Hôm nay, nhân kỷ niệm 1470 năm 542-2012, ngày Cuộc khởi nghĩa Lý Bíbùng nổ, UBND tỉnh Thái Nguyên, UBND huyện Phổ Yên phối hợp với Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, tổ chức Hội thảo khoa họ
Trang 1MỤC LỤC
Trang
1 Nhà sử học Dương Trung Quốc – Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội
Khoa học Lịch sử Việt Nam: Phát biểu khai mạc Hội thảo……… 2
2 Phát biểu chào mừng Hội thảo khoa học của Đồng chí thay mặt Lãnh
3 GS.NGND Đinh Xuân Lâm – Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt
4 PGS.TS Nguyễn Minh Tường – Viện Sử học: Vị trí của Vương triều
Tiền Lý trong tiến trình lịch sử Việt Nam……… 11
5 PGS.TS Lê Đình Sỹ - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam: Sự nghiệp đánh
giặc ngoại xâm của Lý Bí……… 21
6 Minh Tú – Phòng Văn hóa - Thể thao và Du lịch huyện Hoài Đức - Hà
Nội: Đã phát hiện được dấu tích “Đại bản doanh Lý Nam Đế” ở Lưu Xá
(huyện Hoài Đức - Hà Nội)………. 30
7 PGS TS Nguyễn Đức Nhuệ – Viện Sử học: Vài nét về tổ chức quan lại
của triều đình nhà Tiền Lý và sự thành lập nước Vạn Xuân……… 33
8 PGS.TS Nguyễn Minh Tường – Viện Sử học: Vấn đề quê hương Lý
Nam Đế - Một nghi án lịch sử cần được làm sáng tỏ………. 41
9 Ths Nguyễn Văn Khoa – Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy – Chủ tịch
HĐND huyện Phổ Yên – Thái Nguyên: Vài nét về huyện Phổ Yên trong
lịch sử và tấm lòng của Đảng bộ, nhân dân các dân tộc trong huyện với
việc xác định quê hương vua Lý Nam Đế……… 63
10 Nhà sử họcPhạm Văn Kính – Viện Sử học: Về mối quan hệ giữa chùa
Bảo Phúc (Hoài Đức, Hà Nội) với chốn Tổ: chùa Hương Ấp (Phổ Yên,
11 PGS.TS Tạ Ngọc Liễn – Viện Sử học: Một số khác biệt giữa sử gia Việt
Nam và sử gia Trung Quốc khi viết về Lý Nam Đế………. 85
12 PGS.TS Nguyễn Danh Phiệt – Viện Sử học: Cuộc xâm lược nước Vạn
Xuân của nhà Tùy……… 90
13 PGS.TS Nguyễn Tá Nhí – Viện Nghiên cứu Hán Nôm: Tìm hiểu sự tích
Lý Nam Đế qua các câu đối thờ ở đền Giang Xá……… 93
14 TS Nguyễn Hữu Tâm – Viện Sử học: Thư tịch cổ Trung Quốc viết về Lý
Bí và cuộc khởi nghĩa do Lý Bí lãnh đạo………. 102
15 Nhà sử học Phạm Văn Kính – Viện Sử học: Thử xác định vị trí điện Vạn
Xuân của Vương triều Tiền Lý……… 110
16 PGS.TS Đinh Khắc Thuân – Viện Nghiên cứu Hán Nôm: Văn bản Thần
tích “Việt Thường thị Tiền Lý Nam Đế Ngọc phả cổ truyền”……… 115
Trang 217 Nguyễn Hữu Khánh – Phổ Yên – Thái Nguyên: Về quê hương của vua
18 PGS.TS Nguyễn Thị Phương Chi – Viện Sử học: Thông qua việc người
dân Phổ Yên tri ân đối với Lý Nam Đế - Suy nghĩ về vấn đề quê gốc của
19 Nhà nghiên cứu Vũ Kim Biên – TP Việt Trì – Phú Thọ: Về vị trí hồ
Điển Triệt và động Khuất Lão trong kháng chiến chống quân Lương…… 135
20 Nguyễn Đình Hưng – Sở Văn hóa, Thể thao và Du tịch tỉnh Thái
Nguyên: Tư liệu Hán Nôm ở các di tích huyện Hoài Đức (Hà Nội) viết về
quê hương Lý Nam Đế………. 148
21 TS Trương Thị Yến – Viện Sử học: Cuộc kháng chiến giữ nước của Lý
Nam Đế - Triệu Việt Vương và sự thất bại của triều đình nhà Tiền Lý… 157
22 Ths Trần Nam Trung – Viện Sử học: Về vị trí và quy mô của động
Khuất Lão liên quan tới cuộc kháng chiến chống quân Lương của Lý
23 Ngô Vũ Hải Hằng – Viện Sử học: Đình Giang Xá (Hoài Đức – Hà Nội),
nơi thờ vua Lý Nam Đế làm thần Thành hoàng……… 169
24 Nhà nghiên cứu Nguyễn Chí Ninh – Sở Văn hóa – Thể thao và du lịch
tỉnh Vĩnh Phúc: Khởi nghĩa Lý Bí từ góc nhìn thờ cúng thần Thành
25 Nhà nghiên cứu Nguyễn Chí Ninh: Hồ Điển Triệt và vấn đề địa danh
học - lịch sử trong cuộc kháng chiến chống quân Lương của Lý Nam
Đế……
186
26 Tường Minh – Viện Sử học: Về Phật giáo thời Tiền Lý và sự hình thành
Dòng Thiền đầu tiên ở Việt Nam ……… ………. 197
27 TS Hà Mạnh Khoa – Viện Sử học: Ghi chép xung quanh vấn đề quê gốc
của Lý Bí qua thư tịch Việt Nam từ trước đến nay………. 205
28 TS Vương Thị Hường – Viện Nghiên cứu Hán Nôm: Lý Nam Đế trong
thư tịch Hán Nôm tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm……… 211
29 Đại đức Thích Nguyên Thanh – Trụ trì chùa Hang – TP Thái Nguyên: Về
việc xác định quê hương Lý Bí và tìm hiểu Phật giáo Nhà nước Vạn Xuân 226
30 Đại đức Thích Minh Tâm– Trụ trì chùa Hương Ấp – Tiên Phong – Phổ
Yên – Thái Nguyên: Những ký ức và chứng tích liên quan tới vua Lý
Nam Đế tại chùa Hương Ấp, làng Cổ Pháp, xã Tiên Phong, huyện Phổ
31 Tham luận của Đại diện nhân dân thôn Cổ Pháp – xã Tiên Phong: Mối
quan hệ giữa chùa Hương Ấp – thôn Cổ Pháp với chùa Linh Bảo (Bảo
Phúc tự) – Giang Xá, Hà Nội……… 238
32 Nhà sử học Dương Trung Quốc – Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội
Khoa học Lịch sử Việt Nam: Tổng kết Hội thảo………. 241
1
Trang 3PHỤ LỤC 242
PHÁT BIỂU KHAI MẠC HỘI THẢO
Nhà sử học Dương Trung Quốc
(Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội KHLS Việt Nam)
2
Trang 4PHÁT BIỂU CHÀO MỪNG HỘI THẢO KHOA HỌC
CỦA ĐỒNG CHÍ THAY MẶT LÃNH ĐẠO TỈNH THÁI NGUYÊN
3
Trang 5BÁO CÁO ĐỀ DẪN
GS.NGND Đinh Xuân Lâm
(Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam)
Cuộc khởi nghĩa chống quân xâm lược nhà Lương do Lý Bí lãnh đạo nổ ravào đầu năm 542 và đã thu được thắng lợi vang dội, dẫn đến việc Lý Bí xưng Đếhiệu (Lý Nam Đế) năm 544, đặt niên hiệu Thiên Đức, dựng nước Vạn Xuân.Vương triều Tiền Lý tồn tại trong thời gian khoảng 60 năm (544-602), với 4 đờivua: Lý Nam Đế (544-548), Lý Đào Lang Vương (549-555), Triệu Việt Vương(549-570) và Hậu Lý Nam Đế (571-602)
Công lao và sự nghiệp của vua Lý Nam Đế có thể nói là hết sức to lớn trongtiến trình lịch sử của dân tộc Tuy nhiên, có một khoảng trống lớn trong tiểu sử của
vị Anh hùng dân tộc họ Lý ở thế kỷ thứ VI này, là đã hơn 1000 năm qua, sử sáchkhông cho biết quê hương cụ thể của ông ở đâu? Trong khoảng vài chục năm lạiđây, giới sử học Việt Nam đã quan tâm nghiên cứu vấn đề trên, nhưng cho đến naydường như chưa có sự thống nhất cao Tựu chung, từ trước đến nay, có 3 thuyết vềquê hương của vua Lý Nam Đế: 1 Quốc Oai, Phúc Thọ (Hà Tây cũ); 2 TháiThụy, Thái Bình; 3 Phổ Yên, Thái Nguyên
Hôm nay, nhân kỷ niệm 1470 năm (542-2012), ngày Cuộc khởi nghĩa Lý Bíbùng nổ, UBND tỉnh Thái Nguyên, UBND huyện Phổ Yên phối hợp với Hội Khoa
học Lịch sử Việt Nam, tổ chức Hội thảo khoa học Một số vấn đề về Vương triều
Tiền Lý và quê hương của vua Lý Nam Đế, nhằm làm sáng tỏ thêm một bước quê
hương, dòng họ, gia thế của vua Lý Nam Đế và vị thế của Vương triều Tiền Lý đốivới lịch sử dân tộc
Cuộc Hội thảo khoa học Một số vấn đề về Vương triều Tiền Lý và quê
hương của vua Lý Nam Đế lần này, đã được các nhà sử học, các nhà khoa học ở
Trung ương (Viện Sử học, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Viện Lịch sử Quân sự ViệtNam, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam) và địa phương (huyện Hoài Đức, Hà Nội,
4
Trang 6tỉnh Thái Nguyên, tỉnh Phú Thọ, tỉnh Vĩnh Phúc…) nhiệt tình hưởng ứng Cho đếnhôm nay, Ban Tổ chức đã nhận được 27 bản tham luận khoa học từ các nơi gửi về.
Để cuộc Hội thảo của chúng ta đạt được những yêu cầu đã đặt ra, tôi xinphép nêu lên một số vấn đề tương đối thống nhất và những vấn đề còn có ý kiếnkhác nhau để Hội thảo tập trung trao đổi, thảo luận nhằm đi đến những kết luậnthỏa đáng
Chúng tôi xin phân chia làm 3 nhóm vấn đề như sau:
1 Về vấn đề xác định quê hương của vua Lý Nam Đế.
2 Đánh giá sự nghiệp, cống hiến của vua Lý Nam Đế và vị trí của Vương
triều Tiền Lý đối với lịch sử dân tộc.
3 Nghiên cứu, khảo sát một số di tích lịch sử liên quan tới vua Lý Nam Đế
và Vương triều Tiền Lý.
