dần được thực hiện, được điều chỉnh trong quá trình học tập Tính viễn vông, huyễn tưởng của những điều trừu tượng xa vời nhường chỗ cho những kế hoạch đường đời cụ thể do việc học để trở thành người có nghề nghiệp đã được xác định rõ ràng Sinh viên không chỉ đặt ra kế hoạch đường đời của mình mà còn tìm cách để thực thi kế hoạch đó theo những giai đoạn
Mặc dù là những người có trình độ nhất định, sinh viên không tránh khỏi những hạn chế chung của lứa tuổi thanh niên Đó là sự thiếu chín chắn trong những suy nghĩ, hành động, đặc biệt trong việc tiếp thu, học hỏi cái mới Ngày nay, trong xu thế mở cửa, hội nhập quốc tế, trong điều kiện phát triển công nghệ thông tin, nền văn hóa của chúng ta có nhiều điều kiện giao lưu, tiếp xúc với các nền văn hóa trên thế giới Việc học tập, tiếp thu tinh hoa, văn hóa của các nền văn hóa khác là cần thiết Do đặc điểm nhạy cảm, ham thích những điều mới lạ kết hợp với sự bồng bột, thiếu kinh nghiệm của thanh niên, do
đó, sinh viên dễ dàng tiếp nhận cả những hành vi không phù hợp với chuẩn mực xã hội, với truyển thống tốt đẹp của dân tốc và không có lợi cho bản thân họ Hành vi sử dụng MXH Facebook quá mức cũng là một trong những hành vi không phù hợp dễ lôi cuốn sinh viên Tuy nhiên, do đặc điểm nhạy cảm, ham thích những điều mới lạ kết hợp với sự bồng bột, thiếu kinh nghiệm của thanh niên, do đó, sinh viên dễ dàng tiếpnh ận cả những nét văn hóa không phù hợp với chuẩn mực xã hội, truyển thống của dân tộc và không có lợi cho bản thân họ
Sinh viên, những người còn ất trẻ, dễ nảy sinh hứng thú với những hoạt động giải trí, nhằm thỏa mãn nhu cầu thư giãn, phục hồi sức khỏe, giải tỏa tâm lý và ức chế sau những giờ học căng thẳng Hoạt động giải trí có những đặc điểm như sau: rất phong phú
về loại hình, có thể diễn ra trong thời gian ngắn nhưng lại có thể tranh thủ vào bất kỳ lúc nào, trở thành một nhu cầu bức thiết, hiện tượng xã hội phổ biến đối với các thành phố lớn, khu công nghiệp tập trung dân cư Đặc điểm quan trọng của hoạt động vui chơi giải trí hiện đại là tính chất giải trí đối lập nhau, tức là người ta tìm đến môi trường đối lập với họ sống và làm việc
Với tốc độ lan tuyền của MXH Facebook, với những tính năng, làm cho người sử dụng nói chung, sinh viên nói riêng bị lôi cuốn nhanh chóng, được tự do thể hiện bản thân, khẳng định mình, và hơn hết là MXH Facebook có thể đáp ứng được những nhu cầu của sinh viên… Do đó, việc sinh viên nảy sinh tính tò mò, hiếu kì, lao vào hoạt động
Trang 22này để thư giản sau giờ học, có thể chat với bạn bè mà không cần phải gặp m ặt, theo dõi thông tin của một số người nổi tiếng, tìm kiếm công việc làm thêm
Tóm lại, lứa tuổi sinh viên có những nét tâm lý điển hình, đây là thế mạnh của họ so với các lứa tuổi khác như: tự ý thức cao, có tình cảm nghề nghiệp, có năng lực và tình cảm trí tuệ phát triển, có nhu cầu, khát vọng thành đạt, nhiều ước mơ và thích trải nghiệm, dám đối mặt với thử thách Song do hạn chế của kinh nghiệm sống, sinh viên cugn4 có hạn chế trong việc chọn lọc, tiếp thu cái mới, dễ nảy sinh hứng thứ với những hoạt động giải trí và sử dụng một cách quá mức gây ảnh hưởng đến sức khỏe cũng như tinh thần cho các bạn sinh viên Tất cả những yếu tố tâm lý này có tác động chi phối hoạt động học tập, rèn luyện và phấn đấu của sinh viên cũng như một “ yếu điểm” khiến hành
vi sử dugn5 MXH dễ dàng được biểu hiện ở giải đoạn lứa tuổi này
