Sự phát triển này được đánh dấu bằng sự hình thành chủ nghĩa yêu nước Việt Namthời phong kiến, thể hiện qua những mốc quan trọng: - Tư tưởng của việc xây dựng nhà nước quân chủ tập quyền
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2NHÓM 1 Câu 1: Các yếu tố dẫn đến sự hình thành nhà nước Chiếm hữu nô lệ phương Đông
a. Điều kiện tự nhiên
- Nằm ở lưu vực những con sông lớn
- Địa hình xung quanh chủ yếu là sa mạc, rừng, núi, biển nên thường xuyên xảy ra chiến tranh để tranh giành nguồn nước
- Khí hậu nhiệt đới giúp phát triển nền kinh tế nông nghiệp
b. Điều kiện kinh tế
- Nền kinh tế nông nghiệp ở phương Đông xuất hiện rất sớm
- Công cụ lao động được cải tiến dẫn đến 3 lần phân công lao động
- Thủ công nghiệp và thương nghiệp ra đời không được xem trọng như nông nghiệp
- Xuất hiện sự tư hữu đầu tiên: Tư hữu về tư liệu sinh hoạt (đất đai, sở hữu công)
c. Điều kiện xã hội
- Chuyển đổi từ chế độ mẫu hệ sang chế độ phụ hệ
- Khi xuất hiện tư hữu dẫn đến sự hình thành các giai cấp: quý tộc chủ nô, nông dân công
xã, nô lệ và mâu thuẫn giữa các giai cấp
- Sự phân hóa giai cấp diễn ra chậm chạp
d. Nhu cầu trị thủy và ngoại xâm
- Trị thủy:
+ Cơ sở: Hình thành ở lưu vực các con sông lớn
+ Yêu cầu: Cần huy động sức của nhiều người => Cần người lãnh đạo
- Chiến tranh:
+ Cơ sở: Chiếm đất đai, của cải và con người để phục vụ sinh hoạt
+ Chiến tranh: Cần người thủ lĩnh mang tính quyền lực xã hội
Nhận xét: Đến 1 thời điểm nhất định khi đã quy tụ được quyền lực, thủ lĩnh sẽ tự xưng là vua, đứng đầu bộ máy nhà nước cai trị vùng lãnh thổ Đây là bước đầu thời kỳ hình thành nhà nước Chiếm hữu nô lệ phương Đông
Câu 2: Phân tích những đặc trưng cơ bản trong bộ luật Manu (Ấn Độ)?
- Về hôn nhân:
+ Người thuộc đẳng cấp Brahman có quyền cưới người phụ nữ thuộc cả ba đẳng cấp dưới
+ Người thuộc đẳng cấp Sudra chỉ được cưới vợ cùng đẳng cấp với mình
Về xã hội:Hầu như không có một biện pháp nào bảo vệ quyền lợi cho đẳng cấp Sudra
Trang 3+ Nếu Sudra xúc phạm đến Brahman thì sẽ bị cắt lưỡi, rót dầu sôi vào miệng vào tai,…
Với những gì ghi trong luật Manu của Ấn Độ giáo, chúng ta thấy có tất cả năm loại quyền lợi mà người thuộc đẳng cấp Sudra bị tước đoạt là:
- Không có quyền lợi về chính trị
- Không có được cơ hội và lợi ích về kinh tế
- Không có được công bằng xã hội
- Không có quyền công bằng về tôn giáo
- Không có cơ hội công bằng về xét xử
2. Thừa nhận sự bất bình đẳng trong quan hệ gia đình giữa vợ và chồng, giữa các con với nhau do ảnh hưởng của chế độ gia trưởng.
- Hôn nhân mang tính chất mua bán Người vợ được chồng mua về và tất cả của hồi môn của người vợ thuộc quyền sở hữu của người chồng
- Người vợ lúc nào cũng phải chịu sự bảo hộ của đàn ông ( Tam tòng )
- Người vợ không có quyền li dị chồng Ngược lại, người chồng có thể bỏ vợ nếu không có con hoặc sinh toàn con gái
3. Ranh giới giữa hình sự và dân sự mờ nhạt, các hình phạt hà khắc và nặng nề về cả mặt tâm lý và thân thể.
- Những chế định đề ra theo nguyên tắc : Khoan dung đối với những người chà đạp lên quyền lợi của kẻ dưới, trừng trị thẳng tay đối với những người xâm phạm đến tính mạng, quyền lợi, nhân phẩm của đẳng cấp trên
- Luật Manu thể hiện tính đẳng cấp khắc nghiệt
+ Với tội trộm cắp: Kẻ trộm đêm thì bị chặt tay, ngồi trên ghế cọc nhọn, tái phạm đến lần
3 thì bị xử tử
+ Trộm cắp tài sản của nhà vua, đền chùa thì bị tử hình
+ Xâm phạm đến quyền lực nhà nước thì bị thiêu chết
4. Bị ảnh hưởng bởi tôn giáo, lễ giáo và tư tưởng thống trị
- Mỗi cá nhân đều thuộc một đẳng cấp nhất định và phải có nghĩa vụ thực hiện bổn phận thuộc về đẳng cấp mình
+ Brahman: Giảng và nghiên cứu kinh Vedas, nhận và phân phát của bố thí, phụ trách việc tế lễ
+ Kshastriya: Bảo vệ nhân dân trong vùng mình cai trị, phân phát của bố thí và nghiên cứu kinh Vedas
+ Vaisya: Chăn nuôi gia súc, canh tác, buôn bán, cho vay lãi, phân phát của bố thí, cúng
lễ và nghiên cứu kinh Vedas
Trang 4+ Sudra thuộc đẳng cấp thấp nhất, nếu nghe thánhkinh Vedas thì tai sẽ điếc, bị đổ chì vào; nếu tụng thánh kinh thì lưỡi bị cắt đứt ra; nếu muốn học thuộc lòng thì thân thể chặt
ra làm hai
- Trong luật Manu những quy định về tôn giáo không những bảo vệ chế độ đẳng cấp mà còn làm rõ bốn giai đoạn khác nhau của con người Mỗi giai đoạn của cuộc đời mỗi đẳng cấp phải thực hiện những lễ nghi , quy định tôn giáo khác nhau , đó cũng là quá trình vươn đến giải thoát
Câu 3: Phân tích nguyên nhân dẫn đến trạng thái phân quyền cát cứ ở Tây Âu thời phong kiến Phân tích biểu hiện của trạng thái phân quyền cát cứ?
a. Nguyên nhân
- Nguyên nhân sâu xa: Đế quốc Frăng được dựng lên do kết quả của những cuộc chiếntranh xâm lược và duy trì bằng bạo lực, chỉ là một liên hiệp tạm thời không có cơ sở kinh
tế, không vững chắc
- Nguyên nhân cơ bản:Tính quyết định là về kinh tế Trước hết là chế độ sở hữu phong kiến
về ruộng đất được hình thành từ hai nguồn:
+ Thứ nhất, là chế độ phân phong và thừa kế ruộng đất
• Vua, quý tộc, lãnh chúa lớn ban ruộng đất cho họ hàng, bầy tôi và cho giáo hội để trảcông hoặc để mua chuộc sự ủng hộ của họ khi xảy ra chiến tranh => Tạo nên các quan hệthần thuộc và tôn chủ
• Tập quán mới được hình thành: chỉ người con trưởng mới được thừa kế
• Một bộ phận đất tự do là tài sản tư hữu của con cháu những địa chủ La Mã xưa kia và củalãnh chúa phong kiến địa phương do thừa kế và cường đoạt mà có Những chúa đất nàyphải thực hiện phân phong để có lực lượng vũ trang và đám thần thuộc để giữ được tínhmạng và tài sản
+ Thứ hai, là số đất ít ỏi của nông dân tự do, nằm rải rác trong lãnh địa
• Nông dân tự do là nạn nhân của các cuộc nội chiến và đối tượng cướp bóc của giặc ngoạixâm, trở thành lệ nông hoặc nông nô để các lãnh chúa bảo hộ cho mình
Chế độ phân phong và thừa kế dẫn đến hậu quả quyền sở hữu tối cao về ruộng đấtkhông còn thuộc về tay vua và dẫn đến trạng thái phân quyền cát cứ
b. Biểu hiện của trạng thái phân quyền cát cứ:
- Kinh tế: Kinh tế của lãnh địa là nền kinh tế tự cung tự cấp Lãnh địa có nhiều trang viên,
các trang viên lại được chia làm hai phần:
+ Một phần do lãnh chúa trực tiếp quản lý bao gồm lâu đài và một số ruộng đất, vườntược
+ Một phần làm đất đai canh tác được chia thành nhiều khoảng nhỏ để cấp chocác giađình nông dân lĩnh canh
- Xã hội: Quan hệ cơ bảnlà quan hệ giữa lãnh chúa với nông dân Nông dân có 3 loại:
Nông dân tự do, lệ nông và nông nô
+ Lệ nông và nông dân tự do: dần trở thành nông nô, phụ thuộc chặt chẽ vào lãnh chúa,
Trang 5+ Lệ nông không phải nông nô thì số ngày lao dịch và khoản tô hiện vật được giảm nhẹhơn, phải nộp thuế thân, thuế kết hôn cho chúa phong kiến Con cái nông nô muốn kếthừa tài sản phải nộp thuế thừa kế
- Chính trị:
+ Những tước vị và chức vụ mà nhà vua giao cho lãnh chúa nay trở thành cha truyền connối, biến khu vực hành chính chúng đứng đầu thành lãnh địa riêng, biến thần thuộc vàthần dân của nhà vua thành của mình
+ Lãnh chúa có tòa án xét xử riêng, có quyền đúc tiền, quyền thu thuế và bộ phận quânđội riêng Giữa các lãnh chúa thường xảy ra chiến tranh nhằm mở rộng lãnh địa, quyềnlực, tài sản
Như vậy trên thực tế, các lãnh chúa trở thành vua trên lãnh địa của mình, có đầy đủ cácquyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, có bộ máy chính quyền, tòa án, quân đội, luật lệriêng Chính trong trạng thái phân quyền cát cứ đó, quan hệ phong kiến được thể hiện rõnét nhất và đây cũng là thời kỳ phát triển của chế độ phong kiến Tây Âu
Câu 4: Tại sao thời kì chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh thì hình thức chính thể phổ biến của các Nhà nước Tư sản là Quân chủ hạn chế ?
