1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bo GTVT trinh CP chien luoc GTVTDS 15373 03 12 2014

14 56 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 147,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thời gian từ 2004 - 2009 được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Bộ Giao thông vận tải, ngành giao thông vận tải đường sắt đã có sự phát triển đáng kể, trong đó có một số công trình t

Trang 1

BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 15373/TTr-BGTVT Hà Nội, ngày 03 tháng 12 năm 2014

TỜ TRÌNH

Về việc điều chỉnh Chiến lược phát triển giao thông vận tải

đường sắt Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm

2050

Kính gửi: Thủ tướng Chính phủ

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Chính phủ tại các Văn bản số: 248/TB-VPCP ngày 16/7/2013, số 1057/VPCP-KTN ngày 18/02/2014, số 4259/VPCP-KTN ngày 11/6/2014; Bộ Giao thông vận tải đã chỉ đạo Tổng công ty Đường sắt Việt Nam rà soát kỹ, hoàn thiện các nội dung điều chỉnh của Chiến lược phát triển giao thông vận tải đường sắt Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050 theo đúng Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 16/01/2012, Nghị quyết số 16/NQ-CP ngày 08/6/2012, Quyết định số 355/QĐ-TTg ngày 25/12/2013 và Quyết định 1210/QĐ-TTg ngày 24/7/2014 của Thủ tướng Chính phủ

Đối với nội dung báo cáo đánh giá môi trường chiến lược theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có báo cáo thẩm định số 5112/BTNMT-TCMT ngày 19/11/2014 báo cáo Thủ tướng Chính phủ Căn cứ nội dung thẩm định, Bộ GTVT đã chỉ đạo Tổng công ty Đường sắt Việt Nam nghiên cứu tiếp thu, chỉnh sửa, hoàn thiện báo cáo đánh giá môi trường chiến lược (có báo cáo tiếp thu, giải trình đính kèm)

Trên cơ sở nội dung rà soát, hoàn thiện, Bộ Giao thông vận tải kính trình Thủ tướng Chính phủ nội dung Điều chỉnh Chiến lược phát triển giao thông vận tải đường sắt Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2050 như sau:

I Tình hình thực hiện và sự cần thiết phải điều chỉnh chiến lược phát triển GTVT đường sắt Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050

Quy hoạch tổng thể phát triển ngành giao thông vận tải đường sắt Việt Nam đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 06/2002/QĐ-TTg ngày 07/01/2002; đến năm 2004, Chiến lược phát triển giao thông vận tải đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 206/2004/QĐ-TTg Trong thời gian từ 2004 - 2009 được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Bộ Giao thông vận tải, ngành giao thông vận tải đường sắt đã có sự phát triển đáng kể, trong đó có một số công trình trọng điểm được triển khai trong thời gian gần đây như:

- Về kết cấu hạ tầng đường sắt quốc gia:

Trang 2

+ Dự án nâng cấp cải tạo cầu yếu trên tuyến đường sắt Thống Nhất; gia cố sửa chữa các hầm trên đèo Hải Vân và dự án thay thế tà vẹt K1, K2; thí điểm sử dụng ray hàn liền; triển khai kế hoạch lập lại hành lang an toàn giao thông đường sắt góp phần nâng cao năng lực thông qua, tạo sự êm thuận và đảm bảo

an toàn chạy tàu

+ Thông tin tín hiệu: hai hệ thống thông tin với đường trục cáp quang và các thiết bị truyền dẫn, tổng đài kỹ thuật số đã được hoàn thành và đưa vào sử dụng trên các khu đoạn Hà Nội - Vinh và Nha Trang - Sài Gòn (tuyến đường sắt Thống Nhất), bảo đảm thông tin chất lượng cao và tổ chức chạy tàu trật tự, an toàn

- Về phương tiện: Qua dự án “Đoàn tàu tốc hành giai đoạn I” được vay từ nguồn vốn ODA của Cộng hòa Liên bang Đức, Tổng công ty Đường sắt Việt Nam đã nghiên cứu và lắp ráp đầu máy diesel khổ đường 1000 mm, công suất đến 2.000 CV cho phép tăng đáng kể tốc độ và tăng tổng trọng đoàn tàu hàng, đáp ứng nhu cầu đi lại và vận chuyển đang tăng nhanh trên hành lang Bắc - Nam

và Đông - Tây

- Về đường sắt đô thị: cũng được các nhà tài trợ nước ngoài quan tâm ở các thành phố lớn nhằm cải thiện hệ thống giao thông đô thị, giảm ùn tắc giao thông, đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân Đến nay, đã khởi công xây dựng một số tuyến như: Hà Nội - Hà Đông, Nhổn - ga Hà Nội, Bến Thành - Suối Tiên