*
I Về vấn đề xác định quê hương của vua Lý Nam Đế
Về vấn đề nói trên, trong cuộc Hội thảo lần này nhận được 6 bản tham luậncủa PGS.TS Nguyễn Minh Tường, PGS.TS Nguyễn Thị Phương Chi, Ths.Nguyễn Văn Khoa, Nhà sử học Phạm Văn Kính, Nhà giáo Nguyễn Hữu Khánh vàNhà nghiên cứu Nguyễn Đình Hưng Hầu hết các bản tham luận đã dựa trên cơ sở
tư liệu điền dã thực địa ở các vùng: Tiên Phong, huyện Phổ Yên, tỉnh TháiNguyên, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, kết hợp với tư liệu Thần tích, Thần sắc,Truyền thuyết… còn lưu giữ tại các xã Giang Xá, Lưu Xá, huyện Hoài Đức, HàNội, để đi tới nhận định: Vua Lý Nam Đế có quê gốc là thôn Cổ Pháp, xã TiênPhong, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên ngày nay
PGS.TS Nguyễn Minh Tường viết: “Lý Nam Đế Ngọc phả cổ truyền cho
biết: Lý Nam Đế tu tại chùa Hương Ấp chừng 4 năm, đến năm 13 tuổi thì theo Phổ
Tổ Thiền sư về tu hành tại chùa Giang Xá (Linh Bảo tự) thuộc huyện Hoài Đức,
Hà Nội
Nhân dân làng Giang Xá nói chung và nhà sư trụ trì cùng với phật tử chùaGiang Xá nói riêng, từ lâu rồi, vẫn coi ngôi chùa Hương Ấp ở xã Tiên Phong làchốn Tổ… Điều đáng chú ý: quê hương của vua Lý Nam Đế ở xã Tiên Phong,
5
Trang 7huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên còn được khẳng định thêm một lần nữa trong
bản Thần tích của làng Hạ Mỗ, thuộc tổng Thượng Hội, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà
Đông (nay là xã Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng, TP Hà Nội) H Maspéro trong
Etudes d’Histoire d’Annam (Nghiên cứu Lịch sử Việt Nam) cho biết: “Trong Thần tích của làng Hạ Mỗ, huyện Từ Liêm (Hà Đông), Lý Bí được coi là gốc tích tại Cổ Pháp”… Qua những tư liệu và chứng cứ chúng tôi đã dẫn ở trên, chúng ta thấy
rằng: “Làng Cổ Pháp” mà H Maspéro nói “được coi là gốc tích của Lý Bí”, chỉ có
thể là làng Cổ Pháp, thuộc xã Tiên Thù, tổng Tiên Thù, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái
Nguyên Hiện nay, làng Cổ Pháp “gốc tích của Lý Bí”, thuộc xã Tiên Phong,
huyện Phổ Yên, Thái Nguyên”
Thực ra, nhận định trên về quê gốc của vua Lý Nam Đế được PGS.TS.Nguyễn Minh Tường tiếp thu và phát triển từ kết quả nghiên cứu của những tác giả
đi trước Năm 1991, Nhà nghiên cứu Minh Tú đã công bố luận văn khoa học Về Lý
Nam Đế trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 1 (254)-1991 Trong đó, ông nhận
định: “Sử sách cổ ghi chép Lý Bí là người Thái Bình, mà không khẳng định ở
huyện hay tỉnh Thái Bình…” Và, theo tác giả Minh Tú thì “Thái Bình” quê hương
Lý Bí “nằm trong xã Tiên Phong, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, cách Phố Cò
4 km về hướng Đông – Nam” Năm 1997, Nhà giáo Nguyễn Hữu Khánh, người có
nhiều năm nghiên cứu về con người và vùng đất Phổ Yên (Thái Nguyên) biểu thị
sự tán đồng với ý kiến trên của tác giả Minh Tú, và công bố luận văn Tìm hiểu
thêm về châu Giã Năng 1 và ấp Thái Bình thời Lý Bí, trên tạp chí Nghiên cứu Lịch
sử, số 6 (295), tháng 11/12-1997 Trong đó, tác giả Nguyễn Hữu Kính cũng khẳng
định: “Một lần nữa, chúng ta có thể khẳng định được rằng quê hương Lý Bí đích
thực là ở ấp Thái Bình, châu Giã Năng, mà trung tâm là vùng đất huyện Phổ Yên (Thái Nguyên) ngày nay”.
Qua đó, chúng ta thấy việc xác định xã Tiên Phong, huyện Phổ Yên, tỉnhThái Nguyên là quê hương của vua Lý Nam Đế đã được các nhà nghiên cứu đặt ra
từ trước khi cuộc Hội thảo này diễn ra Chúng tôi cho rằng: đây là một nội dunghết sức quan trọng của cuộc Hội thảo, rất mong các nhà khoa học có bài gửi tớiBan Tổ chức, và kể cả các nhà nghiên cứu chưa có điều kiện viết bài, cần thảo luận
kỹ hơn nữa, để vấn đề này càng được sáng tỏ hơn
1 Châu Giã Năng: một địa danh cổ, được ghi bằng chữ Nôm, có thể phiên thành Giã, hoặc Dã
(Dã Năng) đều được.
6
Trang 8Chúng tôi xin lưu ý Hội nghị một bản tham luận khá đặc biệt về vấn đề này,
đó là bài: Vài nét về huyện Phổ Yên trong lịch sử và tấm lòng của Đảng bộ, nhân
dân trong huyện với việc xác định quê hương vua Lý Nam Đế của Ths Nguyễn
Văn Khoa – Bí thư Huyện ủy huyện Phổ Yên
Điều khá đặc biệt trong bản tham luận của Ths Nguyễn Văn Khoa là ở chỗ,trong đó, tác giả đã cho chúng ta thấy: Trước khi các nhà sử học, các nhà khoa họcxác định được đâu là quê hương của vua Lý Nam Đế, thì nhân dân xã Tiên Phong(Phổ Yên, Thái Nguyên) và nhân dân làng Giang Xá (Hoài Đức, Hà Nội) đã có
những cuộc “thăm hỏi lẫn nhau” Nhân dân làng Giang Xá, nơi có đình, đền thờ
vua Lý Nam Đế và có chùa Giang Xá, nơi Đức vua tu hành thời trẻ, đã mặc nhiênthừa nhận thôn Cổ Pháp, xã Tiên Phong, huyện Phổ Yên (Thái Nguyên), nơi có
chùa Hương Ấp, là quê hương của vua Lý Nam Đế Và điều đáng cho chúng ta suy
ngẫm hơn nữa là nhân dân 2 vùng đất nói trên, đã tự nguyện đi lại thăm viếng lẫnnhau từ hơn 10 năm qua Nhân dân làng Giang Xá, về mặt tâm linh đã thừa nhận
xã Tiên Phong, huyện Phổ Yên là quê hương của vị thần Thành hoàng làng mình
Tuy nhiên, không vì thế trong cuộc Hội thảo lần này, chúng ta không muốnlắng nghe những ý kiến phản bác, miễn là mọi ý kiến lập luận cần phải có chứng
Các tác giả trên đây đều dựa vào các bộ chính sử dưới thời quân chủ Việt
Nam như: Việt sử lược, thế kỷ XIV; Đại Việt sử ký toàn thư, thế kỷ XV; Khâm
Định Việt sử thông giám cương mục, thế kỷ XIX… và những bộ sử của Trung
Quốc như: Lương thư, Trần thư, Tùy thư, Sách phủ nguyên quy, v.v… để tìm hiểu
về sự nghiệp, cống hiến của vua Lý Nam Đế đối với lịch sử dân tộc Việt Nam
7
Trang 9PGS.TS Nguyễn Minh Tường cho rằng cuộc khởi nghĩa Lý Bí nói riêng vàVương triều Tiền Lý nói chung giữ một vị trí rất quan trọng trong thời Bắc thuộc
và chống Bắc thuộc, kéo dài hơn 1000 năm Theo tác giả, có thể nêu lên 3 ý chínhdưới đây:
1 Trong thời kỳ Bắc thuộc, cuộc khởi nghĩa Lý Bí thu được thắng lợi vang
dội nhất và giành được quyền độc lập, tự chủ lâu dài nhất.
2 Trong lịch sử nước nhà, Lý Nam Đế là người đầu tiên xưng đế hiệu, và
cũng là người đầu tiên đặt niên hiệu “Thiên Đức”.
3 Lý Nam Đế là người đầu tiên nhận ra vị trí trung tâm đất nước của vùng
đất Hà Nội cổ.
PGS.TS Lê Đình Sỹ bàn kỹ hơn về “Sự nghiệp đánh giặc ngoại xâm của
Lý Bí” Theo tác giả thì “Sự nghiệp chống ngoại xâm của Lý Bí trải qua hai giai
đoạn: Giai đoạn lãnh đạo cuộc khởi nghĩa giành chính quyền, thành lập Nhà nướcVạn Xuân độc lập (từ năm 542 đến năm 543) và giai đoạn lãnh đạo cuộc khángchiến chống quân Lương xâm lược (trong các năm 545 và 546)” PGS.TS Lê Đình
Sỹ nhận định: “Sự nghiệp của Lý Nam Đế, trong đó có sự nghiệp đánh giặc ngoạixâm của ông thật vĩ đại Lý Bí và cuộc khởi nghĩa do ông lãnh đạo là một nhânvật, một sự kiện đặc biệt thời kỳ Bắc thuộc và chống Bắc thuộc”
PGS.TS Tạ Ngọc Liễn có bài tham luận: Một số khác biệt giữa sử gia Việt
Nam và sử gia Trung Quốc khi viết về Lý Nam Đế Theo tác giả, ở Việt Nam và ở
Trung Quốc, từ đầu thế kỷ XX đến nay, không một công trình nghiên cứu lịch sửnào viết về các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc thời kỳ Bắc thuộc, lạikhông quan tâm đặc biệt tới sự kiện Lý Nam Đế Trong bài tham luận của mình,PGS.TS Tạ Ngọc Liễn dựa vào thư tịch cổ của Việt Nam và Trung Quốc phủ nhận
sự kiện “Lý Nam Đế tổ chức trận tấn công quân Lương ở Hợp Phố” Theo tác giả,
“Hợp Phố (Từ Văn) cách khu vực Hà Nội cổ, trung tâm của nước Vạn Xuân rất xa.Nếu muốn đánh quân nhà Lương ở Hợp Phố, thì Lý Bôn phải mất hàng năm đóngthuyền bè, chuẩn bị lương thực, vũ khí… và để đến được Hợp Phố nhanh nhất,quân đội của Lý Bôn phải ra Móng Cái ngày nay, qua Đông Hưng, rồi cửa biểnPhòng Thành dong buồm, vượt biển…, một chuyện không thể thực hiện được,nhất là trong vòng 4, 5 tháng”
8
Trang 10Ngoài ra, về nguyên nhân thất bại của cuộc kháng chiến chống xâm lượcnhà Lương do Trần Bá Tiên chỉ huy cũng được nhiều nhà khoa học bàn tới Đâycũng là một vấn đề, theo chúng tôi cần được trao đổi thêm trong cuộc Hội thảo lầnnày.
III Nghiên cứu, khảo sát một số di tích lịch sử liên quan tới vua Lý Nam Đế và Vương triều Tiền Lý
Theo chúng tôi đây là vấn đề mà Hội thảo của chúng ta cần thảo luận một
cách cụ thể để làm rõ: Vì sao Lý Nam Đế lại được thờ ở nhiều nơi trên miền Bắc
nước ta như: Thái Nguyên, Hà Nội, Hà Nam, Thái Bình, v.v… Trong cuộc Hội
thảo lần này, rất tiếc chúng ta chưa nhận được những báo cáo khoa học nghiên cứu
chuyên sâu về vấn đề địa danh học – lịch sử như: Vì sao quê hương vị vua sáng
lập nhà Tiền Lý (Lý Bôn) và vị vua sáng lập nhà Hậu Lý (Lý Công Uẩn) lại cùng
có tên là “Cổ Pháp”? Châu Giã Năng, ấp Thái Bình, v.v… đích thực là vùng đất nào? Mong rằng sau này, có những chuyên khảo sâu hơn, kỹ hơn về vấn đề trên.
Về những di tích liên quan tới vua Lý Nam Đế và Vương triều Tiền Lý, Hộithảo của chúng ta nhận được 10 bản tham luận của PGS.TS Nguyễn Tá Nhí,PGS.TS Đinh Khắc Thuân, Nhà nghiên cứu Vũ Kim Biên, Nhà nghiên cứuNguyễn Chí Ninh, TS Hà Mạnh Khoa, Nhà sử học Phạm Văn Kính, Nhà nghiêncứu Minh Tú, TS Vương Thị Hường, Ths Trần Nam Trung, CN Ngô Vũ HảiHằng…
Trong số các báo cáo khoa học trên đây, tham luận của PGS.TS Đinh Khắc
Thuân về Văn bản Thần tích Việt Thường thị Tiền Lý Nam Đế Ngọc phả cổ truyền
có ý nghĩa: “Góp phần làm rõ hơn về quê hương, tuổi ấu thơ của Lý Bí, cũng như
công cuộc chống ngoại xâm, xây dựng Nhà nước Vạn Xuân hết đỗi tự hào của dân tộc ta” Tác giả Vũ Kim Biên, là nhà nghiên cứu lịch sử của tỉnh Phú Thọ, đã bỏ ra
hàng chục năm đi điền dã, nghiên cứu về những di tích lịch sử liên quan tới Lý
Nam Đế, đặc biệt là hồ Điển Triệt và động Khuất Lão Trong Hội thảo lần này, Nhà nghiên cứu Vũ Kim Biên viết: Về vị trí hồ Điển Triệt và động Khuất Lão
trong cuộc kháng chiến chống quân Lương của Lý Nam Đế Vũ Kim Biên là một
trong những người đầu tiên trong giới sử học xác định được vị trí đích thực của hồĐiển Triệt là ở xã Tứ Yên, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay Tác giả đã
9
Trang 11bác bỏ một cách khá thuyết phục ý kiến của một số nhà sử học đi trước, từng chorằng hồ Điển Triệt tức là Đầm Vạc ở Thành phố Vĩnh Yên.
