1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH DỊCH VỤ TRÊN MẠNG DI ĐỘNG 3G,CÀI ĐẶT THỬ NGHIỆM

73 803 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Mô Hình Dịch Vụ Trên Mạng Di Động 3G, Cài Đặt Thử Nghiệm
Trường học Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội
Chuyên ngành Công Nghệ Thông Tin
Thể loại Đề Tài
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mạng thông tin di động 3G là thế hệ truyền thông di động thứ ba, tiên tiến hơn hẳn các thế hệ trước đó. Nó cho phép người dùng di động truyền tải cả dữ liệu thoại và dữ liệu ngoài thoại (tải dữ liệu, gửi email, tin nhắn nhanh, hình ảnh, âm thanh, video clips... Trong số các dịch vụ của 3G, điện thoại video thường được miêu tả như là lá cờ đầu. Giá tần số cho công nghệ 3G rất đắt tại nhiều nước, nơi mà các cuộc bán đấu giá tần số mang lại hàng tỷ Euro cho các chính phủ. Bởi vì chi phí cho bản quyền về các tần số phải trang trải trong nhiều năm trước khi các thu nhập từ mạng 3G đem lại, nên một khối lượng vốn đầu tư khổng lồ là cần thiết để xây dựng mạng 3G. Nhiều nhà cung cấp dịch vụ viễn thông đã rơi vào khó khăn về tài chính và điều này đã làm chậm trễ việc triển khai mạng 3G tại nhiều nước ngoại trừ Nhật Bản và Hàn Quốc, nơi yêu cầu về bản quyền tần số được bỏ qua do phát triển hạ tâng cơ sở IT quốc gia được đặt lên làm vấn đề ưu tiên nhất.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

-Đề tài: NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH DỊCH VỤ TRÊN MẠNG DI

ĐỘNG 3G, CÀI ĐẶT THỬ NGHIỆM.

Chuyên ngành: Công nghệ thông tin (KT)

Hà Nội - 2012.

Trang 2

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Danh mục các ký hiệu, các từ viết tắt

1.5 Công nghệ 3G ở Việt Nam 13

1.6 Xu hướng phát triển của công nghệ 3G 14

Mạng 4G đã thu hút nhiều sự chú ý sau khi hãng Sprint Nextel quyết định dành 3

tỉ USD xây dựng hệ thống mạng điện thoại WiMAX Tiêu chí cơ bản nhất là cungcấp một mạng lưới toàn diện và an toàn cho mọi giải pháp IP Ví dụ như điện thoại IP, tiếp cận Internet băng thông rộng, các dịch vụ game và những phương tiện truyền thông đa cấp khác tới người dùng 14

1.7 Các cơ hội, thách thức đối với công nghệ 3G 15

1.8 Hiện trạng ứng dụng 3G ở Việt Nam 16

2.2.1 Public Cloud: 272.2.2 Private Cloud 28

Trang 3

2.2.3 Hybrid Cloud 29

2.2.4 Community Cloud 31

2.3 Tìm hiểu một vài dịch vụ điện toán đám mây 31 2.3.1 Dịch vụ của Amazon 31

2.3.2 Dịch vụ của Google 36

2.3.3 GoGrid 39

2.3.4 Dịch vụ của Microsoft 42

2.4 Một số giải pháp Private Cloud tiêu biểu 44 2.4.1 Giải pháp của Microsoft 44

2.4.2 Giải pháp của IBM 47

2.4.3 Giải pháp của VMware 50

2.5 Kết luận chương 2 52 CHƯƠNG 3: DỊCH VỤ ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY CỦA AMAZON VÀ TRIỂN KHAI ỨNG DỤNG THỬ NGHIỆM TRÊN DỊCH VỤ EC2 53

3.1: Giới thiệu về dịch vụ điện toán đám mây của Amazon (Amazon Web Services) 53 3.2 Dịch vụ Amazon Elastic Compute Cloud (EC2) 58 3.2.1 Khái niệm Amazon Elastic Compute Cloud (EC2) 58

3.2.2 Các khả năng của Amazon EC2 59

3.2.3 Các điểm nổi bật của Amazon EC2 59

3.2.4 Tính năng chính của Amazon EC2 60

3.2.5 Các thành phần trong EC2 60

3.2.3 Triển khai ứng dụng thử nghiệm sử dụng Instance dạng Windows của dịch vụ EC2 66

3.3 Kết luận chương 3 69 KẾT LUẬN 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

Thời gian gần đây, các ứng dụng trên mạng di động 3G phát triển mạnh mẽ, ảnh hưởng của nó là đã làm thay đổi nhiều đến thói quen sử dụng điện thoại của người dân Hầu hết các nhà khai thác di động lớn trên thế giới đều tập trung cho công nghệnày, cả về khía cạnh thiết bị đầu cuối lẫn các dịch vụ nội dung Trong sự phát triển mạnh mẽ của dịch vụ 3G, một số nhóm dịch vụ nổi tiếng phát triển nhanh như:Nhóm dịch vụ liên lạc bao gồm:

Điện thoại truyền hình (Video call): cho phép người gọi và người nghe có thể nhìn thấy hình ảnh của nhau trên điện thoại di động, giống như hai người đang nói chuyện trực tiếp với nhau

Truyền tải đồng thời âm thanh, dữ liệu (Rich Voice): tải các file âm thanh với dung lượng lớn hơn và tốc độ nhanh hơn (hiện tại GPRS cũng cho tải nhưng với những file âm thanh có dung lượng thấp và tốc độ chậm)

Nhắn tin đa phương tiện (MMS): cho phép chuyển tải đồng thời hình ảnh và âm thanh, các đoạn video clip (dữ liệu động ) và text cùng lúc trên bản tin với tốc độ nhanh và dung lượng lớn

Nhóm dịch vụ nội dung giải trí bao gồm:

Tải phim (Video Dowloading) từ điện thoại di động

Xem phim trực tuyến (Video Streaming) trên điện thoại di động với chất lượng hình ảnh, âm thanh tốt, không bị giật hình hay trễ tiếng (thay vì truy cập Internet để tải và xem phim như hiện nay)

Tải nhạc Full Track: cho phép tải các tải các clip ca nhạc với dung lượng lớnNhóm dịch vụ Thanh toán điện tử (Mobile Payment): cho phép thanh toán hóa đơn hay giao giao dịch chuyển tiền…qua tin nhắn điện thoại di động (nếu khách hàng có tài khoản mở tại ngân hàng và có liên kết với nhà cung cấp dịch vụ di động) Băng thông rộng sẽ giúp cho thông tin giao dịch được truyền tải nhanh hơn và an toàn hơn

Nhóm thông tin xã hội bao gồm:

Truy cập Internet di động (Mobile Internet

Trang 5

Quảng cáo di động (Mobile Advertizing): cho phép thực hiện quảng cáo bằng text (như hiện nay) hoặc quảng cáo dưới dạng tin nhắn đa phương tiện MMS (video clip) từ nhà cung cấp dịch vụ tới thuê bao theo ngày, giờ, nhất định dựa trên nhu cầucủa khách hàng.

Nhóm hỗ trợ cá nhân bao gồm:

Truyền dữ liệu

Sao lưu dự phòng dữ liệu

Thông báo gửi và nhận email

Kết nối từ xa tới mạng Intranet: Cho phép người dùng có thể kết nối từ xa trên điệnthoại di động với các thiết bị điện tử tại văn phòng hay ở nhà…

Với mục đích nghiên cứu, tìm hiểu về loại hình công nghệ di động 3G, nộidung luận văn sẽ được trình bày thành 3 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan về mạng di động 3G

Chương này trình bày lịch sử hình thành của các thế hệ mạng đi động, một sốkhái niệm đang được sử dụng để mô tả mạng di động 3G Nội dung của chươngcũng mô tả mô hình tổng quan của mạng di động 3G, các nhánh công nghệ 3G và

mô hình 3G ở Việt Nam cũng như xu hướng phát triển công nghệ 3G

Chương 2: Hiện thực của Điện toán đám mây

Chương này mô trả chi tiết mô hình ứng dụng điện toán đám mây, đó là các

mô hình IaaS (Infrastructure as a Service), PaaS (Platform as a service), SaaS(Software as a service) Nội dung của chương cũng tập trung mô tả các mô hìnhkhai thác dịch vụ Public Cloud

Chương 3: Áp dụng trong triển khai ứng dụng thử nghiệm trên nền tảng dịch

vụ điện toán đám mây EC2 của Amazon

Nội dung của chương này mô tả việc triển khai ứng dụng thử nghiệm trênnền tảng dịch vụ điện toán đám mây EC2 (Elastic Compute Cloud) của hãngAmazon Kết luận chương là một số đánh giá kết quả đạt được

Kết luận:

Trang 6

Phần cuối cùng là kết luận của toàn bộ luận văn bao gồm một vài kết luậnsau khi nghiên cứu mô hình điện toán đám mây và triển khai ứng dụng thử nghiệm,bên cạnh đó cũng nêu lên một số vấn đề còn tồn tại trong mô hình điện toán này và

đề xuất để ứng dụng mô hình điện toán tiến tiến này vào ứng dụng sâu rộng hơn nữatrong các lĩnh vực xã hội có áp dụng kỹ thuật công nghệ thông tin góp phần thúcđẩy ứng dụng công nghệ thông tin trong nước

Trang 7

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ MẠNG DI ĐỘNG 3G

1.1 Lịch sử hình thành

Mạng thông tin di động 1G là mạng thông tin di động không dây cơ bản đầutiên trên thế giới Nó là hệ thống giao tiếp thông tin qua kết nối tín hiệu analog đượcgiới thiệu lần đầu tiên vào những năm đầu thập niên 80 Nó sử dụng các ăng-ten thuphát sóng gắn ngoài, kết nối theo tín hiệu analog tới các trạm thu phát sóng và nhậntín hiệu xử lý thoại thông qua các module gắn trong máy di động Chính vì thế màcác thế hệ máy di động đầu tiên trên thế giới có kích thước khá to và cồng kềnh dotích hợp cùng lúc 2 module thu tín hiện và phát tín hiệu như trên

Mặc dù là thế hệ mạng di động đầu tiên với tần số chỉ từ 150MHz nhưngmạng 1G cũng phân ra khá nhiều chuẩn kết nối theo từng phân vùng riêng trên thếgiới: NMT (Nordic Mobile Telephone) là chuẩn dành cho các nước Bắc Âu và Nga;AMPS (Advanced Mobile Phone System) tại Hoa Kỳ; TACS (Total AccessCommunications System) tại Anh; JTAGS tại Nhật; C-Netz tại Tây Đức; Radiocom

2000 tại Pháp; RTMI tại Ý

Mạng thông tin di động 2G là thế hệ kết nối thông tin di động mang tính cảicách cũng như khác hoàn toàn so với thế hệ đầu tiên Nó sử dụng các tín hiệu kỹthuật số thay cho tín hiệu analog của thế hệ 1G và được áp dụng lần đầu tiên tạiPhần Lan bởi Radiolinja (hiện là nhà cung cấp mạng con của tập đoàn Elisa Oyj)trong năm 1991 Mạng 2G mang tới cho người sử dụng di động 3 lợi ích tiến bộtrong suốt một thời gian dài: mã hoá dữ liệu theo dạng kỹ thuật số, phạm vi kết nốirộng hơn 1G và đặc biệt là sự xuất hiện của tin nhắn dạng văn bản đơn giản – SMS.Theo đó, các tin hiệu thoại khi được thu nhận sẽ đuợc mã hoá thành tín hiệu kỹthuật số dưới nhiều dạng mã hiệu (codecs), cho phép nhiều gói mã thoại được lưuchuyển trên cùng một băng thông, tiết kiệm thời gian và chi phí Song song đó, tínhiệu kỹ thuật số truyền nhận trong thế hệ 2G tạo ra nguồn năng lượng sóng nhẹ hơn

và sử dụng các chip thu phát nhỏ hơn, tiết kiệm diện tích bên trong thiết bị hơn…