Như vậy, sinh viên là lứa tuổi đạt đến độ phát triển sung mãn của đời người Họ là lớp người giải nghị lực, ước mơ và hoài bão Tuy nhiên, do quy luật phát triển không đồng đều về mặt tâm lý, do những điều kiện, hoàn cảnh sống và cách thức giáo dục khác nhau, không phải bất cứ sinh viên nào cũng được phát triển tối ưu, độ chín muồi trong suy nghĩ và tác động còn rất hạn chế Điều này phụ thuộc rất nhiều vào tính tích cực hoạt động của bản thân mỗi người Bên cạnh đó, sự quan tâm đúng mực của gia đình, phương pháp giáo dục phù hợp từ nhà trường sẽ góp phần phát huy ưu điểm và khắc phục những hạn chế về mặt tâm lý của sinh viên
1.3.2 Biểu hiện hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook của sinh viên
1.3.2.1 Biểu hiện hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook của sinh viên qua nhận thức
Nhận thức là sự hiểu biết một vấn đề, tiếp thu được những kiến thực về sự vật, hiện tượng nào đó, hiểu biết những quy luật, sự kiện trong đời sống Nhận thức là một trong những thành tố quan trọng trong góp phần thêm hoàn thiện đời sống tâm lý con người Nhận thực giúp con người hiểu biết về sự vật hiện tượng, từ đó bày tỏ thái độ tình cảm và hành vi tương ứng
Đối với sinh viên hiện nay, MXH Facebook không còn là một phương tiện truyền thông xa lạ nữa, hầu hết các bạn đều có những hiểu biết nhất định về MXH Facebook và những chức năng của nó Tuy nhiên vẫn còn một số bạn sinh viên vẫn chưa nhận định hết
về tầm quan trọng , mục đích sử dụng, lợi ích cũng như tác hại của việc sử dụng MXH Facebook Khi sinh viên sử dụng MXH Facebook, tự ý thức của sinh viên cũng có những sai lệch biểu hiện ở thái độ, hành vi, cử chỉ có liên quan đến MXH Facebook, xem việc
sử dụng thường xuyên, cập nhật Facebook là hành vi bình thường và hoàn toàn không
Trang 23ảnh hưởng gì đến đời sống cá nhân, mỗi ngày dùng khoảng 4-5 tiếng để cập nhật những tin tức hay trạng thái của bản thân và những người khách chứ không gây hại gì cả Sinh viên cũng có những phản ứng bênh vực hoặc biện hộ cho hành vi sử dụng MXH Facebook như không thể nghiện vì với họ chỉ sử dụng mạng xã hội khi cần thiết phục vụ mục đích của mình Nghiện MXH Facebook xuát phát từ bản thân mỗi người Khi con người vui vẻ hạnh phúc, buồn chán, thất vọng thường có xu hướng sống với cảm xúc, cuộc sống thực không đáp ứng được nhu cầu này nên dùng mạng xã hội để bày tỏ, bộc lộ những cảm xúc ấy dần dần thành thói quen không thể từ bỏ, mỗi khi gặp một trắc trở trong cuộc sống, áp lực về học tập thì truy cập Facebook để đăng tải các cảm xúc ấy lên trang cá nhân của mình…Thực tế hiện nay có rất nhiều người, đặc biệt là các bạn trẻ sử dụng mạng xã hội như một công cụ để xả stress, để soi mói cuộc sống của người khác và thể hiện cái tôi có phần tầm thường và ít va chạm xã hội, hoặc có định kiến với xã hội của mình Sự lan truyền nhanh chóng của Facebook, với việc có thể đưa lên ngay lập tức theo thời gian thực một quan điểm, càng khiến họ trở nên thiếu suy nghĩ, càng bộc lộ sự thiếu chín chắn của mình Do sức lan tỏa của mạng nhanh tới mức chóng mặt, nên rất nhiều người bị cuốn hút vào một sự việc, rồi không ngần ngại đưa ra những bình luận (cả đúng,
cả sai) Thật đáng lo ngại, rất nhiều người mượn Facebook để đưa ra quan điểm cá nhân, cái tối cụ bộ, nói xấu người khác, thậm chí còn lợi dụng diễn đàn này để bôi xấu chế độ, thầy cô giáo cũng là một trong những đối tượng của họ Facebook được các bạn sử dụng
để truyền tải những nội dung và quan điểm lệch lạc, dễ dãi, thiếu trách nhiệm với xã hội
và cộng đồng, nó trở thành một công cụ nguy hiểm khi nằm trong tay của một số đông cùng “sở thích” Tâm lý đám đông, hiếu kỳ cùng với suy nghĩ thiếu chín chắn đã tạo ra những làn sóng ập lên những “nạn nhân” không cùng sở thích, suy nghĩ với họ Thật nguy hại khi số đông đã bám lấy những hình ảnh, những thông tin chưa qua kiểm chứng