Với những kết quả nêu trên, chất lượng vận tải đường sắt đã được cải thiện, đáp ứng một phần yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, góp phần nâng cao đời sống nhân dân, rút ngắn thời gian đi lại giữa các vùng miền Bên cạnh kết quả đạt được, trong thời gian qua còn tồn tại nhiều bất cập như:

hệ thống kết cấu hạ tầng còn lạc hậu, tiêu chuẩn kỹ thuật thấp, năng lực hạn chế, hành lang an toàn giao thông đường sắt còn bị xâm hại và chưa thông thoáng làm cho chất lượng dịch vụ vận tải hạn chế, chưa đáp ứng được đầy đủ nhu cầu, ảnh hưởng đến lợi thế của ngành đường sắt so với các phương thức vận tải khác

Để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước với tốc độ cao hơn, hiệu quả hơn, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định 1686/QĐ-TTg ngày 20/11/2008 phê duyệt Chiến lược phát triển GTVT đường sắt Việt Nam đến năm

2020 và tầm nhìn đến năm 2050 (sau đây gọi tắt là Chiến lược 1686) Tại thời điểm lập Chiến lược 1686, nước ta đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ, tăng trưởng kinh tế đạt tốc độ cao và kéo dài (giai đoạn 1991-2009, tốc độ tăng GDP bình quân 7,5%/năm) và nền kinh tế tiếp tục được dự báo có tốc độ tăng trưởng cao (GDP bình quân 8-8,5%/năm), cùng với việc Việt Nam gia nhập vào

Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và được rất nhiều các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm nên dự kiến có những điều kiện thuận lợi cho phát triển ngành giao thông vận tải đường sắt Vì vậy, Chiến lược 1686 đã kỳ vọng đề ra các dự báo và mục tiêu phát triển khá cao nhằm đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, sau khi ban hành Chiến lược 1686, đất nước bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng kinh tế thế giới, nền kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn, Chính phủ phải dành ưu tiên cho kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an

Trang 3

sinh xã hội, nên chi tiêu công có nhiều hạn chế Điều đó làm xuất hiện những khó khăn trong việc triển khai thực hiện Chiến lược 1686, cụ thể như sau:

1 Về hệ thống kết cấu hạ tầng đường sắt

- Đối với hệ thống mạng lưới đường sắt quốc gia hiện có: Chiến lược 1686

đã đặt ra mục tiêu đến năm 2020 “Hệ thống đường sắt hiện tại được nâng cấp, khôi phục theo đúng tiêu chuẩn kỹ thuật” Nhưng thực tế triển khai chỉ được

một số công trình rất hạn chế như: khôi phục cải tạo cầu yếu, thay tà vẹt và một

số dự án thông tin tín hiệu, vì vậy, tốc độ chạy tàu vẫn thấp (tốc độ lữ hành trung bình đối với tàu khách chỉ đạt là 43km/h và tàu hàng là 18km/h, riêng tuyến đường sắt Thống Nhất tốc độ lữ hành trung bình đối với tàu khách là 50km/h và tàu hàng là 35km/h); một số điểm khống chế năng lực do bán kính đường cong

nhỏ, địa hình, địa chất phức tạp như: đèo Hải Vân, đèo Khe Nét và đoạn Hòa Duyệt - Thanh Luyện

- Đối với việc đầu tư phát triển đường sắt cao tốc Bắc Nam: Chiến lược

1686 đã đặt ra mục tiêu đến năm 2020 “Hoàn thành và đưa vào khai thác một số đoạn đường sắt cao tốc trên trục Bắc - Nam” Tuy nhiên, đường sắt cao tốc vẫn

chưa được Quốc hội thông qua về chủ trương tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XII Theo đề nghị của Chính phủ Việt Nam, Chính phủ Nhật bản đã cung cấp nguồn tín dụng ODA không hoàn lại thông qua tổ chức JICA để thực hiện dự án

hỗ trợ kỹ thuật đầu tư xây dựng công trình đoạn Hà Nội - Vinh và Thành phố Hồ Chí Minh - Nha Trang thuộc dự án đường sắt cao tốc Hà Nội - Hồ Chí Minh

