Tôi cũng xin cảm ơn các cán bộ Quản lý Giáo dục, giáo viên mầm non của các trường mầm non trên địa bàn thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ đã giúp tôi khảo sát, điều tra, đánh giá thực trạng cũ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
CHU THỊ THUẬN
QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN MẦM NON
THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP GIÁO VIÊN MẦM NON
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
CHU THỊ THUẬN
QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN MẦM NON
THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP GIÁO VIÊN MẦM NON
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số:8 14 01 14
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN ANH TUẤN
HÀ NỘI – 2017
Trang 3Tôi gửi lời cảm ơn tới Phòng Giáo dục và Đào tạo thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ và các cơ quan quản lý đã tạo điều kiện về thời gian, kinh phí cho tôi trong toàn bộ quá trình học tập và nghiên cứu tại Trường Đại học Giáo dục Tôi cũng xin cảm ơn các cán bộ Quản lý Giáo dục, giáo viên mầm non của các trường mầm non trên địa bàn thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ đã giúp tôi khảo sát, điều tra, đánh giá thực trạng cũng như khảo nghiệm tính cấp thiết, tính khả thi của các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên mầm non theo chuẩn nghề nghiệp
Tôi xin bày tỏ sự biết ơn tới Tiến sĩ Nguyễn Anh Tuấn, cán bộ hướng dẫn luận văn, đã trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn và hỗ trợ tôi trong suốt quá trình triển khai nghiên cứu đề tài và hoàn thiện đề tài đúng tiến độ, đảm bảo yêu cầu của một công trình nghiên cứu khoa học
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn đến các đồng nghiệp tại Trường Mầm non Trường Thịnh, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ và các thành viên gia đình đã kịp thời động viên, giúp đỡ, hỗ trợ tôi hoàn thành luận văn và toàn bộ quá trình học tập tại Trường Đại học Giáo dục
Tác giả luận văn
Chu Thị Thuận
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
GD&ĐT: Giáo dục và Đào tạo GDMN: Giáo dục mầm non GDQD: Giáo dục quốc dân GVMN: Giáo viên mầm non HĐBD: Hoạt động bồi dưỡng QLHĐBD: Quản lý hoạt động bồi dưỡng QLGD: Quản lý giáo dục
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn i
Danh mục các chữ viết tắt ii
Danh mục các bảng vii
Danh mục biểu đồ viii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN MẦM NON THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Những nghiên cứu nước ngoài 6
1.1.2 Những nghiên cứu trong nước 7
1.2 Các khái niệm cơ bản 14
1.2.1 Quản lý và quản lý giáo dục 14
1.2.2 Bồi dưỡng 16
1.2.3 Chuẩn nghề nghiệp 16
1.3 Chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non 17
1.3.1 Vai trò, vị trí của trường mầm non và giáo dục mầm non trong hệ thống Giáo dục Quốc dân 17
1.3.2 Mục tiêu của Giáo dục Mầm non 18
1.3.3 Nội dung và phương pháp dạy học mầm non 19
1.3.4 Đặc điểm, vai trò của giáo viên mầm non 19
1.4 Quản lý bồi dưỡng giáo viên mầm non theo chuẩn nghề nghiệp 20
1.4.1 Vai trò của quản lý bồi dưỡng giáo viên mầm non theo chuẩn nghề nghiệp 20
1.4.2 Nội dung quản lý hoạt động bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên mầm non theo chuẩn nghề nghiệp 21
1.4.3 Hình thức bồi dưỡng đội ngũ giáo viên mầm non theo chuẩn nghề nghiệp nghề nghiệp 24
1.5 Những quy định của Nhà nước về hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên mầm non theo chuẩn nghề nghiệp 27
Trang 61.6 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động bồi dưỡngcho
đội ngũ giáo viên mầm non theo chuẩn nghề nghiệp 29
1.6.1 Những yếu tố chủ quan 29
1.6.2 Những yếu tố khách quan 32
Tiểu kết chương 1 34
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN MẦM NON THỊ XÃ PHÚ THỌ THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP 35
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội của thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ 35
2.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội của thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ 35
2.1.2 Khái quát về tình hình giáo dục mầm non của thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ 36
2.2 Tổ chức nghiên cứu thực trạng 37
2.2.1 Mục tiêu khảo sát 37
2.2.2 Đối tượng khảo sát 37
2.2.3 Nội dung 37
2.2.4 Phương pháp và cách thức khảo sát 38
2.2.5 Thời gian, địa điểm tiến hành khảo sát 38
2.3 Thực trạng đội ngũ giáo viên mầm non thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ 39
2.3.1 Thực trạng số lượng và trình độ đội ngũ giáo viên mầm non thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ 39
2.3.2 Thực trạng độ tuổi giáo viên mầm non thị xã Phú Thọ 40
2.3.3 Thực trạng về kết quả đánh giá giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non 41
2.3.4 Thực trạng quy mô giáo dục mầm non 42
2.4 Thực trạng hoạt động bồi dưỡng đội ngũ giáo viên mầm non tại thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ theo chuẩn nghề nghiệp 44
2.4.1 Thực trạng nội dung hoạt động bồi dưỡng đội ngũ giáo viên mầm non tại thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ theo chuẩn nghề nghiệp 44
Trang 72.4.2 Thực trạng chất lượng và hiệu quả hoạt động bồi dưỡng cho
đội ngũ giáo viên mầm non theo chuẩn nghề nghiệp tại thị xã Phú
Thọ, tỉnh Phú Thọ 53
2.5 Thực trạng quản lý bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên mầm non theo
chuẩn nghề nghiệp tại thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ 55
2.5.1 Thực trang công tác lập kế hoạch bồi dưỡng cho giáo viên
mầm non theo chuẩn nghề nghiệp 55
2.5.2 Thực trạng công tác tổ chức hoạt động bồi dưỡng cho GVMN
theo chuẩn nghề nghiệp GVMN 56
2.5.3 Thực trạng chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng cho giáo viên mầm
non theo chuẩn nghề nghiệp 57
2.5.4 Thực trang công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng
cho đội ngũ giáo viên mầm non theo chuẩn nghề nghiệp 58
2.5.5 Thực trạng quản lý các nguồn lực đáp ứng các yêu cầu cho hoạt
động bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên mầm non theo chuẩn nghề nghiệp 59
2.5.6 Đánh giá chung về công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng cho đội
ngũ giáo viên mầm non theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non 60
2.6 Đánh giá chung về thực trạng quản lý bồi dưỡng đội ngũ giáo
viên mầm non theo chuẩn nghề nghiệp trên địa bàn thị xã Phú Thọ,
tỉnh Phú Thọ 61
Tiểu kết chương 2 62
CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ
GIÁO VIÊN MẦM NON THỊ XÃ PHÚ THỌ THEO CHUẨN
NGHỀ NGHIỆP 65
3.1 Căn cứ đề xuất các biện pháp quản lý bồi dưỡng đội ngũ giáo
viên mầm non theo chuẩn nghề nghiệp Error! Bookmark not defined
3.1.1 Cơ sở lý luận của khoa học quản lý giáo dục và các khoa học khácError! Bookmark not defined
3.1.2 Thực tiễn hoạt động bồi dưỡng và quản lý hoạt động bồi
dưỡng đội ngũ giáo viên mầm non theo chuẩn nghề nghiệp tại thị xã
Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ Error! Bookmark not defined
3.2 Nguyên tắc xây dựng các biện pháp 65
Trang 83.2.1 Đảm bảo tính mục đích 65
3.2.2 Đảm bảo tính kế thừa 65
3.2.3 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 66
3.2.4 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ và hệ thống 66
3.2.5 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 67
3.3 Các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng đội ngũ giáo viên mầm non theo chuẩn nghề nghiệp 67
3.3.1 Nâng cao nhận thức về hoạt động bồi dưỡng theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non 67
3.3.2 Cải tiến việc lập kế hoạch hoạt động bồi dưỡng 70
