1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Mối liên hệ giữa khả năng tự phục hồi và vấn đề cảm xúc, hành vi của học sinh trung học phổ thông tại thành phố hà nội

97 194 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng quan tình hình nghiên cứu về thực trạng, các yếu tố nguy cơ đối với vấn đề cảm xúc, hành vi của vị thành niên .... Tại Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu tìm hiểu về thực trạng vấn đề

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN MINH HẰNG

MỐI LIÊN HỆ GIỮA KHẢ NĂNG TỰ PHỤC HỒI VÀ VẤN ĐỀ CẢM XÚC, HÀNH VI CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC

PHỔ THÔNG TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

Hà Nội - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN MINH HẰNG

MỐI LIÊN HỆ GIỮA KHẢ NĂNG TỰ PHỤC HỒI VÀ VẤN ĐỀ CẢM XÚC, HÀNH VI CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC

PHỔ THÔNG TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

CHUYÊN NGÀNH: TÂM LÝ HỌC LÂM SÀNG TRẺ EM VÀ VỊ THÀNH NIÊN

Mã số: Thí điểm

Người hướng dẫn khoa học: TS Amie Alley Pollack PGS.TS Đặng Hoàng Minh

Hà Nội - 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Giáo dục – ĐHQGHN, tới các thầy, cô giáo trong Chương trình Tâm lý học Lâm sàng đã trực tiếp giảng dạy

và các cán bộ quản lý đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập

và nghiên cứu tại trường

Xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới TS Amie Alley Pollack và PGS TS Đặng Hoàng Minh – những người hướng dẫn khoa học đã luôn đồng hành, tận tâm, nhiệt tình và nghiêm túc trong việc định hướng cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này Đặc biệt, với cô Amie Pollack, vượt qua những rào cản về mặt ngôn ngữ, cô đã nỗ lực hỗ trợ, khuyến khích và truyền cảm hứng cho tôi Bên cạnh đó, trong thời gian làm luận văn, vượt qua cách trở về mặt địa lý, cô Đặng Hoàng Minh đã luôn sẵn sàng dành thời gian quý báu của mình để góp ý, giúp đỡ cho tôi

Tôi cũng xin được cảm ơn một cách chân thành NCS Hồ Thu Hà vì đã luôn

hỗ trợ và động viên tôi trong quá trình thực hiện luận văn, đặc biệt là giúp tôi và cô Amie Pollack vượt qua bất đồng ngôn ngữ

Xin bày tỏ lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu các trường THPT Trần Nhân Tông, THPT Trung Văn, THPT Ngọc Hồi, THPT Ngô Thì Nhậm cùng các em học sinh đã tham gia và hợp tác trong nghiên cứu này

Cuối cùng, xin được cảm ơn người thân, bạn bè của tôi đã luôn ở bên, ủng hộ

và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện luận văn của mình

Hà Nội, tháng 11 năm 2017

Tác giả

Nguyễn Minh Hằng

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG ANH

ACE Adverse Childhood Experiences – Các trải nghiệm khó khăn thời thơ ấu ASEBA Achenbach System of Emprically-Based Asessement - Hệ thống Đánh

giá Dựa trên Thực chứng

CBCL The Child Behavior Checklist - Bảng Kiểm kê Hành vi Trẻ em

CDI Children's Depression Inventory – Bảng khảo sát trầm cảm trẻ em

CD-RISC The Connor-Davidson Resilience Scale – Thang đo khả năng tự phục

hồi Connor-Davidson

DASS Depression Anxiety Stress Scales - Thang đo Trầm cảm Lo âu Stress DSM-4 Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, Fifth Edition – Hướng

dẫn chẩn đoán và phân loại các rối loạn tâm thần, phiên bản lần thứ 4

DSM-5 Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, Fifth Edition – Hướng

dẫn chẩn đoán và phân loại các rối loạn tâm thần, phiên bản lần thứ 5

IQ Intelligence quotient – Chỉ số trí tuệ

ICD-10 International Classification of Diseases - Bảng phân loại bệnh quốc tế

lần thứ 10

M Mean – Điểm trung bình

READ Resilience Scale for Adolescents – Thang đo khả năng tự phục hồi cho

vị thành niên

SD Standard Deviation – Độ lệch chuẩn

SDQ Strengths and Difficulties Questionnaire – Bảng hỏi điểm mạnh và khó

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Các nhóm yếu tố trong khả năng tự phục hồi 23

Bảng 2.1 Thống kê số liệu nhân khẩu học của nhóm mẫu nghiên cứu 38

Bảng 2.2 Tiến trình nghiên cứu 44

Bảng 3.1 Điểm trung bình và độ lệch chuẩn của thang đo READ 47

Bảng 3.2 Sự khác biệt về KNTPH theo giới tính 49

Bảng 3.3 Sự khác biệt giữa các nhóm học lực, kinh tế gia đình, sức khỏe thể chất về khả năng tự phục hồi của học sinh THPT 50

Bảng 3.4 Điểm trung bình của tổng thang đo YSR 51

Bảng 3.5 Điểm trung bình của các nhóm vấn đề cảm xúc, hành vi cụ thể 53

Bảng 3.6 Sự khác biệt giữa các nhóm khu vực sống và vấn đề cảm xúc, hành vi của học sinh THPT 55

Bảng 3.7 Sự khác biệt giữa nhóm nam, nữ về vấn đề cảm xúc, hành vi của học sinh THPT 55

Bảng 3.8 Sự khác biệt giữa các nhóm học lực, kinh tế gia đình, sức khỏe thể chất về vấn đề cảm xúc, hành vi của học sinh THPT 56

Bảng 3.9 Tỷ lệ số loại trải nghiệm khó khăn thời thơ ấu mà học sinh THPT gặp phải 58

Bảng 3.10 Tỷ lệ học sinh gặp các trải nghiệm khó khăn thời thơ ấu theo từng loại TNKK thời thơ ấu 58

Bảng 3.11 Sự khác biệt giữa các nhóm học lực, tình trạng kinh tế, tình trạng sức khỏe thể chất với các trải nghiệm khó khăn thời thơ ấu 60

Bảng 3.12 Mối liên hệ giữa điểm tổng thang đo READ và điểm số thang đo YSR 60 Bảng 3.13 Tương quan giữa điểm số các tiểu thang đo READ 62

và điểm số thang đo YSR 62

Bảng 3.14 Phân tích hồi quy tuyến tính để dự báo vấn đề cảm xúc, hành vi từ khả năng tự phục hồi 65

Bảng 3.15 Tương quan giữa các trải nghiệm khó khăn thời thơ ấu với các vấn đề cảm xúc, hành vi của học sinh 67

Bảng 3.16 Phân tích hồi quy dự báo điểm số YSR từ tổng điểm ACE 68

Bảng 3.17 Tương quan giữa các trải nghiệm khó khăn thời thơ ấu với khả năng tự phục hồi ở học sinh THPT 68

Bảng 3.18 Phân tích hồi quy dự báo điểm số READ từ tổng điểm ACE 70

Bảng 3.19 Phân tích hồi quy để dự báo vấn đề CXHV của học sinh THPT từ TNKK thời thơ ấu và KNTPH 70

Trang 6

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1.1 Mô hình Kim tự tháp các trải nghiệm khó khăn thời thơ ấu của Felitti

và cs (1998) 33

Biểu đồ 3.1 Hàm phân phối điểm trung bình thang READ 46

Biểu đồ 3.2 Điểm trung bình thang đo READ của Việt Nam và Na Uy 48

Biểu đồ 3.3 Hàm phân phối tổng điểm thô thang đo YSR 52

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT ii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG ANH ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iii

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ iv

MỤC LỤC v

MỞ ĐẦU 1

1.Lý do chọn đề tài 1

2.Mục đích nghiên cứu 3

3.Giả thuyết nghiên cứu 3

4.Nhiệm vụ nghiên cứu 4

5.Đối tượng và khách thể nghiên cứu 4

6.Phương pháp nghiên cứu 4

7.Giới hạn nghiên cứu 5

8.Đóng góp mới của luận văn 5

9.Cấu trúc của luận văn 5

CHƯƠNG 1 6

CƠ SỞ LÝ LUẬN 6

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 6

1.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về thực trạng, các yếu tố nguy cơ đối với vấn đề cảm xúc, hành vi của vị thành niên 6

1.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về khả năng tự phục hồi 12

1.1.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu về mối quan hệ giữa khả năng tự phục hồi và vấn đề cảm xúc, hành vi của vị thành niên 17

1.2 Một số khái niệm công cụ 19

1.2.1 Khả năng tự phục hồi 19

1.2.2 Vấn đề cảm xúc, hành vi 28

1.2.3 Các trải nghiệm khó khăn thời thơ ấu 32

1.2.4 Học sinh trung học phổ thông 34

Tiểu kết chương 1 36

Trang 8

CHƯƠNG 2 38

TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38

2.1 Sơ lược về địa bàn nghiên cứu 38

2.2 Mẫu nghiên cứu 38

2.3 Các phương pháp nghiên cứu 40

2.3.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 40

2.3.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 40

2.3.3 Phương pháp thống kê toán học 43

2.4 Quy trình thu thập dữ liệu 43

2.5 Tiến trình nghiên cứu 44

2.6 Đạo đức nghiên cứu 44

Tiểu kết chương 2 44

CHƯƠNG 3 46

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 46

3.1 Thực trạng khả năng tự phục hồi của học sinh THPT 46

3.1.1 Thực trạng khả năng tự phục hồi của học sinh THPT 46

3.1.2 Sự khác biệt của các nhóm nhân khẩu học về KNTPH của học sinh THPT 48

3.2 Thực trạng vấn đề cảm xúc, hành vi của học sinh THPT 51

3.2.1 Thực trạng vấn đề cảm xúc, hành vi của học sinh THPT 51

3.2.2 Sự khác biệt của các nhóm nhân khẩu học về vấn đề cảm xúc, hành vi của học sinh THPT 54

3.3 Thực trạng các trải nghiệm khó khăn thời thơ ấu của học sinh THPT 57

3.3.1 Thực trạng các trải nghiệm khó khăn thời thơ ấu của học sinh THPT 57

3.3.2 Sự khác biệt ở các nhóm nhân khẩu học về các trải nghiệm khó khăn thời thơ ấu của học sinh THPT 59

3.4 Mối quan hệ giữa khả năng tự phục hồi và vấn đề cảm xúc, hành vi của học sinh THPT 60

3.4.1 Mối quan hệ giữa khả năng tự phục hồi nói chung và các vấn đề cảm xúc, hành vi của học sinh THPT 60

3.4.2 Mối quan hệ hệ giữa các yếu tố trong khả năng tự phục hồi với vấn đề CXHV của học sinh THPT 62

3.5 Mối liên hệ giữa các trải nghiệm khó khăn thời thơ ấu và vấn đề cảm xúc, hành vi của học sinh THPT 66

Trang 9

3.6 Mối liên hệ giữa các trải nghiệm khó khăn thời thơ ấu và khả năng tự phục hồi

của học sinh THPT 68

3.7 Dự báo vấn đề cảm xúc, hành vi của học sinh THPT từ các biến độc lập 70

Tiểu kết chương 3 71

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

PHỤ LỤC 88

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Lứa tuổi vị thành niên theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc là những người từ

10 đến 19 tuổi [98] Đây là giai đoạn phát triển tâm lý quan trọng nằm giữa lứa tuổi nhi đồng và lứa tuổi trưởng thành; chứa đựng nhiều khủng hoảng, thách thức khi cá nhân phải đối mặt với các thay đổi về mặt sinh học, tâm lý và xã hội Các chuyên gia trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần đặc biệt quan tâm đến lứa tuổi này vì

có tỉ lệ khá cao vị thành niên mắc vấn đề cảm xúc, hành vi 1 Khảo sát của Merikangas và cộng sự (2010) với 10123 trẻ từ 13-18 tuổi tại Hoa Kỳ đã cho thấy tỉ

lệ vị thành niên mắc vấn đề cảm xúc, hành vi (CXHV) tương đối phổ biến: rối loạn

lo âu là phổ biến nhất (31.9%), tiếp theo là rối loạn hành vi (19.1%) và rối loạn khí sắc (14.3%) [57]