để quy chụp, thậm chí bình luận bằng những lời lẽ vô cảm, thiếu văn hóa Điều này có thể được lý giải hành vi này được hình thành theo cơ chế bắt chước lẫn nhau: Đó là sự
mô phỏng, tái tạo, lặp lại các hành động, hành vi, tâm trạng, cách thức suy nghĩ, ứng xử của mọi người hay nhóm người nào đó khi sử dụng MXH Facebook Ví dụ như khi một
cá nhân nào đó thích khoe khang thành tích, địa điểm du lịch, hoạt động xã hội, hay những món ăn mình từng ăn qua…trên MXH Facebook của cá nhân đó để nâng cao giá trị của bản thân và nhận được sự tông trọng của mọi người Những cá nhân khác họ cũng
sẽ có sự ganh đua, ước muốn họ cũng được mọi người chú ý đến và được tôn trọng…nên
sẽ bắt chước lại các hành vi sử dụng MXH Facebook của một số người
Từ nhận thức sai lệch sẽ dẫn đến niềm tin sai lệch, cảm xúc sai lệch rồi dần dần dẫn đến những hành vi sai lệch
Trang 24Tư duy sai lầm khi cho rằng đây chỉ là thế giới ảo, cho nên có thể nói gì, làm gì cũng được mà không phải chịu trách nhiệm trước pháp luật do những lời mình viết lên sau bàn phím, đã tạo ra một sự dễ dãi trong cách hành xử với nhau trên mạng
1.3.2.2 Biểu hiện hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook của sinh viên qua xúc cảm
Đây là thái độ cảm xúc của sinh viên khi sử dụng MXH Facebook Mỗi khi sử dụng MXH Facebook mang lại cho họ nhcảm xúc tích cực, cảm xúc trung tính, cảm xúc tiêu cực
Cảm xúc tích cực: họ cảm thấy thoải mái, sảng khoái, hồi hộp, vui vẻ, tự hào, hãnh diện về bản thân Những cảm xúc tích cực tỉ lệ thuận với hành vi sử dụng MXH Facebook của sinh viên Cảm xúc tích cực tăng thì hành vi sử dụng càng diễn tiến theo mức độ từ thấp đến cao Dần dần MXH Facebook đối với họ đã trở thành thói quen khó
từ bỏ, thành món ăn tinh thần hàng ngày của họ
Cảm xúc trung tính: sinh viên sử dụng MXH Facebook nhưng đối với sinh viên Facebook không mang lại cho họ cảm xúc tích cực cũng như cảm xúc tiêu cực, chỉ dừng lại ở cảm giác mọi thứ diển ra rất bình thường
Cảm xúc tiêu cực: MXH Facebook ngày càng trở thành người bạn thân thiết của giới trẻ nói chung và giới học sinh, sinh viên nói riêng Nó trở thà nh nhu cầu bức thiết như nhu cầu cơm ăn, nước uống hàng ngày của một số người Khi không được sử dụng MXH Facebook họ sẽ có những cảm xúc rất khác nhau như nôn nao, bồn chồn như thiếu thốn điều gì đó, không thể kiềm chế sự mong muốn vòa MXH Facebook Khi vì một lý
do nào đó không được sử dụng họ sẽ cảm thấy thiếu thốn, khó chịu, bứt rứt và luôn mong muốn được vào mạng, sinh viên sẽ cảm thấy chán nản, trống rỗng, ở mức độ nào đó có thể gây ra trầm cảm hay rơi vào trạng thái buồn vu vơ, cứ ra vào Facebook để mong chờ một thông báo, tin nhắn, hụt hẫng khi đăng tải hình mà không ai thích và bình luận Có thể nói Facebook là một trang MXH chi phối cảm xúc của các em SV
Biểu hiện hành vị sử dụng MXH Facebook của sinh viên thông qua cảm xúc theo cơ chế lây lan Về bản chất, lây lan là quá trình chuyển trạng thái cảm xúc từ người này sang người khác, tạo nên trạng thái cảm xúc chung của nhóm đối với một sự vật, hiện tượng nhất định Chính trạng thái cảm xúc này đã điều khiển hành động của nhóm đối với đối tượng Lực lây lan được truyền theo nguyên tắc cộng hưởng, tỷ lệ thuận với số lượng thành viên trong nhóm và cường độ cảm xúc được truyền đạt Trong khi sử dụng MXH Facebook khi một cá nhân đăng tải trạng thái (status) buồn về gia đình Cá nhân đó sinh hoạt trong một nhóm gồm 5 người thì 4 người còn lại sẽ thấy buồn theo Hay một thành
Trang 25viên nào đó đăng tải một tấm hình lên Facebook và nhận được nhiều bình luận vui nhộn, thăm hỏi, khen ngợi từ bạn bè Bản thân người đăng hình sẽ có cảm xúc vui vẻ, hạnh phúc Và cảm xúc này cũng lâylan cho người bình luận và người bình luận dễ dàng bắt chước theo hành vi của người đăng hình
