Tuyển tâp bao gồm 35 các câu hỏi tình huống của Môn Luật Tố tụng hành Chính dùng cho sinh viên ngành Luật trong các chương trình đào tạo Đại học. Đây là các câu hỏi thường gặp trong thực tế được Bộ Tư Pháp tổng hợp ban hành phục vụ công tác giải đáp pháp luật cho công dân trong công tác chuẩn bị xét xẻ và phiên xét xẻ sơ thẩm tại tòa án nhân dân các cấp.
Trang 1HỎI - ĐÁP PHÁP LUẬT VỀ TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH Hỏi – đáp quy định về: - Chuẩn bị xét xử
- Phiên toà sơ thẩm
1 Chuẩn bị xét xử
Câu 1 Hỏi: N khởi kiện Thủ trưởng cơ quan về việc buộc N thôi việc không có lý do chính đáng Vụ án đã được Tòa án thông báo thụ lý hơn hai tháng nay nhưng vẫn chưa đưa
ra xét xử, nghe nói vẫn đang trong quá trình chuẩn bị xét xử N muốn biết có phải Tòa án quá chậm trễ trong việc xét xử không? Thời hạn chuẩn bị xét xử là bao lâu?
Đáp:
- Khởi kiện về việc bị kỷ luật buộc thôi việc là trường hợp được quy định tại điểm a khoản 2
Điều 104 Luật Tố tụng hành chính Theo đó, thời hạn chuẩn bị xét xử đối với trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều 104 nói trên là 04 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án
Trong trường hợp của N, vụ án vẫn đang nằm trong thời hạn chuẩn bị xét xử Vì vậy, không thể kết luận Tòa án chậm trễ
- Thời hạn chuẩn bị xét xử được quy định tại Điều 117 Luật Tố tụng hành chính như sau: + 04 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án đối với trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều 104 của Luật này;
+ 02 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 104 của Luật này
+ Đối với vụ án phức tạp hoặc có trở ngại khách quan thì Chánh án Toà án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử một lần, nhưng không quá 02 tháng đối với trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 117 Luật Tố tụng hành chính và không quá 01 tháng đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 117
Câu 2 Hỏi: Vụ án hành chính đang trong quá trình giải quyết thì đương sự Q bị chấn thương sọ não Bệnh án của bệnh viện chẩn đoán Q mất trí nhớ một vài tuần Trong trường hợp này vụ án có được tiếp tục hay không? Trong trường hợp nào thì vụ án hành chính phải tạm đình chỉ?
Đáp:
- Trong tình huống này, Q tạm thời mất năng lực hành vi dân sự, cũng có nghĩa là tạm thời mất năng lực hành vi tố tụng hành chính Do vậy, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 118 Luật Tố tụng hành chính, vụ án được:
+ Tiếp tục nếu Q có người đại diện theo pháp luật
Trang 2+ Phải tạm bị đình chỉ nếu chưa xác định được người đại diện theo pháp luật của Q;
Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 118 Luật Tố tụng hành chính, khi nào Q khôi phục trí nhớ thì Toà án sẽ tiếp tục giải quyết vụ án
- Ngoài trường hợp đương sự mất năng lực hành vi dân sự như vừa nêu trên, theo quy định tại các điểm a, c, d khoản 1 Điều 118 Luật Tố tụng hành chính, trong các trường hợp sau đây, Tòa án phải quyết định tạm đình chỉ vụ án hành chính:
+ Đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ chức đã giải thể mà chưa có cá nhân, cơ quan, tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng;
+ Đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử mà một trong các đương sự không thể có mặt vì lý do chính đáng, trừ trường hợp có thể xét xử vắng mặt các đương sự;
+ Cần đợi kết quả giải quyết của cơ quan khác hoặc vụ việc khác có liên quan
- Tuy nhiên, theo khoản 3 Điều luật này, quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án hành chính có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
Câu 3 Hỏi: Việc giải quyết vụ án hành chính bị tạm đình chỉ sẽ dẫn đến hậu quả gì?
