67 Bảng 3.8: Cách nhìn nhận mức độ hiệu quả của ông bà và cha mẹ về các kĩ thuật trong chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ .... Song song với đó, tại Việt Nam hiện vẫn còn thiếu c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THẢO TÂM
MỨC ĐỘ CHẤP NHẬN CỦA ÔNG BÀ VÀ CHA MẸ
VỀ CHƯƠNG TRÌNH HUẤN LUYỆN HÀNH VI LÀM CHA MẸ
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
HÀ NỘI – 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THẢO TÂM
MỨC ĐỘ CHẤP NHẬN CỦA ÔNG BÀ VÀ CHA MẸ
VỀ CHƯƠNG TRÌNH HUẤN LUYỆN HÀNH VI LÀM CHA MẸ
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC CHUYÊN NGÀNH: TÂM LÝ LÂM SÀNG TRẺ EM VÀ VỊ THÀNH NIÊN
Mã số: Thí điểm
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRẦN THÀNH NAM
HÀ NỘI – 2017
Trang 3Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các thầy cô trong khoa đào tạo sau đại học đã luôn nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn và truyền lại những kiến thức giá trị nhất tới các học viên trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cám ơn tới hiệu trưởng và giáo viên trường phổ thông song ngữ liên cấp Wellspring, trường tiểu học Long Biên và trường tiểu học Bát Tràng đã tạo điều kiện cho tôi tiếp cận và tiến hành khảo sát với các phụ huynh học sinh của trường
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè - những người đã luôn hỗ trợ, yêu thương và ủng hộ tôi trong suốt 2 năm hoàn thành chương trình thạc sĩ Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 27 tháng 11 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Thảo Tâm
Trang 4M (Mean): Điểm trung bình
OCD (Obsessive-Compulsive disorder): Rối loạn ám ảnh cưỡng bức
PCIT (Parent - child interaction therapy): Trị liệu tương tác cha mẹ - con cái
SD (Standard deviation): Độ lệch chuẩn
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC VIẾT TẮT ii
DANH MỤC BẢNG vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu 3
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
5 Khách thể nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Giới hạn nghiên cứu 4
8 Cấu trúc luận văn 5
CHƯƠNG 1 6
CƠ SỞ LÝ LUẬN 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ 6
1.1.1 Lịch sử chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ 6
1.1.2 Các kết quả nghiên cứu thực tiễn 13
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 33
1.2.1 Hành vi làm cha mẹ 33
1.2.2 Chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ 35
1.2.3 Mức độ chấp nhận chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ 40
CHƯƠNG 2 45
TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 45
2.1 Khách thể nghiên cứu 45
Trang 62.2 Địa bàn nghiên cứu 45
2.3 Tổ chức nghiên cứu 46
2.4 Phương pháp nghiên cứu 47
CHƯƠNG 3 50
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 50
3.1 Niềm tin của ông bà và cha mẹ về các chiến lược khen thưởng, trừng phạt trong việc nuôi dạy con 50
3.2 Mức độ chấp nhận, khả thi và hiệu quả dự kiến của các kĩ thuật trong chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ 57
3.2.1 Mức độ chấp nhận các kĩ thuật trong chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ 57
3.2.2 Mức độ khả thi của các kĩ thuật trong chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ 63
3.2.3 Hiệu quả dự kiến của các kĩ thuật trong chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ 69
3.2.4 Thời gian tham gia chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ 73
3.2.5 ĐTB chung của 7 kĩ thuật trong chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ 76
3.3 Các mối tương quan và hồi qui đáng lưu ý trong nghiên cứu 78
3.3.1 Tương quan giữa niềm tin thích nghi và không thích nghi của ông bà và cha mẹ với các biến nhân khẩu 78
3.3.2 Tương quan giữa mức độ chấp nhận, mức độ khả thi và hiệu quả dự kiến của chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ với các biến nhân khẩu 80
3.3.3 Tương quan giữa mức độ chấp nhận, mức độ khả thi hiệu quả dự kiến của kĩ thuật khen ngợi, chỉ dẫn hiệu quả, phớt lờ với các biến nhân khẩu 82
3.3.4 Tương quan giữa niềm tin của khách thể với mức độ chấp nhận, mức độ khả thi và hiệu quả dự kiến của chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ 83
Trang 73.3.5 Hồi qui dự báo niềm tin, mức độ chấp nhận, mức độ khả thi và hiệu quả dự
kiến của chương trình từ các biến số nhân khẩu 84
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 88
1 Kết luận 88
2 Khuyến nghị 89
3 Hạn chế của nghiên cứu 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
DANH MỤC PHỤ LỤC 101
PHỤ LỤC 102
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Nội dung chính của các chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ 37 Bảng 1.2: Sự khác biệt giá trị văn hóa, niềm tin, thói quen của cha mẹ ở các khu vực trên thế giới 42 Bảng 2.1: Mô tả nhân khẩu học của khách thể nghiên cứu 45 Bảng 3.1: Sự khác biệt có ý nghĩa trong quan điểm giữa ông bà và cha mẹ về các chiến lược khen thưởng, trừng phạt trong việc nuôi dạy con 50 Bảng 3.2: Niềm tin của ông bà và cha mẹ về các chiến lược khen thưởng, trừng phạt trong việc nuôi dạy con 54 Bảng 3.3: Sự khác biệt về niềm tin theo thế hệ và giới 54 Bảng 3.4: Mức độ chấp nhận của ông bà và cha mẹ về các kĩ thuật trong chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ 57 Bảng 3.5: Sự khác biệt theo thế hệ và giới về mức độ chấp nhận các kĩ thuật trong chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ 60 Bảng 3.6: Cách nhìn nhận mức độ khả thi của ông bà và cha mẹ về các kĩ thuật trong chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ 63 Bảng 3.7: Sự khác biệt theo thế hệ và giới về cách nhìn nhận mức độ khả thi của các
kĩ thuật trong chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ 67 Bảng 3.8: Cách nhìn nhận mức độ hiệu quả của ông bà và cha mẹ về các kĩ thuật trong chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ 69 Bảng 3.9: Sự khác biệt theo thế hệ và giới về cách nhìn nhận hiệu quả dự kiến của các kĩ thuật trong chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ 71 Bảng 3.10: Sự khác biệt theo thế hệ và giới trong mức độ chấp nhận, mức độ khả thi
và hiệu quả dự kiến của yếu tố thời gian trong chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ 73 Bảng 3.11: Sự khác biệt theo thế hệ và giới về mức độ chấp nhận, mức độ khả thi và hiệu quả dự kiến của 7 kĩ thuật trong chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ 76
Trang 9Bảng 3.12: Tương quan giữa ĐTB niềm tin thích nghi và không thích nghi của ông
bà và cha mẹ với các biến nhân khẩu 78 Bảng 3.13: Tương quan giữa mức độ chấp nhận, mức độ khả thi và hiệu quả dự kiến của chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ với các biến nhân khẩu 80 Bảng 3.14: Tương quan giữa mức độ chấp nhận, mức độ khả thi hiệu quả dự kiến của kĩ thuật khen ngợi, chỉ dẫn hiệu quả, phớt lờ với các biến nhân khẩu 82 Bảng 3.15: Tương quan giữa niềm tin của khách thể với mức độ chấp nhận, mức độ khả thi và hiệu quả dự kiến của chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ 83 Bảng 3.16: Hồi qui giữa các biến nhân khẩu, niềm tin thích nghi, không thích nghi với mức độ chấp nhận chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ 84 Bảng 3.17: Hồi qui giữa các biến nhân khẩu, niềm tin thích nghi, không thích nghi với mức độ khả thi chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ 85 Bảng 3.18: Hồi qui giữa các biến nhân khẩu, niềm tin thích nghi, không thích nghi với hiệu quả dự kiến chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ 85
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Tần suất tham khảo cách thức nuôi dạy con qua các phương tiện giữa ông bà và cha mẹ 56
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Gia đình là một trong những môi trường quan trọng ảnh hưởng đầu tiên và trực tiếp tới sự phát triển và xã hội hóa của trẻ Ngay từ những năm 1920, các nhà nghiên cứu đã bắt đầu nhận ra vai trò không thể tách rời của môi trường trong sự phát triển và duy trì các vấn đề hành vi của trẻ Các tác giả đều đồng ý rằng, môi trường gia đình, đặc biệt là việc thực hiện hành vi làm cha mẹ có thể mang tính dự báo quan trọng nhất với các vấn đề hành vi của trẻ Kể cả trong suốt tuổi vị thành niên, khi mà mối quan hệ bạn bè, truyền thông và các yếu tố khác đóng một vai trò
vô cùng quan trọng ảnh hưởng lớn tới trẻ, thì các nghiên cứu vẫn chứng minh được rằng cha mẹ tiếp tục là yếu tố giải thích cho vô vàn sự biến đổi trong sự phát triển của trẻ như sự phạm pháp, các vấn đề sức khỏe tâm thần, thành tích học tập hơn bất cứ yếu tố nào [75] Bên cạnh cha mẹ, ông bà cũng là một nhân tố không thể không nhắc tới trong môi trường gia đình Số liệu thống kê cho thấy trong vòng 40 năm trở lại đây tuổi thọ trung bình của con người ngày càng tăng: từ 60 lên 71,4 [115], cùng với đó các hộ gia đình nhiều hơn 2 thế hệ có xu hướng ngày càng phổ biến ở nhiều khu vực như Châu Á, Trung Đông, Nam Mỹ, Châu Phi [116], đặc biệt tại Mỹ (2016) có hơn 7.2 triệu ông bà sống chung cùng con cháu [118] Những con
số thống kê này đồng nghĩa với việc ông bà sẽ sẽ ngày càng có thêm nhiều thời gian sống cùng con cháu hơn, kể cả khi chúng đã bước vào tuổi vị thành niên Vì vậy, bên cạnh ảnh hưởng của cha mẹ, thì họ - ông bà cũng sẽ có những ảnh hưởng nhất định tới sự phát triển nhận thức, cảm xúc, hành vi của trẻ
Nhận ra vai trò quan trọng và những tác động trực tiếp của gia đình đến trẻ, theo thời gian, các nhà nghiên cứu đã thừa nhận rằng các thay đổi hành vi có cấu trúc có hiệu quả nhất khi làm việc với trẻ trong môi trường tự nhiên của chúng (Moreland và cs, 1982 dẫn theo [12, tr.xvii]) Điều này có nghĩa là tiếp cận trị liệu gia đình và can thiệp đa hệ thống được xem là cách thức trị liệu có hiệu quả nhất với trẻ, và được thực hiện tốt nhất trong bối cảnh xem xét gia đình như một hệ thống tương quan (Haley 1976, Minuchin 1974 dẫn theo [12, tr xvii]) Từ những cơ
sở này, chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ bắt đầu manh nha và phát
Trang 12người quyết định môi trường (trường học, giáo viên,…) nên cha mẹ sẽ ảnh hưởng tới mối quan hệ xã hội và bạn bè của trẻ, từ đó họ cũng sẽ là người quyết định hành
vi nào được hoặc không được khuyến khích trong gia đình
Trải qua hơn 50 năm xây dựng và phát triển, chương trình huấn luyện hành
vi làm cha mẹ đã đem lại những hiệu quả rất tích cực cho cả trẻ và cha mẹ Bên cạnh đó các tác giả cũng xây dựng những chương trình dành riêng cho cả ông bà khi
mà tỉ lệ ông bà trở thành người chăm sóc chính ngày càng có xu hướng tăng Mặc
dù các chương trình này rất phổ biến tại nhiều nước trên thế giới, tuy nhiên ở Việt Nam đây vẫn là một chương trình mới mẻ, chưa có nhiều nghiên cứu thích ứng và đánh giá hiệu quả Do vậy việc tìm hiểu mức độ chấp nhận về chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ là điều cần thiết Đặt trong bối cảnh nước ta, năm 2015 số
hộ gia đình có từ ba thế hệ trở lên chiếm khoảng 21% tương đương với hơn 4.6 triệu
hộ gia đình [112], do đó không phải lúc nào các chương trình này thực hiện với cha
mẹ cũng hiệu quả nếu ông bà là người chăm sóc chính của trẻ Chính vì vậy, việc nghiên cứu và tìm hiểu mức độ chấp nhận chương trình huấn luyện hành vi làm cha
mẹ không nên chỉ giới hạn cho đối tượng cha mẹ mà còn cần phải tìm hiểu cả từ phía ông bà
Song song với đó, tại Việt Nam hiện vẫn còn thiếu các nghiên cứu về chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ, đặc biệt là chưa có nghiên cứu nào tiến hành
so sánh quan điểm và mức độ chấp nhận chương trình giữa hai thế hệ ông bà và cha
mẹ Vì những lý do trên, chúng tôi quyết định thực hiện nghiên cứu về “mức độ chấp nhận của ông bà và cha mẹ về chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ” trên 514 ông bà và cha mẹ đang có con học tiểu học tại địa bàn Hà Nội Việc thực hiện nghiên cứu này không chỉ giúp tìm ra được những khác biệt trong mức độ chấp nhận giữa hai thế hệ, mà cùng với đó đặt những viên gạch đầu tiên cho việc xây dựng một chương trình huấn luyện kĩ năng phù hợp hơn với những gia đình có ông
bà là người tham gia chăm sóc trẻ trong bối cảnh đất nước ta
Trang 13Nghiên cứu tôn trọng sự khác biệt văn hóa ảnh hưởng tới mức độ chấp nhận, tính khả thi và hiệu quả dự kiến của chương trình Vì vậy, việc tìm ra sự khác biệt của các khách thể chỉ nhằm mục tiêu điều chỉnh chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ phù hợp hơn trong bối cảnh văn hóa Việt Nam, cũng như đề xuất các khuyến nghị cho các nhà nghiên cứu và nhà thực hành quan tâm tới đề tài này
3 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
3.1 Câu hỏi nghiên cứu
1 Thực trạng niềm tin về chiến lược khen thưởng, trừng phạt trong việc nuôi dạy con cái của ông bà và cha mẹ như thế nào?