Vấn đề CXHV có thể kéo theo gánh nặng cho hệ thống chăm sóc sức khỏe, luật pháp, giáo dục; đồng thời gia tăng các nguy cơ rối loạn tâm thần trong tương lai [63] Fergusson (2002) đã nghiên cứu trường diễn và cho thấy những vị thành niên

có biểu hiện trầm cảm thì có nguy cơ cao mắc rối loạn trầm cảm chủ yếu, rối loạn lo

âu, phụ thuộc hoặc lạm dụng chất, ý định tự sát, kết quả học tập thấp, thất nghiệp và làm cha mẹ sớm trong giai đoạn trưởng thành [36] Ngoài ra, nghiên cứu của Hofstra (2002) trên nhóm mẫu vị thành niên Hà Lan cũng cho thấy kết quả tương tự [47] Bên cạnh đó, Colman (2009) cũng đã chỉ ra những kết quả tiêu cực của vấn đề hành vi ở lứa tuổi vị thành niên ở Anh: Những em có các vấn đề hướng ngoại nghiêm trọng thì có xu hướng bỏ học cao và gặp nhiều khó khăn liên quan đến sức khỏe tâm thần, mối quan hệ, cuộc sống gia đình, vấn đề giáo dục, vấn đề kinh tế khi trưởng thành [26] Các kết quả trên cho thấy vấn đề CXHV của lứa tuổi vị thành niên có thể dẫn đến những kết quả tiêu cực, rất cần được quan tâm nghiên cứu sâu

Trong hoạt động phòng ngừa, can thiệp các vấn đề cảm xúc, hành vi của vị thành niên, một khía cạnh được quan tâm nhiều hiện nay là khả năng tự phục hồi

Trang 11

thiên tai, phải sống tị nạn…), vẫn có nhiều em đạt được kết quả phát triển tích cực [81] Các em đó được coi là có KNTPH [56] Theo Hjemdal và cộng sự (2006), thuật ngữ KNTPH để chỉ “những yếu tố bảo vệ, các quá trình hoặc cơ chế mà giúp các cá nhân, dù gặp tác nhân căng thẳng mang lại nguy cơ phát triển tâm bệnh đáng

kể, vẫn tạo ra kết quả tốt” [45] Nhiều nghiên cứu trên thế giới về KNTPH đã được thực hiện nhằm xác định các yếu tố, quá trình trong KNTPH; xây dựng các chương trình phòng ngừa vấn đề sức khỏe tâm thần và thúc đẩy sự thích nghi tích cực ở vị thành niên, đặc biệt trong nhóm dân số có nguy cơ [82] Với ý nghĩa như vậy, việc tìm hiểu mối liên hệ giữa KNTPH và vấn đề CXHV ở vị thành niên là điều cần thiết

để phát triển công tác thực hành can thiệp, phòng ngừa vấn đề CXHV ở các em

Sự phát triển tâm lý của cá nhân phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó các yếu tố tác động tiêu cực, làm tăng khả năng xuất hiện các vấn đề sức khỏe tâm thần được gọi là yếu tố nguy cơ [6] Yếu tố nguy cơ đối với vấn đề CXHV ở vị thành niên có thể bao gồm các nhóm yếu tố về cá nhân, gia đình, trường học, cộng đồng Một trong số những yếu tố nguy cơ khá phổ biến đã được chứng minh trong các nghiên cứu trước đó là các trải nghiệm khó khăn thời thơ ấu 3 Chúng có thể là những trải nghiệm như: bị lạm dụng hoặc bỏ mặc lúc nhỏ, có bố mẹ lạm dụng chất hoặc nghiện rượu, bạo lực gia đình, cha mẹ bất hòa trong hôn nhân hoặc có thành viên gia đình là tội phạm Nhiều khảo sát ở Hoa Kỳ cho thấy tỉ lệ trẻ em và vị thành niên từng gặp ít nhất một trải nghiệm khó khăn (TNKK) thời thơ ấu từ 48-61% [48] [75] Nghiên cứu theo chiều dọc của Schilling (2007) trên 1093 học sinh cuối cấp ba ở Mỹ cho thấy tồn tại mối liên hệ giữa TNKK thời thơ ấu và các triệu chứng trầm cảm, hành vi chống đối xã hội và sử dụng chất [70] Mối quan hệ giữa yếu tố nguy cơ TNKK thời thơ ấu và KNTPH, VĐCXHV cũng là một câu hỏi quan trọng cần giải đáp để có thêm những thông tin hữu ích trong xây dựng các chương trình phòng ngừa VĐCXHV, đặc biệt với những em gặp nhiều TNKK thời thơ ấu

Tại Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu tìm hiểu về thực trạng vấn đề CXHV

và các yếu tố nguy cơ của nhóm vị thành niên nói chung, nhóm học sinh THPT nói riêng: nghiên cứu của Lê Thị Kim Dung (2007) đã tìm hiểu một số yếu tố nguy cơ đối với vấn đề CXHV học sinh Trung học cơ sở; Nguyễn Thị Hằng Phương (2012)

Trang 12

về thực trạng rối loạn lo âu ở học sinh trường Trung học phổ thông chuyên Quảng Bình; nghiên cứu của nhóm tác giả Đặng Hoàng Minh, Barh Weiss, Nguyễn Cao Minh (2013) về thực trạng sức khỏe tâm thần trẻ em Việt Nam…[1][7][9] Tuy nhiên, trong phạm vi tìm hiểu của đề tài, những nghiên cứu tại Việt Nam về mối quan hệ giữa KNTPH và vấn đề CXHV còn khá hạn chế Đồng thời, mối quan hệ giữa TNKK thời thơ ấu, KNTPH và vấn đề CXHV cũng chưa được nghiên cứu trong các đề tài trước đây ở Việt Nam Như vậy, đòi hỏi cần thêm các nghiên cứu tại Việt Nam để làm bổ sung thêm kho tàng lý luận và các kết quả thực chứng cho hướng này

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi thực hiện đề tài “Mối liên hệ giữa khả năng tự phục hồi và vấn đề cảm xúc, hành vi của học sinh trung học phổ thông tại thành phố Hà Nội” để giúp tìm hiểu mối liên hệ giữa

KNTPH và vấn đề CXHV của học sinh THPT, đặc biệt xem xét nó với sự tồn tại của TNKK thời thơ ấu Trên cơ sở đó, đề xuất các chiến lược cho hoạt động phòng ngừa và can thiệp vấn đề CXHV ở vị thành niên Các câu hỏi nghiên cứu

mà đề tài đặt ra như sau: (1) Thực trạng KNTPH; vấn đề CXHV của các HS THPT tại Hà Nội là như thế nào? (2) Giữa KNTPH và vấn đề CXHV của các HS THPT tại Hà Nội có mối quan hệ gì, đặc biệt khi xem xét mối quan hệ này với sự tồn tại của các yếu tố nguy cơ như TNKK thời thơ ấu? (3) Những yếu tố nhân khẩu học như giới tính, học lực, khu vực sống… có liên quan đến KNTPH, vấn

đề CXHV của học sinh THPT hay không?

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm tìm hiểu về mối liên hệ giữa khả năng tự phục hồi và vấn

đề cảm xúc, hành vi của học sinh THPT; đặc biệt xem xét mối liên hệ này với sự tồn tại của TNKK thời thơ ấu Trên cơ sở đó, đưa ra những khuyến nghị cho hoạt động phòng ngừa và can thiệp vấn đề cảm xúc, hành vi ở các em

3 Giả thuyết nghiên cứu

(1) Mức độ vấn đề CXHV thuộc nhóm hướng nội cao hơn nhóm hướng ngoại Trong KNTPH ở học sinh THPT, mức độ của yếu tố Nguồn lực xã hội cao

Trang 13

hơn so với những yếu tố thuộc hai nhóm Đặc điểm cá nhân và Sự hỗ trợ của gia đình

(2) Có tương quan nghịch giữa KNTPH và vấn đề CXHV của các HS THPT TNKK thời thơ ấu có liên hệ với KNTPH và vấn đề CXHV của học sinh THPT

(3) Một số yếu tố nhân khẩu học như giới tính, học lực, khu vực sống… có liên quan tới KNTPH, vấn đề CXHV

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về KNTPH; vấn đề CXHV của vị thành niên; mối quan hệ giữa KNTPH, vấn đề CXHV và yếu tố nguy cơ TNKK thời thơ ấu

- Khảo sát thực trạng KNTPH, vấn đề CXHV của học sinh THPT; mối quan

hệ giữa KNTPH, vấn đề CXHV và yếu tố nguy cơ TNKK thời thơ ấu ở học sinh THPT tại Hà Nội

5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Mối liên hệ giữa khả năng tự phục hồi và vấn đề cảm xúc, hành vi của học sinh THPT

5.2 Khách thể nghiên cứu

423 học sinh THPT lớp 10 và lớp 11 trên địa bàn Hà Nội

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Trên cơ sở đọc và phân tích, tổng hợp tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu; hệ thống hóa cơ sở lý luận với những khái niệm công cụ; tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề; xây dựng cơ sở lý thuyết về đề tài

6.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

- Thang đo Khả năng tự phục hồi cho vị thành niên (Resilience Scale for

Adolescents: READ) được sử dụng để đánh giá về khả năng tự phục hồi ở học sinh THPT

- Bảng tự báo cáo của thiếu niên (The Youth Self-Report Form: YSR) được

sử dụng nhằm đánh giá vấn đề CXHV của học sinh THPT

Trang 14

- Bảng hỏi Các trải nghiệm khó khăn thời thơ ấu (Adverse childhood

Experiences Questionnaire: ACE) để khảo sát các TNKK thời thơ ấu của học sinh THPT

6.3 Phương pháp thống kê toán học

Để xử lý các số liệu được thu thập từ phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, nghiên cứu sử dụng phần mềm xử lý số liệu SPSS bản 22

7 Giới hạn nghiên cứu

- Về nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu này chỉ tập trung đánh giá KNTPH với các cấu trúc theo thang đo READ Đối với vấn đề CXHV, chỉ đánh giá 8 nhóm vấn đề CXHV theo thang đo YSR Về các TNKK thời thơ ấu, đề tài này chỉ khảo sát 10 loại TNKKTTA theo bảng hỏi ACE

- Về phạm vi nghiên cứu: chỉ thực hiện nghiên cứu đối với học sinh lớp 10

và lớp 11 của 4 trường THPT trên TP Hà Nội

- Về thời gian nghiên cứu: nghiên cứu được thực hiện từ tháng 11/2016 đến tháng 10/2017

8 Đóng góp mới của luận văn

Đề tài giúp tìm hiểu mối quan hệ giữa khả năng tự phục hồi và vấn đề cảm xúc, hành vi của học sinh THPT Đặc biệt, đề tài góp phần làm rõ hơn mối quan hệ giữa các trải nghiệm khó khăn thời thơ ấu với khả năng tự phục hồi và vấn đề cảm xúc, hành vi Từ đó, đề tài đã đưa ra những đề xuất, kiến nghị nhằm phòng ngừa, can thiệp các vấn đề cảm xúc, hành vi của học sinh THPT

9 Cấu trúc của luận văn

Trừ phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận

Chương 2 Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 Kết quả nghiên cứu

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về thực trạng, các yếu tố nguy cơ đối với vấn đề cảm xúc, hành vi của vị thành niên

Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu đối với vấn đề CXHV ở vị thành niên, một trong những hướng nghiên cứu chính là về thực trạng và xác định các yếu tố nguy

1.1.1.1 Các nghiên cứu về thực trạng vấn đề CXHV ở vị thành niên

Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện để tìm hiểu tỷ lệ vấn đề CXHV nói chung trên đối tượng vị thành niên Ở Đức, Barkmann và Markwort (2004) đã tổng quan một cách hệ thống 29 nghiên cứu và kết luận tỷ lệ các rối loạn cảm xúc, hành

vi ở trẻ em và vị thành niên Đức là 17.2 +/- 5.07% [17] Trên đối tượng vị thành niên Mỹ gốc Hàn, nghiên cứu của Kim (2016) báo cáo tỷ lệ vị thành niên gặp vấn

đề CXHV ở mức lâm sàng là 18%, phần lớn vấn đề thuộc nhóm hướng nội như trầm cảm, lo âu Nữ giới có mức độ trầm cảm, lo âu, phàn nàn cơ thể nói riêng và vấn đề hướng nội nói chung cao hơn so với nam giới Nam giới và vị thành niên lớn tuổi báo cáo mức độ hành vi phá vỡ quy tắc cao hơn [50] Tác giả Pathak (2011) đã nghiên cứu với 1150 học sinh Ấn Độ từ 12 đến 18 tuổi, kết quả cho thấy, tỉ lệ vấn