- Đối với việc đầu tư phát triển các tuyến đường sắt mới: Trong Chiến lược

1686 đã đưa ra rất nhiều tuyến đường sắt mới cần được xây dựng để kết nối với các nước trong khu vực, các khu công nghiệp, cảng biển và khu mỏ lớn Tuy nhiên, việc triển khai rất chậm chủ yếu là chưa xác định được nguồn vốn Mới chỉ có một đoạn đường sắt thuộc dự án Yên Viên - Phả Lại - Hạ Long - Cái Lân được xây dựng nhưng đến nay cũng đã gián đoạn thi công

- Đối với việc phát triển đường sắt đô thị (ĐSĐT) tại thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh: Chiến lược 1686 và quy hoạch phát triển ĐSĐT tại thủ

đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đã được vạch ra tương đối cụ thể với 8 tuyến tại thủ đô Hà Nội và 7 tuyến tại thành phố Hồ Chí Minh Tuy nhiên, lộ trình thực hiện và kế hoạch triển khai các dự án ĐSĐT tại 2 thành phố đều gặp nhiều khó khăn, phụ thuộc không những nguồn vốn vay nước ngoài ODA mà còn vướng mắc về thủ tục và công tác giải phóng mặt bằng tại các đô thị

2 Về năng lực vận tải

Với hệ thống kết cấu hạ tầng hiện nay thì năng lực vận tải đường sắt năm

2012 mới chỉ đáp ứng được 0,44% về lượng hành khách, 3,89% về lượng luân chuyển hành khách và 0,72% về tấn hàng hóa, 1,87% về lượng luân chuyển hàng hóa so với tổng khối lượng vận tải của cả nước, nên rất khó đạt mục tiêu đề ra đến năm 2020 trong Chiến lược 1686 là: “13% về lượng luân chuyển hành khách và 14% về lượng luân chuyển hàng hóa”.

3 Về phương tiện, đầu máy - toa xe và công nghiệp đường sắt

Trang 4

Theo Chiến lược 1686 đến năm 2020, các sản phẩm công nghiệp đường sắt

có tỷ lệ nội địa hóa cao, các cơ sở chế tạo lắp ráp đầu máy toa xe, sản xuất phụ tùng thay thế được cải tạo, xây dựng đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu Nhưng hiện nay, các cơ sở công nghiệp đường sắt chủ yếu làm nhiệm vụ bảo dưỡng sửa chữa, gia công lắp ráp là chính Cả hai nhà máy xe lửa Gia Lâm ở phía Bắc và Dĩ An ở phía Nam đóng mới được toa xe và lắp ráp được đầu máy Diezen (ở Xe lửa Gia Lâm) nhưng dây chuyền công nghệ còn lạc hậu

4 Về chủ trương chính sách

Nghị quyết số 13- NQ/TW ngày 16/01/2012 của Hội nghị lần thứ 4 Ban

chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã chỉ rõ: “Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phải hiện đại, đồng bộ trên phạm vi cả nước, từng ngành, từng vùng và từng địa phương, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; có phân kỳ đầu tư, ưu tiên những dự án quan trọng tạo sự đột phá và

có tác động lan tỏa Tăng cường công tác quản lý trong khai thác sử dụng công trình” Về hạ tầng giao thông: “bảo đảm kết nối các trung tâm kinh tế lớn với nhau và với các đầu mối giao thông cửa ngõ bằng hệ thống giao thông đồng bộ, năng lực vận tải được nâng cao, giao thông được thông suốt, an toàn” Về đường sắt: “Ưu tiên nâng cấp hiện đại hóa hệ thống tuyến đường sắt Bắc - Nam hiện có Nghiên cứu các phương án khả thi đường sắt tốc độ cao để có kế hoạch xây dựng phù hợp, phát triển đường sắt đô thị, đường sắt nội ngoại ô tại Hà Nội

và thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu đầu tư tuyến mới đường sắt khổ 1435mm nối thành phố Hồ Chí Minh với thành phố Cần Thơ và thành phố Hồ Chí Minh với thành phố Vũng Tàu” Triển khai Nghị quyết số 13-NQ/TW nói

trên, chiến lược phát triển GTVT nói chung trong đó có GTVT đường sắt cũng cần được điều chỉnh cập nhật cho phù hợp