Trang 8

Mạng 2G chia làm 2 nhánh chính: nền TDMA (Time Division Multiple Access) vànền CDMA cùng nhiều dạng kết nối mạng tuỳ theo yêu cầu sử dụng từ thiết bị cũngnhư hạ tầng từng phân vùng quốc gia:

 GSM (TDMA-based), khơi nguồn áp dụng tại Phần Lan và sau đó trở thànhchuẩn phổ biến trên toàn thế giới Và hiện nay vẫn đang được sử dụng bởihơn 80% nhà cung cấp mạng di động toàn cầu

 CDMA2000 – tần số 450 MHZ cũng là nền tảng di động tương tự GSM nóitrên nhưng nó lại dựa trên nền CDMA và hiện cũng đang được cung cấp bởi

60 nhà mạng GSM trên toàn thế giới

 IS-95 hay còn gọi là cdmaOne, (nền tảng CDMA) được sử dụng rộng rãi tạiHoa Kỳ và một số nước Châu Á và chiếm gần 17% các mạng toàn cầu Tuynhiên, tính đến thời điểm này thì có khoảng 12 nhà mạng đang chuyển dịchdần từ chuẩn mạng này sang GSM (tương tự như HT Mobile tại Việt Namvừa qua) tại: Mexico, Ấn Độ, Úc và Hàn Quốc

 PDC (nền tảng TDMA) tại Japan

 iDEN (nền tảng TDMA) sử dụng bởi Nextel tại Hoa Kỳ và Telus Mobilitytại Canada

 IS-136 hay còn gọi là D-AMPS, (nền tảng TDMA) là chuẩn kết nối phổ biếnnhất tính đến thời điểm này và đưọ7c cung cấp hầu hết tại các nước trên thếgiới cũng như Hoa Kỳ

Mạng thông tin di động 2.5G là thế hệ kết nối thông tin di động bản lề giữa2G và 3G Chữ số 2.5G chính là biểu tượng cho việc mạng 2G được trang bị hệthống chuyển mạch gói bên cạnh hệ thống chuyển mạch theo kênh truyền thống Nókhông được định nghĩa chính thức bởi bất kỳ nhà mạng hay tổ chức nào và chỉmang mục đích duy nhất là tiếp thị công nghệ mới theo mạng 2G

Mạng 2.5G cung cấp một số lợi ích tương tự mạng 3G và có thể dùng cơ sở

hạ tầng có sẵn của các nhà mạng 2G trong các mạng GSM và CDMA Và tiến bộduy nhất chính là GPRS - công nghệ kết nối trực tuyến, lưu chuyển dữ liệu đượcdùng bởi các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông GSM Bên cạnh đó, một vài giaothức, chẳng hạn như EDGE cho GSM và CDMA2000 1x-RTT cho CDMA, có thểđạt được chất lượng gần như các dịch vụ cơ bản 3G (bởi vì chúng dùng một tốc độtruyền dữ liệu chung là 144 kbit/s), nhưng vẫn được xem như là dịch vụ 2.5G (hoặc2.75G) bởi vì nó chậm hơn vài lần so với dịch vụ 3G thực sự

Trang 9

EDGE (Enhanced Data Rates for GSM Evolution), hay còn gọi là EGPRS, là mộtcông nghệ di động được nâng cấp từ GPRS - cho phép truyền dự liệu với tốc độ cóthể lên đến 384 kbit/s dành cho người dùng cố định hoặc di chuyển chậm, 144kbit/scho người dùng di chuyển với tốc độ cao Trên đường tiến đến 3G, EDGE được biếtđến như là công nghệ 2.75G Thực tế bên cạnh điều chế GMSK, EDGE dùngphương thức điều chế 8-PSK để tăng tốc độ dữ liệu truyền Chính vì thế, để triểnkhai EDGE, các nhà cung cấp mạng phải thay đổi trạm phát sóng BTS cũng như làthiết bị di động so với mạng GPRS.

Ngày nay, những năm đầu thế kỷ 21, hạ tầng máy tính, viễn thông đã hội tụ trên nềncông nghệ số Công nghệ kết nối có dây, không dây qua cáp đồng, cáp quang, vệtinh, wifi, mạng 3G cho phép kết nối mạng toàn cầu, vươn tới cả vùng sâu, vùng xanghèo khó Với hạ tầng ICT phát triển như vậy, các thiết bị tính toán cũng hết sức

đa dạng từ các siêu máy tính, máy chủ lớn, tới các máy tính cá nhân, máy tính xáchtay, các thiết bị di động thông minh hay các điện thoại di động giá rẻ đều có thể kếtnối với nhau

Mạng thông tin di động 3G là thế hệ truyền thông di động thứ ba, tiên tiến hơn hẳncác thế hệ trước đó Nó cho phép người dùng di động truyền tải cả dữ liệu thoại và

dữ liệu ngoài thoại (tải dữ liệu, gửi email, tin nhắn nhanh, hình ảnh, âm thanh, videoclips

Trong số các dịch vụ của 3G, điện thoại video thường được miêu tả như là lá cờđầu Giá tần số cho công nghệ 3G rất đắt tại nhiều nước, nơi mà các cuộc bán đấugiá tần số mang lại hàng tỷ Euro cho các chính phủ Bởi vì chi phí cho bản quyền vềcác tần số phải trang trải trong nhiều năm trước khi các thu nhập từ mạng 3G đemlại, nên một khối lượng vốn đầu tư khổng lồ là cần thiết để xây dựng mạng 3G.Nhiều nhà cung cấp dịch vụ viễn thông đã rơi vào khó khăn về tài chính và điều này

đã làm chậm trễ việc triển khai mạng 3G tại nhiều nước ngoại trừ Nhật Bản và HànQuốc, nơi yêu cầu về bản quyền tần số được bỏ qua do phát triển hạ tâng cơ sở ITquốc gia được đặt lên làm vấn đề ưu tiên nhất Và cũng chính Nhật Bản là nước đầu

Trang 10

tiên đưa 3G vào khai thác thương mại một cách rộng rãi, tiên phong bởi nhà mạngNTT DoCoMo.Tính đến năm 2005, khoảng 40% các thuê bao tại Nhật Bản là thuêbao 3G, và mạng 2G đang dần dần đi vào lãng quên trong tiềm thức công nghệ tạiNhật Bản.

Công nghệ 3G cũng được nhắc đến như là một chuẩn IMT-2000 của Tổ chức Viễnthông Thế giới (ITU) Ban đầu 3G được dự kiến là một chuẩn thống nhất trên thếgiới, nhưng trên thực tế, thế giới 3G đã bị chia thành 4 phần riêng biệt như sau:UMTS (W-CDMA):

 UMTS (Universal Mobile Telecommunication System), dựa trên công nghệtruy cập vô tuyến W-CDMA, là giải pháp nói chung thích hợp với các nhàkhai thác dịch vụ di động (Mobile network operator) sử dung GSM, tập trungchủ yếu ở châu Âu và một phần châu Á (trong đó có Việt Nam) UMTS đượctiêu chuẩn hóa bởi tổ chức 3GPP, cũng là tổ chức chịu trách nhiệm địnhnghĩa chuẩn cho GSM, GPRS và EDGE

 FOMA, thực hiện bởi công ty viễn thông NTT DoCoMo Nhật Bản năm

2001, được coi như là một dịch vụ thương mại 3G đầu tiên Tuy là dựa trêncông nghệ W-CDMA, nhưng công nghệ này vẫn không tương thích vớiUMTS

TD-SCDMA:

Trang 11

Chuẩn được phát triển riêng tại Trung Quốc bởi công ty Datang và Siemens.

Wideband CDMA:

Hỗ trợ tốc độ giữa 384 kbit/s và 2 Mbit/s Giao thức này được dùng trong một mạngdiện rộng WAN, tốc độ tối đa là 384 kbit/s Khi nó dùng trong một mạng cục bộ LAN, tốc độ tối đa chỉ là 1,8 Mbit/s Chuẩn này cũng được công nhận bởi ITU

dữ liệu thoại và phi thoại (gửi thư điện tử, hình ảnh, video ); thêm vào đó, nhàcung cấp còn có thể phát triển ứng dụng cho các dịch vụ khác như: thương mại điện

tử, ngân hàng, giải trí, truy nhập internet di động, tải dữ liệu từ các mạng xã hội…,với độ xác thực, tin cậy cao Đối với người sử dụng điện thoại di động thôngthường, dịch vụ nổi bật dễ nhận thấy của 3G là sử dụng điện thoại video, cho phépnhững người đàm thoại có thể nhìn thấy nhau

Công nghệ 3G đã được đã được triển khai và ứng dụng rộng rãi ở nhiều nước phát triển trên thế giới Các dịch vụ được sử dụng nhiều nhất lại là Mobile Internet (truy cập internet di động), Live TV (xem truyền hình trực tiếp trên điện thoại di động), VOD/MOD (xem phim/nghe nhạc theo yêu cầu)

Một số dịch vụ tiêu biểu của mạng di động 3G:

Trang 12

 Điện thoại hình: Với 3G, hai người đối thoại có thể thấy nhau qua màn hình điệnthoại di động

 Thông tin và tin tức: Chúng ta có thể truy cập bất kỳ trang web nào để xem tin tức, các sự kiện nóng sốt diễn ra trong ngày bằng điện thoại di động, máy tính xách tay hỗ trợ mạng 3G Với Internet, ta có thể xem bản tin dự báo thời tiết, tin tức hàng ngày, thị trường chứng khoán, chia sẻ thông tin với bạn bè người thân mọi lúc mọi nơi

 Thư điện tử: Rời khỏi văn phòng nhưng lại quên gửi một email quan trọng, chúng ta có thể nhanh chóng hoàn tất nhiệm vụ chỉ với điện thoại di động Chúng ta cũng có thể dùng điện thoại thay cho modem để kết nối đến máy tính xách tay hay PDA để soạn thảo hay lấy tài liệu gửi kèm

 Trò chơi: Game đã hiện diện trong điện thoại di động từ rất sớm với các thể loại

từ đơn giản đến phức tạp Là một công nghệ đã phát triển, các trò chơi ngày càng có tính tương tác hơn, hấp dẫn hơn và không thể thiếu cho nhu cầu giải trí Mạng 3G cho phép tải game bất kỳ lúc nào, nơi đâu

 Phim ảnh: Tốc độ và chất lượng của mạng 3G thực sự góp phần nâng cao chất lượng phim ảnh khi xem trên các thiết bị di động Chúng ta có thể xem trailer game/phim, tải nhạc chuông, hình nền…

 Thể thao: Với âm thanh và video chất lượng cao của mạng 3G, chúng ta có thể xem các sự kiện nổi bật, các trận đấu yêu thích và dĩ nhiên có thể xem tỉ số mới nhất

 Âm nhạc: Chúng ta có thể tải bài hát, các video nhạc, thậm chí biên tập nhạc chuông cho riêng mình

và video) cuối cùng sẽ được truyền đi trên cùng một môi trường IP bằng các chuyểnmạch gói Hình vẽ cho thấy ví dụ về một kiến trúc tổng quát của thông tin di động3G kết hợp với CS và PS trong mạng lõi