3.3.3 Bổ sung, lựa chọn những nội dung và biện pháp bồi dưỡng mới cho đội ngũ giáo viên mầm non nhằm tăng hiệu quả hoạt động bồi dưỡng và quản lý hoạt động bồi dưỡng 72
3.3.4 Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá các hoạt động bồi dưỡng 75
3.3.5 Tổ chức cho giáo viên mầm non triển khai tự bồi dưỡng hiệu quả 77
3.3.6 Xã hội hóa các nguồn lực, điều kiện đáp ứng cho hoạt động bồi dưỡng đội ngũ giáo viên mầm non 79
3.4 Mối quan hệ giữa các biện pháp 81
3.5 Khảo nghiệm mức độ cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 82
Tiểu kết chương 3 84
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PHỤ LỤC 93
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Bảng thống kê số lượng và trình độ đội ngũ GVMN tại thị
xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ 39 Bảng 2.2 Bảng phân tích độ tuổi GVMN tại thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ 40 Bảng 2.3 Bảng phân tích số liệu kết quả đánh giá giáo viên nghiệp tại
thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ 41 Bảng 2.4 Bảng thống kê các trường, lớp mầm non tại thị xã Phú Thọ,
tỉnh Phú Thọ 43 Bảng 2.5 Kết quả đánh giá thực trạng bồi dưỡng lĩnh vực phẩm chất
chính trị, đạo đức, lối sống cho GVMN 44 Bảng 2.6 Kết quả đánh giá thực trạng bồi dưỡng lĩnh vực kiến thức
cho đội ngũ giáo viên mầm non 47 Bảng 2.7 Kết quả đánh giá thực trạng bồi dưỡng lĩnh vực kỹ năng sư
phạm cho đội ngũ GVMN 50 Bảng 2.8 Bảng tổng hợp đánh giá chung về các lĩnh vực bồi dưỡng
cho đội ngũ GVMN 52 Bảng 2.9 Bảng kết quả thực trạng chất lượng và hiệu quả HĐBD cho
đội ngũ GVMN theo chuẩn nghề nghiệp tại thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ 54 Bảng 2.10 Bảng kết quả thực trạng công tác lập kế hoạch tổ chức bồi
dưỡng cho GVMN theo chuẩn nghề nghiệp 55 Bảng 2.11 Bảng kết quả thực trạng công tác tổ chức HĐBD cho
GVMN theo chuẩn nghề nghiệp GVMN 57 Bảng 2.12 Bảng kết quả thực trạng chỉ đạo HĐBD cho GVMN theo
chuẩn nghề nghiệp 57 Bảng 2.13 Bảng kết quả thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá HĐBD
cho đội ngũ GVMN theo chuẩn nghề nghiệp 58 Bảng 2.14 Bảng kết quả thực trạng quản lý các nguồn lực đáp ứng các yêu
cầu cho HĐBD cho đội ngũ GVMN theo chuẩn nghề nghiệp 59 Bảng 2.15 Bảng kết quả đánh giá chung về công tác quản lý HĐBD
cho đội ngũ GVMN theo chuẩn nghề nghiệp GVMN 60
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Số lượng đội ngũ giáo viên mầm non tại thị xã Phú Thọ,
tỉnh Phú Thọ 39 Biểu đồ 2.2 Biểu đồ tỉ lệ độ tuổi GVMN tại thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ 41 Biểu đồ 2.3 Biểu đồ đánh giá phân loại GVMN tại thị xã Phú Thọ, tỉnh
Phú Thọ 42 Biểu đồ 2.4 Biểu đồ phát triển quy mô trường mầm non tại thị xã Phú
Thọ, tỉnh Phú Thọ 43
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đội ngũ giáo viên là một trong những nhân tố then chốt, quyết định đến chất lượng và hiệu quả của sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) Họ là những người trực tiếp tổ chức, thực hiện mục đích, nội dung, phương pháp giáo dục của từng cấp học Đối với bậc học giáo dục mầm non (GDMN), họ
là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, dạy học và giáo dục trẻ; giữ mối liên
hệ thường xuyên với phụ huynh học sinh và các tổ chức, đơn vị trong quá trình giáo dục học sinh Do đó, công tác phát triển đội ngũ giáo viên là nhiệm
vụ quan trọng, có tính chất thường xuyên, liên tục của các cấp chính quyền, các cơ quan quản lý Nhà nước về lĩnh vực GD&ĐT của Hiệu trưởng và bản thân của mỗi giáo viên trong các Nhà trường
Giáo dục Mầm non là bậc học đầu tiên và có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong hệ thống Giáo dục Quốc dân; làm tiền đề cho việc xây dựng và phát triển các bậc học cao hơn, đặc biệt là tiểu học Nhũng năm gần đây, bậc học GDMN đã được đầu tư, quan tâm nhiều hơn, toàn diện hơn Song, do một số nguyên nhân chủ quan và khách quan, sự đầu tư cho bậc học này vẫn còn những bất cập, đặc biệt là công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng (QLHĐBD) đội ngũ giáo viên mầm non (GVMN) theo chuẩn nghề nghiệp Một số nơi thiếu GVMN, mất cân đối về cơ cấu và chưa đảm bảo chất lượng theo chuẩn nghề nghiệp đã được quy định Tức là, nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực cho bậc học này chưa thực sự đạt hiệu quả như mong đợi
Trong những năm qua, đội ngũ GVMN của thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ được tăng cường về số lượng, nâng cao về chất lượng, dần dần cân đối về
cơ cấu; hoạt động bồi dưỡng (HĐBD) đội ngũ GVMN theo chuẩn nghề nghiệp đã được quan tâm; chú trọng đầu tư kinh phí; nâng cao chất lượng và hiệu quả; từng bước giúp đội ngũ này đáp ứng được yêu cầu chuẩn nghề nghiệp Tại một số trường điểm, nhiều GVMN đã vượt chuẩn Song, do việc
mở rộng về địa giới hành chính, tăng lên về số lượng nhân khẩu, sáp nhập
Trang 12một số xã, phường của các huyện lân cận, đội ngũ GVMN của thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ đã có những thay đổi khá lớn; làm cho công tác quản lý nói chung, việc bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ này còn một số tồn tại và hạn chế; gây ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng chăm sóc và giáo dục của bậc học GDMN
Bên cạnh đó, với yêu cầu ngày càng cao của cha mẹ trẻ em, của xã hội
về chất lượng chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non, cùng với xu thế hội nhập ngày càng sâu, rộng với thế giới và khu vực, chuẩn nghề nghiệp đối với GVMN của Việt Nam sẽ ngày càng được điều chỉnh theo hướng nâng cao và hoàn thiện Trong khi đó, sự phát triển các chức năng tâm sinh lý của trẻ mầm non với một gia tốc ngày càng lớn do điều kiện chăm sóc, dinh dưỡng và giáo dục ngày càng được cải thiện so với các thế hệ đi trước Bối cảnh nêu trên đặt
ra một yêu cầu bức thiết là bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ GVMN theo chuẩn nghề nghiệp với xu hướng ngày càng nâng cao
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cũng nhận thấy: Chưa có đề tài, công trình nào tập trung nghiên cứu một cách toàn diện, khách quan và sâu sắc về vấn đề này trên địa bàn thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ
Xuất phát từ những lý do nêu trên, tôi lựa chọn đề tài “Quản lý bồi
dưỡng đội ngũ giáo viên mầm non thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng quản lý bồi dưỡng
chuyên môn cho đội ngũ GVMN theo chuẩn nghề nghiệp trên địa bàn thị xã
Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ, đề tài sẽ nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp
QLHĐBD đội ngũ GVMN theo chuẩn nghề nghiệp GVMN
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài có 3 nhiệm vụ sau đây:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về giáo viên mầm non và công tác quản lý bồi dưỡng đội ngũ giáo viên mầm non theo chuẩn nghề nghiệp giáo
- Điều tra khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý bồi dưỡng đội ngũ giáo viên mầm non thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ theo chuẩn nghề nghiệp
Trang 13- Đề xuất một số biện pháp quản lý bồi dưỡng đội ngũ giáo viên mầm non thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ theo chuẩn nghề nghiệp
4 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: Hoạt động QLHĐBD đội ngũ GVMN chuẩn nghề nghiệp
Đối tượng nghiên cứu: QLHĐBD đội ngũ GVMN, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ theo chuẩn nghề nghiệp
5 Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài trả lời các câu hỏi sau:
- Thực trạng hoạt động bồi dưỡng GVMN tại thị xã Phú Thọ trong những năm qua như thế nào?
- Cần phải áp dụng những biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng nào
để góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ đáp ứng chuẩn nghề nghiệp?