- Vì nền kinh tế được điều hành bởi cá nhân và các doanh nghiệp tư nhân định hướng đếnquyền lợi cá nhân nên kinh doanh trong kinh tế tư bản chủ nghĩa về cơ bản là tự địnhhướng, tự điều hành, tự phát theo quy luật của thị trường tự do và quy luật cạnh tranh hay
- Quyền lực bị phân chia không tập trung vào một người kích thích sự tạo mới, phát triển
để thu được lợi nhuận cao nhất, vừa đảm bảo được quyền lợi của giai cấp tư bản cầmquyền, vừa có thể làm phát triển nền kinh tế nhanh nhất khi ngân sách ổn định
Trang 6Câu 5: Anh (chị) hãy phân tích tiền đề vật chất quá trình hình thành Nhà nước Văn Lang – Âu Lạc Chứng minh luận điểm sau: “ Sự thành lập nước Âu Lạc không phải
là kết quả của cuộc chiến tranh thôn tính mà là sự hợp nhất dân cư và đất đai Lạc Việt và Âu Việt”
1) Phân tích tiền đề vật chất quá trình hình thành Nhà nước Văn Lang – Âu Lạc
a) Những biến chuyển về kinh tế xã hội
- Kỹ thuật luyện kim ngày càng phát triển, công cụ bằng đồng thau dần thay thế công cụ bằng đá
→ Thúc đẩy nền kinh tế ngày càng phát triển, đạt đến một trình độ khá cao
- Nhiều loại hình công cụ sản xuất bằng đồng ra đời → Bước tiến về kỹ thuật canh tác của
- Công cụ bằng kim khí → Cư dân Đông Sơn đã mở rộng địa bàn cư trú, phát triển nghề làm vườn, trồng rau củ, cây ăn quả
- Chăn nuôi, đánh cá và thủ công nghiệp phát triển
+ Đẩy mạnh việc chăn nuôi trâu, bò → Phục vụ nông nghiệp
+ Nghề thủ công đạt được bước tiến rất quan trọng từ khi cư dân Phùng Nguyên phát minh ra nghề luyện kim, nghề đúc đồng, tiến đến nghề luyện sắt ở giai đoạn Đông Sơn
- Từ kỹ thuật luyện đồng, cư dân tiến lên một bước cao hơn có ý nghĩa rất quan trọng, đó lànấu luyện hợp kim đồng phù hợp với các loại hình công cụ khác nhau, tạo nên bước ngoặtloại trừ hẳn đồ đá
- Nghề làm gốm cũng phát triển lên một bước, nghệ thuật nặn gốm bằng bàn xoay được cải tiến Gốm ngày càng cứng và ít thấm nước hơn, độ mịn ngày càng tăng
- Các nghề thủ công khác như mộc, đan lát, kéo tơ, dệt vải, dệt lụa, đóng thuyền vẫn tiếp tục phát triển Nghề sơn xuất hiện và đạt trình độ kỹ thuật khá cao vào thời Đông Sơn (sơn có nhiều màu và trang trí đẹp)
- Sự phát triển của nền kinh tế là cơ sở cho sự mở rộng trao đổi hàng hoá với nước ngoài Một số đồ trang sức, trâu, bò cũng đã trở thành hàng hoá trong việc buôn bán giữa Văn Lang - Âu Lạc với các nước khác
Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, sự phân công lao động xã hội giữa nông nghiệp
và thủ công nghiệp, sự trao đổi sản phẩm và các nguyên liệu giữa các địa phương ngày càng mở rộng → Tạo điều kiện thuận lợi cho việc tăng thêm nguồn của cải xã hội → Chế
độ tư hữu tài sản ra đời dẫn đến sự phân hoá kẻ giàu người nghèo
b) Sự phân hóa xã hội
- Giai đoạn đầu thời Hùng Vương, quan hệ cộng đồng nguyên thuỷ bước vào quá trình tan
rã, xã hội đã có hiện tượng phân hoá thành các tầng lớp giàu, nghèo khác nhau Sự phân
Trang 7hoá đó diễn ra từ từ, ngày càng rõ nét hơn qua một quá trình lâu dài từ Phùng Nguyên đếnĐông Sơn Tuy nhiên, sự phân hoá xã hội chưa sâu sắc.
- Biểu hiện của sự phân hoá xã hội là sự phân hoá tài sản, dẫn tới sự hình thành các tầng lớp xã hội khác nhau:
+ Quý tộc: gồm có các tộc trưởng, tù trưởng bộ lạc, thủ lĩnh liên minh bộ lạc và những người giàu có khác
+ Tầng lớp bình dân tự do: là tầng lớp đông đảo nhất trong xã hội, giữ vai trò là lực lượng sản xuất chủ yếu
+ Nô tỳ: tầng lớp thấp nhất, phải phục vụ quý tộc
→ Hình thành tầng lớp trên của xã hội, nắm giữ các cương vị quản lý công việc của chiềng, chạ (làng xã về sau) → Tiền đề cho sự hình thành nhà nước thời Hùng Vương Bên cạnh đó là sự ra đời của công xã nông thôn do nhu cầu trị thủy và chống sự xâm hại của các thế lực bên ngoài đã thúc đẩy nhanh và mạnh quá trình hình thành nhà nước, đưa đến sự ra đời của nhà nước Văn Lang thời Hùng Vương vào giai đoạn Đông Sơn (thế kỷ VII-VI trước CN)
2) Chứng minh luận điểm
Để chứng minh cho luận điểm trên là đúng, chúng ta cùng xuôi theo dòng lịch sử trở vềthời kì hình thành của đất nước Âu Lạc Có rất nhiều giả thuyết khác nhau xung quanh sựhình thành của đất nước Âu Lạc, song có lẽ giả thuyết dưới đây chính là giả thuyết đượcnhiều người chấp nhận và biết đến rộng rãi nhất:
- Lạc Việt và Tây Âu là hai nhóm phía Nam của Bách Việt, sống gần gũi nhau và có vùngxen kẽ nhau, trên lưu vực sông Hồng và Tây Giang Vừa là đồng chủng, và là láng giềng,
từ lâu người Lạc Việt và người Tây Âu đã có nhiều quan hệ mật thiết về kinh tế, văn hóa
- Thục Phán là thủ lĩnh của một liên minh bộ lạc người Tây Âu ở phía Bắc nước Văn Lang.Giữa người Lạc Việt và Tây Âu, cũng như giữa Hùng và Thục, đã có nhiều quan hệ gắn
bó lâu đời
- Nhưng mặt khác, vào cuối đời Hùng Vương, giữa Hùng và Thục xảy ra một cuộc xungđột kéo dài Ðó là những cuộc xung đột không tránh khỏi trong quá trình tập hợp các bộlạc và liên minh bộ lạc gần gũi nhau để lập thành Nhà nước và mở rộng phạm vi kiểmsoát của Nhà nước đó Cuộc xung đột đang tiếp diễn thì người Lạc Việt và Tây Âu, cùngtoàn bộ các nhóm người Việt trong khối Bách Việt đứng trước một mối đe dọa cực kỳnguy hiểm Ðấy là nạn xâm lược đại quy mô của đế chế Tần Quân Tần càng tiến sâu vềphía Nam, càng gặp phải sức chống trả quyết liệt của người Tây Âu và người Lạc Việt
Họ cùng nhau đặt người kiệt tuấn lên làm tướng để ban đêm ra đánh nhau với quân Tần.Người kiệt tuấn đó không phải ai khác mà chính là Thục Phán Lực lượng kháng chiếncủa người Việt do biết đoàn kết thành một mối, có tổ chức và chỉ đạo thống nhất đã pháttriển nhanh chóng, trong khi quân Tần càng ngày càng bị dồn vào tình thế nguy khốn vàtuyệt vọng Trên đà chiến thắng, người Việt (Âu Việt và Lạc Việt) tổ chức các trận đánhlớn liên tiếp tiêu diệt sinh lực địch, buộc nhà Tần phải bãi binh
Trang 8- Trong cuộc chiến đấu này, vai trò và uy tín của Thục Phán, người thủ lĩnh kiệt xuất củaliên minh bộ lạc Tây Âu ngày càng được nâng cao, không chỉ ở trong bộ lạc Tây Âu màcòn có ảnh hưởng sâu rộng trong cả bộ lạc Lạc Việt Sau khi kháng chiến kết thúc thắnglợi, trong điều kiện cộng đồng cư dân Lạc Việt – Tây Âu đã hình thành và uy tín của ThụcPhán ngày càng cao, Thục Phán đã quyết định thay thế Hùng Vương, tự xưng là AnDương Vương, lập ra nước Âu Lạc.
Điều trên đã chứng minh sự thành lập nước Âu Lạc không phải là kết quả của một cuộcchiến tranh thôn tính, tiêu diệt, mà là một sự hợp nhất cư dân và đất đai của Lạc Việt vàTây Âu, của Hùng và Thục Vì vậy, nước Âu Lạc là một bước phát triển mới, kế tục vàcao hơn nước Văn Lang
Câu 6: Anh (chị) hãy phân tích các tư tưởng truyền thống trong nhà nước phong kiến Việt Nam?
Từ ngày xưa nhân dân Việt Nam đã có truyền thống yêu nước, tinh thần chiến đấu bảo
vệ Tổ quốc cũng như những giá trị tinh thần của Tổ quốc hòa quyện với hai luồng tưtưởng Phật giáo và Nho giáo
1) Tư tưởng Phật giáo:
Sau khi giành độc lập, các triều đình phong kiến Việt Nam trong giai đoạn đầu đều tôntrọng Phật giáo, nhất là thời Lý-Trần Ở thời nhà Lý, Phật giáo gần như là quốc giáo Dấu
ấn của Phật giáo trong văn hóa Việt vô cùng sâu sắc, bởi nó đáp ứng được cả hai nhu cầuvừa nhân văn vừa siêu việt
Tư tưởng Phật giáo Việt Nam tập trung vào hai vấn đề: Bản thể luận và con đường trở
về bản thể
- Bản thể luận: Bản thể là bất sinh, bất diệt, không được không mất Phái Vô Ngôn Thông
còn dùng những khái niệm để chỉ bản thể: “Chân như”, “phật tính”, “pháp nhân”, “hưkhông”
+ Các quan niệm này được thể hiện và sáng tác bởi các thiền sư nổi tiếng thời này “Conngười là kẻ ăn mày và không biết mình là một hạt minh tinh châu mai giấu trong lai áo vàhạt minh châu đó chính là bản thể”
+ Thời Lý Trần có nhiều minh quân, quan chức vừa đạo đức vừa anh hùng
→ Tính giả tạm và mong manh của mọi khái niệm ở thời gian
- Con đường trở về bản thể: là con đường tụ tập, diệt bỏ vọng tưởng tham – sân - si để tìm lại giác tính Trở về bản thể bằng con đường tu tập giới – định – tuệ.
Tuy nhiên, trong thực tế tồn tại, Phật giáo Việt Nam không bao giờ tồn tại như 1 xuhướng xuất đối, mà ngược lại còn mang tính xã hội cao Các thiền sư nổi tiếng thời Lý -
Trang 9Trần thường tham gia chính trị và đóng vai trò hoặc giữ trọng trách khá cao trong nhữngcông việc quan trọng của đất nước (nuôi dạy vua, đối ngoại, tư vấn cho triều đình…nhưvạn hạnh, đa bảo…).
Phật giáo đóng vai trò quan trọng hình thành nên giá trị đạo đức, truyền thống giađình, dòng họ, xuất phát từ giá trị đạo đức
2) Tư tưởng Nho Giáo:
Việt Nam tiếp nhận Nho giáo chính là sự phát triển của nhận thức bảo vệ nhà nướcphong kiến Việt Nam gắn bó chặt chẽ với tư tưởng nhân trị mang màu sắc bản địa ViệtNam Sự phát triển này được đánh dấu bằng sự hình thành chủ nghĩa yêu nước Việt Namthời phong kiến, thể hiện qua những mốc quan trọng:
- Tư tưởng của việc xây dựng nhà nước quân chủ tập quyền, quản lý xã hội và hoạch địnhchính sách của triều đình phong kiến
+ Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn năm 1010 đánh dấu một bước phát triển quan trọng củadân tộc ta về những vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa trong mối quan hệ của nó với tiền
đề của đời sống thực tiễn
+ Chiếu nhường ngôi cho Trần Cảnh của Lý Chiêu Hoàng
- Tư tưởng việc phát động chiến tranh giữ nước:
+ Khi đánh tống có bài “Lộ Bố” của Lý Thường Kiệt
+ Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn
+ Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi
- Về văn hóa – giáo dục:
+ Thời Lý: Nho học đã thể hiện rõ vai trò của nền giáo dục có cơ chế, bài bản và đầu sứcsống → Tạo ra một bước tiến vượt bậc về nội dung giáo dục, mặt tổ chức, thực thi việcgiáo dục và thi cử
+ Thời Trần: Nhờ sự phát triển của nền giáo dục Nho học mà tầng lớp Nho sĩ ngày càngđông đảo Họ tích cực tham gia chính sự, hoạt động văn hóa nghệ thuật, học thuật và tưtưởng đương thời → Thúc đẩy các hoạt động văn hóa của nước Đại Việt Tiến lên phíatrước
Nho giáo có tác động mạnh mẽ đến sự hình thành đất được, thể hiện lòng yêu nước
và tự tôn của dân tộc Đồng thời Nho giáo đi sâu vào việc giáo dục nền tảng cho conngười lúc bấy giờ
Câu 7: Anh (chị) hãy phân tích, nhận xét về hình phạt ngũ hình, nguyên tắc trách nhiệm hình sự liên đới trong Bộ quốc triều hình luật?