đề CXHV do bằng Bảng thiếu niên tự báo cáo (YSR) là 30%, nữ nhiều hơn nam Các triệu chứng hướng nội là vấn đề thường gặp nhất (28.6%) [66] Tại Trung Quốc, Wang và cộng sự (2014) đã khảo sát 5520 vị thành niên Trung Quốc tuổi 11-

18 từ 30 trường công với bảng hỏi Điểm mạnh và khó khăn (SDQ) Số liệu thu chỉ

ra rằng có 10.7% vị thành niên có điểm số VĐCXHV trên mức ranh giới [77]

Thực trạng vấn đề CXHV ở vị thành niên từ các nền văn hóa khác nhau cũng được quan tâm bởi nhiều nghiên cứu Nghiên cứu của Weisz và cộng sự (1993) cho thấy trẻ em Mỹ da trắng có tỷ lệ cao các vấn đề hướng ngoại (như tranh cãi, không nghe lời, hung bạo với người khác) còn trẻ Kenya có tỉ lệ cao các vấn đề hướng nội (như sợ hãi, cảm giác tội lỗi, vấn đề cơ thể) Các tác giả cũng gợi ý rằng sự khác biệt này có thể liên quan đến tính vâng lời và tuân thủ được nhấn mạnh ở văn hóa Kenya, trong khi ở văn hóa Mỹ nhấn mạnh đến tính độc lập [79] Ngoài ra, sự nhạy

Trang 16

cảm của phụ huynh và điều kiện sống ở Thế giới thứ ba cũng là những giả thuyết được các tác giả đặt ra Không chỉ vậy, Weisz còn thực hiện nghiên cứu để tìm hiểu vấn đề CXHV ở trẻ em Mỹ và Thái Lan Trẻ em Thái Lan, với nền văn hóa chịu ảnh hưởng từ Phật giáo khuyến khích tính tự chủ, khả năng kiểm soát cảm xúc và không khuyến khích các hành vi gây hấn, đã báo cáo nhiều vấn đề hướng nội hơn (như xấu

hổ, sợ hãi) so với trẻ em Mỹ [80] Tương tự, Crijnen (1993) và cộng sự đã so sánh vấn đề CXHV ở trẻ em và vị thành niên từ 12 nền văn hóa bao gồm Úc, Bỉ, Trung Quốc, Đức, Hy Lạp, Israel, Jamaica, Hà Lan, Puerto Rico, Thụy Điển, Thái Lan và Hoa Kỳ Số liệu thu được chỉ ra rằng có sự khác biệt mức độ trung bình giữa các nền văn hóa khác nhau ở các vấn đề thu mình và vấn đề xã hội; sự khác biệt nhỏ ở các vấn đề phàn nàn cơ thể, lo âu/trầm cảm, vấn đề suy nghĩ, vấn đề chú ý, hành vi phá vỡ luật và hành vi hung tính Điểm số vấn đề CXHV của trẻ Puerto Rico cao nhất, Thụy Điển thấp nhất Đồng thời, có sự nhất quán giữa các nền văn hóa về việc

nữ có điểm số cao hơn nam ở các vấn đề phàn nàn cơ thể, lo âu/trầm cảm nhưng điểm số thấp hơn nam ở các vấn đề chú ý, hành vi hung tính [29]

Không chỉ nghiên cứu ở nhóm đối tượng vị thành niên trong dân số chung, nhiều tác giả còn tìm hiểu thực trạng vấn đề CXHV ở các nhóm đối tượng đặc biệt Stevenson (2015), đã thực hiện nghiên cứu để ước tính mức độ vấn đề CXHV của trẻ khiếm thính so với các trẻ bình thường Trẻ khiếm thính có điểm số vấn đề CXHV đo bằng thang SDQ cao hơn khoảng 1/4 đến 1/3 độ lệch chuẩn so với trẻ bình thường [74] Trên nhóm đối tượng vị thành niên hút thuốc lá, thực trạng vấn đề CXHV cũng được Muthupalaniappen (2012) ở Malaysia nghiên cứu Nhìn chung, điểm trung bình vấn đề CXHV ở trẻ hút thuốc lá cao hơn trẻ không hút thuốc lá ở tất cả các lĩnh vực vấn đề CXHV theo thang đo YSR Thiếu niên hút thuốc lá có nhiều vấn đề hành vi phá vỡ quy tắc, hành vi hung tính và phàn nàn cơ thể hơn so với các em khác [62] Bên cạnh đó, Dekker (2002) đã phát hiện ra rằng trẻ em khuyết tật trí tuệ có điểm trung bình vấn đề CXHV cao hơn so với các em bình thường, cụ thể có gần 50% trẻ khuyết tật trí tuệ có tổng điểm vấn đề CXHV đo bằng YSR ở mức lệch chuẩn, còn ở các em bình thường tỉ lệ này là 18% [32]

Ngoài những nghiên cứu về thực trạng vấn đề CXHV nói chung, vẫn có rất nhiều nghiên cứu tập trung vào thực trạng của các loại vấn đề CXHV cụ thể Chẳng

Trang 17

hạn, về thực trạng rối loạn trầm cảm: Wang (2016) nghiên cứu thực trạng trầm cảm của vị thành niên Trung Quốc, cho thấy tỉ lệ trẻ có nguy cơ trầm cảm là 23.9% [78] Nghiên cứu của Saluja (2004) trên nhóm vị thành niên Mỹ báo cáo 18% vị thành niên có triệu chứng trầm cảm, ở nữ cao hơn ở nam [69] Hoặc Munhoz (2015) tìm hiểu thực trạng trầm cảm ở vị thành niên Brazil, với tỷ lệ trầm cảm nhẹ là 17% [59]

Về biểu hiện của rối loạn lo âu, Beesdo và cộng sự (2009) đã tổng hợp kết quả của các nghiên cứu khác nhau ở các nước Đài Loan, Puerto Rico, New Zealand, Mỹ, Đức, Canada, Thụy Điển, Hà Lan và đưa ra tỷ lệ rối loạn lo âu ở trẻ em và vị thành niên như sau: tỉ lệ ám sợ đặc hiệu đo tại thời điểm dao động từ 0.2%-14.6%; ám sợ

xã hội là 0.5%-11.1% [18] Các tác giả đã giải thích tỷ lệ rối loạn lo âu dao động nhiều là do khác biệt trong các nhóm tuổi, các công cụ nghiên cứu khác nhau, nguồn thông tin, phương pháp tổng hợp dữ liệu và các hệ thống chẩn đoán được sử dụng… Tương tự, các nghiên cứu về thực trạng rối loạn hành vi cũng rất đa dạng: Nghiên cứu của tác giả Murray (2013) tìm hiểu tỷ lệ mắc rối loạn hành vi ở trẻ em

và vị thành niên Brazil với kết quả cho thấy tỷ lệ trung bình các vấn đề hành vi trong bảng hỏi sàng lọc là 20.8%, tỷ lệ trung bình rối loạn cư xử/rối loạn khiêu khích chống đối là 4.1% [61] López-Villalobos (2014) ở Tây Ban Nha đã nghiên cứu và cho biết biết tỷ lệ rối loạn khiêu khích chống đối của trẻ là 5.6%; xét theo giới tính: nam là 6.8% và nữ là 4.3% [52]

Ở Việt Nam, một số nghiên cứu đã được thực hiện để tìm hiểu thực trạng vấn

đề CXHV nói chung cũng như các loại VĐCXHV cụ thể ở vị thành niên:

Về các loại vấn đề CXHV cụ thể: Lê Thị Kim Dung (2007) đã nghiên cứu

2549 học sinh trung học cơ sở tuổi từ 11-15 ở miền Bắc, cho thấy tỷ lệ một số vấn

đề cảm xúc, hành vi cụ thể là: lo âu (12.3%); trầm cảm (8.4%); tic (4.2%)…[1] Bên cạnh đó, Nguyễn Thị Hằng Phương (2009) đã điều tra về thực trạng rối loạn lo âu ở học sinh trường Trung học phổ thông chuyên Quảng Bình, kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ rối loạn lo âu ở học sinh là 21.6% [9] Về rối loạn trầm cảm ở trẻ vị thành niên, Cao Vũ Hùng (2010) đã tiến hành nghiên cứu trên nhóm trẻ điều trị tại Bệnh viện Nhi Trung ương Trong số vị thành niên bị trầm cảm, tuổi 13-16 chiếm tỷ lệ cao (63.75%), tuổi trung bình là 14.15 (SD=1.74), nữ nhiều hơn nam (1.16/1) Bên

Trang 18

cạnh đó, các rối loạn khác ở trẻ vị thành niên bị trầm cảm nhiều nhất là rối loạn lo

âu (63.75%), rối loạn hành vi (45%) [4]

Các nghiên cứu tập trung vào các vấn đề hành vi, cảm xúc nói chung của

vị thành niên có thể kể đến các nghiên cứu sau: Năm 2007, Ngô Thanh Hồi khảo sát 1203 học sinh từ 10-16 tuổi, cho thấy tỷ lệ học sinh mắc vấn đề CXHV nói chung là 19.46%; tỷ lệ mắc vấn đề cảm xúc là 11.48%, vấn đề cư xử là 9.23%, vấn đề tăng động là 14.10%, vấn đề nhóm bạn là 9.32% và vấn đề tiền xã hội là 7.57% [3] Năm 2013, nhóm tác giả Đặng Hoàng Minh, Barh Weiss, Nguyễn Cao Minh đã điều tra về thực trạng sức khỏe tâm thần trẻ em Việt Nam trên nhóm mẫu đại diện ở 1320 hộ gia đình có con từ 6-16 tuổi từ 10 tỉnh thành đại diện cho toàn quốc Tỷ lệ các trường hợp có vấn đề CXHV ở trẻ 12-16 tuổi theo thang đo SDQ do cha mẹ báo cáo (gồm các tiểu thang xã hội tích cực, vấn đề hành vi, tăng động, vấn đề tình cảm, vấn đề bạn bè) là 13.2%; còn tỉ lệ theo thang đo YSR do trẻ tự báo cáo là 12.4% Tỉ lệ vị thành niên có vấn đề về hướng nội cao hơn tỉ lệ vị vị thành niên có vấn đề hướng ngoại [7]

1.1.1.2 Các nghiên cứu về yếu tố nguy cơ đối với vấn đề CXHV ở vị thành niên

Sự phát triển tâm lý của vị thành niên chịu tác động bởi nhiều yếu tố, trong

đó bao gồm cả những yếu tố nguy cơ Yếu tố nguy cơ là những yếu tố tác động tiêu cực, làm tăng khả năng xuất hiện các vấn đề sức khỏe tâm thần [5] Các yếu tố nguy

cơ đối với vấn đề CXHV ở vị thành niên rất đa dạng và đã được xác định trong nhiều nghiên cứu

Một số nghiên cứu trên thế giới đã tìm hiểu các yếu tố nguy cơ đối với những vấn đề CXHV cụ thể của vị thành niên Về rối loạn trầm cảm, Wang (2016) nghiên cứu và chỉ ra những yếu tố nguy cơ gồm: có bố mẹ đơn thân, không được cả bố và

mẹ chăm sóc, sống trong gia đình thu nhập thấp, các áp lực về sức khỏe thể chất, mối quan hệ liên cá nhân…) [78] Munhoz (2015) bổ sung thêm các bằng chứng về yếu tố nguy cơ cho trầm cảm bao gồm là nữ giới, vị thành niên lớn tuổi, dân tộc thiểu số, sống với một cá nhân mắc trầm cảm [59] Ngoài ra, các yếu tố liên quan đến việc bắt nạt/bị bắt nạt cũng được cho là yếu tố nguy cơ đối với vấn đề trầm cảm

ở vị thành niên trong nghiên cứu của Saluja (2004) trên nhóm vị thành niên Mỹ [69]