Mặt khác, nếu tiếp tục đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường sắt theo định hướng trong Chiến lược 1686 thì khả năng huy động nguồn lực khó có thể đáp ứng yêu cầu (vốn đầu tư cho Đường sắt từ khi Quyết định số 1686 có hiệu lực đến nay là 8.070 tỷ đồng đạt 0,86% so với chiến lược được duyệt tính đến năm 2020), đặc biệt trong bối cảnh cuộc khủng hoảng kinh tế đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu đã làm nhiều quốc gia trên thế giới rơi sâu vào suy thoái, vấn đề

nợ công trở thành gánh nặng cho các nền kinh tế mà Việt Nam đang hội nhập quốc tế nên cũng khó tránh khỏi bị ảnh hưởng Vì vậy, cần thiết phải có một sự điều chỉnh căn bản các mục tiêu phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội nói chung và hạ tầng giao thông vận tải đường sắt nói riêng để trong điều kiện nguồn lực có hạn, vẫn phát huy hiệu quả đầu tư, đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ mới theo các chủ trương, chính sách của Đảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại

II Những vấn đề chính đề nghị được điều chỉnh, bổ sung

1 Về quan điểm phát triển: Cơ bản giữ nguyên các quan điểm nêu trong

Chiến lược 1686, chỉ điều chỉnh bổ sung một nội dung cho phù hợp với tinh thần của Nghị quyết Đại hội Đảng XI và Nghị quyết 13-NQ/TW

Trang 5

2 Về mục tiêu phát triển: Các mục tiêu tổng quát đến 2050 cơ bản được

giữ nguyên, trong đó có điều chỉnh một số mục tiêu đến 2020 để đảm bảo tính khả thi của chiến lược, cụ thể:

- Về phát triển kết cấu hạ tầng: Tập trung hoàn thành nâng cấp, hiện đại hóa tuyến đường sắt Bắc Nam hiện có (đường sắt Thống Nhất) nhằm mục tiêu đồng nhất tải trọng và tăng năng lực khai thác; nghiên cứu, xây dựng mới đường sắt tốc độ cao, đường đôi khổ 1435mm điện khí hóa trên trục Bắc - Nam; điều chỉnh

tiến độ xây dựng các tuyến đường sắt nối với các khu cảng biển, khu công nghiệp lớn, khu du lịch và đường sắt nối với các nước có chung biên giới với Việt Nam trong mạng lưới đường sắt xuyên Á

- Về thị phần vận tải: Điều chỉnh thị phần vận tải cho phù hợp và thống nhất với điều chỉnh Chiến lược phát triển GTVT Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 mới được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 355/QĐ-TTg ngày 25/2/2013, Quyết định số 318/QĐ-TTg ngày 04/3/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược phát triển dịch vụ vận tải đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 và Quyết định số 1210/QĐ-TTg ngày 24/7/2014 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành giao thông vận tải phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững giai đoạn đến năm 2020

3 Về kết cấu

- Bổ sung giai đoạn 2020 đến 2030 để GTVT đường sắt Việt Nam phù hợp với mục tiêu chung của ngành GTVT được phê duyệt tại quyết định số 355/QĐ-TTg

- Danh mục các dự án đầu tư sẽ đưa vào quy hoạch phát triển GTVT đường sắt

4 Về giải pháp thực hiện Chiến lược

- Cập nhật một số nội dung về: tổ chức và thể chế, huy động nguồn vốn, phát triển nguồn nhân lực, khoa học công nghệ để bảo đảm việc thực hiện Chiến lược là chắc chắn và tích cực

- Bổ sung thêm các chính sách và giải pháp về: Phát triển vận tải; Phát triển công nghiệp đường sắt; Đảm bảo an toàn giao thông; Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững; Công tác quốc phòng - an ninh

III Nội dung Chiến lược phát triển giao thông vận tải đường sắt Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050 sau khi được điều chỉnh