Trong cuộc Hội thảo khoa học lần này, chúng tôi xin thay mặt Ban Tổ chức
đề nghị các nhà khoa học phát biểu ý kiến về vấn đề tôn vinh xứng đáng đối vớicông lao, sự nghiệp của vị Anh hùng dân tộc, Đức vua Lý Nam Đế Tôi cho rằng
nếu như chúng ta đã xác định được thôn Cổ Pháp, xã Tiên Phong, huyện Phổ Yên,
tỉnh Thái Nguyên là quê hương của vua Lý Nam Đế, Nhà nước ta cần đầu tư để
xây dựng một đền thờ khang trang tại đây, làm nơi thờ phụng vị Anh hùng dân tộcsáng lập nên Vương triều Tiền Lý này Ngoài ra, chúng ta nên có kế hoạch tu bổ,nâng cấp những di tích lịch sử như: chùa Hương Ấp, đình Giang Xá, đền Giang
Xá, đền Mục, chùa Giang Xá, v.v… liên quan tới vua Lý Nam Đế Đó là nhữngviệc làm cần thiết đối với bậc Anh hùng dân tộc, vừa thể hiện tấm lòng trung hậu
“Uống nước nhớ nguồn” của chúng ta, vừa góp phần giáo dục tinh thần tự hào dân
tộc, lòng yêu quý quê hương đất nước cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau
Điểm qua một số vấn đề chính yếu mà các bản tham luận khoa học đề cậptới, với tinh thần khoa học, chúng tôi xin lắng nghe mọi ý kiến phát biểu, thảo luận
và trân trọng với từng đóng góp dù là nhỏ của mỗi người… Ở đây, không riêng gìnhững điểm khác biệt, mà ngay cả những điểm đã thống nhất, chúng ta vẫn có thểtrao đổi lại, xem có đủ luận cứ khoa học hoặc đủ sức thuyết phục hay chưa?
Trong cuộc Hội thảo khoa học lần này, với thời gian không dài, có thểchúng ta sẽ không giải quyết được những tồn nghi khoa học, nhưng chúng tôi vẫn
hy vọng rằng, trong nỗ lực chung của mọi người, chúng ta có thể đi tới sự xác định
có tính thống nhất cao về Quê hương của Đức vua Lý Nam Đế - Vị Anh hùng dân
tộc, vị Hoàng đế đầu tiên của Việt Nam sống và hoạt động vào thế kỷ VI
Xin kính chúc Hội thảo thành công tốt đẹp
10
Trang 12VỊ TRÍ CỦA VƯƠNG TRIỀU TIỀN LÝ TRONG TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ VIỆT NAM
PGS.TS Nguyễn Minh Tường
(Viện Sử học)
Sách Đại Việt sử ký toàn thư, trong phần Kỷ nhà Tiền Lý chép khái quát về
cuộc khởi nghĩa của Lý Bí như sau: “Vua họ Lý, tên húy là Bí, người Thái Bình,phủ Long Hưng Tổ tiên là người Bắc, cuối đời Tây Hán khổ về việc đánh dẹp,mới tránh sang ở đất phương Nam, được 7 đời thì thành người Nam Vua có tàivăn võ, trước làm quan với nhà Lương, gặp loạn, trở về Thái Bình Bấy giờ bọnthú lệnh tàn bạo hà khắc, Lâm Ấp cướp phá ngoài biên, vua dấy binh đánh đuổiđược, xưng là Nam Đế, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân, đóng đô ở Long Biên”1
Thời bấy giờ Giao Châu (miền Bắc Bộ của nước ta ngày ấy) ở dưới quyềncai trị của Vũ Lâm hầu Tiêu Tư Tiêu Tư vốn là tôn thất của nhà Lương2 là một kẻtàn bạo, mất lòng dân Lý Bí nhân lòng oán hận của nhân dân và các hào trưởngngười Việt đối với chính quyền thực dân, đã hiệu triệu các bậc anh kiệt các châulãnh đạo nhân dân nổi dậy Sử ta chép rằng tù trưởng Chu Diên là Triệu Túc, phụctài đức Lý Bí, đem quân theo trước tiên3 Miền đất nước ta bấy giờ gồm các châu:Giao, Hoàng (Bắc Bộ), Ái (Thanh Hóa), Đức, Lợi, Minh (Nghệ Tĩnh)
Như vậy, cuộc khởi nghĩa của Lý Bí không phải chỉ nổ ra ở Giao Châu (tứcmiền Bắc Bộ ngày nay) Lý Bí đã liên kết với hào kiệt các châu khác trên miền đấtcủa người Việt, và sau này lên ngôi hoàng đế, Lý Nam Đế đã cố gắng xây dựngmột Nhà nước độc lập, tự chủ bao gồm toàn bộ lãnh thổ của người Việt từ Bắc Bộđến Hà Tĩnh Cho nên, có thể nói cuộc khởi nghĩa của Lý Bí giữ một vị trí hết sứctrọng đại trong tiến trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt
Chúng tôi xin phân tích một cách khái quát ý nghĩa và vị trí của việc thànhlập vương triều Tiền Lý do vua Lý Nam Đế khai sáng
1 Đại Việt sử ký toàn thư Nxb Khoa học xã hội, H 1998, tập 1, tr 178, 179.
2 Lương Võ Đế (503-549) là Tiêu Diễn, người sáng lập nhà Lương (503-557).
3 Đại Việt sử ký toàn thư Sđd, tr 179.
11
Trang 13I Trong thời kỳ Bắc thuộc, cuộc khởi nghĩa Lý Bí thu được thắng lợi vang dội nhất và giành được quyền độc lập, tự chủ lâu dài nhất
Theo quan niệm của giới sử học ngày nay, thì năm 179 tr Cn, Triệu Đà saukhi chinh phục nước Âu Lạc, lật đổ triều đình An Dương Vương, sát nhập đất đai
Âu Lạc vào phạm vi quốc gia Nam Việt, là mở đầu thời kỳ Bắc thuộc1 Và thời kỳBắc thuộc kết thúc bằng sự kiện Khúc Thừa Dụ dựng quyền tự chủ vào năm 905
Như vậy, thời kỳ Bắc thuộc và chống Bắc thuộc kéo dài tới 1084 năm.
Trong khoảng thời gian gần 11 thế kỷ ấy, nước ta bị bọn phong kiếnphương Bắc đô hộ có hàng chục cuộc nổi dậy, cuộc khởi nghĩa, to có, nhỏ có,nhưng chưa có cuộc khởi nghĩa nào thu được thắng lợi vang dội như cuộc khởinghĩa Lý Bí Từ xưa đến nay, không sử gia nào không ca ngợi võ công đánh giặc,cứu nước của Đức vua Lý Nam Đế
Sử gia Nguyễn Nghiễm2 (1708-1776), trong Việt sử bị lãm viết: “Từ khi
nước Việt ta thuộc vào Đông Hán (25-220 – TG), trải qua khoảng mấy trăm năm
mà chưa có kẻ đắc chí Tiền [Lý] Nam Đế trỗi dậy nơi đất khách, hăng hái mưukhôi phục đất nước, văn chương thì đã có Tinh Thiều bày mưu kế; võ dũng thì đã
có Triệu Túc ra chiến trường, vì thế mà đuổi được Tiêu Tư về phương Bắc, dẹpđược Lâm Ấp ở phương Nam, dựng đô, đặt quốc hiệu, khôi phục bờ cõi Nếukhông phải là người văn võ toàn tài, mưu lược, thì chưa dễ đã làm được”3
Sử gia Ngô Thì Sĩ (1726-1780), trong bộ Đại Việt sử ký tiền biên (được ấn
hành vào năm 1800 đời Cảnh Thịnh), thì bàn cụ thể và đánh giá cao hơn: “Tiền[Lý] Nam Đế là một hào tộc khởi binh, có Tinh Thiều giúp việc mưu mô, có TriệuTúc chủ việc quân ngũ Châu quận hưởng ứng, hào kiệt đồng tâm, trục xuất đượcTiêu Tư, đánh đuổi được Tử Hùng, lại phá được Lâm Ấp ở Cửu Đức4 Uy binhvang dội, thế mạnh dần lên, rồi lên ngôi vua, đặt niên hiệu, đặt tên nước là VạnXuân, hiệu vua xưng là Nam Việt Có nơi triều hội, có tướng võ tướng văn, quy
1 Sử cũ: thí dụ Đại Việt sử ký toàn thư và nhiều bộ sử thời quân chủ, quan niệm nhà Triệu
(179-111 tr Cn) là một triều đại chính thống của nước ta và viết thành Kỷ nhà Triệu Quan niệm đó,
từ cuối thế kỷ XVIII, đã bị phê phán, mà người bác bỏ đầu tiên là Ngô Thì Sĩ, tác giả Việt sử tiêu án.
2 Nguyễn Nghiễm: là thân phụ của Đại thi hào Nguyễn Du, tác giả Truyện Kiều nổi tiếng.
3 Trích theo Ngô Thì Sĩ: Đại Việt sử ký tiền biên Nxb Khoa học xã hội, H 1997, tr 110.
4 Cửu Đức: tức miền Hà Tĩnh ngày nay.
12
Trang 14mô dựng nước hoàn chỉnh có thể coi được… Từ sau khi Hai Bà Trưng mất1, tớiđây là 490 năm nội thuộc làm châu phụ biên, một khi vùng lên chống chọi với binhhùng tướng mạnh của Tam Ngô, khiến cho người trong nước có chỗ nương nhờ,quốc thống có nơi hệ thuộc Ở vào thế rất khó khăn, mà lập được công rất kỳ diệu.Bọn giặc Man do đó hết cơ hội quấy rối, quân phương Bắc vì thế nhụt chí xâmlăng Cho nên Triệu Việt Vương, Hậu Lý [Nam Đế] cũng được nhờ để dựng nước,quân Lâm Ấp cũng không dám dòm ngó ngoài biên Hơn 60 năm, công lao củaông không thể mai một được, xứng đáng vào hạng người như Đinh TiênHoàng…”2.
Học giả Nguyễn Văn Tố (1889-1947), trên tạp chí Tri Tân, trong khoảng từ năm 1932 đến năm 1936, có một số bài liên quan tới Lý Nam Đế như: Nên có
ngày kỷ niệm vua Tiền Lý, Có Triệu Quang Phục không?, Có nhà Tiền Lý không?,
Lý Nam Đế, v.v… Vào năm 1997, các bài luận văn trên đây của Học giả Nguyễn
Văn Tố, được Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam in lại trong bộ sách: Đại Nam dật
sử - Sử Ta so với sử Tàu.