Đáp:
Theo quy định tại Điều 119 Luật Tố tụng hành chính, việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sẽ dẫn đến hậu quả sau:
- Toà án không xoá tên vụ án hành chính bị tạm đình chỉ giải quyết trong sổ thụ lý mà chỉ ghi chú vào sổ thụ lý số và ngày, tháng, năm của quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính đó
Câu 4 Hỏi: Năm 2011, ông X gửi đơn đến Toà án nhân dân quận M khởi kiện quyết định
xử phạt xây nhà trái phép của ông Chủ tịch Uỷ ban nhân dân quận Nhưng khi Toà án triệu tập, ông X lại vắng mặt mà không hề có lý do gì Xin hỏi khi Toà án triệu tập ông X nhiều lần
mà ông vẫn không đến thì phải xử lý như thế nào?
Đáp:
Theo quy định tại Điều 120 Luật Tố tụng hành chính thì Toà án quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án hành chính nếu người khởi kiện đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt
Đối chiếu với quy định pháp luật, ông X là người khởi kiện nhưng khi được Toà án triệu tập lại vắng mặt, thậm chí đã vắng mặt nhiều lần mà không có lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng, do đó trường hợp này Toà án quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án
Câu 5 Hỏi: Một số người cho rằng nếu Toà án đình chỉ giải quyết vụ án thì vụ án đó chấm dứt, đương sự coi như đã từ bỏ việc kiện, sau này có muốn kiện lại cũng không được
Trang 3Toà án xem xét nữa không biết có đúng không? Đề nghị cho biết pháp luật có quy định việc kiện lại vụ án hành chính hay không?
Đáp:
Việc kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án hành chính đã khởi kiện được thực hiện theo quy định tại Điều 121 Luật Tố tụng hành chính Theo quy định này, khi có quyết định đình chỉ giải quyết
vụ án hành chính, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án hành chính đó, nếu việc khởi kiện này không có gì khác vụ án đã bị đình chỉ về người khởi kiện, người bị kiện và quan hệ pháp luật có tranh chấp
Tuy nhiên, có một số trường hợp mặc dù vụ án đã bị Toà án đình chỉ, nhưng sau đó người khởi kiện có yêu cầu khởi kiện lại thì Toà án vẫn thụ lý, giải quyết, nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn
Cụ thể là các trường hợp sau:
- Vụ án bị đình chỉ do người khởi kiện không có đủ năng lực hành vi tố tụng hành chính;
- Vụ án bị đình chỉ do chưa có đủ điều kiện khởi kiện vụ án hành chính;
- Vụ án bị đình chỉ do người khởi kiện lựa chọn giải quyết vụ việc theo thủ tục giải quyết khiếu nại trong trường hợp quy định tại Điều 31 của Luật Tố tụng hành chính;
- Vụ án bị đình chỉ do người khởi kiện rút đơn khởi kiện và được Toà án chấp nhận;
- Vụ án bị đình chỉ do người khởi kiện đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt
Câu 6 Hỏi: Đề nghị cho biết những ai có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ giải quyết
vụ án hành chính? Quyết định này có phải gửi đến đương sự hay không?
Đáp:
Điều 122 Luật Tố tụng hành chính quy định thẩm phán được phân công giải quyết vụ án hành chính là người có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính đó
Toà án phải gửi quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính cho đương sự và Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định đó
Câu 7 Hỏi: Quyết định đưa vụ án ra xét xử gồm những nội dung nào?
Đáp:
Theo quy định tại Điều 123 Luật Tố tụng hành chính thì quyết định đưa vụ án ra xét xử gồm những nội dung sau:
- Ngày, tháng, năm, địa điểm mở phiên toà;
- Việc xét xử được tiến hành công khai hay xét xử kín;
- Tên, địa chỉ của những người tham gia tố tụng;
Trang 4- Nội dung việc khởi kiện;
- Họ, tên của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Toà án, Kiểm sát viên;
- Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên dự khuyết (nếu có)
Về việc gửi quyết định, khoản 2 Điều 123 của Luật quy định quyết định đưa vụ án ra xét xử phải được gửi cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp ngay sau khi ra quyết định
2 Phiên toà sơ thẩm
Câu 8 Hỏi: Việc xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục đối với vụ án hành chính được pháp luật quy định như thế nào?