1.3.2.3 Biểu hiện hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook của sinh viên qua hoạt động
Hành vi là kết quả của nhận thức và thái độ xúc cảm – tình cảm, tuy nhiên biểu hiện của hành vi sử dụng MXH Facebook tương ứng và thể hiện thông qua các dạng hoạt động Các hoạt động sinh hoạt hằng ngày như: hoạt động học tập, hoạt động giải trí, hoạt động giao lưu bè bạn, hoạt động tìm kiếm việc làm thêm, hoạt động xây dựng hình ảnh, thể hiện bản thân mình…Ngoài ra biểu hiện hành vi sử dụng MXH Facebook còn thông qua các thói quen, thời gian, thời điểm sử dụng Điển hình như trong hoạt động học tập việc sinh viên có thể không tập trung chú ý nghe giảng lướt Facebook nếu như cảm thấy thầy cô giáo truyền tải nội dung chưa gây hứng thú học tập cho sinh viên, trao đổi với bạn bè, giảng viên về những vấn đề liên quan đến môn học, hay tìm kiếm thông tin mon học từ các nhóm, tổ chức chuyên ngành…Các vấn đề sinh hoạt như ăn uống, vệ sinh cá nhân, giấc ngủ, giờ giấc có sự biến đổi thất thường Các bạn có biểu hiện thiếu tập trung trong việc học, học hành sa sút, không còn quan tâm nhiều đến việc phấn đấu, lựa chọn nghề nghiệp Những công việc của tập thể các bạn cũng không tham gia hoặc có tham gia nhưng tốc độ hoàn thành nhiệm vụ rất chậm Thói quen dễ nhận thấy là sinh viên đanh rất nhiều thời gian để sử dụng Facebook thậm chí cả khi có dấu hiện giảm sút sức khỏe
và học hành, trước khi đi ngủ hay sau khi tỉnh dậy rất nhiều sinh viên có thói quen cầm điện thoại lướt Facebook rồi mới thực hiện các hoạt động khác Hay cứ mỗi khi ăn uống,
du lịch, làm việc, hay bắt cứ thời điểm nào các bạn sinh viên cũng thường hay chụp hình
và đăng tải lên trang cá nhân của mình trước khi thực hiện hành động ngắm cảnhm hay
ăn uống,…Dần dần những việc ấy trở thành thói quen khó bỏ của sinh viên và làm ảnh hưởng đến cuộc sống của họ
Nhận thức sai về việc dành thời gian cho Facebook quá mức nên các bạn thường có thái độ bênh vực, giải thích khi bản thân xuất hiện những hành vi bất thường Các bạn luôn có gắng tìm những lý do tích cực để giải thích cho việc dùng MXH Facebook của bản thân, lên MXH Facebook để cập nhật thông tin của lớp, trao đổi bài vở với các bạn, lên Facebook để giết thời gian thay vì ngồi không chờ đợi, giảm buồn ngủ khi học trong lớp…bên cạnh đó rất dễ dãi trong việc truy cập MXH Facebook mọi lúc, mọi nơi bất cứ khi nào rảnh thì lại dành thời gian cho Facebook Hành động này càng được diễn ra thường xuyên hơn khi cá nhân đó đăng ảnh hay trạng thái cảm xúc lên MXH Facebook
Trang 26Việc trông chờ vào số lượt thích, lượt bình luận từ mọi người khi cá nhân này cảng có những cảm xúc hồi hộp, nôn nao nên cứ mỗi khi rảnh là lại sử dụng MXH Facebook
1.3.2.4 Biểu hiện hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook qua mặt sinh học
- Dấu hiệu trầm cảm
Facebook là trạng mạng xã hội khiến các bạn SV có thể quên đi mọi thứ xung quanh Vì vậy khi không sử dụng trang này, họ sẽ cảm thấy chán nản Sự trống rỗng từ bên trong khiến bạn phiền não Ở mức độ nào đó điều này có thể gây trầm cảm, tất yếu sẽ ảnh hướng tới sức khỏe của họ
- Lo âu
Sử dụng Facebook cả ngày đồng nghĩa với việc bạn không tương tác với thế giới thực Vì vậy, nó có thể khiến bạn sợ hãi khi tiếp xúc với thế giới thực Điều này sẽ gây ra cảm giác lo âu, ảnh hưởng xấu tới sức khỏe Đây là một lý do bạn nên hạn chế sử dụng Facebook
- Giảm hứng thú tình dục
Facebook cũng có thể ảnh hưởng ở mức độ lớn tới sức khỏe tình dục Có nhiều cặp dành nhiều thời gian cho Facebook hơn là nói chuyện với nửa kia, vì vậy có thể làm giảm hứng thú ở một mức nào đó