2 Liệu có sự khác biệt niềm tin về chiến lược khen thưởng, trừng phạt trong việc nuôi dạy con cái của ông bà và cha mẹ?
3 Thực trạng mức độ chấp nhận, cách nhìn nhận tính khả thi và hiệu quả dự kiến của ông bà và cha mẹ về chương trình huấn luyện kĩ năng làm cha mẹ như thế nào?
4 Liệu có sự khác biệt trong mức độ chấp nhận, cách nhìn nhận tính khả thi và hiệu quả dự kiến giữa ông bà và cha mẹ về chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ?
5 Yếu tố nào là yếu tố tác động, mang tính dự báo tới mức độ chấp nhận, khả năng triển khai và cách nhìn nhận về hiệu quả dự kiến của ông bà và cha mẹ về chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ?
3.2 Giả thuyết nghiên cứu
1 Ông bà và cha mẹ có nhiều niềm tin không thích nghi hơn niềm tin thích nghi về các chiến lược khen thưởng, trừng phạt trong việc nuôi dạy con cái
2 Có sự khác biệt về mặt niềm tin với các chiến lược khen thưởng, trừng phạt giữa ông bà và cha mẹ trong việc nuôi dạy con cái
3 Ông bà và cha mẹ chấp nhận và nhìn nhận tính khả thi, hiệu quả dự kiến của chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ ở mức trung bình
4 Có sự khác biệt trong mức độ chấp nhận, cách nhìn nhận tính khả thi và hiệu quả
dự kiến của các kĩ thuật trong chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ giữa ông
bà và cha mẹ
5 Các yếu tố như trình độ học vấn, tuổi, học vấn, thu nhập, khả năng tiếp cận công nghệ thông tin có ảnh hưởng đến mức độ chấp nhận, khả năng triển khai chương trình và cách nhìn nhận về hiệu quả dự kiến của chương trình can thiệp này
Trang 144 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận
(1) Đọc và tổng hợp các tài liệu có liên quan tới đề tài nghiên cứu: Tổng quan nghiên cứu tại các nước phương Tây, phương Đông và Việt Nam về mức độ chấp nhận và hiệu quả của chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ
(2) Xây dựng các khái niệm cơ sở của đề tài, bao gồm: Hành vi làm cha mẹ; chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ; chấp nhận
Nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn
(1) Xây dựng bảng hỏi nhân khẩu
(2) Xây dựng bảng hỏi về quan điểm của ông bà và cha mẹ riêng biệt, bao gồm: (a) Mức độ đồng tình về các chiến lược thưởng, phạt, đòn roi, khen ngợi…
(b) Tần suất tiếp cận với các nguồn thông tin, cách thức nuôi dạy con
(c) Mô tả ngắn gọn các kĩ thuật, đưa ra các phương án đánh giá mức độ chấp nhận, mức độ sẵn sàng thực hiện và hiệu quả dự kiến của các kĩ thuật
(3) Chuẩn bị và tiến hành khảo sát tại địa bàn nghiên cứu
(4) Tổng hợp các thông tin và số liệu thu được
(5) Xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê toán học
(6) Phân tích trên kết quả thu được, đưa ra các lập luận, bằng chứng để chứng minh hoặc bác bỏ giả thuyết nghiên cứu đã nêu ra ban đầu
(7) Đưa ra các khuyến nghị dựa trên cơ sở kết quả nghiên cứu để điều chỉnh chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ phù hợp hơn với bối cảnh văn hóa
5 Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu bao gồm 514 ông bà và cha mẹ chia thành 257 cặp có con đang học tiểu học tại Hà Nội
6 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng 3 phương pháp nghiên cứu chính: (1) Nghiên cứu tài liệu, (2) điều tra bảng hỏi, (3) xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê toán học
7 Giới hạn nghiên cứu
Giới hạn nội dung: Nghiên cứu chỉ chỉ nhằm đánh giá thái độ, nhận thức trên
cơ sở thu thập ý kiến, quan điểm của các khách thể về các kĩ thuật chính trong
Trang 15chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ trên thông những mô tả về bản chất, cách thức thực hiện các kĩ thuật dưới dạng văn bản
Giới hạn thời gian: Thời gian: Từ tháng 01/2017 tới tháng 11/2017
Giới hạn địa điểm: Khảo sát được tiến hành tại 3 trường tiểu học trong địa bàn Hà Nội: (1) Trường phổ thông liên cấp song ngữ Wellspring (N= 78), (2) trường tiểu học Long Biên (N= 99) và (3) trường tiểu học Bát Tràng (N= 80)
8 Cấu trúc luận văn
Bên cạnh phần mở đầu và phần kết luận khuyến nghị, luận văn được trình bày trong ba chương chính Chương 1 trình bày tổng quan cơ sở lý luận của đề tài Chương 2 trình bày về phương pháp nghiên cứu và cách thức tổ chức triển khai nghiên cứu Chương 3 trình bày kết quả nghiên cứu và biện luận
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tổng quan nghiên cứu chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ
1.1.1 Lịch sử chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ
1.1.1.1 Lược sử hình thành và phát triển chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ
Chương trình can thiệp cha mẹ có trẻ gặp vấn đề hành vi bắt đầu manh nha
từ đầu thế kỉ 20 Mặc dù các nghiên cứu đầu tiên đều khẳng định huấn luyện cha mẹ dựa theo định hướng hành vi, tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng sử dụng cha mẹ là nhân
tố thay đổi cũng có sự đóng góp đáng kể của các chuyên gia trong các định hướng khác, bao gồm cả những nhà phân tâm học (Zacker 1978, dẫn theo [67, tr.79]) Một trong những ca đầu tiên được ghi lại về can thiệp trị liệu là ca bé Hans của Freud (1909) Freud không trực tiếp trị liệu cho bé Hans mà hướng dẫn cha đứa trẻ các kĩ thuật để giải quyết các nỗi sợ ngầm ẩn Cách tiếp cận này dẫn tới mô hình nền tảng của can thiệp trị liệu tìm kiếm những thay đổi tích cực dựa trên mối quan hệ cha mẹ
- con cái [12, tr.xv]
Tới những năm 1920 kĩ thuật thay đổi hành vi mới bắt đầu được phát triển, quan trọng hơn, các nhà nghiên cứu ở thời điểm đó bắt đầu nhận ra vai trò không thể tách rời của môi trường trong sự phát triển và duy trì các vấn đề hành vi của trẻ
Cụ thể trong các bài viết chi tiết từ hàng nghìn ca của mình, Healy và Bronner (1926) (dẫn theo [94, tr.257]) đã kết luận rằng môi trường gia đình, đặc biệt là việc thực hiện hành vi làm cha mẹ có thể mang tính dự báo quan trọng nhất với hành vi phạm tội Hay nói cách khác, cha mẹ là một nhân tố vô cùng quan trọng cần phải xem xét trong quá trình can thiệp hành vi của trẻ Tuy nhiên, ở thời điểm đó kết luận của các tác giả quá tân tiến và không thể triển khai áp dụng ngay lập tức, một phần là do việc trị liệu tâm lý cho trẻ chưa được thực hiện một cách rộng rãi, mặt khác vào những năm 1950 thì trị liệu cho trẻ chủ yếu dựa trên tiếp cận phân tâm (trị liệu 1-1 giữa nhà trị liệu và trẻ), ít quan tâm tới một vấn đề hành vi cụ thể mà chú trọng tới những vấn đề tâm lý ngầm ẩn hơn (Sternbach, 1947; Berman, 1959 dẫn theo [94, tr.257])
Trang 17Kể từ khi nó bắt đầu phát triển vào những năm 1960, huấn luyện hành vi làm cha mẹ đã trải qua 3 giai đoạn phát triển như sau [12]:
Giai đoạn đầu tiên từ 1960-1970 tập trung vào sự phát triển ban đầu của mô hình can thiệp "huấn luyện cha mẹ" Đầu những năm 1960 bắt đầu xuất hiện sự thay đổi trong mô hình trị liệu cho các vấn đề hành vi của trẻ, thay vì trị liệu trực tiếp cho trẻ 1-1, các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều hơn tới các yếu tố liên quan bởi họ nhận ra được hạn chế của phân tâm học trong việc thay đổi các vấn đề hành vi, đặc biệt là hành vi của trẻ ngoài môi trường trị liệu (ở nhà, trường) Các tác giả nhận ra rằng sự không tham gia của cha mẹ với việc trị liệu cho trẻ đồng nghĩa với việc có rất ít thay đổi trong môi trường ở nhà Ngược lại, các nguyên tắc chính của mô hình hành vi bắt đầu tỏ ra có hiệu quả trong việc thay đổi hành vi của trẻ ở nhiều môi trường khác nhau Sự hợp lưu của các yếu tố này tạo đà cho việc phát triển các ý tưởng của nhà trị liệu huấn luyện cha mẹ sử dụng các kĩ thuật quản lý hành vi để làm thay đổi hành vi của trẻ Tới giữa những năm 1960, việc coi cha mẹ là một nhân tố chính thức thay đổi hành vi của trẻ bắt đầu có chỗ đứng và là nền tảng cho
"huấn luyện cha mẹ" được thiết lập Kể từ thời điểm này đã nổi lên xu hướng khá hiệu quả khi làm việc với những trẻ có vấn đề thông qua huấn luyện cha mẹ hoặc can thiệp cha mẹ Điển hình là mô hình huấn luyện cha mẹ dựa trên mô hình bộ ba của Tharp và Wetzel's (1969) gồm 1 nhà trị liệu (nhà tham vấn) dạy cho cha mẹ (người hòa giải) để giảm hành vi gây rối của trẻ (mục đích) (dẫn theo [67, tr.80]) Mặc dù các nghiên cứu trong giai đoạn này còn nhiều hạn chế tuy nhiên các nhà nghiên cứu bước đầu đã đưa ra được các bằng chứng khẳng định rằng ít nhất huấn luyện cha mẹ có hiệu quả ngắn hạn trong việc thay đổi hành vi cả của cha mẹ và trẻ Trong giai đoạn này, các nhà nghiên cứu cũng bắt đầu thử nghiệm nhiều chiến lược khác nhau như viết hướng dẫn, chỉ dẫn video, làm mẫu… để dạy cha mẹ cách sử dụng chiến lược quản lý hành vi cụ thể Ngoài ra họ cũng nhận ra rằng, mặc dù có thể dạy cha mẹ các kĩ thuật quản lý hành vi cơ bản để can thiệp các vấn đề hành vi của trẻ nhưng cha mẹ vẫn cần linh hoạt hơn và tính tới cả những rắc rối trong sự tương tác giữa cha mẹ và con cái ở nhà
Giai đoạn thứ 2 bắt đầu từ giữa những năm 1970 đến giữa những năm 1980, tập trung vào giá trị xã hội và khái quát hóa hiệu quả lâu dài của trị liệu Họ kiểm
Trang 18nghiệm hành vi trên 4 lĩnh vực: môi trường thiết lập (thay đổi quan sát được trong môi trường trị liệu có xuất hiện ở nhà, trường…); thời gian (duy trì trong khoảng thời gian bao lâu); anh chị em ruột (có áp dụng được với đối tượng không phải trẻ