1 Quan điểm phát triển

a) Chiến lược phát triển giao thông vận tải đường sắt phải phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, chiến lược phát triển giao thông vận tải đến năm 2020 và có tầm nhìn đến năm 2050 phù hợp với đặc thù của ngành b) 2 Giao thông vận tải đường sắt là một bộ phận quan trọng trong hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, là loại hình vận tải chủ yếu đảm nhận vận tải hàng hóa khối lượng lớn đường dài và trung bình, vận tải hành khách đường dài, liên tỉnh, vận tải hành khách công cộng tại các thành phố lớn; đóng vai trò chủ đạo

Trang 6

trong vận tải hành khách trên trục Bắc - Nam và hàng hóa, hành khách trên trục Đông - Tây, cũng như ưu thế nổi bật về vận tải hành khách công cộng cần được ưu tiên đầu tư phát triển

c) Phát triển giao thông vận tải đường sắt có bước đi phù hợp, khai thác hiệu quả các tuyến đường sắt hiện có, đồng thời nghiên cứu đầu tư xây dựng các tuyến đường sắt hiện đại, gắn kết chặt chẽ với các cảng biển lớn của từng khu vực

và phương thức giao thông vận tải khác

d) Gắn kết phát triển giao thông vận tải đường sắt với phát triển đô thị, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, góp phần giảm thiểu ùn tắc, tai nạn giao thông và thúc đẩy sự phát triển của các vùng

xa, vùng sâu, vùng khó khăn

e) Nhà nước tập trung đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đường sắt quốc gia, đồng thời coi trọng công tác bảo trì kết cấu hạ tầng hiện có, bảo đảm khai thác hiệu quả, thông suốt, trật tự, an toàn Nhanh chóng phát triển giao thông vận tải bánh sắt tại các đô thị, đường sắt nội - ngoại ô, làm nòng cốt trong vận tải hành khách công cộng, trước mắt tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh

f) Khuyến khích các thành phần kinh tế và huy động tối đa mọi nguồn lực tham gia đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, phương tiện vận tải và kinh doanh vận tải đường sắt theo quy hoạch và đúng quy định pháp luật, bảo đảm điều hành thống nhất, tập trung hoạt động giao thông vận tải đường sắt

g) Đẩy mạnh phát triển khoa học công nghệ chuyên ngành, nguồn nhân lực và tăng cường hợp tác quốc tế để nhanh chóng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đường sắt

h) Phát triển công nghiệp đường sắt gắn với định hướng phát triển công nghiệp Việt Nam; hướng đến lắp ráp, chế tạo đầu máy, toa xe, phụ tùng phụ kiện và các thiết bị khác phục vụ tốt nhu cầu trong nước, tiến tới xuất khẩu

i) Dành quỹ đất hợp lý để phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường sắt, bảo đảm hành lang an toàn giao thông đường sắt theo đúng quy định của Luật Đường sắt; tiết kiệm đất trồng lúa, đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, bảo vệ môi trường, tăng trưởng xanh và ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng

2 Mục tiêu phát triển

a) Mục tiêu tổng quát

Phát triển hệ thống giao thông vận tải đường sắt đồng bộ cả về kết cấu hạ tầng, tổ chức quản lý khai thác vận tải, công nghiệp và dịch vụ đạt trình độ cao; đảm bảo giao thông thông suốt, nhanh chóng, thuận lợi và an toàn trên phạm vi

cả nước; tạo thành động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc

tế và khu vực

b) Mục tiêu cụ thể

 Giai đoạn đến năm 2020:

Trang 7

- Về thị phần vận tải: Đáp ứng khoảng 1% - 2% thị phần vận tải về hành khách

và 1% - 3% thị phần vận tải về hàng hóa; đáp ứng được khoảng 4% - 5% thị phần vận tải về vận chuyển hành khách đô thị tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh

- Về phát triển mạng lưới và kết cấu hạ tầng:

+ Đối với mạng đường sắt hiện có:

Ưu tiên nâng cấp, hiện đại hóa tuyến đường sắt Bắc - Nam hiện có để đạt tốc

độ chạy tàu bình quân 80 - 90km/h đối với tàu khách và 50 - 60km/h đối với tàu hàng; nâng cao năng lực, chất lượng vận tải và thực hiện cải tạo, nâng cấp các tuyến đường sắt hiện có như: Yên Viên - Lào Cai, Gia Lâm - Hải Phòng, Yên Viên