Trang 19

Đối với rối loạn lo âu, một số yếu tố nguy cơ đã được Beesdo và cộng sự (2009) chỉ ra: yếu tố nhân khẩu học (nữ giới, trình độ học vấn thấp, thu nhập thấp), các yếu tố sinh học (gen, chức năng thần kinh), đặc điểm khí chất và nhân cách, các yếu tố về môi trường (phong cách làm cha mẹ, bầu không khí trong gia đình, các khó khăn thời thơ ấu, biến cố trong cuộc đời) [18] Đối với triệu chứng rối loạn lo

âu xã hội, Wu (2016) đã nghiên cứu và phát hiện các yếu tố nguy cơ như: độ tuổi, rối loạn chức năng gia đình, chất lượng cuộc sống, khả năng ứng phó kém, triệu chứng trầm cảm và lòng tự trọng thấp [87]

Ở rối loạn cư xử, các yếu tố nguy cơ đã được chỉ ra trong nghiên cứu của Murray (2010) là tính khí bốc đồng, chỉ số IQ thấp, thành tích học thấp, ít sự giám sát của cha mẹ, kỷ luật của cha mẹ không nhất quán, cha mẹ có thái độ lạnh nhạt, bị lạm dụng tình dục, cha mẹ có xung đột với nhau, cha mẹ và bạn bè có thái độ chống đối xã hội, gia đình thu nhập thấp, trường học và khu phố có tỷ lệ tội phạm cao [60]

Không chỉ xác định các yếu tố nguy cơ với vấn đề CXHV cụ thể, một số nghiên cứu tìm hiểu về yếu tố nguy cơ với vấn đề CXHV nói chung Compas và cộng sự (1989) đã khảo sát 309 trẻ 10-15 tuổi ở Vermont, Mỹ và cha mẹ của các em trong nghiên cứu dài 9 tháng để tìm hiểu yếu tố nguy cơ đối với vấn đề CXHV của lứa tuổi đầu vị thành niên Kết quả cho thấy, vấn đề CXHV của trẻ được dự đoán bởi các sự kiện gây căng thẳng với trẻ, sự kiện gây căng thẳng, triệu chứng tâm lý của cha mẹ [27] Rae-Grant (1989) đã nghiên cứu 3294 trẻ em và vị thành niên từ 4 đến 16 tuổi ở Canada, cho thấy các vấn đề liên quan đến phụ huynh và gia đình là yếu tố gây nguy cơ cao với các rối loạn [67] Bên cạnh đó, nghiên cứu của Gortmaker và cộng sự (1990) với 11699 trẻ em và vị thành niên ở Mỹ cũng chỉ ra thấy điều kiện về sức khỏe với các bệnh mãn tính cũng là yếu tố gây nguy cơ cao với vấn đề CXHV: có sự khác biệt lớn giữa các em có bệnh mãn tính và không có bệnh mãn tính ở các vấn đề trầm cảm/lo âu, xung đột với bạn/thu mình; tỷ lệ các vấn đề hành vi cực đoan ở các em có bệnh mãn tính cao gấp 1.55 lần các em không có bệnh mãn tính Ngoài ra, nghiên cứu này cũng chỉ ra các yếu tố nguy cơ khác bao gồm thiếu bố/mẹ đẻ, gia đình thu nhập thấp, tuổi và trình độ của người mẹ [42] Tương tự, nghiên cứu của Hamidovic (2017) đã chỉ ra các biến nhân khẩu học như: mẹ thất nghiệp, kinh tế gia đình thấp… là nguy cơ cho vấn đề CXHV ở vị thành niên [43] Không chỉ vậy, khảo sát của Fowler, P (2009) báo cáo

Trang 20

yếu tố bạo lực cộng đồng là yếu tố nguy cơ đối với các vấn đề hướng ngoại và một số vấn đề hướng nội [40] Các trải nghiệm khó khăn thời thơ ấu (như bị lạm dụng hoặc bỏ mặc lúc nhỏ, lạm dụng chất hoặc nghiện rượu, cha mẹ bất hòa trong hôn nhân và có thành viên gia đình là tội phạm…) cũng là yếu tố nguy cơ đối với vấn đề CXHV ở vị thành niên Schilling (2007) đã nghiên cứu chiều dọc trên 1093 học sinh cuối cấp ba ở

Mỹ, cho thấy tồn tại mối liên hệ giữa các triệu chứng trầm cảm, hành vi chống đối xã hội, hành vi sử dụng chất với TNKK thời thơ ấu [70]

Ở Việt Nam, một số tác giả cũng đã nghiên cứu về các yếu tố nguy cơ đối với vấn đề CXHV ở vị thành niên Nguyễn Thanh Hương và cộng sự (2009) đã sử dụng nghiên cứu cắt ngang để xác định một số yếu tố nguy cơ đối với trầm cảm và

lo âu ở 972 học sinh hai trường trung học cơ sở của Hà Nội Kết quả cho thấy trầm cảm và lo âu ở cả học sinh nam và nữ có mối liên quan với bị bắt nạt/trêu ghẹo; sự kiểm soát và bảo vệ quá mức của cha mẹ [5] Về rối loạn trầm cảm ở trẻ vị thành niên, nghiên cứu của Cao Vũ Hùng (2010) đã báo cáo các yếu tố liên quan đến trầm cảm bao gồm: xu hướng tính cách hướng nội; tiền sử mắc bệnh tâm thần, thần kinh, bệnh cơ thể nặng, mãn tính; tiền sử gia đình mắc rối loạn tâm thần; cấu trúc gia đình không hoàn thiện; thất bại trong các mối quan hệ với bạn bè, người thân; học tập căng thẳng, thất bại trong thi cử, chuyển môi trường học… [4]

Ngoài ra, nghiên cứu của Đặng Hoàng Minh, Barh Weiss, Nguyễn Cao Minh (2013) đã cho thấy khu vực nông thôn có thể là yếu tố nguy cơ cho vấn đề tình cảm,

lo âu/trầm cảm, bạn bè còn khu vực đô thị lại là yếu tố nguy cơ với vấn đề tăng động [7] Trên nhóm mẫu vị thành niên nam trường giáo dưỡng, tác giả Trần Thành Nam (2015) tìm mối liên hệ giữa phong cách hành vi làm cha mẹ và các biểu hiện rối loạn hành vi cảm xúc ở vị thành niên trên 172 khách thể nam trường Giáo dưỡng

và 172 khách thể nam từ cộng đồng trong độ tuổi từ 13-16 Kết quả nghiên cứu khẳng định phong cách hành vi làm cha mẹ ảnh hưởng đến 8 nhóm rối loạn gồm rối loạn lo âu trầm cảm, thu mình trầm cảm, than phiền cơ thể, vấn đề xã hội, vấn đề tư duy, vấn đề chú ý, hành vi xâm kích/gây hấn và hành vi phá luật Cụ thể, phong cách dễ dãi nuông chiều dự báo 7/8 nhóm rối loạn, phong cách làm cha mẹ độc đoán dự báo 5/8 nhóm rối loạn Một số yếu tố nguy cơ gồm: sự thiếu nhất quán

Trang 21

trong ứng xử của cha mẹ với con cái, hành vi kiểm soát cảm xúc và một số biến nhân khẩu học như thu nhập, số lượng anh chị em trong gia đình [8]

Nhìn chung, từ những nghiên cứu trên, có thể thấy rằng vấn đề CXHV ở vị thành niên đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong nước và ngoài nước Các nghiên cứu về thực trạng vấn đề CXHV ở vị thành niên đã được thực hiện trên các nhóm đối tượng khác nhau và tập trung cả vào vấn đề CXHV chung lẫn những loại vấn đề CXHV cụ thể Kết quả của các nghiên cứu đó cho thấy tỷ lệ vấn đề CXHV ở vị thành niên khá cao Một số vấn đề CXHV thuộc nhóm hướng nội có xu hướng xuất hiện nhiều hơn các vấn đề CXHV thuộc nhóm hướng ngoại (như nghiên cứu ở các nước Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam ) Những yếu tố nguy cơ

đã được chỉ ra trong các nghiên cứu đi trước bao gồm những yếu tố thuộc về cá nhân, gia đình, trường học/cộng đồng Các trải nghiệm khó khăn thời thơ ấu cũng là một trong số những yếu tố nguy cơ đối với vấn đề CXHV của vị thành niên

1.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về khả năng tự phục hồi

Các nghiên cứu về KNTPH nổi lên từ những năm 1960, 1970 của thế kỉ trước khi một số nhà nghiên cứu bắt đầu quan tâm đến hiện tượng nhóm trẻ sống trong điều kiện nhiều nguy cơ nhưng vẫn biểu hiện sự thích ứng tích cực [54] Từ

đó đến nay, đã có rất nhiều công trình trên thế giới nghiên cứu về KNTPH, có thể được chia thành hai hướng chính sau:

- Hướng thứ nhất: Những nghiên cứu tìm hiểu các yếu tố trong KNTPH

Trong những năm 1960, 1970 của thế kỷ trước, Garmezy và các cộng sự đã nghiên cứu về nguyên nhân và tiên lượng của rối loạn tâm thần mức độ nặng Các tác giả đã nhận thấy rằng trong số những trẻ em gặp nguy cơ cao mắc rối loạn tâm thần, có một nhóm trẻ vẫn thích nghi tốt một cách đáng ngạc nhiên Do đó, việc tìm kiếm các yếu tố mà liên quan tới hiện tượng này là điều đặc biệt quan trọng Nghiên cứu này đã đánh dấu việc chuyển sự chú ý từ các triệu chứng giống như các mô hình y học sang việc tập trung vào những kết quả tích cực và các yếu tố đóng góp vào sự phát triển lành mạnh trong bối cảnh cuộc sống khó khăn (theo Luthar, 2006)

[53]

Tiếp đó, một loạt nghiên cứu đã được tiến hành để tìm hiểu về KNTPH của

cá nhân và các yếu tố tạo ra sự khác biệt ở nhóm trẻ có KNTPH và nhóm trẻ còn lại

Trang 22

Berlin và Davis (1989) đã khảo sát con của những người nghiện rượu, tìm ra rằng

sự hỗ trợ và chăm sóc của người mẹ đóng vai trò quan trọng dẫn đễn việc không nghiện rượu ở trẻ trong tương lai (dẫn theo Luthar, 2006) [53] Năm 1993, Werner

đã công bố kết quả của nghiên cứu trường diễn Kauai và xác định những yếu tố liên quan đến KNTPH Nghiên cứu này theo dõi 698 trẻ em được sinh ở Hawaii trong năm 1955 từ những tuần tuổi đầu tiên đến các thời điểm 1 tuổi, 2 tuổi, 10, 18, và 32 tuổi để tìm hiểu về sự phát triển của những cá nhân gặp nhiều điều kiện khó khăn như căng thẳng, đói nghèo và môi trường gia đình có vấn đề (gia đình bất hòa hoặc

bố mẹ có vấn đề về tâm bệnh ) Các yếu tố liên quan đến KNTPH được tìm thấy bao gồm: Tính khí dễ thích nghi giúp trẻ tạo ra phản ứng tích cực từ người chăm sóc Các kỹ năng, giá trị và năng lực để phát triển các mục tiêu giáo dục và nghề nghiệp một cách thực tế Cha mẹ hoặc người chăm sóc đã nuôi dưỡng lòng tự trọng, lòng tin cho trẻ Không chỉ vậy, cá nhân có KNTPH còn tìm kiếm những môi trường mang tính củng cố và khen thưởng cho những năng lực của mình, giúp họ thành công vượt qua các thay đổi trong cuộc đời [81]

Tương tự, nghiên cứu về 139 gia đình đơn thân người Mỹ gốc Phi có con từ

6 đến 9 tuổi của các tác giả Bordy, Flor và Gibson (1999) chỉ ra rằng thói quen gia đình (như có thời gian nói chuyện với nhau mỗi ngày, cha/mẹ đi làm về vào cùng một thời điểm mỗi ngày) cũng đóng góp vào việc có kết quả phát triển tích cực của trẻ Khi gia đình không có các hoạt động chung cùng nhau hoặc cha mẹ thường về nhà muộn, trẻ có thể cảm thấy mình tự do, được làm những thứ mà cha mẹ không cho phép nếu họ ở nhà, bao gồm cả hành vi thử nghiệm với các chất hoặc từ chối làm bài tập (dẫn theo Luthar, 2006) [53] Buckner, Mezzacappa và Beardslee (2003)