em không), và hành vi (có cải thiện đồng thời với các hành vi không nhắm tới không) Họ cũng nghiên cứu việc mở rộng chương trình giáo dục huấn luyện cha
mẹ, xem xét các yếu tố hoàn cảnh có thể ảnh hưởng tới việc thực hiện và kết quả của chương trình Huấn luyện cha mẹ trở thành một hình thức can thiệp hiệu quả trong rất nhiều bài phê bình suốt giai đoạn này
Giai đoạn thứ 3 là từ giữa những năm 1980 đến nay: Giai đoạn này tập trung chủ yếu vào các cách thức cải thiện hiệu quả của chương trình huấn luyện cha mẹ Các nghiên cứu về chương trình huấn luyện cha mẹ tập trung chủ yếu vào mảng hành vi đập phá, gây rối của trẻ Lí do nó chỉ tập trung vào mảng này là bởi tồn tại một niềm tin rằng các hành vi đập phá tại nhà thường trở nên trầm trọng, tăng cao hoặc bị duy trì một cách không cố ý bởi những tương tác không thích nghi giữa cha
mẹ và con cái (Kazdin 2003, Patterson 1982, dẫn theo [67, tr.81]) Những mẫu hình tương tác thiếu thích nghi này bao gồm củng cố các hành vi gây rối, chỉ dẫn không hiệu quả, và sự thất bại trong việc củng cố một cách thỏa đáng cho các hành vi tích cực Những năm 1990, sự thành công của chương trình huấn luyện cha mẹ ngày càng lớn mạnh Có nhiều nghiên cứu thực tiễn, so sánh, hiệu quả và thúc đẩy việc
áp dụng rộng rãi các phương pháp và nguyên tắc liên quan đến huấn luyện cha mẹ như một nhà đồng trị liệu Zacker (1978) đã chỉ ra rằng cha mẹ rất nhanh chóng trở thành những chuyên gia và áp dụng các nguyên tắc thiết yếu của việc học nhận thức
xã hội và thay đổi hành vi [dẫn theo 12, tr.xvi] Bởi vì trị liệu hành vi dựa trên các hiện tượng tự nhiên và có thể quan sát được nên nó dễ dàng được chấp nhận bởi cha
mẹ mà không có sự lưỡng lự hay kháng cự Các nghiên cứu đã đưa ra kết quả không còn nghi ngờ gì về ảnh hưởng của cha mẹ đến con cái và ngược lại, do vậy huấn luyện cha mẹ có thể được thiết lập như một chương trình bền vững, toàn diện và mới mẻ để quản lý hành vi của trẻ em và vị thành niên Huấn luyện cha mẹ không chỉ đưa ra các cách thức thay đổi và kiểm soát các hành vi tiêu cực, nó còn làm tăng khả năng giải quyết và sự tự tin của cha mẹ về các kĩ năng làm cha mẹ của họ Những chương trình này được thiết kế cho phép cha mẹ trở thành những nhân tố
Trang 19của sự thay đổi trong cuộc sống của con họ và trở thành mẫu hình ứng xử Với niềm tin rằng các vấn đề hành vi của trẻ thường dễ vô tình phát triển, trầm trọng và bền vững hơn do tương tác không thích nghi của cha mẹ-con cái, nên tất cả các can thiệp đều nhằm mục đích cuối cùng là dạy cha mẹ cách thay đổi và cách loại bỏ những mẫu hình tương tác trong gia đình không tốt để có được những thay đổi lâu dài và có cấu trúc [12]
1.1.1.2 Nền tảng lý thuyết của chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ
Chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ dựa trên những nguyên tắc cơ bản của ba lý thuyết chính: lý thuyết gắn bó, lý thuyết hành vi và lý thuyết học tập
xã hội Những phân tích dưới đây sẽ làm rõ việc áp dụng các nguyên tắc này vào chương trình như thế nào
Thứ nhất, các chương trình thường tập trung vào xây dựng mối quan hệ, và việc này là rất cần thiết bởi các tác giả tìm ra rằng, tương tác tích cực giữa cha mẹ
và con cái sẽ củng cố những ảnh hưởng của các chiến lược kỉ luật - thứ được coi là
ít căng thẳng và không đòi hỏi cha mẹ phải đương đầu ngay với các hành vi thách thức của trẻ Thêm vào đó, sự chú ý tích cực của cha mẹ được coi như một hệ quả quyền năng với hành vi của trẻ, vì vậy hướng dẫn cha mẹ áp dụng chú ý tích cực tới trẻ là điểm then chốt trong các chương trình [6, tr.522] Lý thuyết gắn bó chính là nền tảng cơ bản của quan điểm này Theo đó, chương trình sẽ tăng cường sự đáp ứng tích cực của người chăm sóc nhằm tăng cảm giác an toàn và tin tưởng của trẻ,
từ đó cải thiện chất lượng mối quan hệ giữa hai bên
Thứ hai, khi mối quan hệ được cải thiện, cùng với nguồn lực cha mẹ, chương trình tiếp tục tập trung trong một khoảng thời gian liên tục nhất định vào việc cải thiện vấn đề hành vi của trẻ - thứ khiến cha mẹ phải tìm kiếm trị liệu can thiệp - thông qua các chiến lược kỉ luật Nền tảng chính của các chiến lược này chủ yếu dựa trên lý thuyết học tập xã hội và lý thuyết hành vi [38, tr.273] Các lý thuyết này đều có chung ý tưởng rằng trẻ học tập thông qua các củng cố và trừng phạt có chủ ý hoặc không có chủ ý, và thông qua quan sát mọi người xung quanh chúng Vấn đề hành vi của trẻ phát triển và duy trì ở nhà bằng cách học tập qua các tình huống có mối tương tác phi chức năng với cha mẹ hoặc với các thành viên trong gia đình [83] Patterson và cs (1982) đã chỉ ra rằng hành động của trẻ và phản ứng đi kèm
Trang 20của cha mẹ thường được cấu thành bởi một loạt các tương tác liên tiếp liên quan tới việc gia tăng các hành vi không phù hợp cả về mặt tần suất và mức nghiêm trọng [79] Các nhà lý luận theo trường phái học tập xã hội cũng cho rằng mọi quá trình học tập giúp đứa trẻ thích nghi trong cuộc sống trong một vài trường hợp thì góp phần vào sự kém thích nghi của chúng Một đứa trẻ còn non nớt khi học tập qua bắt chước, quan sát người lớn thì không thể biết được chúng đang bắt chước hành vi nào là không phù hợp Cha mẹ có thể vô tình củng cố cho những hành vi không phù hợp này và dập tắt các hành vi xã hội phù hợp khác Vì vậy, rất nhiều hành vi không phù hợp của trẻ cũng như của người lớn là sản phẩm của quá trình học tập nhầm lẫn, hoặc là kết quả của việc thiếu những huấn luyện phù hợp; và cho dù là lí do nào thì bằng cách áp dụng nguyên tắc học tập sẽ giúp cải thiện và phòng ngừa một cách hiệu quả bất cứ khi nào vấn đề xảy ra [82, tr.243] Hay nói cách khác, việc ứng dụng lý thuyết học tập xã hội vào chương trình nghĩa là tập trung vào thay đổi các củng cố ngẫu nhiên của cha mẹ như là chú ý vào hành vi tích cực và lờ đi hành vi không phù hợp, cùng với đó cho phép cha mẹ trở thành những nhân tố của sự thay đổi trong cuộc sống của trẻ và là những mẫu hình hành vi.Việc hiểu được quá trình này không chỉ giúp cha mẹ nắm được vai trò của mình trong việc thực hành kỉ luật với trẻ, mà còn ủng hộ tầm quan trọng của việc huấn luyện cha mẹ cách tương tác với trẻ một cách hiệu quả nhất
Thứ ba, vận dụng mô hình cơ bản “A-B-C” của lý thuyết hành vi, trong chương trình huấn luyện, cha mẹ còn được dạy cách quản lý các yếu tố môi trường ngẫu nhiên để đáp ứng trước và sau khi hành vi của trẻ xảy ra Đầu tiên cha mẹ học cách nhận diện, ghi lại và thay đổi một loạt các sự kiện và kích thích đi trước có ý nghĩa tới hành vi của trẻ (luật lệ, yêu cầu, hướng dẫn không rõ ràng, không hiệu quả; hoặc yếu tố môi trường, như thiếu tính tổ chức/sắp xếp trong các hoạt động thường ngày ) Cũng theo nguyên tắc hành vi thì một hành vi sẽ có xu hướng tăng lên hoặc giảm đi tùy theo hệ quả (củng cố hoặc trừng phạt) đi sau hành vi đó Chính
vì vậy, tiếp sau đó cha mẹ sẽ học cách xác định hệ quả đóng vai trò như những củng
cố tích cực hoặc tiêu cực cho các hành vi của trẻ Nguyên tắc này là nền tảng xuyên suốt cho một loạt các kĩ thuật đặc trưng của chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ như củng cố tích cực bao gồm những củng cố xã hội như khen ngợi hoặc
Trang 21chú ý tích cực, củng cố bằng vật chất như điểm thưởng, phần thưởng (đồ ăn, đồ chơi ) Hệ quả làm giảm các hành vi không phù hợp bao gồm phớt lờ chủ động, khoảng lặng và tước quyền lợi Việc nhận diện các sự kiện đi trước hành vi của trẻ, cũng như hệ quả đi sau sẽ giúp cha mẹ học cách quản lý, điều chỉnh vấn đề của trẻ một cách hiệu quả hơn
1.1.1.3 Mục đích chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ
Cha mẹ có nhiều thời gian ảnh hưởng tới trẻ trong môi trường tự nhiên hơn bất cứ người nào khác, do vậy mục đích của chương trình nhằm giúp cha mẹ nắm được các nguyên tắc chính trong quản lý hành vi của trẻ, tăng năng lực và sự tự tin của cha mẹ trong việc nuôi dạy con, đồng thời cải thiện mối quan hệ cha mẹ-con cái, hỗ trợ sự phát triển của trẻ thông qua việc giảm thiểu và phòng ngừa các vấn đề của trẻ, khái quát và duy trì hiệu quả sau can thiệp Ngoài ra, việc huấn luyện cha
mẹ còn có có ý nghĩa trong việc tiết kiệm nguồn lực và tăng hiệu quả kinh tế vì không phải lúc nào cũng đủ các nhà trị liệu được thừa nhận về năng lực để can thiệp
cá nhân với trẻ [69]
1.1.1.4 Cấu trúc chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ
Chương trình huấn luyện thường được thực hiện bởi nhà trị liệu với từng gia đình hoặc nhóm gia đình, và được thực hiện với cha mẹ nhiều hơn là với trẻ Mặc
dù không bắt buộc, nhưng các nhà trị liệu khuyến khích sự có mặt của cả 2 bố mẹ Một khóa trị liệu chuẩn thông thường sẽ có 16 phiên, mỗi tuần một phiên, tuy nhiên tùy thuộc vào nhu cầu của gia đình, mức độ trầm trọng và thời gian tồn tại của vấn
đề mà số phiên sẽ dao động từ 6 đến 20 phiên [85, tr.668] Các phiên cần phải tuân theo cấu trúc một cách nghiêm ngặt nhưng vẫn có khoảng thời gian trống để giải quyết các vấn đề của gia đình nảy sinh trong phiên trị liệu, giới thiệu và thực hành các kĩ năng mới và phương pháp cụ thể cho từng mong muốn, nhu cầu của gia đình Mỗi phiên trị liệu kéo dài khoảng 60 phút cho một gia đình và 90 phút cho nhóm gia đình [108, tr.162] Tất cả các phiên đều bắt đầu bằng việc (1) hâm nóng không khí thông qua ôn tập, thảo luận lại bài tập về nhà, các khó khăn gặp phải và điều chỉnh nếu cần thiết; (2) phần mở đầu (giới thiệu các kĩ thuật mới: hướng dẫn lý thuyết, học qua video ); (3) thực hành các kĩ thuật mới thông qua hướng dẫn, làm mẫu, đóng vai, thực hành trên trẻ (nếu cần thiết) và (4) kết thúc với bài tập về nhà