- Giảm sự tập trung
Khi bị thu hút vào những thông tin mới cập nhật hay những bức hình mới của bạn
bè trên Facebook thì SV ít có quan tâm tới những việc khác xung quanh Sử dụng Facebook liên tục cũng có thể gây giảm mức độ tập trung Thiếu chú ý trong giờ học
- Bệnh khô mắt
Sử dụng Facebook thường xuyển sẽ gây hại cho mắt Không dùng Facebook trên laptop mà sử dụng trên điện thoại di động thì cũng cẫn có thể gây hại cho mắt, khiến cho mắt bị khô
- Mõi tay, đau lưng
Do mỗi khi sử dụng MXH Facebook ở các tư thế khác nhau, có bạn ngồi quá lâu, ngồi các tư thế không đúng vô tình lại làm cho họ có cảm giác đau lưng, hay khi nằm sử dụng thì việc cầm chiếc điện thoại sẽ làm họ mõi tay hơn
- Rối loạn ăn uống
Trang 27Khi dành nhiều thời gian trên mức cần thiết cho mạng xã hội, sức khỏe của họ sẽ bị ảnh hường SV sẽ không ăn uống hợp lý vì mải mê với các hoạt động trên Facebook, khiến họ gảim cân hoặc tăng cân
1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook của sinh
viên
1.3.3.1 Các yếu tố bên trong
Nhu cầu của bản thân cũng ảnh hưởng đến hành vi sử dụng Facebook của sinh viên như: nhu cầu được giao tiếp, nhu cầu tôn trọng và nhu cầu tự khẳng định mình là một trong ba nhu cầu được thể hiện cao nhất khi sử dụng Facebook Xuất phát từ nhận thức của bản thân về Facebook thì bản thân sinh viên sử dụng Facebook như là một công cụ để thỏa mãn như nhu cầu trên
Bản thân sinh viên đã ý thực được cái tôi cá nhân và cái tôi lý tưởng của mình và muốn thể hiện mình đã trưởng thành, mình có những thành công, thành tựu trong cuộc sống, tự do thể hiện quan điểm chính trị cá nhân Cuộc sống, học tập căng thẳng, áp lực nên việc sử dụng Facebook để giải trí, giải tỏa cảm xúc của cá nhân về mọi việc tong cuộc sống, gia đình, bạn bè dần dần hình thành nên thói quen tốt và thói quen không tốt Chính vì thế thói quen sử dụng cũng sẽ ảnh hưởng đến hành vi sử dụng MXH Facebook Đặc biệt là các thói quen về thời gian sử dụng, các thói quen trong khi thực hiện các dạng hoạt động sẽ ảnh hưởng đến hành vi sử dụng Facebook
Những loại hình giải trí như đọc sách, chơi thể thao đã dần được thay thế vào đó là việc sử dụng Facebook Thay vì tham gia các hoạt động giải trí thì một số bạn sinh viên lại dành thời gian rảnh của mình để truy cập những tin tức, thời sự, pháp luật, nghệ thuật, bạn bè … trên Facebook Bên cạnh đó, Facebook có một sự lôi cuốn nhất định đối với sinh viên và mang lại cho họ những cung bậc cảm xúc khác nhau khi sử dụng Chính vì điều này thôi thúc họ truy cập vào Facebook bất cứ lúc nào có cơ hội Và đặc biệt hơn là dành trọn thời gian rảnh của mình để sử dụng Facebook
Ngoài các yếu tố nói trên thì sức khỏe cũng là một trong những yếu tố được sinh viên đánh giá là ảnh hưởng đến hành vi sử dụng Facebook của họ Khi sức khỏe tốt thì thời lượng họ truy cập lâu hơn và ngược lại
1.3.3.2 Các yếu tố bên ngoài
Cùng với sự phát triển nền kinh tế thị trường, xã hội càng phát triển, MXH lần lượt
ra đời Bên cạnh đó đáng kể nhất là sự ra đời và phát triển của Facebook Mạng Facebook
Trang 28không ngừng cải tiến những tính năng mới đáp ứng được nhu cầu sử dụng của người tiêu dùng
Có thể sử dụng Facebook mọi lúc mọi nơi với các phương tiện công nghệ thông tin rất thông minh và có thể cài đặt sẵn ứng dụng Chính vì vậy, việc sử dụng Facebook hết sức dễ dàng dù chỉ với cái điện thoại không quá sang trọng Chúng ta có thể cài đặt ngay với những ứng dụng mới nhất của Facebook Với các tính năng như chụp ảnh đẹp, selfie…giúp người sử dụng Facebook có thể đăng tải dễ dàng những bức ảnh đã được chỉnh sửa rất đẹp, đặc biệt là các bạn sinh viên