I. Hình phạt ngũ hình
1) Khái niệm
- Ngũ hình gồm 5 hình phạt cơ bản có nguồn gốc từ nhà Đường bên Trung Hoa, được cácnhà làm luật từ thời Lý – Trần và nhà lập pháp thời Lê Sơ kế thừa và ghi nhận trong Bộluật Hồng Đức Năm hình phạt đó gồm: xuy hình, trượng hình, đồ hình, lưu hình, tử hình
Trang 102) Các hình phạt Ngũ hình
- Hình phạt Ngũ hình được các triều đại phong kiến Việt Nam áp dụng gồm:
+ Xuy: Hình phạt này được coi là một hình phạt nhẹ với các cấp độ cũng là 5 bậc từ 10roi đến 50 roi
+ Trượng: Có 5 cấp độ từ 60 đến 100 roi Ở bộ luật này, hình phạt trượng chỉ áp dụng đốivới nam giới Hình phạt này có thể là hình phạt độc lập ( Điều 547, 640 QTHL) hoặc làhình phạt bổ sung cùng tội lưu, đồ và biếm( Điều 351, 360 QTHL)
+ Đồ: Có 3 bậc và được phân biệt giữa nam giới và nữ giới
• Bậc thứ nhất: Dịch đinh và dịch phụ
Dịch đinh áp dụng cho nam giới kèm thoe 80 trượng
Dịch phụ áp dụng cho nữ giới kèm theo 50 xuy
• Bậc thứ hai: Tượng phương bình và xuy thất tùy
Tượng phương bình áp dụng cho nam giới kèm 80 trượng, thích vào cổ hai chữ
Xuy thất tùy áp dụng cho nữ giới kèm 50 xuy, thích vào cổ hai chữ
• Bậc thứ ba: Chủng điền binh và chung thất tỳ
Chủng điền binh áp dụng cho nam giới kèm 80 trượng, thích vào cổ bốn chữ
Chung thất tỳ áp dụng cho nữ giới kèm 50 xuy, thích vào cổ bốn chữ
+ Lưu: Gồm có 3 bậc và áp dụng cùng với xuy, trượng, thích chữ hoặc đeo xiềng tùy vàotừng bậc cụ thể: Cân châu, ngoại châu, viễn châu
+ Tử: Là hình phạt cao nhất, có các hình thức tử hình là giảo và trảm, chém bêu đầu vàlăng trì
- QTHL mang tính hà khắc rất cao Hình phạt tử hình trong QTHL có 3 biện pháp đượcphân ra từ nặng tới nhẹ Nhẹ nhất là treo cổ hoặc chém đầu và nặng nhất là lăng trì cáchlàm cho nạn nhân chết trong đau đớn tột cùng về thể xác như róc từng mảng thịt trênngười nạn nhân, bỏ nạn nhân vào vạc dầu đang đun sôi…
II. Nguyên tắc trách nhiệm hình sự liên đới
1) Khái niệm
Trang 11- Trách nhiệm hình sự liên đới đề cập tới trách nhiệm của những người có liên quan đối với
kẻ phạm tội dựa trên các quan hệ xã hội Những người có liên quan này giữ vai trò chiphối quyền lợi đối với người có hành vi vi phạm luật, nhưng không trực tiếp tác động tớihành vi của người phạm tội cũng như tham gia vào quá trình phạm tội
2) Nguyên tắc trách nhiệm hình sự liên đới
- Nguyên tắc này được quy định trên cơ sở quan hệ hôn nhân, huyết thống, đồng cư Điều
đó được thể hiện ở hai khía cạnh:
+ Một là khi phạm vào một số loại tội, người thân thích trong gia đình phải chịu tội thaycho kẻ phạm tội Nếu tất cả người trong nhà đều phạm tội thì chỉ bắt tội người tôn trưởng
→ Đề cao trách nhiệm của người gia trưởng và đạo hiếu
+ Hai là đối với một số trọng tội, không những phạm nhân mà cả vợ con cùng chịu tráchnhiệm hình sự
- Về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, theo Điều 16 người từ đủ 8 tuổi đến dưới 90 tuổiphải chịu trách nhiệm hình sự và hành vi vi phạm của mình tuy có phân biệt ở mức độ vàphạm vi khác nhau
Trang 12NHÓM 2 Câu 1: Đánh giá chung về sự hình thành và phát triển của nhà nước Phương Đông
cổ đại? (Cơ sở hình thành, hình thức nhà nước, chế độ tư hữu…)
1. Cơ sở hình thành
− Điều kiện tự nhiên:
Các nhà nước Phương Đông cổ đại nằm ở lưu vực những con sông lớn (sông Nile ở Ai Cập, sông Tigơrơ và Ơphrát của Lưỡng Hà, sông Ấn và sông Hằng của Ấn Độ, sông Hoàng Hà và Trường Giang của Trung Quốc), địa hình xung quanh chủ yếu là sa mạc, rừng núi, biển,…vì thế thường xuyên có chiến tranh để tranh giành nguồn nước; khí hậu nhiệt đới giúp cho việc phát triển nền kinh tế nông nghiệp
− Điều kiện kinh tế:
Nền kinh tế nhà nước ở Phương Đông xuất hiện sớm Công cụ lao động được cải tiến =>
3 lần phân công lao động: Thứ nhất là chăn nuôi tách ra khỏi trồng trọt làm xuất hiện chế
độ tư hữu; Thứ hai là thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp nên bắt đầu xuất hiện phân chia thành các giai cấp; Thứ ba là thương nghiệp phát triển trở thành một ngành kinh tế độc lập làm cho xã hội có sự mâu thuẫn giai cấp.Thủ công nghiệp và thương nhiệp ra đời không được xem trọng như nông nghiệp Sự tư hữu đàu tiên: tư hữu về tư liệu sinh hoạt (đất đai thuộc sở hữu công)
− Điều kiện xã hội:
+ Mẫu hệ => Phụ hệ
+ Khi nhà nước mới ra đời thì chưa phân thành các giai cấp mà mới chỉ phân thành các tầnglớp mà thôi Có ba tầng lớp: tầng lớp quý tộc – nông dân công xã – tầng lớp nô tì, nô lệ Trong giai cấp chủ nô (quý tộc): Chủ nô nông nghiệp luôn chiếm ưu thế Khi xuất hiện tư hữu => Người giàu mâu thuẫn với người nghèo Sự phân hóa giai cấp diễn ra châm chạp.Về sau chủ nô công thương nghiệp xuất hiện nhưng rất ít, không có được sức mạnh bằng chủ nô nông nghiệp Vì vậy không có sự mâu thuẫn gay gắt trong giai cấp chủ nô
− Nhu cầu trị thủy và xâm lược:
Trang 13+ Về trị thủy: vì hình thành ở lưu vực những con sông lớn với yêu cầu cần huy động sức của nhiều người vậy nên cần người lãnh đạo.
+ Về xâm lược: Để chiếm đất đai, của cải và con người để phục vụ sinh hoạt vậy nên cần thủ lĩnh mang tính quyền lực xã hội
2. Hình thức nhà nước
Hình thức chính thể: quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền
− Quản lí nhà nước ở trung ương:
+ Vua: là người đứng đầu nhà nước, có quyền lực tối cao Mọi mệnh lệnh của vua có giá trị thi hành như pháp luật Quan đầu triều: Là một vị quan hay một hội đồng thân tín nhất của nhà vua, nắm giữ các công việc quan trọng trong triều
+ Hệ thống các cơ quan giúp việc: Gồm một số quan lại cao cấp Tùy từng nơi, từng thời kỳ
mà có sự phân công nhiệm vụ, quyền hạn rõ ràng hay không
− Quản lí nhà nước ở địa phương: Quản lý nhà nước ở địa phương thường dựa vào công
xã nông thôn Người đứng đầu là người của chính địa phương đó (vương công, tù
trưởng…) Quyền lực của họ như một vị vua nhỏ ở địa phương, có quyền thu thuế, đặt pháp luật, xây dựng quân đội, quyết định mọi vần đề ở địa phương
Do đó, khi chính quyền trung ương suy yếu, họ là những thế lực phản loạn, nổi day chốnglại chính quyền trung ương, thành lập nhà nước riêng, tạo nên trạng thái cát cứ phân quyền
− Cơ quan xét xử:
+ Vua luôn là người có quyền xét xử tối cao Vua có thể xét xử bất kỳ vụ án nào mà vua muốn, quyết định của nhà vua là quyết định sau cùng
+ Ở trung ương, có cơ quan chuyên trách việc xét xử
+ Ở địa phương, việc xét xử được giao cho người quản lý địa phương đó hoặc giao cho hội đồng công xã hoặc các vị bô lão có uy tín
− Quân đội: Do đặc điểm thường xuyên xẩy ra chiến tranh nên các quốc gia này rất chú
trong việc xây dựng và phát triển quân đội
− Tôn giáo: Do trình độ khoa học kỹ thuật hạn chế nên tôn giáo là công cụ hổ trợ đắc lực
cho việc quản lý của nhà nước
Trang 14Câu 2: Có người nói: “Hình phạt trong pháp luật chiếm hữu nô lệ mang nặng tính trừng phạt, ít chứa đựng tính chất giáo dục và cảm hóa” Bằng những kiến thức anh chị đã học, anh chị hãy phân tích và chứng minh quan điểm của mình về câu nói trên.
- Đặc điểm: hình sự hóa hầu hết các vi phạm, kể cả các vi phạm trong quan hệ dân sự Các
qui phạm pháp luật đặc biệt là ở Phương Đông thời kỳ cổ đại thường mang tính hàm hỗn, hay nói theo ngôn ngữ hiện đại là nhiều bộ luật đã hình sự hoá hầu hết các quan hệ xã hội
- Nguyên nhân:
+ Do thời kỳ chiếm hữu nô lệ vừa thoát thai khỏi chế độ công xã nguyên thủy, là thời kỳ
ra đời những bộ luật cổ xưa nhất trong lịch sử loài người nên kỹ thuật lập pháp còn rất nghèo nàn
+ Pháp luật chủ nô phát triển trên cơ sở quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ và thể hiện bản chất giai cấp sâu sắc
+ Pháp luật chủ nô là ý chí của giai cấp chủ nó được nâng lên thành luật, nhằm xác lập, bảo vệ quyền thống trị của giai cấp chủ nô, hầu như ít chứa tính xã hội
Do đó, pháp luật chủ nô công khai thừa nhận sự bất bình đẳng trong quan hệ giai cấp, đẳng cấp; bảo vệ quyền lợi và địa vị của giai cấp chủ nô và những người thuộc đẳng cấp trên trong xã hội nhằm củng cố sự thống trị tuyệt đối của giai cấp chủ nô Mặt khác, pháp luật thời kỳ này vẫn bảo tồn một số tàn tích của chế độ thị tộc, kế thừa các tập quán thời
kỳ công xã nguyên thủy
- Hình phạt trong thời kỳ chủ nô mang tính rất dã man, nhằm duy trì sự bất bình đẳng giữa các giai cấp trong xã hội.
+ Hình phạt được áp dụng phổ biến nhất là tử hình:Việc tử hình cũng được thực hiện dưới những hình thức khác nhau như: ném đá cho đến chết, buộc đá ném xuống sông, …
+ Pháp luật thời kỳ này còn cho phép tra tấn nhục hình phạm nhân, cho phép trả thù ngang bằng (Bộ luật Hammurabi) Tuy nhiên, các quy định trên đây thể hiện nội dung của nguyên tắc này là áp dụng đối với dân tự do hoặc những người cùng đẳng cấp, còn nô lệ
và những giai cấp trên áp dụng mức hình phạt khác
+ Pháp luật thời kỳ chiếm hữu nô lệ ghi nhận và bảo vệ chặt chẽ quyền tư hữu của chủ nô đối với tư liệu sản xuất Cụ thể pháp luật nhiều nước thời kỳ này cho phép tra tấn, giam
Trang 15cầm con nợ để yêu cầu trả nợ Điều 117 bộ luật Hammurabi: Nếu con con nợ không trả được nợ thì chủ nợ có các biện pháp xiết nợ bằng cách bắt nô lệ, vợ hoặc con của con nợ làm con tin.