Trong bài Nên có ngày kỷ niệm vua Tiền Lý, Học giả Nguyễn Văn Tố viết:
“Nước ta có ba bậc “anh hùng cứu nước” đầu tiên là Đức Đổng Thiên Vương, Hai
Bà Trưng và vua Tiền Lý Nam Đế Đức Đổng Thiên Vương thuộc vào thời kỳ lộ
sử, mà chuyện lại thần kỳ, cho nên bộ Khâm định Việt sử không chép đến Còn Hai
Bà Trưng, thì ai là người nước Nam, tất phải biết chuyện Đến như vua Tiền Lý
Nam Đế (Lý Bí, hoặc Lý Bôn 544-548), thì sử nước ta chép riêng ra một “Kỷ”, tức
một dòng vua, nhưng lại không có ngày quốc tế! Đổng Thiên Vương thì có hội
Gióng… vào mùng tám tháng tư… Trưng Vương có hội “Đền Hai Bà”, vào mùng
năm tháng hai, là ngày kỷ niệm chung của cả nước Duy có vua Tiền Lý thì chỉ cómấy làng ở cửa sông Đáy thờ làm thành hoàng, còn chưa có ngày hội lớn để choquốc dân nhớ lại công ơn của một vị anh hùng đã đưa đường dẫn lối cho dân tathoát vòng lao lung…”3 Trong bài Lý Nam Đế, Nguyễn Văn Tố còn khẳng định:
1 Khởi nghĩa Hai Bà Trưng: từ năm 40 giành quyền độc lập, tự chủ, đến năm 43 thì bị Mã Viện
đàn áp.
2 Ngô Thì Sĩ: Đại Việt sử ký tiền biên Sđd, tr 111.
3 Nguyễn Văn Tố: Đại Nam dật sử - Sử Ta so với sử Tàu Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam XB,
H 1997, tr 78.
13
Trang 15“Người nước Nam mà làm vua nước Nam, Lý Bí thực là một người xây nền độclập cho nước Nam muôn nghìn năm sau này”1.
Qua những nhận định của các nhà sử học nói trên, ta thấy cuộc khởi nghĩa
Lý Bí (542-544), sau khi giành thắng lợi đã dựng nên cả một vương triều: Vươngtriều Tiền Lý kéo dài tới hơn nửa thế kỷ (544-602), với 4 đời vua: Lý Nam Đế(544-548), Lý Đào Lang Vương (549-555), Triệu Việt Vương (549-570) và Hậu
Lý Nam Đế (571-602)
II Trong lịch sử nước nhà, Lý Nam Đế là người đầu tiên xưng đế hiệu,
và cũng là người đầu tiên đặt niên hiệu “Thiên Đức”
Sau khi đánh thắng quân Lương, đuổi Thứ sứ Tiêu Tư về Trung Quốc,
tháng Giêng năm Giáp Tý, Lý Bí chính thức lên ngôi Hoàng đế Sách Đại Việt sử
ký toàn thư chép về sự kiện này như sau: “Mùa xuân, tháng Giêng năm Giáp Tý
(544), Vua nhân thắng giặc, tự xưng là Nam Việt Đế, lên ngôi đặt niên hiệu (làThiên Đức năm thứ 1 – TG), lập trăm quan, dựng quốc hiệu là Vạn Xuân, ý mongcho xã tắc truyền đến muôn đời vậy”2
Như vậy, ta thấy trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, Lý Bí là
người Việt Nam đầu tiên tự xưng Hoàng đế Sử Trung Quốc, như bộ Tư trị thông
giám của Tư Mã Quang đời Tống (960-1279) cũng ghi nhận Lý Bí xưng là Việt
Đế, còn chính sử nước ta đều chép Đức vua xưng là Nam Đế, hoặc Nam Việt Đế.
Tuy cả sử Trung Quốc và sử ta đều nói Lý Bí xưng Đế 帝 (Việt Đế, hay NamĐế…), nhưng cần hiểu chính xác của sự kiện lịch sử trọng đại này là: Lý Bí tự
xưng Hoàng Đế: 皇 帝.
Chúng ta cần phải biết xưng Hoàng đế 皇 帝 khác với xưng Vương 王 như
thế nào?
Sách Từ Nguyên giải thích: 皇 帝: 秦 以 後,天 子 之 稱。始 皇 并 天 下
以 為 德 兼 三 皇,功 高 五 帝,更 稱 皇 帝 (Phiên âm: Hoàng đế: Tần dĩ hậu,
Thiên tử chi xưng Thủy Hoàng tính thiên hạ dĩ vi đức kiêm Tam hoàng, công cao
Ngũ đế, cánh xưng Hoàng đế Dịch nghĩa: Hoàng đế: từ đời Tần Thủy Hoàng
(221-211 tr Cn) trở về sau này, là từ mà các bậc Thiên tử tự xưng Tần Thủy
1 Nguyễn Văn Tố Sđd, tr 500.
2 Đại Việt sử ký toàn thư Nxb Khoa học xã hội, H 1998, tập 1, tr 179.
14
Trang 16Hoàng kiêm tính được toàn bộ thiên hạ, tự cho rằng tài đức của mình gồm kiêm cảTam Hoàng1, công nghiệp của mình cao hơn Ngũ đế2, cho nên xưng là Hoàng đế3).
Sách Từ Nguyên giải thích: “王: 君 也,主 也 天 下 歸 往,謂 之 王。三
代 時,惟 有 天 下 者,稱 王。吴 楚 之 稱 王,皆 僭 稱 也。漢 以 下,君 主
稱 皇 帝。皇 族,功 臣 封 王 爵 (Phiên âm: Vương, quân dã, chủ dã, thiên hạ
quy vãng, vị chi vương Tam đại thời, duy hữu thiên hạ giả, xưng vương Ngô, Sởchi xưng vương, giai tiếm xưng dã Hán dĩ hạ, quân chủ xưng Hoàng Đế Hoàng
tộc, công thần phong vương tước Dịch nghĩa: Vương là để chỉ người làm Vua,
hay người làm Chúa, được người trong thiên hạ quy về, thì xưng là Vương ThờiTam Đại (Hạ - Thương - Chu), chỉ có những người làm chủ thiên hạ mới xưngVương Nước Ngô, nước Sở bấy giờ xưng Vương, đều bị coi là tiếm xưng Từ đờiHán (206 tr Cn – 220 s Cn) trở về sau, bậc quân chủ xưng là Hoàng đế, từ đónhững người trong hoàng tộc và công thần được phong tước Vương4)
Như vậy, chúng ta thấy, Lý Bí xưng Hoàng đế (gọi tắt là xưng Đế) là một
sự khẳng định vị thế của nước Nam thời bấy giờ so với Trung Quốc Trong bộ
Lịch sử Việt Nam, Giáo sư Trần Quốc Vượng nhận định về sự kiện ấy như sau:
“[Lý Bí] xưng đế, định niên hiệu riêng, đúc tiền riêng, lấy Nam đối chọi với Bắc,lấy Việt đối chọi với Hoa, những điều đó nói lên sự trưởng thành của ý thức dântộc, lòng tự tin vững chắc ở khả năng tự mình vươn lên, phát triển một cách độc
lập Đó là sự ngang nhiên phủ định quyền làm “bá chủ thiên hạ” của Hoàng đế
phương Bắc, vạch rõ sơn hà, cương vực và là sự khẳng định dứt khoát rằng nòigiống Việt phương Nam là một thực thể độc lập, là chủ nhân của đất nước và nhấtquyết giành quyền làm chủ vận mệnh của mình”5
1 Tam Hoàng có nhiều thuyết:
a Thiên Hoàng – Địa Hoàng – Nhân Hoàng (nhiều người theo thuyết này).
b Phục Hy – Thần Nông – Nữ Oa.
c Phục Hy – Thần Nông – Chúc Dung
d Phục Hy – Thần Nông – Hoàng Đế…
2 Ngũ Đế có 3 thuyết:
a Thái Hạo – Thần Nông – Hoàng Đế – Thiếu Hạo – Chuyên Húc
b Hoàng Đế – Chuyên Húc – Đế Cốc – Đế Nghiêu – Đế Thuấn.
c Thiếu Hạo – Chuyên Húc – Đế Cốc – Đế Nghiêu – Đế Thuấn.
3 Từ Nguyên: Bộ Bạch, tập Ngọ, tr 1045.
4 Từ Nguyên: Bộ Bạch, tập Ngọ, tr 987.
5 Phan Huy Lê – Trần Quốc Vượng – Hà Văn Tấn – Lương Ninh: Lịch sử Việt Nam Nxb Đại
học và Trung học chuyên nghiệp, H 1985, tr 287.
15
Trang 17Lý Nam Đế còn là vị vua đầu tiên của nước ta đặt niên hiệu là Thiên Đức
天 德 Sử Trung Quốc chép Lý Bí tự xưng Việt Đế, và đặt niên hiệu là Đại Đức 大
德 Nhưng ngày nay chúng ta có thể khẳng định vua Lý Nam Đế đặt niên hiệu là
Thiên Đức, vì các nhà khảo cổ học Việt Nam đã tìm thấy những đồng tiền Thiên Đức đúc thời Tiền Lý.
Chúng ta cần biết rằng việc các bậc đế vương ở phương Đông (Trung Quốc,
Việt Nam, Triều Tiên…) đặt ra “niên hiệu”, mục đích không chỉ giới hạn ở việc
đánh dấu năm ở ngôi, mà vì niên hiệu chính thức, ngoài ghi năm ra, còn mangnhiều hàm nghĩa khác
Trong lịch sử Trung Quốc, vị vua đầu tiên đặt niên hiệu là Hán Võ Đế (140
– 87 tr Cn), đó là niên hiệu Kiến Nguyên 建 元 (có nghĩa là “Mở đầu”).
Hàm nghĩa của niên hiệu có rất nhiều nghĩa như: Đánh dấu thời gian bắt
đầu lên ngôi như: Kiến Nguyên của Hán Võ Đế, Thủy Nguyên của Hán Chiêu Đế,
Bản Thủy của Hán Tuyên Đế, Sơ Nguyên của Hán Nguyên Đế… của Trung Quốc.
Niên hiệu Kiến Tân của Trần Thiếu Đế, Nguyên Hòa của Lê Trang Tông… của
Việt Nam Ghi lại điều may mắn như: Hán Võ Đế thấy ngôi sao lớn, đổi niên hiệu
thành Nguyên Quang (134-129 tr Cn), vua Lý Thánh Tông (1054-1072) của Việt
Nam, vào năm Mậu Thân (1068), thấy châu Chân Đăng dâng 2 con voi trắng, nhân
đó đổi niên hiệu là Thiên huống bảo tượng (nghĩa là: Trời cho voi quý)… Nhưng
phần lớn niên hiệu đều có ý nghĩa tô điểm thêm cho sự thái bình, biểu thị vận nước
hưng thịnh, hoàng vị đời đời vững chắc như: Vạn Lịch, Càn Long, Gia Khánh,
Đạo Quang… của Trung Quốc, hay: Hưng Long (Trần Anh Tông), Đại Khánh
(Trần Minh Tông), Đại Bảo (Lê Thái Tông), Thái Hòa (Lê Nhân Tông), Hồng
Đức (Lê Thánh Tông), Bảo Hưng (Nguyễn Quang Toản), v.v của Việt Nam.
Vậy niên hiệu Thiên Đức 天 德 có ý nghĩa gì?
Chúng tôi cho rằng đặt trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, vua Lý Nam Đế lựachọn niên hiệu này, ít nhất có mấy nghĩa dưới đây:
- Người được Trời ban Đức lớn
- Người có Đức lớn được Trời lựa chọn làm Hoàng đế phương Nam
- Người có Đức của bậc Thiên tử…
16
Trang 18Chúng ta nên nhớ rằng, trước Lý Bí xưng là Nam Việt Đế và đặt niên hiệu
Thiên Đức, hơn 40 năm, vào năm 502, Tiêu Diễn (tức Lương Vũ Đế) sáng lập
Vương triều Lương (502-557) đã đặt niên hiệu là Thiên Giám 天 監 (có nghcó nghĩa:
được Trời soi xét đến) Như vậy, ta càng thấy niên hiệu Thiên Đức của Lý Nam Đế
có ý đối chọi lại với niên hiệu Thiên Giám của Lương Vũ Đế.