Trang 22Các kĩ thuật phải được nhà trị liệu hướng dẫn một cách cụ thể phù hợp với từng hoàn cảnh của các gia đình nhưng vẫn dựa trên nguyên tắc cơ bản Nếu cần thiết có thể gọi điện thoại vào giữa 2 buổi trị liệu liên tiếp để phòng ngừa các vấn đề có thể xảy ra, động viên những thành công đã có và duy trì sự hợp tác của cha mẹ Ngoài
ra, nhiều chương trình cũng kết hợp thực hiện với giáo viên nhằm theo dõi hành vi của trẻ ở trường và liên kết với phần thưởng ở nhà Một yếu tố khá phổ biến trong nhiều chương trình chính là chuẩn bị cho họ cách quản lý các vấn đề hành vi ở trong các tình huống phức tạp hơn như là ở nơi công cộng
1.1.1.5 Một số chương trình Huấn luyện hành vi cha mẹ nổi tiếng
Chương trình Triple P (Positive Parenting Program - Chương trình cha mẹ
tích cực) được xây dựng bởi Sanders vào năm 1999 là một hệ thống đa cấp độ nhằm phòng ngừa các vấn đề hành vi, cảm xúc và phát triển của trẻ [89, tr.5] Các chiến lược được phân thành các nhóm: Tăng cường mối quan hệ cha mẹ con cái; khuyến khích các hành vi mong muốn thông qua hình phạt tích cực; dạy các kĩ năng và hành vi mới; quản lý hành vi sai và không thích nghi; phòng ngừa các vấn đề trong các tình huống có nguy cơ cao; khuyến khích kĩ năng tự điều chỉnh ở trẻ Chương trình bao gồm năm cấp độ phân theo nhu cầu của cha mẹ cũng như mức độ nghiêm trọng trong vấn đề của trẻ Cấp độ 1 là chương trình phổ quát hướng tới cung cấp thông tin cho mọi cha mẹ thông qua tranh ảnh và phương tiện truyền thông Cấp độ
2 hướng tới những quan tâm cụ thể hơn của cha mẹ liên quan tới sự phát triển hoặc hành vi của trẻ Cấp độ 3 bao gồm 3-4 phiên can thiệp ngắn với những cha mẹ có con có vấn đề hành vi cụ thể Cấp độ 4 hướng tới các cha mẹ tìm kiến huấn luyện chuyên sâu Cuối cùng là cấp độ 5 với chương trình tăng cường (11 phiên) dành cho những gia đình có trẻ có vấn đề hành vi nghiêm trọng bên cạnh những rối loạn chức năng gia đình đi kèm (xung đột mối quan hệ, trầm cảm, ngược đãi )
Chương trình Incredible Years (Những năm tháng tuyệt vời) do
Webster-Stratton xây dựng nhấn mạnh tới tầm quan trọng của quá trình xã hội hóa của gia đình và giáo viên, đặc biệt là những người ảnh hưởng tới trẻ nhỏ Chương trình áp dụng cho cha mẹ có con từ 0-12 tuổi [103, tr.13] có rối loạn thách thức chống đối, vấn đề hành vi và rối loạn tăng động/giảm chú ý [103, tr.14] Chương trình gồm 14-
20 phiên đi theo các chủ đề: Thời gian chơi đặc biệt; huấn luyện cảm xúc và xã hội;
Trang 23sử dụng khen ngợi; thúc đẩy trẻ qua phần thưởng; đặt ra giới hạn hiệu quả; quản lý
và phớt lờ hành vi không phù hợp; khoảng lặng để bình tĩnh; hệ quả tự nhiên và logic, giải quyết vấn đề [119] Chương trình gồm ba phiên bản: (1) Phiên bản cho cha mẹ nhắm tới cha mẹ có con có nguy cơ cao và cha mẹ có con đang có biểu hiện vấn đề hành vi (2) Phiên bản cho giáo viên tập trung tăng cường chiến lược quản lý lớp học, đẩy mạnh kĩ năng xã hội phù hợp và sự sẵn sàng tới trường của trẻ đồng thời giảm sự hung hăng, bất hợp tác Phiên bản cho trẻ nhằm huấn luyện kĩ năng quản lý cảm xúc, giải quyết vấn đề liên cá nhân, nội qui trường học và cách để thành công trong môi trường học đường
Chương trình Parent – Child Interaction Therapy (Trị liệu tương tác cha
mẹ - con cái) do Eyberg xây dựng từ những năm 1970 [9, tr.415] nhấn mạnh tới
việc cải thiện chất lượng mối quan hệ và thay đổi mẫu hình tương tác cha mẹ con cái Chương trình áp dụng cho cha mẹ có trẻ có rối loạn hành vi (2-7 tuổi), bị lạm dụng (2-12 tuổi), các vấn đề hướng nội, hướng ngoại, chậm phát triển tâm thần,
khuyết tật phát triển hoặc rối loạn ngôn ngữ [103, tr.44] Trị liệu tập trung vào hai
tương tác cơ bản: Tương tác trực tiếp với trẻ - liên quan tới trị liệu trò chơi để tăng cường sự liên kết giữa cha mẹ và trẻ trong quá trình chơi; và tương tác trực tiếp với cha mẹ - cha mẹ học cách sử dụng các kĩ thuật quản lý hành vi khi chơi với trẻ [103, tr.43] Chương trình không bị giới hạn về mặt thời gian, và chỉ dừng lại khi cha mẹ
đã học được các kĩ năng tương tác với con, cũng hành vi của trẻ được đánh giá trong giới hạn bình thường Mỗi giai đoạn trị liệu bắt đầu với một phiên giáo dục tâm lý; sau đó cha mẹ sẽ thực hành ở trong các phiên tiếp theo với con của mình trong phòng chơi được trang bị gương một chiều cùng với micro và hệ thống thu không dây, điều này cho phép nhà trị liệu nhắc nhở và củng cố họ để tạo thành mẫu
hành vi mới
1.1.2 Các kết quả nghiên cứu thực tiễn
1.1.2.1 Nghiên cứu tại Phương Tây
Nghiên cứu về tính hiệu quả
Cho tới thời điểm hiện tại, đã có hàng nghìn nghiên cứu đánh giá chương trình huấn luyện hành vi dành cho cha mẹ nhằm can thiệp vấn đề của trẻ, và nó được coi là một phương pháp trị liệu được chứng minh là có hiệu quả về mặt khoa
Trang 24học Hiệu quả của chương trình không chỉ mang tính tức thì mà còn được chứng tỏ
là kéo dài về mặt thời gian, và mang tính khái quát khi có hiệu quả trên cả hành vi của anh chị em trẻ không nằm trong mục tiêu trị liệu [13]
Chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ đem lại hiệu quả trị liệu trong rất nhiều lĩnh vực, tuy nhiên tựu chung lại qua kết quả nghiên cứu của các tác giả trên thế giới, có thể phân thành 4 nhớm chính sau
(1) Hiệu quả trong vấn đề rối loạn hành vi hướng ngoại
Đầu tiên, cần phải khẳng định rằng, chương trình huấn luyện hành vi làm cha
mẹ được coi như hình thức trị liệu hàng đầu (first – line) trong việc cải thiện các vấn đề rối loạn hành vi hướng ngoại, hay các vấn đề hành vi nói chung của trẻ Khẳng định này đã được thể hiện rất rõ thông qua các bằng chứng nghiên cứu của rất nhiều tác giả Lundahl, Risser và Lovejoy (2006) [63] đã tiến hành một nghiên cứu phân tích tổng hợp 63 nghiên cứu thực nghiệm và bán thực nghiệm đánh giá hiệu quả chương trình trên hành vi trẻ bao gồm 83 nhóm trị liệu từ 1974 đến 2003 Kết quả của các nghiên cứu đều chỉ ra những tác động ngay lập tức tới hành vi trẻ (với cỡ tác động = 0,42) khi so sánh với các chương trình trị liệu hành vi (0,54) và phi hành vi (0,30) khác Kết quả sau khi xem xét và đưa ra 24 nghiên cứu đối chứng ngẫu nhiên của Dretzke, Davenport, Frew và cs (2009) cũng cho thấy các chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ đều có những ảnh hưởng từ ít tới trung bình tới vấn đề hành vi của trẻ [26]
Tại Mỹ, Childres, Agazzi & Armstrong (2011) đã tiến hành đánh giá chương trình huấn luyện hành vi cha mẹ HOT DOCS (dạy người chăm sóc tiếp cận giải quyết vấn đề để hiểu và quản lý hành vi của trẻ) trên 128 khách thể có con từ 17 tháng đến 8 tuổi có vấn đề hành vi [19] Khách thể được chia thành nhóm trị liệu, nhóm đối chứng (không nhận được trị liệu) và được đánh giá về sự hiểu biết, thái
độ, sự căng thẳng và nhận thức về hành vi của trẻ trước và sau khi trị liệu Kết quả
đã chỉ ra rằng, nhóm trị liệu cho thấy có sự tăng thêm hiểu biết và giảm một cách có
ý nghĩa mức độ nghiêm trọng hành vi của trẻ so với nhóm chứng Tại Úc, Sanders
và cs (2014) đã tiến hành một nghiên cứu phân tích tổng hợp về chương trình Triple
P và sự thích nghi của nó, qua đó tác giả thấy rằng can thiệp có hiệu quả ở mức trung bình với vấn đề hành vi của trẻ (d=0,47), thực hành làm cha mẹ (d=0,58) và
Trang 25mức độ hài lòng của cha mẹ (d=0,52) Hiệu quả từ ít đến trung bình với việc điều chỉnh của cha mẹ (d=0,34) và mối quan hệ giữa cha mẹ (d=0,25) [90]
Với những trẻ có rối loạn tăng động giảm chú ý, Harvey và cs (2003) [40], Sonuga-Barke và cs (2002) [95] đã đề nghị cha mẹ trẻ tham gia vào 8 phiên trị liệu
cá nhân của chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ, và thu lại được những cải thiện tích cực trong hành vi của trẻ Tại Đức, Frölich J, Döpfner M, Berner W, Lehmkuhl G (2002) [33] đã tiến hành nghiên cứu kết hợp hai tiếp cận trị liệu là trị liệu nhận thức hành vi cho trẻ và huấn luyện hành vi cha mẹ Kết quả cho thấy huấn luyện hành vi cha mẹ đem lại hiệu quả lâu dài với việc quản lý các triệu chứng tăng động giảm chú ý của trẻ, và đặc biệt hữu ích trong việc bổ trợ can thiệp nhận thức hành vi cho trẻ bởi cha mẹ sẽ là người hỗ trợ và hướng dẫn trẻ ở nhà Tại Mỹ, Babinski, Waxmonsky và Pelham (2014) [5] đã thực hiện một nghiên cứu trên 12 cha mẹ và trẻ cùng có rối loạn tăng động giảm chú ý tham gia chương trình huấn luyện hành vi cha mẹ Nghiên cứu không chỉ nhằm đánh giá hiệu quả chương trình
mà còn khám phá hiệu quả của thuốc trước và sau khi tham gia chương trình Cha
mẹ ban đầu sẽ đánh giá triệu chứng của trẻ và của bản thân khi sử dụng thuốc, sau
đó họ ngừng thuốc và tham gia vào 3-5 tuần đánh giá đầu vào (baseline) và 8 phiên của chương trình huấn luyện Kết quả cho thấy cả hành vi của cha mẹ và trẻ đều có những cải thiện có thể quan sát được, cha mẹ cũng báo cáo hành vi của trẻ có tiến