Trang 13

Kiến trúc tổng quát của một mạng di động kết hợp cả CS và PS

GSM: Tiêu chuẩn được sử dụng rộng rãi dành cho các hệ thống ĐTDĐ kỹ thuật số,

sử dụng TDMA băng hẹp để thực hiện 8 cuộc gọi cùng một lúc trên cùng một tần

số

MMS (Dịch vụ nhắn tin multimedia): Phương pháp gửi tập tin âm thanh và hìnhảnh cùng các tin nhắn dạng văn bản ngắn trên mạng vô tuyến sử dụng giao thứcWAP

TDMA: Dịch vụ vô tuyến kỹ thuật số sử dụng việc dồn kênh phân chia theo thờigian (Time Division Multiplexing) để chia tần số vô tuyến thành những khe thờigian (time slot) và phân bổ các khe đến nhiều cuộc gọi, cho phép tần số đơn hỗ trợnhiều cuộc gọi cùng một lúc

WCDMA (CDMA băng rộng): Công nghệ vô tuyến di động 3G tốc độ cao có thể hỗtrợ với tốc độ 2 Mbps để truyền thoại, video và dữ liệu

Trang 14

WiFi (Wireless Fidelity): Chỉ các mạng vô tuyến nội vùng (còn gọi là WLAN), cókhả năng truyền dữ liệu với tốc độ lên đến 1 Mbps

1.5 Công nghệ 3G ở Việt Nam

Chuẩn 3G mà Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam đã cấp phép là chính

là WCDMA ở băng tần 2100 MHz Công nghệ này hoạt động dựa trên CDMA và

có khả năng hỗ trợ các dịch vụ đa phương tiện tốc độ cao như video, truy cậpInternet, hội thảo có hình WCDMA nằm trong dải tần 1920 MHz -1980 MHz,

2110 MHz - 2170 MHz

Đây là sự lựa chọn đúng đắn bởi theo sự phân tích ở trên ta thấy rằng ở băng tần đãđược cấp phép (1900-2200 MHz) cho mạng 3G ở Việt Nam hiện tại mới chỉ cócông nghệ WCDMA là đã sẵn sàng Các công nghệ khác, kể cả CDMA2000-1xEV-DO là chưa sẵn sàng ở đoạn băng tần này vào thời điểm hiện nay Công nghệEV-DO sớm nhất cũng chỉ có khả năng có mặt ở băng tần 1900-2200 MHz vào năm

2010 khi Rev C được thương mại hoá Mặc dù một số nước trên thế giới cấp phépbăng tần 3G theo tiêu chí độc lập về công nghệ (không gắn việc cấp băng tần vớibất kỳ công nghệ nào) nhưng thực tế triển khai ở nhiều nước cho thấy trong băngtần 1900-2200 MHz, công nghệ WCDMA/HSPA vẫn là công nghệ chủ đạo, được

đa số các nhà khai thác lựa chọn Quy mô thị trường lớn của công nghệ này cũngđảm bảo rằng nó sẽ được tiếp tục phát triển trong tương lai

Công nghệ W-CDMA có các đặc tính năng cơ sở sau:

+ Hoạt động ở CDMA băng rộng với băng tần 5MHz

+ Lớp vật lý linh hoạt để tích hợp tất cả các tốc độ trên một sóng mang.Ngoài ra công nghệ này có các tính năng tăng cường sau:

+ Phân tập phát;

+ Ăng ten thích ứng

+ Hỗ trợ các cấu trúc thu tiên tiến

W-CDMA nhận được sự ủng hộ lớn nhất trước hết nhờ tính linh hoạt của lớp vật lýtrong việc hỗ trợ các kiểu dịch vụ khác nhau, đặc biệt là các dịch vụ tốc độ bít thấp

và trung bình Nhược điểm của W-CDMA là hệ thống không cấp phép trong băngtần TDD với phát thu liên tục, công nghệ W-CDMA không tạo điều kiện cho các kỹthuật chống nhiễu ở các phương tiện làm việc như máy điện thoại không dây Ưuđiểm của công nghệ này là hỗ trợ nhiều mức tốc độ khác nhau: 144Kbps khi dichuyển nhanh, 384Kbps khi đi bộ (ngoài trời) và cao nhất là 2Mbps khi không dichuyển (trong nhà) Với tốc độ cao, WCDMA có khả năng hỗ trợ các dịch vụ băng

Trang 15

rộng như truy cập Internet tốc độ cao, xem phim, nghe nhạc với chất lượng khôngthua kém kết nối trong mạng có dây WCDMA nằm trong dải tần 1920MHz -1980MHz, 2110MHz - 2170MHz

1.6 Xu hướng phát triển của công nghệ 3G

Với những tính năng vượt trội so với những thế hệ mạng đi trước, mạng 3G đang rấtđược ưa chuộng trong cộng đồng công nghệ viễn thông Đặc biệt, chỉ có những điệnthoại cao cấp, ra đời gần đây mới có thể sử dụng loại mạng này

Những điện thoại có thể kết nối 3G ngày càng trở nên phổ biến Các nhà đầu tư đãnhanh nhạy cho ra đời nhiều loại máy giá cả phải chăng, kiểu dáng thời trang, phùhợp với nhu cầu của người sử dụng

Nhìn chung, các dòng mạng cao cấp đang được đầu tư và nâng cấp rất mạnh trênthế giới, đặc biệt là ở các nước phát triển có công nghệ cao như Nhật Bản, PhầnLan, Anh, Mỹ Với sự hội nhập quốc tế nhanh chóng của Việt Nam, mạng 3G sẽdần dần trở thành con bài chủ chốt cho các nhà sản xuất và cung cấp dịch vụ mạngtrong những năm sắp tới – đặc biệt là với nhu cầu sử dụng ngày càng đa dạng vàphức tạp của người dùng

1.7 Các cơ hội, thách thức đối với công nghệ 3G

Theo đánh giá của các chuyên gia, có nhiều lợi thế để triển khai công nghệ 3G tại Việt Nam Trong những năm qua, thị trường di động Việt Nam không ngừng tăng trưởng, số lượng thuê bao tăng nhanh, người dân Việt Nam có xu hướng sử dụng dịch vụ di động thay vì các dịch vụ cố định và đặc biệt là trào lưu của giới trẻ thích được tiếp cận, sử dụng dịch vụ công nghệ mới Điều đó có nghĩa, các nhà cung cấp dịch vụ 3G đang có khá nhiều khách hàng tiềm năng, vấn đề còn lại đối với họ, đó

là hạ tầng cơ sở để vận hành công nghệ 3G và chăm sóc khách hàng

Theo lộ trình đã cam kết, 4 nhà mạng ngành viễn thông sẽ phải đầu tư rất lớn để mua sắm trang thiết bị, xây dựng các trạm thu phát phục vụ cho mạng 3G Ngoài ra,

họ cũng phải đối mặt với các vấn đề khác như: đào tạo nhân viên, chuẩn bị nguồn cung dịch vụ, giải pháp chăm sóc khách hàng Các chuyên gia nước ngoài tại cho rằng, hạ tầng cơ sở 3G là cần thiết và sẽ quyết định đến chất lượng cung cấp dịch

vụ Tuy nhiên, các chuyên gia cũng lưu ý rằng, việc đầu tư nên tiến hành từng bước,theo một chiến lược khôn ngoan thì mới có thể giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí đầu vào và hạ giá thành sản phẩm, dịch vụ 3G, mang lại lợi ích cho khách hàng

1.8 Hiện trạng ứng dụng 3G ở Việt Nam

Trang 16

Người tiêu dùng đang mong đợi nhiều hơn nữa những tiện ích của 3G như truy cập Internet di động và các dịch vụ đa phương tiện (tải nhạc, mobile tivi, tải phim, tải game, chơi game trực tuyến, sách điện tử, báo chí) và video (video call, họp truyền hình, MMS, video message, push mail), thanh toán di động

Khó khăn

Trong quá trình triển khai cấp phép 3G, Bộ Thông tin và Truyền thông đã yêu cầu rất rõ ràng với các doanh nghiệp là cần đi nhanh để có thể đuổi kịp các nước trong khu vực và trên thế giới bởi Việt Nam đã đi sau các nước tới 7-8 năm

Yêu cầu thứ 2 là vùng phủ sóng, phải đạt yêu cầu tối thiểu phải là 20% tại thời điểmcung cấp dịch vụ và không thấp hơn 70% sau 15 năm Yêu cầu nữa là tiêu chuẩn công nghệ, chất lượng dịch vụ Theo báo cáo của các doanh nghiệp, khi sử dụng dịch vụ mobile Internet, phần lớn người dùng bỏ dịch vụ là do chất lượng không bảo đảm chứ không phải vì nội dung

Để đáp ứng các yêu cầu này, áp lực của cạnh tranh sẽ đòi hỏi các doanh nghiệp phảichuẩn bị hạ tầng tốt, bởi khối lượng yêu cầu thực hiện rất nhiều

Ngoài ra, chuyển sang 3G cần môi trường Internet băng rộng trong khi các đường truyền cũ không đủ đáp ứng nên các doanh nghiệp sẽ phải nâng cấp đường truyền.Bên cạnh đó thiết bị đầu cuối 3G còn ít, giá máy còn cao hơn so với máy dùng côngnghệ 2G, thị trường băng rộng di động giá rẻ mới được khởi xướng nhưng mức giá thiết bị đầu cuối khoảng 200 USD/máy còn hạn chế sẽ là những rào cản không nhỏ với các nhà cung cấp dịch vụ

Nhưng khó khăn căn bản là cần phát triển nội dung số Điểm khác giữa 2G và 3G lànội dung trên nền tảng công nghệ mạnh Nếu vẫn chỉ quay lại với lướt web, với máyđầu cuối nhỏ cầm tay, sẽ chẳng thu hút nổi khách hàng Yêu cầu đặt ra là các nhà cung cấp dịch vụ nội dung cần chuyển nội dụng trên web hiện nay cho di động

Tất yếu và triển vọng

Thực tế là trong những năm qua, Việt Nam đã rất cố gắng đưa Internet băng rộng đến các gia đình, nhưng cố gắng này rất chậm, nhu cầu còn rất nhiều Duy trì tuyến cáp đồng đến từng khách hàng là khó khăn, chi phí cao Với 3G, đây là khả năng tăng cường độ phủ của Internet và giảm giá thành dịch vụ

3G cũng chính là giải pháp chia sẻ hữu hiệu lưu lượng hiện tại của 2G với băng tần 8MB của 2G hiện tại, giải quyết các khó khăn mà đa phần doanh nghiệp đang gặp phải trong vấn đề phát triển dung lượng để bổ sung nhu cầu

Ngược lại, đối với công nghệ 3G, thị trường Việt Nam đã và đang có sự tham gia khá phong phú của các thành phần tại thời điểm này, từ các đơn vị cung cấp chipset

Trang 17

đến các đơn vị cung cấp thiết bị cầm tay, thiết bị mạng đến các nhà cung cấp dịch

vụ Các thành phần nêu trên đều nỗ lực triển khai 3G, sẽ tạo nên giá thành người dân chấp nhận được, và đây cũng chính là cơ hội cho 3G phát triển mạnh ở Việt Nam

1.9 Kết luận chương 1

Mô hình công nghệ 3G là một mô hình hoàn toàn mới, có nhiều ưu điểm sovới các mô hình truyền thống 1G, 2G nhưng đồng thời cũng đối mặt với những khókhăn thách thức mới Công nghệ 3G đã được triển khai ở rất nhiều nước và đangphát triển rất mạnh mẽ và sôi nổi như một trào lưu mới, các công ty cung cấp dịch

vụ 3G đầu tư nghiên cứu và phát triển để nâng cao chất lượng dịch vụ của mình

Đặc điểm nổi bật của 3G chính là khả năng co giãn linh hoạt, sự tiện lợi vàgiảm tối đa cho người sử dụng thiết bị không dây, cung cấp mọi thứ dưới dạng dịch

vụ mạng di động

Tuy còn nhiều khó khăn đối với nhà cung cấp dịch vụ nhưng không thể phủnhận những lợi ích to lớn mà dịch vụ 3G mang lại