Lý Nam Đế đặt quốc hiệu nước ta lúc bấy giờ là Vạn Xuân 萬 春 và tổ chức
cơ cấu triều đình mới, tuy rằng còn khá sơ sài, nhưng ngoài Hoàng đế đứng đầu,bên dưới đã có 2 ban văn, võ Tinh Thiều làm tướng văn, Phạm Tu làm tướng võ,Triệu Túc làm Thái phó… Triều đình Vạn Xuân là mô hình, lần đầu tiên, đượcViệt Nam thâu hóa và áp dụng, của một cơ cấu Nhà nước mới, theo chế độ trung
ương tập quyền Lý Nam Đế cho xây một đài Vạn Xuân để làm nơi văn vũ bá quan
triều hội Lúc này, Phật giáo đang phát triển mạnh ở nước ta cũng như ở TrungHoa Giới tăng ni là tầng lớp trí thức đương thời, chắc chắn đã ủng hộ Lý Nam Đế
Theo Lý Nam Đế Ngọc phả cổ truyền, còn được lưu giữ tại đình Giang Xá, huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội, thì Lý Bí từ hồi nhỏ đã được “bán” cho ngôi chùa
Hương Ấp, quê hương ông Sau đó, khi chừng 12, 13 tuổi, Lý Bí lại được sư thầy
là Phổ Tổ Thiền sư đưa về tu tập đến hơn 10 năm tại chùa Linh Bảo (hay chùaGiang Xá), gần với ngôi đình Giang Xá nói trên Có lẽ, vì vậy, mà một người tronghoàng tộc nhà Tiền Lý và làm tướng cho Lý Nam Đế đã mang một cái tên đượm
màu sắc sùng bái Phật tổ: đó là Lý Phật Tử (nghĩa là: Người họ Lý là con của Đức
Phật)
III Lý Nam Đế là người đầu tiên nhận ra vị trí địa lý trung tâm đất nước của vùng đất Hà Nội cổ
Ngày nay, chúng ta có khá nhiều bằng cứ để chứng minh Lý Nam Đế và các
vị thủ lĩnh người Việt khác của Vương triều Tiền Lý là những người đầu tiên nhận
ra vị trí quan trọng của miền đất Hà Nội cổ Chúng ta đều biết “Tam giác châu Bắc
Trang 19Vùng đất Hà Nội, nơi hợp lưu của các dòng sông lớn nhỏ: sông Cái, sôngĐuống, sông Nhuệ, sông Tô…
Trước hết là những chứng cứ trong các bộ thư tịch cổ: Trần thư1 ghi rõ:Năm 545, Lý Nam Đế đã dựng thành lũy ở cửa sông Tô Lịch để chống cự với quânxâm lược nhà Lương do Trần Bá Tiên cầm đầu Sau khi bị thất trận ở cửa sông Tô,
Lý Nam Đế mới lui giữ thành Gia Ninh ở Bạch Hạc, Việt Trì Thành do Lý Nam
Đế xây dựng là công trình quân sự đầu tiên ở vùng nội thành Hà Nội cổ mà sửsách biết đến Nó cho ta khả năng nhận định rằng Lý Nam Đế đã nhận rõ tầm quantrọng về vị trí địa – quân sự của miền Hà Nội gốc
Tiếp đó là Tùy thư2 cũng chép: Năm 602, để phòng giữ cuộc xâm lược đạiquy mô của nhà Tùy (581-618), tướng Lý Phật Tử đã củng cố 3 ngôi thành cổ,thành thế chân vạc:
- “Thành cũ của Việt Vương”, tức thành Cổ Loa: bấy giờ do Lý Phật Tử
đóng giữ
- Thành Long Biên: do con người anh Lý Phật Tử là Lý Đại Quyền đóng
giữ
- Thành Ô Diên: có thể là thành cổ Chu Diên của Thi Sách ở Hạ Mỗ (Đan
Phượng – Hà Nội) do biệt tướng Lý Phổ Đỉnh đóng giữ
Những chứng cứ khá hiếm hoi của thư tịch cổ được bổ sung bởi các tài liệu
di tích đền, chùa và truyền thuyết Giữa lòng Hà Nội có một di tích và danh thắng
nổi tiếng: Chùa Trấn Quốc 鎮 國 寺 (Trấn Quốc tự) Sách Thiền Uyển tập anh
ngữ lục (Ghi lời của các bậc anh tú trong vườn Thiền – đời Trần), trong truyện Thiền sư Vân Phong ( ? – 957), cho biết chùa này có tên là Chùa Khai Quốc 開 國
寺 (Khai Quốc tự) Tấm bia Trấn Quốc tự bi ký (Văn bia chùa Trấn Quốc) do
Trạng Nguyên khoa Đinh Sửu (1637) Nguyễn Xuân Chính soạn cho biết: Chùaxưa vốn ở bãi sông Nhị Hà (tức sông Hồng), dựng từ đời Lý Nam Đế gọi là chùaKhai Quốc Khoảng niên hiệu Hoằng Định thứ 16 (1615) đời vua Lê Kính Tông(1600-1619), dân phường An Hoa (Yên Phụ) sợ đê lở, chùa đổ, mới dời chùa vào
1 Trần thư 陳 書: Tác giả là Diêu Tư Liêm, đời Đường (618-907) soạn, gồm 36 quyển, chép lịch
sử nhà Trần (558-589), thời Nam Bắc triều, Trung Quốc.
2 Tùy thư 隋 書: Tác giả Ngụy Trưng, đời Đường (618-907) soạn, gồm 85 quyển, chép lịch sử nhà Tùy (581-618).
18
Trang 20bán đảo Kim Ngư ở Hồ Tây tại vị trí hiện nay Sau này, Vua Lê, Chúa Trịnh đổitên thành chùa Trấn Quốc.
Lý Nam Đế xây dựng ngôi chùa thờ Đức Phật lại ban tên là Chùa Khai
Quốc (tức Chùa Mở nước) hẳn không phải là điều ngẫu nhiên Chúng ta biết rằng
Đức vua vốn đã từng là người tu hành đạo Phật, và chắc hẳn trong cuộc khởi nghĩalật đổ ách thống trị hà khắc của Thái thú Tiêu Tư, nhà Lương vào đầu năm 542, LýNam Đế đã nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của giới tăng ni, phật tử Xin lưu ýrằng, cũng ở thời Tiền Lý, vào năm 580, Thiền sư Tìniđalưuchi (Vinitaruci) ( ? –594), học trò của Thiền sư Tăng Xán, vị Tổ thứ 3 của Thiền tông Trung Hoa1 đãsang nước ta Thiền sư Tìniđalưuchi dừng trụ ở chùa Pháp Vân (Bắc Ninh), vàsáng lập nên dòng phái Thiền tông đầu tiên của Việt Nam2 Dòng phái Thiền tôngnày còn phát triển rực rỡ ở vào thời Lý – Trần, thế kỷ XI-XIII
Hiện nay, tại xã Vạn Phúc, huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội có một cái
đầm rộng, xưa mang tên đầm Vạn Xoan “Xoan” tức là Xuân, đọc theo âm cổ dân
gian3 Tương truyền bên bờ đầm Vạn Xoan ấy, khi xưa là nơi thiết lập triều đìnhVạn Xuân của vua Lý Nam Đế Năm 1962, Sở Văn hóa Hà Nội tìm thấy một tấmbia cổ bên bờ đầm Vạn Xoan, ghi niên hiệu nhà Lương (503-557), tức thời TiềnLý
Với một số chứng cứ kể trên, rõ ràng còn khá ít ỏi và còn cần điều tra xácminh thêm, nhưng vẫn cho phép chúng ta đoán nhận rằng miền Hà Nội cổ, với batrung tâm: Cửa sông Tô Lịch, Thành Cổ Loa (Đông Anh) và đầm Vạn Xoan
1 Thiền tông Trung Hoa: Một tông phái của Phật giáo Đại thừa tại Trung Quốc Thiền tông sinh
ra vào khoảng thế kỷ VI-VII, khi Bồ Đề Đạt Ma đưa phép Thiền của Đạo Phật Ấn Độ vào Trung Quốc, hấp thụ một phần nào đạo Lão.
Thiền tông Trung Hoa có 6 vị Tổ:
2 Thiền tông Việt Nam hình thành bởi 3 dòng phái:
1 Thiền phái thứ nhất do Thiền sư Tìniđalưuchi truyền vào năm 580.
2 Thiền phái thứ hai do Thiền sư Vô Ngôn Thông truyền vào năm 820.
3 Thiền phái thứ ba do Thiền sư Thảo Đường truyền vào năm 1069.
3 Ca dao có câu: Trai ba mươi tuổi đang xoan (xuân)
Gái ba mươi tuổi đã toan về già.
19
Trang 21(Thanh Trì), đã giữ một vị trí quan trọng trong lịch sử Việt Nam, thời Tiền Lý nửacuối thế kỷ VI.
Khởi nghĩa Lý Bí năm 542 lật đổ ách thống trị của nhà Lương, thành lậpVương triều Tiền Lý tồn tại được khoảng gần 60 năm (544-602) Cho dù Đức vua
Lý Nam Đế bị mất ở động Khuất Lão vào mùa xuân tháng 3 năm Mậu Thìn (548),
nhưng người xưa từng căn dặn: “Chớ đem thành bại luận Anh hùng!” Bậc Anh
hùng như Đức vua Lý Nam Đế một khi đứng trước việc “Đại nhân – Đại nghĩa =đánh giặc – cứu nước”, thì Người có kể chi thành hay bại, miễn là khởi binh đánhcho lũ cướp nước, biết được lòng quả cảm, ý chí sắt đá của người Việt phươngNam
Để tạm kết luận bài viết này, tôi xin dẫn Lời Phê của vua Tự Đức
(1848-1883) như sau:
“Nam Đế nhà Tiền Lý dẫu sức không địch nổi giặc Lương, đến nỗi côngcuộc không thành, nhưng đã biết nhân thời cơ vùng dậy, tự làm chủ lấy nướcmình, đủ làm thanh thế mở đường cho nhà Đinh, nhà Lý sau này Vậy việc làm của
Lý Nam Đế há chẳng hay lắm sao?”1
Hà Nội, ngày 22 tháng 8 năm 2012
N.M.T
1 Quốc sử quán triều Nguyễn: Khâm định Việt sử thông giám cương mục Nxb Giáo dục, H 1998,
tập 1, tr 173.