Bạn bè, nhóm hay những mối quan hệ xã hội khác cũng là một trong những yếu tố quan trọng góp phần sự gia tăng số lượng người dùng Facebook, đồng thời cũng ảnh hưởng đến hành vi sử dụng Facebook của sinh viên
Thanh niên sinh viên là lứa tuổi chịu nhiều sự tác động của nhóm bạn bè rất cao, từ việc chọn nghề theo học, cho tới việc lựa chọn tình yêu cho bản thân Sinh viên có thể sa vào những hành vi tiêu cực do bạn bè rủ rê Sinh viên có thể được nhiều thông tin về bạn
bè hoặc những mối quan hệ khác bằng cách kết bạn trên Facebook Họ cũng có thể gặp
gỡ và giao lưu kết bạn với tất cả mọi người có cùng sở thích hay quan điểm giống mình
Từ đó có thể xây dụng mối quan hệ tốt đẹp hơn hoặc hợp tác với nahu về nhiều mặt Nhiều bạn sinh viên thường xuyên so sánh bản thân với người khác sẽ ít nhiều ảnh hướng tiêu cực đến tinh thần của họ Làm cho các bạn ngày càng vướng vào căn bệnh ái kỷ Hành vi sử dụng MXH Facebook của sinh viên với sự tác động từ phía bạn bè, các mối quan hệ xã hội được hình thành và hoạt động theo cơ chế bắt bước, lây lan, thỏa hiệp, đồng nhất hóa, hướng dẫn và ám thị
Nghề nghiệp, môi trương làm việc cũng ảnh hưởng đến hành vi sử dụng Facebook Đơn cử như nhóm ngành kinh tế, việc sử dụng Facebook như một kênh thông tin, quảng
bá đủ loại sản phẩm được đăng tải lên MXH
Tóm lại sự kết hợp các yếu tố trên làm cho hành vi sử dụng Facebook của sinh viên ngày càng được thể hiện một cách nghiệm trong hơn trong các hoạt động sinh hoạt hàng ngày của sinh viên gây ảnh hướng đến sức khỏe cũng như tinh cho sinh viên
Trang 29Chương 2 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Khách thể và địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Vài nét về khách thể nghiên cứu
Khi điều tra hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook của sinh viên hiện đang học tại trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng Chúng tôi lựa chọn 60 sinh viên làm khách thể
Ở sinh viên đã bước đầu hình thành thế giới quan để nhìn nhận, đánh giá vấn đề cuộc sống, học tập, sinh hoạt hàng ngày Sinh viên là những trí thức tương lai, ở các bạn sớm nảy sinh nhu cầu, khát vọng thành đạt Định hướng giá trị của sinh viên liên quan mật thiết với xu hướng nhân cách và kế hoạch đường đời của họ Với sinh viên, những ước mơ, hoài bão, những lý tưởng của tuổi thanh xuân dần dần được thực hiện, được điều chỉnh trong quá trình học tập
Mặc dù là những người có trình độ nhất định, sinh viên không tránh khỏi những hạn chế chung của lứa tuổi thanh niên Đó là sự thiếu chín chắn trong những suy nghĩ, hành động, đặc biệt trong việc tiếp thu, học hỏi cái mới Ngày nay, trong xu thế mở cửa, hội nhập quốc tế, trong điều kiện phát triển công nghệ thông tin, nền văn hóa của chúng ta có nhiều điều kiện giao lưu, tiếp xúc với các nền văn hóa trên thế giới
Trang 302.1.2 Vài nét về địa bàn nghiên cứu
Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng được thành lập từ những cơ sở
giáo dục – đào tạo tiền thân sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Đến nay, trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng đã có hơn 40 năm tuổi Trong cuộc hành trình hơn 4 thập kỷ qua, biết bao thế hệ thầy và trò Trường Đại học Sư phạm đã vượt qua bao khó khăn thử thách để vươn lên trong giảng dạy và học tập để đưa nhà trường trở thành một trong những Trường Đại học Sư phạm trọng điểm quốc gia
- Sứ mạng: Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng thực hiện trọng trách đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao và nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ trên các lĩnh vực khoa học giáo dục, khoa học tự nhiên và công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn; phục vụ cộng đồng với cam kết đảm bảo chất lượng giáo dục, hội nhập quốc tế