6 Giả thuyết nghiên cứu
Nếu hệ thống hóa cơ sở lí luận đánh giá đúng thực trạng quản lý bồi dưỡng giáo viên các trường mầm non, lựa chọn, đề xuất theo chuẩn nghề nghiệp thì sẽ xây dựng về số lượng, cân đối về cơ cấu và đảm bảo về chất lượng; góp phần nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục của
- Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung sau: Công tác tuyển dụng,
bổ nhiệm, miễn nhiệm, phân công và sử dụng đội ngũ GVMN trên địa bàn thị
xã Phú Thọ
Trang 14- Đề tài được triển khai nghiên cứu trên cơ sở phân tích các số liệu, dữ liệu từ năm 2015 đến nay
7.2 Đối tượng khảo sát
- Cán bộ quản lý và chuyên viên phòng GD&ĐT thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ
- Cán bộ quản lý, giáo viên của 10 trường mầm non trên địa bàn thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ
8 Phương pháp nghiên cứu
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích, tổng hợp, so sánh, mô hình hóa… Nhóm các phương pháp này được sử dụng để tổng hợp các kết quả nghiên cứu và xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Điều tra, phỏng vấn, lấy ý kiến chuyên gia Nhóm các phương pháp này nhằm điều tra, khảo sát và đánh giá thực trạng QLHĐBD cho đội ngũ GVMN theo chuẩn nghề nghiệp trên địa bàn thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ
- Toán xác xuất thống kê Phương pháp này nhằm đánh giá thực trạng
và khảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi của các giải pháp do đề tài đề xuất
9 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
9.1 Ý nghĩa lý luận
Đề tài góp phần tổng kết, hoàn thiện về lý luận QLHĐBD đội ngũ GVMN hiện nay nói chung và ở các trường thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ nói riêng theo chuẩn nghề nghiệp GVMN; chỉ ra những thành công và mặt hạn chế, cung cấp cơ sở khoa học để đề xuất một số biện pháp QLHĐBD đội ngũ GVMN theo chuẩn nghề nghiệp một cách hiệu quả
9.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng vào thực tiễn cho công tác phát triển đội ngũ GVMN ở các trường mầm non tại thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ Với các biện pháp do tác giả đề xuất sẽ góp phần giải quyết thực trạng khó khăn và nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác QLHĐBD đội ngũ GVMN trên địa bàn thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ
Trang 1510 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo; luận văn được cấu trúc ba chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý bồi dưỡng đội ngũ giáo viên mầm
non theo chuẩn nghề nghiệp
Chương 2: Thực trạng quản lý bồi dưỡng đội ngũ giáo viên mầm non
thị xã Phú Thọ theo chuẩn nghề nghiệp
Chương 3: Biện pháp quản lý bồi dưỡng đội ngũ giáo viên mầm non thị
xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ theo chuẩn nghề nghiệp
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN MẦM NON THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Những nghiên cứu nước ngoài
Vấn đề QLHĐBD đội ngũ GVMN theo chuẩn nghề nghiệp nhận được
sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả, tổ chức khoa học, văn hóa, giáo dục của nước ngoài
Năm 2007, tổ chức UNESCO đã xuất bản cuốn “Nền tảng vững chắc chăm sóc và giáo dục mầm non” Trong cuốn này, trình độ được đào tạo của giáo viên mầm non được phân tích, so sánh và đối chiếu giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ với nhau Các tác giả cuốn sách cho biết: “Trình độ chuyên môn cho giáo viên trước tuổi học khác nhau ở nhiều nước Các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế thường yêu cầu trình độ đại học và trình
- Ở Bỉ, Đan Mạch, Đức, Hi Lạp: GVMN phải hoàn thành ít nhất giáo dục 3 năm sau Trung học phổ thông thì mới được cấp phép hành nghề
- Ở Tây Ban Nha: Bộ Nội vụ của Tây Ban Nha yêu cầu đối với GVMN
- Ở Nhật Bản: Việc đào tạo GVMN do các trường đại học đảm nhiệm
Trang 17và mỗi trường được tự chủ xây dựng chương trình đào tạo giáo viên mầm non của riêng mình Nhật Bản có các hệ: Đại học 4 năm và sau đại học Nhật Bản yêu cầu GVMN phải trải qua kỳ thi nghiệp vụ sư phạm trước khi làm công tác giảng dạy
- Ở Thái Lan: Chính phủ thực hiện cải cách chính sách phát triển đội ngũ GVMN đã trực tiếp nâng cao chất lượng và hiệu quả của bậc học GVMN Điều đặc biệt của Thái Lan là sự kết hợp hài hòa của Phật giáo và văn hóa truyền thống với các cấp học, đặc biệt là GDMN như các tác giả Ramkhamheang, NekMexoclo
Như vậy, vấn đề đào tạo và bồi dưỡng với GVMN đã được Chính phủ và ngành GD&ĐT của các nước rất quan tâm chỉ đạo và xây dựng theo hướng chuẩn hóa và ngày càng nâng cao về yêu cầu đối với GVMN, tăng thời gian đào tạo và bồi dưỡng; chú trọng đến các kỹ năng sư phạm của đội ngũ GVMN Đồng thời, vấn đề bồi dưỡng GVMN và QLHĐBD GVMN cũng thu hút được sự tham gia nghiên cứu của nhiều học giả, nhà khoa học, nhà quản lý và các đơn vị, tổ
chức trong việc nghiên cứu các vấn đề của bậc học giáo dục mầm non
1.1.2 Những nghiên cứu trong nước
Giống như nước ngoài, vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên nói chung, QLHĐBD đội ngũ GVMN nói riêng nhận được sự quan tâm rất lớn của các
cơ quan quản lý Nhà nước về GD&ĐT, học giả, trường phái và các tổ chức,
cá nhân quan tâm đến lĩnh vực GDMN
Một trong những tác giả nghiên cứu sâu sắc và toàn diện nhất về GVMN là Nguyễn Thị Bạch Mai Luận án Tiến sĩ của tác giả này có tên:
“Phát triển đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu phổ cập GDMN cho trẻ 5 tuổi các tỉnh Tây Nguyên”[25] Có thể nói: Đây là một nghiên cứu có ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn rất lớn đối với khu vực và các tỉnh Tây Nguyên - một khu vực rất đặc thù về kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng và giáo dục Đặc biệt, hệ thống các biện pháp do tác giả nghiên cứu và đề xuất có tính cấp thiết và khả thi rất lớn, đó là:
- Biện pháp 1: Đổi mới quy hoạch và chỉ đạo thực hiện hiệu quả quy hoạch phát triển đội ngũ GVMN;
Trang 18- Biện pháp 2: Đổi mới công tác tuyển chọn, sử dụng đội ngũ GVMN;
- Biện pháp 3: Quản lý đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ GVMN theo chuẩn đáp ứng yêu cầu phổ cập GDMN cho trẻ em 5 tuổi phù hợp với điều kiện cụ thể ở Tây Nguyên;
- Biện pháp 4: Tổ chức bồi dưỡng tiếng dân tộc cho GVMN tại vùng dân tộc thiểu số;
- Biện pháp 5: Xây dựng và hoàn thiện chính sách đãi ngộ đối với GVMN, đặc biệt với GVMN tại vùng dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn;
- Biện pháp 6: Thực hiện đánh giá đội ngũ GVMN theo chuẩn nghề nghiệp GVMN phù hợp các tỉnh Tây Nguyên
Như vậy, đối với các tỉnh Tây Nguyên có số lượng người dân tộc thiểu
số khá lớn; nhiều huyện, xã thuộc diện đặc biệt khó khăn và tỉ lệ người nghèo cao nhất cả nước thì công trình của tác giả Nguyễn Thị Bạch Mai là sản phẩm khoa học rất hữu ích và giàu tính thực tiễn
Về mặt lý luận, tác giả Nguyễn Thị Bạch Mai đã sử dụng lý thuyết về phát triển nguồn nhân lực, một vấn đề khoa học khá mới mẻ và hiệu quả vào thực tế lĩnh vực phát triển đội ngũ GVMN một cách nhuần nhuyễn và có độ tin cậy lớn Phần cơ sở lý luận của luận án này được xem là một trong những tài liệu khoa học tham khảo quan trọng cho nhiều đề tài khác
Tác giả Lưu Thị Kim Phượng quan tâm nghiên cứu vấn đề nâng cao năng lực sư phạm cho đội ngũ GVMN Theo tác giả này, năng lực sư phạm là nhân tố cốt lõi của chuẩn nghề nghiệp và phải được rèn luyện thường xuyên, liên tục và ngay từ khi học tập và nghiên cứu tại các trường đại học sư phạm Trong luận văn thạc sỹ có tên: “Biện pháp quản lý của Hiệu trưởng nhằm nâng cao năng lực sư phạm cho GVMN thành phố Thái Nguyên” [29] Tác giả này đã đề xuất 5 giải pháp sau khi điều tra, khảo sát công tác phát triển, đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ GVMN của thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Đó là:
- Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên về nâng cao năng lực sư phạm cho giáo viên mầm non;
Trang 19- Biện pháp 2: Tăng cường công tác bồi dưỡng cho giáo viên;
- Biện pháp 3: Tăng cường quản lý xây dựng và thực hiện kế hoạch chăm sóc giáo dục trẻ của đội ngũ giáo viên;
- Biện pháp 4: Đẩy mạnh công tác kiểm tra, đánh giá giáo viên;
- Biện pháp 5: Tạo môi trường thuận lợi và tạo động lực thúc đẩy giáo viên phát huy năng lực sư phạm của mình