20
Trang 22SỰ NGHIỆP ĐÁNH GIẶC NGOẠI XÂM CỦA LÝ BÍ
PGS TS Lê Đình Sỹ
(Đại tá, nguyên Phó Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam)
Sự nghiệp chống ngoại xâm của Lý Bí (Lý Nam Đế) trải qua hai giai đoạn:Giai đoạn lãnh đạo cuộc khởi nghĩa giành chính quyền, thành lập nhà nước VạnXuân độc lập (từ năm 542 đến năm 543) và giai đoạn lãnh đạo cuộc kháng chiếnchống quân Lương xâm lược (trong các năm 545 và 546)
Bấy giờ, nhà Lương (Trung Quốc) thống trị đất Việt Cả Giao Châu dướiquyền cai trị của Vũ lâm hầu Tiêu Tư Tiêu Tư là tôn thất nhà Lương và họ Tiêu làmột trong những cự tộc phương Bắc dời về Nam, uy quyền rất lớn Đó là một Thứ
sử khét tiếng tàn bạo Chính sử Trung Quốc như Lương thư, Trần thư đều công
nhận rằng, Tiêu Tư là một kẻ “tàn bạo, mất lòng dân” Tướng nhà Lương, Trần BáTiên, khi đem quân đàn áp phong trào nhân dân ở phương Nam cũng phải thừa
nhận nguyên nhân của các cuộc “phản loạn” ở đây là do “tội ác của các tôn thất”,
trong đó có quan Thứ sử
Nhân lúc mâu thuẫn giữa nhân dân với chính quyền đô hộ rất sâu sắc, Lý Bíliên kết với hào kiệt các châu thuộc miền đất nước ta đồng thời nổi dậy chống
Lương Lương thư chép: “Lý Bí đã liên kết với hào kiệt vài châu đồng thời làm
phản” Trước hết, đó là Tinh Thiều, người cùng quê với Lý Bí Vốn rất giỏi văn
chương, Tinh Thiều đã lặn lội sang tận kinh đô Nam Kinh xin đầu quan, nhưng Lại
bộ thượng thư nhà Lương lúc đó là Sài Tốn cho rằng họ Tinh không phải là vọngtộc, chỉ thuộc loại “hàn môn” (bình dân), nên xếp ông giữ chức Quảng Dương mônlang, tức chức quan canh cổng Tinh Thiều lấy làm tủi thẹn, về quê, cùng Lý Bímưu tính tập hợp lực lượng chống chính quyền đô hộ Tham gia cuộc khởi nghĩa
Lý Bí, có thủ lĩnh Chu Diên (vùng Đan Phượng, Hoài Đức, nay thuộc ngoại thành
Hà Nội) tên là Triệu Túc và con là Triệu Quang Phục Sách Đại Việt sử ký toàn
thư chép: “Vua (Lý Nam Đế) bấy giờ làm chức giám quân ở châu Cửu Đức, nhân
liên kết với hào kiệt mấy châu, đều hưởng ứng Có Triệu Túc, tù trưởng ở Chu
21
Trang 23Diên phục tài đức của vua, bèn dẫn đầu đem quân theo”1 Phạm Tu cũng là một
tướng tài của Lý Bí có mặt ngay từ buổi đầu khởi nghĩa Các sách Đại Việt sử ký
toàn thư, Việt điện u linh, Đại Nam nhất thống chí và thần tích, bi ký, truyền
thuyết ở làng Giá, tức làng Cổ Sở (Yên Sở, Thanh Trì, Hà Nội) đều phản ánhPhạm Tu (có thể cũng là Lý Phục Man) đã cùng dân làng tham gia cuộc khởi nghĩagiải phóng đất nước Về sau, nhân dân ở làng Giá mở Hội Giá để nhớ lại sự kiện
đó Lễ “niệm quân” của ngày hội ấy cho thấy, không phải chỉ có Phạm Tu thamgia cuộc khởi nghĩa, mà đông đảo dân làng Giá đã vùng dậy với người anh hùngcủa quê hương, góp phần tạo nên thắng lợi của sự nghiệp khởi nghĩa do Lý Bí lãnhđạo Lý Bí khi lên ngôi đã đánh giá rất cao công lao của Phạm Tu và gả con gáicho ông
Sử cũ không chép rõ Lý Bí đã chiếm được các quận huyện, đánh đuổi bọnquan lại phương Bắc như thế nào Chỉ biết rằng, đó là một cuộc khởi nghĩa rộnglớn, đã liên kết được đông đảo các hào kiệt và dân chúng các châu, nhanh chónggiành thắng lợi Lý Bí đã không gặp phải sức kháng cự mạnh mẽ nào của bọn quanlại đô hộ Sử cũ cho biết, nghe tin Lý Bí nổi dậy, Vũ lâm hầu Tiêu Tư sợ hãi,không giám chống cự, vội sai người đem vàng bạc, của cải đút lót cho Lý Bí rồichạy trốn về Việt Châu (bắc Hợp Phố) và Quảng Châu2 Quan Thứ sử Tiêu Tư bỏtrốn thì hẳn bọn quan lại khác trong chính quyền đô hộ cũng chạy theo; số còn lạiđầu hàng nghĩa quân
Nổi dậy từ tháng Chạp năm Đại Đồng thứ 7, tức tháng 1 năm 542, không quá
ba tháng, nghĩa quân đã chiếm được thành Long Biên (Bắc Ninh) Bè lũ đô hộ đã
bị quét sạch trước khí thế tiến công và nổi dậy khắp nơi của nhân dân ta
Sau những giờ phút kinh hoàng buổi đầu, chính quyền nhà Lương lập tức có
phản ứng đối phó, nhanh chóng tổ chức phản công lại nghĩa quân Lương thư chép
rằng: “Tháng ba năm Đại Đồng thứ 8 (4-542) (vua Lương) sai thứ sử Việt Châu làTrần Hầu, thứ sử La Châu là Ninh Cự, thứ sử An Châu là Lý Trí, thứ sử Ái Châu
là Nguyễn Hán, cùng đi đánh Lý Bí ở Giao Châu”3 Sự phản ánh này của Lương
thư cho thấy, phía nam Giao Châu lúc đó còn thuộc quyền thống trị của nhà
1 Đại Việt sử ký toàn thư, tập I, Nxb Khoa học xã hội, H 1993, tr.179.
2 Theo Lương thư, Trần thư, Tục tư trị thông giám Lương thư chép: Tiêu Tư chạy về Hợp Phố;
một số sách khác chép: Tiêu Tư chạy về Quảng Châu.
3 Lương thư, q.3, t.11b.
22
Trang 24Lương Trong ba tháng đầu của cuộc khởi nghĩa, Lý Bí và nghĩa quân mới làm chủđược mấy châu phía Bắc thuộc vùng Bắc Bộ ngày nay.
Sử sách không ghi chép chi tiết về cuộc phản công của nhà Lương và chúng tacũng không biết được cuộc chiến đấu của nghĩa quân ra sao; song điều chắc chắn
là cuộc phản công đó đã hoàn toàn thất bại, bởi vì nhà Lương đã phải tổ chức mộtcuộc phản công lần thứ hai vào cuối năm 542 đầu năm 543 Có lẽ sau khi đánh tancuộc phản công thứ nhất và đánh bại được đạo quân của Thứ sử Ái Châu NguyễnHán, nghĩa quân đã vượt Ái Châu tiến thẳng vào giải phóng Đức Châu, nơi Lý Bí
đã làm quan trong một thời gian, đã có uy tín đối với các hào kiệt và nhân dân
vùng này Ta có thể khẳng định điều đó, vì như sự phản ánh của sách Đại Việt sử
ký toàn thư, mùa Hè năm 543 khi Lâm Ấp đưa quân vào cướp Cửu Đức đã bị đại
tướng Phạm Tu đánh tan1 Sách Tư trị thông giám của Tư Mã Quang (q.158) ghi:
“Mùa Hè tháng tư, vua Lâm Ấp tiến công Lý Bí, viên tướng của Lý Bí là Phạm Tu
đã phá quân Lâm Ấp ở Cửu Đức” Như vậy, sau khi đánh tan cuộc phản công lầnđầu của quân Lương, nghĩa quân cơ bản đã làm chủ đất nước Nghĩa quân của Lý
Bí đã kiểm soát được cả vùng đồng bằng Bắc Bộ, cả vùng Ái Châu (Thanh Hóa),Đức Châu (Hà Tĩnh), vùng An Châu (Quảng Ninh) và cả vùng bán đảo Hợp Phố ởphía Bắc
Bị thua đau, vua Lương lại sai Thứ sử Cao Châu là Tôn Quýnh, Thứ sử TônChâu là Lư Tử Hùng thống lĩnh binh mã, một lần nữa tiến sang Giao Châu để tiêudiệt nghĩa quân của Lý Bí Sự kiện này diễn ra vào đầu năm 543 Sử của ta chép:
“Mùa Đông, tháng 12 (khoảng tháng 1-543), Lương Đế sai Tôn Quýnh và Lư TửHùng sang lấn”2
Bấy giờ, bọn Tôn Quýnh và Lư Tử Hùng thấy cuộc phản công lần trước đãthất bại và uy thế của nghĩa quân càng rầm rộ, nên e ngại, dùng dằng không chịutiến quân, lấy cớ là mùa Xuân ẩm ướt, lam chướng, xin đợi đến sang Thu hẵngkhởi binh Nhưng thứ sử Quảng Châu là Tiêu Ánh không nghe, Vũ lâm hầu Tiêu
Tư cũng sốt ruột thúc giục, cho nên bọn Tôn Quýnh bất đắc dĩ phải động binh Chủ động đánh giặc, Lý Bí đã bày quân mai phục, thực hiện một trận tiêu diệtlớn ở vùng cực bắc Giao Châu Cuộc chiến đấu diễn ra rất ác liệt ở Hợp Phố Quân
1 Đại Việt sử ký toàn thư, tập I, Sđd, tr.179.
2 Như trên.
23
Trang 25Lương 10 phần chết tới 7, 8 phần; bọn sống sót tan vỡ tán loạn tướng sĩ ngăn cấmkhông được Tôn Quýnh và Lư Tử Hùng đại bại, dẫn tàn quân chạy về QuảngChâu.
Tiêu Tư dâng sớ về triều, vu cho Tôn Quýnh và Lư Tử Hùng đã “giao thôngvới giặc, dùng dằng không tiến quân” Thấy quân lính bị thiệt hại quá nhiều, giận
vì không tiêu diệt được Lý Bí, Lương Vũ Đế xuống chiếu bắt cả hai viên tướng
cầm đầu phải chết ở Quảng Châu Về sự kiện này, sách Đại Việt sử ký toàn thư
chép rằng: “Quýnh lấy cớ là chướng khí mùa Xuân đương bốc, xin đổi mùa Thu.Bấy giờ Thứ sử Quảng Châu là Tân dụ hầu không cho; Vũ lâm hầu Tư cũng thúcgiục Bọn Tử Hùng đi đến Hợp Phố, 10 phần chết 6, 7 phần, quân tan vỡ mà trở
về Tư tâu vua rằng Quýnh và Tử Hùng dùng dằng không chịu đi Lương Đế bắtbọn họ đều phải tự tử”1
Sau khi đánh tan được quân xâm lược phía Bắc, Lý Bí phải lo ngay việc đốiphó với nước Lâm Ấp ở phía Nam Biên giới phía Nam lúc đó sát với Hoành Sơn(Quảng Bình) Vua Lâm Ấp Rudravarman I nhân cơ hộ ở Giao Châu bọn quan đô
hộ bị đuổi, nên đã đem binh thuyền đánh phá, xâm lấn Đức Châu (5-543) Lúc đó,như các tài liệu dẫn ở phần trên thì, Lý Bí đã cử đại tướng Phạm Tu đưa quân vàođánh tan quân Lâm Ấp ở Cửu Đức, vua Lâm Ấp phải chạy trốn
Đất nước đã được giải phóng Biên giới phía Bắc và phía Nam đều tạm thời ổnđịnh Cuộc khởi nghĩa Lý Bí đã hoàn toàn thắng lợi Đó là cuộc khởi nghĩa toàndân, xuất phát từ địa phương Thái Bình (khoảng các huyện Quốc Oai – Phúc Thọ,
Hà Nội ngày nay), phát triển rộng ra cả nước và giành được độc lập tự chủ Nửacuối thế kỷ VI quả là một thời điểm đột phá lớn trong lịch sử hơn nghìn nămchống Bắc thuộc của nhân dân ta Nó tiếp tục và phát huy truyền thống đấu tranhgiành độc lập mà Hai Bà Trưng đã phất ngọn cờ đầu tiên chống ách đô hộ Nó nhưmột mốc son đánh dấu lịch sử bởi một cuộc khởi nghĩa lớn và tiếp sau đó là mộtthời kỳ độc lập khoảng 50 năm
Việc Lý Bí khởi nghĩa thành công, thành lập nhà nước Vạn Xuân độc lập,ngang nhiên xưng đế (Lý Nam Đế), đặt quốc hiệu riêng… là sự ngang nhiên tháchthức đối với Lương Vũ Đế Tuy nhiên, sau khi Tôn Quýnh và Lư Tử Hùng bị bức
tử vì lý do đánh Lý Bí bị thất bại, em Tử Hùng là Tử Lược, có gia thuộc ở Giang
1 Đại Việt sử ký toàn thư, tập I, Sđd, tr.179.
24
Trang 26Nam là Đỗ Thiên Hợp và em Đỗ Năng Minh giúp sức, đã liên kết với cháu củaTôn Quýnh nổi dậy báo thù, bắt viên đô đốc Giang Nam là Thẩm Khởi, rồi tiếnđánh Quảng Châu Vì Quảng Châu náo động, nhà Lương phải lo tập trung lựclượng đàn áp, nên chưa tổ chức phục thù Lý Bí ngay được Thứ sử Quảng Châu làTiêu Ánh hợp quân với Trần Bá Tiên đánh tan bọn Tử Lược, giết được Đỗ ChiêmHợp, buộc Đỗ Thiên Ánh phải hàng Mùa Đông năm 544, Tiêu Ánh chết, nhàLương cử Lan Khâm thay làm Thứ sử Quảng Châu chuẩn bị binh lực đánh Lý Bí.Tuy nhiên, Nam Anh đã giết Lan Khâm để đoạt chức thứ sử đó.