- Đồng Đăng, Hà Nội - Thái Nguyên, Hà Nội - Lạng Sơn

Tập trung đầu tư, nâng cấp, cải tạo các nhà ga đường sắt trọng điểm, các ga

có lượng hành khách lớn; xoá bỏ các điểm giao cắt đồng mức giữa đường bộ và đường sắt có lưu lượng giao thông lớn

+ Đối với đường sắt xây dựng mới:

Nghiên cứu phương án xây dựng mới tuyến đường sắt tốc độ cao, đường đôi khổ 1435mm, điện khí hóa trên trục Bắc - Nam, trong đó chuẩn bị các điều kiện cần thiết để từng bước ưu tiên xây dựng trước những đoạn có nhu cầu vận tải lớn, đặc biệt khu vực kết nối với thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh như đoạn Hà Nội - Vinh, thành phố Hồ Chí Minh - Nha Trang; đưa vào khai thác toàn tuyến đường sắt Yên Viên - Phả Lại - Hạ Long - Cái Lân Nghiên cứu phương án xây dựng mới các tuyến Lào Cai - Hà Nội, Hà Nội - Hải Phòng và Hà Nội - Đồng Đăng, Biên Hòa - Vũng Tàu, Sài Gòn - Cần Thơ; đường sắt nối cảng biển Hải Phòng - Lạch Huyện; đường sắt nối các tỉnh Tây Nguyên với cảng biển; đường sắt Vũng Áng - Cha Lo (Mụ Giạ) để kết nối với đường sắt của Lào tại Thà Khẹt, đường sắt Dĩ An - Lộc Ninh kết nối với đường sắt xuyên Á

+ Đối với phát triển đường sắt đô thị: Tích cực thực hiện các dự án đường sắt đô thị tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh

- Về công nghiệp đường sắt: Tập trung phát triển các loại sản phẩm như

đóng mới các loại toa xe khách và hàng theo hướng hiện đại, đủ tiện nghi và đa dạng về chủng loại để sử dụng trong nước và xuất khẩu Chế tạo một số phụ tùng, linh kiện và lắp ráp được các loại đầu máy hiện đại

Giai đoạn 2020 - 2030:

- Về thị phần vận tải: Đáp ứng khoảng 3% - 4% thị phần vận tải về hành

khách và 4% - 5% thị phần vận tải về hàng hóa; đáp ứng khoảng 15% - 20% thị phần vận tải về vận chuyển hành khách đô thị tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh

- Về phát triển mạng lưới và kết cấu hạ tầng:

+ Khai thác có hiệu quả đường sắt hiện có; từng bước triển khai xây dựng mới tuyến đường sắt tốc độ cao, đường đôi khổ 1435mm, điện khí hóa trên trục Bắc - Nam theo khả năng huy động vốn; nghiên cứu, xây dựng đường sắt có nhu

Trang 8

cầu vận tải lớn, các tuyến nối các cảng biển lớn, khu công nghiệp, du lịch, trong

đó ưu tiên các tuyến như: Lào Cai - Hà Nội, Hà Nội - Hải Phòng, Hà Nội - Đồng Đăng, Biên Hòa - Vũng Tàu, Tp.Hồ Chí Minh - Cần Thơ, Hải Phòng - Lạch Huyện, đường sắt xuyên Á… và một số đoạn đường sắt thuộc khu đầu mối Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh theo quy hoạch và khả năng nguồn vốn

+ Đối với phát triển đường sắt đô thị: Tiếp tục xây dựng và đưa vào khai thác các dự án đường sắt đô thị tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh

- Về công nghiệp đường sắt: Đầu tư dây chuyền công nghệ hiện đại cho

các cơ sở công nghiệp đầu máy, chế tạo toa xe, sản xuất phụ tùng thay thế đạt mức tiên tiến trong khu vực Công nghiệp đường sắt giữ vai trò chủ đạo, liên doanh với các cơ sở công nghiệp trong cả nước tham gia lắp ráp, chế tạo đầu máy, toa xe, đại tu, sửa chữa các cấp đáp ứng nhu cầu khai thác