Trang 18

CHƯƠNG 2: CÁC ỨNG DỤNG VÀ DỊCH VỤ 3G

2.1 Giới thiệu

2.5 Kết luận chương 2

Trang 19

CHƯƠNG 3: DỊCH VỤ 3G CỦA VINAPHONE VÀ TRIỂN KHAI ỨNG DỤNG THỬ NGHIỆM TRÊN DỊCH VỤ VIDEO

CALL

3.1 Giới thiệu về dịch vụ 3G của Vinaphone

Dịch vụ Video Call

Khách hàng cần chú ý, khi thực hiện cuộc gọi phải chọn cuộc gọi là Video call thay

vì Voice call như cuộc gọi thông thường (ngầm định khi thực hiện gọi đi là cuộc gọithường) Không phải điện thoại 3G nào cũng hỗ trợ tính năng Video Call (cần có 1 camera phụ ở trước màn hình) kể cả iPhone 3G Trước hết, bạn kiểm tra máy có tiệních Video Call không bằng cách: Bấm chọn Option-> Call-> Video Call Riêng với một số dòng máy, cách thực hiện cuộc gọi có thể sẽ khác

Khi thực hiện kết nối Video Call thành công, trên màn hình sẽ có 2 cửa sổ hình ảnh hiện hình cả 2 người đang gọi để người gọi có thể biết hình ảnh mình sẽ hiện trên máy bên kia như thế nào Nhớ là phải bật camera để bên kia thấy được hình ảnh củamình Để kiểm tra máy có hỗ trợ Video Call hay không, từ màn hình chờ bấm số >>sau đó bấm Options, nếu máy có hỗ trợ sẽ xuất hiện lựa chọn là Video Call hoặc Call >> video call

Sử dụng Mobile Internet

Đây không phải là dịch vụ mới so với so với các hình thức mà các mạng di động GSM và CDMA đã cung cấp Điều cơ bản ở đây là 3G cho tốc độ vượt trội so với CDMA 2000 1x và EDGE Để truy cập Internet, chỉ cần bấm vào biểu tượng hình quả cầu WEB trên menu của máy Máy điện thoại sẽ được kết nối với Internet thôngqua mạng 3G hoặc mạng 2G của VinaPhone tuỳ thuộc theo vùng phủ sóng nơi bạn đang đứng và dịch vụ bạn đăng ký sử dụng

Sử dụng Mobile Broadband

Là dịch vụ truy cập Internet tốc độ cao từ máy tính thông qua các thiết bị hỗ trợ kết nối 3G như USB 3G Datacard, Netbook có khe cắm SIMCARD 3G hoặc 3G Wifi Modem do VinaPhone 3G cung cấp Dịch vụ truy cập Internet tốc độ cao rất phổ biến ở các nước phát triển do băng thông rộng có thể lên tới 14,4 Mbps và đặc biệt

là tính “di chuyển” so với các kết nối Internet “tĩnh” hiện tại như Wifi hay ADSL

Trang 20

Sắp tới VinaPhone tung ra thị trường các USB 3G Datacard (hay chính là modem) Còn hiện tại VinaPhone đã kết hợp với HP để tung ra sản phẩm Netbook HP Mini

có khe gắn SIM 3G của VinaPhone

Sử dụng Mobile TV

Là dịch vụ cho phép thuê bao VinaPhone có thể xem các kênh truyền hình trực tiếp (Live TV) và các nội dung thông tin theo yêu cầu (ca nhạc chọn lọc, phim truyện đặc sắc, video clip…) ngay trên màn hình máy điện thoại di động Vì điều kiện sử dụng buộc thuê bao phải đăng ký sử dụng dịch vụ Mobile Internet của VinaPhone,

có máy đầu cuối tương thích, cần cài đặt phần mềm Streaming Video như Real Player và đang ở trong vùng phủ sóng 3G Khi đó, thuê bao phải trả cước hai dịch

Sử dụng Mobile Camera

Là dịch vụ cho phép thuê bao VinaPhone có thể theo dõi trực tiếp ngay trên màn hình máy điện thoại di động các hình ảnh thu được từ các camera đặt tại các nút giao thông, điểm công cộng, nhà riêng, cửa hàng Hiện tại VinaPhone đã cung cấp ứng dụng đầu tiên đó là dich vụ Camera Giao thông - Traffic Camera Để sử dụng, khách hàng truy nhập vào wapsite dịch vụ http://camera.VinaPhone.com.vn và có thể lựa chọn các camera giao thông để xem (lựa chọn theo thành phố, theo khu vực, theo địa điểm) các hình ảnh trực tiếp từ các camera này

Cũng thủ thuật tương tự như Mobile TV, khi xem một điểm giao thông nào đó thường xuyên di chuyển tại đây, bạn nên thêm link vào theo dõi Lần sau sử dụng, bạn chỉ cần chọn Real Player > Streaming Links > chọn nút giao thông cần xem là

có thể theo dõi ngay và không cần vào trang wap Camera

Lưu ý khi sử dụng hai dịch vụ Mobile TV và Mobile Camera Vì liên quan tới chương trình Real Player, nên bạn phải thiết lập Access Point và port trước khi sử dụng Để kiểm tra máy có hỗ trợ Video Streaming hay không, từ máy di động dùng trình duyệt wap truy cập vào địa chỉ http://tv.vinaphone.com.vn/test nếu máy bật

Trang 21

tiện ích thì là máy hỗ trợ, nếu máy báo không đọc được định dạng này là máy không

Mobile TV có khả năng tiềm tàng để đáp ứng được thị trường hàng loạt.

Nhiều nhà khai thác đã đưa ra dịch vụ Mobile TV trên cơ sở thương mại thông qua mạng không dây của họ Quá trình triển khai đã cho thấy rằng số lượng người xem tivi thông qua điện thoại di động nhiều hơn dự đoán ban đầu Trong khi đó, số lượng đăng ký tham gia và số lượng các lưu lượng video còn khá thấp nên tránh được những vấn đề về mạng Tuy nhiên, với sự lựa chọn ngày càng nhiều về Mobile

TV, mạng sẽ trở nên bị tắc nghẽn Để khắc phục được vấn đề về công suất của mạng không dây, nhiều nhà khai thác trên toàn thế giới đã thực hiện một thử

nghiệm với mạng lưới truyền phát bổ sung Trong một mạng thu phát, một máy di động sẽ thu tín hiệu thẳng từ trên không Ở Nam Á, một số nhà khai thác đã đưa ra những dịch vụ thương mại dựa trên cơ sở này

Tuy nhiên, có một vấn đề, đó là việc thiếu sự đồng thuận về một tiêu chuẩn kỹ thuậttoàn cầu Nokia đã chon tiêu chuẩn DVB-H, trong khi đó Samsung dùng DMB Qualcomm đã phát triển tiêu chuẩn độc quyền MediaFLO của mình Ở Nhật Bản, tiêu chuẩn ISDB-T sẽ được sử dụng cho Mobile TV Khu vực Thái Bình Dương đang thúc đẩy công nghệ DMB, trong khi đó, tại Mỹ, cả MediaFLO và DVB-H sẽ lànhững tiêu chuẩn chính Trong hầu hết các nước Châu Âu, các nhà khai thác di động đang nhắm vào tiêu chuẩn DVB-H Một điều làm cho vấn đề này trở nên thêmphức tạp đó là việc không tiêu chuẩn nào kể trên tương tác với nhau

Mô hình kinh doanh cho Mobile TV cũng chưa rõ ràng Những ví dụ ban đầu về ngành cho thấy rằng việc hợp tác giữa các nhà khai thác, nhà đài và các bên phương

Trang 22

tiện truyền thông khác – bao gồm các nhà cung cấp về nội dung sẽ trở thành mô hình được lựa chọn nhiều nhất Dù mô hình có là gì đi chăng nữa, việc hợp tác giữa các ngành là cần thiết để kết hợp những điều tinh túy nhất của thế giới di động và thế giới ti vi lại với nhau trên cơ sở những thỏa thuận về phân chia lợi nhuận hợp lý.

Nó cho phép các bên thu được lợi nhuận từ dòng doanh thu bao gồm phí hòa mạng, lưu lượng thêm, dịch vụ đăng ký, nhắn tin và doanh thu download cho đến “m-commerce” (mua và bán những hàng hóa và dịch vụ thông qua các thiết bị không dây cầm tay) và quảng cáo Mô hình phân chia lợi nhuận, tuy nhiên, nó chưa được phát triển

Đổi mới hợp tác là không thể thiếu và tách biệt kẻ thắng với người thua

Đối với các nhà khai thác, Mobile TV đưa ra một cơ hội về thay đổi, giúp đẩy mạnhphát triển doanh thu, cải thiện việc sử dụng mạng và giảm thuê bao rời mạng Mobile TV được coi là đem lại tiềm năng về doanh thu bởi nó có sức hấp dẫn đối với nhiều loại khách hàng, không giống như những dịch vụ nội dung khác như trò chơi – vốn chỉ hấp dẫn với những nhóm khách hàng cụ thể, ví dụ như tầng lớp thanh thiếu niên Sự kết hợp giữa di động và một mạng lưới phát thanh truyền hình

bổ sung cho phép người sử dụng tương tác với nội dung, được coi là nhân tố chính thúc đẩy việc chọn và sử dụng TV di động Nếu không có các liên kết ngược mà nhà khai thác cung cấp cho các mạng di động, nhiều công nghệ và lợi nhuận kinh tế của mô hình thu phát này sẽ bị phủ nhận

Đối với khách hàng, Mobile TV có khả năng đưa ra những nội dung mới và có tínhcách mạng, nó sẽ mở rộng khái niệm giải trí sang một giới hạn mới về việc xem ti

vi Mobile TV cho phép người sử dụng cá nhân hóa những trải nghiệm xem bởi những nội dung phù hợp với thị hiếu của họ bất kể dù họ đang ở đâu, bất kể dù thời điểm nào; bước đầu tiên hướng tới TV cá nhân là một thiết bị đa năng (TV, máy tính, di động) và một môi trường mạng Các quốc gia Đông Nam Á đang đi đầu trong lĩnh vực Mobile TV và toàn bộ thế giới đang theo sau, bởi TV là một thứ hànghóa dễ bán đối với khách hàng Tuy nhiên, trước khi Mobile TV trở nên rộng khắp

và trở nên có thật, các nhà cung cấp viễn thông cần giải quyết những vấn đề chính sau đây :

- Nội dung : Phong phú, đúng đắn, phù hợp với thị hiếu của khách hàng chính

là tiêu chuẩn của sự lựa chọn

- Giá cả : Sự thành công của Mobile TV phụ thuộc vào việc khách hàng sẵn sàng trả tiền Việc định giá theo từng gói được khách hàng chấp nhận nhiều

Trang 23

hơn là định giá theo số lượng Phí phụ thêm có thể dựa trên việc trả tiền mỗi lần xem, xem clip và những hoạt động mua bán dựa trên định hướng tương tác.