Đáp:
Điều 126 Luật Tố tụng hành chính quy định việc xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục như sau:
1 Hội đồng xét xử phải trực tiếp xác định những tình tiết của vụ án bằng cách hỏi và nghe lời trình bày của người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và những người tham gia tố tụng khác; xem xét, kiểm tra tài liệu, chứng cứ đã thu thập được; nghe Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát Bản án chỉ được căn cứ vào việc hỏi, kết quả tranh luận và các chứng cứ đã được xem xét, kiểm tra tại phiên toà
2 Việc xét xử bằng lời nói và phải được tiến hành liên tục, trừ thời gian nghỉ Các thành viên của Hội đồng xét xử phải xét xử vụ án từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc phiên toà
Câu 9 Hỏi: Sắp tới, Toà án thành phố G đưa ra xét xử vụ kiện ông Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố, một số người ở tổ dân phố chúng tôi định rủ nhau đến Toà xem nên rất muốn biết, người dự phiên toà phải tuân thủ quy định nào?
Đáp:
Người đến dự phiên toà phải tuân thủ nội quy phiên toà theo quy định tại Điều 127 Luật Tố tụng hành chính năm 2011 Cụ thể như sau:
Người dưới 16 tuổi không được vào phòng xử án, trừ trường hợp được Toà án triệu tập tham gia phiên toà
Mọi người trong phòng xử án phải đứng dậy khi Hội đồng xét xử vào phòng xử án, phải tôn trọng Hội đồng xét xử, giữ gìn trật tự và tuân theo sự điều khiển của Chủ toạ phiên toà
Chỉ những người được Hội đồng xét xử cho phép mới được hỏi, trả lời hoặc phát biểu
Người hỏi, trả lời hoặc phát biểu phải đứng dậy, trừ trường hợp vì lý do sức khoẻ được Chủ toạ phiên toà cho phép ngồi để hỏi, trả lời hoặc phát biểu
Trang 5Câu 10 Hỏi: Phiên toà sắp bắt đầu thì có tin báo anh Hội thẩm nhân dân bị tai nạn trên đường Ông chủ toạ yêu cầu chị A (Hội thẩm nhân dân dự khuyết) thay thế Tuy nhiên, một
số người tham dự phiên toà xì xào, nghi ngờ việc thay thế thành viên Hội đồng xét xử đột xuất như vậy có thể dẫn đến kết quả xét xử không công minh Đề nghị cho biết pháp luật có quy định về sự có mặt của thành viên Hội đồng xét xử hay không?
Đáp:
Sự có mặt của thành viên Hội đồng xét xử được thực hiện theo quy định tại Điều 129 Luật Tố tụng hành chính Cụ thể như sau:
Phiên toà chỉ được tiến hành khi có đủ thành viên Hội đồng xét xử và Thư ký toà án Trường hợp có Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân vắng mặt hoặc không thể tiếp tục tham gia xét xử vụ án nhưng có Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân dự khuyết tham gia phiên toà từ đầu thì những người này được thay thế thành viên Hội đồng xét xử vắng mặt để tham gia xét xử vụ án
Trường hợp không có Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân dự khuyết để thay thế thành viên Hội đồng xét xử thì phải hoãn phiên toà
Trường hợp Thư ký Toà án vắng mặt hoặc không thể tiếp tục tham gia phiên toà mà không có người thay thế thì phải hoãn phiên toà
Câu 11 Hỏi: Đề nghị cho biết trường hợp Kiểm sát viên được phân công tham gia phiên tòa mà vắng mặt thì phiên toà có được xét xử hay không?
Đáp:
Điều 130 Luật Tố tụng hành chính năm 2011 quy định Kiểm sát viên được Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp phân công có nhiệm vụ tham gia phiên toà, nếu vắng mặt thì Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên toà và thông báo cho Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp
Trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt hoặc không thể tiếp tục tham gia phiên toà, nhưng có Kiểm sát viên dự khuyết tham gia phiên toà từ đầu thì người này được thay thế Kiểm sát viên vắng mặt tham gia phiên toà xét xử vụ án
Câu 12 Hỏi: Có ý kiến cho rằng trong mọi trường, khi Toà án mở phiên toà mà vắng mặt một trong các đương sự là người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án thì phiên toà đều bị hoãn Xin hỏi ý kiến đó đúng hay sai?