bộ khi sau khi tham gia huấn luyện Như vậy mặc dù điều trị thuốc là cách trị liệu phổ biến nhất với người lớn mắc rối loạn tăng động giảm chú ý, tuy nhiên nghiên cứu đã bước đầu đưa ra được một tín hiệu đáng mừng cho hiệu quả và hướng nghiên cứu tiếp theo của chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ Trillingsgaard, T., Trillingsgaard, A & Webster-Stratton, C (2014) [102] đã tiến hành nghiên cứu trên cha mẹ của 36 trẻ có nguy cơ mắc rối loạn tăng động giảm chú ý Kết quả chỉ ra rằng, sau khi tham gia chương trình Incredible Years, 8/9 kết quả đánh giá cho thấy sự cải thiện hành vi của trẻ sau khi tham gia, và hiệu quả này kéo dài trong suốt 6 tháng Kết quả nghiên cứu so sánh hiệu quả của 2 chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ của Forehand, R., Parent, J., Sonuga-Barke, E và cs (2016) trên 130 cha mẹ có con mắc ADHD từ 3-4 tuổi (trong đó 44.6% đáp ứng cả
Trang 26chẩn đoán rối loạn thách thức chống đối) cũng chứng minh hiệu quả tương tự về mặt hành vi của trẻ [32]
Trong các vấn đề hành vi nói chung của trẻ, các hành vi chống đối, không vâng lời, gây rối cũng là những vấn đề phổ biến và thường là lí do khiến cha mẹ phải tìm kiếm trị liệu Serketich và Dumas (1996) đã tiến hành nghiên cứu phân tích tổng hợp đánh giá hiệu quả của chương trình với những trẻ có hành vi chống đối xã hội [93] Họ phân tích 27 nghiên cứu từ 1969 tới 1992 bao gồm 36 cặp so sánh giữa nhóm thực nghiệm và nhóm chứng, trong đó có 22 cặp nhận huấn luyện cá nhân và
13 cặp nhận chương trình huấn luyện nhóm Số phiên trung bình là 9,53 (SD = 4,17) Báo cáo cho thấy kết quả chung của trẻ với ĐTB cỡ tác động = 0,86 tương đương với sự tiến bộ, cải thiện rất lớn Điểm của cha mẹ, người quan sát và giáo viên lần lượt là 0,84; 0,85; 0,73 Từ kết quả này, chương trình huấn luyện hành vi cha mẹ có trẻ chống đối đã được Hiệp hội tâm lý học Mỹ chính thức được công nhận là một hình thức can thiệp có hiệu quả Tiếp sau đó, các nghiên cứu của Maughan và cs [69]; Lundahl, Risser, & Lovejoy [63] cùng nhiều tác giả khác cũng kết luận rằng huấn luyện hành vi làm cha mẹ có hiệu quả không chỉ trong việc thúc đẩy sự thay đổi tích cực hành vi làm cha mẹ mà còn giảm các hành vi không vâng lời, phá rối của trẻ Các tác giả chỉ ra những cải thiện mà chương trình đem lại trong các hành vi hung hăng, tức giận, không vâng lời và phá rối khi so sánh với các phương pháp tiền trị liệu và khi so sánh trẻ trong nhóm chứng không được tác động với nhóm nhận trị liệu [63, tr.9]) Scott (2005) đã đánh giá hiệu quả dài hạn của chương trình Incredible Years trên 59 cha mẹ có con từ 3-8 tuổi có hành vi chống đối xã hội [117] Tác giả báo cáo rằng, sau một năm những cải thiện tích cực mà trị liệu đem lại vẫn được giữ nguyên mà không mất đi bất cứ hiệu quả nào của chương trình (cỡ tác động khi so sánh trước trị liệu có SD = 0,91, sau trị liệu SD = -0,06) Tỉ
lệ trẻ nằm trong giới hạn rối loạn trước can thiệp là 68% và sau 1 năm là 37% Những trẻ có những vấn đề trầm trọng thì cải thiện nhiều nhất, các yếu tố như đơn thân, thu nhập thấp hay dân tộc thiểu số thì không làm giảm đi tính hiệu quả của chương trình Đây là một lợi ích quan trọng mà chương trình đem lại cho cả gia đình và trẻ Đặc biệt, Bearss và cs (2015) [47] khi so sánh hiệu quả giữa 89 cha mẹ tham gia chương trình huấn luyện hành vi và 91 cha mẹ tham gia giáo dục cha mẹ
Trang 27tại Mỹ có con mắc rối loạn phổ tự kỉ và hành vi gây rối, đã cho thấy chương trình huấn luyện hành vi đem lại hiệu quả hơn hẳn, làm giảm hành vi gây rối và cũng được các nhà giám sát đánh giá khá tích cực Mới đây nhất, năm 2016, Piquero và
cs trên cơ sở tổng hợp 78 nghiên cứu từ 1/2008 tới 8/2015 của nhiều nước phương Tây đã chứng minh rằng chương trình huấn luyện hành vi cha mẹ là một chiến lược thực chứng có hiệu quả để phòng ngừa hành vi phạm tội và chống đối xã hội [80]
(2) Hiệu quả trong vấn đề rối loạn hướng nội
Mặc dù chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ ban đầu được phát triển
để can thiệp các vấn đề hành vi của trẻ, tuy nhiên trong quá trình tìm kiếm bằng chứng hiệu quả, chúng tôi đã tìm thấy cả những nghiên cứu chỉ ra hiệu quả của chương trình trên các vấn đề rối loạn hướng nội C Webster-Stratton, K.C Herman (2008) đã kiểm nghiệm tác động của chương trình Incredible Years phiên bản tiêu chuẩn trên trẻ có các triệu chứng của rối loạn hướng nội [15] 181 trẻ được phân vào nhóm trị liệu và nhóm đối chứng một cách ngẫu nhiên Kết quả cho thấy, những trẻ trong nhóm trị liệu có xu hướng giảm bớt các triệu chứng trầm cảm sau trị liệu theo đánh giá của mẹ khi so sánh với nhóm đối chứng Điểm cỡ tác động cho các vấn đề hướng nội trong nhóm trị liệu là 0,37
Ở Isarel E.R Lebowitz H Omer, H Hermes and L Scahill (2014) đã tiến hành thử nghiệm chương trình SPACE (The supportive parenting for anxious childhood emotions program - chương trình hỗ trợ cha mẹ có trẻ lo âu) trên trẻ có rối loạn lo âu nhưng từ chối tham gia trị liệu cá nhân [27] Trong chương trình này, cha mẹ sẽ tham gia 10 phiên trị liệu kéo dài 10 tuần nhằm giáo dục cha mẹ về các yếu tố liên quan tới vấn đề của trẻ, hỗ trợ giảm nhẹ các triệu chứng lo lắng, thúc đẩy khả năng tự điều chỉnh của trẻ tới các ảnh hưởng tiêu cực Kết quả thử nghiệm cho thấy cả 6 trẻ đều giảm các triệu chứng lo âu và cha mẹ rất hài lòng về hiệu quả chương trình Choate, Pincus, Eyberg, & Barlow (2005) thì thử nghiệm chương trình PCIT với cha mẹ của 10 trẻ có rối loạn lo âu chia cách và cho thấy đã có những cải thiện đáng kể trong điểm lo âu chia cách (giảm từ 5,8 còn 4,2 theo thang CSR - Clinician Severity Ratings - phân loại mức độ lâm sàng) [20] Bên cạnh đó, cha mẹ cũng tăng thêm việc sử dụng kĩ năng làm cha mẹ phù hợp (khen cụ thể, hỏi
ít hơn, ảnh hưởng tích cực tới hành vi và cảm xúc của trẻ), và khi trẻ ở trong những
Trang 28tình huống phải chia cách với bố mẹ, chúng cũng có một khoảng thời gian dễ chịu hơn Mặc dù vậy bố mẹ vẫn báo cáo rằng trong một vài tình huống mới trẻ vẫn gặp khó khăn và cảm thấy căng thẳng, khó chịu, và vì vậy cha mẹ vẫn cần thêm những chỉ dẫn cụ thể trong các tình huống thường ngày Cho dù đây chỉ là một nghiên cứu thí điểm trên 10 trẻ nhưng đã cho thấy những kết quả rất khả quan trong việc trị liệu cho trẻ có lo âu bằng chương trình huấn luyện cha mẹ Andrew R Eisen, Helen Raleigh and Charles C Neuhoff sau nghiên cứu thực nghiệm cũng báo cáo rằng có 5/6 trẻ có cha mẹ tham gia chương trình đã không còn đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán của rối loạn lo âu chia cách, và 1 trẻ còn lại cũng giảm mức độ lo âu thông qua báo cáo của cha mẹ và thang RCMAS (Revised Children's Manifest Anxiety Scale - Thang đo biểu hiện lo âu) [30] Kết quả này là những bằng chững quan trọng ủng hộ cho hiệu quả của chương trình huấn luyện cha mẹ dành cho trẻ có rối loạn lo âu nói chung
Bên cạnh đó, mặc dù phơi nhiễm và điều trị thuốc đã được chứng minh về tính hiệu quả trên rối loạn ám ảnh cưỡng bước nhưng có những trẻ không đáp ứng với những hình thức trị liệu này Chưa kể rằng, rất nhiều trẻ thiếu động lực hoặc khả năng để tham gia một cách chủ động vào phiên trị liệu phơi nhiễm Tại Mỹ, Eli R Lebowitz (2013) đã thực hiện một nghiên cứu trên 6 trẻ trong 10 phiên trị liệu trong chương trình SPACE [56] Trong số này có 6 trẻ đã sử dụng thuốc mà không có kết quả trong vòng 6 tháng liên tục, 3 trẻ khác thì từ chối sử dụng thuốc cũng như trị liệu phơi nhiễm Kết quả cho thấy các triệu chứng OCD nghiêm trọng được đo bởi báo cáo của cha mẹ CYBOCS đã giảm từ 17,6 xuống 11,5 (t-test = 14,7, p < 0,01) Các hành vi OCD được đo bởi thang CD-POC cũng giảm từ 41,5 xuống còn 24,9 (điểm so sánh lần lượt paired t=7,4, p < 0,01 và 4,59, p < 0,01) Kết quả nghiên cứu này đã mở ra thêm một hướng đi mới cho việc trị liệu rối loạn ám ảnh cưỡng bức, cũng như khẳng định giá trị vô cùng to lớn mà chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ đem lại
Không chỉ có vậy, một số tác giả còn tìm thấy hiệu quả của chương trình trong việc điều trị rối loạn trầm cảm Eckshtain, D và cs (2015,2017) [29] trên cơ
sở nghiên cứu 30 cha mẹ có con đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn trầm cảm (DSM 4), trong đó 15 khách thể chỉ được nhận trị liệu CBT tập trung vào trầm cảm
Trang 29của trẻ và 15 khách thể nhận trị liệu BPT tập trung vào vấn đề hành vi Trẻ đều trong độ tuổi từ 7-13, 20 trong số đó là nam, 17 là người da trắng, 5 người Latinh, 2 người Mỹ gốc Phi, còn lại là đa sắc tộc Nghiên cứu không chỉ đánh giá trầm cảm
mà còn đánh giá cả căng thẳng của cha mẹ Kết quả cho thấy, cả 2 nhóm đều giảm
đi một cách có ý nghĩa các triệu chứng trầm cảm sau khi tham gia trị liệu và sự khác biệt giữa 2 nhóm là không có ý nghĩa Hiệu quả tương tự cũng được tìm thấy trong nghiên cứu của Vanessa E Cobham, Ania Filus, Matthew R Sanders (2017) trên 61 cha mẹ có con (7-14 tuổi) mắc rối loạn trầm cảm [21] Sau khi tham gia 6 phiên trị liệu đã thu được những kết quả rất tốt Tỉ lệ trẻ không còn đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán trầm cảm sau can thiệp như sau: 38,7% sau trị liệu; 58,6% sau 3 tháng kết thúc trị liệu; 69,2% sau 6 tháng kết thúc trị liệu; và 84% sau 12 tháng kết thúc trị liệu Như vậy mặc dù huấn luyện hành vi làm cha mẹ không hề nhấn mạnh vào điều trị trầm cảm nhưng nó lại cho thấy những cải thiện tích cực và có thể coi như một hình thức can thiệp rất hiệu quả cho trẻ mắc rối loạn trầm cảm