- Tầm nhìn: Đến năm 2030, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng là cơ sở giáo dục đại học tự chủ hội đủ năng lực đào tạo, nghiên cứu khoa học trên một số lĩnh vực mũi nhọn đạt chuẩn chất lượng quốc tế; được phân tầng và xếp hạng cao, có vị thế uy tín trong khu vực Đông Nam Á và trên thế giới
Sáng tạo: Sáng tạo là đặc tính riêng có của con người, và là yêu cầu cần thiết đối với người làm khoa học Hình thành tư duy sáng tạo, độc lập là cơ sở để tạo ra những phát kiến, phát minh khoa học trong nghiên cứu và giảng dạy của người giáo viên
Thực nghiệp: Thực nghiệp có vai trò quan trọng trong đào tạo, học phải đi đôi với hành, những kiến thức được tiếp nhận từ nhà trường phải vận dụng linh hoạt vào quá trình làm việc sau khi tốt nghiệp
- Giá trị cốt lõi của nhà trường
Chất lượng là nền tảng
Giáo dục con người phát triển toàn diện
Phát triển xã hội học tập, người học là trung tâm
Xây dựng môi trường đào tạo dân chủ, kỷ cương, công khai và thân thiện
Trang 31Học hỏi kinh nghiệm giáo dục đại học và sau đại học trong nước và quốc tế với tinh thần chủ động và sáng tạo
Không ngừng cải tiến, nâng cao chất lượng công tác quản lý, đào tạo và NCKH
Trách nhiệm phục vụ đất nước và cộng đồng
Toàn thể công chức, viên chức là một tập thể đoàn kết, có ý thức giữ gìn, tự hào và phát huy truyền thống tốt đẹp của nhà trường, phấn đấu xây dựng Trường Đại học Sư phạm - ĐHĐN không ngừng phát triển
Phẩm chất, năng lực giảng viên, cán bộ quản lý là nhân tố quyết định chất lượng
2.2 Tổ chức phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Tổ chức nghiên cứu lý luận
Từ ngày 19/11/2018 đến ngày 24/11/2018 tiến hành xây dựng vấn đề nghiên cứu và
cơ sở lí luận, tiến hành nghiên cứu tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu Mục đích nghiên cứu lý luận tâm trung vào việc giải quyết các vấn đề sau:
- Xác định các khái niệm cơ bản: hành vi, mạng xã hội Facebook, sin, hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook của sinh viên
- Tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi sinh viên, các biểu hiện và yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook của sinh viên
2.2.2 Tổ chức nghiên cứu thực trạng
Nghiên cứu thực trạng đước tiến hành từ 25/11/2018 đến 29/11/2018
Đề tài được tiến hành nghiên cứu với các bước thực hiện như sau:
- Giai đoạn chuẩn bị nghiên cứu : Được tiến hành từ 25/11/2018 đến 27/11/2018 thiết kế công cụ nghiên cứu “Phiếu khảo sát hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook của sinh viên”
- Giai đoạn điều tra: Thời gian tiến hành khảo sát: 28/11/2018
- Xử lý số liệu: Sử dụng các công thức toán thống kê để xử lí số liệu
- Hoàn thành luận văn: Viết và hoàn chỉnh luận văn
2.2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.2.3.1 Phương pháp thu thập và phân tích tài liệu
- Mục đích của nghiên cứu tài liệu lý luận, văn bản
Trang 32Xác định hướng nghiên cứu cụ thể của đề tài Tổng quan tình hình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook của sinh viên
Xây dựng các khái niệm cộng cụ, thuật ngữ có liên quan đến đề tài nghiên cứu
Giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu và xây dựng cơ sở lý luận khoa học cho vấn đề được nghiên cứu
- Nội dung của nghiên cứu tài liệu lý luận, văn bản
Từ nghiên cứu, phân tích tổng hợp và đánh giá những công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook của sinh viên để chỉ ra những vấn đề còn tồn tại hoặc chưa được đề cập đến trong các nghiên cứu đó để tiếp tục tiến hành nghiên cứu