Qua khảo nghiệm, tác giả xác định được 5 biện pháp nêu trên thực sự cấp thiết và khả thi nếu được áp dụng tại địa bàn thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Đây là 5 biện pháp rất có giá trị thực tiễn và sẽ được tiếp thu, tham khảo cho việc đề xuất các biện pháp của đề tài luận văn
Trong luận văn thạc sỹ có tên “Quản lý hoạt động bồi dưỡng đội ngũ giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp ở Trường Trung học Cơ sở Nguyễn Huy Tưởng, Đông Anh, Hà Nội” [16], tác giả Nguyễn Thị Thu Hà đã xây dựng cơ
sở lý luận cho việc bồi dưỡng đội ngũ giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp một cách rất khoa học, bài bản và theo 1 quy trình dễ hiểu, dễ thực hiện Đây chính là 1 trong những giá trị khoa học của luận văn này Đồng thời, tác giả
đã đề xuất được 6 biện pháp rất cấp thiết và khả thi trong điều kiện kinh tế, xã hội của huyện Đông Anh, Hà Nội Đó là:
- Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho đội ngũ giáo viên về vai trò của hoạt động bồi dưỡng theo chuẩn nghề nghiệp;
- Biện pháp 2: Quán triệt các yêu cầu các tiêu chuẩn, tiêu chí và cách đánh giá theo chuẩn cho giáo viên nhà trường;
- Biện pháp 3: Đa dạng hóa hình thức tổ chức bồi dưỡng giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp;
- Biện pháp 4: Xây dựng nội dung bồi dưỡng đáp ứng chuẩn nghề nghiệp và phù hợp với nhu cầu bồi dưỡng của giáo viên;
- Biện pháp 5: Tăng cường kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng thông qua việc kiểm tra, đánh giá giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp;
- Biện pháp 6: Đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục, huy động nguồn lực xã hội nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục và phục vụ công tác bồi dưỡng giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp
Trang 20Mặc dù các biện pháp này được đề xuất, thiết kế cho hoạt động bồi dưỡng đội ngũ giáo viên trung học cơ sở nhưng cách thức tổ chức thực hiện, quy trình để xây dựng và thực hiện các biện pháp được thể hiện rất khoa học, bài bản và được thừa nhận một cách tích cực
Tương tự như công trình nêu trên của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà, luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thị Mai Hương cũng đề cập nghiên cứu vấn đề quản lý HĐBD chuyên môn cho giáo viên Trung học Cơ sở Tuy nhiên, sự khác biệt ở địa điểm và phạm vi nghiên cứu của 2 công trình chính là 1 trong những yếu tố tạo nên sự khác nhau về các biện pháp được đề xuất Trong luận văn thạc
sỹ có tên “Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên Trung học cơ
sở quận Hải An thành phố Hải Phòng” [19], tác giả Nguyễn Thị Mai Hương đưa
ra 5 biện pháp trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá thực trạng QLHĐBD chuyên
môn cho giáo viên trung học cơ sở trên địa bàn Hải Phòng Đó là:
Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho đội ngũ giáo viên về vai trò của HĐBD theo Chuẩn nghề nghiệp;
Biện pháp 2: Quán triệt các yêu cầu các tiêu chuẩn, tiêu chí và cách đánh giá theo chuẩn cho giáo viên nhà trường;
Biện pháp 3: Đa dạng hóa hình thức tổ chức bồi dưỡng giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp;
Biện pháp 4: Xây dựng nội dung bồi dưỡng đáp ứng chuẩn nghề nghiệp
và phù hợp với nhu cầu bồi dưỡng của giáo viên;
Biện pháp 5: Tăng cường kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng thông qua việc kiểm tra, đánh giá giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp;
Biện pháp 6: Đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục, huy động nguồn lực xã hội nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục và phục vụ công tác bồi dưỡng giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp
Điều rất dễ dàng để nhận biết là: 2 tác giả nêu trên đề xuất các biện pháp để nâng cao hiệu quả QLHĐBD chuyên môn cho GVMN đều hướng đến chuẩn nghề nghiệp và dựa trên 4 chức năng cơ bản của công tác quản lý
Đó là: Kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá
Trang 21Cũng trên địa bàn nghiên cứu là thành phố Hải Phòng, nhưng tác giả Phạm Sỹ Tuyên lại nhắm đến mục đích là: Đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục Chính vì vậy, từ cơ sở lý luận cho đến việc điều tra, khảo sát và đánh giá thực trạng của luận văn thạc sỹ: “Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên Trung học cơ sở quận Hải An, thành phố Hải Phòng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục” [45] cũng cho thấy sự khác biệt so với 2 công trình nghiên cứu trên địa bàn Thái Nguyên và Hải Phòng của 2 tác giả Nguyễn Thị Thu Hà và Nguyễn Thị Mai Hương Trong luận văn thạc sỹ của
mình, tác giả Phạm Sỹ Tuyên đã đề xuất 05 biện pháp, đó là:
- Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên
về HĐBD chuyên môn cho giáo viên trung học cơ sở đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục;
- Biện pháp 2: Điều tra, xây dựng kế hoạch về HĐBD chuyên môn cho giáo viên Trung học cơ sở quận Hải An đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục;
- Biện pháp 3: Quản lý nội dung bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên trung học cơ sở đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục;
- Biện pháp 4: Quản lý phương thức bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên trung học cơ sở đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục;
- Biện pháp 5: Xây dựng và thực hiện tốt các chế độ, chính sách về bồi dưỡng giáo viên
Các kết quả khảo nghiệm cho thấy: 5 biện pháp tác giả đề xuất thực sự cấp thiết và khả thi nếu được áp dụng và thực tiễn QLHĐBD chuyên môn cho giáo viên trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Hải Phòng Đây cũng là thành công lớn của tác giả Phạm Sỹ Tuyên
Một tác giả có nhiều công trình nghiên cứu về GDMN nói chung và phát triển đội ngũ GVMN nói riêng là Ngô Công Hoàn Theo tác giả này, công tác GDMN hiện nay còn một số hạn chế: “Thực tế hiện nay, các trường mầm non mới chỉ thu hút được số ít trẻ từ 24 tháng đến 36 tháng tuổi, còn chủ yếu là trẻ từ 3 đến 6 tháng tuổi, trong đó phổ cập bắt buộc là trẻ từ 5 đến 6 tuổi”[18] Đây cũng là hạn chế chung của ngành học GDMN trên phạm vi cả nước Rõ ràng, nếu tất cả trẻ em từ 24 đến 36 tháng tuổi được đến trường thì
Trang 22đội ngũ GVMN sẽ thiếu trầm trọng
Tác giả Nguyễn Công Hoàn đã tập trung nghiên cứu rất sâu sắc về chuẩn nghề nghiệp GVMN Ông cho rằng: “Mô hình nhân cách cô giáo mầm non đã được xây dựng, thiết kế khá đầy đủ, chi tiết toàn diện các mặt, mang tính chất lí luận và thực tiễn cao được thể hiện trong Quyết định số 02/2008/QĐ-BGDĐT ngày 22 tháng 01 năm 2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo Ban hành Quy định về chuẩn nghề nghiệp GNMN phù hợp với thời kì hội nhập quốc tế Tuy nhiên, nội dung chương trình và kế hoạch đào tạo cô giáo mầm non ở các bậc đại học, cao đẳng còn chưa kịp xây dựng, biên soạn tài liệu bổ sung chỉnh sửa các môn học theo định hướng Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiến kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”[4] Theo tác giả, chuẩn nghề nghiệp GDMN và mô hình nhân cách của GVMN sẽ phải có những thay đổi theo hướng nâng cao các tiêu chí do nhiều yếu tố khác nhau, đó là:
- Xu thế hội nhập quốc tế;
- Sự phát triển mạnh mẽ về thể chất của trẻ em;
- Sự phát triển của các đặc trưng xã hội;
- Sự phát triển tâm lý và nhân cách của trẻ
Trên cơ sở phân tích và đánh giá thực trạng GVMN hiện nay, tác giả Ngô Công Hoàn đề xuất 3 giải pháp để đào tạo GVMN tại các trường sư phạm hiện nay và trong xu thế hội nhập, bao gồm:
Một là, bổ sung thêm một số môn học mới vào chương trình đào tạo
GVMN, gồm: Phát triển trẻ em, phương pháp phát triển tình cảm - xã hội và tâm lý học khác biệt
Hai là, bổ sung theo hướng tích hợp vào các môn học có trong chương
trình đào tạo: Sinh lý học trẻ em, tâm lý học trẻ em, giáo dục học trẻ em và các phương pháp tổ chức các hoạt động cơ bản cho trẻ em ở trường mầm non đặc biệt là tổ chức các tiết học
Ba là, các sinh viên khoa GDMN, trong quá trình học, có thể tự học các
khóa giáo dục kỹ năng sống để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của
Trang 23bản thân, tự khẳng định mình