- Sự thân thiên với người dùng : tất cả các bên tham gia đều thống nhất về vai trò của mình trong chuỗi giá trị Mobile TV, bao gồm cả việc lựa chọn ra một

mô hình chia sẻ lợi nhuận được các bên chấp nhận

- Quản lý bản quyền về kỹ thuật số : Các nhà cung cấp nội dung coi Mobile

TV như một kênh mới để kinh doanh nội dung của mình và muốn có được bản quyền về nội dung cũng như việc trả tiền để xem nội dung

- Tiêu chuẩn về kỹ thuật: Việc đồng tồn tại của một số tiêu chuẩn không tươngthích và vấn đề về việc phù hợp giữa các dải tần số, đặc biệt là ở Châu Âu vàChâu Á, là những vấn đề chính cần được khắc phục

3.2.2 Xây dựng tương lai cho Mobile TV

Các công ty truyền thông tìm kiếm cơ hội để khai thác nội dung của họ trên quy mô lớn

Mobile TV kết nối hai sản phẩm thu hút khách hàng nhất hiện tại, điện thoại di động và ti vi Theo như các thống kê đã chỉ ra, tivi đang trở nên thông dụng hơn bao giờ hết và sự thâm nhập của điện thoại di động là rất cao tại mỗi thị trường.Với sự thâm nhập của điện thoại di động vào mỗi thị trường hiện tại lớn hơn 80% ở rất nhiều quốc gia TV di động có khả năng thu hút với thị trường hàng loạt Vì lí donày, các nhà đài và nhà cung cấp nội dung đang ngày càng hứng thú với TV di động Nó cho phép họ tiếp cận với một thị trường chưa đươc khai thác với hơn 2 tỉ thuê bao điện thoại trên toàn thế giới Việc truyền tải nội dung mở rộng đến thiết bị

di động mở ra một kênh phân phối rộng hơn và có quy mô lợi nhuận cao hơn Thêmvào đó, điện thoại di động cho phép họ đa dạng hóa các dịch vụ với sự tương tác và

sự cá nhân hóa Ví dụ như, người xem có thể chat, bỏ phiếu hoặc tương tác trực tiếpvới chương trình TV Những sự lựa chọn khác bao gồm việc download những cảnh hậu trường đặc biệt, vé xem phim phục vụ tương tác trên cơ sở xem trước những bộphim mới nhất được xem trên điện thoại di động Mobile TV chính vì thế có tiềm năng về lợi nhuận cho các công ty truyền thông

Các nhà khai thác tìm kiếm cơ hội để tăng ARPU và giảm biến động

Các nhà khai thác di động đang ngày càng chủ động đối với TV di động Với việc lấp đường truyền internet di động/ không dây làm tăng nhu cầu về nội dung đa phương tiện và các dịch vụ dữ liệu di động khác, rất nhiều nhà khai thác đang đặt hyvọng vào một tương lai có nhiều lợi nhuận hơn của TV di động hơn là điện thoại di động với cameras Mặc dù xu hướng này đang diễn ra, điện thoại có gắn camera

Trang 24

không tạo ra nhiều giá trị cho các công ty viễn thông vì chúng không thúc đẩy được lưu lượng truyền thống Trong thực tế, những dự đoán của ngành cho rằng, những quan tâm về TV di động có thể sẽ lớn hơn tất cả những tiềm năng dịch vụ di động

đa phương tiện khác, bao gồm cả game và âm nhạc

Bên cạnh tiềm năng thúc đẩy lưu lượng dữ liệu truyền thống, TV di động cũng đónggóp một phần quan trọng vào chiến lược duy trì và sự trung thành của khách hàng các công ty viễn thông thông qua việc khách hàng lock – in Tuy nhiên, việc các nhàkhai thác thực hiện thành công cung cấp nội dung có chất lượng tốt, phù hợp với nhu cầu từng khách hàng đã khiến cho việc hợp tác với các nhà đài và các nhà sản xuất truyền thông trở thành một nhân tố thành công không thể thiếu Nhận thức được điều này, nhiều nhà khai thác đang bắt đầu việc mua lại trong thế giới truyền thông Ví dụ SK telecom là cổ đông chính ở công ty truyền thông Hàn Quốc

TUMedia và NTT DoCoMo gần đây đã thu mua cổ phiếu của Fuji Telivision Tại Châu Âu, H3G Italia đã thu mua Canal 7 , một kênh TV của Ý

3.2.3 Cung cấp truyền hình di động trên mạng di động

TV di động ngày nay còn thông dụng hơn dự đoán

Rất nhiều nhà khai thác đã cung cấp dịch vụ TV di động trên cơ sở thương mại Họ quan sát thấy rằng, nhiều người đang xem TV trên di động hơn dự đoán ban đầu Ở

Mỹ, mạng không dây Verizon cung cấp dịch vụ TV di động dưới thương hiệu Vcastthông qua mạng EV-Do Sprint cung cấp Sprint TV Live thông qua mạng EV-DO

và mạng PCS Và mạng không dây Cingular có dịch vụ TV di động thông qua mạngkhông dây EDGE của nó Cả Sprint và Cingular đều có những nội dung của họ lấy

từ Mobi TV, một công ty tập trung vào việc cung cấp nguồn dữ liệu và gửi chúng qua mạng di động

Ở Châu Âu, TV di động được cung cấp bởi những nhà khai thác như O2, Orange, T-Mobile và Vodafone Orange ở Pháp cung cấp hơn 50 kênh TV ở mạng UMTS của họ Vodafone đưa ra Mobile TV ở UMTS Vodafone live! ở 12 quốc gia Gần đây, Vodafone đã đưa ra các kênh di động toàn cầu ở các thị trường của nó như mộtphần mở rộng của chương trình TV nội địa Điểm chung của những dịch vụ thương mại là sóng được phát qua những mạng không dây Nó bao gồm nguồn video trực tuyến mà các nhà cung cấp tín hiệu truyền hình đến tất cả những người sử dụng thông qua mạng tại những dòng riêng biệt Điều này được biết đến như truyền thôngđơn hướng, nó có thể có thời gian thực hoặc thời gian không thực

Video trực tuyến có lợi thế làm việc qua những tiêu chuẩn di động khác nhau như GPRS/ EDGE và 3G Những lợi thế khác của nó, về nguyên tắc, là một con số không giới hạn các kênh truyền hình có thể được đưa ra phục vụ Cuối cùng, cách truyền hướng 2 chiều, chiều lên và chiều xuống, cho phép mức độ tương tác cao với

Trang 25

người sử dụng điện thoại, một số người tham gia coi đó là chìa khóa thúc đẩy sự lựachọn và sử dụng Nhìn chung, điều này đã cho các nhà khai thác nhiều cơ hội để tạo

ra thêm lợi nhuận Quả thật, nhiều nhà khai thác coi TV trên điện thoại di động là một trong những tác nhân quan trọng ảnh hưởng đến sự thành công của 3G

Sự phổ biến của TV di động thông qua mạng di động gây ra tắc nghẽn

Truyền thông đơn hướng sẽ làm tiêu tốn nhiều nguồn lực hơn khi việc sử dụng gia tăng Hiện tại, mạng 3G còn thừa nhiều Tuy nhiên, khi TV di động trở nên thông dụng và số người xem gia tăng, truyền thông đơn hướng sẽ trở nên bị quá tải và bị nghẽn Đây chắc chẵn sẽ là trường hợp phải đối mặt với tốc độ mạng 3G vào

khoảng 150 – 220kbps, nhưng thậm chí dù có tăng tốc độ lưu lượng đường truyền trong những năm tiếp theo của 3G đến tối đa 384 Kbps thì điều này cũng là chưa

đủ Với sự phát triển về công nghệ gói truy cập đường truyền tốc độ cao (HSDPA), việc truyền đi nhanh hơn có thể thực hiện được Tuy nhiên, với tốc độ lý thuyết rơi vào khoảng 14.4Mbps sẽ đủ ở những khu vực có nhiều người xem TV di động.Sáng kiến công nghệ khác để cải thiện dòng video thông qua mạng di động là dịch

vụ phát sóng đa phương tiện và công nghệ dịch vụ đa phương tiện (MBMS), công nghệ này được phát triển như một phần của 3GPP Realease 6 MBMS cho phép việc phát sóng thuận lợi thông qua UMTS, nhưng chỉ phù hợp cho một phần nhỏ chất lượng của dòng video thông qua 3 kênh TV

Thực tế là mạng 3G không dành cho TV thời gian thực Việc sử dụng một mạng có giới hạn công suất thấp để sử dụng mạng di động phát một dịch vụ phát đa phương

là hoàn toàn không thuận tiện, và cũng hoàn toàn không thuận tiện từ quan điểm tài chính Theo như Markus Lindquest, giám đốc Nokia về các dịch vụ truyền thông, một đoạn clip video dài 3 phút được chuyển đến 100000 người sử dụng thông qua mạng 3G hiện tại có thể mất tới 1,5 đến 2 ngày Thông qua mạng truyền thông, việctruyền tin tương tự chỉ mất có vài giây Trong một mạng truyền thông, một máy di động sẽ chọn tín hiệu trực tiếp từ thinh không, vì vậy, nhiều tuyến được thực hiện bởi những mạng truyền thông bổ sung, khắc phục vấn đề về công suất mạng di độngviễn thông sau khi bị nghẽn mạng

Ở Nam Hàn Quốc, hãng viễn thông SK đã quyết định phát triển truyền hình vệ tinh sau khi mạng trở nên nghẽn trong vòng 9 tháng phát hành các đoạn video Để cung cấp TV di động chất lượng DVD, SK đã lựa chọn tiêu chuẩn phát thanh truyền thông kỹ thuật số (DVB) Mặc dù các thiết bị di động nhận tín hiệu trực tiếp từ vệ tinh, nhà khai thác phải thiết lập một mạng riêng biệt của bộ lặp trong các đường hầm và đằng sau các tòa nhà để lấp đầy những khoảng trống bao quanh

3.2.4 TV phát sóng thông qua điện thoại di động

Cuộc chiến của những tiêu chuẩn

Trang 26

Trở ngại lớn nhất của việc phát sóng TV di động là sức tiêu thụ Việc triển khai thị trường hàng loạt sẽ phụ thuộc vào khả năng cung cấp ảnh TV mà không gây hại đếnthời gian sử dụng pin Đây là một trong những lý do chính cho việc phát triển các tiêu chuẩn TV kỹ thuật số mới có thể tích hợp với điện thoại di động Một vấn đề chính, đó là các bên hữu quan không thể đồng thuận về một tiêu chuẩn có tính toàn cầu.