đã tiến hành nghiên cứu 155 trẻ từ các gia đình thu nhập thấp để xác định các yếu

tố, đặc điểm tạo nên sự khác biệt giữa những trẻ có KNTPH và những trẻ khác Kết quả cho thấy, các em có KNTPH báo cáo kỹ năng tự điều chỉnh bản thân và lòng tự tôn nhiều hơn, đồng thời nhận được nhiều sự giám sát của cha mẹ hơn [21]

Cicchetti và Rogosch (1997) khi nghiên cứu về trẻ em bị ngược đãi đã cung cấp bằng chứng về việc các yếu tố trong KNTPH có thể khác nhau ở những hoàn cảnh, điều kiện khác nhau [24] Trong khi nhiều nghiên cứu khác chỉ ra mối quan

hệ liên cá nhân gần gũi và hỗ trợ xã hội dự báo kết quả phát triển tốt của trẻ em gặp

Trang 23

nhiều nguy cơ, nghiên cứu của hai tác giả này lại cho thấy rằng những trẻ bị ngược đãi mà vẫn có sự thích nghi tích cực dài hạn là những em mà ít nhận được hỗ trợ hơn Dự án KNTPH của trẻ em Rochester cũng cho thấy các bằng chứng tương tự Khảo sát nhóm trẻ em khu vực đô thị có bối cảnh khó khăn (tỉ lệ đói nghèo, bạo lực cao, gia đình bất hòa và các vấn đề sử dụng chất), nghiên cứu này cho thấy các yếu

tố bảo vệ có hiệu ứng khác nhau phụ thuộc vào đặc điểm của trẻ và bối cảnh [88]

Ví dụ, mặc dù các kỳ vọng tương lai tích cực và sự nhận thức về năng lực bản thân thường được xem là yếu tố bảo vệ, nhưng trong nghiên cứu này, hiệu ứng tích cực

đó chỉ ứng với những khách thể có nhận thức thực tế Vị thành niên có nhận thức không thực tế về các năng lực của bản thân có liên hệ với nguy cơ vấn đề hành vi cao Đồng thời, kỳ vọng tương lai tích cực nhưng thiếu thực tế có mối liên hệ với việc bỏ học ở những em gặp vấn đề hành vi Do vậy, các đặc điểm cá nhân của trẻ như lòng tự trọng cao và các kỳ vọng tương lai tích cực liên quan đến KNTPH của một số trẻ, nhưng không phải với tất cả [85]

Nghiên cứu theo chiều dọc Rochester đã chia trẻ thành các nhóm khác nhau dựa vào điểm số các nguy cơ cộng dồn (ví dụ, số lượng các yếu tố nguy cơ thuộc gia đình và yếu tố nhân khẩu học), các năng lực (ví dụ, năng lực nhận thức, điểm IQ) và kết quả phát triển (ví dụ, chức năng cảm xúc xã hội, triệu chứng tâm thần) Khi theo dõi các kết quả phát triển theo thời gian, nghiên cứu này cho thấy những trẻ có nguy cơ cao, năng lực cao ở tuổi lên 4, đến tuổi 18 lại có kết quả tệ hơn so với các trẻ năng lực thấp, nguy cơ thấp Từ đó cho thấy, KNTPH có thể thay đổi, các năng lực xuất hiện sớm ở trẻ nguy cơ cao trong một thời điểm không có nghĩa

sẽ dự báo được cho thời điểm khác (dẫn theo Vanderbilt-Adriance, 2008) [76] Sự thay đổi đáng kể về cách trẻ đón nhận, diễn giải các kinh nghiệm cá nhân theo các

độ tuổi khác nhau cũng có thể là nguyên nhân cho kết quả đó Khi đó, ý nghĩa và tác động của các trải nghiệm sang chấn có thể thay đổi theo thời gian Chẳng hạn, một

số nạn nhân bị lạm dụng tình dục thời thơ ấu lúc còn rất nhỏ chưa hiểu được ý nghĩa của sự kiện ấy một cách đầy đủ; nhưng khi lớn hơn, mức độ cảm giác xấu hổ, nhục nhã, bị lừa dối có thể gia tăng và làm tính căng thẳng của trải nghiệm tăng lên [86]

Như vậy, các nghiên cứu theo hướng này đã tập trung vào việc xác định các yếu tố trong KNTPH của cá nhân Nhiều yếu tố đa dạng đã được chứng minh gồm

Trang 24

các yếu tố thuộc về cá nhân, gia đình hay xã hội Đồng thời, các nghiên cứu hướng này cũng tìm hiểu về KNTPH theo bối cảnh, điều kiện cụ thể, nhìn nhận KNTPH trong các hệ thống sinh thái và phát triển Từ đó, giúp đưa ra bằng chứng cho thấy hiệu ứng của các yếu tố trong KNTPH đa dạng theo bối cảnh (từ hoàn cảnh, điều kiện này tới hoàn cảnh, điều kiện khác) và theo thời gian (xuyên suốt một tình huống hoặc trải qua các giai đoạn trong cuộc đời cá nhân)

- Hướng thứ hai: Những nghiên cứu tìm hiểu các chiến lược, biện pháp

nâng cao khả năng tự phục hồi

Nhiều chương trình can thiệp, phòng ngừa nhằm tăng cường KNTPH đã được nghiên cứu và chứng minh về tính hiệu quả:

Một trong những chương trình phòng ngừa tập trung vào việc nâng cao KNTPH là chương trình RAP (Resourceful Adolescent Program) được tiến hành để phòng ngừa trầm cảm ở vị thành niên Trong đó, bao gồm cả các phiên dành cho trẻ

và các phiên cho bố mẹ Nghiên cứu về hiệu quả của can thiệp này được thực hiện trên 260 học sinh lớp 9 ở Australia và phụ huynh của họ, kết quả cho thấy khi so sánh với nhóm không được can thiệp, cả hai nhóm can thiệp (RAP cho vị thành niên

và RAP cho phụ huynh) đều thể hiện điểm triệu chứng trầm cảm thấp sau khi can thiệp và 10 tháng theo dõi sau đó [71]

Ngoài ra, một nghiên cứu khác đánh giá hiệu quả của chương trình can thiệp mang tính phòng ngừa có tên Familias Unidas –, dành cho nhóm người nhập cư gốc Tây Ban Nha ở Mỹ Chương trình này tập trung vào yếu tố gia đình trong KNTPH, giúp tăng cường sự tham gia của phụ huynh vào quá trình trao quyền; xây dựng mạng lưới hỗ trợ mạnh mẽ của phụ huynh và sử dụng mạng lưới đó để tăng các kỹ năng làm cha mẹ; kiến thức làm cha mẹ theo khía cạnh văn hóa; ứng dụng các kỹ năng mới vào các hoạt động nhằm giảm nguy cơ thường gặp ở môi trường đô thị nghèo Triển khai chương trình Familias Unidas trên 167 gia đình học sinh lớp 6,7 gốc Tây Ban Nha đã cho thấy hiệu quả tích cực đối với việc giảm các vấn đề hành

vi ở trẻ Mặc dù chương trình này không có ảnh hưởng đáng kể đến kết quả học tập của trẻ, nhưng đã cho thấy việc áp dụng các chiến lược theo bối cảnh văn hóa là điều quan trọng [25]

Trang 25

Hawkins (2005) đã nghiên cứu hiệu quả dài hạn của Dự án Seattle Socail Development Project - một dự án cũng nhằm thúc đẩy KNTPH, bao gồm các can thiệp liên quan tới yếu tố bảo vệ thuộc về cá nhân, gia đình và trường học Nghiên cứu này được thực hiện trên 18 trường tiểu học tại các khu phố có tỷ lệ tội phạm cao

ở Mỹ [44] Sau khi triển khai các can thiệp trong dự án, đã có những hiệu quả đáng

kể lên hoạt động của nhà trường và sức khỏe tâm thần Những kết quả tích cực của

dự án này góp phần chứng minh các chương trình KNTPH nên có sự kết hợp cả ba yếu tố cá nhân, gia đình và xã hội để đem lại hiệu quả tối ưu

Như vậy, sơ lược tình hình nghiên cứu cho thấy các hướng nghiên cứu chính đối với KNTPH đang có trên thế giới hiện nay là: tìm hiểu các yếu tố trong KNTPH

và KNTPH trong các bối cảnh, điều kiện cụ thể; xây dựng các chiến lược, biện pháp nâng cao KNTP… Trong phạm vi tìm hiểu của đề tài, ở Việt Nam, hiện chưa có nhiều nghiên cứu đối với KNTPH về mặt tâm lý Một số nghiên cứu do các tác giả nước ngoài đã thực hiện trên nhóm đối tượng Việt Nam phần lớn là về KNTPH liên quan đến thiên tai, khí hậu, kinh tế Ví dụ, nghiên cứu của Béné (2016) về KNTPH của cộng đồng ngư dân trước các sự kiện ảnh hưởng đến cuộc sống và sinh kế của

họ [19] Arouri (2015) khảo sát các đặc điểm của hộ gia đình và cộng đồng để tăng cường KNTPH của hộ gia đình đối với thiên tai [15] Xin (2013) tìm hiểu KNTPH của người Việt Nam di cư đối với thiên tai [89]… Tuy vậy, trong các nghiên cứu trước đây, một số tác giả Việt Nam đã xác định những yếu tố bảo vệ đơn lẻ là nền tảng cho KNTPH về mặt tâm lý: Nguyễn Thanh Hương và cộng sự (2009) nghiên cứu và chỉ ra một số yếu tố bảo vệ đối với lo âu, trầm cảm là sự gắn kết tốt với nhà trường; được cha, mẹ quan tâm phù hợp [5] Theo Đặng Hoàng Minh, Barh Weiss, Nguyễn Cao Minh (2013), các yếu tố bảo vệ trẻ trước vấn đề CXHV có thể là thời gian dành riêng cho con cái, hôn nhân của cha mẹ Còn các yếu tố khác như tuổi, giới tính của trẻ, học vấn của cha mẹ, thu nhập gia đình, số anh chị em trong gia đình vừa có thể là yếu tố bảo vệ đến một số khía cạnh vấn đề CXHV, vừa có thể là yếu tố nguy cơ cho các khía cạnh khác [7] Từ đó, cho thấy rằng lĩnh vực nghiên cứu về KNTPH ở Việt Nam còn tương đối mới mẻ, cần có thêm các đề tài để khai thác sâu về thực tiễn và lý luận

Trang 26

1.1.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu về mối quan hệ giữa khả năng tự phục hồi và vấn đề cảm xúc, hành vi của vị thành niên

1.1.3.1 Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa khả năng tự phục hồi và các vấn đề cảm xúc, hành vi nói chung

Trên thế giới, mối quan hệ giữa KNTPH và vấn đề CXHV cũng được một số tác giả quan tâm Hjemdal (2011) đã có nghiên cứu về mối quan hệ giữa KNTPH và mức độ các triệu chứng lo âu, trầm cảm và ám ảnh-cưỡng bức ở 307 học sinh THPT tại Na Uy; sử dụng các thang đo Khả năng tự phục hồi của vị thành niên 4(READ); Thang đo Trầm cảm Lo âu Stress (DASS); và bảng khảo sát ám ảnh cưỡng bức Nghiên cứu này cho thấy, các yếu tố về sự hỗ trợ xã hội có điểm số cao hơn các yếu

tố liên quan đến cá nhân hoặc gia đình Điểm KNTPH cao dự báo điểm mức độ triệu chứng trầm cảm, lo âu và ám ảnh – cưỡng bức thấp [46] Năm 2012, tác giả Ziaian và cộng sự đã công bố nghiên cứu về KNTPH và mối quan hệ của nó với trầm cảm, các vấn đề hành vi, cảm xúc và các dịch vụ hỗ trợ sức khỏe tâm thần trong các vị thành niên di cư đến Nam Australia Nghiên cứu này sử dụng các công

cụ là Thang đo khả năng tự phục hồi Connor-Davidson 5(CD-RISC), Bảng khảo sát trầm cảm trẻ em 6(CDI) và Bảng hỏi điểm mạnh và khó khăn 7(SDQ) Kết quả cho thấy, nữ giới có xu hướng KNTPH cao hơn; vị thành niên có các triệu chứng trầm cảm, các vấn đề xảm xúc, hành vi thì có điểm số KNTPH thấp hơn những em khác [90] Nhìn chung, các kết quả đó đã chỉ ra tương quan nghịch giữa KNTPH và vấn