+ Pháp luật thời kỳ chiếm hữu quy định và bảo vệ chế độ chiếm hữu nô lệ, thừa nhận chủ
nô là công dân có đầy đủ mọi quyền hành và lợi ích còn nô lệ thì không được coi là con người Pháp luật thời kỳ này công khai tuyên bố tình trạng vô quyền của nô lệ và thừa nhận nhiều hình thức bóc lột, hình thức tra tấn tàn nhẫn của chủ nô đối với nô lệ Nô lệ không có một thứ quyền nào cả ngoài quyền "phải làm mọi việc mà chủ nô yêu cần và không được phản đối"
Từ những dẫn chứng trên, ta có thể thấy được hình phạt của pháp luật thời kỳ chiếm hữu
nô lệ mang nặng tính trừng phạt, nhất là đối với những người lao động và nô lệ, họ đã bị buộc tội và xét xử một cách khắc nghiệt, dã man và vô cùng bất công, trong khi những người có địa vị xã hội lại được tha bổng, khoan dung
- Tuy vậy, cũng không thể nhận định ở pháp luật thời kỳ chiếm hữu nô lệ chỉ mang nặng tính trừng phạt tàn khốc mà không có tính giáo dục, cảm hóa
+ Về sau do sự phát triển của quốc gia mà hệ thống pháp luật được thay đổi Quý tộc cho rằng, nếu như cứ cai trị bằng bạo lực thì dân sẽ không nghe theo, có khi còn phản lại chính quyền Họ cho rằng hai chữ “đức” và “lễ” là công cụ thống trị nhân dân về mặc tinhthần của nhà Chu nhằm xóa nhòa và làm dịu mâu thuẫn giai cấp trong xã hội
+ Sang thời Xuân Thu, Nho giáo chủ trương con người phải có đủ 4 đức tính là: nhân, nghĩa, lễ, trí; đề cao chữ “nhân” và “lễ” Mọi người phải lo tu dưỡng đạo đức, rèn luyện
để có lòng nhân từ Những người làm vua, làm quan mà biết làm điều nhân nghĩa thì sẽ thu phục lòng người và dân trông vào để học theo
Câu 3: Hãy phân tích đặc điểm, vai trò của thành thị đối với sự phát triển kinh tế và
sự tồn tại của nhà nước phong kiến Tây Âu Hãy giải thích tại sao sự xuất hiện của thành thị là một trong những yếu tố làm suy yếu nhà nước phong kiến Tây Âu?
1. Phân tích đặc điểm, vai trò của thành thị đối với sự phát triển kinh tế và sự tồn tại của nhà nước phong kiến Tây Âu
Trong quá trình phát triển của chế độ phong kiến, sự phát triển của lực lượng sản xuất từ thế kỷ IX- XI tuy chậm chạp, nhưng đã có tác dụng làm cho thủ công nghiệp tách khỏi
Trang 16công nghiệp Do hàng thủ công sản xuất ra ngày càng nhiều, một số thợ thủ công đã đem hàng hóa của mình đến những nơi có đông người qua lại để bán và lập xưởng sản xuất
Từ đó họ lập ra các thị trấn Sau trở thành các thành phố lớn gọi là thành thị
− Đặc điểm:
+ Về kinh tế: Thành thị trở thành trung tâm công nghiệp và thương nghiệp
• Từ khi xuất hiện thành thị trung đại thì các lãnh chúa phong kiến chủ yếu sản xuất các nông phẩm để trao đói lấy hàng hóa thủ công của thành thị, dẫn đến sự phân công lao động giữa nông nghiệp ở nông thôn với thủ công nghiệp ở thành thị Do vậy, ở hai ngành này có điều kiện cải tiến để phát triển
• Thợ thủ công sản xuất chủ yếu không phải để tự túc như trước, mà để trao đổi với thị trường Trong xã hội phong kiến hình thành một lực lượng xã hội mới là thị dân
• Cùng với sự ra đời của thành thị, phường hội, thương hội cũng xuất hiện, phá nền kinh tế
tự nhiên, tạo điều kiện cho nền kinh tế giản đơn, thống nhất thị trường
+ Về xã hội : Mâu thuẫn giữa thị dân với chúa phong kiến ngày càng quyết liệt.Người lao động trong xã hội phong kiến trước kia chỉ có nông nô, là người bị phụ thuộc vào giai cấpphong kiến, thì nay bắt đầu có người lao động tự do đó là thị dân Đây là điều kiện để nông nô học hỏi, noi theo gương của thị dân đấu tranh giành quyền tự do, giải phóng hoàntoàn khỏi chế độ nông nô, bằng cách bỏ trốn khỏi lãnh địa hay chuộc thân
+ Văn hóa -giáo dục: Tính chất tự do, dân chủ trong các thành thị là cơ sở cho sự phát triển
tư tưởng và tri thức khoa học, hình thành hàng loạt các trưởng đại học (Đại học Bô-lô-nha
ở I-ta-li-a, Đại học Xoocbon ở Pháp, Đại học Oxphớt, Cam-bơ-rít ở Anh,…) Thị dân
Trang 17quan tâm đến các hoạt động văn hóa, tinh thần như sáng tác văn thơ, điêu khắc, kiến trúc… theo tinh thần mới, làm cho hoạt động sinh hoạt văn hóa ở thành thị sôi nổi hẳn lên.
+ Thành thị trung đại là trung tâm công nghiệp, thương nghiệp
+ Từ khi xuất hiện thành thị trung đại thì các lãnh chúa phong kiến chủ yếu sản xuất các nông phẩm để trao đói lấy hàng hóa thủ công của thành thị, dẫn đến sự phân công lào động giữa nông nghiệp ở nông thôn với thủ công nghiệp ở thành thị Do vậy, ở hai ngành này có điều kỉện cái tiến để phát triển
+ Cùng với sự ra đời của thành thị, các phường hội, thương hội cũng xuất hiện, phá và nền kinh tế tự nhiên, tạo điều kỉện cho nền kinh tế hàng hóa gian đơn phát triển, thống nhất thịtrưởng quốc gia dân tộc
− Xã hội: Người lào động trong xã hội phong kiến trước kỉa chỉ có nông nô, là người bị phụ
thuộc vào giai cấp phong kiến, thì nay bắt đầu có người lào động tự do đó là thị dân Đây
Trang 18là điều kỉện để nông nô học hỏi, noi theo gương của thị dân đấu tranh giành quyền tự do, giải phóng hoàn toàn khỏi chế độ nông nô, bằng cách bỏ trốn khỏi lãnh địa hay chuộc thân.
− Văn hóa -giáo dục: Tính chất tự do, dân chủ trong các thành thị là cơ sở cho sự phát triển
tư tưởng và tri thức khoa học, hình thành hàng loạt các trưởng đại học (Đại học Bô-lô-nha
ở I-ta-li-a, Đại học Xoócibon ở Pháp, Đại học O-x phớt, Cam-bơ-rít ở Anh,…) Thị dân quan tâm đến các hoạt động văn hóa, tinh thần như sáng tác văn thơ, điêu khắc, kiến trúc… theo tinh thần mới, làm cho hoạt động sinh hoạt văn hóa ở thành thị sối nổi hẳn lên
Vì vậy, nói về vai trò của thành thị trung đại có nhận định rằng: “Thành thị trung đại như những bống hoa rực rỡ, xuất hiện trên những vũng bùn đen tối là xã hội phong kiến lúc bấy giờ” Thành thị trung đại đánh dấu bước ngoặt lớn trong lịch sử trung đại thế giới, màđưởng cho sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa Sự ra đời của thành thị trung đại ở Tây
Âu là tiền đề cho sự phồn VInh của các thành phô” hiện nay
Câu 4: Các yếu tố dẫn dến sự hình thành các nhà nước tư sản trên thế giới?
− Kinh tế:
+ Vào khoảng thế kỷ XV, XVI, một số nước Phong kiến Tây Âu do sự phát triển của lực lượng sản xuất với nền sản xuất hàng hoá đã làm cho chủ nghĩa phong kiến bước vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc Trong các nước này đã xuất hiện hàng loạt công trường thủ công và nhiều thành thị - là các trung tâm thương mại lớn
Trang 19+ Với sự phát triển của lực lượng sản xuất, phương thức sản xuất phong kiến tỏ rõ sự lỗi thời và bất lực trong việc quản lý nền kinh tế, trở thành yếu tố kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất
+ Giai cấp tư sản chiếm vị trí chủ đạo trong kinh tế
Nhiệm vụ trên đặt ra trước giai cấp tư sản một sứ mạng cao cả là phải tiến hành cách mạng xã hội, thay thế hình thái kinh tế xã hội cũ bằng hình thái kinh tế xã hội mới, thiết lập hệ thống quan hệ sản xuất mới, tạo đà cho lực lượng sản xuất phát triển
− Chính trị: Giai cấp tư sản nhanh chóng dành quyền lực trong lĩnh vực chính trị nhằm thủ
tiêu quan hệ sản xuất phong kiến lỗi thời, thiết lập phương thức sản xuất mới, tiến bộ, vượt qua sự khủng hoảng, tạo đà cho lực lượng sản xuất phát triển
Qua cuộc cách mạng tư sản, quyền lực chính trị chuyển từ tay giai cấp thống trị cũ sang giai cấp thống trị mới, tức là chuyển từ tay giai cấp địa chủ, phong kiến sang tay giai cấp
tư sản Nhà nước tư sản ra đời là kết quả của cách mạng Tư sản, với sự ra đời của nhà nước tư sản các đặc quyền, đặc lợi của giai cấp quý tộc phong kiến đã bị loại bỏ, giai cấp
tư sản tuyên bố các quyền bình đẳng, tự do, bác ái, nhân quyền Nhà nước tư sản mới tiến bộ hơn rất nhiều so với nhà nước phong kiến trước đó mà nó đã thủ tiêu Thắng lợi của cuộc cách mạng tư sản và sự ra đời của nhà nước tư sản đã đánh dấu một bước phát triển mạnh mẽ và tiến bộ, mở ra một giai đoạn phát triển mới trong lịch sử nhân loại Mặc
dù vậy, nhà nước tư sản vẫn không vượt khỏi bản chất nhà nước bóc lột, nhà nước tư sản xét về bản chất nó vần là nhà nước bóc lột
Trang 20Câu 5: Phân tích phương thức tuyển chọn quan lại bằng khoa cử, phương thức tuyển dụng Lại trong nhà nước phong kiến Việt Nam? Nhận xét vị trí của quan lại trong bộ máy nhà nước phong kiến Việt Nam.