(3) Cải thiện tích cực hành vi cha mẹ
Bên cạnh những hiệu quả trên trẻ, những cải thiện tích cực trong hành vi, kĩ năng, năng lực làm cha mẹ cũng là những kết quả không thể không nhắc tới khi tìm hiểu về chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ Nghiên cứu của Connell, Sanders & Markie-Dadds, Eyberg và cs; Hutchings và cs đều thống nhất rằng chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ làm giảm các chiến lược làm cha mẹ tiêu cực và kém hiệu quả (dẫn theo [64, tr.9]) Scott và cs (2001) đã nghiên cứu trên cha mẹ của 141 trẻ (3-8 tuổi) tại Anh có hành vi chống đối xã hội chia thành 90 người trong nhóm thực nghiệm và 51 người trong nhóm chứng [88] Sau 13-16 tuần tham gia huấn luyện hành vi làm cha mẹ, tác giả báo cáo rằng cha mẹ trong nhóm thực nghiệm khen con nhiều hơn, giảm đi đáng kể những chỉ dẫn kém hiệu quả Patterson và cs (2002) sau khi cho 116 cha mẹ tại Anh có trẻ (2-8 tuổi) tham gia 10 tuần huấn luyện hành vi đã chỉ ra rằng 60 cha mẹ trong nhóm trị liệu đều giảm các hành vi làm cha mẹ không phù hợp, hiệu quả được ghi nhận 6 tháng tiếp sau đó so với 56 cha mẹ trong nhóm đối chứng [78]
Gardner, Burton, and Klimes (2006) đã đánh giá 76 gia đình tại Anh có trẻ (2-9 tuổi) có vấn đề hành vi Sau 14 phiên chương trình Incredible Years, cha mẹ
Trang 30báo cáo lại rằng, ngoài những cải thiện trên trẻ, cha mẹ còn cải thiện hành vi, kĩ năng làm cha mẹ tích cực hơn [35] Cha mẹ có mức hài lòng cao sau khi tham gia chương trình và hiệu quả duy trì 18 tháng sau đó
Reid, Webster-Stratton & Beauchaine (2001) cũng chỉ ra những kết quả tương tự của chương trình Incredible Years trên 634 cha mẹ da trắng, châu Phi, châu Á và gốc Tây Ban Nha [83, tr.13] Cha mẹ sau khi hoàn thành chương trình đều có tần suất cao hơn các hành vi tích cực, sự nhất quán và cải thiện năng lực làm cha mẹ; cùng với đó mức độ chỉ trích cũng thấp hơn so với nhóm đối chứng Santos và cs (2016) cũng kiểm tra hiệu quả của chương trình Incredible Years tại
Bồ đào Nha với người tham gia là cha mẹ của 124 trẻ từ 3-6 tuổi có nguy cơ có vấn
đề hành vi [92] Sau khi tham gia chương trình huấn luyện, kết quả cho thấy có sự cải thiện trong vấn đề hành vi và tăng các kĩ năng xã hội, người chăm sóc trở nên tự tin hơn và có nhiều tiến bộ trong việc thực hành làm cha mẹ Hiệu quả huấn luyện được chứng minh là kéo dài theo thời gian
Sanders và cs (2008) thì tiến hành đánh giá hiệu quả chương trình Triple P trên 3000 cha mẹ tại Brisbane, Sydney và Melbourne, Úc [91] Kết quả sau can thiệp cho thấy việc giảm các vấn đề hành vi và cảm xúc kéo dài tới sau 2 năm Nghiên cứu năm 2014 của tác giả trên cơ sở xem xét 101 nghiên cứu trong vòng 33 năm cũng chỉ ra hiệu quả lâu dài về hành vi của trẻ, khả năng thực hành của cha mẹ [90] Cha mẹ cũng báo cáo rằng họ giảm được mức độ căng thẳng, trầm cảm và các hành vi làm cha mẹ mang tính áp đặt
Nghiên cứu của Gross và cs (2009) đã kiểm nghiệm tính hiệu quả của 12 phiên trong chương trình huấn luyện cha mẹ Chicago Parent Program (CPP - chương trình cha mẹ Chicago) trên 253 cha mẹ (58.9% Mỹ gốc Phi, 32.8% người
La tinh) có con từ 2-4 tuổi [37] Đây đều là những gia đình có thu nhập nhấp Sau 1 năm, những cha mẹ trong nhóm nhận trị liệu ít sử dụng hình phạt thân thể cũng như
ít ra lệnh cho trẻ hơn là nhóm không nhận trị liệu Cha mẹ tham gia ít nhất 50% số phiên trong chương trình cũng cho thấy sự nhất quán trong kỉ luật hơn, nồng ấm hơn và sự giảm thiểu các vấn đề hành vi ở trẻ
(4) Cải thiện giao tiếp và mối quan hệ cha mẹ - con cái
Trang 31Cuối cùng, chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ cho thấy những kêt quả rất khả quan trong việc cải thiện giao tiếp cũng như mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái Nghiên cứu của Gross và cs (2003) đã chỉ ra hiệu quả của chương trình Incredible Years với nhóm dân số thiểu số và có mức thu nhập thấp [36] Nghiên cứu tiến hành trên 208 cha mẹ có con 2-3 tuổi đang học tại 11 trung tâm chăm sóc ban ngày Chicago, 5 trường trong số này là các gia đình người Mỹ gốc Phi, 3 trường khác có tới 80% người La tinh Người tham gia được chia thành 3 nhóm: nhóm huấn luyện cha mẹ riêng, nhóm huấn luyện cha mẹ và giáo viên, và nhóm chứng Kết quả nghiên cứu cho thấy cha mẹ trong nhóm trị liệu có hiệu quả hơn trong tương tác tích cực với trẻ và duy trì 1 năm sau đó
Anne Marie Levac và cs (2008) trong nghiên cứu về chương trình huấn luyện hành vi cha mẹ về sự hung tính của trẻ đã cho thấy: 37 cha mẹ (châu Á, Canada gốc Phi) sau khi tham gia chương trình Incredible Years đã báo cáo họ giảm mức độ stress, tăng tự tin và quan sát được những thay đổi tích cực ở con họ cũng như trong mối quan hệ của họ và con [60] Bywater và cs (2010) đã xem xét hiệu quả của chương trình Incredible Years và tiến hành trên 46 người chăm sóc ở Wales và chia thành 2 nhóm thực nghiệm và nhóm chứng [14] Kết quả đã cho thấy vấn đề hành vi của trẻ giảm một cách có ý nghĩa và có sự cải thiện trong mức độ trầm cảm của người chăm sóc Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc kết hợp chương trình này với huấn luyện người chăm sóc giúp thiết lập mối quan hệ tích cực và quản lý khó khăn hành vi của trẻ Nghiên cứu của Cuzzocrea và cs (2012) trên cha mẹ Ý và Sri Lankan có con không vâng lời [25] thì chỉ ra hiệu quả kéo dài theo thời gian, hành
vi của trẻ được cải thiện, giảm các hành vi không thích nghi, tăng các kĩ năng giáo dục của cha mẹ và ảnh hưởng tới tương tác giữa các thành viên trong gia đình, tạo
ra một môi trường giáo dục tích cực Nghiên cứu của Richard E.A Loren và cs (2015) đưa ra những hiệu quả của 8 phiên trị liệu nhóm huấn luyện hành vi cha mẹ tới những trẻ không vâng lời và sự tự tin của cha mẹ trong quản lý hành vi cha mẹ dành cho cha mẹ có con có rối loạn tăng động giảm chú ý [62] Cha mẹ của 241 trẻ
có rối loạn tăng động giảm chú ý sau khi tham gia trị liệu đã báo cáo trẻ có những cải thiện ở tất cả các lĩnh vực trong thang IRS (Impairment Rating Scale - Thang đo hành vi hư hỏng) với cải thiện lớn nhất là mối quan hệ cha mẹ-con cái và hành vi
Trang 32của trẻ trong gia đình Cha mẹ cũng báo cáo rằng sự tự tin của họ tăng lên trong việc quản lý hành vi của trẻ Như vậy, nghiên cứu đã cho thấy mặc dù đây chỉ là chương trình huấn luyện rút gọn 8 phiên nhưng đã đem lại những lợi ích đáng kể cho trẻ và cha mẹ
Như vậy, nhìn chung tất cả các nghiên cứu đều ủng hộ tính hiệu quả tức thì của các chương trình, đặc biệt, có nhiều bằng chứng cho thấy nó có hiệu quả cao với trẻ có vấn đề hành vi hướng ngoại như rối loạn tăng động giảm chú ý, hành vi chống đối, gây rối, không vâng lời Bên cạnh đó một vài tác giả cũng đưa ra được những bằng chứng về hiệu quả lâu dài của chương trình và hiệu quả của nó tới các rối loạn hướng nội như rối loạn lo âu Chương trình cũng tỏ ra rất hiệu quả trong việc cải thiện hành vi làm cha mẹ và thúc đẩy mối quan hệ giữa cha mẹ và trẻ tích cực hơn
Nghiên cứu về mức độ chấp nhận
Mặc dù xuất phát từ phương Tây và các nghiên cứu về tính hiệu quả rất rõ ràng, tuy nhiên các tác giả khi tiến hành kiểm nghiệm, đánh giá sự chấp nhận của cha mẹ với chương trình huấn luyện hành vi ở các nhóm văn hóa khác nhau, hay giữa những người chăm sóc, hoặc giữa các kĩ thuật và các hình thức truyền tải trong chương trình cũng cho thấy những sự khác biệt nhất định
Reimers và cs (1992) đã chỉ ra rằng cha mẹ Mỹ thường lựa chọn các củng cố tích cực và khoảng lặng và thấy chúng dễ chấp nhận hơn với những trẻ có hành vi ít nghiêm trọng [84] Tương tự với kết quả này, nghiên cứu của Lewis và cs (2016) cũng chỉ ra rằng phần lớn cha mẹ đều đánh giá chương trình Pathways Triple P (chương trình cha mẹ tích cực - phiên bản đường mòn) là hiệu quả và các chiến lược kỉ luật trong chương trình thì có hiệu quả và dễ chấp nhận hơn các hình phạt thân thể [61] Cha mẹ có mức độ chấp nhận cao và cho biết rất sẵn sàng sử dụng các phương pháp này ngoài phiên trị liệu và kể cả khi hoàn thành khóa huấn luyện Mặc
dù nhìn chung cha mẹ khá chấp nhận chương trình huấn luyện hành vi, tuy nhiên cũng có nghiên cứu cho thấy các bà mẹ chấp nhận chương trình hơn, đồng thuận với việc sử dụng gương một chiều, làm bài tập về nhà hàng ngày và nhận trị liệu nhóm hơn là những ông bố [100] Một nghiên cứu khác cũng cho thấy các bà mẹ thấy các chiến lược tước quyền lợi, khoảng lặng, củng cố tích cực dễ chấp nhận hơn là các
Trang 33ông bố Trong khi đó, các ông bố thì có xu hướng lựa chọn điều trị thuốc và đánh trẻ hơn là mẹ [99] Tuy nhiên về cơ bản cha mẹ đều có mức điểm chấp nhận cách
“đánh trẻ” thấp nhất so với các chiến lược khác (ĐTB = 23.19, SD = 7.56) [21, tr.14] Nghiên cứu của Borrego và cs (2007) trên cha mẹ Mỹ gốc Mexico cũng chỉ
ra rằng những ông bố có sự tiếp biến văn hóa thì chấp nhận hệ thống thưởng hơn là những người ít có sự tiếp biến văn hóa [11]
Năm 2003, Kratochwill và cs đã tiến hành nghiên cứu trên 68 cha mẹ và giáo viên Mỹ (trong đó 25 người sẽ nhận trị liệu hướng dẫn thông thường trong vòng 2 năm, 43 người sẽ nhận trị liệu thông qua video ở 3 năm tiếp theo) tham gia chương trình Incredible Years [98] Kết quả chỉ ra rằng nhìn chung họ chấp nhận và hài lòng với nội dung chương trình, đặc biệt chương trình video thì được chấp nhận nhiều hơn so với chương trình hướng dẫn theo cẩm nang Nghiên cứu của Stewart
và Carison (2010) cũng chỉ ra rằng với tổng điểm chung là 100,73 (SD = 11,685) lớn hơn ĐTB là 7,5 cho thấy cha mẹ chấp nhận chương trình và họ thấy phù hợp với con mình [96] ĐTB chấp nhận trị liệu = 56,8 (SD = 5) cũng tương đương như trong nghiên cứu của Kratochwill và cs (2003) ĐTB = 55 (SD = 5) Đây đều là mức điểm chấp nhận rất cao và là những bằng chứng cho thấy chương trình có hiệu quả
và được cha mẹ chấp nhận cho trẻ có rối loạn hành vi hướng ngoại Loạt video 2 của chương trình Incredible Years là loạt video duy nhất sử dụng cả chiến lược tiêu cực và tích cực nhắm tới các hành vi trầm trọng của trẻ (đá, cắn, ăn trộm…) và cho thấy mức độ chấp nhận cao hơn so với loạt video 3 nghiêng về các hình thức tích cực, ủng hộ trẻ Điều này chứng tỏ rằng cha mẹ có xu hướng thích lựa chọn cả 2 chiến lược để cân bằng hơn, cũng như thực tế hơn trong phong cách làm cha mẹ
Nghiên cứu của McCabe, Garland, Lau và Chavez (2005) tập trung vào nhóm gia đình người Mỹ gốc Mexico đã chỉ ra rằng cha mẹ rất thích ý tưởng đằng sau chương trình huấn luyện PCIT, tuy nhiên họ không thích các thuật ngữ sử dụng trong chương trình, và việc thay đổi các thuật ngữ này sẽ khiến họ sẵn sàng tham gia trị liệu hơn [71] Theo đó, tác giả cho rằng có thể thay đổi thuật ngữ "bài tập về nhà" thành "bài tập" hay "thực hành" để tăng mức độ chấp nhận của cha với chương trình Cũng liên quan đến ngôn ngữ, Rex Forehand & Beth A Kotchick (2002) trong nghiên cứu với gia đình Mỹ gốc Phi, tác giả tìm ra rào cản về khái niệm củng
Trang 34cố hoặc phần thưởng với sự chấp nhận của cha mẹ [86] Để giải quyết vấn đề này,
họ đã thay đổi ngôn ngữ, thay vì sử dụng củng cố như phần thưởng cho hành vi tốt thì thay bằng thể hiện cảm xúc công khai, hoặc sự cảm kích bằng ngôn từ với trẻ có hành vi phù hợp như là “cho con thấy rằng bạn yêu con” và như một bước xây dựng mối quan hệ cha mẹ - con cái mạnh mẽ hơn Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nhưng cặp cha mẹ trẻ thì có xu hướng dễ chấp nhận tìm kiếm trị liệu hơn là những cặp cha mẹ đã có tuổi và nhiều kinh nghiệm Những gia đình có vị trí kinh tế xã hội thấp cũng có xu hướng chấp nhận các chương trình này hơn là gia đình có vị trí kinh tế xã hội cao
Morawska và cs (2010) đã tiến hành nghiên cứu kiểm tra mức độ chấp nhận chương trình Triple P ở các nền văn hóa khác nhau (33.6% là người Úc và 18.7% là người Việt Nam, còn lại là người Châu Âu, Châu Phi, Nam Á) [74] 137 cha mẹ được xem một video tóm tắt lại 17 chiến lược trong chương trình và đọc thêm tài liệu về các kĩ năng Kết quả cho thấy cha mẹ có mức độ chấp nhận cao và thấy chương trình rất hiệu quả, họ cũng sẵn sàng sử dụng các chiến lược này ở nhà một cách thường xuyên Nhìn chung cha mẹ đánh giá các phương tiện chương trình phù hợp với nhiều nền văn hóa Điều cản trở nhất với họ chính là địa điểm và thời gian huấn luyện, vấn đề tài chính và sự cam kết tham gia Kết quả nghiên cứu này cũng đồng nhất với nghiên cứu trước đó của Whittingham và cs (2006) về mức độ chấp nhận và tính khả thi của chương trình Triple P trên cha mẹ có trẻ có rối loạn phổ tự
kỉ [110]
Carolyn Houldings và cs (2012) đã tiến hành nghiên cứu mức độ chấp nhận chương trình Triple P nhóm cho cha mẹ Ontario, Canada [44] Kết quả cho thấy có
sự cải thiện trong kĩ năng làm cha mẹ, hành vi và năng lực trẻ cũng như mối quan
hệ giữa cha mẹ và con cái Việc đóng vai, sách hướng dẫn và các chiến lược có thể quan sát được cha mẹ đánh giá là phù hợp với phong cách của cha mẹ Canada, các chiến lược trong chương trình cũng được cho là thống nhất với giá trị văn hóa của người tham gia Nhìn chung cha mẹ tương đối chấp nhận chương trình
Với đối tượng ông bà, các nghiên cứu về chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ vẫn còn hạn chế Năm 2012, James Kirby và Sanders đã tiến hành nghiên cứu phỏng vấn tập trung 14 ông bà (45-16 tuổi) dành 11-20 giờ chăm sóc
Trang 35cháu 1 tuần Nhận thấy tiềm năng hiệu quả mà chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ có thể đem lại cho những gia đình có ông bà là người tham gia chăm sóc cháu, cũng như dựa trên tỉ lệ 92% số ông bà được hỏi sẵn sàng tham gia một chương trình huấn luyện nhằm quản lý hành vi của trẻ tốt hơn, các tác giả đã xây dựng một chương trình huấn luyện hành vi dành riêng cho ông bà dựa trên nền tảng chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ Chương trình mang tên Granparent Triple P [53] (Chương trình ông bà - cha mẹ tích cực) Đây là chương trình được điều chỉnh từ chương trình Triple P cấp độ 4 cho phù hợp với sự quan tâm và nhu cầu của ông bà chăm sóc trẻ Chương trình kéo dài 9 tuần, bao gồm 6 phiên trị liệu nhóm kéo dài 120 phút và 3 cuộc gọi điện thoại tư vấn từ 20-30 phút Mục đích của chương trình là nhằm cung cấp chiến lược làm cha mẹ, cải thiện mối quan hệ giữa ông bà-cha mẹ (chiến lược nhóm) và cung cấp các chiến lược đương đầu giúp ông
bà quản lý căng thẳng và các cảm xúc không hữu ích [52, tr.779] Chương trình đã được tiến hành trên 45 ông bà người Úc với độ tuổi trung bình là 61,4 dành từ 11-20 giờ chăm sáu cháu mỗi tuần Kết quả chỉ ra rằng ông bà có mức độ chấp nhận cao với chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ và rất sẵn sàng sử dụng các chiến lược này Xuyên suốt 12 chiến lược mà ông bà sử dụng, không có sự khác biệt nào
về mức độ chấp nhận, mức độ thường xuyên hay mức độ ưa thích Tuy nhiên ông
bà chăm sóc cháu hơn 20 giờ một tuần thì được ghi nhận là khen ngợi cháu nhiều hơn so với ông bà dành ít hơn 20 giờ chăm sóc cháu Mức độ chấp nhận ở chiến lược đương đầu là cao nhất (9,2), sau đó đến chiến lược làm cha mẹ (9,1) và cuối cùng là chiến lược nhóm (9,0) Đây đều là những mức điểm chấp nhận rất cao Ông
bà cũng đưa ra các yếu tố có thể cản trở việc tham gia chương trình và sử dụng các chiến lược, bao gồm: Thời gian sử dụng chiến lược và niềm tin về hiệu quả chương trình Trong một nghiên cứu khác, khi so sánh với nhóm đối chứng, ông bà sau khi nhận huấn luyện hành vi đã cho thấy có sự cải thiện ngắn hạn về vấn đề hành vi của trẻ, sự tự tin của cha mẹ, lo âu/trầm cảm/căng thẳng của ông bà; ngoài ra còn cải thiện mối quan hệ giữa ông bà với cha mẹ trẻ Cha mẹ cũng nhận thấy những cải thiện trong hành vi của con mặc dù họ không tham gia vào chương trình Các hiệu quả ngắn hạn này vẫn được duy trì sau 6 tháng
Trang 36Vì được xây dựng từ giá trị văn hóa và đặc điểm phong cách làm cha mẹ của các nước phương Tây, nên nhìn chung cha mẹ tại nước này có mức độ chấp nhận cao vài hài lòng với các chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ Về cơ bản các kĩ thuật trong chương trình đều dựa trên nguyên tắc kỉ luật tích cực nên cha mẹ rất đồng tình và không có nhiều rào cản trong việc chấp nhận Các nghiên cứu cũng cho thấy rằng cha mẹ phương Tây nhìn chung có xu hướng ít chấp nhận và thường không lựa chọn cách ứng xử mang tính bạo lực (đánh, trừng phạt thân thể ), thay vào đó họ đồng tình hơn với các chiến lược kỉ luật tích cực, các củng cố tích cực trong cách nuôi dạy con cái Các nghiên cứu trên đối tượng ông bà mặc dù còn hạn chế nhưng cũng cho thấy mức độ chấp nhận và hiệu quả trên đối tượng này rất tích cực
1.1.2.2 Nghiên cứu tại phương Đông
Phần lớn các chương trình huấn luyện hành vi của cha mẹ có hiệu quả đều được phát triển tại các nước nói tiếng anh như Mỹ, Úc và Anh Việc các chương trình ít được cập nhật và kém phát triển tại châu Á là do khoảng cách địa lý, khác biệt văn hóa, ngôn ngữ, và thiếu các nghiên cứu thử nghiệm tính hiệu quả
Tại cái nước phương Đông như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, các chương trình can thiệp thực chứng cho cha mẹ thường gặp phải mâu thuẫn với các giá trị truyền thống chịu ảnh hưởng bởi Nho giáo, Khổng giáo Phong cách làm cha
mẹ của phương Đông cũng vấp phải khá nhiều mâu thuẫn với phong cách cha mẹ dân chủ ở phương Tây khi mà cha mẹ ở phương Đông thì kiểm soát và can thiệp vào cuộc sống của trẻ vào nhiều hơn [16] Vì vậy, việc tham gia và cam kết của cha
mẹ tại các nước này được cho là sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn, trừ phi chính bản thân bố mẹ đang gặp phải những chống đối ở con mình, hoặc họ muốn tìm hiểu nhiều hơn về phong cách làm cha mẹ dân chủ Tuy nhiên kết quả nghiên cứu mà các tác giả đã tìm ra lại rất khả quan và có nhiều ý nghĩa, giá trị
Ho và cs (1999) đã kiểm chứng hiệu quả của chương trình huấn luyện hành
vi cha mẹ ở 25 gia đình Trung Quốc có con từ 4-10 tuổi có vấn đề hành vi gây rối Tác giả thấy rằng có sự cải thiện có ý nghĩa trong hành vi của trẻ, trong mối quan hệ cha mẹ con cái và trong nhận thức về hành vi làm cha mẹ so với thời điểm trước huấn luyện Hiệu quả được duy trì 4 tháng sau đó [42] Crisante, L., & Ng, S
Trang 37(2003) thì tiến hành nghiên cứu trên 45 cha mẹ Trung Quốc được phân thành 5 nhóm trong suốt 12 tháng Sau khi điều chỉnh chương trình Triple P cấp độ 4 cho phù hợp với nền văn hóa của khách thể, chương trình đã cho thấy sự cải thiện có ý nghĩa trong hành vi phù hợp xã hội của trẻ, cũng như sự hài lòng của cha mẹ với chương trình [23]