Tầm nhìn đến năm 2050:

- Về thị phần vận tải: Đáp ứng tối thiểu 5% - 8% thị phần vận tải về hành

khách và 5% - 6% thị phần vận tải về hàng hóa; đáp ứng được trên 30% thị phần vận tải về vận chuyển hành khách đô thị tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh

- Về phát triển mạng lưới và kết cấu hạ tầng:

+ Phấn đấu hoàn thành toàn tuyến đường sắt đôi tốc độ cao khổ 1435mm trên trục Bắc - Nam, hiện đại hóa mạng lưới tuyến đường sắt hiện có đáp ứng nhu cầu vận tải khách địa phương và hàng hóa là chủ yếu; xây dựng đường sắt Tây Nguyên, đường sắt xuyên Á, đường sắt kết nối các khu công nghiệp, cảng biển lớn

+ Đối với phát triển đường sắt đô thị: Hoàn chỉnh mạng đường sắt đô thị tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, đầu tư phát triển hệ thống đường sắt đô thị tại các thành phố lớn khác theo quy hoạch được duyệt

- Về công nghiệp đường sắt: Phát triển các cơ sở công nghiệp đầu máy, chế

tạo toa xe, sản xuất phụ tùng thay thế theo hướng hiện đại Lắp ráp, chế tạo đầu máy toa xe đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu sản phẩm

3 Chính sách và giải pháp thực hiện

a) Về thể chế và tổ chức

- Điều chỉnh quy hoạch phát triển giao thông vận tải đường sắt cho phù hợp với chiến lược phát triển giao thông vận tải đường sắt và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

- Nghiên cứu bổ sung, xây dựng, sửa đổi hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, quy trình, quy phạm, định mức đơn giá bảo đảm cho việc kêu gọi nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia đầu tư mạng lưới đường sắt quốc gia; đảm bảo chiến lược phát triển giao thông vận tải đường sắt theo đúng nhu cầu của Nhà nước và xã hội Đảm bảo sự thống nhất quản lý Nhà nước đối với đường sắt đô thị về tổ chức vận hành khai thác và các tiêu chuẩn kỹ thuật xây dựng

Trang 9

- Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về đường sắt; tái cơ cấu và kiện toàn mô hình tổ chức quản lý, khai thác hệ thống kết cấu hạ tầng đường sắt, hoạt động kinh doanh vận tải đường sắt bảo đảm hoạt động GTVT đường sắt thống nhất, thông suốt, trật tự, an toàn và hiệu quả theo quy định của pháp luật

- Tăng cường công tác liên kết, phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương trong việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện quy hoạch, dành quỹ đất cho phát triển đường sắt và bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường sắt

b) Về huy động nguồn vốn

- Chủ động bố trí vốn từ ngân sách; có cơ chế đặc biệt để huy động vốn từ các thành phần kinh tế trong và ngoài nước như vốn ODA, vốn ưu đãi của Chính phủ các nước, vốn vay ưu đãi đa phương từ các nhà tài trợ quốc tế như ADB (nguồn OCR) WB (nguồn IBRD), phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp để đầu tư xây dựng các tuyến đường sắt quốc gia huyết mạch trọng yếu như tuyến đường sắt Bắc - Nam, tuyến đường sắt Đông - Tây, hệ thống đường sắt đô thị

- Xây dựng và ban hành cơ chế khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và kinh doanh vận tải đường sắt: liên doanh, liên kết, xây dựng - khai thác - chuyển giao (BOT), xây dựng và chuyển giao (BT), hợp tác công tư (PPP), phát hành trái phiếu Xây dựng cơ chế đặc thù khai thác quỹ đất từ các dự án nhất là các dự án đường sắt qua đô thị, các công trình nhà ga để huy động nguồn vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đường sắt quốc gia đối với các tuyến và các đoạn tuyến có lợi thế khai thác theo quy hoạch và quản lý của Nhà nước

- Đẩy mạnh chính sách xã hội hóa trong kinh doanh vận tải đường sắt; thu hút mạnh các thành phần kinh tế, kể cả các nhà đầu tư nước ngoài tham gia đầu

tư phương tiện vận tải, các công trình hỗ trợ cho hoạt động vận tải (như: ke, kho, bãi hàng, phương tiện xếp dỡ…)