Về thực chất, các giải pháp nêu trên cũng chính là căn cứ, cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp phát triển đội ngũ GVMN, QLHĐBD đội ngũ GVMN theo chuẩn nghề nghiệp
Một số tác giả khác có công trình với giá trị khoa học lớn về vấn đề phát triển đội ngũ GVMN trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh là Hoàng Văn Cẩn và Huỳnh Văn Sơn Các tác giả này đánh giá rất cao tầm quan trọng, ý nghĩa của công tác phát triển đội ngũ GVMN Họ cho rằng: “Tăng cường xây dựng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí giáo dục một cách toàn diện theo hướng chuẩn hóa là nhiệm vụ vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa mang tính chiến lược lâu dài nhằm thực hiện thành công chiến lược phát triển GDMN của thành phố Hồ Chí Minh” [12] Theo họ, mục tiêu và nhiệm vụ của phát triển đội ngũ GVMN trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh được cụ thể hóa:
Đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu, đảm bảo về trình độ đào tạo
Sau khi phân tích thực trạng kinh tế, xã hội, GDMN của thành phố Hồ Chí Minh, các tác giả, đề xuất nhóm giải pháp đổi mới công tác đào tạo GVMN, đó là:
- Biện pháp 1: Đổi mới phương thức giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học về GDMN tích hợp các nội dung chăm sóc, giáo dục;
- Biện pháp 2: Xây dựng kế hoạch dùng ngân sách đầu tư xây dựng cơ
Trang 24xuyên cho đội ngũ GVMN;
- Biện pháp 2: Phổ biến và tuyên truyền “chuẩn” đội ngũ GVMN đến
xã hội có hướng đến nhu cầu thực tiễn;
- Biện pháp 3: Phải cập nhật chính sách quan tâm đến đời sống GVMN như: chế độ tiền lương, bảo hiểm, môi trường làm việc…dựa trên tính chất đặc thù của nghề nghiệp;
- Biện pháp 4: Nâng cao ý thức tự rèn luyện, tự phấn đấu và trách nhiệm với nghề, với trẻ ở giáo viên một cách thường xuyên, liên tục;
- Biện pháp 5: Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra chất lượng GVMN, phối kết hợp quản lí mầm non giữa các cấp các ngành
Hệ thống các giải pháp nêu trên của 2 tác giả là căn cứ khoa học và căn
cứ thực tiễn để đề xuất các giải pháp QLHĐBD đội ngũ GVMN trên địa bàn thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ mà mục tiêu luận văn đặt ra
Tiểu kết: Nghiên cứu các công trình khoa học trong nước có thể thấy:
Vấn đề bồi dưỡng GVMN theo chuẩn nghề nghiệp được 1 số tác giả đề cập, tập trung nghiên cứu; tạo ra những cơ sở lý luận khoa học có thể tiếp thu trong việc định hướng cho luận văn Các giải pháp do các tác giả đề xuất phần nhiều thể hiện được tính cần thiết và khả thi cao tại các địa bàn mà các công trình triển khai nghiên cứu Tất cả những vấn đề nêu trên được tác giả luận văn này tiếp thu để xây dựng cơ sở lý luận, triển khai khảo sát thực trạng cũng như đề xuất các giải pháp cho luận văn Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại, chưa có công trình nào đề cập đến vấn đề bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ GVMN, QLHĐBD cho đội ngũ GVMN trên địa bàn thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ Đây chính là “khoảng trống” dành cho đề tài luận văn mà tác giả đã lựa chọn để nghiên cứu và triển khai thực hiện
1.2 Các khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý và quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là hoạt động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng thực hiện được các tính chất của nhà trường mà
Trang 25tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ đưa giáo dục đến
mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất
Quản lý là khái niệm được nghiên cứu, xem xét dưới nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau Tác giả Henry Fayol (1841 - 1925) đưa ra cách định nghĩa nhấn mạnh đến các chức năng cơ bản của quản lý Ông cho rằng:
“Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động: Kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” [14]
Tác giả H Koontz định nghĩa: “Quản lý là 1 hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động của mỗi cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường
mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [22]
Khái niệm quản lý cũng được các học giả của Việt Nam nghiên cứu và xem xét, vân dụng để giải quyết các vấn đề có tính chất lý luận và thực tiễn Cụ thể:
- Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến người lao động nói chung là khách thể quản lý, nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [33]
- Tác giả Đặng Quốc Bảo định nghĩa: “Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên thuộc một
hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được mục đích
đã định” [36]
- Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc lại định nghĩa: “Quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa,
tổ chức, chỉ đạo, lãnh đạo và kiểm tra” [23]
Sau khi nghiên cứu và tiếp thu ý kiến của các học giả, chúng tôi rất thống nhất với cách định nghĩa của tác giả Nguyễn Thị Bạch Mai về quản lý, đó là:
“Quản lý là phương thức tốt nhất để đạt được mục tiêu chung của một nhóm người, một tổ chức, một cơ quan hay nói rộng hơn là một nhà nước Lao động quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài người tồn tại, vận hành và phát triển” [25, tr.25] Cách định nghĩa này bao quát được nhiều mặt của khái
Trang 26niệm quản lý và có thể dễ dàng vận dụng vào thực tế của luận văn này
Để thấy rõ nội hàm của khái niệm bồi dưỡng, tác giả này còn so sánh
sự khác biệt giữa đào tạo và bồi dưỡng về các khía cạnh: Thời gian, mục đích, nội dung, kết quả và hình thức thực hành
Các tài liệu của UNESCO, bồi dưỡng được hiểu là “Quá trình cập nhật, bổ sung kiến thức, kỹ năng, thái độ để nâng cao năng lực trình độ, phẩm chất của người lao động về một lĩnh vực hoạt động mà người lao động đã có một trình độ năng lực chuyên môn nhất định qua một hình thức đào tạo nào đó’’ [47]
Tổng hợp các định nghĩa của các học giả, tổ chức, chúng tôi cho rằng:
Mục đích của bồi dưỡng là nhằm nâng cao năng lực, phẩm chất và năng lực chuyên môn để người lao động có cơ hội củng cố, mở rộng và nâng cao hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo chuyên môn nghiệp vụ đã có, từ đó nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc đang làm
1.2.3 Chuẩn nghề nghiệp
Theo tác giả Hoàng Phê: “Chuẩn là cái được chọn làm căn cứ để đối chiếu, để hướng theo đó mà là cho đúng”, hay là: “Cái được chọn làm mẫu để thể hiện một đơn vị đo lường” [28]
Trong khi đó, Từ điển Bách khoa Giáo dục quốc tế: “Chuẩn là mức độ
ưu việt cần phải có để đạt được những mục đích đặc biệt; là cái để đo xem điều gì là phù hợp; là trình độ thể hiện mong muốn trên thực tế hoặc mang tính xã hội”
Trang 27Từ điển Oxford American Dictionary cho rằng: “Stadard có nghĩa là chuẩn, tiêu chuẩn dùng để đo, trắc nghiệm đồ vật, xác định chất lượng công việc, xác định chuẩn ngôn ngữ (nghe, nói, đọc, viết), mức độ thành thạo trong chuyên môn” [27]
1.3 Chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non
Tại Quyết định số 36/2008/QĐ-BGDĐT ngày 16/8/2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc quy định chuẩn nghề nghiệp: “Chuẩn nghề nghiệp GVMN là hệ thống các yêu cầu cơ bản về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, kiến thức, kỹ năng sư phạm mà GVMN cần phải đạt được nhằm đáp ứng mục tiêu giáo dục mầm non” [5]
Theo quy định của Bộ GD&ĐT, chuẩn nghề nghiệp GVMN là căn cứ pháp lý rất quan trọng để triển khai, thực hiện hàng loạt các vấn đề của GVMN gồm việc tuyển chọn, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ này
Với quy định này, chuẩn nghề nghiệp GVMN được phản ánh thông qua các yêu cầu của 3 lĩnh vực cụ thể sau:
và thực hiện tự bồi dưỡng chuyên môn; giúp GVMN thực hiện tốt nhiệm vụ chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em lứa tuổi mầm non
1.3.1 Vai trò, vị trí của trường mầm non và giáo dục mầm non trong
hệ thống Giáo dục Quốc dân
GDMN là một bộ phận quan trọng trong hệ thống GDQD; có mối quan
hệ và ảnh hưởng nhất định đối với các bậc học cao hơn; đặc biệt, GDMN tạo
ra những tiền đề quan trọng, có tính chất cơ sở và nền tảng đối với Giáo dục
Trang 28Tiểu học cũng như các bậc học cao hơn
Vai trò và vị trí của trường mầm non được quy định rất cụ thể và chi tiết trong Điều lệ trường mầm non được ban hành kèm theo Quyết định số 14/2008/QĐ-BGDĐT ngày 07/4/2008 của Bộ GD&ĐT Theo đó, “Trường mầm non là đơn vị cơ sở của GDMN thuộc hệ thống GDQD, có tư cách pháp nhân và con dấu riêng, được mở tài khoản tại ngân hàng và kho bạc Nhà nước Trường mầm non chịu sự quản lý về chuyên môn trực tiếp từ phòng GD&ĐT cấp huyện; chịu sự quản lý về hành chính của Uỷ ban Nhân dân cấp huyện” [5]
Theo Điều lệ trường mầm non, trường mầm non có nhiệm vụ: “Tổ chức thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ 3 tháng tuổi đến 6 tuổi theo chương trình GDMN do Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành; Huy động trẻ em lứa tuổi mầm non đến trường; Tổ chức giáo dục hòa nhập cho trẻ
em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em khuyết tật; Quản lý cán bộ, giáo viên, nhân viên để thực hiện nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục trẻ em; Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực theo quy định của pháp luật; Xây dựng cơ sở vật chất theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại theo yêu cầu tối thiểu đối với vùng đặc biệt khó khăn” [5]
1.3.2 Mục tiêu của Giáo dục Mầm non
Theo Điều lệ trường mầm non, GDMN có mục tiêu là “giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp 1” [5] Mục tiêu này được thể hiện thông qua 05 lĩnh vực phát triển cụ thể sau:
Trang 29Bậc học GDMN được phân thành 2 bộ phận: giáo dục nhà trẻ (dành cho trẻ từ 3 tháng đến 36 tháng tuổi) và giáo dục mẫu giáo (dành cho trẻ từ 36 tháng đến 72 tháng tuổi) Mỗi bậc học này được xác định bởi những mục tiêu
cụ thể khác nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Các mục tiêu GDMN được cụ thể hóa thành mục tiêu của công tác chăm sóc, nuôi dưỡng
và giáo dục trong chương trình GDMN
1.3.3 Nội dung và phương pháp dạy học mầm non
Theo Điều lệ trường mầm non, do tính chất đặc thù của lứa tuổi này, nội dung GDMN phải “Phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em, hài hòa giữa nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; giúp trẻ em phát triển cơ thể cân đối, khỏe mạnh, nhanh nhẹn; cung cấp kỹ năng sống phù hợp với lứa tuổi; giúp trẻ em biết kính trọng, yêu mến, lễ phép với ông bà, cha mẹ, thầy giáo,
cô giáo; yêu quý anh, chị, em, bạn bè, thật thà, mạnh dạn, tự tin và hồn nhiên, yêu thích cái đẹp; ham hiểu biết, thích đi học Đảm bảo tính khoa học, tính vừa sức và nguyên tắc đồng tâm phát triển từ dễ đến khó; đảm bảo tính liên thông giữa các độ tuổi, giữa nhà trẻ, mẫu giáo và cấp tiểu học; thống nhất giữa nội dung giáo dục với cuộc sống hiện thực, gắn với cuộc sống và kinh nghiệm của trẻ, chuẩn bị cho trẻ từng bước hòa nhập và cuộc sống” [5]
Để thực hiện nội dung GDMN nêu trên, phương pháp GDMN phải chú trọng giao tiếp thường xuyên, thể hiện sự yêu thương và tạo sự gắn bó giữa người lớn và trẻ; chú ý tới đặc điểm cá nhân của mỗi trẻ để lựa chọn và sử dụng các phương pháp giáo dục phù hợp và hiệu quả Điều lệ trường mầm non yêu cầu: Phương pháp GDMN phải “Tổ chức hợp lí các hình thức hoạt động cá nhân, theo nhóm nhỏ và cả lớp, phù hợp với độ tuổi của nhóm, lớp, với khả năng của từng trẻ, với nhu cầu và hứng thú của trẻ và với điều kiện thực tế” [5]
1.3.4 Đặc điểm, vai trò của giáo viên mầm non
GVMN là những người trực tiếp triển khai; thực hiện nội dung và chương trình GDMN theo mục tiêu, nội dung và phương pháp đã được quy định cụ thể trong Điều lệ trường mầm non Cụ thể hơn, GVMN phải thực hiện đồng thời 3 nhiệm vụ: Chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ Nhiệm vụ có tính chất tổng hợp
Trang 30này có nhiều khác biệt so với các cấp học khác Chính sự khác biệt này tạo nên
sự khác biệt về chuẩn nghề nghiệp GVMN so với các bậc học khác
Do tính chất đặc thù của vị trí việc làm, GVMN phải có đầy đủ các tiêu chí theo chuẩn nghề nghiệp đã quy định Ngoài ra, họ cần có năng khiếu về âm nhạc, hội họa, khả năng tổ chức các hoạt động cho trẻ một cách phong phú và thường xuyên Và, hơn bất cứ 1 bậc học nào khác, GVMN phải thể hiện được tình thương yêu đối với trẻ, vừa dạy, vừa dỗ và chịu áp lực lớn từ nhiệm vụ, khối lượng công việc, quan hệ với phụ huynh, đồng nghiệp và cộng đồng Cũng giống như các giáo viên ở những bậc học cao hơn, GVMN phải được bồi dưỡng thường xuyên, liên tục để cập nhật kiến thức, kĩ năng sư phạm, phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống để làm tốt hơn nhiệm vụ được phân công
1.4 Quản lý Hoạt động bồi dƣỡng giáo viên mầm non theo chuẩn nghề nghiệp
1.4.1 Vai trò của quản lý bồi dưỡng giáo viên mầm non theo chuẩn nghề nghiệp
Từ lý luận và thực tiễn có thể khẳng định: QLHĐBD đội ngũ GVMN
vó vai trò cực kỳ quan trọng, được xem là giải pháp, hình thức then chốt giúp giáo viên thường xuyên và liên tục trau dồi phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; cập nhật kiến thức có tính chất tổng hợp phục vụ công tác nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ; rèn luyện các kỹ năng sư phạm cụ thể mà vị trí việc làm GVMN yêu cầu
Thực tiễn cho thấy: Những cơ quan quản lý Nhà nước về GDĐT, Hiệu trưởng các trường mầm non thực hiện có hiệu quả và chất lượng công tác QLHĐBD đội ngũ GVMN thì các đội ngũ GVMN liên tục được nâng cao trình độ; khơi dậy ở đội ngũ GVMN hứng thú, trách nhiệm tự bồi dưỡng; qua
đó trực tiếp góp phần nâng cao chất lượng công tác chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ Và, những nơi ít hoặc không quan tâm hoặc thực hiện công tác
các trường mầm non tại địa bàn đó có vấn đề Như vậy, có sự tương quan có tính chất tỉ lệ thuận giữa việc QLHĐBD đội ngũ GVMN với chất lượng và
Trang 31hiệu quả của công tác chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ
Nhận thức được điều đó, các cấp QLHĐBD, chính quyền các địa phương rất quan tâm, đầu tư, kinh phí, chỉ đạo và tổ chức hoạt động QLHĐBD cho đội ngũ GVMN để nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ trên địa bàn quản lý và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc phát triển GDMN và giáo dục Tiểu học
1.4.2 Nội dung quản lý hoạt động bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên mầm non theo chuẩn nghề nghiệp
Hoạt động quản lý nói chung có 4 chức năng cơ bản là: Kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá Xuất phát từ 4 chức năng cơ bản đó, có thể xác định: QLHĐBD đội ngũ GVMN có 4 nội dung sau đây:
1.4.2.1 Lập kế hoạch bồi dưỡng giáo viên mầm non theo chuẩn nghề nghiệp
Lập kế hoạch được xác định là khâu đầu tiên và rất quan trọng, có tính chất định hướng cho toàn bộ các khâu còn lại của QLHĐBD nếu quản lý được xét như 1 quá trình liên tục và khép kín
Bản kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ GVMN bao gồm những nội dung chủ yếu sau đây:
- Mục tiêu của bồi dưỡng đội ngũ GVMN;
- Nội dung bồi dưỡng đội ngũ GVMN;
- Phương pháp và hình thức bồi dưỡng đội ngũ GVMN;
- Chủ thể bồi dưỡng;
- Các nguồn lực cho việc bồi dưỡng đội ngũ GVMN;
- Kết quả bồi dưỡng đội ngũ GVMN;
- Việc kiểm tra đánh giá bồi dưỡng đội ngũ GVMN;
- Thời gian, địa điểm tổ chức bồi dưỡng đội ngũ GVMN
Để xác định được các nội dung trên, đòi hỏi phải nghiêm túc triển khai việc phân tích, điều tra thực trạng hiện có đội ngũ GVMN; xác định chuẩn nghề nghiệp mà đội ngũ GVMN phải đạt được, nhu cầu nguyện vọng bồi dưỡng của đội ngũ GVMN và căn cứ trên mục tiêu, nhiệm vụ năm học, học kỳ cũng như kế hoạch chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ của bậc học GDMN
Trang 321.4.2.2 Tổ chức bồi dưỡng cho giáo viên mầm non theo chuẩn nghề nghiệp
Việc tổ chức bồi dưỡng cho đội ngũ GVMN chính là giai đoạn cụ thể hóa bản kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ GVMN; huy động các nguồn lực vào việc thực hiện kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ GVMN đã được xây dựng và phê duyệt nhằm đạt được mục tiêu, nhiệm vụ bồi dưỡng đã đặt ra ngay từ đầu
Đây là khâu có vai trò rất quan trọng; quyết định đến chất lượng và hiệu quả hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ GVMN; đòi hỏi việc huy động, điều phối một cách khoa học và nhịp nhàng các nguồn lực cho HĐBD (nhân lực, vật lực, tiền lực…)
Trong việc tổ chức bồi dưỡng đội ngũ GVMN có thể đánh giá được tính khả thi, logic và khoa học của kế hoạch bồi dưỡng và có thể điều chỉnh
kế hoạch này cho phù hợp với tình hình thực tế
Một trong những nhân tố, điều kiện có ảnh hưởng đến kết quả tổ chức bồi dưỡng cho đội ngũ GVMN là các kỹ năng của nhà quản lý Chủ thể tiến hành bồi dưỡng đó là động viên khích lệ, khơi dậy tinh thần, trách nhiệm, hứng thú, say mê của đội ngũ GVMN Nếu không thực hiện được thủ pháp tâm lý này, việc bồi dưỡng chỉ có tính chất chiếu lệ, chống đối, chất lượng và hiệu quả sẽ rất hạn chế
Từ đó có thể xác định: Về bản chất, tổ chức bồi dưỡng cho đội ngũ GVMN chính là sự chuyển biến từ HĐBD thành tự bồi dưỡng Tự bồi dưỡng chính là đỉnh cao và là mục tiêu cuối cùng của HĐBD
Việc tổ chức bồi dưỡng cho đội ngũ GVMN phụ thuộc vào rất nhiều điều kiện chủ quan và khách quan Trong đó, việc lựa chọn cách thức, hình thức và phương pháp bồi dưỡng là nhân tố quan trọng có tính chất, ảnh hưởng quyết định đến kết quả bồi dưỡng Việc lựa chọn, áp dụng các nhân tố nêu trên thể hiện sự linh động, sáng tạo, khéo léo của các nhà tổ chức hoạt động quản lý bồi dưỡng
1.4.2.3 Chỉ đạo bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên mầm non theo chuẩn nghề nghiệp
Việc chỉ đạo bồi dưỡng cho đội ngũ GVMN chính là sự định hướng,
Trang 33chỉ ra cách thức, con đường bồi dưỡng cho đội ngũ GVMN; đồng thời thể hiện sự can thiệp điều chỉnh đối với các yếu tố tham gia HĐBD theo mục tiêu đặt ra ban đầu
Công tác chỉ đạo bồi dưỡng cho đội ngũ GVMN được phân quyền tới từng bộ phận, tổ chức và cá nhân cụ thể Với chức trách, nhiệm vụ khác nhau thì thẩm quyền chỉ đạo cũng khác nhau Tuy nhiên, việc phân quyền đó vẫn phải đảm bảo thống nhất theo 1 mục tiêu chung; tránh chồng chéo, dẫm chân, ảnh hưởng tiêu cực giữa các quyền chỉ đạo
Bên cạnh đó, công tác chỉ đạo HĐBD cho đội ngũ GVMN phải đảm bảo 1 số yêu cầu nhất định, đó là sự kịp thời, tính chính xác, tính khả thi; phát huy được tối đa sức mạnh của các nguồn lực tham gia HĐBD đội ngũ GVMN Các yêu cầu về sự kịp thời, chính xác và khả thi là những yêu cầu có tính nguyên tắc của tất cả các hoạt động chỉ đạo
Trên thực tế, việc chỉ đạo bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ GVMN được phân quyền cho chính quyền cấp huyện (Uỷ ban nhân dân cấp huyện) với sự tham mưu, giúp việc của phòng GD&ĐT và các phòng, ban khác Việc
tổ chức HĐBD chuyên môn cho GVMN thường được giao cụ thể cho Hiệu trưởng các trường mầm non Tuy nhiên, vai trò của Hiệu trưởng các trường mầm non chưa được thể hiện đúng lúc và kịp thời; chưa thể hiện chính xác tầm quan trọng và vai trò chuyên môn của mình
Về nguyên tắc, Hiệu trưởng các trường mầm non phải là người hiểu rõ nhất các vấn đề về mục tiêu, nội dung, phương pháp bồi dưỡng cho đội ngũ GVMN; nắm chính xác nhất nhu cầu, nguyện vọng được bồi dưỡng chuyên môn của đội ngũ GVMN do mình phụ trách và quản lý
Thực tiễn cũng cho thấy: Tại một số nơi, một số thời điểm, việc phân định giữa chỉ đạo và tổ chức hoạt động bồi dưỡng chuyên môn đội ngũ GVMN chưa được rạch ròi, chính xác, chưa gắn liền trách nhiệm và quyền lợi Đây chính là nguyên nhân khách quan làm cho công tác bồi dưỡng đội ngũ GVMN chưa đạt hiệu quả như mong đợi
1.4.2.4 Kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên
Trang 34mầm non theo chuẩn nghề nghiệp
Về mặt lý luận, kiểm tra, đánh giá là khâu rất quan trọng của một chu trình quản lý Đối với QLHĐBD cho đội ngũ GVMN thì công tác kiểm tra, đánh giá là cực kỳ quan trọng Việc kiểm tra, đánh giá có chức năng giúp chủ thể quản lý xác định chính xác kết quả, hiệu quả của công tác QLHĐBD; kịp thời phát hiện những vấn đề tồn tại và hạn chế để kịp thời điều chỉnh, can thiệp công tác tổ chức theo đúng định hướng và mục tiêu đặt ra
Xuất phát từ ý nghĩa và vai trò nêu trên, công tác kiểm tra, đánh giá HĐBD cho đội ngũ GVMN được tách bạch tương đối độc lập và theo sát toàn
bộ các giai đoạn, quá trình tổ chức hoạt động bồi dưỡng Như vậy, kiểm tra, đánh giá được xác định như 1 công cụ hiện hữu và không thể thiếu của các chủ thể quản lý, các nhà tổ chức HĐBD cho đội ngũ GVMN
Lý luận và thực tiễn kiểm tra, đánh giá HĐBD chuyên môn cho đội ngũ GVMN đòi hỏi phải đảm bảo tính thường xuyên, liên tục, chính xác, khách quan, trung thực và đánh giá có tính chất xây dựng, theo chiều hướng phát triển Nếu không đảm bảo các yêu cầu này, công tác kiểm tra đánh giá sẽ ít tác dụng, thậm chí phản tác dụng, từ đó chất lượng và hiệu quả tổ chức
Như vậy, nội dung QLHĐBD cho đội ngũ GVMN bao gồm 4 nội dung
cụ thể, gồm: Lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá Nếu xét QLHĐBD cho đội ngũ GVMN như 1 quy trình khép kín thì 4 nội dung nên trên cũng chính là 4 bước kế tiếp nhau, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tạo tiền đề cho nhau Các chủ thể QLHĐBD phải nhận thức đúng 4 chức năng, 4 nội dung và 4 bước nêu trên; vận dụng 1 cách khéo léo, khoa học để không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả bồi dưỡng cho đội ngũ GVMN
1.4.3 Hình thức bồi dưỡng đội ngũ giáo viên mầm non theo chuẩn nghề nghiệp nghề nghiệp
Lý luận và thực tiễn quản lý giáo dục cho thấy có các hình thức bồi dưỡng đội ngũ GVMN theo chuẩn nghề nghiệp được thực hiện thông qua các hình thức sau đây:
Trang 351.4.3.1 Bồi dưỡng tập trung, định kỳ
Có thể khẳng định: Bồi dưỡng tập trung, định kỳ là hình thức phổ biến nhất trong thực tiễn bồi dưỡng đội ngũ GVMN hiện nay Việc tổ chức bồi dưỡng tập trung, định kỳ có một số đặc điểm sau đây:
- Chủ thể tổ chức bồi dưỡng tập trung, định kỳ là chính quyền cấp huyện và các cơ quan, đơn vị quản lý Nhà nước tham mưu, phối hợp thực hiện Cụ thể, chủ thể này bao gồm: Uỷ ban nhân dân cấp huyện; phòng GD&ĐT; Phòng Nội vụ cấp huyện và Hiệu trưởng các trường mầm non trên địa bàn
- Kế hoạch tổ chức bồi dưỡng tập trung, định kỳ được xây dựng, phê duyệt từ trước (thậm chí 1 năm trước tính đến thời điểm tổ chức) Việc tổ chức bồi dưỡng chính là sự cụ thể hóa kế hoạch này trong thực tiễn
- Đối tượng được bồi dưỡng tập trung, định kỳ: Chủ yếu là đội ngũ giáo viên trên địa bàn Một số cán bộ quản lý (Hiệu trưởng, các Phó Hiệu trưởng
và chuyên viên của Phòng GD&ĐT) cũng có thể tham gia bồi dưỡng tập trung, định kỳ
- Nội dung bồi dưỡng tập trung, định kỳ: Bao gồm 1 tổ hợp các nội dung liên quan chủ yếu đến 3 lĩnh vực mà GVMN phải đáp ứng Đó là: Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; kiến thức; kỹ năng sư phạm Tuy nhiên, do tính chất, nhiệm vụ chuyên môn của từng năm học, đặc thù của từng địa phương mà nội dung bồi dưỡng tập trung, định kỳ được bổ sung và tích hợp thêm những nội dung khác
- Cách thức tổ chức bồi dưỡng tập trung, định kỳ: Tập trung với số lượng lớn đối tượng được bồi dưỡng, quy mô tổ chức lớn, tại 1 thời điểm, địa điểm được ấn định, lập kế hoạch và phê duyệt từ trước
- Kinh phí tổ chức bồi dưỡng tập trung, định kỳ: Chủ yếu được phê duyệt từ ngân sách Nhà nước Do vậy, việc giải ngân, thanh quyết toán cũng theo các quy định về tài chính của Nhà nước Bên cạnh đó, cũng có thêm 1 số nguồn kinh phí khác (người học tự đóng góp, xã hội hóa), nhưng ngân sách Nhà nước vẫn là nguồn chủ lực
Trang 36- Các nội dung quản lý của hình thức này do các cơ quan tham mưu, giúp việc (Phòng GDĐT, phòng Nội vụ) chủ trì, đầu mối, phối hợp với các đơn vị, tổ chức liên quan thực hiện
1.4.3.2 Bồi dưỡng cho đội ngũ cốt cán, các đầu mối
Bồi dưỡng cho đội ngũ cốt cán, đầu mối là hình thức bồi dưỡng khá phổ biến khi bồi dưỡng cho đội ngũ GVMN Sau khi được tập huấn, đội ngũ cốt cán và các đầu mối sẽ trực tiếp tập huấn, bồi dưỡng lại cho đội ngũ GVMN Cách làm này được các địa phương sử dụng phổ biến và tỏ ra khá hiệu quả trong bối cảnh hiện nay
Bồi dưỡng cho đội ngũ cốt cán, đầu mối có rất nhiều điểm giống so với bồi dưỡng tập trung và định kỳ Cụ thể: Mục đích, nội dung, phương pháp, hình thức, kinh phí, tính hành chính, cách thức quản lý Tuy nhiên, hình thức bồi dưỡng này cho số lượng đối tượng ít hơn, tinh túy hơn Vì đa số, đội ngũ cốt cán, đầu mối là những GVMN, cán bộ quản lý đã được đa số lựa chọn, tuyển chọn, có năng lực và uy tín sư phạm
Trên thực tế quản lý giáo dục, đội ngũ cốt cán đầu mối thường được lựa chọn từ các GVMN dạy giỏi, có kinh nghiệm hoặc giữ trách nhiệm quản lý, điều hành chuyên môn (Tổ trưởng, Tổ phó chuyên môn, Phó Hiệu trưởng phụ trách chuyên môn)