Tiêu chuẩn DMB là phiên bản TV của tiêu chuẩn phát thanh kỹ thuật số Châu Âu (DAB) Khu vực Châu Á Thái Bình Dương đang phát triển công nghệ được hỗ trợ

cụ thể bởi Samsung Tiêu chuẩn này có thể được chia thành 2 phần công nghệ chính: Vệ tinh (S-DMB) và trên mặt đất (T-DMB) Trong năm 2005, truyền thông SK đã đưa ra dịch vụ TV thương mại đầu tiên dựa trên tiêu chuẩn S-DMB với 7 kênh, phí thuê bao tháng thu về là 13US/tháng Ở Nhật Bản, TV di động về tinh sử dụng DMB được cung cấp bởi tập đoàn truyền thông di động (MBCO) Tiêu chuẩn DAB/ DMB cũng được thử nghiệm ở rất nhiều quốc gia khác nhau tại Châu Âu Cụ thể là ở Anh và vùng Bayern của Đức

Sự phát triển chủ đạo của Nhật trong vấn đề xây dựng mạng phát thanh mặt đất dựa trên tiêu chuẩn dịch vụ tích hợp kỹ thuật số mặt đất (ISDB-T) ISDB-T là tiêu chuẩngiống như tiêu chuẩn đã được sử dụng ở Nhật Bản để đưa dịch vụ DTV đến từng nhà ISDB-T sẽ chỉ được dùng ở Nhật Bản Dịch vụ TV di động thương mại bắt đầu

từ ngày 1 tháng 4 năm 2006

Qualcomm ở Mỹ đã phát triển một tiêu chuẩn phát thanh độc quyền, MediaFLO, dựa trên công nghệ FLO (Forward link only) FLO là tiêu chuẩn độc quyền hoạt động trong phổ tần số 700MHZ Qualcomm đã thu được độc quyền trên toàn quốc

để sử dụng băng tần này MediaFLO của Qualcomm có thể phục vụ 20 kênh ở 30 khung hình mỗi giây MediaFLO sẽ được sử dụng chính ở Mỹ Nhà khai thác Nhật Bản KDDI vừa tuyên bố kế hoạch chạy đua với đối thủ hàng đầu NTT DoCoMo vớitiết lộ sẽ thiết lập một TV di động hợp tác với Qualcomm

Theo như Informa Telecom& Media, các tiêu chuẩn về thu phát video kỹ thuật số cầm tay sẽ là tiêu chuẩn thống lĩnh vào năm 2008, đạt được 74 triệu người dùng trêntoàn thế giới vào năm 2010, tương ứng với gần 60% người sử dụng TV di động DVB-H là phiên bản di động của DVB-T, với sức tiêu thụ giảm, do hậu quả của kế hoạch cắt thời gian ( nội dung được chuyển đến nhiều, cho phép người nhận xem trong 10% thời gian Về lý thuyết, nó có thể cung cấp 30 kênh TV và có tốc độ khung hình 25 khung hình mỗi giây, so với TV tiêu chuẩn Nokia đã thúc đẩy và ETSI đã tán thành hành động này Lợi thế chủ chốt cho DVB-H là nó có thể sử

Trang 27

dụng thông qua một số băng tần Nó cần một mạng riêng biệt của thiết bị phát sóng mặt đất, nhưng các máy phát có khả năng được định vị ở những địa điểm giống với cột ăng ten thu phát Gần đây Nokia đã hình thành liên minh, gọi là “ Liên minh DTV di động” với Intel, Modeo, Motorola, và Texas Instruments Gần đây,

Microsoft đã gia nhập liên minh này

Các hãng nghiên cứu đã dự đoán một tương lai sáng sủa cho TV di động

Mặc cho những tiêu chuẩn không tương thích, có rất nhiều điểm tích cực về việc

TV di động sẽ thực hiện được những hứa hẹn của nó dựa trên những công nghệ thu phát kỹ thuật số mới Như đã trình bày, việc này được hỗ trợ bởi hàng loạt các nghiên cứu dự báo về thị trường sẽ tăng từ 5 – 27 tỉ US trên toàn thế giới trong năm

2010 Ví dụ, Datamonitor đã đưa ra một dự đoán bảo thủ về sự thu hút của TV di động và dự đoán 69 tỉ thêu bao trên toàn thế giới vào năm 2009, tạo ra mức doanh thu khoảng 5.5 tỉ US

Frost & Sullivan dựa đoán một chiều hướng tương tự như thế Họ kỳ vọng lợi nhuận củaTV di động sẽ rơi vào khoảng 8.1 tỷ US vào năm 2011 Những nhà nghiên cứu khác thậm chí còn dự đoán nhiều hơn về số người sử dụng TV di động vào năm 2009/2011 Hãng nghiên cứu ABI, ví dụ, dự đoán thị trường sẽ đạt tới 27

tỷ US vào năm 2010, mặc dù cac dịch vụ sẽ rộng khắp hơn hệ sinh thái di động ngày này Nghiên cứu được tiến hành bởi Informa Telecom & Media dự đoán đến năm 2010, gần 125 triệu người trên toàn thế giới sẽ sở hữu một bộ cầm tay mà ở đó

TV có thể được xem Cuối cùng, hãng nghiên cứu Jupiter dự đoán đến năm 2010,

65 triệu người trên toàn thế giới sẽ sử dụng dịch vụ TV di động

Chuẩn bị cho sự cất cánh

U S Trận chung kết giữa Qualcomm và Modeo.

Việc thử nghiệm TV di động đang rộng khắp trên đất Mỹ, Châu Âu và Châu Á Ở

Mỹ, phổ tần đã được phân bổ và bán cho Qualcomm (70Mhz) và Crown Castle (1670 – 1675 Mhz) Cả hai bên đều đang làm việc trên cơ sở quốc gia về dự án mạng thu phát ở xấp xỉ 30 thị trường trên toàn bộ nước Mỹ Mạng MediaFLO của Qualcomm được vận hành bởi MediaFLo USA Mạng

Dvb-H được vận hành bởi Modeo, trước đây được biết đến với tư cách là Crown Castle Mobile Media Cả hai nhà khai thác thu phát mạng sẽ thầu bao dịch vụ của

họ cho các nhà khai thác mạng di động, sau đó sẽ cung cấp dịch vụ cho người xem Qualcomm có dự định triển khai mạng của họ vào tháng Mười năm 2006 Verizon Wireless, nhà cung cấp dịch vụ CDMA lớn nhất tại Mỹ sẽ là nhà khai thác mạng di

Trang 28

động đầu tiên sử dụng mạng MediaFLO Modeo, đang có ý định triển khai mạng ở Pittsburgh, có dự định triển khai dịch vụ vào giữa năm 2006 tại những thị trường được lựa chọn ở Mỹ, bao gồm New York Mạng Cingular, nhà cung cấp dịch vụ GSM lớn nhất của Mỹ, có thể là một trong những nhà khai thác sử dụng mạng DVB-H.

Các quốc gia Châu Âu đang chuẩn bị cho tương lai của DVB-H.

Tại hầu hết các quốc gia Châu Âu, các nhà khai thác di động đang sử dụng tiêu chuẩn DVB-H để đánh giá công nghệ, mô hình kinh doanh và sự ưu ái của khách hàng cũng như những cơ hội về lợi nhuân mới Ở Ý, tập đoàn truyền thông

Mediaset và Telecom Italia Mobile (TIM) vừa đạt được một thỏa thuận đưa ra nền tảng về nhà phát hành thương mại hàng đầu thế giới về TV kỹ thuật số mặt đất trên điện thoại sử dụng công nghệ DVB-H Tuy nhiên, 3 Italia, công ty con của

Hutchison Whampoa, cũng đang trong cuộc đua và có kế hoạch phát hành dịch vụ

TV di động DVB-H vào tháng Sáu Ý đang kỳ vọng là một mảnh đất màu mỡ cho công nghệ mới vì người Ý chiếm phần đông trong số những người yêu thích TV và

số những người sở hữu điện thoại di động Ở Berlin, Đức, bộ truyền phát DVB-H được đặt cố định trong không gian để kiểm tra các dịch vụ mới Đức muốn sẵn sang

để phát hành giải bóng đá thế giới 2006 trên các thiết bị di động

Có những hoạt động thử nghiệm diễn ra ở rất nhiều các quốc gia Châu Âu: Pháp ( Orange, Bouygues), Netherlands (KPN), Switzerland (Swisscom), Tây Ban

Nha( Telefonica Moviles) và Cộng Hòa Séc ( T-Mobile) Ở Anh, trong khu vực Oxford, 360 người sử dụng đang tham gia vào cuộc thử nghiệm DVB-H bởi O2, Nokia và Arqiva Ở Phần Lan, Nokia, Elisa, TeliaSonera, Digita, MTV, YLE và Nelonen đã triển khai kế hoạch về TV di động với 500 người sử dụng ở khu vực Helsinki Phần Lan đã trao giấy phép hoạt động đầu tiên để phát sóng chương trình

TV di động cho một tập đoàn truyền thông của Pháp TDF’s Digita unit – vốn có dựđịnh mở cửa dịch vụ thương mại ở các nước Bắc Âu trong nửa cuối năm 2006 Về tổng quan, sự thiếu thốn quang phổ ở các nước Châu Âu và sự chậm trễ trong quá trình phân bổ băng tần có thể hạn chế nghiêm trọng sự phát triển của dịch vụ TV di động ở đó Thêm vào đó, còn tồn tại câu hỏi về vấn đề liệu phân bổ có hài hòa giữa các quốc gia khác nhau hay không

Anh sẵn sàng là nhà cung cấp TV di động đầu tiên ở EU

Mặc dù nhà khai thác TIM và 3 Italia của Ý đang cạnh tranh để trở thành nhà khai thác đầu tiên cung cấp dịch vụ thương mại TV di động DVB-H, khách hàng của

Trang 29

Virgin Mobile ở Anh sẽ có thể trở thành những người đầu tiên được xem chương trình TV thật sự trên điện thoại hỗ trợ DAB, dựa trên dịch vụ BT’s Movio.

Mở rộng chân trời sáng tạo

Nghiên cứu IBM CEO 2006 chỉ ra rằng sự sáng tạo trong mô hình kinh doanh và nhân tố khác biệt mang tính chiến lược mới và việc mở rộng hợp tác là điều không thể thiếu Nghiên cứu bao gồm hàng trăm cuộc phỏng vấn điện thoại trực tiếp với

765 CEO toàn cầu, trong đó có nhiều nhà khai thác và công ty truyền thông Ngoài bất kỳ yếu tố nào khác, sự hợp tác đã chứng minh mối tương quan rõ ràng với hoạt động tài chính Bất kể ma trận tài chính – lợi nhuận tăng, tăng trưởng biên hoạt động hay lợi nhuận bình quân tăng Sự hợp tác mạnh mẽ chiếm vị trí hàng đầu

Kết nối các giá trị tốt nhất của cả hai thế giới

Những cải tiến về mô hình kinh doanh sẽ là nhân sự khác biệt chiến lược

Việc mô hình kinh doanh sẽ phát triển như thế nào là một điều chưa rõ rang Một

số nhà khai thác có thể quyết định dấn thân vào thế giới truyền thông SK Telecom, NTT DoCoMo và 3 Italia đã có những bước đầu trong định hướng này Mặt khác, một số công ty truyền thông có ý định trở thành các nhà khai thác mạng ảo di động (MVNOs) Walt Disney có lẽ là một ví dụ như thế, tạo ra một kênh trực tiếp cho danh mục lớn các bộ phim, TV game và hình ảnh và cũng thông qua MVNO – thương hiệu điện thoại di động của mình BSkyB, đài truyền hình vệ tinh trả tiền của Anh đã cung cấp dịch vụ TV di động thông qua mạng 3G của Vodafone, gần đây đã mua nhà cung cấp dịch vụ băng thâu rộng Easynet, đây có thể được coi là bước đầu tiên theo định hướng này Việc sát nhập giữa Virgin Mobile với công ty cáp NTL cũng có thể được coi là một phản ứng có tính logic, sự sát nhập này tạo ra một cuộc chơi gồm 4 bên : di động, dây cố định, băng thâu rộng và dịch vụ TV dướinhãn hiệu Virgin

Tuy nhiên, về tổng quan, các mô hình kinh doanh có tính sáng tạo mà ở đó các nhà khai thác, nhà đài và các công ty truyền thông làm việc chặt chẽ cùng nhau là mô hình có nhiều tiềm năng để thành công nhất Nghiê cứu IBM CEO 2006 cho thấy rằng những đổi mới về mô hình kinh doanh và hợp tác là thành phần chính để khác biệt hóa các tổ chức trong một môi trường cạnh tranh cao Trong thực tế, điểm chính quan trọng trong nghiên cứu chính là việc hợp tác một cách sáng tạo sẽ phân chia rạch ròi kẻ thắng người thua

Trang 30

Đối tác giữa các nhà khai thác, nhà đài và các nhà cung cấp nội dung và các công tytruyền thông chính là một phương thức logic để kết hợp thế giới di động và TV lại gần nhau.