Xác định được các khái niệm công cụ và khái niệm liên quan làm cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài
Xác định các nội dung nghiên cứu trong thực tiễn
- Cách tiến hành:
Tìm đọc tài liệu trên internet
Nghiên cứu tài liệu để viết tổng quan và cơ sở lý luận
- Mục đích: Khảo sát thực trạng hành vi sử dụng MXH Facebook của sinh viên Đồng thời tìm hiểu các yếu ảnh hưởng đến hành vi sử dụng MXH Facebook của sinh viên Trên cơ sở đó, để xuất biện pháp nhằm hạn chế mức độ sử dụng MXH Facebook của sinh viên khi dùng ở mức độ cao
- Nội dung: Bảng khảo sát “ Hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook của sinh viên trường Đại học Sư phạm” gồm 15 câu hỏi trong đó có 6 câu hỏi lớn gồm 61 câu hỏi nhỏ để đánh giá các mức độ của nhận thức, hoạt động, cảm xúc, sinh học của hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook và các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook của sinh viên
Câu 1 hỏi về giới tính của sinh viên
Câu 2 hỏi về năm học của sinh viên
Câu 3 là câu hỏi nhằm đánh giá mức độ hiểu biết của sinh viên về MXH Facebook
là gì
Trang 33Câu 4 là câu hỏi về mức độ hiểu biết của sinh viên về Hành vi sử dụng MXH Facebook của sinh viên
Câu 5 để hỏi ý kiến rằng mức độ quan trọng của MXH Facebook đối với mỗi sinh viên
Câu 6 hỏi về mục đích sử dụng MXH Facebook của sinh viên
Câu 7 hỏi về những lợi ích và tác hại đem lại cho sinh viên trong quá trình sử dụng MXH Facebook Câu hỏi này có 13 items, trong đó từ item 1 đến item 7 là lợi ích Facebook mang lại cho sinh viên Item 8 là trung tính, Facebook không mang lại lợi ích cũng không gây hại cho sinh viên Từ item 9 đến item 13 là Facebook gây hại cho sinh
viên Các item này được đánh giá dựa trên mức độ từ “Rất ít” , “Ít” , “Trung bình” ,
“Nhiều” , “Rất nhiều”
Câu 8 mục đích là tìm hiểu về cảm xúc của sinh viên khi sử dụng MXH Facebook Câu 8 có 10 items Trong đó, item 1 đến item 4 là cảm xúc tích cực của sinh viên khi sử dụng MXH Facebook Item 5 là cảm xúc trung tính Item 6 đến item 10 là cảm xúc tiêu cực của sinh viên khi sử dụng MXH Facebook Các item được đánh giá dựa trên 3 mức
độ “Hiếm khi” , “Thỉnh thoảng” , “Thường xuyên”
Câu 9 hỏi về những việc sinh viên thường làm trên MXH Facebook là gì Gồm có
13 items Trong đó item 1,2,3 hỏi về hoạt động học tập của sinh viên trên MXH Facebook Item 4,5,6,7 hỏi về hoạt động vui chơi, giải trí của sinh viên trên MXH Facebook Item 8,9,10 hỏi về hoạt động giao lưu bạn bè của sinh viên trên MXH Facebook Item 11,12 là về hoạt động tìm kiếm việc lam của sinh viên trên MXH Facebook Item 13 là hoạt động xây dựng hình ảnh của sinh viên trên MXH Facebook
Câu 10 tìm hiểu về khoảng thời gian sinh viên bắt đầu sử dụng MXH Faceobook
Câu 11 hỏi về khoảng thời gian sinh viên dành ra để lên MXH Facebook trong vòng một ngày
Câu 12 tìm hiểu về số lượng bạn bè sinh viên kết bạn trên MXH Facebook
Câu 13 tìm hiểu sinh viên sử dụng MXH Facebook trong những hoạt động nào Câu hỏi gồm có 9 items Các items này tương ứng với những hoạt động sinh viên thường làm
hàng ngày Được đánh giá theo 5 mức độ “Không bao giờ” , “Ít khi” , “Thỉnh thoảng” ,
“Thường xuyên” , “Luôn luôn”
Trang 34Câu 14 nhằm tìm hiểu phản ứng của cơ thể khi sinh viên sử dụng MXH Facebook
Câu hỏi có 9 items Đánh giá theo 5 mức độ “ Rất ít” , “Ít” , “Trung bình” , “Nhiều” ,
Bảng 2.2 Quy điểm cho câu hỏi đánh giá mức độ
Theo cách quy điểm, chúng tôi lấy điểm cao nhất (5) trừ đi điểm thấp nhất (1) và chia cho số lượng mức
Điểm chênh lệch của mỗi mức là 0.8 tính theo công thức n = (n-1)/n, trong đó n là
số thứ bậc của thang đo Từ đó, các mức độ của thang đo 1 và 2 được tính như sau: