1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nhận thức và hành vi tìm kiếm trợ giúp của cha mẹ cho trẻ có biểu hiện tăng động giảm chú ý ở tuổi tiểu học

98 162 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 2,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày nay cùng với sự phát triển của các phương tiện truyền thông thì việc cập nhập thông tin về các vấn đề xã hội, kinh tế, sức khỏe và sức khỏe tâm thần ....ngày càng trở lên dễ dàng, v

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ QUÝ

NHẬN THỨC VÀ HÀNH VI TÌM KIẾM TRỢ GIÚP CỦA CHA MẸ CHO TRẺ CÓ BIỂU HIỆN TĂNG ĐỘNG

GIẢM CHÚ Ý Ở TUỔI TIỂU HỌC

HÀ NỘI – 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ QUÝ

NHẬN THỨC VÀ HÀNH VI TÌM KIẾM TRỢ GIÚP CỦA CHA MẸ CHO TRẺ CÓ BIỂU HIỆN TĂNG ĐỘNG

GIẢM CHÚ Ý Ở TUỔI TIỂU HỌC

Chuyên ngành: Tâm lý học lâm sàng trẻ em và vị thành niên

Mã số: Thí điểm

Người hướng dẫn khoa học: TS.TRẦN THÀNH NAM

HÀ NỘI – 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý tận tình của quý thầy cô trường Đại học Giáo Dục, Đại học Quốc gia Hà nội

Trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy, các cô trường Đại học Giáo Dục Các thầy cô trong chương trình liên kết của Đại học Vanderbitl, những người đã tận tình dạy bảo tôi trong suốt thời gian tôi học tập và nghiên cứu tại trường

Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến TS.Trần Thành Nam, người đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn và giúp tôi có thể hoàn thành được luận văn tốt nghiệp

Nhân đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, và quý thầy cô phòng đào tạo sau đại học Trường Đại học Giáo Dục đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi để tôi học tập và hoàn thành tốt khoá học

Đồng thời, tôi xin cảm ơn Ban Giám đốc Bệnh viện Nhi Trung ương, Ban Lạnh đạo và tập thể Khoa Tâm thần đã tạo điều kiện cho tôi học tập và nghiên cứu

để hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các học sinh ,phụ huynh và Ban giám hiệu cùng các thầy cô của các trường đã tham gia nghiên cứu để giúp Tôi thực hiện đề tài này

Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng để hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự nhiệt tình và năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh những thiếu sót Chính vì vậy tôi rất mong nhận được những đóng góp quý báu từ quý thầy cô

và các bạn

Hà Nội, tháng 11 năm 2017

Học viên

Nguyễn Thị Quý

Trang 4

ICD-10

The 10th International Classification of Diseases- World Health Organization- Bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 của tổ chức y tế thế giới

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN I DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT II DANH MỤC CÁC BẢNG V

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ vi

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 6

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 6

1.1.1 Những nghiên cứu bàn về nhận thức sức khỏe tâm thần và hành vi tìm kiếm trợ giúp 6

1.1.2 Những nghiên cứu bàn về nhận thức và hành vi tìm kiếm sự trợ giúp đối với tăng động giảm chú ý 10

1.1.3 Nghiên cứu về rối loạn tăng động giảm chú ý 17

1.2 Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 21

1.2.1 Nhận thức 21

1.2.2 Tăng động giảm chú ý 23

1.2.3 Đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học 37

Tiểu kết chương 1 41

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42

2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 42

2.2 Đặc điểm khách thể nghiên cứu 42

2.3 Thiết kế nghiên cứu 45

2.3.1 Thu thập số liệu 45

2.3.2 Xử lý số liệu 45

2.4 phương pháp nghiên cứu 45

2.4.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 45

2.4.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 46

2.4.3.Phương pháp thống kê toán học 48

Tiểu kết chương 2 49

Trang 6

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 50

3.1 Nhận thức chung về rối loạn tăng động giảm chú ý 50

3.1.1 Khả năng nhận diện các biểu hiện tăng động giảm chú ý 50

3.1.2 Nhận thức của cha mẹ về khái niệm hiếu động và tăng động giảm chú ý 53

3.1.3 Định nghĩa của cha mẹ về tăng động giảm chú ý 54

3.1.4 Nhận định về thời gian xuất hiện các biểu hiện 55

3.1.5 Nhận định về môi trường xuất hiện các hành vi của trẻ có adhd 55

3.1.6 Nhận định về độ tuổi dễ phát hiện tăng động giảm chú ý nhất 56

3.2 Thực trạng nhận diện các biểu hiện, nguyên nhân, cách thức can thiệp và hành vi tìm kiếm sự hỗ trợ 57

3.2.1 Thực trạng nhận diện các biểu hiện của rối loạn tăng động giảm chú ý 57

3.2.2 Nhận thức của cha mẹ về nguyên nhân gây ra adhd ở học sinh tiểu học 59

3.2.3 Nhận thức của cha mẹ về phương pháp can thiệp cho trẻ có ADHD 60

3.3 Hành vi tìm kiếm sự trợ giúp của cha mẹ cho trẻ có biểu hiện adhd 62

3.3.1 Hành vi tìm kiếm thông tin về adhd 62

3.3.2 Hành vi tìm kiếm sự trợ giúp của cha mẹ cho trẻ có biểu hiện adhd 63

3.4 Tương quan giữa nhận thức về biểu hiện, nguyên nhân, cách can thiệp và hành vi tìm kiếm sự trợ giúp 66

3.4.1 Tương quan giữa trình độ học vấn của cha mẹ với nhận thức về các biểu hiện, nguyên nhân của adhd 66

3.4.2 Tương quan giữa nhận thức về biểu hiện, nguyên nhân, cách can thiệp và hành vi tìm kiếm sự trợ giúp 67

3.4.3 Hồi quy dự báo hành vi tìm kiếm sự hỗ trợ adhd từ biến số nhận thức của phụ huynh về các biểu hiện và nguyên nhân dẫn đến adhd 70

Kết luận chương 3 72

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 74

TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

PHỤ LỤC 80

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Một số điểm luận về các nghiên cứu bàn về nhận thức sức khỏe tâm

thần và hành vi tìm kiếm trợ giúp trên thế giới và ở Việt Nam 9

Bảng 1.2 Một số điểm luận về các nghiên cứu bàn về nhận thức ADHD và hành vi tìm kiếm trợ giúp trên thế giới và ở Việt Nam 16

Bảng 2.1 Bảng đặc điểm của địa bàn nghiên cứu 42

Bảng 2.2 Đặc điểm của khách thể tham gia nghiên cứu 43

Bảng 2.3 Đặc điểm về thành viên trong gia đình 44

Bảng 2.4 Cấu trúc thang đo sàng lọc rối loạn tăng động giảm chú ý Vanderblit (dành cho cha mẹ) 47

Bảng 3.1 Khả năng nhận diện của cha mẹ về tình huống 1 51

Bảng 3.2 Khả năng nhận diện của cha mẹ về tình huống 2 52

Bảng 3.3 Định nghĩa của cha mẹ về tăng động giảm chú ý 54

Bảng 3.4 Bảng phân bố tần số và tỉ lệ lựa chọn của cha mẹ về thời gian xuất hiện hành vi 55

Bảng 3.5 Nhận thức về môi trường xuất hiện các hành vi của trẻ có ADHD 55

Bảng 3.6 Độ tuổi dễ phát hiện tăng động giảm chú ý nhất 56

Bảng 3.7 Tỉ lệ cha mẹ nhận diện các dấu hiệu của ADHD 58

Bảng 3.8 Điểm trung bình về nhận thức nguyên nhân 60

Bảng 3.9 Điểm trung bình về phương pháp can thiệp 61

Bảng 3.10 Mức độ đồng tình của cha mẹ với cách thức tìm kiếm thông tin về ADHD 63

Bảng 3.11 Tỉ lệ % mức độ đồng tình của cha mẹ với cách thức tìm kiếm hỗ trợ cho trẻ ADHD 64

Bảng 3.12 Tương quan giữa trình độ học vấn của cha mẹ với nhận thức về các biểu hiện, nguyên nhân của ADHD 66

Bảng 3.13 Tương quan giữa nhận thức về biểu hiện, nguyên nhân, cách can thiệp và hành vi tìm kiếm sự trợ giúp 68

Trang 8

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ

Biểu đồ 3.1 Khả năng nhận diện của cha mẹ về tình huống 1 51 Biểu đồ 3.2 Khả năng nhận diện của cha mẹ về tình huống 2 52 Biểu đồ 3.3 Biểu đồ phân biệt giữa hiếu động và ADHD 53 Biểu đồ 3.4: Biểu đồ phân bố tần số và tỷ lệ lựa chọn độ tuổi dễ phát hiện ADHD nhất 56

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tăng động giảm chú ý( ADHD) là rối loạn tâm thần thường gặp nhất ở trẻ em và thanh thiếu niên (TE&TTN ).Theo DSM-IV TR thì tỉ lệ trẻ trong độ tuổi đi học mắc ADHD là 3-7 %, theo số liệu của viện sức khỏe tâm thần quốc gia Hoa Kỳ thì rối loạn này có xu hướng tăng lên trong những năm gần đây Theo nghiên cứu khác của tác giả Ayaka Ishii- Takahashi - Nhật Bản thì

tỉ lệ mắc rối loạn tăng động giảm chú ý ở nước này tăng từ 3% (1980) lên 7% (2009) Ở Việt Nam, theo báo cáo của tác giả Nguyễn Văn Lương, bệnh viện tâm thần trung ương Huế thì hiện nay tỉ lệ mắc rối loạn ADHD ở lứa tuổi tiểu học là từ 3-5 % và ngày càng gia tăng (dẫn theo Đỗ Minh Thúy Liên ,2010) Gần hơn, số liệu nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hiền cho thấy tỉ lệ là khoảng 9,3% (Nguyễn Thị Thu Hiền, 2012)

ADHD ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống của trẻ: ảnh hưởng đến hoạt động học tập, sinh hoạt, cũng như các mối quan hệ của trẻ với những người xung quanh: cha mẹ, bạn bè, thầy cô Trẻ ADHD thường gây khó chịu cho người khác và hay bị gán cho những nhãn mác: “Hư, bướng, phá phách ” mà không được quan tâm điều trị, làm ảnh hưởng đến phát triển tâm lý của trẻ Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng 54% - 84% trẻ em và thanh thiếu niên với tiêu chí ADHD có rối loạn thách thức chống đối (ODD); một phần đáng kể của các bệnh nhân này sẽ phát triển rối loạn hành vi (CD; Barkley, 2005; Faraone et al., 1997) 15%- 19% bệnh nhân ADHD sẽ bắt đầu hút thuốc lá (Milberger et al., 1997) hoặc phát triển các rối loạn lạm dụng chất gây nghiện khác (Biederman et al., 1997) 25% - 35% bệnh nhân ADHD sẽ có một vấn đề học tập hoặc ngôn ngữ cùng tồn tại (Pliszka et al., 1999).Theo báo cáo của Touzin và cộng sự năm 1997 thì trẻ ADHD có nguy cơ thất bại trường học gấp 2-3 lần so với những trẻ cùng lứa tuổi, và 50% trẻ ADHD gặp thất bại ở trường học và nó kéo dài đến tuổi trưởng thành ( Touzin và cs,1997)

Trang 10

Ngày nay cùng với sự phát triển của các phương tiện truyền thông thì việc cập nhập thông tin về các vấn đề xã hội, kinh tế, sức khỏe và sức khỏe tâm thần ngày càng trở lên dễ dàng, việc tìm kiếm thông tin về rối loạn tăng động giảm chú ý không còn khó khăn, chính vì thế số trẻ được đưa đến khám

ở các bệnh viện ngày càng nhiều, đặc biệt tại Bệnh viện Nhi trung ương số trẻ đến khám do các biểu hiện: chạy nhảy luôn tục, không chú ý nghe giảng, hay

lơ đãng, hay làm việc riêng trong lớp….ngày càng tăng lên.Tuy nhiên, có một thực tế trong quá trình làm việc tôi gặp rất nhiều câu hỏi của phụ huynh khi đưa con đến khám với các biểu hiện như trên rằng “ Con tôi có phải bị tự kỉ không?”, thực tế này chỉ ra rằng chính các cha mẹ vẫn còn nhầm lẫn giữa các triệu chứng của tự kỷ và ADHD, cha mẹ còn có nhận thức sai lầm về bệnh và cách can thiệp Cũng có một thực tế các cha mẹ e ngại về tác dụng phụ của thuốc khi cho con sử dụng thuốc để can thiệp cho trẻ, nhiều phụ huynh băn khoăn đặt câu hỏi rằng: “Liệu uống thuốc có ảnh hưởng gì đến sức khỏe của trẻ không?”, chính vì thế nhiều cha mẹ đã tự ý dừng thuốc, bỏ thuốc trong quá trình can thiệp cho trẻ Cũng có rất nhiều cha mẹ đưa con đến khám do yêu cầu của giáo viên, do giáo viên phàn nàn quá nhiều về trẻ mà bản thân cha mẹ chưa nhận thức được vấn đề của trẻ

Việc điều trị cho những trẻ ADHD cũng cần được chú trọng để giảm bớt các hậu quả nghiêm trọng do hội chứng này gây ra, giúp trẻ hòa nhập tốt với trường lớp, gia đình và xã hội Trên thế giới, ở Bỉ , trong chính sách chăm sóc sức khỏe , suốt từ năm 2004 thuốc Ritalin là một trong những thuốc được

hỗ trợ đặc biệt để điều trị cho rối loạn này Ở Mỹ, trong những năm 1990, Chính phủ Mỹ trong cuộc cải cách xã hội với cam kết chi ra một khoản tiền lớn cho những trẻ có khó khăn học tập, mà ADHD là một trong những dự án này Tại Việt Nam cho đến thời điểm hiện tại, sự quan tâm của Nhà nước về sức khỏe tâm thần mới chỉ tập trung chủ yếu vào đối tượng người lớn mắc một số loại bệnh tâm thần nặng, nghiêm trọng như: tâm thần phân liệt, động kinh tâm thần, chậm phát triển tâm thần, mà ít chú trọng đến rối loạn như

Trang 11

ADHD Chính vì vậy, công tác sàng lọc phát hiện sớm và chăm chữa cho trẻ ADHD chủ yếu là do gia đình trong đó có vai trò đặc biệt quan trọng của cha

mẹ Tuy nhiên trình độ nhận thức của người dân Việt nam nói chung cũng như của các bậc phụ huynh nói riêng về rối loạn ADHD còn hạn chế Bằng chứng nghiên cứu đi trước cho thấy có nhiều cha mẹ vẫn quan niệm “trẻ nghịch, hiếu động mới là trẻ thông minh” nên công tác nhận diện, phát hiện và can thiệp sớm cho trẻ bị ADHD còn gặp rất nhiều rào cản (Trần Thành Nam, 2001) Nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Trang trên 110 cha mẹ về nhận thức về hội chứng ADHD ở học sinh tiểu học chỉ ra rằng có 71 cha mẹ (chiếm 64,5%) trả lời rằng mình đã từng nghe nói về ADHD, 39 người (chiếm 35,5%) chưa từng nghe qua

về ADHD ( Nguyễn Thị Phương Trang, 2016) Hiện tại ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu đủ độ tin cậy về nhận thức của cha mẹ đối với rối loạn này

Đó là những lý do thúc đẩy tôi thực hiện đề tài nghiên cứu : “ Nhận

thức về biểu hiện, nguyên nhân, cách can thiệp và hành vi tìm kiếm trợ giúp cho trẻ ADHD ở tuổi tiểu học.”

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Phân tích nhận thức của cha mẹ về các biểu hiện, nguyên nhân, cách can thiệp và hành vi tìm kiếm trợ giúp cho trẻ có biểu hiện ADHD Chỉ ra mối tương quan giữa nhận thức và hành vi tìm kiếm hỗ trợ của cha mẹ đối với trẻ ADHD Từ đó nhằm nâng cao nhận thức và đưa ra định hướng đúng trong việc tìm hỗ trợ phù hợp cho trẻ ADHD

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

2.2.1 Nghiên cứu lý luận

Phân tích và xây dựng những vấn đề lý thuyết có liên quan đến biểu hiện, nguyên nhân , cách can thiệp và hành vi tìm kiếm trợ giúp cho trẻ ADHD

2.2.2 Nghiên cứu thực tiễn

Phương pháp chính được sử dụng trong nghiên cứu là thiết kế, xây dựng bảng hỏi làm công cụ nghiên cứu Bộ công cụ được tác giả xây dựng

Trang 12

phục vụ cho đề tài nhằm tiến hành điều tra, thu thập các thông tin , tìm hiểu nhận thức về biểu hiện , nguyên nhân, cách can thiệp và cách thức tìm kiếm

trợ giúp cho trẻ ADHD , phân tích và xử lý số liệu thu thập được

3.Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Nhận thức của cha mẹ về các biểu hiện, nguyên nhân, cách can thiệp

và hành vi tìm kiếm trợ giúp cho trẻ có biểu hiện ADHD

3.2 Khách thể nghiên cứu

274 cha mẹ có con trong độ tuổi tiểu học đang sống trên địa bàn Hà Nội

4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

Mẫu nghiên cứu là 274 cha mẹ có con có biểu hiện tăng động giảm chú

ý trong độ tuổi tiểu học tại ba trường tiểu học trên địa bàn huyện Đan Phượng, ngoại thành Hà Nội

5 Giả thuyết nghiên cứu

- Nhận thức về nguyên nhân, biểu hiện, cách can thiệp đã có nhiều thay đổi tuy nhiên còn nhiều hạn chế

- Cha mẹ còn có hành vi tìm kiếm trợ giúp chưa phù hợp cho trẻ ADHD

- Có mối tương quan giữa nhận thức của cha mẹ về biểu hiện, nguyên nhân, hình thức can thiệp và hành vi tìm kiếm trợ giúp

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Nhằm hệ thống lại các cơ sở lý thuyết, tìm hiểu các công trình nghiên cứu đã có về ADHD, xem xét các vấn đề đã được nghiên cứu trong và ngoài nước bằng việc tham khảo các tài liệu, sách, báo, tạp chí, kỉ yếu từ đó xây dựng bảng hỏi về nhận thức của cha mẹ đối với các biểu hiện, nguyên nhân, cách can thiệp và hành vi tìm kiếm trợ giúp cho trẻ ADHD

6.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:

6.2.1 Bảng hỏi nhân khẩu học: tuổi, giới tính, trình độ học vấn, kinh tế… 6.2.2 Bảng hỏi về các biểu hiện tăng động giảm chú ý: thang Vanderbilt (cha

mẹ hoặc người chăm sóc báo cáo)

Trang 13

6.2.3 Bảng hỏi nhận thức về nguyên nhân, phương pháp can thiệp, hành vi tìm kiếm trợ giúp cho vấn đề ADHD

6.3 Phương pháp thống kê toán học: Từ số liệu thu được khi khảo sát thực

tế chúng tôi sẽ tiến hành tổng hợp, mã hóa , xử lý số liệu, và phân tích kết quả thông qua phần mềm SPSS nhằm trả lời câu hỏi nghiên cứu

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị , danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục khác , nội dung chính của luận văn sẽ được trình bày trong 3 chương :

Chương 1 : Cơ sở lý luận

Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Trang 14

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Những nghiên cứu bàn về nhận thức sức khỏe tâm thần và hành vi tìm kiếm trợ giúp

1.1.1.1.Nghiên cứu trên thế giới

Nghiên cứu của Francois Dabins và Jean – Claude Desenclos chỉ ra rằng nhu cầu về nhận thức của xã hội, của những người cầm quyền, cũng như

là nhận thức về tình trạng sức khỏe trong dân số, hay nhu cầu dự báo trước các nguy cơ và khả năng phản ứng trong những trường hợp khủng hoảng do vấn đề vệ sinh sức khỏe ngày càng trở lên cấp bách Những câu hỏi đặt ra với sức khỏe môi trường, những chấn thương và những bệnh mãn tính ngày càng trở lên phức tạp Do đó nhu cầu nhận thức về vấn đề sức khỏe tâm thần ngày càng cao Đã có rất nhiều nghiên cứu tìm hiểu về quan niệm, nhận thức của cộng đồng về các biểu hiện và nguyên nhân tổn thương sức khỏe tâm thần trên thế giới Như nghiên cứu của Mc Kenvey và David Sang trên 283 bậc cha

mẹ người Việt Nam cho thấy nhận thức các biểu hiện tổn thương sức khỏe tâm thần của trẻ được các cha mẹ xác định gồm các triệu chứng nặng như : mất định hướng, hoang tưởng, ảo giác, ý tưởng tự sát…các biểu hiện hành vi khác ít được chú ý hơn, 10% cha mẹ xác định các biểu hiện như : đánh nhau, rối loạn ăn uống, bỏ nhà đi, ăn cắp, lạm dụng chất là các biểu hiện tổn thương sức khỏe tâm thần Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng 50% cha mẹ cho rằng nếu con có biểu hiện tổn thương sức khỏe tâm thần thì cần tìm đến bác sỹ tâm thần, nhà tâm lý, hay các cơ sở chăm chữa khác [30, tr.512-514].Có một số cha mẹ khác tin vào các phương pháp không có bằng chứng khoa học như dùng thảo dược, tâm linh, châm cứu, bấm huyệt Hầu hết các nghiên cứu về tổn thương sức khỏe tâm thần đều cho thấy nhận thức chung trong cộng đồng

Trang 15

về các biểu hiện tổn thương sức khỏe tâm thần là các dấu hiệu nặng: nói điều

vô lý, cười nói một mình, bỏ nhà đi lang thang (Van der Ham et all.2011)

[25] Nghiên cứu của Gur K Sener và cộng sự trên 260 giáo viên cũng cho

thấy giáo viên đánh giá các biểu hiện nguy hiểm là các biểu hiện tổn thương sức khỏe tâm thần Các biểu hiện khác: kỹ năng xã hội kém, thu mình, xấu hổ

ít là các dấu hiệu tổn thương sức khỏe tâm thần [23]

Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng phần lớn bộ phận người dân còn định kiến về sức khỏe tâm thần và thiếu sự tìm kiếm điều trị Nghiên cứu của Kelly

và cộng sự (2007) chỉ ra rằng hầu hết các trường hợp không tìm kiếm sự trợ giúp chuyên nghiệp hoặc chỉ tìm tới sau khi khởi phát một thời gian dài [dẫn theo 4,tr 29].Số lượng lớn thanh thiếu niên có vấn đề về sức khỏe tâm thần không nhận được sự can thiệp chuyên nghiệp cần có (Patel và cs, 2007)[ dẫn the 4,tr29] Điều này càng rõ rệt ở các nước có thu nhập thấp và thu nhập trung bình (WHO, 2001).Thống kê lý do cho thực trạng này là sự thiếu kiến thức, các định kiến liên quan đến rối loạn tâm thần, và khó khăn trong tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc (Kieling và cs, 2011) [dẫn theo 4, tr29] Nghiên cứu của Merritt và cs (Anh, 2007)[dẫn theo 4,tr 29-37] trên 3313 sinh viên nhằm nâng cao nhận thức về trầm cảm, gồm nhận diện triệu chứng, hiểu biết

về điều trị và chiến lược tìm kiếm trợ giúp cho thấy có 69% đọc tờ rơi, ít hơn

½ số đó cho rằng trầm cảm có thể chữa, không có khác biệt đáng kể giữa hai nhóm Tuy nhiên, nhóm thực nghiệm có xu hướng nhận diện triệu chứng tốt hơn và biết thuốc chống trầm cảm không gây nghiện (dẫn theo Đặng Hoàng Minh và Hồ Thu Hà) [dẫn theo 4, tr 29-37]

1.1.1.2 Nghiên cứu trong nước

về các vấn đề tổn thương sức khỏe tâm thần nói chung như nghiên cứu của tác giả Trần Thành Nam năm 2003 “Quan niệm của các bậc cha mẹ về tổn thương sức khỏe tâm thần ở trẻ em ” cho thấy 78,8% hiểu tổn thương SKTT như các biểu hiện của tâm thần phân liệt ( bệnh nhân ít nhiều có biểu hiện của

Trang 16

bệnh tan rã nhân cách như mất ý thức, không nhận thức được người thân, kích động đập phá, áo giác , hoang tưởng…, chỉ có khoảng 11,8 % số người trả lời quan niệm tổn thương SKTT là các rối nhiễu ở thể nhẹ , có ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày của trẻ (không có khả năng học tập, tính khí thất thường, hay quên, ít nói…) Trong nghiên cứu này Trần Thành Nam cũng chỉ ra rằng cha mẹ có xu hướng nhận diện tổn thương SKTT thiên về các dấu hiệu cơ thể như rối loạn ngủ, kích động đập phá, hành vi tự sát, cáu kỉnh, chán ăn… nên cha mẹ thường đưa trẻ đến các bác sỹ chuyên khoa khác chứ không đưa trẻ đến bác sỹ chuyên khoa tâm thần , đặc biệt ít đưa đến các nhà tâm lý học [9]

Đa số phụ huynh nghĩ, chỉ khi học sinh có biểu hiện nặng như tổn thương về não, viêm não, mất ý thức, đần độn, kích động đập phá, có ảo giác, hoang tưởng, tự kỷ mới là bị bệnh Trong nghiên cứu của tác giả Đặng Thị Thanh Tùng về “Nhận thức và hành vi ứng xử của cha mẹ về biểu hiện, nguyên nhân tổn thương sức khỏe tâm thần ở trẻ em” chỉ ra rằng cha mẹ thường có xu hướng nhận diện các dấu hiệu tổn thương SKTT và bệnh tâm thần nặng nhiều hơn Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng 70% trở lên cha mẹ không nhận diện được các vấn đề như chống đối xã hội, nghiện game,stress, lo lắng,đau đầu, đau bụng là tổn thương sức khỏe tâm thần Cha mẹ nhận thức nguyên nhân gây ra bệnh/ vấn đề sức khỏe tâm thần chủ yếu là do các yếu tố sinh học và sang chấn tâm lý trong cuộc đời Số liệu cũng cho thấy cha mẹ có xu hướng không đồng ý yếu tố động cơ cá nhân hoặc yếu tố xã hội, tương tác liên cá nhân là nguyên nhân dẫn đến các bệnh tâm thần Chính vì vậy, họ có xu hướng không thừa nhận các vấn đề hành vi vi phạm pháp luật, chống đối xã hội, nghiện game, béo phì là các bệnh/ vấn đề SKTT Tuy nhiên, so sánh với các nghiên cứu đi trước, nhận thức của cha mẹ về nguyên nhân các bệnh tâm thần có sự chuyển biến theo hướng tích cực ở chỗ cha mẹ phần lớn không cho rằng yếu

tố tâm linh là nguyên nhân gây ra bệnh tâm thần Việc lựa chọn điều trị cũng mang tính khoa học hơn, phần lớn cha mẹ lựa chọn và tin vào hiệu quả trị liệu

dùng thuốc (Tây Y) và sau đó là trợ giúp từ nhà trường [16,tr290-297]

Trang 17

Những nghiên cứu về nhận thức về nhóm bệnh cụ thể chủ yếu tập trung vào nhận thức về tự kỷ, nhận thức về lo âu, trầm cảm như “Nhận thức về tự kỉ của sinh viên năm cuối các nghành chăm sóc sức khỏe tâm thần” của Trịnh Thanh Hương- năm 2013; “Nhận thức của sinh viên về rối loạn trầm cảm” của Nguyễn Thị Bình- năm 2015 Có rất ít nghiên cứu bàn về nhận thức về tăng động giảm chú ý

Có thể tóm lại các kết quả chính một số nghiên cứu trên thế giới và trong nước trong bảng dưới đây

Bảng 1.1 Một số điểm luận về các nghiên cứu bàn về nhận thức sức khỏe tâm thần và hành vi tìm kiếm trợ giúp trên thế giới và ở Việt Nam

giác, ý tưởng tự sát [30]

50% cha mẹ cho rằng nếu con có biểu hiện tổn thương sức khỏe tâm thần thì cần tìm đến bác sỹ tâm thần, nhà tâm lý, hay các

cơ sở chăm chữa khác [30]

thang [25]

Gur K Sener

et all

260 giáo

thời gian dài

Patel và cs,

2007

Số lượng lớn thanh thiếu niên có vấn đề về sức khỏe tâm thần không nhận được

sự can thiệp chuyên nghiệp cần có

Trang 18

Merritt và

cs (Anh,

2007)

3313 sinh

viên

Nhận thức về trầm cảm, gồm nhận diện triệu chứng, hiểu biết

về điều trị và chiến lược tìm kiếm trợ giúp cho thấy có 69%

đọc tờ rơi, ít hơn ½ số đó cho

78,8% hiểu tổn thương SKTT như các biểu hiện của tâm thần phân liệt (bệnh nhân ít nhiều có biểu hiện của bệnh tan rã nhân cách như mất ý thức, không nhận thức được người thân, kích động đập phá, áo giác, hoang tưởng) Cha mẹ có xu hướng nhận diện tổn thương SKTT thiên về các dấu hiệu cơ thể như rối loạn ngủ, kích động đập phá, hành vi tự sát, cáu kỉnh, chán ăn [9]

Cha mẹ thường đưa trẻ đến các bác sỹ chuyên khoa khác chứ không đưa trẻ đến bác sỹ chuyên khoa tâm thần, đặc biệt ít đưa đến

xã hội, nghiện game, stress, lo lắng,đau đầu, đau bụng là tổn thương sức khỏe tâm thần[16]

1.1.2 Những nghiên cứu bàn về nhận thức và hành vi tìm kiếm sự trợ giúp đối với tăng động giảm chú ý

1.1.2.1.Nghiên cứu trên thế giới

Đối với nhóm hành vi: nghịch ngợm, phá phách, ít tập trung chú ý, khó khăn trong hoạt động nhóm, khó hoàn thành nhiệm vụ, hay quên trong các

Trang 19

hoạt động hàng ngày…là các biểu hiện của tăng động giảm chú ý ảnh hưởng rất nhiều đến các hoạt động ở trường lớp, trong sinh hoạt cá nhân cũng như gia đình của trẻ Đây cũng là vấn đề đòi hỏi sự quan tâm của xã hội và cộng đồng Tuy nhiên mức độ nhận thức của cha mẹ, giáo viên là rất khác nhau Chính vì thế có rất nhiều nghiên cứu nhận thức của cộng đồng về rối loạn tăng động giảm chú ý đã được thực hiên Nghiên cứu của Schmiedeler (2013) trên 353 giáo viên tiểu học và trung học về kiến thức và quan niệm về ADHD bao gồm biểu hiện, chẩn đoán, nguyên nhân, và can thiệp cho thấy rằng có 54,2% trả lời đúng, 16,9% không chính xác, và 28,8% "không biết" Schmiedeler cũng báo cáo rằng các giáo viên giữ một quan niệm sai lầm đáng

kể về ADHD Còn các tác giả Blotnicky-Gallant, Martin, McGonnell, và Corkum (2014) đã nghiên cứu kiến thức và niềm tin của 113 giáo viên từ sáu trường học trên khắp Nova Scotia về ADHD cho thấy rằng chỉ có 68% có kiến thức về triệu chứng / chẩn đoán, và họ ghi nhận kém về nguyên nhân và cách thức can thiệp cho trẻ ADHD [28,tr 38-43] Năm 2002 tiến sỹ Pescosolido và cộng sự đã tiến hành cuộc khảo sát trên 1.139 người nhằm tìm

hiểu mức độ kiến thức và lựa chọn điều trị rối loạn tăng động giảm chú ý

(ADHD) Trong cuộc phỏng vấn, người trả lời trả lời câu hỏi về việc liệu họ

đã nghe nói về ADHD, những gì họ biết về ADHD, niềm tin của họ về việc liệu ADHD thực sự là một bệnh chỉ ra rằng dưới hai phần ba số người được hỏi (64%) đã nghe nói về ADHD; họ không thể cung cấp thông tin chi tiết về các rối loạn Phụ nữ và những người có trình độ học vấn cao hơn có nhiều khả năng đã nghe nói về ADHD; người Mỹ gốc Phi, các thành viên của các nhóm sắc tộc không phải là người da trắng khác ít có khả năng nghe nói về ADHD Trong số những người trả lời đã nghe nói về ADHD, 78% cho biết họ tin rằng ADHD là một bệnh thực; phụ nữ da trắng và người có thu nhập cao hơn thường tin vào điều đó[27, tr 626-631] Trong khi đó các nhà phê bình thì cho rằng ADHD không phải là một căn bệnh "thực" mà là một chuỗi các hành vi

mà cha mẹ và nhà trường không muốn hoặc không thể chịu đựng được Theo

Trang 20

các nhà phê bình, phụ huynh và giáo viên chấp nhận nhãn chẩn đoán và kê đơn thuốc kích thần (psychostimulant) vì đó là giải pháp tương đối đơn giản, không tốn kém, và cho tác dụng nhanh để giải quyết các vấn đề phức tạp Các nhà phê bình cho rằng ADHD là chẩn đoán quá mức và rằng trẻ em đang được điều trị không cần thiết và không phù hợp

Một số nghiên cứu khác đo kiến thức ADHD và quan niệm sai lầm về ADHD chỉ ra rằng niềm tin vào kiến thức có sức mạnh rất lớn ảnh hưởng đến việc tìm kiếm sự trợ giúp cho trẻ có ADHD (Anderson, Watt, Noble, & Shanley, 2012; Dole & Sinatra, 1998; Taylor & Kowalski, 2004) Do đó, một niềm tin mạnh mẽ trong nhận thức không chính xác có thể là một rào cản trong tìm sự giúp đỡ hoặc sử dụng một hình thức cụ thể trong điều trị ADHD

Ví dụ, cha mẹ giữ quan niệm sai lầm mạnh mẽ về việc sử dụng thuốc kích thần cho ADHD (ví dụ, họ dẫn đến lạm dụng chất lớn hơn) có thể miễn cưỡng xem xét lựa chọn điều trị này cho con của họ hoặc họ có thể trì hoãn tìm sự giúp đỡ ở nơi đầu tiên nếu thuốc được coi là sự can thiệp đầu tiên Những bậc cha mẹ, lần lượt, có thể tìm thấy phương pháp điều trị ít được chấp nhận hơn Cha mẹ khác có thể giữ quan niệm sai lầm tương tự, nhưng không phải là mạnh mẽ Những phụ huynh có thể dễ tiếp thu thông tin mới và có thể được

mở để thay đổi nhận thức của họ theo thời gian Những thay đổi trong nhận thức có cha mẹ có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc cải thiện và duy trì sự tiến bộ trong quá trình điều trị (Hoza et al., 2006) Nói chung, phụ huynh của trẻ em bị ADHD có xu hướng tìm kiếm thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm cả chăm sóc sức khỏe của nhân viên chuyên nghiệp, nhân viên nhà trường, các mạng xã hội, Internet, và các nguồn phương tiện truyền thông khác Một nguồn tin đặc biệt quan trọng có thể là Internet vì nhiều cá nhân sử dụng Internet như một nguồn tìm kiếm những thông tin về ADHD (Akram et al, 2009;Bussing et al, 2012)

Theo nghiên cứu của Mark J Sciutto trên 196 người về quan niệm, nhận

thức và sự chấp nhận điều trị đối với ADHD nhằm mục đích khám phá yếu tố

Trang 21

ảnh hưởng đến quyết định giúp đỡ, tìm kiếm đó là kiến thức và quan niệm sai lầm về ADHD và chấp nhận điều trị chỉ ra rằng mức cao hơn của quan niệm sai lầm về ADHD có liên quan với sự chấp nhận thấp hơn của thuốc và sự chấp nhận cao hơn của các can thiệp dinh dưỡng Còn trong nghiên cứu của Johnston, Seipp, Hommersen, Hoza, và Mỹ (2005) chỉ ra rằng cha mẹ với nhiều niềm tin hợp lý về ADHD và điều trị của nó cho thấy sự chấp nhận và sử dụng cả hai phương pháp điều trị hành vi và thuốc men cho ADHD hơn Những người có niềm tin sai lầm về ADHD có nhiều khả năng tìm thấy sự can thiệp thay thế (ví

dụ, chế độ ăn uống) là chấp nhận hơn (Johnston et al., 2005) Trong nghiên cứu

về mức độ kiến thức và sử dụng điều trị của Pescosolido chỉ ra rằng hầu hết

người được hỏi (65%) đã thông qua việc sử dụng cả tư vấn và dùng thuốc, mặc

dù tư vấn đã được xác nhận như là một điều trị duy nhất thường xuyên hơn so với thuốc.Trong một nghiên cứu khác dựa trên dữ liệu từ năm 1998 Social Survey, McLeod và các đồng nghiệp [32] báo cáo có khoảng 30% số người được hỏi nói rằng họ rất sẵn sàng hay phần nào sẵn sàng để cung cấp thuốc cho một đứa trẻ có triệu chứng phù hợp với chẩn đoán ADHD.Trong khi đó, ít người nghĩ rằng trẻ em bị ADHD nên không được điều trị, nhiều người trả lời hơn thể hiện một sở thích cho điều trị kết hợp

Một nghiên cứu khác cho thấy mức độ nhận thức và sự e ngại của cha

mẹ do hậu quả của tăng động giảm chú ý gây ra là khá rõ ràng Theo cuộc điều tra trên 102 phụ huynh có con ADHD của IPSOS y tế thuộc Vương Quốc Anh - 2004 cho thấy các cha mẹ lo ngại về tương lai của trẻ, và cho rằng trẻ

bị ADHD thường phải đối mặt với sự cô lập xã hội Có 94 % cha mẹ đồng ý với các tuyên bố: ADHD đe dọa đến thành tích học tập và hạn chế thành công trong sự nghiệp tương lai của trẻ, 89 % cha mẹ đồng ý với ý kiến cho rằng các sinh hoạt trong gia đình bị gián đoạn, 76 % đồng tình với ý kiến cho rằng rất khó khăn khi đi cùng trẻ đến một nơi nào đó và khó khăn trong việc tìm người trông giữ trẻ Nghiên cứu này cũng cho thấy các cha mẹ cho rằng ADHD ảnh hưởng lớn lên cuộc sống gia đình: thời gian để cho một trẻ ADHD ngủ lâu

Trang 22

hơn nhiều so với trẻ bình thường Một nghiên cứu khác của Adore thuộc Anh cũng chỉ ra sự lo ngại của cha mẹ về tương lai của trẻ và sự cô lập xã hội mà trẻ ADHD gặp phải, kết quả nghiên cứu chỉ ra có gần một nửa số trẻ bị ADHD không được mời đến các sự kiện xã hội , trong một tháng có 45 % trẻ ADHD không bao giờ được mời , 30 % trẻ ADHD không được mời hơn 3 lần, trẻ được mời đến các sự kiện xã hội là rất ít chỉ 14 % trẻ được mời 1 lần, 6 % được mời 2 lần, 5 % được mời 3 lần Cũng theo một nghiên cứu của IPSOS năm 2005 trên các cha mẹ có con từ 5-16 tuổi cho thấy hầu hết bố mẹ trẻ có con có ADHD cảm thấy mệt mỏi và bị ảnh hưởng bởi hành vi kéo dài của trẻ trong ngày,và hiệu suất ở trường của trẻ, 80 % cha mẹ cảm thấy mệt mỏi với các hành vi kéo dài, 70 % cha mẹ cảm thấy mệt mỏi và ảnh hưởng bởi hiệu suất làm việc ở trường của trẻ.Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng hầu hết các bậc cha mẹ của trẻ ADHD cảm thấy quá mệt mỏi để bình thường hóa các mối quan hệ xã hội, 64 % các cha mẹ đã hủy các sự kiện xã hội do mệt mỏi Từ những nghiên cứu trên cho thấy cha mẹ nhận thức khá rõ về biểu hiện, những khó khăn của trẻ ADHD, tuy nhiên các cha mẹ chưa có cách thức tìm kiếm hỗ trợ phù hợp để giúp đỡ trẻ cũng như giảm bớt những căng thẳng và mệt mỏi

do tình trạng bệnh của trẻ gây ra (Chew St., Allentown, PA 18.104, Hoa Kỳ.)

1.1.2.2 Nghiên cứu trong nước

Hiện tại, ở Việt Nam có nhiều nghiên cứu về tăng động giảm chú ý ở trẻ em, tuy nhiên các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào tỉ lệ mắc tăng động giảm chú ý, các đặc điểm tâm lý lâm sàng của trẻ ADHD như: “Đặc điểm tâm lý lâm sàng của học sinh tiểu học có rối loạn tăng động giảm chú ý” tác giả Nguyễn Thị Vân Thanh – năm 2010 “Tìm hiểu một số đặc điểm lâm sàng của rối loạn tăng động giảm chú ý của trẻ em từ 6-10 tuổi” tác giả Đỗ Minh Thúy Liên- năm 2013 “Thực trạng rối loạn tăng động giảm chú ý ở 2 trường tiểu học tại Hà nội” tác giả Nguyễn Thị Vân Thanh- Nguyễn Sinh Phúc - năm 2007 “Nghiên cứu tỉ lệ học sinh tiểu học có tăng động giảm chú ý tại quận Ba Đình- Hà Nội” tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền – Năm 2012 Có

Trang 23

một số nghiên cứu nhận thức về tăng động giảm chú ý như “Nhận thức của giáo viên tiểu học về chiến lược quản lý hành vi đối với trẻ có dấu hiệu tăng động giảm chú ý trong một số trường tiểu học ở Hà Nội” của tác giả Nguyễn Linh Trang-2012 cho thấy hầu hết giáo viên đều biết về thuật ngữ “tăng động giảm chú ý” Tuy nhiên hiểu biết chung về bệnh còn hạn chế và có mức độ không đồng đều nhau ở nhóm giáo viên Nghiên cứu “Nhận thức của cha mẹ

về hội chứng rối loạn tăng động giảm chú ý ở học sinh tiểu học” của Nguyễn Thị Phương Trang-2016 ở Đà Nẵng cho thấy 64,5% cha mẹ đã từng nghe nói

về ADHD, 35,5% chưa từng nghe qua về ADHD Ở Việt Nam, các nghiên cứu có đủ độ tin cậy về nhận thức của cha mẹ đối với tăng động giảm chú ý gần như là chưa có Nó chỉ được đề cập đến như một phần nhỏ trong các nghiên cứu nhận thức về sức khỏe tâm thần, như trong nghiên cứu của Trần Thành Nam (2001) thì cha mẹ hay đánh đồng tăng động với trẻ hiếu động nghịch ngợm, và là biểu hiện của một đứa trẻ thông minh, ham mê khám phá Trong nghiên cứu của Đặng Thị Thanh Tùng (2014) thì cha mẹ nhận thức tốt hơn các dấu hiệu của tăng động giảm chú ý Do đó việc nghiên cứu nhận thức của cha mẹ về biểu hiện, nguyên nhân, cách thức can thiệp và hành vi tìm kiếm cho trẻ có tăng động giảm chú ý là cần thiết Để từ đó thiết lập chương trình giáo dục nhận thức cho cha mẹ hiểu rõ hơn về hội chứng tăng động giảm chú ý, và có cách thức tìm kiếm hỗ trợ phù hợp

Để tóm lại về những nghiên cứu đi trước liên quan đến nhận thức về ADHD và hành vi tìm kiếm trợ giúp Xin xem bảng 1.2 dưới đây

Trang 24

Bảng 1.2 Một số điểm luận về các nghiên cứu bàn về nhận thức ADHD

và hành vi tìm kiếm trợ giúp trên thế giới và ở Việt Nam

Tác giả Số mẫu Nhận thức Hành vi tìm kiếm trợ giúp

Schmiedeler

(2013)

353 giáo viên tiểu học và

trung học

Kiến thức và quan niệm về ADHD bao gồm biểu hiện, chẩn đoán, nguyên nhân, và can thiệp cho thấy rằng có 54,2% trả lời đúng, 16,9% không chính xác, và 28,8%

họ ghi nhận kém về nguyên nhân và cách thức can thiệp cho trẻ

về ADHD;họ không thể cung cấp thông tin chi tiết về các rối loạn, 78% cho biết họ tin rằng ADHD là một

Mức cao hơn của quan niệm sai lầm về ADHD có liên quan với sự chấp nhận thấp hơn của thuốc và sự chấp nhận cao hơn của các

can thiệp dinh dưỡng

sử dụng một hình thức cụ

thể trong điều trị ADHD

Trang 25

Nguyễn Thị

Phương

Trang(2016)

64,5% cha mẹ đã từng nghe nói về ADHD, 35,5% chưa từng nghe qua về

ADHD

Không đề cập

1.1.3 Nghiên cứu về rối loạn tăng động giảm chú ý

1.1.3.1 Lịch sử thuật ngữ tăng động giảm chú ý

Rối loạn tăng động giảm chú ý là một hội chứng thường xuất hiện ở một số trẻ trong lứa tuổi mẫu giáo và những năm đầu bậc tiểu học Hội chứng này đã được mô tả lần đầu tiên bởi bác sỹ Henrich Hofman vào năm 1845 Ông là một bác sỹ chuyên viết sách về y học và tâm thần học, ông quan tâm viết sách cho trẻ em vì bản thân ông không tìm được tài liệu nào để đọc và giải nghĩa cho hành vi của cậu con trai lên 3 tuổi của mình Sau đó ông đã viết một cuốn sách bằng thơ có đầy đủ tranh minh họa về trẻ em và những đặc điểm tính cách của chúng “ The storry of Fidgety Pilip” mô tả chính xác chân dung một cậu bé có rối loạn tăng động giảm chú ý Tuy nhiên, mãi đến năm

Trang 26

1902, rối loạn này mới được mô tả rõ ràng trong một loạt bài giảng cho Hội y học Hoàng gia Anh của bác sỹ George F.Still, trong đó ông mô tả một nhóm các trẻ hiếu động có những dấu hiệu bất thường về hành vi : tăng động, không thể tập trung, có những khó khăn về vấn đề học Những bài giảng của ông chứng minh ADHD là do rối loạn chức năng di truyền chứ không phải do dạy

dỗ kém Kể từ đó, hàng nghìn tài liệu khoa học về ADHD đã được xuất bản, cung cấp thông tin về bản chất tự nhiên, tiến triển, nguyên nhân, các tật chứng

và các phương pháp điều trị bệnh ADHD

Tuy nhiên kết quả những mô tả này không được chú ý, chỉ đến những năm 1917- 1920, ADHD xuất phát từ trận dịch viêm não trên thế giới Những đứa trẻ sống xót qua đại dịch này chịu hậu quả rất lớn đó là chúng gặp rất nhiều vấn đề về hành vi gồm kém chú ý, quá hiếu động và dễ bị kích động Trong những năm 30, các bác sỹ nói về “sự đau đớn của não bộ” để miêu

tả bức chân dung của tăng động bị gây ra bởi mối liên hệ thần kinh và bệnh tổn thương não Trong thời kì đầu tiên, Benzen (1937) đã đưa ra những giả thuyết về thần kinh sinh học trong rối lọan này Năm 1947, Strauss nói về “Tổn thương não tối thiểu” để giải thích cho rối loạn hành vi ở trẻ em Vào cuối những năm

1950, có hai quan điểm đối lập nhau,những quan điểm đồng ý với giả thuyết tăng động giảm chú ý là hậu quả của “ Rối loạn chức năng não tối thiểu ”, đối lập với quan điểm của phân tâm cho rằng hậu quả của rối loạn này là do vấn đề các mối quan hệ ,môi trường và giáo dục [35,tr4-tr10] Những quan điểm khác nhau này kéo dài suốt những năm 1960 thể hiển bởi sự phân tách rõ ràng giữa

Mỹ và Châu Âu Mỹ thì cho rằng tăng động giảm chú ý là hội chứng hành vi thường xuyên xảy ra Những nước cộng đồng pháp ngữ bị tác động bởi thuyết phân tâm cho rằng sự mất cân bằng vận động giống như là hội chứng rối loạn chức năng trong mối quan hệ giữa bố mẹ và con cái

Đến năm 1972, Virginia I Douglas tiếp cận tăng động giảm chú ý nhiều hơn theo hướng nhận thức, ông miêu tả những đứa trẻ tăng động không

có khả năng dừng lại, quan sát và lắng nghe [35, tr10]

Trang 27

Từ năm 2000, khái niệm ADHD mới được phổ biến Cho đến nay rối loạn tăng động giảm chú ý đã trở thành một khái niệm và được mô tả nhất quán và cụ thể trong tiêu chuẩn chẩn đoán DSM - 4 và ICD 10

1.1.3.2 Nghiên cứu về tỉ lệ mắc tăng động giảm chú ý và các rối loạn đi kèm khác

Tăng động giảm chú ý là rối loạn tâm thần thường gặp nhất ở trẻ em và thanh thiếu niên (TE&TTN) Tại Pháp, theo báo cáo của bác sỹ Pierrick Hordes vào tháng 9/2016 trên báo phụ nữ với sức khỏe y tế thì rối loạn ADHD là một rối loạn phát triển thần kinh liên quan đến 3,5-6,5 % trẻ em trong độ tuổi đi học và nó tồn tại đến tuổi trưởng thành trong 65% các trường hợp [34]. Cũng theo báo cáo của Bác sỹ nhi khoa Jean Jurgeon và cộng sự vào tháng 7 năm 2014 ước tính có khoảng 5-8% dân số bị ADHD

Ở Bỉ, theo tác giả Isabell Wodon thì trong tâm thần học trẻ em, ADHD chiếm khoảng 5-15%, gấp 3 lần trong dân số nói chung [35]

Ở Mỹ, theo thống kê dịch tễ học cho thấy có khoảng từ 5-10% trẻ em tăng động trong dân số nói chung và tăng gấp bốn lần trong các toa thuốc điều trị tâm thần trong mười năm qua (Szatmari P et all,1989) Cũng theo một nghiên cứu dịch tễ học trên gần 6.000 trẻ em ở Roscherter, tỉ lệ tích lũy ADHD ở học sinh tiểu học và trung học trong dân số nói chung là 7,5% (Barbaresi et al, 2002), một tỉ lệ tương tự là 6,7% về ADHD được tìm thấy bởi các điều tra phỏng vấn Sức khỏe Quốc gia Hoa kỳ cho giai đoạn 1997-

2000 (Woodruff et al., 2004 [19 , tr 895 -896] )

Ở Nigeria sự phổ biến của ADHD là 8,7% ở tuổi tiểu học và ở học sinh trung học là rất cao (Adewuya & Famuyiwa, 2007; Ofovwe, Ofovwe, & Meyer, 2006)[28, tr 38- 43]

Ở Việt Nam, theo báo cáo của tác giả Nguyễn Văn Lương, bệnh viện tâm thần trung ương Huế thì hiện nay tỉ lệ mắc rối loạn ADHD ở lứa tuổi tiểu học là từ 3-5 % và ngày càng gia tăng Nghiên cứu tỉ lệ học sinh có rối loạn

Trang 28

ADHD tại quận Ba Đình của Nguyễn Thu Hiền là 9,3% Còn một số nghiên cứu ở Hà Nội và Tp.HCM của tác giả Nguyễn Thị Vân Thanh (2010), Lê Thị Minh Hà (2013)… cho kết quả có khoảng 1 - 4% trẻ ở độ tuổi học sinh tiểu học gặp phải hội chứng này

Tăng động giảm chú ý ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động cá nhân, trường học, gia đình và xã hội của trẻ Nếu không được phát hiện và chữa trị kịp thời có thể gây những hậu quả nghiêm trọng khi trưởng thành Theo báo cáo của Goldman LS và cộng sự, có khoảng 44% trẻ ADHD có thể có ít nhất một rối loạn tâm thần khác như rối loạn thách thức chống đối, rối loạn lo âu, rối loạn học tập, rối loạn khí sắc, rối loạn cư xử, hút thuốc, lạm dụng chất, tics [22,tr279,tr1100-1107].Theo Barley RA thì 32% trẻ ADHD có 2 rối loạn khác

đi kèm [20] Theo Szatmani P và cộng sự thì 11% trẻ ADHD có ít nhất 3 rối loạn khác đi kèm (Szatmani P et all,1989) Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng 54%

- 84% trẻ em và thanh thiếu niên với tiêu chí ADHD có rối loạn thách thức chống đối (ODD); một phần đáng kể của các bệnh nhân này sẽ phát triển rối loạn hành vi (CD; Barkley, 2005; Faraone et al., 1997) 15%- 19% bệnh nhân ADHD sẽ bắt đầu hút thuốc lá (Milberger et al., 1997) hoặc phát triển các rối loạn lạm dụng chất gây nghiện khác (Biederman et al., 1997) 25% - 35% bệnh nhân ADHD sẽ có một vấn đề học tập hoặc ngôn ngữ cùng tồn tại (Pliszka et al., 1999) [19, tr 895 -896] Ở Mỹ có khoảng 20-30% trẻ ADHD có rối loạn về học, trong đó rối loạn đọc (chứng khó đọc được biết đến nhiều nhất) Trẻ ADHD cũng gặp khó khăn gấp 10 lần so với trẻ bình thường, có nhiều khả năng có tổn thương lớn hơn trẻ bình thường 10 % (Dẫn theo Nguyễn Linh Trang 2012) Theo báo cáo của Touzin và cộng sự năm 1997 thì trẻ ADHD có nguy cơ thất bại trường học gấp 2-3 lần so với những trẻ cùng lứa tuổi, và 50% trẻ ADHD gặp thất bại ở trường học và nó kéo dài đến tuổi trưởng thành [39].Trẻ ADHD cũng thường gặp vấn đề về giấc ngủ Theo một

số tác giả (Mick, 2000; Chervin, 2001; Corkum, 2001) có khoảng 30-40% trẻ

Trang 29

ADHD xuất hiện các triệu chứng mất kiên nhẫn, cử động luôn chân tay dẫn đến những khó khăn về giấc ngủ

1.2 Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài

1.2.1 Nhận thức

1.2.1.1 Khái niệm nhận thức

Thông qua hoạt động nhận thức mà con người làm chủ được thiên nhiên, xã hội và làm chủ chính bản thân mình trong suốt quá trình sống và hoạt động Nhờ có hoạt động nhận thức mà con người có thể sống, tồn tại và

phát triển liên tục cho đến ngày nay

Theo từ điển Tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê định nghĩa “Nhận thức

là một quá trình hoặc kết quả của sự phản ánh và tái hiện hiện thực và trong

tư duy, là quá trình con người nhận biết, hiểu biết về thế giới quan hoặc kết

quả của quá trình đó” ( dẫn theo Nguyễn Thu Trang 2017)

Theo quan điểm của K.K.Platonop – nhà Tâm lý học Liên Xô “Nhận

thức là quá trình thu nhận những tri thức chân thực trong thế giới khách quan trong quá trình hoạt động xã hội” Nói đến nhận thức tức là nói đến tính tích

cực của con người, nói đến khả năng phản ánh những thuộc tính của sự vật, hiện tượng, mối quan hệ của chúng trong hiện thực khách quan thông qua hoạt động thực tiễn của con người Con người sống trong những điều kiện tự nhiên và môi trường xã hội nhất định, đòi hỏi phải nhận thức được các quy luật của tự nhiên, cải tạo xã hội phục vụ cho mục đích của con người (dẫn

theo Nguyễn Thu Trang 2017)

Tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu các nhà nghiên cứu đưa ra các cách định nghĩa khác nhau về khái niệm nhận thức

1.2.1.2.Mối quan hệ giữa nhận thức và các hiện tượng tâm lý

Mối quan hệ giữa nhận thức và xúc cảm, tình cảm

Giữa phản ánh nhận thức và phản ánh xúc cảm, tình cảm có mối quan

hệ qua lại chặt chẽ với nhau Phản ánh nhận thức là tiền đề cho phản ánh xúc cảm, tình cảm Trái lại, xúc cảm, tình cảm cũng có vai trò tác động, củng cố

Trang 30

nhận thức để nhận thức hoàn thiện và sâu sắc hơn Xúc cảm, tình cảm là động lực kích thích con người nhận thức, thúc đẩy mạnh mẽ con người tìm tòi chân

lý Có thể nói xúc cảm, tình cảm nảy sinh trên cơ sở nhận thức, khi nảy sinh, hình thành xúc cảm, tình cảm thì nó lại có tác động trở lại nhận thức, thậm chí

có thể làm biến đổi nhận thức (Nguyễn Thu Trang 2016)

Mối quan hệ giữa nhận thức và hành vi

Trong mối quan hệ giữa nhận thức và hành vi, có thể nói rằng nhận thức có vai trò quan trọng trong việc hình thành nên thái độ và thực hiện hành

vi của con người Nhận thức là tiền đề, là sự định hướng và sự điều chỉnh hành vi của cá nhân, trong hoạt động thực tiễn Nhận thức và hành vi luôn có mối quan hệ qua lại hai chiều Khi con người nhận thức đúng về một vấn đề, một sự vật, hiện tượng nào đó thì nó sẽ định hướng điều chỉnh, thúc đẩy hành động của con người theo hướng tích cực, phù hợp với chuẩn mực xã hội

(Nguyễn Thu Trang 2016)

1.2.1.3 Các mức độ của nhận thức

Theo B.S.Bloom – Nhà Sư phạm người Mỹ, năm 1956 ông và các cộng

sự biên soạn tài liệu về “Hệ phân loại các mục tiêu sư phạm, lĩnh vực nhận thức” B.S.Bloom đưa ra 3 khía cạnh đánh giá: nhận thức, thái độ, hành vi Ông đã chia nhận thức thành nhiều mức độ khác nhau, và phân loại mục tiêu nhận thức ra 6 mức độ từ thấp đến cao Mỗi mức độ đặc trưng cho hoạt động trí tuệ ( dẫn theo Trịnh Thanh Hương 2014)

Mức 1: Biết – đưa vào trí nhớ và phục hồi lại thông tin của cùng một đối tượng nhận thức, ghi nhớ, có thể nhắc lại các sự kiện, định nghĩa các khái

niệm, nội dung các định luật

Mức 2: Hiểu – Có thể thuyết minh, giải thích, chứng minh những kiến thức đã lĩnh hội (phục hồi ngữ nghĩa thông tin trong những đối tượng khác

nhau, thiết lập liên hệ ở những đối tượng khác nhau)

Trang 31

Mức 3: Vận dụng – Có thể áp dụng kiến thức vào những tình huống mới, khác với trong bài học (sử dụng các quy tắc, nguyên tắc, những phác đồ

giải quyết một vấn đề nào đó)

Mức 4: Phân tích – Biết phân chia một toàn thể thành các bộ nhận, một vấn đề lớn thành những vấn đề nhỏ hơn, làm sáng tỏ những mối quan hệ giữa các bộ phận (đồng nhất những bộ phận tạo nên cái tổng thể, từ đó phân biệt

đối tượng trong ý tưởng đó)

Mức 5: Tổng hợp – Biết sắp xếp các bộ phận thành toàn thể thống nhất, ghép các vấn đề nhỏ thành các vấn đề lớn hơn, tạo thành một tổng thể mới liên kết tất cả các bộ phận tạo nên tổng thể

Mức 6: Đánh giá – Có thể nhận định, phán đoán về giá trị, ý nghĩa của mỗi kiến thức (tạo thành những phán đoán về số lượng cũng như chất lượng thao tác tạo nên chất lượng của trí tuệ)

Hai mức độ đầu là mức nhận thức cơ bản, 4 mức độ sau là nhận thức ở mức nâng cao (là thao tác tư duy phức tạp) Với cách phân chia rõ ràng và cụ thể của hệ phân loại này đã giúp nhiều nhà nghiên cứu tìm ra thang đánh giá nhận thức dễ dàng và hiệu quả trong các nghiên cứu về nhận thức

Trong đề tài này, Chúng tôi áp dụng kết hợp nội dung đánh giá của B.S.Bloom và giới hạn ở 3 mức độ nhận thức: Biết, hiểu và vận dụng để đánh giá mức độ nhận thức của cha mẹ về ADHD

1.2.2 Tăng động giảm chú ý

1.2.2.1 Khái niệm ADHD

Tăng động ở trẻ em là một dạng rối loạn hành vi Cách biểu lộ tùy theo tuổi, nhân cách của trẻ và văn hóa nơi trẻ lớn lên Rối loạn hành vi có khi toàn

bộ, có khi khu trú Rối loạn khu trú có nhiều loại, thông thường nhất là cơn giận giữ, thể hiện ra bởi nhiều hình thức khác nhau và có thể đi đến chỗ mất

tự chủ, xâm hại mình hay người khác Tăng động thuộc vào nhóm rối loạn hành vi có tính toàn bộ, cùng với thu mình, vô cảm, trơ lì…Dù cho đã có

Trang 32

những biến chuyển về mặt thuật ngữ cũng như về mô tả hành vi cụ thể, tăng động không phải là một rối loạn mới xuất hiện, vì nó đã được mô tả và nhắc đến từ giữa thế kỉ XIX [34, tr 61]

Theo ICD-10, rối loạn tăng động giảm chú ý (thuộc mục F90) là các

rối loạn được đặc trưng bởi: dấu hiệu khởi phát sớm, là sự kết hợp của hành vi hoạt động quá mức, kém kiểm tra với thiếu chú ý rõ rệt và thiếu kiên trì trong công việc, và những đặc điểm hành vi lan tỏa trong một số lớn hoàn cảnh và kéo dài thời gian [18, tr 258]

Theo bảng phân loại bệnh quốc tế DSM-IV (APA, 1996) thì đặc trưng

chủ yếu của rối loạn tăng động giảm chú ý là sự tồn tại dai dẳng và thường xuyên của sự thiếu tập trung chú ý và tăng hoạt động quá mức bình thường so với những trẻ bình thường khác cùng tuổi phát triển

Người ta thường nghĩ rằng những nét bất thường về thể chất đóng một vai trò chủ yếu trong sự phát sinh những rối loạn này nhưng nguyên nhân đặc hiệu hiện nay chưa được biết Trong những năm gần đây người ta đưa ra thuật ngữ “rối loạn sự suy giảm chú ý” để chẩn đoán rối loạn này Nhưng ở đây nó không được dùng bởi vì nó đòi hỏi tri thức về các quá trình tâm lý mà chúng

ta chưa có sẵn, và nó gợi ý đưa vào chẩn đoán này những em bé thường hay

lo lắng, bận tâm hoặc vô cảm, mơ mộng mà những khó khăn của chúng có lẽ

có tính chất khác Tuy nhiên, về phương diện hành vi, rõ ràng là những khó khăn trong sự chú ý là nét trung tâm của hội chứng tăng động này [18, tr 258]

Các rối loạn tăng động luôn bắt đầu sớm trong quá trình phát triển (thông thường trong 5 năm đầu của cuộc đời) Các nét đặc trưng chính của chúng là thiếu sự kiên trì trong các hoạt động đòi hỏi sự tham gia của nhận thức, và khuynh hướng chuyển từ hoạt động này sang hoạt động khác nhưng không hoàn thành cái nào cả, kết hợp với một hoạt động quá đáng thiếu tổ chức và kém điều tiết Sự thiếu xót này thường kéo dài trong suốt quá trình đi học và sang cả tuổi thành niên, nhưng sự chú ý và hoạt động của một số lớn các đối tượng được cải thiện dần dần [18, tr258]

Trang 33

Nhiều bất thường khác có thể kết hợp với các rối loạn này Những trẻ

em tăng động thường dại dột và xung động, dễ bị tai nạn và bản thân chúng thường có những vấn đề về kỷ luật do thiếu tôn trọng các quy tắc, việc thiếu tôn trọng này là kết quả của sự thiếu suy nghĩ (hơn là cố tình chống đối) Các quan hệ của chúng đối với người thành niên thường là thiếu kiềm chế về mặt

xã hội, thiếu thận trọng và dè dặt, chúng không được trẻ khác thừa nhận và dễ

bị trở lên cô lập Các tật chứng về nhận thức cũng thường gặp và các trạng thái chậm phtas triển đặc hiệu về vận động và ngôn ngữ cũng thường gặp nhiều hơn một cách không cân xứng [18, tr258]

Các triệu chứng thứ phát bao gồm tác phong chống đối xã hội và tự ti

Do vậy có sự gối lên nhau quan trọng giữa tăng động và các rối loạn hành vi khác như rối loạn hành vi ở những người không thích ứng xã hội Tuy nhiên những bằng chứng hiện nay nghiêng về sự phân ra một nhóm rối loạn trong

đó tăng động là một vấn đề trung tâm [18, tr259]

1.2.2.2 Chẩn đoán rối loạn tăng động giảm chú ý

Nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán

Theo ICD -10: Các nét đặc trưng chủ yếu là sự chú ý và tăng hoạt động,

cả 2 tiêu chuẩn này đều cần thiết cho chẩn đoán, và phải được thấy rõ ràng trong nhiều hoàn cảnh (ở lớp, ở nhà, ở trường…) [18, tr 259]

Trang 34

-Chạy và nhảy liên tục hoặc đứng dậy khỏi chỗ trong khi người ta yêu cầu ngồi yên

-Nói quá mức hoặc làm ồn ào

-Cựa quậy không ngừng trong khi ngồi [18, tr259]

Tiêu chuẩn để đánh giá là mức độ hoạt động quá cao trong khuôn khổ người ta chờ đợi ở một đứa trẻ trong một hoàn cảnh nhất định và so sánh với đưa trẻ khác cùng lứa tuổi cùng mức độ trí tuệ Đặc điểm hành vi này biểu hiện rõ ràng hơn trong những hoàn cảnh có tổ chức, có cấu trúc đòi hỏi một

sự kiểm tra bản thân ở mức độ cao [18, tr259]

Các triệu chứng không đủ hoặc không cần thiết để đặt chẩn đoán Thiếu kiềm chế trong các mối quan hệ xã hội, sự dại dột trong những hoàn cảnh nguy hiểm, sự coi thường các quy tắc xã hội một cách xung động (như can thiệp vào hay làm gián đoạn những công việc của người khác, hoặc vội vã đưa ra những câu trả lời cho những câu hỏi trước khi chúng được phát biểu đầy đủ, hoặc không yên tâm chờ đợi đến lượt mình) tất cả là những nét đặc trưng của những trẻ có rối loạn này [18, tr 259,260]

Các khó khăn trong học tập và sự vụng về trong vận động xuất hiện với tần số bất thường phải được ghi chú riêng (từ F80-F89) nếu có, nhưng chúng không được xem như là một thành phần của chẩn đoán hiện tại về rối loạn tăng động Các triệu chứng rối loạn hành vi không phải là những chỉ tiêu bao gồm hay loại trừ chẩn đoán nhưng có chúng hay không có chúng là cơ sở để phân chia chủ yếu của rối loạn [18, tr260]

Các rối loạn hành vi đặc trưng phải xuất hiện sớm (trước 6 tuổi) và tồn tại lâu dài Tuy nhiên tăng động khó phát hiện trước tuổi vào trường bởi vì các biến đổi của trạng thái bình thường rất rộng, chỉ những cách biệt thật xa mới phải làm chẩn đoán ở trẻ trước tuổi đi học [18, tr260]

Trang 35

Ở tuổi thành niên chẩn đoán rối loạn tăng động còn có thể đặt ra Cơ sở như nhau nhưng sự chú ý và hoạt động phải được đánh giá theo các chuẩn mực tương ứng của sự phát triển [18, tr 260]

Khi tăng động xuất hiện ở tuổi trẻ em nhưng đã mất để nhường chỗ cho một rối loạn khác như rối loạn nhân cách chống đối xã hội hoặc lạm dụng ma túy, thì người ta ghi mã ở trạng thái hiện tại hơn là trạng thái trước kia [18, tr260]

Chẩn đoán phân biệt [18, tr260, 261]: Các rối loạn hỗn hợp

thường gặp, và các rối loạn lan tỏa của sự phát triển được ưu tiên chẩn đoán nếu chúng xuất hiện Những vấn đề chủ yếu trong chẩn đoán nằm ở chỗ phân biệt với:

Các rối loạn hành vi : rối loạn tăng động được ưu tiên chẩn đoán hơn

các rối loạn hành vi, khi các tiêu chuẩn được đáp ứng Tuy nhiên các thể nhẹ hơn của tăng hoạt động và thiếu chú ý cũng phổ biến trong rối loạn hành vi Khi cả hai nét tăng động và rối loạn hành vi đều có và tăng động lan tỏa và nặng thì chẩn đoán là “rối loạn hành vi tăng động” (F90.1)

Lo âu hay trầm cảm: một vấn đề khác phát sinh ở chỗ tăng động và thiếu

chú ý thuộc loại không đặc trưng cho một rối loạn tăng động, có thể xuất hiện như một triệu chứng của lo âu hay trầm cảm Do vậy, trạng thái bất an, thành phần điển hình của rối loạn trầm cảm kích động không được đưa vào chẩn đoán của một rối loạn tăng động Cũng như vậy trạng thái bất an đó là một thành phần của rối loạn lo âu trầm trọng cũng không được đưa vào chẩn đoán của một rối loạn tăng động Nếu các tiêu chuẩn của một trong những rối loạn lo âu (F40; F41; F43 hoặc F93) được thỏa mãn thì chẩn đoán này phải ưu tiên hơn là chẩn đoán rối loạn tăng động, trừ khi là có những bằng chứng là có thêm rối loạn tăng động cùng với trạng thái bất an kết hợp với lo âu

Rối loạn cảm xúc: tương tự như vậy nếu chẩn đoán của rối loạn cảm

xúc (F30-F39) được thỏa mãn thì không được chẩn đoán thêm rối loạn tăng động, đơn giản vì có suy giảm sự tập trung và có kích động tâm thần vận động Chỉ làm chẩn đoán khi các triệu chứng trên không phải đơn thuần là

Trang 36

một phần của rối loạn cảm xúc và khi chúng cho thấy rõ ràng là các rối loạn tăng động riêng biệt

Rối loạn tâm thần khác: Sự khởi phát cấp của một hành vi tăng động ở

một đứa trẻ ở tuổi đi học có thể là kết quả của một rối loạn phản ứng (tâm sinh hoặc thực tổn) một trạng thái hưng cảm, bệnh tâm thần phân liệt hay bệnh thần kinh [18, tr 260,261]

Loại trừ:

-Các rối loạn lo âu (F41 hoặc F93.0)

-Các rối loạn khí sắc (cảm xúc) (F30-F39)

-Các rối loạn lan tỏa sự phát triển (F84)

-Tâm thần phân liệt (F20)

Tiêu chí chẩn đoán rối loạn tăng động giảm chú ý

Theo ICD -10 [7, tr18] [5, tr12-13]

Nghiên cứu chẩn đoán ADHD cần xác định rõ sự hiện diện các mức bất thường của sự giảm tập trung, tăng hoạt động tồn tại một cách thường xuyên trong mọi không gian và thời gian mà không gây ra bởi những rối loạn khác như tự kỷ hay rối loạn cảm xúc

G1 Giảm chú ý: Tồn tại ít nhất 6 triệu chứng giảm chú ý trong thời

gian tối thiểu là 6 tháng, biểu hiện đến mức rối loạn thích ứng và không phù hợp với lứa tuổi cũng như mức độ phát triển của trẻ:

1) Thường không có khả năng chú ý cao tới chi tiết hoặc mắc lỗi cẩu thả trong học tập ở trường, công việc hay các hoạt động khác

2) Thường không có khả năng duy trì chú ý vào nhiệm vụ hay các hoạt động vui chơi

3) Thường tỏ ra không nghe những điều mà người khác đang nói với mình 4) Thường không có khả năng làm theo chỉ dẫn và không hoàn thành bài vở, công việc vặt trong nhà, hay những nhiệm vụ ở nơi làm việc (không phải do chống đối hoặc không hiểu các chỉ dẫn)

5) Khó khăn trong tổ chức nhiệm vụ /hoạt động

Trang 37

6) Thường tránh, không thích hoặc miễn cưỡng tham gia các công việc đòi hỏi sự nỗ lực trí tuệ

7) Thường làm mất những đồ dùng cần thiết trong công việc / học tập 8) Dễ bị xao nhãng bởi kích thích bên ngoài

9) Thường hay quên trong quá trình thực hiện các hoạt động thường nhật

G2 Tăng động: Tồn tại ít nhất 3/5 triệu chứng tăng động trong thời gian ít

nhất là 6 tháng, các biểu hiện phải thể hiện ở mức rối loạn thích ứng và không phù hợp với lứa tuổi cũng như mức độ phát triển của trẻ:

1) Cử động tay và chân liên tục hoặc ngồi không yên

2) Rời khỏi chỗ trong lớp học hoặc trong các tình huống khác mà cần phải ngồi yên một chỗ

3) Thường chạy hoặc leo trèo quá mức trong các tình huống mà điều đó là không thích hợp (có thể là cảm giác không thể ngồi yên ở người lớn hoặc thanh thiếu niên)

4) Thường gây ồn ào quá mức trong khi chơi hoặc gặp khó khăn giữ yên lặng trong các hoạt động giải trí

5) Biểu hiện dai dẳng một mẫu hoạt động quá mức kéo dài mà không có

sự đòi hỏi của tình huống xã hội hay một yêu cầu nào đấy

G3 Xung động: Tồn tại ít nhất 1/4 trong các triệu chứng của sự xung động

trong thời gian ít nhất là 6 tháng, các biểu hiện phải thể hiện ở mức rối loạn thích ứng và không phù hợp với lứa tuổi cũng như mức độ phát triển của trẻ: 1) Thường buột ra câu trả lời trước khi câu hỏi kết thúc

2) Thường khó chờ đợi theo hàng hay đợi đến lượt trong các trò chơi hoặc các hoạt động nhóm

3) Thường ngắt quãng hoặc chen ngang vào công việc/ cuộc hội thoại của người khác

4) Thường nói quá nhiều mà không có câu trả lời phù hợp với yêu cầu xã hội

G4 Khởi phát của rối loạn này trước 7 tuổi

G5 Sự lan tỏa: những tiêu chuẩn chẩn đoán trên cần phải đáp ứng ở nhiều

Trang 38

tình huống Ví dụ: sự kết hợp của tăng động và giảm chú ý xuất hiện cả ở nhà

và ở trường và những nơi khác mà trẻ được theo dõi hoặc quản lý chặt chẽ như trong lớp học dưới sự giám sát chặt chẽ của giáo viên và trong phòng test dưới sự giám sát của cán bộ đánh giá

G6 Các triệu chứng trong nhóm G1 và G3 gây ra những suy yếu đáng kể về

mặt lâm sàng hoặc các rối loạn về các chức năng xã hội nhất định như trong học tập, trong các mối quan hệ bạn bè hoặc trong công việc

G7 Rối loạn này không đáp ứng các tiêu chuẩn cho các rối loạn phát triển lan

tỏa (F84.), giai đoạn hưng cảm (F30.-), giai đoạn trầm cảm (F32.-) hoặc các rối loạn lo âu (F41.-)

Tiêu chuẩn DSM-IV (1996): Có 2 tiêu chuẩn (A) và (B) [7, tr19], [5]

A Tồn tại ít nhất 6 triệu chứng giảm chú ý trong thời gian tối thiểu là 6 tháng, đến độ không thích nghi và không phù hợp với trình độ phát triển của trẻ:

 Giảm chú ý

1) Không chú ý vào chi tiết hoặc mắc lỗi cẩu thả với công việc được giao 2) Khó khăn khi phải duy trì chú ý vào nhiệmvụ / hoạt động

3) Dường như không chú ý nghe khi hội thoại

4) Không tuân theo hướng dẫn và không hoàn thành nhiệm vụ / bài vở (không phải do chống đối hoặc không hiểu)

5) Khó khăn trong tổ chức nhiệm vụ / hoạt động

6) Né tránh, không thích hoặc miễn cưỡng tham gia các công việc đòi hỏi

sự nỗ lực trí tuệ

7) Mất những đồ dùng cần thiết trong công việc / học tập

8) Dễ bị xao nhãng bởi kích thích bên ngoài

9) Đãng trí trong các hoạt động hàng ngày

B Tồn tại ít nhất 6 triệu chứng tăng động-xung động trong thời gian ít nhất là 6 tháng, đến độ không thích nghi và không phù hợp với trình độ phát triển của trẻ:

Trang 39

 Tăng hoạt động:

1) Cựa quậy chân tay hoặc vặn vẹo, ngồi không yên

2) Ra khỏi chỗ ngồi ở những nơi cần phải ngồi yên

3) Chạy hoặc leo trèo quá mức ở những nơi cần phải ngồi yên

4) Khó khăn khi chơi hoặc tham gia các hoạt động tĩnh

5) Hoạt động luôn chân tay hoặc hành động như thể được “gắn động cơ” 6) Nói quá nhiều

 Xung động:

7) Bột phát trả lời khi người khác chưa hỏi xong

8) Khó khăn khi chờ đợi đến lượt mình

9) Ngắt quãng hoặc chen ngang vào công việc/ cuộc hội thoại của người khác

C Một vài triệu chứng quá hiếu động – hấp tấp hoặc giảm tập trung gây sự kém khả năng xuất hiện trước tuổi lên 7

D Có một dạng khuyết tật nào đó (hoạt động của gene) từ những triệu chứng này bộc lộ trong hai hoặc hơn hai môi trường (ở nhà, ở trường hoặc nơi làm việc)

E Phải có bằng chứng lâm sàng rõ ràng về sự suy yếu đáng kể trong các chức năng xã hội, học tập và nghề nghiệp

F Những triệu chứng không xuất hiện riêng biệt trong các rối loạn phát triển lan tỏa, tâm thần phân liệt hoặc rối loạn tâm thần khác và không thể xếp vào một dạng rối loạn trí tuệ nào (rối loạn khí sắc, rối loạn lo âu, …)

1.2.2.3.Nguyên nhân gây ra ADHD

 Nguyên nhân sinh học

Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy nguyên nhân chính của ADHD là di truyền (Faraone et al., 2005) Faraone et al (2005) đã xem xét các nghiên cứu sinh đôi 20 độc lập ước tính hệ số di truyền (số lượng phương sai kiểu hình của các triệu chứng do các yếu tố di truyền) là 76% Các nghiên cứu cho thấy ADHD có liên quan với các dấu hiệu ở nhiễm sắc thể 4, 5, 6, 8,

11, 16, và 17 (Muenke, 2004; Smalley et al., 2004) Faraone et al (2005) đã

Trang 40

xác định tám gen, trong đó các biến thể tương tự đã được nghiên cứu trong ba hoặc nhiều hơn các nghiên cứu; bảy trong số đó cho thấy bằng chứng đáng kể

về mặt thống kê của hiệp hội với ADHD (dopamine 4 và 5, vận chuyển dopamine, các enzyme dopamine "-hydroxylase, gen vận chuyển serotonin, các thụ thể serotonin 1B, và synaptosomal- liên gen protein 25) Nguyên nhân Nongenetic của ADHD cũng là sinh học thần kinh trong tự nhiên (Nigg, 2006), bao gồm các yếu tố như căng thẳng chu sinh và trọng lượng sinh thấp (Mick et al., 2002b), chấn thương sọ não (Max et al., 1998), hút thuốc lá của người mẹ trong thai kỳ ( Mick et al, 2002a)

Theo rất nhiều nghiên cứu khác, di truyền đóng vai trò rất quan trọng gây ra ADHD, có khoảng 25 % các bố và khoảng 17% đến 25 % các mẹ tăng động giảm chú ý có con bị tăng động giảm chú ý, có khoảng 30 % các anh chị

em cũng cùng mắc (Barkley, 1997) Những nghiên cứu trên những cặp sinh đôi chỉ ra rằng có hơn 75 % nguy cơ cả hai cùng mắc ADHD nếu một trong hai mắc phải Những nguy cơ này là từ 13% đến 35 % ở những trẻ em trong cùng một gia đình (Gross – Tsur và cs) Sự xuất hiện ADHD ở những người

có tiền sử gia đình làm tăng nguy cơ phát triển những rối loạn ( Barkley, 1997)[37,tr 20] Những nghiên cứu khác so sánh những cặp sinh đôi cùng trứng và những cặp sinh đôi khác trứng có cùng giới tính hoặc khác giới Những hành vi được quan sát về tăng động giảm chú ý thường xuyên đo được trong những câu hỏi (CBCL- CPRS), mặc dù rằng đôi khi chẩn đoán ADHD được đưa ra sau một tiếp xúc lâm sàng Theo một nghiên cứu trên 9500 trường hợp sinh đôi khác trứng, 5500 trường hợp sinh đôi cùng trứng và 2000 trường hợp khác giới chỉ ra rằng nhân tố di truyền hoặc hệ số di truyền giải thích rộng rãi cho ADHD Chính vì vậy nhân tố di truyền chiếm 72,6% trong rối loạn tăng động giảm chú ý, các nhân tố khác: môi trường chỉ chiếm 24,2% [37,tr 21].Một nghiên cứu khác chỉ ra rằng sự giống nhau của ADHD ở những cặp sinh đôi cùng trứng nhiều hơn sinh đôi khác trứng nói lên vai trò của di truyền trong nguyên nhân bệnh Faraone và cs cho rằng có sự bất thường về gen quy định thụ thể của dopamine là D4, D5 (DRD4), gen vận chuyển

Ngày đăng: 05/03/2019, 16:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w