Đáp:
Theo quy định tại Điều 131 Luật Tố tụng hành chính thì khi vắng mặt người tham gia tố tụng (người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự), phiên toà có thể bị hoãn hoặc vẫn tiến hành xét xử Việc hoãn phiên toà hoặc vẫn tiến hành xét xử được thực hiện theo quy định sau:
Trang 61 Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt; trường hợp có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử hoãn phiên toà, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt
2 Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên toà, nếu vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng thì xử lý như sau:
- Đối với người khởi kiện, người đại diện theo pháp luật mà không có người đại diện tham gia phiên toà thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt Người khởi kiện có quyền khởi kiện lại, nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn;
- Đối với người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập mà không có người đại diện tham gia phiên toà thì Toà án tiến hành xét xử vắng mặt họ;
- Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập mà không có người đại diện tham gia phiên toà thì bị coi là từ bỏ yêu cầu độc lập của mình và Toà án ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án đối với yêu cầu độc lập của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu độc lập đó, nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn;
- Đối với người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thì Toà án vẫn tiến hành xét
xử vắng mặt họ
Câu 13 Hỏi: Toà án nhân dân tỉnh K đã gửi giấy triệu tập chị M - người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia phiên toà Tuy nhiên, đúng vào ngày Toà án mở phiên toà thì chị
M bị ốm không đến được Chị có ý định nhờ người đại diện vì sợ hoãn phiên toà sẽ ảnh hưởng đến những người tham gia khác Nhưng bác của chị nói chỉ cần gửi đơn đề nghị Toà
án xét xử vắng mặt là được Đề nghị cho biết trường hợp này thực hiện theo quy định nào?
Đáp:
Trong trường hợp này, Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án trong các trường hợp quy định tại Điều 132 Luật Tố tụng hành chính năm 2011 Cụ thể gồm các trường hợp sau:
1 Người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện của
họ vắng mặt tại phiên toà có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt;
2 Người khởi kiện, người bị kiện hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà nhưng có người đại diện tham gia phiên toà;
3 Các trường hợp quy định tại điểm b và điểm d khoản 2 Điều 131 của Luật Cụ thể là người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập mà không có người đại diện tham gia phiên toà, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng
Trang 7Câu 14 Hỏi: Đề nghị cho biết trong trường hợp nào thì người làm chứng có thể bị dẫn giải đến phiên toà?
Đáp:
Điều 133 Luật Tố tụng hành chính quy định người làm chứng có nghĩa vụ tham gia phiên toà theo giấy triệu tập của Toà án để làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án Trường hợp người làm chứng vắng mặt nhưng trước đó đã có lời khai trực tiếp với Toà án hoặc gửi lời khai cho Toà án thì Chủ toạ phiên toà công bố lời khai đó
Trường hợp người làm chứng vắng mặt thì Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên toà hoặc vẫn tiến hành xét xử Trường hợp người làm chứng vắng mặt tại phiên toà không có lý do chính đáng và việc vắng mặt của họ gây trở ngại cho việt xét xử thì có thể bị dẫn giải đến phiên toà theo quyết định của Hội đồng xét xử
Câu 15 Hỏi: Do vụ án có đương sự là người dân tộc thiểu số nên thẩm phán được phân công giải quyết vụ án quyết định có người phiên dịch tham gia phiên tòa (anh A) Tuy nhiên,
vì có lý do đột xuất, vào ngày mở phiên toà mẹ của anh A mất nên anh không thể tham gia phiên toà Xin hỏi trường hợp này vụ án phải hoãn hay vẫn xét xử?