1. Phân tích phương thức tuyển chọn quan lại bằng khoa cử, phương thức tuyển dụng Lại trong nhà nước phong kiến Việt Nam
− Phương thức tuyển dụng quan lại bằng khoa cử:
+ Là phương thức lựa chọn quan chức thông qua việc tổ chức các kì thi, bắt đầu được thực hiện vào năm 1075 dưới triều nhà Lý, nhưng chưa được coi trọng Từ thời nhà Trần, khoa
cử dần trở thành thông lệ (7 năm một lần), tới thời Hậu Lê và thời Nguyễn trở thành chủ yếu Khoa cử áp dụng cả trong tuyển quan văn, quan võ và tăng quan Bao gồm: Thưởng khoa, Ân khoa, Chế khoa và khoa thi Bác cử (chỉ dành riêng cho tuyển quan võ), Thưởng khoa là chủ yếu
+ Nội dung: thay đổi theo yêu cầu tuyển dụng của từng giai đoạn, từng triều đại và theo tínhchất của khoa thi Chế khoa và Ân khoa thường có nội dung thi đơn giản, Thưởng khoa dưới thời Trần thi Nho giáo và Tam giáo; từ thời Hậu Lê thi Nho giáo
+ Điều kiện tham gia:
• Phải là dân Đại Việt
• Có hạnh kiểm tốt thông qua giấy xác nhận tư cách đạo đức của xã
+ Thủ tục: Thưởng khoa từ thời kì nhà Trần được tổ chức qua 3 kì thi là Thi Hương, thi Hội,thi Đình Quan chức lựa chọn qua khoa cử được coi trọng và xếp vào bậc quan chức có xuất thân, thưởng được bổ nhiệm giữ các chức vụ quan trọng
− Phương thức tuyển lại:
+ Được coi trọng qua các kì thi Lại viên được tuyển qua các ki thi cũng được gọi là lại viên
có xuất thân và được trao trọng trách hơn so với lại viên không qua thi cử
+ Quy chế tuyển lại:
• Không được tổ chức theo định kì
• Tùy từng triều đại, tùy từng thời kì mà nội dung thi tuyển thay đổi cho phù hợp
• Có thể tổ chức tuyển lại viên chung tất cả các cơ quan, hoặc cũng có thể giao cho các cơ quan tự tổ chức
+ Có thể xét tuyển từ kết quả của các kì thi tuyển quan
Trang 21− Vị trí quan lại: chịu sự quy định của hình thức chính thể nhà nước
+ Quan giữ vai trò tư vấn, giúp việc cho nhà vua trong việc xây dựng các chính sách và ban hành pháp luật đồng thời triển khai thực hiện quyền lực nhà nước
+ Lại là người thừa hành mệnh lệnh của quan, đóng vai trò trung gian giữa quan và dân Nhiệm vụ của lại bao gồm giúp quan soạn thảo, giao nhận, lưu chuyển công văn sổ sách; triển khai các chính sách của nhà nước tới chức dịch làng xã, đốc thúc chức dịch làng xã thực hiện nghĩa vụ với nhà nước
Quan và lại kết thành khối thống nhất giúp vua quản lí đất nước, giữ vị trí bản lề trong bộ máy nhà nước
2. Vị trí của quan lại trong bộ máy nhà nước phong kiến Việt Nam
− Là yếu tố cấu thành thể chế chính trị quân chủ phong kiến Việt Nam, vị trí, vai trò của quan và lại chịu sự quy định của hình thức chính thể nhà nước
− Từ thế kỉ XI – XIX, nhà nước phong kiến Việt Nam luôn được tổ chức theo hình thức chỉnh thể quân chủ chuyên chế, toàn bộ quyền lực nhà nước đều thuộc về nhà vua Tuy nhiên nhà vua không thể tự mình triển khai và thực hiện toàn bộ quyền lực nhà nước
− Với cương vị điều hành trong các cơ quan nhà nước, quan giữ vai trò tư vấn, giúp việc cho nhà vua trong việc xây dựng các chính sách và ban hành pháp luật đồng thời triển khai thực hiện quyền lực nhà nước Lại là người thừa hành mệnh lệnh của quan, đóng vai trò trung gian giữa quan và dân
− Nhiệm vụ của lại bao gồm giúp quan soạn thảo, giao nhận, lưu chuyển công văn sổ sách; triển khai các chính sách của nhà nước tới chức dịch làng xã, đốc thúc chức dịch làng xã thực hiện nghĩa vụ với nhà nước Với các vai trò trên, quan và lại kết thành khối thống nhất giúp vua quản lí đất nước, giữ vị trí bản lề trong bộ máy nhà nước
Câu 6: Anh (chị) hãy nhận xét về địa vị, về quyền hành trong lĩnh vực lập pháp giữa Vua và Chúa trong thời kì nội chiến phân liệt?
Trang 22Y phục màu tímĐược vua ban chén ngọc và búa vàng
dụ hoặc chỉ, chiếu
Thể hiện đế quyền
Ban hành văn bản có tính ứng dụngvới những trường hợp, đối tượng vàcông việc áp dụng dưới hình thức lệnh hoặc lệnh dụ, chỉ hoặc chỉ truyền
Thể hiện thực quyền
Như vậy, Vua nắm quyền quyết định những nguyên tắc pháp lí chung, còn Chúa nắm quyền ứng dụng những nguyên tắc này vào hiện thực Hay nói cách khác thì Chúa Trịnh chuyên giữ chính sự, quyền hành còn Vua Lê chỉ mang hư danh chỉ có khác ở màu áo mặc và nghị vệ
Trang 23Câu 7: Anh (chị) hãy phân tích mối quan hệ giữa vợ và chồng; giữa cha mẹ và con cái; giữa anh, chị, em; giữa vợ cả và vợ lẽ trong Bộ quốc triều hình luật?
Trong lĩnh vực quan hệ gia đình, bộ quốc triều hình luật đã điều chỉnh các quan hệ như quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa các thân thuộc khác (vợ cả-vợ lẽ, anh-chị-em, cha mẹ-con nuôi, vai trò của người tôn trưởng tức trưởng họ)
+ Không được ngược đãi vợ (điều 482)
+ Nghĩa cụ phục tùng chồng: Bộ luật không có quy định cụ thể về nghĩa vụ này nhưng qua tinh thần của nhiều điều luật đã thể hiện nghĩa vụ của người vợ phải theo chồng, vâng lời
và tôn trọng mọi quyết định của chồng Những hành vi bất phục tùng chồng nghiêm trọngnhư đánh chồng (Điều 481), tố cáo chồng (Điều 54) bị trừng phạt nặng
+ Nghĩa vụ chung thủy : người vợ phải tuyệt đối thủy chung với chồng (Điều 401) Người chồng cũng phải có nghĩa vụ thủy chung với vợ (điều 401 Điều 405)
+ Nghĩa vụ để tang nhau: Khi chồng chết, người chồng phải có nghĩa vụ để tang chồng 3 năm và phải tuân thủ những quy định nghiêm ngặt Theo khoản 9 điều 2, nếu vợ phạm vào nghĩa vụ này thì bị khép vào tội thập ác
+ Quyền được giảm hình phạt theo quan phẩm của chồng: Điều 7 “Những người đàn bà phạm tội vì chồng làm quan có phẩm trật thì theo phẩm trật mà nghị giảm.”
− Quan hệ cha mẹ-con cái
Đề cập tới các nghĩa vụ và quyền nhân thân của con cái, bao gồm:
+ Nghĩa vụ phải vâng lời và phụng dưỡng cha mẹ, ông bà: Khoản 7 điều 2, điều 475
+ Nghĩa vụ chịu tội roi, trượng thay cho ông bà, cha mẹ (điều 38)
+ Nghĩa vụ không được kiện cáo ông bà-cha mẹ (Điều 511)
+ Nghĩa vụ che giấu tội cho ông bà, cha mẹ : Điều 9, Điều 504
+ Nghĩa vụ để tang ông bà-cha mẹ (điều 2), Điều 130 và điều 543
+ Quyền được giảm hình phạt theo quan phẩm của cha: Điều 12
+ Về phía cha mẹ có quyền quyết định chỗ ở của con cái, có quyền và nghĩa vụ nuôi dạy con cái, quyền quyết định hôn nhân cho con cái, quyền từ con nếu con cái bất hiếu Con
Trang 24cái phạm tội, cha mẹ phải liên đới chịu trách nhiệm hình sự và bồi thường thiệt hại ( Điều 457)
− Quan hệ nhân thân khác
+ Quan hệ giữa vợ cả-vợ lẽ: trong gia đình, vợ cả và vợ lẽ đều phải làm tròn nghĩa vụ đối với chồng và cha mẹ chồng đồng thời phải tuân theo thủ trật tự thê thiếp Điều 309, Điều
481, 483, 484
+ Quan hệ giữa anh chị em: giữa anh chị em trong gia đình, người anh trưởng có quyền và nghĩa vụ đối với các em, nhất là khi cha mẹ đã chết (các điều 487, 512),
+ Quan hệ nuôi con nuôi (các điều 380, 381, 506)
+ Vai trò của người trưởng họ (điều 35), người tôn trưởng phải gánh vác nghĩa vụ trong dòng họ vd chịu trách nhiệm khi một tập thể thành viên trong dòng họ phạm tội
KẾT LUẬN: Những quy định cuả bộ luật Hồng Đức về hôn nhân và gia đình vừa bảo vệ
trật tự gia trưởng phong kiến, vừa nhằm củng cố sự hoà thuận, có trách nhiệm với nhau giữa các thành viên trong gia đình, không chỉ đề cao vị trí trụ cột của người cha, người chồng, mà ở chừng mực nào đó cũng không xem nhẹ vai trò của người mẹ, người vợ, người con gái trong gia đình Đó là điểm tiến bộ, một trong những nét đặc sắc của Bộ luậtHồng Đức
Trang 25NHÓM 3
Câu 1: Lý giải tại sao nhà nước cổ đại Phương Đông hình thành sớm? Tại sao nhà nước cổ đại Phương Tây hình thành muộn hơn so với nhà nước cổ đại Phương Đông?
A, Lý giải việc nhà nước cổ đại phương Đông hình thành sớm.
1 Cơ sở điều kiện tự nhiên
Những nền văn minh cổ kính đó xuất hiện trên lưu vực những con sông lớn như sông Nile(Ai Cập), Tigris và Euphrates (Lưỡng Hà), sông Ấn (Indus) và sông Hằng (Gange) (Ấn Độ), sông Hoàng Hà và Trường Giang (Trung Quốc)…
- Nhìn chung lưu vực các con sông nói trên là những vùng đồng bằng phì nhiêu rất thuận lợi (dất phì nhiêu màu mỡ, khí hậu ấm áp…) cho việc phát triển nông nghiệp
- Cùng với nông nghiệp, thủ công nghiệp cũng phát triển mạnh, xã hội sớm xuất hiện giai cấp và nhà nước
2 Cơ sở dân cư
Trên cơ sở những điều kiện tự nhiên như vậy, cư dân ở phương Đông ra đời sớm và phát
triển nhanh chóng Tuy nhiên, quá trình hình thành các cộng đồng dân cư ở phương Đông diễn ra rất đa dạng và phức tạp.
3 Cơ sở kinh tế
- Cư dân phương Đông cổ đại đã sớm biết lợi dụng điều kiện tự nhiên để sản xuất, chế tạocông cụ lao động, chinh phục tự nhiên xây dựng những nền văn minh đầu tiên trên thế giới, năng suất lao động ngày càng cao
- Cư dân cổ đại phương Đông cũng đã đạt một trình độ tổ chức sản xuất tương đối cao
- Do nhu cầu chống chọi với thiên nhiên và tổ chức sản xuất mà các nhà nước phương Đông đã ra đời
Như vậy, ở phương Đông cổ đại đã xuất hiện và tồn tại một hình thức nhà nước đặc biệt Nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền, còn gọi là chủ nghĩa chuyên chế phương Đông Đặc trưng của kiểu nhà nước này là quyền lực vô hạn của nhà vua về thần dân và ruộng đất Nhà vua đã cùng với bộ máy quan lại tổ chức quản lí xã hội tương đối chặt chẽ từ trung ương đến địa phương, trong đó hình pháp được đề cao
Trang 26B, Lý giải việc nhà nước cổ đại phương Tây hình thành muộn hơn nhà nước cổ đại phương Đông:
Các quốc gia cổ đại phương Tây hình thành ở bờ bắc địa Trung hải với điều kiện khí hậu tương đối khó khăn, địa hình bị chia cắt bởi các dãy núi và cao nguyên nên không thể tập chung dân cư, đất đai thì ít, xấu, khô cằn vậy nên họ sớm có ngành hàng hải giao thông biển chủ yếu phát triển ngành thương nghiệp
Ngược lại các quốc gia cổ đại phương Đông hình thành trên lưu vực các con sông lớn từ thời nguyên thủy đã sớm phát hiện và lợi dụng những thuận lợi đó để phát triển sản xuất Tuy nhiên họ cũng gặp phải những khó khăn như lũ lụt khiến mất mùa Để khắc phục những khó khăn trên mà học đã tập chung thành những quần thể cư dân lớn để làm công tác trị thủy, đó là cơ sở cho sự ra đời của các quốc gia cổ đại phương Đông
Trong khi đó các quốc gia cổ đại phương Tây ở Bắc bờ Địa Trung Hải, với việc đất đai khô cằn, khó khai thác, nên phải chờ tới khi có công cụ lao động bằng sắt và tiên tiến hơn thì họ mới có thể tập chung lại, cùng khai thác vùng đất có nhiều tiềm năng nhưng lại cằn cối khó khai thác này Trong khi các quốc gia cổ đại phương Đông nằm bên cạnh lưu vực những con song lớn màu mỡ, chỉ với các công cụ thô sơ thì họ đã có thể khia thác được các tài nguyên ở đây rồi, còn với các quốc gia cổ đại phương Tây thì mãi đến sau này khi
mà khi mà công cụ lao động tiến bộ hơn và có thể thuận tiện trong việc khai thác hơn thì nhà nước cổ đại phương Tây mới có những bước thay đổi mới trong sự hình thành nhà nước của mình
=> Từ những nguyên nhân vừa mới nêu ra ở trên mà ta có thể lý giải được việc tại sao mànhà nước cổ đại phương Tây lại ra đời muộn hơn so với các quốc gia cổ đại phương Đông
Câu 2: Phân tích các đặc trưng cơ bản của nhà nước Phương Tây cổ đại? Đánh giá tinh dân chủ của nhà nước Aten
Sự ra đời :
Khoảng thế kỷ 7 TCN, tức là mãi sau hơn 2000 năm, sau sự xuất hiện của nhà nước Phương Đông cổ đại, nhà nước Phương Tây mới ra đời (nhà nước thành bang của Hy Lạp xuất hiện sớm nhất vào khoảng thế kỷ VIII - VI TCN)
Nhà nước ra đời trên cơ sở lực lượng sản xuất đã phát triển thuộc giai đoạn đồ sắt
Ở Phương Tây, các nhà nước Hy Lạp và La Mã được hình thành chủ yếu trên 2 bán đảo
là bán đảo Ban-căng và bán đảo I-ta-li-a Đây là nơi không thuận lợi cho kinh tế nông nghiệp, nhưng thuận lợi cho việc phát triển kinh tế thủ công nghiệp, thương nghiệp
Tính chất :
Trang 27• Hình thức chính thể được biểu hiện rất đa dạng gồm dân chủ chủ nô, cộng hoà quý tộc, quân chủ chuyên chế.