đề CXHV, tức là KNTPH càng cao thì vấn đề CXHV càng thấp

1.1.3.2 Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa các yếu tố nguy cơ nói chung, các trải nghiệm khó khăn thời thơ ấu nói riêng với khả năng tự phục hồi và vấn đề cảm xúc, hành vi

Một trong số những hướng nghiên cứu về mối quan hệ giữa KNTPH với vấn

đề CXHV là mối quan hệ giữa KNTPH, vấn đề CXHV với các yếu tố nguy cơ nói chung, các TNKK thời thơ ấu nói riêng

4 Resilience Scale for Adolescents

6 Children's Depression Inventory

7

Strengths and Difficulties Questionnaire

Trang 27

Một nghiên cứu của tác giả Arslan (2016) đã cung cấp bằng chứng về vai trò trung gian của KNTPH trong mối quan hệ giữa việc bị ngược đãi về mặt tinh thần

và vấn đề CXHV ở vị thành niên Khách thể nghiên cứu gồm 937 vị thành niên từ các trường cấp 3 ở Thổ Nhĩ Kỳ Kết quả cho thấy việc bị ngược đãi tinh thần có tương quan nghịch với KNTPH, và tương quan thuận với vấn đề CXHV Trong nghiên cứu này, KNTPH dự báo cho vấn đề CXHV và trung gian một phần cho mối quan hệ giữa việc bị ngược đãi tinh thần với vấn đề CXHV ở vị thành niên [16]

Anyan và Hjemdal (2016) đã nghiên cứu vai trò của KNTPH trong mối quan

hệ giữa các căng thẳng của vị thành niên và các triệu chứng trầm cảm, lo âu của các

em Các tác giả đã tiến hành nghiên cứu theo chiều ngang, khảo sát 533 vị thành niên Ghanaian, châu Phi tuổi từ 13 đến 17, sử dụng Thang đo khả năng tự phục hồi (READ), bảng hỏi căng thẳng của vị thành niên, phiếu điều tra trạng thái lo âu của Spielberger và bảng hỏi cảm xúc ngắn Kết quả cho thấy rằng KNTPH làm trung gian một phần mối quan hệ giữa căng thẳng, triệu chứng trầm cảm và lo âu Các hiệu ứng của căng thẳng có tương quan nghịch với KNTPH, tương quan thuận với các triệu chứng trầm cảm, lo âu KNTPH là biến điều hòa cho mối quan hệ giữa căng thẳng và các triệu chứng trầm cảm nhưng không phải biến điều hòa cho mối quan hệ giữa căng thẳng và triệu chứng lo âu [14] Kết quả của nghiên cứu này đã cho thấy việc tăng cường KNTPH bên cạnh việc tối thiểu hóa các căng thẳng có thể giúp cải thiện vấn đề CXHV của vị thành niên trong nhóm dân số chung [14]

Tại Trung Quốc, cũng có các nghiên cứu theo hướng này: Niu và cộng sự (2016) đã tìm hiểu ảnh hưởng của KNTPH lên mối quan hệ giữa sự tẩy chay và trầm cảm ở 1126 vị thành niên [64] Kết quả cho thấy, KNTPH có tương quan nghịch với trầm cảm và đã điều hòa cho mối quan hệ giữa sự tẩy chay và trầm cảm, với hiệu ứng mạnh hơn ở những cá nhân có điểm số KNTPH thấp Cũng nghiên cứu

về mối quan hệ giữa KNTPH với trầm cảm trên 6406 trẻ từ 9-17 tuổi, tác giả Ding (2017) đã chỉ ra KNTPH đóng vai trò trung gian một phần cho mối quan hệ giữa các sang chấn thời thơ ấu và các triệu chứng trầm cảm; đồng thời, nó cũng đã điều hòa cho mối quan hệ này [33]

Đối với các TNKK thời thơ ấu, Beutel và các cộng sự (2017) đã nghiên cứu trên nhóm mẫu cộng đồng ở Đức gồm 2508 khách thể từ 14 đến 92 tuổi để tìm hiểu

Trang 28

mối liên hệ giữa KNTPH và các khó khăn tâm lý của khách thể trên các nhóm báo cáo/không báo cáo các khó khăn thời thơ ấu [20] Công cụ nghiên cứu được sử dụng

là Bảng hỏi sang chấn thời thơ ấu (Childhood Trauma Questionnaire), Thang đo kiểu ứng phó mang tính tự phục hồi (Brief Resilience Coping Scale), Thang đo các khó khăn tâm lý (trầm cảm, lo âu) và triệu chứng cơ thể Kết quả cho thấy khó khăn thời thơ ấu có tương quan nghịch với KNTPH, tương quan thuận với các biểu hiện trầm cảm, lo âu và các phàn nàn về cơ thể KNTPH đóng vai trò điều hòa cho ảnh hưởng của những khó khăn thời thơ ấu đối với biểu hiện khó khăn tâm lý; khi so sánh với các khách thể có điểm số KNTPH thấp, các khách thể có điểm số KNTPH cao cho thấy ít các triệu chứng trầm cảm, lo âu, phàn nàn cơ thể hơn dù có trải qua các khó khăn thời thơ ấu [20]

Như vậy, kết quả của các nghiên cứu đi trước đã chỉ ra rằng KNTPH có tương quan nghịch với vấn đề CXHV Bên cạnh đó, mối quan hệ giữa KNTPH và vấn đề CXHV cũng được xem xét với sự tồn tại của các yếu tố nguy cơ (như các trải nghiệm khó khăn thơ ấu, các căng thẳng tuổi vị thành niên…) Nhìn chung, TNKK thời thơ ấu có tương quan nghịch với KNTPH, tương quan thuận với vấn đề CXHV; KNTPH có thể đóng vai trò như biến trung gian hoặc biến điều hòa cho mối quan hệ giữa các yếu tố nguy cơ và vấn đề CXHV Tuy vậy, ở Việt Nam, trong phạm vi tìm hiểu của đề tài, hướng nghiên cứu này chưa được thực hiện trong các nghiên cứu trước đây

1.2 Một số khái niệm công cụ

1.2.1 Khả năng tự phục hồi

1.2.1.1 Khái niệm khả năng tự phục hồi

Khả năng tự phục hồi là một thuật ngữ có cách hiểu đa dạng, được giới thiệu lần đầu từ những năm 1960, 1970 của thế kỉ trước [53] Thuật ngữ tiếng Anh

“Resilience” bắt nguồn từ tiếng Latin “Resilire” có nghĩa là “nhảy trở lại/bật lên” Điều đó cũng giống với tính đàn hồi trong vật lý, nếu một vật bằng kim loại có tính đàn hồi, khi bị ép làm biến dạng thì sẽ dễ dàng trở lại trạng thái ban đầu thay vì bị gãy Từ điển Tiếng Anh Merriam Webster giải nghĩa: KNTPH là: “(1) khả năng của một vật bị căng ra nhưng hồi phục lại kích thước và hình dạng của nó sau khi bị

Trang 29

biến dạng; (2) khả năng hồi phục hoặc điều chỉnh một cách dễ dàng đối với sự thay đổi hoặc điều không may” [58]

Trong lĩnh vực tâm lý học, nhiều tác giả theo các quan điểm khác nhau đã định hình khác nhau về KNTPH: Rutter (1987) cho rằng KNTPH là “các yếu tố bảo

vệ mà điều chỉnh, thay đổi, cải thiện phản ứng của con người với một số nguy cơ của môi trường mà dẫn tới các hệ quả không phù hợp” [68] Masten (1990) dùng thuật ngữ này để chỉ 3 loại hiện tượng: (1) các cá nhân có nguy cơ nhưng thể hiện kết quả phát triển tâm thần tốt hơn mong đợi; (2) sự thích ứng tích cực vẫn được duy trì, bất chấp sự hiện diện của những trải nghiệm căng thẳng; (3) khả năng hồi phục từ sang chấn [55] Tác giả Luthar (2000) thì lại định nghĩa KNTPH là “quá trình động bao gồm sự thích ứng tích cực trong bối cảnh của những khó khăn đáng kể” [54] Hoặc là “các phẩm chất cá nhân cho phép con người phát triển hơn khi đối mặt với các khó khăn” theo tác giả Connor và Davidson (2003) [28]… Nhìn chung, những khái niệm đa dạng đó có thể được chia thành một số tiếp cận như sau:

- Coi KNTPH là các đặc điểm, nét cá nhân

Trong các nghiên cứu ban đầu về KNTPH, một số tác giả quan tâm và tìm hiểu các nét tính cách hoặc đặc điểm của các trẻ em trong môi trường nguy cơ cao

mà có hoạt động chức năng tốt, coi các em là “không thể bị tổn thương/bất khả xâm phạm” (tiếng Anh: Invulnerable) [51] [76] [85] Các em đó được cho là không bị căng thẳng nhờ có các phẩm chất kiên cường, mạnh mẽ, nghị lực bên trong Đặc biệt công trình nghiên cứu Jeanne và Jack Block (1980) đã xây dựng cấu trúc về KNTPH bản ngã (tiếng Anh: “ego-resiliency”), liên quan đến các đặc điểm cá nhân của mỗi người KNTPH bản ngã là một tập hợp các nét cá nhân phản ánh sự tháo vát, ổn định và linh hoạt trong việc đáp ứng các điều kiện khác nhau của môi trường [53]

Tuy nhiên, việc nhìn nhận KNTPH theo khía cạnh này gây nhiều tranh cãi vì

nó đề cập đến các đặc điểm ổn định, khó thay đổi và dễ mang tính định kiến, đổ lỗi cho những cá nhân vì các kết quả phát triển tiêu cực Bên cạnh đó, mặc dù các đặc điểm cá nhân (như trí thông minh, khí chất…) có thể ảnh hưởng đến kết quả phát triển của cá nhân trong bối cảnh khó khăn, nhưng chúng vẫn thường chịu tác động mạnh của yếu tố thuộc sinh học hoặc môi trường Không chỉ vậy, nếu coi KNTPH

Trang 30

chỉ đơn giản là thuộc tính của cá nhân thì sẽ dễ gây hiểu nhầm rằng cá nhân không cần phải làm gì cũng có thể vượt qua nghịch cảnh Điều đó có thể cản trở việc thiết

kế các chiến lược can thiệp vì các nhà hoạch định chính sách có thể từ chối cung cấp các dịch vụ quan trọng cho nhóm trẻ em nguy cơ cao bằng việc lập luận rằng KNTPH đến từ bên trong mỗi cá nhân [54]

- Coi KNTPH là kết quả

Các tác giả theo tiếp cận này coi KNTPH như kết quả phát triển tích cực hoặc “sự phát triển bình thường dưới các điều kiện khó khăn” [38] Các nghiên cứu với định hướng này nhấn mạnh đến việc duy trì chức năng hoặc kết quả phát triển (như các năng lực, sức khỏe tâm thần tốt) Tuy nhiên, điều này không phù hợp vì có rất nhiều định nghĩa khác nhau về KNTPH trong các lĩnh vực khác nhau và các công cụ đo KNTPH khác nhau Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng cá nhân thể hiện KNTPH ở một lĩnh vực này mà không thể hiện KNTPH ở lĩnh vực khác [76] Đồng thời, việc định nghĩa như vậy đã bỏ qua những yếu tố đóng góp tới sự phát triển bình thường mà chỉ tập trung vào kết quả

- Coi KNTPH là quá trình

Một số định nghĩa KNTPH xem xét cấu trúc này như một quá trình mà có thể thay đổi qua thời gian Ngoài định nghĩa của Luthar kể trên, Wyman (2003) cũng cho rằng “KNTPH phản ánh một tập hợp các quá trình khác nhau mà làm điều chỉnh các tương giao của trẻ với các điều kiện sống khó khăn để giảm hiệu ứng tiêu cực và thúc đẩy việc làm chủ các nhiệm vụ phát triển thông thường” [88] Việc định hình KNTPH là quá trình còn cho thấy hiệu ứng của những yếu tố bảo vệ sẽ đa dạng

và linh hoạt tùy theo bối cảnh, khi hoàn cảnh thay đổi, KNTPH cũng sẽ thay đổi Cách nhìn nhận này tương đối phù hợp vì nhiều kết quả nghiên cứu trước đó đã ủng

hộ quan điểm cho rằng KNTPH là khả năng mà phát triển qua thời gian trong bối cảnh tương tác giữa cá nhân-môi trường [37]