Các nhà khai thác mạng có một cơ sở thuê bao lớn và phương thức để đảm bảo sự tương tác cá nhân, nhưng họ tìm kiếm cách để tăng ARPU và giảm thiểu biến động Dịch vụ TV di động bổ sung 2.5/3G với khả năng phát sóng môt – đến – nhiều cho phép nhà khai thác thúc đẩy xa hơn mối quan hệ với khách hàng Các nhà khai thác

có ít kinh nghiệm về chất lượng nội dung mà chỉ có thế giới truyền thông mới có thểcung cấp Làm việc với các nhà đài sẽ cho phép họ đưa ra được nhiều chương trình đặc sắc, mang lại cơ hội khác biệt hóa thương hiệu

Các nhà đài có nội dung phong phú và một kênh phát sóng hiệu quả, nhưng đang tìm kiếm các cách để phân phối nội dung có giá trị trên diện rộng, cũng như làm phong phú thêm cho dịch vụ của họ với những hoạt động tương tác và cá nhân hóa.TV di động cung cấp một cơ sở để mang truyền hình phát sóng vào bất cứ nơi đâu bên ngoài nhà bạn Nó mở rộng việc kinh doanh truyềnthông vào phong cách sống di động của những người xem Nó tạo ra thêm nhiều người xem để đón nhận giải trí truyền hình và thông tin trong thời gian mới : khoảng thời gian di chuyển và thời gian nghỉ trưa TV di động là một cơ hội có thật cho các nhà đài để xây dựng một lượng khán giả di động đặc trưng cho chương trình hay nhãn hiệu của họ

Từ quan điểm của mô hình kinh doanh, các nhà cung cấp nội dung coi TV di động như một kênh phân phối thêm để mở rộng sự tiếp cận của họ Việc trả tiền cho nội dung, thỏa thuận phân chia lợi nhuận cũng như quản trị về quyền kỹ thuật số là rất quan trọng để thu hút sự chú ý của các nhà cung cấp nội dung DRM liên quan đến việc cung cấp các nội dung kỹ thuật số được đảm bảo và được hạch toán kỹ thông qua mạng IP, giúp xác định rõ quyền sử dụng và cấm việc sử dụng hay các đường truyền không được cho phép DRM bao gồm nọi dung chủ chốt liên quan đến nội dung quan trọng, ví dụ như số lần một phần nội dung cụ thể nào đó có thể được xemcho dù nội dung có thể được chia sẻ với các thiết bị khác, ngày nội dung hết hạn, giữa những khó khăn khác, cũng như việc cho phép khách hàng xem nội dung trướckhi mua Đưa ra các điều kiện truy cập( chỉ những ai trả tiền mới được sử dụng nó) không phải là vấn đề thử nghiệm

Tích hợp mạng di động và mạng lưới truyền hình tương tác

Sự kết hợp giữa di động và một mạng phủ sóng cho phép sự tương tác của người sử dụng, đây được coi là chìa khóa cho sự phát triển về sau và cần thiết cho các nhà

Trang 31

khai thác di động để tạo ra doanh thu từ mạng di động của họ Điều này có thể đượcthực hiện thông qua mô hình song song, cả nhà đài và nhà khai thác sẽ có thể gửi các tín hiệu đến người sử dụng di động với một kênh trở lại Thay vào đó, một mô hình tích hợp có thể sử dụng, trong đó nhà khai thác chịu trách nhiệm gửi cả mạng

và phát tín hiệu cho các thuê bao của mình và nhận nội dung từ nhà đìa, nhà cung cấp nội dung, người tập hợp nội dung hoặc các bên truyền thông khác

Mô hình phân chia lợi nhuận như thế nào vẫn chưa rõ ràng, nó sẽ có thể dựa trên sự kết hợp về phí thuê bao, sử dụng mạng, doanh thu quảng cáo và doanh thu

download Nhưng rõ ràng là việc hợp tác giữa các nhà khai thác, nhà đài và nhà sản xuất truyền thông, nhà quảng cáo và người bán lẻ đều có lợi Các công ty viễn thông

sẽ có lợi từ các thuê bao dịch vụ, lưu lượng truy cập, các tin nhắn ( doanh thu SMS/ MMS từ việc người bỏ phiếu của người xem và từ những cuộc khảo sát người sử dụng), doanh thu download ( về những clip được yêu cầu) và m-commerce ( ví dụ như mua dữ liệu và các dịch vụ dựa trên web) thông qua kênh trở lại mạng lưới của

họ Đối với các bên truyền thông, có thêm dòng lợi nhuận mới từ phí truy cập ( dành cho các kênh, nội dung căn bản hay các gói nâng cao), dịch vụ thuê bao truyền hình trả tiền ( kênh chất lượng cao và kênh xem trả tiền) và quảng cáo Quảng cáo sẽ là một nguồn lợi nhuận mà sự lựa chọn của đông đảo người dùng mang lại

TV di động mang lại cơ hội để khác biệt hóa, làm giảm sự biến động

Tv di động được coi là có tiềm năng tốt về doanh thu cho các nhà khai thác di động bởi nó có sức hút với số đông, không giống như các dịch vụ nội dung khác như game, chỉ hấp dẫn với những nhóm sử dụng nhất định, ví dụ như giới trẻ Về tổng quan, TV di động mang lại rất nhiều cơ hội cho các nhà khai thác di động :

- Môt dịch vụ mới dễ dàng định vị với kịch bản sử dụng dễ dàng và vì vậy có tiềm năng tăng doanh thu trên từng đơn vị sử dụng

- Một dịch vụ bổ sung cho các dịch vụ hiện tại với 2.5/3G với khả năng phát sóng từ một – đến – nhiều, cho phép các gói dịch vụ mới và tăng cường mối quan hệ với khách hàng

- Phạm vi tương tác thông qua các kênh trở lại mang đến các tiềm năng mới vềdoanh thu, thông qua dịch vụ, như bỏ phiếu, tán gẫu, mua bán và các dịch vụ

số liệu cũng như các dịch vụ trên cơ sở Web sử dụng di động

- Phạm vi để cải thiện việc sử dụng mạng thông qua lưu lượng thêm qua các kênh trở lại ( ví dụ như clip được yeu cầu)

- Phụ thuộc vào mối quan hệ hợp tác kinh doanh ( và dòng doanh thu) thông qua nhu cầu thanh toán và nâng cấp hệ thống thương mại điện tử

Trang 32

- Cơ hội đưa ra các kênh chương trình đặc sắc cho phép khác biệt hóa thương hiệu.

Tv di động cung cấp một trải nghiệm mới về chương trình TV có chất lượng cao

và có tính năng tương tác mà có thể giúp cải thiện sự trung thành của khách hàng Các nhà khai thác có thể tập trung vào việc khác biệt hóa xung quanh các nội dung độc quyền, các thương hiệu có uy tín và các chương trình cá nhân hóa Hợp đồng độc quyền với các nhà cung cấp nội dung cung cấp cho khách hàng xem trước và những dịch vụ tương tác thêm – ví dụ như nhạc chuông và game – là những ví dụ chủ cốt Nhà khai thác cũng có thể giới thiệu sự lựa chọn xem đến đâu trả tiền đến

đó với các nội dung độc quyền như với các bộ phim hoặc phần giới thiệu trước về các chương trình TV được ưa thích Một ví dụ cho việc hợp tác độc quyền chính là giữa KPN và Endemol Họ cùng nhau thành lập một công ty giải trí lớn nhất Châu Âu

Nhà khai thác đóng vai trò quan tọng trong việc đưa TV di động trở nên khả thi Như đã tuyên bố, họ cung cấp các đường link cần thiết để cho phép sự tương tác Thứ hai, các nhà khai thác di động đã có sẵn công nghệ để cho phép những người

sử dụng sử dụng dịch vụ Thứ ba, trong hầu hết các thị trường di động lớn ngày nay,các nhà khai thác đã là những nhà phân phối các kênh cho bộ cầm tay

Sự lựa chọn của khách hàng quyết định sự thành công hay thất bại của TV di động.

Những thử nghiệm về người sử dụng gần đây cho thấy nhu cầu lớn về TV di động

Những nghiên cứu gần đây và các dịch vụ thương mại về TV di động cho thấy rằngnhu cầu về TV di động ngày càng cao hơn dự đoán ban đầu Ví dụ, trong cuộc khảo sát của Siemens về 5300 người sử dụng di động ở 8 quôc gia ( Mỹ, Canada, Brazil, Đức, Ý, Nga, Trung Quốc và Nam Hàn),59% trong số đó có nhu cầu với TV di động Kết quả của cuộc thử nghiệm gần đây của DVB-H và BT Movio cho thấy người sử dụng rõ ràng có nhu cầu về TV di động

Kết quả tạm thời từ cuộc nghiên cứu tại Oxford, Anh cho thấy rằng 83% số người tham gia hài lòng với dịch vụ Tv di động, 76% nói họ sẽ dùng trong vòng 12 tháng phát hành Ở Pháp, 68% nói họ sẽ trả tiền cho dịch vụ TV di động, trong khi đó 55% ở Tây Ban Nha sẵn sàng làm vậy Gần 75%người Tây Ban Nha tham gia sẽ giới thiệu dịch vụ cho bạn bè và gia đình mình

Trang 33

Trên tất cả, sự thành công của TV di động phục thuộc vào sự lựa chọn của khách hàng TV di động cung cấp cho khách hàng những dịch vụ mới được yêu thích, các dịch vụ ày còn dễ hiểu và có những cơ hội sử dụng rõ ràng Nhưng khách hàng sẽ chỉ sẵn sàng trả tiền choTv di động nếu họ cảm thấy hài lòng với nội dung, giá cả và sự thân thiện khi sử dụng Những cuộc điều tra và thử nghiêm đã chỉ ra những điểm quan trọng này trong vấn đề này.