• Ở Phương Tây đặc biệt là ở Hy Lạp và La Mã cổ đại xuất hiện các nhà nước thành bang
Kinh tế
• Quyền sở hữu ruộng đất chủ yếu thuộc về tư nhân
• Nền kinh tế vẫn mang tính chất tự nhiên, kinh tế công thương nghiệp ở Phương Tây rất phát triển, nên đã sớm xuất hiện những thành thị, những khu tập trung buôn bán, trao đổi hàng hóa
• Vừa là trung tâm chính trị vừa là trung tâm kinh tế Hoạt động lưu thông tiền tệ, kinh tế hàng hoá phát triển nên thành thị phương Tây cổ đại rất phồn thịnh
Xã hội
Chế độ nô lệ là điển hình
Tính dân chủ của nhà nước Aten
Bộ máy nhà nước của Aten được tổ chức theo nguyên tắc tập trung quyền lực vào hội nghị công dân, nghĩa là dành cho toàn thể công dân Aten quyền dân chủ Do đó, có thể kếtluận rằng nhà nước Aten được tổ chức theo hình thức chính thể Cộng hòa Dân chủ Chủ nô
- Tuy nhiên, nền Cộng hoà Dân chủ này còn có những hạn chế của nó, như:
• Chỉ những công dân nam Aten (có cha và mẹ đều là người Aten) từ 18 tuổi trở lên mới quyền tham gia vào Hội nghị công dân, còn phụ nữ, kiều dân và nô lệ thì không có quyền này Trong khi tỷ lệ dân kiều dân và nô lệ chiếm một con số khá lớn
• Các cuộc họp của Hội nghị công dân đa số đều được tổ chức tại thành Aten, do đó, các công dân Aten sinh sống ở những vùng nông thôn xa xôi không có điều kiện để thường xuyên tham gia Hội nghị Chỉ có một bộ phận nhỏ công dân Aten sinh sống tại thành Aten
và các vùng nông thôn lân cận mới thỉnh thoảng tham gia vào cuộc họp của Hội nghị công dân Chỉ có những cuộc họp bỏ phiếu bằng vỏ sò thì mới tập trung đông đảo công dân tham gia
Trang 28- Tư thế kỷ XI – XIII thủ công nghiệp phát triển làm các thành thị không ngừng lớn mạnh, dần dần trở nên phồn thịnh, các ngành nghề được tổ chức thành phường hội, và trởthành trung tâm công nghiệp và thương mại.
và nó là chỗ dựa để vua chống lại các thế lưc cát cứ
_ Sự xuất hiện cơ quan đại diện đẳng cấp Tây Âu:
+ Nghi viện Ở Anh: Trong cuộc đấu tranh chống quý tộc, liên minh giới hiệp sĩ và thị dân
đã giành được thắng lơi
- Hội nghị đẳng cấp chia thành 2 viện: Viện của giới hiệp sĩ và thị dân và viện của giới quý tộc
- Quyền hành của của nghị viên khá lớn > Nghị viện quy định : vua muốn thu thuế phải được sự đồng ý của nghị viện và vua không được tăng thuế hàng hóa Ngược lại mọi vấn
đề thuế khóa ngân sách, giám sát chính phủ đều thuộc nghị viện Nghị viện còn tham gia lập pháp và trở thành Hội đồng thẩm phán tối cao
=> Nền quân chủ đại diện đẳng cấp ở Tây Âu thời kì phong kiến được hình thành
Câu 4: Phân tích những điểm mới cơ bản của pháp luật dân sự, hình sự tư sản so với pháp luật phong kiến?
Những điểm mới cơ bản của pháp luật dân sự, hình sự tư sản so với pháp luật phong kiến:
1.Dân sự
Bảo vệ quyền tư hữu tư sản, điều chỉnh các quan hệ hợp đồng, hôn nhân gia đình, thừa kế
Trang 29- Quyền sở hữu:
+ So với pháp luật phong kiến, quyền tư hữu tài sản là vấn đề cơ bản, là một trong những chế định quan trọng nhất của pháp luật tư sản Quyền tư hữu được coi là quyền tự nhiên của con người, đó là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm Quyền tư hữu gồm có 3 quyền: quyền định đoạt, quyền chiếm hữu và quyền sử dụng Chia vật sở hữu thành 2 loại: động sản và bất động sản Những hạn chế quyền sở hữu do bộ luật quy định chỉ liên quan đến hành vi làm ảnh hưởng xấu tới quyền lợi của người khác
+ Pháp luật phong kiến chủ yếu điều chỉnh quan hệ về quyền sở hữu ruộng đất
-Hợp đồng
+ PL tư sản: Hợp đồng là hình thức trao đổi chủ yếu Có các phương pháp để bảo đảm việc thực hiện hợp đồng như: cầm cố, đặt cọc, tiền phạt, bảo lãnh,…PL tư sản xác định quyền bình đẳng và tự do biểu lộ ý chí của các bên tham gia hợp đồng Hợp đồng phải được thực hiện nghiêm chỉnh trong bất kì hoàn cảnh nào PL chỉ cho phép hủy bỏ hợp đồng trong trường hợp có sự đồng ý của tất cả các bên đã tham gia kí kết hợp đồng.+ PL phong kiến: Các chế định về hợp đồng còn giản đơn, mới chỉ dừng lại trong việc dảm bảo cho quyền lợi của tầng lớp có vị thế như các lãnh chúa
-Hôn nhân gia đình
+ PL phong kiến: • Nghiêm cấm tục cướp vợ hoặc mua bán vợ
• Người phụ nữ thường bị mất năng lực pháp lí về tài sản
-Pháp nhân và công ty cổ phần
+ Là 1 điểm mới của PL tư sản so với PL phong kiến
Trang 30+ Chế định về pháp nhân và công ty cổ phần nhằm củng cố địa vị kinh doanh của nhà tư bản, đồng thời không ngừng tập trung vốn, mở rộng kinh doanh và dẫn tới độc quyền, thu lợi nhuận ngày càng cao
-Thừa kế : + PL tư sản về cơ bản không có gì khác so với PL phong kiến
+ Có 2 hình thức thừa kế: theo chúc thư ( thuận tiện nhất ) và theo pháp luật + Thừa kế theo pháp luật dựa trên 2 nguyên tắc: Bảo đảm quyền lợi thừa kế hợp pháp của những người trong gia đình; đề cao giá trị của chủ tư hữu
2.Hình sự
- PL phong kiến: Mang tính chất vô cùng hà khắc và tàn bạo Tội nhẹ nhưng vẫn thường
bị xử nặng, các hình phạt của pháp luật phong kiến như chém bêu đầu, bỏ vào nước sôi hoặc dầu sôi, tùng xẻo,xé xác, tru di tam tộc… Đúng như C.Mác nói: PL phong kiến là pháp luật quả đấm
- So với pháp luật phong kiến, pháp luật tư sản có những tiến bộ lớn về hình thức pháp lí: chống lại sự độc đoán xét xử của vua chúa, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không có quy định về tội chống tôn giáo và các nguyên tắc về hình luật mà bản Tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền của Pháp đã đề ra
+ Về bản chất, luật hình sự là cơ sở pháp lí trọng yếu và trực tiếp của nhà nước tư sản, để đàn áp nhân dân lao động và các thế lực khác chống đối
+ Vẫn áp dụng các hình phạt tử hình đối với hầu hết các tội danh,… việc thi hành các hình phạt đó là cho xe cán, chặt tứ chi và đầu, Sau này các hình phạt man rợ này bị bãi
bỏ và giảm nhẹ hình phạt cho những tội không nặng
+ Có 3 hình thức về hình phạt tù: biệt giam, khổ sai, đưa đi đầy ở thuộc địa Sau đó hình phạt án treo bắt đầu xuất hiện
+ Như vậy, càng về sau PL tư sản càng thể hiện nhiều điểm tiến bộ, giảm nhẹ hơn về luật hình sự
Câu 5: Nhận xét chính sách đồng hóa, chính sách bóc lột của các triều đại phong kiến Trung Hoa nhằm Hán hóa dân tộc Âu Lạc Nhận xét chính sách lỏng lẻo của phong kiến Trung quốc ở Âu Lạc Phân tích nội dung luật tục trong chính quyền dô hộ ở Âu lạc.
Nhận xét chính sách đồng hóa, chính sách bóc lột của các triều đại phong kiến Trung Hoa nhằm Hán hóa dân tộc Âu Lạc.
Trang 31Trong hơn một nghìn năm Bắc thuộc, một trong những chính sách có tính chất xuyên suốt, liên tục của chính quyền đô hộ chính sách đồng hóa Mục tiêu cuối cùng của phong kiến Trung Hoa là nhằm thiết lập trên đất nước ta một cơ cấu xã hội, một thể chế chính trị,một phương thức canh tác và một phong tục tập quán giống như Trung Hoa Để thực hiện điều đó, chúng ta thi hành các biện pháp:
- Tổ chức bộ máy cai trị:
+ Thời Bắc thuộc, các triều đại từ Triệu, Hán, Ngô, Tán, Tống, Tề, Lương đến Tùy,
Đường đã thực hiện nhiều chính sách cai trị nhằm sáp nhập nước Âu Lạc vào lãnh thổ Trung Quốc
+ Nhà Triệu chia Âu Lạc thành hai quận sáp nhập vào quốc gia Nam Việt
+ Nhà Hán chia làm ba quận, sáp nhập vào bộ Giao Chỉ cùng với một số quận trên đất Trung Quốc
+ Nhà Tùy, nhà Đường chia làm nhiều châu
+ Sau khi lật đổ được chính quyền của Hai Bà Trưng, chính quyền đô hộ tăng cường kiểmsoát, cử quan lại cai trị tới cấp huyện
Về chính sách đô hộ: Nhằm sáp nhập nước ta vào lãnh thổ Trung Quốc, xóa bỏ nước ta trên bản đồ thế giới
- Về kinh tế:
+ Chính quyền đô hộ thi hành chính sách bóc lột, cống nạp nặng nề; cướp ruộng đất, cưởng bức nhân dân ta cởy cấy, thực hiện chính sách đồn điền, nắm độc quyền về muối vàsắt
+ Chính quyền đồ hộ đưa người Hán (dân nghèo, tội nhân,…) vào Âu Lạc, cho ở lẫn với người Việt; xâm chiếm, khai phá ruộng đất để lập đồn điền do chính quyền đô hộ trực tiếpquản lí, biến một bộ phận người Việt trở thành nông nô của họ
+ Quan lại đô hộ ra sức bóc lột dân chúng để làm giàu
Về kinh tế: chúng ra sức khai thác, bóc lột nhân dân ta một cách triệt để, làm cho nước ta nghèo nàn, lạc hậu, không có khả năng chống lại chúng
- Về văn hóa, xã hội:
+ Truyền bá Nho giáo vào nước ta, bắt nhân dân ta phải thay đổi phong tục theo người Hán
+ Nhiều nho sĩ, quan lại người Hán được đưa vào đất Âu Lạc để thực hiện chính sách nói trên và mở lớp dạy chữ Nho Tuy nhiên, dưới thời Bắc thuộc, Nho giáo chỉ ảnh hưởng đếnmột số vùng trung tâm châu, quận
Trang 32+ Áp dụng luật pháp hà khắc, thẳng tay đàn áp các cuộc nổi dậy đấu tranh của nhân dân ta.