- Nội dung tự bồi dưỡng được cá nhân tự xây dựng trên cơ sở xác định được nhu cầu của nghề nghiệp, đòi hỏi của phụ huynh, nhà trường và xã hội
Có thể nói: Nội dung tự bồi dưỡng “sát sườn” hơn so với hai hình thức bồi dưỡng nêu trên
- Phương pháp và hình thức tự bồi dưỡng rất linh hoạt, đa dạng và phù
Trang 37hợp với hoàn cảnh và năng lực của bản thân Mỗi GVMN tự xác định, tìm kiếm, lựa chọn và áp dụng phương pháp, hình thức tự bồi dưỡng chuyên môn sao cho phù hợp và hiệu quả nhằm đạt được mục tiêu, nhiệm vụ tự bồi dưỡng đặt ra ban đầu
- Kinh phí dành cho tự bồi dưỡng gần như hoàn toàn cho đội ngũ GVMN chuẩn bị và chi trả Do vậy, họ hoàn toàn tự quyết định vấn đề này theo khả năng tài chính của mỗi cá nhân
- Hiệu quả tự bồi dưỡng: Theo đánh giá của nhiều nhà quản lý, nhà khoa học và bản thân GVMN thì tự bồi dưỡng là hình thức bồi dưỡng đạt hiệu quả cao nhất Xét cho cùng thì đích đến cuối cùng của hai hình thức bồi dưỡng phần trên chính là tự bồi dưỡng của mỗi GVMN Tức là, chỉ khi nào, mỗi GVMN tham gia tự bồi dưỡng với tinh thần trách nhiệm, hứng thú, say
mê cao nhất thì bồi dưỡng mới có hiệu quả cao Việc chống đối hoặc tham gia bồi dưỡng có tính chất đối phó, chiếu lệ không mang lại hiệu quả và chất lượng cao cho hoạt động bồi dưỡng, thậm chí còn phản tác dụng, gây tác động tiêu cực tới hoạt động bồi dưỡng chuyên môn
Lý luận và thực tiễn QLHĐBD chuyên môn cho đội ngũ GVMN cho thấy: Việc phân loại thành ba hình thức bồi dưỡng nêu trên chỉ có tính chất tương đối Các hình thức này không mâu thuẫn, mà có mối quan hệ chặt chẽ và
bổ sung cho nhau tạo nên một chỉnh thể trọn vẹn Việc phân loại nhằm mục đích phân tích và làm rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ, của các đơn
vị, tổ chức và cá nhân tham gia và hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ GVMN
1.5 Những quy định của Nhà nước về hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên mầm non theo chuẩn nghề nghiệp
Việc quản lý, tổ chức bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên là đối tượng quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực GD&ĐT Nhằm thống nhất quản lý từ Trung ương đến địa phương về lĩnh vực này, ngày 10/7/2012, Bộ GD&ĐT ban hành Thông tư số 26/2012/TT-GDĐT về Quy chế bồi dưỡng thường xuyên GVMN, phổ thông và Giáo dục thường xuyên
Trang 38Đây chính là căn cứ pháp lý quan trọng nhất để quản lý, tổ chức hoạt động bồi dưỡng cho đội ngũ GVMN theo chuẩn nghề nghiệp GVMN mà thôi
Thông tư trên bao gồm những nội dung chủ yếu sau:
- Đối tượng bồi dưỡng thường xuyên;
- Mục đích bồi dưỡng thường xuyên;
- Nội dung, thời lượng bồi dưỡng thường xuyên;
- Hình thức bồi dưỡng thường xuyên;
- Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên;
- Kinh phí bồi dưỡng thường xuyên;
- Kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên;
- Báo cáo viên bồi dưỡng thường xuyên;
- Cơ sở giáo dục thực hiện bồi dưỡng thường xuyên;
- Đánh giá và xếp loại kết quả bồi dưỡng thường xuyên;
- Nhiệm vụ của Sở GD&ĐT và Phòng GD&ĐT trong bồi dưỡng thường xuyên;
- Trách nhiệm của Hiệu trưởng trong bồi dưỡng thường xuyên
Căn cứ Thông tư số 26/2012/TT-BDĐT về Quy chế bồi dưỡng thường xuyên GVMN, phổ thông và Giáo dục thường xuyên, các Sở GD&ĐT sẽ tham mưu cho Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh ban hành kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên cho đội ngũ giáo viên nói chung, GVMN nói riêng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ giao cho các Sở GD&ĐT triển khai kế hoạch nêu trên Theo phân cấp quản lý hiện nay:
- Việc bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên bậc THPT và tương đương sẽ được giao cho Sở GD&ĐT của địa phương
- Việc bồi dưỡng thường xuyên cho GVMN, Tiểu học và Trung học cơ
sở sẽ giao cho Phòng GD&ĐT cấp huyện Trong đó, Hiệu trưởng các trường
là các đầu mối rất quan trọng cho công tác bồi dưỡng thường xuyên cũng như công tác quản lý hoạt động này
Mặc dù có Thông tư quy định chung, thống nhất thực hiện trong phạm
vi cả nước, nhưng mỗi tỉnh cũng có những cách triển khai linh hoạt và phù hợp với điều kiện Kinh tế, Văn hóa - Xã hội của địa phương đó Làm cho
Trang 39công tác bồi dưỡng thường xuyên mang những đặc điểm chung toàn quốc nhưng cũng có những màu sắc riêng, tạo nên sự đa dạng, phong phú trong hoạt động này
1.6 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động bồi dưỡngcho đội ngũ giáo viên mầm non theo chuẩn nghề nghiệp
1.6.1 Những yếu tố chủ quan
1.6.1.1 Năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý (báo cáo viên)
Năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý có ảnh hưởng với tính chất quyết định đến việc triển khai thực hiện nội dung, chương trình, nhiệm vụ chăm sóc, nuôi dương và giáo dục của trường mầm non Đồng thời, năng lực của đội ngũ này cũng có những ảnh hưởng nhất định đến HĐBD đội ngũ GVMN theo chuẩn nghề nghiệp GVMN
Thực tế cho thấy: Đội ngũ cán bộ quản lý vừa là nhân tố chỉ đạo vừa là lực lượng trực tiếp triển khai thực hiện hoạt động QLHĐBD cho đội ngũ GVMN Họ tham gia vào tất cả các chức năng quản lý cơ bản (kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá) cũng như các bước của một chu trình, tiến trình quản lý khép kín Hơn ai hết, họ là người nắm bắt được thực tiễn của trường mầm non, xác định chính xác điểm mạnh, yếu, khả năng của đội ngũ GVMN Đặc biệt, họ hiểu được nhu cầu bồi dưỡng của đội ngũ GVMN (bồi dưỡng cái gì, bồi dưỡng như thế nào) cũng như tâm tư, nguyện vọng của
họ Chính vì những lý do trên có thể khẳng định: Năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý ảnh hưởng to lớn đến kết quả, chất lượng và hiệu quả của hoạt động
năng lực và trình độ thì HĐBD cho đội ngũ GVMN được triển khai có kế hoạch, khoa học và hiệu quả Ngược lại, đội ngũ này với trình độ và năng lực hạn chế thì HĐBD đội ngũ GVMN sẽ gặp phải nhiều cản trở, khó khăn và không thể đạt được hiệu quả như mong muốn của chủ thể quản lý
Năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý liên quan trực tiếp đến những vấn
đề sau đây của hoạt động QLHĐBDcho đội ngũ GVMN:
- Đánh giá, phân tích, xác định nhu cầu, nguyện vọng bồi dưỡng đội ngũ GVMN Đây là một căn cứ quan trọng để xây dựng kế hoạch bồi dưỡng,
Trang 40kế hoạch QLHĐBD cho đội ngũ GVMN
- Xây dựng kế hoạch QLHĐBD cho đội ngũ GVMN Họ là người trực tiếp tham mưu, xây dựng, thuyết trình và bảo vệ trước chính quyền cấp huyện cho tới khi được phê duyệt
- Đội ngũ cán bộ quản lý chính là nhân tố trực tiếp tổ chức, huy động các nguồn lực tham gia vào HĐBD cho đội ngũ GVMN (nhân lực, vật lực và tiền lực) Họ là bộ phận điều phối toàn bộ HĐBD
- Đội ngũ cán bộ quản lý giúp chính quyền địa phương thực hiện chức năng kiểm tra, đánh giá QLHĐBD, từ đó có sự điều chỉnh, chỉ đạo sát sao, kịp thời và hiệu quả; đạt mục tiêu bồi dưỡng đặt ra ban đầu
- Họ chính là đầu mối tiếp nhận, động viên, khích lệ đội ngũ GVMN quyết tâm vượt qua khó khăn; trực tiếp hỗ trợ họ triển khai hoạt động tự bồi dưỡng; biến quá trình bồi dưỡng của chủ thể quản lý thành tự bồi dưỡng ở GVMN
Như vậy, với tầm quan trọng, vị trí, chức năng của đội ngũ cán bộ quản
lý, các chủ thể quản lý cần xác định: Song song với việc phát triển đội ngũ GVMN thì cũng phải tập trung, tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ QLHĐBD
và nâng cao năng lực trình độ và đạo đức nghề nghiệp
1.6.1.2 Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; kiến thức và kỹ năng sư phạm của đội ngũ giáo viên mầm non
Đây là một trong những nhân tố trực tiếp ảnh hưởng đến QLHĐBD cho đội ngũ GVMN theo chuẩn nghề nghiệp Để triển khai được HĐBD cũng như QLHĐBD, các chủ thể quản lý phải đánh giá chính xác thực trạng hiện có về cả
3 lĩnh vực của đội ngũ GVMN, đó là: Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; kiến thức và kỹ năng sư phạm Đồng thời, họ phải đối chiếu, so sánh thực trạng
đó với chuẩn nghề nghiệp theo yêu cầu Từ đó mới có thể xây dựng được kế hoạch bồi dưỡng cũng như triển khai QLHĐBD một cách có hiệu quả
Lý luận và thực tiễn QLHĐBDcho thấy: Nếu đội ngũ GVMN có tinh thần trách nhiệm cao, lòng yêu nghề, có những kiến thức và kỹ năng sư phạm
đủ để hoàn thành nhiệm vụ chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ thì HĐBD