Đầu năm 545, nhà Lương bắt đầu tổ chức cuộc chiến tranh xâm lược VạnXuân nhằm chinh phục lại Giao Châu mà chúng vẫn cho là “thuộc quốc” cũ.Dương Phiêu được cử làm Thứ sử Giao Châu, Trần Bá Tiên – viên tướng vũ dũngtuy xuất thân từ “hàn môn” nhưng do vừa lập công đánh bọn Tử Lược, dẹp yênQuảng Châu, được cử làm Tư mã Giao Châu, lĩnh chức Thái thú Vũ Bình, cùng tổchức cuộc chinh phục Vạn Xuân Trong quá trình đàn áp Quảng Châu, Trần BáTiên thu nạp được nhiều quân vũ dũng, khí giới đều tốt; vì thế Dương Phiêu rấtmừng, giao cho giữ chức kinh lược sứ, phụ trách tác chiến
Sử sách không ghi chép cụ thể số quân nhà Lương trong cuộc Nam chinhnày là bao nhiêu Chỉ biết đạo quân tiến đánh Vạn Xuân gồm nhiều bộ phận hợpthành: quân triều đình dưới quyền chỉ huy của Dương Phiêu, đạo quân riêng củaTrần Bá Tiên lúc đánh Quảng Châu đã có tới 3.000 người thiện chiến, quân củamấy thứ sử kề cận Giao Châu cũng được lệnh tập trung về Phiên Ngung (QuảngChâu)
Dương Phiêu họp tất cả các tướng sĩ hỏi mưu kế Lúc đó có một số tướngnghe tiếng Lý Bí đã sợ nên bàn lùi, như Tiêu Bột, Thứ sử Định Châu; một sốtướng khác thì ngần ngại… Trần Bá Tiên chủ chiến, hung hăng chủ trương kiênquyết tiến binh, nói rằng: “Giao Châu làm phản, tội do ở người tông thất, để mấychâu hỗn loạn trốn tội đã nhiều năm nay (Thứ sử) Định Châu (Tiêu Bột) chỉ muốntrận yên trước mắt, không nghĩ đến kế lớn Đã vâng chiếu đi đánh kẻ có tội, phảinên liều sống chết, há nên dùng dằng không tiến để nuôi cho thế giặc thêm mạnh
mà làm ngăn trở quân mình hay sao?”1 Bá Tiên hiếu chiến, đầy tham vọng, luônkích động Dương Phiêu, nên được cử làm tướng tiên phong, đem quân đi trước
1 Đại Việt sử ký toàn thư, tập I, Sđd, tr.180
25
Trang 27Biết tin quân Lương sắp sang, Lý Nam Đế càng gấp rút xây dựng lực lượng,huy động quân đội, đắp thành lũy, tăng cường bố phòng, sẵn sàng đánh giặc
Từ Phiên Ngung, quân Lương tiến theo đường biển vào Vạn Xuân Tháng
7-545, quân xâm lược tiến sâu vào nội địa nước ta ở lưu vực sông Hồng Lý Nam Đếthân dẫn ba vạn quân trấn giữ Chu Diên (mạn Hưng Yên), thiết lập chiến lũy, bốtrí thành thế trận phòng ngự lớn để chặn đánh quân của Trần Bá Tiên ở đây Vìquân giặc mới vào khí thế đương hăng, liên tục công phá thành Chu Diên; vì tươngquan lực lượng không có lợi cho quân ta nên Lý Bí bị thua, phải lui giữ cửa sông
Tô Lịch, dựng thành lũy để chống lại quân Lương
Chiếm được Chu Diên, Trần Bá Tiên kéo đại quân đến bao vây, tiến công
thành Tô Lịch Theo Trần thư, quân đội Vạn Xuân có khoảng vài vạn người giữ
thành ở cửa sông Tô Lịch, chiến đấu rất ác liệt, đánh bại nhiều đợt tiến công củaquân Lương Tuy nhiên, thành đất, lũy tre gỗ không mấy kiên cố mà quân Lươnglại dũng mãnh tiến công ráo riết, thế trận của quân Vạn Xuân dần dần bị vỡ, LýNam Đế buộc phải rút lui khỏi kinh đô, ngược dòng sông Hồng, lên giữ thành GiaNinh trên miền đồi núi trung du, ngã ba sông Trung Hà – Việt Trì
Theo thần tích, trong cuộc kháng chiến do Lý Nam Đế lãnh đạo, cuộc chiến ởcửa sông Tô Lịch hết sức quyết liệt Lão tướng Phạm Tu (có tài liệu cho là LýPhục Man), người đứng đầu hàng võ quan trong triều đình Vạn Xuân, đã chiến đấurất anh dũng và hy sing ngày 20 tháng bảy năm Ất Sửu ( 8-545)
Hạ được thành Tô Lịch, Trần Bá Tiên thúc quân tiến lên truy kích quân ta rồibao vây và tiến công thành Gia Ninh, đồng thới cử người báo tin thắng trận chochủ tướng Dương Phiêu Dương Phiêu liền đem hậu quân từ tuyến sau, theo đườngthủy, ngược dòng sông Hồng lên tiếp ứng
Gia Ninh là một chiến thành lớn, Lý Nam Đế tập trung lực lượng quyết tâmbảo vệ Dựa vào thành, quân ta cố sức cầm cự với giặc trong suốt mùa khô năm
545 Sau ba tháng tiến công liên tục, Trần Bá Tiên không thể chiếm được thành,quân sĩ bị chết rất nhiều, nhưng y vẫn không chịu từ bỏ kế hoạch đánh chiếm GiaNinh Sang tháng 2-546, có quân chủ lực của Dương Phiêu phối hợp, bao vây,công phá, quân giặc đã hạ được thành Gia Ninh của Lý Nam Đế vào ngày 25-2-
546 Theo Lương thư, năm Trung Đại Đồng thứ nhất, mùa Xuân tháng giêng ngày
Ất Sửu, phá thành Gia Ninh Các sách Lương thư và Tư trị thông giám đều chép
26
Trang 28việc phá thành Gia Ninh là do Thứ sử Giao Châu là Dương Phiêu chỉ huy Từ khiTrần Bá Tiên tới Giao Châu (7-545) đến khi thành Gia Ninh bị hạ (2-546) là támtháng Đó là cả một quá trình chiến đấu cầm cự của quân đội Vạn Xuân với quânLương tại đây Lực lượng quân sự do Trần Bá Tiên chỉ huy không đủ sức tiêu diệtquân của Lý Nam Đế tại Gia Ninh, mà chỉ bao vây trong một thời gian dài, khiếncho quân Lương lúc đó như Bá Tiên nói: “tướng sĩ đều mệt mỏi” Và đến tháng 2-
546, đợi khi đại quân của Dương Phiêu đến, quân Lương mới đủ lực lượng đểcông phá và hạ được thành Gia Ninh
Thành Gia Ninh bị vỡ, Lý Nam Đế cùng một số binh tướng tổ chức phá vây,kéo quân lên động Khuất Lão ở Tân Xương (tức miền đồi núi Phú Thọ trên lưuvực sông Lô) Quân Lương đóng lại ở cửa sông Gia Ninh
Lý Nam Đế dựa vào núi rừng Tây Bắc, ngoài số binh tướng còn lại sau trậnthất thủ Gia Ninh, ông đã mộ thêm quân, nhiều người Việt đủ các thành phần dântộc đã hăng hái gia nhập quân đội, tình nguyện đánh giặc cứu nước Quân đội của
Lý Nam Đế dựng lán trại trong rừng, hạ cây, xẻ ván đóng thuyền bè, chuẩn bị chomột hình thức kháng chiến mới
Sau một thời gian chỉnh đốn lại lực lượng, tháng 10-546, Lý Nam Đế kéoquân ra hạ thủy trại tại hồ Điển Triệt Lực lượng quân đội lúc đó đông tới ba, bốn
vạn, sĩ khi rất hăng Sách Việt sử thông giám cương mục chép: “Lý Bôn lại đem
quân từ trong xứ người Lão ra, đóng đồn ở hồ Điển Triệt Quân Lương sợ cứ đóng
ở cửa hồ, không dám tiến”1
Quân Lương từ Gia Ninh, ngược dòng sông Lô tiến lên hồ Điển Triệt, địnhđánh phá doanh trại của Lý Nam Đế Nhưng căn cứ Điển Triệt rất hiểm yếu, khóđánh, khí thế quân của Lý Nam Đế lại đang hồi phục, dũng cảm đánh chặn địch cảdưới nước lẫn trên bộ Thấy tình thế khó khăn, Dương Phiêu và Trần Bá Tiên chỉ
dừng lại ở ngoài cửa hồ, không dám tiến sâu thêm Sách Đại Việt sử ký toàn thư
chép: “Mùa Thu, tháng tám, vua lại đem hai vạn quân từ trong đất Lão ra đóng ở
hồ Điển Triệt, đóng nhiều thuyền, chật cả mặt hồ Quân Lương sợ, cứ đóng lại ởcửa hồ không dám tiến vào”2
1 Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Tập I, Nxb Giáo dục, H.1998, tr.171.
2 Đại Việt sử ký toàn thư, tập I, Sđd, tr.180.
27
Trang 29Trước tình hình ấy, Trần Bá Tiên họp các tướng bàn đánh Bá tiên nói: “Quân
ta ở đây đã lâu, tướng sĩ mỏi mệt, vả lại thế cô không có tiếp viện Tiến sâu vàotrong lòng nước người, nếu một khi đánh mà không thắng, thì đừng có mong sốngsót Nay nhân lúc bọn họ vừa thua luôn, lòng người chưa vững, mà người di Lão ôhợp, dễ bề đánh giết, chính nên cùng ra tay liều chết, cố sức đánh lấy, không có cớ
gì mà dừng lại, thì lỡ mất thời cơ” Tuy vậy, các tướng vẫn im lặng, không ai dámhưởng ứng
Rất tiếc, Lý Nam Đế đã bỏ mất thời cơ này Đáng lẽ, nhân lúc địch đang lúngtúng, hoang mang và chưa có kế sách đối phó, quân ta tổ chức phản công hoặcđánh úp chúng, để giành thế chủ động, thì hẳn cục diện sẽ có lợi, bởi vì lúc ấy khíthế trong quân đã khá hơn Có lẽ sau mấy lần thất bại liên tiếp, Lý Nam Đế đã cóphần e ngại, thiếu quyết đoán; khiến Trần Bá Tiên có thời gian dò biết tình hìnhbên ta để nhân sơ hở của quân ta mà tiến công trước?
Chủ trương trên của Trân Bá Tiên không được các tướng ủng hộ Cả hai bênđều án binh bất động Nhưng bỗng trời đổ mưa lớn, khiến nước sông dâng cao,tràn cả vào hồ, thuyền lớn của địch có thể dễ dàng cơ động; còn căn cứ của LýNam Đế trở thành một cô đảo giữa vùng sông nước mênh mông… Lợi dụng nướclớn mưa nhiều, đang đêm Trần Bá Tiên ra lệnh tiến công Các thuyền lớn của địchnối nhau xung trận, trống đánh quân reo, ào ào tiến vào hồ Điển Triệt Lý Nam Đế
và quân đội bị tập kích bất ngờ, không kịp phòng bị, hàng quân tan vỡ, không thểchống đỡ nổi Sử chép: “Đêm hôm ấy nước sông lên mạnh, dâng cao bảy thước,tràn đổ vào hồ Bá Tiên đem quân bản bộ theo dòng nước tiến trước vào QuânLương đánh trống reo hò mà tiến Vua vốn không phòng bị, vì thế quân tan vỡ,phải lui giữ ở trong động Khuất Lão”1
Đó là trận đánh cuối cùng của Lý Nam Đế Bị thất bại, Lý Nam Đế dùngthuyền sang bên hữu ngạn sông Lô, bí mật chạy vào động Khuất Lão Tinh Thiều
và nhiều tướng sĩ đã chiến đấu anh dũng và hy sinh trong trận hồ Điển Triệt Vàsau thất bại này, quân ta bị tổn thất nặng; Lý Nam Đế giao quyền cho đại tướngTriệu Quang Phục, con của Thái phó Triệu Túc điều khiển việc binh Hai năm sau,
Lý Nam Đế mất , đó là năm 548
1 Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, tr.180.