Về văn hóa: nhằm đồng hóa người Việt, xóa bỏ bản sắc văn hóa của dân tộc Việt
Về xã hội: làm cho nhân dân ta không dám đứng lên đấu tranh, nhằm duy trì vĩnh viễn sự
thống trị trên đất nước ta
Nhận xét chính sách lỏng lẻo của phong kiến Trung quốc ở Âu Lạc.
- Vì đặc điểm văn hóa- xã hội ở đất Âu Lạc khác với Trung Nguyên, nên sau khi xâm lược nước ta, chính quyền phương Bắc không thể trực tiếp tiến hành lối thống trị kiểu phong kiến tập quyền mà phải dùng chính sách ràng buộc Chính quyền đô hộ không trực trị tới cấp huyện trong thời gian đầu và trong suốt thời Bắc thuộc không cai trị tới các làng, xã
- Đối tượng "ràng buộc" của bọn quan lại phong kiến Trung Hoa chủ yếu là các phần tử quý tộc, các thủ lĩnh đã được phân hóa trong lòng công xã như Lạc hầu, Lạc tướng… Các quý tộc này một mặt được phong chức tước, mặt khác lại bị chính quyền đô hộ dùng áp bức quân sự và chính trị để ép cống nạp
- Cùng với chính sách đồng hóa, chính quyền phương Bắc áp dụng "ràng buộc" để gây chia
rẽ nội bộ dân tộc của các nước bị xâm lược, đồng thời thu về lợi nhuận kinh tế từ những vật phẩm cống nạp
- Vậy nhưng, những thất bại đau thương của chính quyền phương Bắc trước nước ta đã đủ
để chứng minh: Triều đình phong kiến Trung Hoa chỉ có thể áp dụng thành công chính sách này đối với những dân tộc thiểu số trong lãnh thổ nước mình, chứ không thể khuất phục một dân tộc yêu nước
Phân tích nội dung luật tục trong chính quyền dô hộ ở Âu lạc.
*Về luật hình: Nhóm tội phạm xâm phạm đến lợi ích của chính quyền đô hộ bị điều chỉnhbởi Luật Hình sự, hình phạt nặng nhất là tử hình, đi đày hoặc thích chữ vào mặt Cụ thể:
- Tội phản loạn, phản nghịch
- Nhóm tội chức vụ như tham ô, ăn hối lộ, tham nhũng
- Nhóm tội mua bán nô tì
- Nhóm tội phạm kinh tế như mua bán muối, sắt
* Luật lệ về dân sự và tài chính: Tồn tại hai hình thức sở hữu:
- Sở hữu nhà nước: Xoay quanh đối tượng quan trọng nhất là đất đai Sở hữu tư nhân: Chỉ liên quan đến một số thành phần quan lại và địa chủ người Hán
- Mục đích: Bảo hộ chủ yếu cho việc bảo vệ quyền sở hữu đất đai và chính quyền đô hộ
*Luật lệ về hôn nhân và gia đình: buộc dân Việt khi kết hôn phải theo luật lệ Hán, kết hônphải theo hạng tuổi và phải có đồ sính lễ Chức môi quan được đặt ra để kiểm soát việc thực hiện kết hôn theo đúng tập quán hôn nhân Nho giáo Tuy nhiên, chỉ có người Hán mới theo luật lệ hôn nhân đó còn người Việt vẫn theo phong tục cổ truyền của mình
Nhận xét chính sách đồng hóa, chính sách bóc lột của các triều đại phong kiến Trung Hoa nhằm Hán hóa dân tộc Âu Lạc.
Trang 33Trong hơn một nghìn năm Bắc thuộc, một trong những chính sách có tính chất xuyên suốt, liên tục của chính quyền đô hộ chính sách đồng hóa Mục tiêu cuối cùng của phong kiến Trung Hoa là nhằm thiết lập trên đất nước ta một cơ cấu xã hội, một thể chế chính trị,một phương thức canh tác và một phong tục tập quán giống như Trung Hoa Để thực hiện điều đó, chúng ta thi hành các biện pháp:
- Tổ chức bộ máy cai trị:
+ Thời Bắc thuộc, các triều đại từ Triệu, Hán, Ngô, Tán, Tống, Tề, Lương đến Tùy,
Đường đã thực hiện nhiều chính sách cai trị nhằm sáp nhập nước Âu Lạc vào lãnh thổ Trung Quốc
+ Nhà Triệu chia Âu Lạc thành hai quận sáp nhập vào quốc gia Nam Việt
+ Nhà Hán chia làm ba quận, sáp nhập vào bộ Giao Chỉ cùng với một số quận trên đất Trung Quốc
+ Nhà Tùy, nhà Đường chia làm nhiều châu
+ Sau khi lật đổ được chính quyền của Hai Bà Trưng, chính quyền đô hộ tăng cường kiểmsoát, cử quan lại cai trị tới cấp huyện
Về chính sách đô hộ: Nhằm sáp nhập nước ta vào lãnh thổ Trung Quốc, xóa bỏ nước ta trên bản đồ thế giới
- Về kinh tế:
+ Chính quyền đô hộ thi hành chính sách bóc lột, cống nạp nặng nề; cướp ruộng đất, cưởng bức nhân dân ta cởy cấy, thực hiện chính sách đồn điền, nắm độc quyền về muối vàsắt
+ Chính quyền đồ hộ đưa người Hán (dân nghèo, tội nhân,…) vào Âu Lạc, cho ở lẫn với người Việt; xâm chiếm, khai phá ruộng đất để lập đồn điền do chính quyền đô hộ trực tiếpquản lí, biến một bộ phận người Việt trở thành nông nô của họ
+ Quan lại đô hộ ra sức bóc lột dân chúng để làm giàu
Về kinh tế: chúng ra sức khai thác, bóc lột nhân dân ta một cách triệt để, làm cho nước ta nghèo nàn, lạc hậu, không có khả năng chống lại chúng
- Về văn hóa, xã hội:
+ Truyền bá Nho giáo vào nước ta, bắt nhân dân ta phải thay đổi phong tục theo người Hán
+ Nhiều nho sĩ, quan lại người Hán được đưa vào đất Âu Lạc để thực hiện chính sách nói trên và mở lớp dạy chữ Nho Tuy nhiên, dưới thời Bắc thuộc, Nho giáo chỉ ảnh hưởng đếnmột số vùng trung tâm châu, quận
Trang 34+ Áp dụng luật pháp hà khắc, thẳng tay đàn áp các cuộc nổi dậy đấu tranh của nhân dân ta.
Về văn hóa: nhằm đồng hóa người Việt, xóa bỏ bản sắc văn hóa của dân tộc Việt
Về xã hội: làm cho nhân dân ta không dám đứng lên đấu tranh, nhằm duy trì vĩnh viễn sự thống trị trên đất nước ta
Nhận xét chính sách lỏng lẻo của phong kiến Trung quốc ở Âu Lạc.
- Vì đặc điểm văn hóa- xã hội ở đất Âu Lạc khác với Trung Nguyên, nên sau khi xâm lược nước ta, chính quyền phương Bắc không thể trực tiếp tiến hành lối thống trị kiểu phong kiến tập quyền mà phải dùng chính sách ràng buộc Chính quyền đô hộ không trực trị tới cấp huyện trong thời gian đầu và trong suốt thời Bắc thuộc không cai trị tới các làng, xã
- Đối tượng "ràng buộc" của bọn quan lại phong kiến Trung Hoa chủ yếu là các phần tử quý tộc, các thủ lĩnh đã được phân hóa trong lòng công xã như Lạc hầu, Lạc tướng… Các quý tộc này một mặt được phong chức tước, mặt khác lại bị chính quyền đô hộ dùng áp bức quân sự và chính trị để ép cống nạp
- Cùng với chính sách đồng hóa, chính quyền phương Bắc áp dụng "ràng buộc" để gây chia
rẽ nội bộ dân tộc của các nước bị xâm lược, đồng thời thu về lợi nhuận kinh tế từ những vật phẩm cống nạp
- Vậy nhưng, những thất bại đau thương của chính quyền phương Bắc trước nước ta đã đủ
để chứng minh: Triều đình phong kiến Trung Hoa chỉ có thể áp dụng thành công chính sách này đối với những dân tộc thiểu số trong lãnh thổ nước mình, chứ không thể khuất phục một dân tộc yêu nước
Phân tích nội dung luật tục trong chính quyền dô hộ ở Âu lạc.
*Về luật hình: Nhóm tội phạm xâm phạm đến lợi ích của chính quyền đô hộ bị điều chỉnhbởi Luật Hình sự, hình phạt nặng nhất là tử hình, đi đày hoặc thích chữ vào mặt Cụ thể:
- Tội phản loạn, phản nghịch
- Nhóm tội chức vụ như tham ô, ăn hối lộ, tham nhũng
- Nhóm tội mua bán nô tì
- Nhóm tội phạm kinh tế như mua bán muối, sắt
* Luật lệ về dân sự và tài chính: Tồn tại hai hình thức sở hữu:
- Sở hữu nhà nước: Xoay quanh đối tượng quan trọng nhất là đất đai Sở hữu tư nhân: Chỉ liên quan đến một số thành phần quan lại và địa chủ người Hán
- Mục đích: Bảo hộ chủ yếu cho việc bảo vệ quyền sở hữu đất đai và chính quyền đô hộ
*Luật lệ về hôn nhân và gia đình: buộc dân Việt khi kết hôn phải theo luật lệ Hán, kết hônphải theo hạng tuổi và phải có đồ sính lễ Chức môi quan được đặt ra để kiểm soát việc thực hiện kết hôn theo đúng tập quán hôn nhân Nho giáo Tuy nhiên, chỉ có người Hán mới theo luật lệ hôn nhân đó còn người Việt vẫn theo phong tục cổ truyền của mình
Câu 6.Phân tích địa vị và quyền lực của Nhà vua, phương thức truyền ngôi trong thể chế chính trị quân chủ phong kiến Việt Nam
Trang 35+Vua là người đại diện cho Thượng đế (Trời) để cai trị dân, là người “thay Trời hành đạo”, đồng thời cũng là người đại diện cho dân trước Thượng đế.