Khách hàng muốn nội dung đúng lúc

Chìa khóa đến thành công chính là việc các nội dung có sẵn vào những thời điểm cần thiết Cuộc thử nghiệm đã xác định những trường hợp sau khách hàng muốn xem Tv di động :

- Thời gian rảnh rỗi : xem trong thời gian rảnh rỗi, ví dụ như khi đang chờ xe, chờ tàu điện hay chờ máy bay

- Phải xem : Khi mọi người không muốn bỏ lỡ chương trình yêu thích dù họ đang không ở nhà

- Bắt kịp : Trong trường hợp mà mọi người muốn nghe tin, trong suốt tai nạn

nổ bom ở tàu điện ngầm ở London vào năm 2005, mọi người thấy rằng họ cóthể theo dõi tin tức trên điện thọa vào bất cứ lúc nào

- Một sự “tẩu thoát” nhanh : Orange đã quan sát 36% người sử dụng TV di động xem TV di động 3G vào thời gian ăn trưa của họ

- Cơ sở TV/Radio : Rất nhiều người sử dụng TV hay radio như một nền tảng tại công việc của họ

Kết quả của cuộc thử nghiệm tại Helsinki – Phần Lan được thể hiện trong

Kết quả từ Anh cho thấy rằng thời điểm ăn trưa lượng truy cập tăng nhanh hơn so với thời điểm khác, cho thấy rằng, người xem đang thưởng thức nội dung TV yêu thích của mình trong suốt thời gian nghỉ trưa Ở Pháp, những người tham gia xem

Tv trung bình 20 phút mỗi ngày vào buổi sáng, giờ nghỉ trưa và giữa buổi tối – đây

là thời điểm xem nhiều nhất Nghiên cứu ởTây Ban Nha cũng cho thấy việc xem

TV tăng trong ngày trong đó buổi sáng sơm là cao nhất

Trong cuộc thử nghiệm của Finnish, một người xem bình thường xem 30 phút về giải trí, thể thao và các nội dung tin tức phổ biến Kết quả tạm thời của O2 ở Oxfordcho thấy người sử dụng xem trung bình 23 phút cho mỗi phần với từ 1- 2 phần mỗi ngày Về tổng quan, những người tham gia cuộc thử nghiệm xem trung bình 3 tiếng mỗi tuần, với những nhóm nhiệt tình, xem đến 5 tiếng mỗi tuần

Người sử dụng muốn nội dung chính xác

Trang 34

TV di động đang ở ngã ba đường giữa hai xu hướng xã hội mạnh mẽ : tính di động nhiều hơn và cách thức mới để truy cập nội dung truyền thông Nội dung chương trình tất nhiễn sẽ là chìa khóa cho sự thành công của Tv di động và các dịch vụ video Tv di động không hoàn toàn là

TV truyền thống trên màn hình nhỏ, nó cũng không phải là phần thay thế cho TV truyền thống, thay vào đó nó sẽ bổ sung, không thay thế hoàn toàn Sự ra mắt của

TV di động sẽ mang lại truyền hình không biên giới

TV di động có tiềm năng để mang lại những nội dung mới, có tính cách mạng, điều này sẽ mở rộng khái niệm giải trí hơn là mở rộng cách mà Tv truyền thống được xem Thêm vào đó, nếu nhà cung cấp nội dung tận dụng cơ hội mang lại TV di động, những tác động dài hạn đối với Tv truyền thống sẽ rất quan trọng bởi nhu cầungười sử dụng sẽ thay đổi và phát triển TV di động mang lại cấp độ cao nhất về sự

cá nhân hóa và sự lựa chọn rộng rãi nhất về các chương trình được yêu thích Người sử dụng có thể kỳ vọng nhiều sự lựa chọn hơn và những hoạt động cá nhân.Người xem TV trong khi di chuyển sẽ có thể thưởng thức chương trình trong từng đoạn ngắn Cập nhật tin tức, điêm tin các sự kiện thể thao và các clip ca nhạc đang triển khai khá tốt Phương thức tiếp cận “ Big Brother” đã được chứng minh là một

mô hình thành công, nơi mà người xem có cơ hội xem phía sau màn hình, điều này

TV dành cho công chúng không làm được Việc tạo ra những chương trình TV dànhriêng cho điện thoại di động, thường ở dạng clip, rất hấp dẫn Và hiện đang có tiềmnăng cho những phần nội dung độc đáo, dành riêng cho điện thoại di động bởi Endemol đang tập trung vào phần này Lợi ích lớn nhất được tìm thấy trong các hoạt động tương tác thêm với chương trình TV, như bỏ phiếu, nghiên cứu người sử dụng, cung cấp thêm những thông tin về chương trình, tán gẫu, bán hàng, vé và download theo yêu cầu

Phát sóng truyền hình dành cho điện thoại di động có thể là một dịch vụ mới có sức hút, có thể cho phép người sử dụng cá nhân hóa bộ di động cầm tay của mình để họ

có cảm giác họ luôn có những nội dung yêu thích của mình Trên thực tế, có một xuhướng hướng tới “ TV cá nhân” và bổ sung các nội dung truyền hình kỹ thuật số phát sóng trực tiếp đến người sử dụng điện thoại di động, đây là một phần lớn của viễn cảnh này Tv di động sẽ hấp dẫn đối với một số nhóm nhân khẩu học hơn là đối với những người khác Nhưng, vượt ra ngoài các dịch vụ như game, một trong những khía cạnh hấp dẫn của TV di động là tiềm năng của nó trong việc thu hút nhân khẩu học của thị trường hàng loạt Tv di động sẽ có thể hấp dẫn được thanh niên, những nhóm đối tượng mục tiêu và những người sớm sử dụng các dịch vụ nội dung Những ngườ “lớn tuổi” (độ tuổi từ 30 -40) cũng thể hiện sự quan tâm, theo như nghiên cứu gần đây được tiến hành bởi Siemens và Nokia

Trang 35

- Tính giá theo lưu lượng dùng: Dựa trên một trong những sự lựa chọn sau : tổng số phút sử dụng, sử dụng tương ứng với tỉ lệ sử dụng mạng, hoặc nếu cóthể bằng cách đăng ký các chương trình cá nhân Kế hoạch tính giá theo lưu lượng dùng khó có thể là được chấp nhận bởi nó có thể cản trở sự sử dụng rộng rãi của dịch vụ mới này.

Các dịch vụ bổ sung và các loại phí sẽ được xây dựng dựa trên tỉ giá thấp nhất và cấu trúc tính theo lưu lượng :

- Phải trả cho các dịch vụ xem cho các sự kiện nhóm

- Các chương trình lựa chọn clip, ví dụ như một kênh làm vườn

- Chương applet thời gian thực, ví dụ như đồng hồ bấm giây trong thể thao hoặc băng điện báo giao dịch tài chính

- Các game và ứng dụng được triển khai thường xuyên về các loại hình dịch

vụ theo tuần

Bên cạnh đó, còn có cách tính giá cho các hoạt động mua mang tính tương tác như nhạc chuông, màn hình nền, các phần như bài hát, video và nội dung liên quan đến các mặt hàng có thật( DVDs, vé xem phim, đồ chơi và những thứ tương tự)

Các nghiên cứu và cuộc thử nghiệm khác nhau chỉ ra sự sẵn sàng chi trả của người

sử dụng

Một cuộc nghiên cứu gồm 3600 người sử dụng Na Uy bởi mạng TV NRK chỉ ra rằng hơn một nửa mong muốn tính phí theo thuê bao tháng, trong khi đó phần còn lại được chia ra một nửa muốn tính phí theo phút hoặc trả tiền theo chương trình hoặc clip Kết quả tạm thời từ cuộc thử nghieemjc ủa Nokia tại Phần Lan, Anh, Tây

Trang 36

Ban Nha và Pháp cho thấy khoản phí tính theo tháng chấp nhận được là từ 5€ đến 10€ Trong cuộc thử nghiệm của Finnish, 41 % người sử dụng cmar thấy 10€ một tháng là một mức giá phù hợp, trong đó ở Pháp, 68% sẵn sàng trả 7€ mỗi tháng cho dịch vụ Tv di động Và cuộc thử nghiệm của BT Movio cho thấy rằng khách hàng sẵn sàng trả 11.5€ mỗi tháng.

Ngoài ra, giá cho các thiết bị cầm tay cũng khá quan trọng Điện thoại có khả năng phát sóng đầu tiên sẽ rơi vào khoảng 500, vượt ra ngoài phương tiện của của một người thuê bao bình thường Để khắc phục vấn đề này, nhà khai thác có thể quyết định phụ cấp phần thiết bị cầm tay

Khách hàng muốn các thiết bị dễ sử dụng

Tất cả các nhà chế tạo thiết bị cầm tay đang khá lạc quan về sự thành công của TV

di động DMB- cầm tay vốn hỗ trợ các dịch vụ TV di động thương mại đã có sẵn ở Nam Á, có thể kể đến ở đây như nhà sản xuất thiết bị cầm tay Samsung và LG Nokia đã phát triển ra N92, điện thoại di động đầu tiên với bộ thu sóng truyền hình DVB-H ở bên trong Và Sharp là một trong những nhà sản xuất thiết bị đã đầu tư vào MediaFLO Hầu hết tất cả các nhà cung cấp thiết bị cầm tay đã phát triển các thiết bị TV di động hoặc các nguyên mẫu có khả năng hỗ trợ một hoặc nhiều tiêu chuẩn

Tuy nhiên, trước khi sự phổ biến của TV di động trở thành sự thật, rất nhiều vấn đề

về thiết bị cầm tay cần phải được giải quyết, cụ thể là vấn đề giao diện thân thiện với người sử dụng :

- Nguồn : Sự giảm sút trong vòng đời của pin là không thể chấp nhận được vớingười sử dụng Những tiêu chuẩn kỹ thuật mới trong việc thu phát di động cóthể làm giảm mức tiêu tốn pin nguồn xuống còn 10 lần, thêm vào đó, những tiến bộ trong các quy trình công nghệ bán dẫn sẽ cải thiện vấn đề tiêu tốn nguồn này

- Vấn đề về hình mẫu : Người sử dụng quen với những thiết bị nhỏ và sẽ không dễ dàng chấp nhận những thứ lớn hơn Dụng cụ chỉnh, bộ giải điều chế/giải mã và các chip bán dẫn phụ thêm cần phải được tích hợp với những giới hạn “ bất động sản”

Ngày đăng: 21/08/2013, 23:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[5] Công ty hệ thống thông tin FPT (2011), Tạp chí FIS Link, (9), 4-17 [6] Google App Engine, http://code.google.com/appengine/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí FIS Link
Tác giả: Công ty hệ thống thông tin FPT
Năm: 2011
[10] Ian Foster, Yong Zhao, Ioan Raicu, Shiyong Lu, Cloud Computing and Grid Computing 360-Degree Compared (2008), Grid Computing Environments Workshop Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cloud Computing and Grid Computing 360-Degree Compared
Tác giả: Ian Foster, Yong Zhao, Ioan Raicu, Shiyong Lu, Cloud Computing and Grid Computing 360-Degree Compared
Năm: 2008
[11] Introduction to Cloud computing White paper (June 2009), Sun Microsystems Sách, tạp chí
Tiêu đề: Introduction to Cloud computing White paper (June 2009)
[13] Jinesh Varia, Architecting for the Cloud: Best Practices (May 2010), Amazon Sách, tạp chí
Tiêu đề: Architecting for the Cloud: Best Practices (May 2010)
[14] John W. Rittinghouse, James F. Ransome, Cloud Computing Implementation, Management and Security (2010), CRC Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cloud Computing Implementation, Management and Security
Tác giả: John W. Rittinghouse, James F. Ransome, Cloud Computing Implementation, Management and Security
Năm: 2010
[16] Lewis Cunningham, Cloud Computing with Amazon and Oracle (2008) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cloud Computing with Amazon and Oracle
[18] Security Best Practices (January 2010), Amazon Sách, tạp chí
Tiêu đề: Security Best Practices
[1] Amazon Web Service, http://aws.amazon.com/ Link
[2] Amazon Web Service EC2, http://aws.amazon.com/ec2/ Link
[3] Amazon Web Service S3, http://aws.amazon.com/S3/ Link
[4] Amazon Web Service Cloudfront, http://aws.amazon.com/Cloudfront/ Link
[7] IBM, http://www.ibm.com/developerworks/vn/library/ar-cloudaws3/index.html Link
[8] INST, http://www.nist.gov/itl/cloud/index.cfm[9]IDC, http://www.idc.com/prodserv/idc_cloud.jsp Link
[15] PCWorld Vietnam, http://www.pcworld.com.vn/ Link
[17] SaleForce Cloud Computing, http://www.salesforce.com/cloudcomputing/ Link
[12] Jurg van Vliet, Flavia Paganelli (2011), Programming Amazon EC2 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 33: Trang chủ ứng dụng Demo - NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH DỊCH VỤ TRÊN MẠNG DI ĐỘNG 3G,CÀI ĐẶT THỬ NGHIỆM
Hình 33 Trang chủ ứng dụng Demo (Trang 67)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w