Mặc dù có nhiều cách tiếp cận khi định nghĩa KNTPH, tuy nhiên chúng đều

có điểm chung là nói đến các khó khăn và các kết quả tích cực Đồng thời, các tiếp cận trên cũng cho thấy KNTPH là khái niệm đa yếu tố, đa chiều Gần đây, định nghĩa tương đối đầy đủ về KNTPH đã được Hjemdal và cộng sự (2006) đề xuất là:

“Khả năng tự phục hồi là những yếu tố bảo vệ, các quá trình hoặc cơ chế mà

Trang 31

giúp cá nhân, dù gặp tác nhân căng thẳng mang lại nguy cơ phát triển tâm bệnh đáng kể, vẫn tạo ra kết quả tốt” [45] Đây cũng là khái niệm công cụ về khả năng

tự phục hồi được sử dụng trong đề tài này

Ở Việt Nam hiện nay, chưa có cách dịch chính thức cho thuật ngữ tiếng Anh

là “Resilience” Một vài tác giả đã dịch từ này là “khả năng kháng cự”, “khả năng đương đầu”, “khả năng vượt khó”…; nhưng cách dịch này có thể dễ nhầm lẫn với các khái niệm khác là “khả năng ứng phó” hoặc “chỉ số vượt khó” Vì vậy, trong bài viết này, “Resilience” được tạm dịch là “Khả năng tự phục hồi” để tránh nhầm sang các thuật ngữ đó Đồng thời, việc sử dụng “khả năng tự phục hồi” cũng hàm ý tính linh hoạt trong sự phát triển của cá nhân và không làm mất vai trò của các yếu tố gia đình, xã hội

1.2.1.2 Phân biệt khả năng tự phục hồi với các khái niệm khác

- “Khả năng tự phục hồi” và “Sự hồi phục”

Sự hồi phục (tiếng Anh: Recovery) có đặc trưng bởi sự dần trở lại mức độ chức năng khỏe mạnh sau một giai đoạn tạm thời của tâm bệnh Trong khi đó, KNTPH liên quan đến khả năng cá nhân duy trì các mức độ chức năng bình thường

- “Khả năng tự phục hồi” và “Khả năng ứng phó”

Khả năng tự phục hồi và khả năng ứng phó (tiếng Anh: coping) cũng là hai khái niệm riêng biệt: KNTPH ảnh hưởng đến cách cá nhân đánh giá một sự kiện Khả năng ứng phó liên quan đến chiến lược sử dụng sau khi cá nhân đánh giá một

sự kiện là căng thẳng Thêm nữa, KNTPH liên quan đến các phản ứng tích cực khi gặp các tình huống căng thẳng trong khi các chiến lược ứng phó khi giải quyết căng thẳng có thể tích cực hoặc tiêu cực [37]

- “Khả năng tự phục hồi” và “khả năng tự chủ”

Khả năng tự chủ (self-control) thường được hiểu là tự làm chủ tình cảm, hành động của mình, không để bị hoàn cảnh chi phối [96]; hoặc được nhìn nhận là khuynh hướng né tránh những hành vi có hậu quả tiêu cực dài hạn vượt quá những lợi ích hiện tại [41] Theo, định nghĩa của Hjemdal và cộng sự (2006), khả năng tự phục hồi bao gồm nhiều yếu tố bảo vệ khác nhau, còn khả năng tự chủ được coi là một trong những yếu tố bảo vệ (theo Olsson, 2003) [65]

1.2.1.3 Các yếu tố và cơ chế, quá trình trong khả năng tự phục hồi

Trang 32

- Các yếu tố bảo vệ trong khả năng tự phục hồi

Những nghiên cứu trước đó đã chỉ ra rằng các yếu tố bảo vệ trong KNTPH bao gồm 3 nhóm: (1) Các đặc điểm cá nhân; (2) Các khía cạnh của gia đình; (3) Các đặc điểm của môi trường xã hội [54] Olsson (2003) đã tổng hợp lại những yếu tố theo 3 nhóm này cùng các cơ chế bảo vệ liên quan, được trích dẫn ở bảng sau [65]:

Bảng 1.1 Các nhóm yếu tố trong khả năng tự phục hồi

Wolff (1995); Brooks (1994); Rutter (1987)

Trang 33

+ Sự kiểm soát bên trong cá nhân;

+ Linh hoạt;

+ Kiên trì, Có niềm tin, Quyết tâm;

+ Tính tổ chức;

(1994); Wolff (1995); Luthar (1991, 1993); Rutter (1985, 1987)

+ Sự quan tâm chăm sóc và tính cố kết trong gia đình;

+ Mối quan hệ gần gũi với một người trưởng thành biết quan tâm;

+ Niềm tin vào trẻ;

+ Không đổ lỗi;

+ Sự hỗ trợ trong hôn nhân;

+ Tài năng và sở thích cá nhân được các thành viên gia đình coi trọng;

Smith (1999); Eccles (1997); Maggs và cs (1997); Wolff (1995); Werner (1995);

Egeland, Carlson, và Sroufe (1993); Rutter (1987)

Trang 34

Nguồn: theo tác giả Olsson (2003)

- Các mô hình cơ chế, quá trình trong khả năng tự phục hồi

KNTPH không chỉ gồm những yếu tố bảo vệ mà còn có những cơ chế, quá trình ẩn dưới Một số tác giả đã đưa ra các đề xuất mô hình cơ chế, quá trình trong KNTPH

Richardson (2002) đã đưa ra mô hình về KNTPH: Trong mô hình này, quá trình tự phục hồi bắt đầu với một trạng thái cân bằng về tâm sinh lý (biopsychospiritual homeostasis) (dẫn theo Kumfer, 2002) [51] Sự gián đoán trạng thái cân bằng này xảy ra nếu một cá nhân không có đủ các nguồn lực - các yếu tố bảo vệ giúp chống lại các tác nhân gây căng thẳng, các khó khăn hoặc các sự kiện trong cuộc đời Theo thời gian, cá nhân mà gặp sự gián đoạn này sẽ điều chỉnh và bắt đầu quá trình tái hòa nhập (reintegration process) Quá trình đó dẫn đến một trong bốn kết quả:

- Tái hòa nhập mang tính tự phục hồi: gián đoạn dẫn đến việc có thêm các yếu tố bảo vệ và có mức độ cân bằng mới, cao hơn

- Tái hòa nhập cân bằng: gián đoạn dẫn đến việc cá nhân duy trì vùng an toàn của mình, trở về trạng thái trước khi gián đoạn

- Tái hòa nhập với sự mất mát: gián đoạn dẫn đến việc bị mất các yếu tố bảo

vệ và có một mức độ cân bằng mới, thấp hơn

- Gián đoạn mất chức năng: gián đoạn dẫn đến việc cá nhân nhờ đến các hành vi phá hoại như lạm dụng chất [51]

Tuy nhiên, mô hình này vẫn có một số hạn chế: chỉ xem xét một sự kiện tác động đến trải nghiệm của cá nhân, chưa xét đến trường hợp trải nghiệm nhiều sự kiện đồng thời Ngoài ra, mô hình này thiên về việc ứng phó với căng thẳng, trong khi KNTPH và khả năng ứng phó là hai khái niệm riêng biệt [37]

Trang 35

Ngoài mô hình của Richardson, một số nhà nghiên cứu đã xác định ba mô hình cơ chế của KNTPH: Mô hình đền bù, Mô hình bảo vệ/miễn dịch và Mô hình thử thách – giúp giải thích các yếu tố bảo vệ vận hành như thế nào để làm thay đổi, điều chỉnh quỹ đạo từ phơi nhiễm với yếu tố nguy cơ tới các kết quả phát triển tiêu cực [35] Trong Mô hình đền bù, các hiệu ứng trực tiếp của yếu tố bảo vệ chống lại các hiệu ứng tiêu cực trực tiếp từ những yếu tố nguy cơ như các tác nhân gây căng thẳng; hay nói cách khác, hoạt động theo hướng đối nghịch với yếu tố nguy cơ Và

do đó, trong mô hình này, các yếu tố bảo vệ có hiệu ứng trực tiếp tới kết quả phát triển, xảy ra độc lập với hiệu ứng của các yếu tố nguy cơ

Ở Mô hình bảo vệ, các hiệu ứng bảo vệ của KNTPH được coi như yếu tố điều hòa cho các kết quả tiêu cực từ việc gặp hoàn cảnh khó khăn/nguy cơ cao; chẳng hạn các cá nhân có điểm số KNTPH cao thì càng ít các kết quả tiêu cực

Mô hình thứ ba - Mô hình thử thách gợi ý rằng một cá nhân trong hoàn cảnh không quá nhiều nguy cơ có thể học cách triển khai nguồn lực để vượt qua các căng thẳng trong tương lai [14]

Mặc dù những mô hình trên được đề xuất nhưng chúng không hoàn toàn tồn tại riêng biệt mà có thể cùng xảy ra ở một cá nhân, phụ thuộc vào giai đoạn phát triển của cá nhân đó [72] Bên cạnh đó, các mô hình đền bù, bảo vệ, hoặc thử thách

có thể hoạt động trong khuôn khổ mô hình thử thách: việc tiếp xúc lặp lại các quá trình đền bù, bảo vệ và/hoặc thách thức sẽ chuẩn bị cho vị thành niên để đối phó với các khó khăn trong tương lai [35]

1.2.1.4 Các chiến lược thúc đẩy khả năng tự phục hồi

Các chiến lược thúc đẩy KNTPH là một vấn đề đáng được quan tâm, vì xét cho cùng các nghiên cứu về KNTPH tự nhiên giúp tìm kiếm thông tin cho việc thực hành, phòng ngừa và những chính sách phù hợp, hướng đến việc tạo ra KNTPH không tự nhiên Không chỉ vậy, việc thực hiện các chiến lược can thiệp, phòng ngừa cũng giúp kiểm tra lại những lý thuyết về KNTPH Theo tác giả Masten (2009), bài học từ các nghiên cứu về KNTPH đã gợi ý ba loại chiến lược chính để xây dựng và tăng cường KNTPH [56] Cụ thể:

- Các chiến lược tập trung yếu tố nguy cơ: Phòng ngừa hoặc giảm các yếu

tố nguy cơ và tác nhân gây căng thẳng: Chăm sóc trước khi sinh để phòng ngừa sinh

Trang 36

non hoặc trẻ sinh ra bị nhẹ cân Phòng ngừa việc lạm dụng hoặc bỏ mặc trẻ em thông qua việc giáo dục việc làm cha mẹ Giảm tình trạng vị thành niên uống rượu, hút thuốc, sử dụng chất thông qua các chương trình cộng đồng Sàng lọc và trị liệu các vấn đề sức khỏe tâm thần (như trầm cảm) cho bà mẹ sau khi sinh Phòng ngừa tình trạng vô gia cư qua các chính sách nhà ở hoặc hỗ trợ khẩn cấp Giảm tình trạng bạo lực hoặc khu tập trung nhiều tội phạm thông qua các chính sách cộng đồng Làm sạch các chất độc hại và vật nguy hiểm như a-mi-ăng, chì, mìn ở nơi trẻ sống

và chơi…

- Các chiến lược tập trung vào nguồn lực, yếu tố bảo vệ: Cải thiện số

lượng hoặc chất lượng của các nguồn lực, yếu tố bảo vệ đang có: Cung cấp đồ ăn, nước uống, sự chăm sóc về mặt thể chất và tinh thần cho trẻ Cung cấp người giám

hộ biết chăm sóc và bảo vệ Tổ chức các câu lạc bộ hoạt động cho trẻ em hoặc xây dựng một trung tâm giải trí Giáo dục cho phụ huynh về sự phát triển của trẻ và kỹ năng làm cha mẹ hiệu quả Xây dựng lại các dịch vụ cộng đồng sau thảm họa Đào tạo các nhân viên chăm sóc, hoặc cảnh sát về sự phát triển của trẻ em Đào tạo cho giáo viên về sự phát triển của trẻ em và phương pháp giảng dạy hiệu quả Các chiến lược hỗ trợ gián tiếp cho trẻ như các chương trình việc làm cho phụ huynh…