+Địa vị và chức năng làm vua là do Trời định sẵn cho người đó (Thiên Mệnh)
+Vua với địa vị của mình chỉ đứng dưới một người là Trời, còn trên muôn người
Địa vị của nhà vua đã bao trùm lên toàn bộ đất nước Và vị vua theo “Thiên Mệnh” sẽ phải chăm sóc, đảm bảo sự thịnh vượng của mọi người dân trong xã hội
- Quyền lực của nhà vua:
+ Nhà vua nắm vương quyền:
nhà vua cũng chính là người nắm trong tay toàn bộ vương quyền của đấtnước Những điều đó được thể hiện ở các điểm sau:
- Về mặt lập pháp: Nhà vua chính là người duy nhất có quyền đặt ra pháp luật
- Về mặt hành pháp: Nhà vua chínhlà người đứng đầu nền hành chính quốc gia, có quyềnlực rất lớn
- Về mặt tư pháp: Nhà vua chính là người giữ tài phán quyết cao nhất
- Về mặt quân sự: Vua chính là người đứng đầu quân đội
-Về mặt ngoại giao: Nhà vua là người đại diện hợp pháp duy nhất trong các quan hệ bang giao
-Về mặt kinh tế : Nhà vua là người chủ sở hữu tối cao đối với ruộng đất công của các làng
xã trong cả nước, là người duy nhất được phép ban hành các chínhsách kinh tế trong nước
+ Nhà vua nắm thần quyền:
- Trong các lễ nghi tôn giáo, nhà vua luôn là chủ tế
- Nhà vua chính là người đứng đầu bách thần trong cả nước, có quyền phong chức tước cho thần thánh, điều động thần thánh , khiển trách bằng cách thủ tiêu bằng sắc hoặc phá hủy đền thờ…
+Nhà vua có những đặc quyền riêng:
- Mọi người không được phạm đến tên huý của vua và người thân thích củavua
- Những gì thuộc về nhà vua đều là cao quý, nên phải dùng những ngôn từ đặc biệt, các
Trang 36_ Phương thức truyền ngôi vua:
- Nguyên tắc ngôi vua không thể chia, nước chỉ được có một vua, ngôi vua chỉ truyền cho một người
- Nguyên tắc trọng nam, chỉ truyền ngôi cho con trai, không truyền cho con gái
- Nguyên tắc trọng trưởng, ngôi vua chỉ có thể truyên cho con trai trưởng Nếu chẳng maycon trai trưởng quá cố, người cháu trai trưởng có quyền kế vị
Câu 7: Phân tích một số điểm tiến bộ trong qui định của Bộ quốc triều hình luật ở Việt Nam
Bộ luật Hồng Đức là một tên gọi khác của bộ Quốc triều hình luật (Lê triều hình luật), đây là một công trình pháp luật tiêu biểu được nhà Hậu Lê xây dựng, được coi
là bộ luật nổi bật nhất, quan trọng nhất và có vai trò rất đặc biệt nhất trong lịch sử pháp quyền phong kiến Việt Nam.
• Điểm tiến bộ trong luật Hồng Đức là nó có một tiến khá căn bản trong việc cải thiện địa
vị của người phụ nữ trong xã hội phong kiến Vai trò của người phụ nữ đã được đề cao hơn rất nhiều so với các bộ luật đương thời trong khu vực Nó cho thấy người vợ có quyền quản lý tài sản của gia đình (khi chồng chết) và họ có quyền thừa kế như nam giới.Đối với phụ nữ, quyền lợi của đối tượng này được đề cập chủ yếu trong hai chương
“Hộ hôn” và “Điền sản” với những quy định thể hiện sự coi trọng cá nhân và vai trò của người phụ nữ cũng như bảo vệ quyền lợi của họ trong việc hương hỏa, tế lễ, thừa kế và sởhữu tài sản.Người vợ, theo phong tục và quy định phải lệ thuộc vào chồng nhưng trong bộluật Hồng Đức địa vị của người vợ có những độc lập nhất định như họ có quyền có tài sảnriêng, có quyền xin ly hôn trong một số trường hợp, ví dụ tại điều 308 quy định: “Chồng
xa cách vợ không lui tới suốt 5 tháng thì vợ được phép trình quan sở tại, quan xã làm chứng thì chồng đó mất vợ Nếu đã có con thì gia hạn 1 năm Những người công sai đi xa không áp dụng luật này Nếu đã thôi vợ mà cản trở người khác cưới vợ cũ thì xử biếm”
• Điểm thứ hai, là hình phạt cho phạm nhân nữ bao giờ cũng thấp hơn so với Pham nhân nam Ví dụ: Điều 1 quy định trượng hình chỉ đàn ông phải chịu: "Từ 60 cho đến 100 trượng, chia làm 5 bậc: 60 trượng, 70 trượng, 80 trượng, 90 trượng, 100 trượng, tuỳ theo tội mà thêm bớt Xử tội này có thể cùng với tội lưu, tội đồ, biếm chức, hoặc xử riêng chỉ đàn ông phải chịu." Điều 680: "Đàn bà phải tội tử hình trở xuống nếu đang có thai, thì phải để sinh ** sau 100 ngày mới đem hành hình Nếu chưa sinh mà đem hành hình thì ngục quan bị xử biếm hai tư; ngục quản bị đồ làm bản cục đinh Dù đã sinh rồi, nhưng chưa đủ hạn một trăm ngày mà đem hành hình, thì ngục quan và ngục lại bị tội nhẹ hơn tội trên hai bậc Nếu đã đủ 100 ngày mà không đem hành hình, thì ngục quan hay ngục lại
bị tội biếm hay tội phạt"
Trang 37• Điểm thứ ba, nó thể hiện chính sách trọng nông của triều Lê Bộ luật trừng phạt rất nặng các tội như phá hoại đê điều (điều 596), chặt phá cây cối và lúa má của người khác (điều 601), tự tiện giết trâu ngựa (điều 580) v.v Những điều luật trong Quốc Triều Hình Luật đã xác định trách nhiệm của nhà nước thông qua trách nhiệm của hệ thống quan lại nhằm đảm bảo cuộc sống tối thiểu của người nghèo khổ trong xã hội (Điều 294; Điều 295).
• Điểm thứ tư, luật Hồng Đức có nhiều quy định thể hiện tính chất nhân đạo, thể hiện sự quan tâm và bảo vệ dân thường Ví dụ: Điều 17 Quốc Triều Hình Luật quy định: "Khi phạm tội chưa già cả tàn tật, đến khi già cả tàn tật mới bị phát giác thì xử theo luật già cả tàn tật.Khi ở nơi bị đồ thì già cả tàn tật cũng thế Khi còn bé nhỏ phạm tội đến khi lớn mớiphát giác thì xử tội theo luật lúc còn nhỏ" Quốc Triều Hình Luật còn thể hiện chính sách khoan hồng đối với người phạm tội tuy chưa bị phát giác và tự thú trước (trừ phạm tội thập ác hoặc giết người) Điều 18 và điều 19: "Phàm ăn trộm tài vặt của người sau lại tự thú với người mất của thì cũng coi như là thú ở cửa quan" Điều 21, 22, 23, 24 của Quốc Triều Hình Luật quy định cho chuộc tội bằng tiền (trừ hình phạt đánh roi vì cho rằng đánhroi có tính chất răn bảo dạy dỗ nên không phải cho chuộc)
• Điểm thứ năm, luật Hồng Đức vừa tiếp thu có chọn lọc tư tưởng của Nho giáo vừa phát huy những phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc Ví dụ: Điều 40: "Những người miền thượng du (miền núi, miền đồng bào dân tộc ít người cư trú) cùng phạm tội với nhau thì theo phong tục xứ ấy mà định tội Những người thượng du phạm tội với người trung châu (miền trung du và miền đồng bằng) thì theo luật mà định tội." Có thể nói đây là một trongnhững điều luật thể hiện rõ nhất tính sáng tạo của nhà làm luật Điểm thú vị của quy định này ở chỗ luật pháp dù có hoàn bị đến đâu cũng không thể phủ nhận hoặc thay thế hoàn toàn vai trò của phong tục tập quán vốn dĩ đã tồn tại lâu dài trước cả khi có luật
Trang 38- Về hợp đồng vay mượn, luật quy định mức lãi suất khác nhau đối với từng loại: vay thóc
là 1/3 và vay tiền là 1/5, dùng thân thể con người làm vật bảo đảm
=> Bảo vệ quyền lợi của người đi vay, đảm bảo cho việc vay mượn được công bằng, tránhhiện tượng cho vay nặng lãi,
- Về hợp đồng lĩnh canh ruộng đất, quy định trách nhiệm của người lĩnh canh trongtrường hợp không chuyên cần canh tác để đảm bảo cho sản xuất nông nghiệp được đềuđặn, tránh hiện tượng bỏ hoang ruộng đất
=> So với luật pháp hiện đại, Hammurabi chỉ thấy thiếu một loại hợp đồng duy nhất làhợp đồng bảo hiểm Điều đó thể hiện trình độ kỹ thuật luật pháp khá cao của Lưỡng Hà
2 Chế định hôn nhân và gia đình
- Kết hôn phải có giấy tờ nhằm bảo vệ quyền lợi của người vợ khi người vợ hay chồngđòi ly dị
- Người chồng không được bỏ vợ khi biết người vợ mắc bệnh phong hủi
- Một người đàn ông góa vợ không được giữ và tiêu xài của hồi môn của người vợ quá cố
mà phải để lại cho các con trai của mình Nhưng một quả phụ lại có thể giữ của hồi môncủa mình
- Nếu một người đàn ông đã đưa tiền thách cưới cho cha vợ tương lai và sau đó lại quyếtđịnh không cưới cô gái đó nữa, cha cô gái có thể giữ lại tiền thách cưới đó Nếu mộtngười đàn ông muốn ly dị người vợ không sinh được con, anh ta có thể làm được điều nàynhưng phải hoàn trả của hồi môn và cho cô ta một khoản tiền bằng số tiền thách cưới
=> Như vậy, luật đã quan tâm bảo đảm đời sống cho những người vợ không có con, dànhcho họ những điều kiện sống tối thiểu để không bị bạc đãi, không bị tước bỏ quyền sống
Trang 393 Về chế định thừa kế tài sản
- Thừa kế theo di chúc: hạn chế quyền tự do của người viết di chúc như qui định ngườicha không được tước quyền thừa kế của con trai nếu người con mới phạm lỗi lần đầu vàlỗi không nghiêm trọng
- Thừa kế theo pháp luật: trong luật pháp Lưỡng Hà, con trai, con gái đều được hưởngquyền thừa kế ngang nhau
=> Thể hiện sự bình đẳng ít ỏi về giới tính
- Khi chia tài sản, con của người vợ chính thức được ưu tiên chọn phần của mình
=> mục đích bảo đảm quyền thừa kế của người con theo đúng vị trí của họ trong quan hệvới người cha
4 Về hình sự
Điểm tiến bộ trong lĩnh vực hình sự là luật đã manh nha phân biệt phạm tội vô ý và phạmtội cố ý Ví dụ luật ghi trong khi ẩu đả làm người chết, nếu kẻ làm chết người chứng minhđược rằng không cố ý giết người thì sẽ không bị tử hình, chỉ bị phạt Đây là một trongnhững quy định khá khách quan trong xét xử các vụ án hình sự Điều này làm cho luậtpháp mang tính chất công bằng hơn
xử, coi trọng trách nhiệm xét xử công bằng của thẩm phán
6 Những đặc trưng cơ bản trong kĩ thuật lập pháp của bộ luật Hammurabi
- Bộ luật Hammurabi thể hiện kĩ thuật lập pháp khá cao Điểm nổi bật trong kĩ thuật lậppháp của bộ luật là không có xu hướng hình sự hoá tất cả các quan hệ pháp luật
- Sắp xếp các điều khoản điều chỉnh cùng một loại quan hệ trong xã hội liền kề nhau
- Các điều luật đã biết dự liệu liên quan đến nhau
- Bộ luật Hammurabi cũng có sự kế thừa từ những bộ luật thành văn trước đó thể hiện rõràng về tính chất, sự nhất quán trong tư tưởng thần quyền pháp chế
- Trong bộ luật này thì mức độ điều chỉnh của nó cũng được biểu hiện bằng các dẫnchứng, tình tiết cụ thể, dễ hiểu dễ áp dụng trong thực tiễn cuộc sống Luật tư trong bộ luậtHammurabi rất phát triển, nó điều chỉnh các quan hệ giữa các cá nhân với nhau mà ở các