Đáp:
Phiên toà phải hoãn trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 136 Luật Tố tụng hành chính Theo quy định tại khoản 2 Điều 135 thì trường hợp người phiên dịch vắng mặt mà không có người khác thay thế thì Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên toà
Như vậy, trong trường hợp nêu trên, nếu Toà án bố trí được người thay thế anh A thì phiên toà vẫn được tiến hành xét xử, còn không có người thay thế thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên toà
Câu 16 Hỏi: Trong thời hạn bao lâu kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên toà thì Toà án
mở lại phiên toà Trường hợp không thể mở lại phiên toà thì Toà án phải làm gì?
Đáp:
Thời hạn hoãn phiên toà, việc mở lại phiên toà được thực hiện theo quy định tại Điều 137 Luật
Tố tụng hành chính Cụ thể như sau:
1 Thời hạn hoãn phiên toà sơ thẩm không quá 30 ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên toà
2 Quyết định hoãn phiên toà phải được Chủ toạ phiên toà thay mặt Hội đồng xét xử ký tên Trường hợp Chủ toạ phiên toà vắng mặt thì Chánh án Toà án ra quyết định hoãn phiên toà Quyết định hoãn phiên toà được thông báo ngay cho những người tham gia tố tụng biết; đối với người vắng mặt thì Toà án gửi ngay cho họ quyết định đó, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp
Trang 8Trong trường hợp sau khi hoãn phiên toà mà Toà án không thể mở lại phiên toà đúng thời gian, địa điểm mở lại phiên toà ghi trong quyết định hoãn phiên toà thì Toà án phải thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp và những người tham gia tố tụng biết về thời gian, địa điểm mở lại phiên toà
Câu 17 Hỏi: Xin hỏi thủ tục ra bản án, quyết định của Toà án được thực hiện như thế nào?
Đáp:
Điều 138 Luật Tố tụng hành chính quy định thủ tục ra bản án, quyết định của Toà án tại phiên toà được thực hiện như sau:
1 Bản án phải được Hội đồng xét xử thảo luận và thông qua tại phòng nghị án
2 Quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch, chuyển vụ
án, tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết vụ án, hoãn phiên toà phải được thảo luận, thông qua tại phòng nghị án và phải được lập thành văn bản
3 Quyết định về các vấn đề khác được Hội đồng xét xử thảo luận và thông qua tại phòng xử
án, không phải viết thành văn bản, nhưng phải được ghi vào biên bản phiên toà
Câu 18 Hỏi: Tại phiên toà, ông K đề nghị Hội đồng xét xử cho ông được rút đơn khởi kiện Sau khi xem xét, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị này của ông và ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án Xin hỏi trường hợp của ông K được giải quyết theo quy định nào?
Đáp:
Theo quy định tại khoản 2 Điều 139 Luật Tố tụng hành chính thì tại phiên toà, nếu có một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 120 Luật Tố tụng hành chính về các trường hợp đình chỉ giải quyết các vụ án hành chính thì Hội đồng xét xử ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án Các trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 120 bao gồm:
- Người khởi kiện là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế; cơ quan,
tổ chức đã giải thể mà không có cá nhân, cơ quan, tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng;
- Người khởi kiện rút đơn khởi kiện và được Toà án chấp nhận;
- Người khởi kiện đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt;
- Người bị kiện hủy bỏ quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải
quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh hoặc chấm dứt hành vi hành chính bị khởi kiện và người khởi kiện đồng ý rút đơn khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập đồng ý rút yêu cầu;
- Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 109 của Luật này mà Toà án đã thụ lý.
Trang 9Đối chiếu với quy định của pháp luật, việc đề nghị Hội đồng xét xử cho rút đơn khởi kiện của ông A thuộc trường hợp đình chỉ việc giải quyết vụ án theo điểm b khoản 1 Điều 120 Tại phiên toà, Hội đồng xét xử có thẩm quyền quyết định việc đình chỉ việc giải quyết vụ án
Câu 19 Hỏi: Hiện nay ở một số nước trên thế giới, Toà án được sử dụng các phương tiện hiện đại để hỗ trợ, phục vụ hoạt động xét xử như ghi âm, ghi hình phiên toà Xin hỏi, pháp luật Việt Nam có quy định như vậy hay không?