- Các chiến lược tập trung vào quá trình: Huy động các hệ thống mang

tính bảo vệ cho hoạt động chức năng tâm thần: Thiết kế các chương trình để cải thiện chất lượng của mối quan hệ gắn bó cha mẹ và con Nuôi dưỡng sự phát triển của não bộ thông qua chế độ dinh dưỡng chất lượng cao và các chương trình giáo dục sớm thời thơ ấu Nuôi dưỡng mối quan hệ mang tính cố vấn cho trẻ thông qua một chương trình ghép cặp trẻ với những người cố vấn tiềm năng Hỗ trợ hình thành các gia đình có chức năng khỏe mạnh thông qua giáo dục và chính sách Xây dựng cảm giác về tính hiệu quả của bản thân thông qua các mô hình dạy học tạo cảm giác thành công cho trẻ Khuyến khích tình bạn ở trẻ trong các hoạt động lành mạnh, chẳng hạn các hoạt động ngoại khóa Ủng hộ các truyền thống văn hoá mà cung cấp cho trẻ em các nghi thức thích nghi và cơ hội để liên kết với những người trưởng thành như tổ chức các lớp học giáo dục tôn giáo, truyền thống dân tộc cho trẻ em

mà trong đó những người cao tuổi giảng dạy [56]

Nhìn chung, những chiến lược như vậy dù tập trung vào các khía cạnh khác nhau nhưng chúng đều nhằm mục tiêu phòng ngừa và can thiệp các vấn đề trong sự

Trang 37

phát triển bằng việc thúc đẩy điểm mạnh, sự thích ứng tích cực và KNTPH Vì KNTPH bao gồm ba nhóm yếu tố bảo vệ có tương tác với nhau: cá nhân, gia đình, cộng đồng; sự kết hợp giữa nhiều yếu tố bảo vệ khác nhau có thể đem lại lợi ích Điều này đã được chứng minh trong một số nghiên cứu: nghiên cứu của Fergusson

và Lynskey năm 1996 cho thấy trẻ em có các yếu tố bảo vệ đa dạng thì 85% các em thể hiện khả năng phục hồi với các vấn đề hành vi; hoặc nghiên cứu ở Philadelphia trên nhóm vị thành niên đô thị chỉ ra rằng nhóm trẻ với các yếu tố bảo vệ đa dạng (gia đình hiệu quả và hoàn cảnh tương đối ôn hòa) có khả năng thích nghi tốt gấp 14 lần so với những em ở điều kiện tệ hơn [54] Bên cạnh đó, cũng cần lưu ý đến các vấn đề bối cảnh: nhóm đối tượng, các nguy cơ, ảnh hưởng văn hóa để phù hợp khi

áp dụng trong những điều kiện cụ thể

Nhiều tác giả đã đưa ra các khái niệm khác nhau về vấn đề CXHV theo các quan điểm riêng:

Liên minh Y tế Tâm thần Quốc gia và Các Chương trình Giáo dục Đặc biệt của Hoa Kỳ (The National Mental Health and Special Education Coalition) sử dụng thuật ngữ “rối loạn cảm xúc và hành vi” để gọi vấn đề CXHV và định nghĩa như sau [39]:

(I) Thuật ngữ rối loạn cảm xúc, hành vi (emotional or behavioral disorder)

có nghĩa là một khuyết tật được đặc trưng bởi các phản ứng cảm xúc hoặc hành vi trong chương trình trường học, khác biệt so với các chuẩn mực về độ tuổi, văn hóa,

Trang 38

đạo đức, dân tộc, tác động xấu tới thành tích giáo dục, bao gồm các lĩnh vực học tập, xã hội, nghề nghiệp hoặc các kỹ năng cá nhân; và:

(a) Chúng không chỉ là phản ứng tạm thời, được kỳ vọng khi đáp ứng với các sự kiện căng thẳng trong môi trường;

(b) Chúng thể hiện nhất quán trong hai bối cảnh khác nhau, ít nhất một trong

số đó liên quan đến trường học;

(c) Chúng vẫn duy trì bất chấp các can thiệp cá nhân trong chương trình giáo dục, trừ khi, theo đánh giá của nhóm can thiệp, lịch sử phát triển của cá nhân đó cho thấy các can thiệp như vậy không hiệu quả

Tổ chức này cũng nhấn mạnh rằng các rối loạn cảm xúc hoặc hành vi có thể cùng tồn tại với các loại khuyết tật khác

(II) Phân loại này có thể bao gồm trẻ em hoặc vị thành niên có rối loạn tâm thần phân liệt, rối loạn cảm xúc, rối loạn lo âu, hoặc các rối loạn liên quan đến hành

vi và sự thích nghi khi chúng ảnh hưởng xấu đến thành tích giáo dục theo mục I

Tuy nhiên, xuất phát từ tiếp cận giáo dục đặc biệt, định nghĩa của Liên minh

Y tế Tâm thần Quốc gia và Các Chương trình Giáo dục Đặc biệt của Hoa Kỳ dường như chú trọng nhiều hơn đến khía cạnh học tập, ít đề cập đến các khía cạnh khác trong khi nhiều trẻ em và vị thành niên không đến trường mà vẫn có những khó khăn về mặt cảm xúc, hành vi

Theo National Research Council (2009), vấn đề CXHV là các khó khăn

mà có thể là những triệu chứng hoặc dấu hiệu sớm của các rối loạn tâm thần nhưng chưa tới mức thường xuyên hoặc nghiêm trọng đủ để đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán [63] Trong đó, các hành vi có vấn đề cũng được định nghĩa là những hành vi với hệ quả tiêu cực mà thường là triệu chứng hoặc dấu hiệu sớm của các rối loạn cảm xúc, hành vi; dù không thường xuyên hoặc nghiêm trọng đủ để đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán nhưng gây ra chi phí cá nhân, gia đình và xã hội đáng

kể Với cách nhìn nhận này, có thể hiểu vấn đề CXHV là những vấn đề thuộc mức độ nhẹ hơn các rối loạn tâm thần

Wolfe (2006) cho rằng VĐCXHV nhìn chung được chia thành hai phân loại rộng: (1) các rối loạn được chẩn đoán như rối loạn lo âu và trầm cảm, và (2) các khó khăn mà không phù hợp với các loại chẩn đoán nhưng là những vấn đề đáng

Trang 39

kể/quan trọng (ví dụ các hành vi tình dục nguy cơ hoặc bạo lực khi hẹn hò) Mặc dù xem xét vấn đề CXHV trong cả hai phân loại rộng, nhiều cá nhân gặp nhiều vấn đề

và triệu chứng, và có sự chồng chéo giữa các loại đó [83]

Trong định nghĩa của Wolfe kể trên, các rối loạn được chẩn đoán thường do các nhà chuyên môn như bác sỹ tâm thần đưa ra dựa trên các tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn tâm thần (như DSM hoặc ICD) Theo Hướng dẫn chẩn đoán và phân loại các rối loạn tâm thần – DSM-5 của Hội Tâm thần học Hoa Kỳ, định nghĩa một rối loạn tâm thần như sau: “Một rối loạn tâm thần là một hội chứng được đặc trưng bởi

sự nhiễu loạn có ý nghĩa về mặt lâm sàng trong nhận thức, cảm xúc và hành vi của một cá nhân; phản ánh sự rối loạn chức năng trong các quá trình tâm lý, sinh lý và phát triển nằm dưới chức năng tâm thần Các rối loạn tâm thần thường kết hợp với

sự đau khổ hoặc suy giảm đáng kể trong xã hội, nghề nghiệp hoặc các hoạt động quan trọng khác Những phản ứng được mong đợi hoặc được chấp nhận về mặt văn hóa đối với một tác nhân gây căng thẳng thông thường hoặc sự mất mát, như cái chết của một người thân yêu, không phải là một rối loạn tâm thần Hành vi lệch chuẩn xã hội (như chính trị, tôn giáo, hay tình dục) và các xung đột mà chủ yếu là giữa cá nhân với xã hội không được coi là những rối loạn tâm thần, trừ khi sự lệch chuẩn hoặc xung đột là do một rối loạn ở cá nhân, như đã nêu ở trên” [13]

Như vậy, trong các định nghĩa trên, thuật ngữ “vấn đề cảm xúc, hành vi” có thể dùng theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa hẹp, các vấn đề cảm xúc, hành

vi là các khó khăn mà có thể là những triệu chứng hoăc dấu hiệu sớm của các rối loạn tâm thần nhưng chưa tới mức thường xuyên hoặc nghiêm trọng đủ để đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán Còn theo nghĩa rộng, thuật ngữ này đề cập đến một phổ rộng các vấn đề, từ các rối loạn tâm thần (mức độ nặng) đến những vấn đề đáng kể nhưng chưa đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán cho các rối loạn tâm thần (mức độ nhẹ) Trong đề tài này, chúng tôi nhìn nhận “vấn đề cảm xúc, hành vi” theo nghĩa rộng

1.2.2.2 Phân loại

Trong Bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 (ICD-10) của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), từ F90 đến F99 là nhóm các rối loạn cảm xúc và hành vi thường khởi phát ở tuổi trẻ em và vị thành niên [83] Trong đó bao gồm:

Trang 40

- Các rối loạn tăng động: đặc trưng là khởi bệnh sớm; sự kết hợp của một hành vi hoạt động quá mức, kém kiểm tra với thiếu chú ý rõ rệt và thiếu kiên trì trong công việc và những đặc điểm hành vi trên lan tỏa trong những một số hoàn cảnh và kéo dài với thời gian

- Các rối loạn hành vi: Các rối loạn hành vi có đặc trưng là toàn bộ các hành

vi chống xã hội, hung tính hay khiêu khích được lặp lại và kéo dài

- Các rối loạn hỗn hợp của hành vi và cảm xúc: Nhóm rối loạn này có đặc trưng là sự kết hợp các hành vi hung tính, chống xã hội, hay khiêu khích dai dẳng

và các triệu chứng rõ rệt quá mức về trầm cảm; lo âu và các rối loạn cảm xúc khác

- Các rối loạn cảm xúc với sự khởi phát đặc biệt ở tuổi trẻ em: Những rối loạn cảm xúc ở tuổi trẻ em thường là sự tăng cường các biểu hiện bình thường trong

sự phát triển Một số rối loạn bao gồm trong nhóm này: Rối loạn lo âu chia ly ở tuổi trẻ em; Rối loạn ám ảnh sợ lo âu ở tuổi trẻ em; Rối loạn lo âu xã hội ở tuổi trẻ em; Rối loạn ganh tỵ đối với anh chị em ruột; Các rối loạn cảm xúc khác ở tuổi trẻ em

- Rối loạn chức năng xã hội với sự khởi phát đặc biệt ở tuổi trẻ em và vị thành niên: Một nhóm các rối loạn có chung những bất thường trong chức năng xã hội bắt đầu ở giai đoạn phát triển nhưng (khác với rối loạn phát triển lan tỏa) không đặc trưng chủ yếu bằng sự mất năng lực hoặc một thiếu sót có vẻ thể chất - xã hội lan tỏa đến tất cả các lĩnh vực hoạt động

- Các rối loạn tic: Trong những hội chứng này biểu hiện chủ yếu là một dạng tic nào đó Tic là một động tác không hữu ý, nhanh, tái diễn không nhịp điệu (thường bao gồm những nhóm cơ hạn chế), hay một sự phát âm xuất hiện đột ngột không mục đích rõ ràng

- Những rối loạn hành vi và cảm xúc khác thường khởi phát ở tuổi trẻ em và

vị thành niên: Bao gồm một nhóm không đồng nhất các rối loạn có đặc điểm chung

là khởi phát ở tuổi trẻ em nhưng lại khác nhau trên nhiều mặt Một số có những hội chứng xác định rõ ràng nhưng một số khác chỉ là những phức hợp các triệu chứng không có giá trị phân loại bệnh, nhưng cần xếp loại vào đây do chúng thường xảy ra

và kết hợp với những vấn đề tâm lý xã hội và bởi vì không có thể đưa chúng vào hội chứng nào khác Các rối loạn bao gồm trong nhóm này: Đái dầm không do thực tổn;

Ỉa bậy không do thực tổn; Rối loạn ăn uống ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ; Chứng ăn chất không dinh dưỡng ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ; Rối loạn động tác định hình; Nói lắp;

Ngày đăng: 05/03/2019, 16:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w