- Có cơ chế hỗ trợ các cơ sở công nghiệp đường sắt đầu tư nhập khẩu dây chuyền công nghệ mới hiện đại của các nước tiên tiến, theo chương trình cơ khí trọng điểm nhà nước để hình thành các cơ sở công nghiệp lắp ráp đầu máy, sản xuất toa xe và các phụ tùng, phụ kiện đường sắt, từng bước thay thế các phương tiện vận tải lạc hậu, công suất nhỏ, tiêu tốn năng lượng

c) Về phát triển nguồn nhân lực

- Có kế hoạch đầu tư hợp lý cho công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực Xây dựng chính sách khuyến khích và thu hút các nhà chuyên môn giỏi làm việc trong lĩnh vực giao thông vận tải đường sắt nhất là đường sắt tốc độ cao

- Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, đổi mới chương trình và mở rộng các hình thức đào tạo; coi trọng công tác xã hội hoá trong đào tạo đảm bảo

đủ nguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ tốt cho nhu cầu phát triển đường sắt hiện đại

- Có chính sách tiền lương và các chế độ đãi ngộ đối với người lao động

Trang 10

làm việc trong điều kiện đặc thù của ngành đường sắt, đặc biệt ở các vùng xa, vùng sâu, vùng khó khăn

- Thành lập cơ sở nghiên cứu để đào tạo, nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực đường sắt, đầu tư nâng cấp trường nghề đường sắt để có đủ năng lực đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng được nhu cầu phát triển đường sắt

- Ưu tiên dành chỉ tiêu đào tạo ở nước ngoài về chuyên ngành về đường sắt

d) Về khoa học và công nghệ

- Có chính sách khuyến khích việc nghiên cứu, ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ; ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ mới trong đào tạo, khai thác vận tải, xây dựng và bảo trì kết cấu hạ tầng, công nghiệp và dịch vụ Đặc biệt chú trọng áp dụng công nghệ thông tin để lập kế hoạch tổ chức khai thác, thu thập và xử lý thông tin khách hàng; phát triển hệ thống bán và kiểm soát vé

tự động, đề cao công tác quản lý chất lượng, tiêu chuẩn hóa các sản phẩm công nghiệp theo quy chuẩn Việt Nam và các tiêu chuẩn quốc tế khác (ISO, UIC, )

- Xây dựng chính sách khuyến khích việc hợp tác nghiên cứu, chuyển giao công nghệ tiên tiến từ nước ngoài trong lĩnh vực đường sắt nhất là đường sắt tốc

độ cao

đ) Về hợp tác quốc tế

Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế nhất là những nước có ngành đường sắt phát triển, tranh thủ tiếp thu những kinh nghiệm tiên tiến trong quá trình phát triển đường sắt, hợp tác trong việc đào tạo nguồn nhân lực để tiếp nhận, chuyển giao những công nghệ mới tiên tiến, hiện đại trước mắt đáp ứng nhu cầu phát triển trong nước, mở rộng thị trường sang các nước trong khu vực và trên thế giới trong tương lai

e) Về phát triển vận tải

- Khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia kinh doanh vận tải, dịch

vụ hỗ trợ vận tải

- Xây dựng hệ thống giá, phí làm công cụ điều tiết vĩ mô, định hướng cho việc phát triển hợp lý giao thông vận tải đường sắt

- Phát triển vận tải đường sắt và dịch vụ hỗ trợ vận tải, đảm bảo chất lượng, nhanh chóng, an toàn, tiện lợi, tiết kiệm chi phí xã hội Phát triển mạnh vận tải

đa phương thức và dịch vụ logistics trong vận tải hàng hóa

- Tăng cường công tác quản lý, kiểm tra chất lượng phương tiện và chất lượng dịch vụ vận tải, đặc biệt là đối với vận tải hành khách Phát triển các tổ chức, hiệp hội bảo vệ quyền lợi khách hàng

g) Về phát triển công nghiệp đường sắt

- Phát triển công nghiệp đường sắt gắn liền định hướng phát triển chung của nền công nghiệp cả nước Nhà nước có chính sách khuyến khích các ngành

Ngày đăng: 05/03/2019, 08:18

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w