Đáp:
Biên bản phiên toà là một việc quan trọng trong hoạt động xét xử của Toà án được quy định tại Điều 140 Luật Tố tụng hành chính năm 2011 Biên bản phiên toà phải được ghi đầy đủ các nội dung sau:
- Ngày, tháng, năm, địa điểm mở phiên toà; việc xét xử được tiến hành công khai hay xét xử kín; tên, địa chỉ của những người tham gia tố tụng; nội dung việc khởi kiện; họ, tên của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Toà án, Kiểm sát viên; Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên
dự khuyết (nếu có);
- Mọi diễn biến tại phiên toà từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc phiên toà;
- Các câu hỏi, câu trả lời và phát biểu tại phiên toà;
- Các nội dung khác phải được ghi vào biên bản phiên toà theo quy định của Luật này
Ngoài việc ghi biên bản phiên toà, Toà án có thể thực hiện việc ghi âm, ghi hình về diễn biến phiên toà
Như vậy, pháp luật Việt Nam có quy định bên cạnh việc ghi biên bản phiên toà, Toà án được
sử dụng các phương tiện hiện đại như ghi âm, ghi hình về diễn biến phiên toà để phục vụ hoạt động xét xử của Toà án
Câu 20 Hỏi: Đề nghị cho biết pháp luật có những quy định nào để việc tham gia phiên toà của người làm chứng vẫn bảo đảm tính khách quan?
Đáp:
Để đảm bảo tính khách quan của người làm chứng khi tham gia phiên toà, Điều 144 Luật Tố tụng hành chính quy định như sau:
1 Trước khi người làm chứng được hỏi về những vấn đề mà họ biết được có liên quan đến việc giải quyết vụ án, Chủ toạ phiên toà có thể quyết định những biện pháp cần thiết để những người làm chứng không nghe được lời khai của nhau hoặc tiếp xúc với những người có liên quan
2 Trường hợp lời khai của đương sự và người làm chứng có ảnh hưởng lẫn nhau thì Chủ toạ phiên toà có thể quyết định cách ly đương sự với người làm chứng trước khi hỏi người làm chứng
Trang 10Câu 21 Hỏi: Việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu tại phiên tòa được quy định như thế nào?
Đáp:
Việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu tại phiên toà sẽ được thực hiện theo quy định tại Điều 145 Luật Tố tụng hành chính Cụ thể như sau:
1 Chủ toạ phiên toà hỏi người khởi kiện về việc thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện
2 Chủ toạ phiên toà hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập về việc thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu độc lập
Câu 22 Hỏi: Đề nghị cho biết trình tự hỏi tại phiên toà được thực hiện như thế nào?
Đáp:
Điều 148 Luật Tố tụng hành chính quy định việc hỏi tại phiên toà như sau:
1 Hội đồng xét xử xác định đầy đủ các tình tiết của vụ án bằng cách nghe ý kiến của người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, đối chiếu các ý kiến này với tài liệu, chứng cứ đã thu thập được
2 Sau khi nghe xong lời trình bày của đương sự, việc hỏi từng người về từng vấn đề được thực hiện theo thứ tự Chủ toạ phiên toà hỏi trước rồi đến Hội thẩm nhân dân, sau đó đến người bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đương sự, những người tham gia tố tụng khác và Kiểm sát viên
Câu 23 Hỏi: Trước khi mở phiên toà, Toà án đã lấy lời khai của nguời khởi kiện thì có bắt buộc hỏi tại phòng xử án nữa không Đề nghị cho biết pháp luật quy định về việc này như thế nào?
Đáp:
Việc hỏi người khởi kiện được thực hiện theo quy định tại Điều 149 Luật Tố tụng hành chính
Cụ thể như sau:
1 Trong trường hợp có nhiều người khởi kiện thì phải hỏi riêng từng người một
2 Chỉ hỏi người khởi kiện về những vấn đề mà người khởi kiện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện trình bày chưa rõ, có mâu thuẫn với nhau hoặc mâu thuẫn với những lời khai của họ trước đó, mâu thuẫn với lời trình bày của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người này
3 Người khởi kiện có thể tự mình trả lời hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện trả lời thay cho người khởi kiện và sau đó người khởi kiện trả lời bổ sung