Với những cha mẹ Trung Quốc sống tại Hồng Kông, nghiên cứu của các tác giả đều cho thấy những kết quả rất tích cực Leung, Sanders, Mak, Lau (2003) đã đánh giá chương trình huấn luyện hành vi cha mẹ trên 91 cha mẹ có con từ 3-7 tuổi với dấu hiệu sớm của rối loạn hành vi Sau khi can thiệp, các tác giả đã chỉ ra rằng trong nhóm nhận can thiệp đã có cải thiện trong hành vi gây rối của trẻ, giảm phong cách làm cha mẹ không phù hợp, tăng năng lực làm cha mẹ khi so sánh với nhóm chứng [57] Au, A., Lau và cs (2014) thì kiểm tra tính hiệu quả của chương trình Triple P cấp độ 4 trên 8 cha mẹ trong nhóm thực nghiệm và 9 cha mẹ trong nhóm chứng có con mắc rối loạn tăng động giảm chú ý [4] Sau khi tham gia chương trình, kết quả cho thấy mức độ trầm trọng trong vấn đề hành vi của trẻ giảm đi và có
sự tăng lên trong hiệu quả hành vi làm cha mẹ Hiệu quả với hành vi trẻ kéo dài 3 tháng sau can thiệp
Hiệu quả tích cực của chương trình đem lại cho trẻ và cha mẹ cũng được đánh giá tương tự ở những cha mẹ Trung Quốc sống ở các nước phương Tây như
Mỹ, Úc Lau, A., Fung, J., Ho, L., & Liu, L (2011) đã tiến hành nghiên cứu trên 54 cha mẹ Mỹ gốc Trung Quốc, trong đó 32 người thuộc nhóm nhận trị liệu bằng chương trình Incredible Years, và 22 người thuộc nhóm đối chứng [55] Kết quả nghiên cứu cho thấy cha mẹ có mức độ cam kết rất cao với chương trình (83% số gia đình tham gia ít nhất 10/14 phiên) Báo cáo cũng cho thấy cha mẹ đã ghi nhớ và học được các giá trị tích cực của việc chơi, lắng nghe một cách chủ động, tăng kỹ năng làm cha mẹ tích cực, ít các hình thức kỉ luật mang tính trừng phạt tiêu cực hơn,
và giảm thiểu các vấn đề hướng nội và hướng ngoại ở trẻ Tương tự, chương trình Strengthening Families Program (chương trình tăng sức mạnh gia đình) dành cho người Trung Quốc nhập cư tại San Francisco cũng cho thấy những cải thiện tích cực
có ý nghĩa trước và sau khi can thiệp với cỡ tác động khá cao trong các yếu tố: sự tham gia và hiệu quả trong cách làm cha mẹ, cách làm cha mẹ tích cực, sự cố kết
Trang 38trong gia đình, giao tiếp gia đình và kĩ năng xã hội Hiệu quả trị liệu được tìm thấy lớn hơn ở những gia đình có trẻ có vấn đề hành vi nghiêm trọng và ở những cha mẹ
có mức độ căng thẳng thấp [81, tr.111]
Ngoài ra, các nghiên cứu đánh giá mức độ chấp nhận của cha mẹ Trung Quốc cũng đưa ra được một vài kết luận đáng chú ý sau Yu, Robert, Shen và Wong (2011) [111] đã tiến hành đánh giá những người chăm sóc ở Hàng Châu, Trung Quốc và cho thấy mức độ chấp nhận tương đối cao ở cả 9 thành tố của chương trình (khen ngợi, thời gian chơi đặc biệt, phớt lờ hành vi tìm kiếm chú ý, khoảng lặng, chỉ dẫn hiệu quả, phớt lờ chủ động…) 3 kĩ thuật được cha mẹ Trung Quốc chấp nhận nhiều nhất là đưa lời khen, thời gian chơi đặc biệt và phớt lờ Họ cũng thấy rằng kĩ thuật khen ngợi và thời gian chơi đặc biệt có mức độ chấp nhận cao hơn một cách
có ý nghĩa so với 7 thành tố còn lại Ngoài ra, mức độ chấp nhận cũng khác nhau tùy theo người chăm sóc, ví dụ mẹ thích khen hơn ông bà, mẹ chấp nhận lờ hành vi tìm kiếm chú ý hơn bố Mặc dù vậy, khi so sánh với mức độ chấp nhận chương trình của các cha mẹ Âu Mỹ thì điểm chấp nhận của các cha mẹ Trung Quốc trong nghiên cứu này vẫn thấp hơn Kết quả nghiên cứu của Ho, Yeh, McCabe và Lau (2012) [41] đã chỉ ra rằng cha mẹ Trung Quốc nhập cư vào Mỹ chấp nhận các kĩ thuật củng cố tích cực hơn là kĩ thuật dựa trên sự trừng phạt Sự chấp nhận này bị ảnh hưởng bởi yếu tố cá nhân và yếu tố văn hóa Trong khi đó, Mah và cs (2012) [65] khi so sánh mức độ chấp nhận giữa các bà mẹ Trung Quốc nhập cư và các bà
mẹ Canada lại thấy rằng người Trung Quốc có thái độ tán thành với các kĩ thuật trừng phạt như đánh, điều chỉnh trẻ quá mức hơn các bà mẹ Canada Về kĩ thuật khen thưởng hay tước bỏ củng cố tích cực thì không có sự khác biệt nào về thái độ giữa hai nhóm
Ở Hồng Kông, nghiên cứu của Leung, Tsang, Heung và Yiu (2009) [58] đã đưa ra kết quả: cha mẹ có con 2-12 tuổi có vấn đề hành vi sau khi tham gia chương trình huấn luyện có sự giảm thiểu trong vấn đề hành vi của trẻ và các chiến lược làm cha mẹ không phù hợp (chỉ trích, phạt thân thể), tăng hành vi làm cha mẹ tích cực (khen, chỉ dẫn hiệu quả) Ngoài ra, quan sát cũng cho thấy có sự giảm thiểu các chiến lược quản lý không phù hợp của trẻ và tăng cách hành vi làm cha mẹ tích cực
Trang 39sau can thiệp Những lợi ích này duy trì hiệu quả 3-6 tháng sau khi hoàn thành chương trình
Ở Đài Loan, Chao, Huan, Tu, và Yang (2003) [17] đã thử nghiệm chương trình huấn luyện hành vi làm cha mẹ cho 23 cha mẹ có con có rối loạn tăng động giảm chú ý từ 3-6 tuổi Sau 10 phiên huấn luyện, kết quả cho thấy các triệu chứng tăng động giảm chú ý và các hành vi của trẻ ở nhà đều được cải thiện Cùng với sự tiến bộ trong việc huấn luyện là sự suy giảm đáng kể các triệu chứng trầm trọng và các vấn đề hành vi ở nhà của trẻ
Ở Hàn Quốc, Sun‐Kyung Kang, Hun Jin Kim (2013) [97] đã tiến hành thử nghiệm chương trình huấn luyện cha mẹ PET (Parent Effective Training - Huấn luyện cha mẹ hiệu quả) cho 42 cặp cha mẹ kéo dài trong 8 tuần Kết quả cho thấy có
sự cải thiện đáng kể trong sự giao tiếp gia đình giữa cha mẹ con cái và giữa các cặp
vợ chồng ở nhóm thực nghiệm Nghiên cứu đã chỉ ra rằng chương trình PET mang lại những lợi ích ngắn hạn cho cha mẹ Hàn Quốc muốn cải thiện giao tiếp trong gia đình Với những cha mẹ người Mỹ gốc Hàn, nghiên cứu của Kim Eunjung và cs (2016) [51] cũng cho thấy nhìn chung họ đánh giá các chiến lược làm cha mẹ trong chương trình khá hiệu quả trong việc cải thiện sự tự tin, cách biểu đạt cảm cảm xúc,
sự vâng lời của trẻ cũng như giảm thiểu các hành vi không phù hợp, tăng khả năng quản lý cảm xúc và giải quyết vấn đề của cha mẹ Kim, Cain và Webster-Stratton (2008) [50] thì chỉ ra rằng các bà mẹ người Mỹ gốc Hàn sau khi tham gia hương trình Incredible Years được ghi nhận là đã sử dụng các hình thức phạt tích cực nhiều hơn khi so với nhóm chứng Những bà mẹ có sự tiếp biến văn hóa thấp thì giảm bớt các hình phạt hà khắc, các bà mẹ có sự tiếp biến văn hóa cao thì tăng các hình phạt phù hợp hơn Ngược lại, Reid.M, Webster-Stratton.C & Beauchaine.T (2001) [83] lại thấy rằng các bà mẹ mẹ châu Á khi hoàn thành chương trình Incredible Years thì không tăng các hình phạt tích cực, nhưng họ giảm tần suất sử dụng các hình phạt hà khắc hoặc chỉ trích mắng mỏ trẻ Các tác giả cùng tìm ra rằng người mẹ châu Á cho rằng các kĩ thuật phạt tích cực thì ít hiệu quả hơn so với các nhóm cha mẹ ở các nước khác Luận điểm này cũng được tìm thấy qua nghiên cứu của Park SungHo (2004) [78] Tác giả đã chỉ ra rằng cha mẹ Hàn Quốc có thái độ ít tích cực hơn với các hình thức phạt nghiêm khắc như khoảng lặng, nói "không" khi
Trang 40trẻ có hành vi không mong muốn và khá sẵn sàng sử dụng chiến lược khen ngợi với trẻ Ngoài ra tác giả cũng báo cáo rằng, cha mẹ Hàn Quốc ưa thích chiến lược phần thưởng cho con hơn cha mẹ Mỹ gốc Âu
Ơ Nhật Bản, Matsumoto, Sofronoff và Sanders (2010) [68] đã tiến hành kiểm chứng chương trình Triple P nhằm mục đích chỉ ra lý thuyết và cách áp dụng chương trình phù hợp với bối cảnh đất nước 54 gia đình Nhật Bản sống tại thủ đô Tokyo đã được phân vào nhóm thực nghiệm và nhóm chờ Kết quả cho thấy chương trình có hiệu quả trong các lĩnh vực: hành vi của trẻ, hành vi của cha mẹ, năng lực làm cha mẹ, chức năng gia đình và sự điều chỉnh của cha mẹ Cha mẹ trong nhóm thực nghiệm cũng báo cáo mức độ hài lòng tương đối cao với chương trình Tác giả cũng chỉ ra rằng cha mẹ Nhật Bản có mức độ hài lòng với chương trình Triple P tương đương với cha mẹ ở Úc Hiệu quả tương tự cũng được tìm thấy trong nghiên cứu của Fujiwwara, Kato và Sanders (2011) [34] 91 gia đình Nhật Bản sau khi tham gia Triple P đều cho thấy sự giảm thiểu các vấn đề hành vi ở trẻ, các hành vi làm cha mẹ không phù hợp và mức độ trầm cảm, lo âu, căng thẳng cũng như tăng
sự tự tin của cha mẹ trong việc nuôi dạy con cái Wakimizu R, Fujioka H, Iejima A, Miyamoto S (2014) [106] thử nghiệm chương trình Triple P với các 54 gia đình có con khiếm khuyết phát triển ở Tokyo Kết quả cho thấy các triệu chứng cảm xúc và vấn đề hành đểu giảm đi và duy trì trong vòng 3 tháng sau can thiệp Mức độ khó khăn hành vi cũng giảm đi sau can thiệp kéo dài tới 6 tháng Cha mẹ cũng giảm bớt các chiến lược hành vi làm cha mẹ tiêu cực với hiệu quả duy trì sau 6 tháng Cha mẹ
tỏ ra rất hài lòng với chương trình, và kết quả này cao hơn so với những nghiên cứu trước đó chứng tỏ đây là một chương trình dễ chấp nhận và có hiệu quả cao với cha
mẹ Nhật Bản
Về phía ông bà, bằng chứng nghiên cứu ít ỏi về chương trình Grandparent Triple P trên 56 ông bà tại Hồng Kông đã cho thấy kết quả rất khả quan Kết quả cho thấy có sự giảm đáng kể vấn đề hành vi của trẻ và tăng hiệu quả trong cách thức làm ông bà Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng ông bà cảm thấy bớt căng thẳng hơn về vai trò làm ông bà của mình Các khó khăn mà ông bà chỉ ra bao gồm: các bài tập viết (không quen làm), khó khăn trong việc ghi nhớ những thứ đã được học ở lớp Tuy