28
Trang 30Nguyên nhân thất bại trong quá trình lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quânLương của Lý Nam Đế có nhiều cách giải thích khác nhau Sử thần Lê Văn Hưubàn rằng: “Ba vạn quân đều sức thiên hạ không ai địch nổi Nay Lý Bí có năm vạnquân mà không giữ được nước, thế thì Bí kém tài làm tướng chăng? Hay là quânlính mới họp không thể đánh được chăng? Lý Bí cũng là bậc tướng trung tài, ratrận chế ngự quân địch giành phần thắng không phải là không làm được, nhưng bịhai lần thua rồi chết, bởi không may gặp phải Trần Bá Tiên là kẻ giỏi dùng binhvậy”1 Đó cũng là một cách giải thích Thực ra, trong chiến tranh giữ nước, LýNam Đế đã không có cách đánh thích hợp trong điều kiện phải lấy nhỏ đánh lớn,yếu chống mạnh Trên thực tế chiến đấu chống quân Lương, Lý Nam Đế chỉ dựavào quân đội mới được tổ chức, co cụm ở một số thành lũy để cố thủ, không dựavào dân, không dựa vào các làng xã để kháng chiến lâu dài, khi có điều kiện thìkhông tận dụng được thời cơ đánh giặc, vì thế lực lượng suy yếu dần và thất bại Tuy nhiên, sự nghiệp của Lý Nam Đế, trong đó có sự nghiệp đánh giặc ngoạixâm của ông thật vĩ đại Lý Bí và cuộc khởi nghĩa do ông lãnh đạo là một là mộtnhân vật, một sự kiện đặc biệt thời kỳ Bắc thuộc và chống Bắc thuộc Lịch sử đãghi nhận những cống hiến lớn lao của ông Nhân dân thương nhớ đã lập nhiều đềnthờ để tưởng niệm và ghi nhới công lao của người anh hùng dân tộc Lý Nam Đế.
1 Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, tr.182.
29
Trang 31ĐÃ PHÁT HIỆN ĐƯỢC DẤU TÍCH “ĐẠI BẢN DOANH LÝ NAM ĐẾ”
Ở LƯU XÁ (HUYỆN HOÀI ĐỨC – HÀ NỘI)
Minh Tú
(Phòng Văn hóa – Thể thao và Du lịch huyện Hoài Đức – Hà Nội)
Gần đây, sau thời gian khảo cứu các quần thể di tích Lý Nam Đế cùng cácnhân vật, sự kiện lịch sử có liên quan, chúng tôi được biết Lý Bí đã chọn ngày Giỗ
Tổ Hùng Vương (ngày Mười tháng Ba năm Nhâm Tuất – 10-4-542) làm ngày khởinghĩa, địa điểm xuất quân bắt đầu từ chùa Linh Bảo, làng Giang Xá…
Sau đó, chúng tôi nghĩ đến việc tìm kiếm “Bản doanh” của Lý Bí đi đôi vớiviệc làm thủ tục đề nghị Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch công nhận các loạihình di tích
Khi trở lại làng Lưu Xá (Hoài Đức), chúng tôi được biết đình làng cũng thờ
Lý Nam Đế làm thần Thành hoàng như làng Giang Xá (liền bên cạnh)
Qua việc khai thác sử liệu được biết 2 làng có 2 đình nhưng chung 1 đềnthờ Lý Nam Đế, đền có tên là “Thượng Đẳng Linh Từ” Chúng tôi gợi ý các cụcho xem những “vật báu” của Nhà Thánh, cuối cùng các cụ đã chấp thuận, để đượccông nhận đình làng là Di tích Lịch sử - Văn hóa1
Trong số những vật báu đó, đáng lưu ý nhất là tấm bản đồ cổ đã phác họa
lại “Đại bản doanh của Lý Nam Đế” Trước hết, nói về ngôi đình được xây dựng
lại ngay chính giữa Đại bản doanh, trên giữa thượng cung thờ Long ngai thần vị,đầu đội mũ “Kính thiên” (mũi chỉ trời) Trong lòng thần vị mang dòng chữ vàng
khắc nổi trên nền sơn son đỏ tươi: “Đương cảnh, Quốc vương thiên tử Lý Nam Đế
- Hoàng Đế bệ hạ - Thần vị” Cửu đình hướng về xứ: “Kinh Bắc xuất Thánh minh, khởi Giáp Tý, chung Mậu Thìn, Nhất thống sơn hà, khai đỉnh nghiệp”…
Để chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa chống quân Lương ở giữa thế kỷ thứ VItoàn thắng, ngay sau Tết Nguyên Đán năm Canh Thân (540), Lý Bí chỉ để một số
1 Chúng tôi là người trực tiếp quản lý Di tích, được phép xem những thứ đó (như trong Luật Di sản mà Chủ tịch nước đã ký).
30
Trang 32tướng lĩnh cùng quân sĩ bí mật chốt lại ở các căn cứ địa, chủ yếu như Giã Năng,Chu Diên, Liêu Đỗng, Tân Xương, Gia Ninh, Giang Tây… Số còn lại được ông
điều quân từ các nơi về đóng “Đại bản doanh” ở địa phận làng Lưu Xá (nay thuộc
xã Đức Giang, huyện Hoài Đức – Hà Nội) Sau khi đóng “Đại bản doanh” ở Lưu
Xá, Lý Bí đã xây dựng hàng loạt những cơ sở hoạt động quân sự của nghĩa quân,dưới hình thức chùa chiền để che mắt quân Lương như chùa Rộc, chùa Đúc, chùaGiáo (còn có tên là Linh Giáo tự) Chùa Đúc là nơi đúc và sản xuất các loại vũ khínhư: gươm, giáo mác, khiên, mộc… Chùa Giáo là nơi tập luyện gươm giáo Tươngtruyền rằng: Thời đó Lý Bí thường đóng vai “chú tiểu” hàng ngày từ chùa LinhBảo ở làng Giang Xá sang đánh trống ở chùa Rộc (làng Lưu Xá) Nghĩa quân nghetheo hiệu lệnh trống của thủ lĩnh mà luyện tập gươm giáo ở chùa Giáo Gò Lương– Y: là nơi để kho lương thực và trạm quân y (nay gọi là xóm Gạo); Gó Khảm –Mộc: là nơi đặt những bộ phận của xưởng công binh; vườn Quán: là nhà bếp vànhà ăn; gò Yên Ngựa; là nơi buộc ngựa của các tướng lĩnh từ các nơi về họp bànviệc quân (khu nhà mẫu giáo ngày nay); hồ Quần Ngựa: là nơi tắm của ngựa (ngaytrước cửa đình); gò Mũi Mác: là trạm tiền tiêu canh gác của “Đại bản doanh”; gòTrống Cờ: là nơi treo trống, cắm cờ; gò Tấu Thư: là nơi tiếp nhận những thư tín từcác nơi gửi về; Gò Nghiên – Bút: là nơi để các nghiên bút mực; gò Ấn: là nơi đóngdấu ấn tín của “Đại bản doanh”; gò Văn triều Hoàng đế: là nơi Lý Nam Đế kýnhững văn bản, chiếu chỉ của Quốc triều Vạn Xuân (sau ngày lên ngôi Hoàng đế
có những lần ông hành quân qua đây và đóng quân tại nơi này ít ngày và thăm dân
2 làng) Những dấu tích các đường hào, đường lũy vẫn còn để lại quanh làng Lưu
xá đến ngày nay Còn Cầu Thần: bắc qua dòng Tiểu Giang, chảy trước cửa ngôi
“Thượng Đẳng Linh Từ” mà nhân dân quen gọi là Quán Giang, là nơi khi còn là
“chú tiểu”, Lý Bí thường hay đi lối này về chùa Linh Bảo Lúc đóng “Đại bảndoanh” ở Lưu Xá, ông cũng qua lại lối này về chùa cho thuận tiện, kín đáo
Sau khi lên ngôi Hoàng đế vào ngày 12 tháng Giêng năm Giáp Tý 544), Lý Nam Đế cũng đã hành quân qua đây, vì lẽ đó mà địa phương đã dựng lại
(20-2-“Cầu Thần” để chiêm ngưỡng tưởng niệm Cây cầu xưa bằng gỗ Để được bền lâuhơn, nhân dân đã dựng lại cầu toàn bằng đá xanh theo nguyên hình mẫu cũ: cầu dài4,27 m, rộng 2,4 m, mặt cầu hơi uốn cong, lát 13 phiến đá to ghép xoi mộng, có 12cột và 4 xà đục chạm 4 đầu rồng thời Lý1 Các dấu tích “Đại bản doanh” Lý Nam
1 Sự tích này còn được ghi lại đầy đủ trong “Thần Kiều bi ký” (Bia viết về Cầu Thần)
31
Trang 33Đế ở Lưu Xá (Hoài Đức – Hà Nội) vẫn được thờ phụng tôn nghiêm cho đến ngàynay.
32
Trang 34VÀI NÉT VỀ TỔ CHỨC QUAN LẠI CỦA TRIỀU ĐÌNH NHÀ TIỀN LÝ
VÀ SỰ THÀNH LẬP NƯỚC VẠN XUÂN
PGS.TS Nguyễn Đức Nhuệ
(Viện Sử học)
Về cuộc khởi nghĩa của Lý Bí các bộ chính sử nước ta đều ghi chép tương
đối nhất quán: Đầu năm 542, Thứ sử Giao Châu là Vũ Lâm hầu Tiêu Tư, vì hàkhắc tàn bạo, mất lòng người Lý Bí vốn nhà hào trưởng, thiên tư lỗi lạc, làm quankhông được vừa ý, lại có Tinh Thiều là người giỏi mưu lược cũng bất bình vớitriều đình nhà Lương nên theo Lý Bí mưu việc dấy binh Lúc bấy giờ, Lý Bí làmchức Giám quân ở châu Cửu Đức (Nghệ Tĩnh), nhân đó liên kết với hào kiệt mấychâu, đều hưởng ứng
Cuộc khởi nghĩa thành công nhanh chóng và không gặp phải sự kháng cựnào của bọn đô hộ Trung Hoa Tiêu Tư vội sai người mang vàng bạc, của cải đútlót cho Lý Bí rồi chạy trốn về Việt Châu Tháng 4 năm 542, vua Lương sai Thứ sửViệt Châu là Trần Hầu, Thứ sử La Châu là Nịnh Cự, Thứ sử An Châu là Lý Trí vàThứ sử Ái Châu cùng hợp binh đánh Lý Bí nhưng bị Lý Bí tổ chức nghĩa quânphản kích khiến quân Lương hoàn toàn thất bại Nghĩa quân thắng lớn và nắmquyền làm chủ đất nước, từ đồng bằng Bắc bộ tới vùng Đức Châu (Nghệ Tĩnh) ởphía nam và vùng bán đảo Hợp Phố
Bị thua đau, nhà Lương tổ chức cuộc phản công lần thứ hai, sai Thứ sử CaoChâu là Tôn Quýnh và Thứ sử Tân Châu là Lư Tử Hùng điều khiển binh mã sangtrấn áp nhưng đã bị Lý Bí chủ động tổ chức một trận chiến lớn ngay trên miền cựcbắc Châu Giao Cuộc chiến diễn ra ở Hợp Phố Quân giặc, 10 phần chết tới 7,8phần, số còn lại tan vỡ
Sau khi đánh lui hai đợt phản công của quan lại nhà Lương, Lý Bí lại phảiđối phó với cuộc xâm lấn của Lâm Ấp ở phía nam Tháng 5 năm 543, vua Lâm Ấpnhân cơ hội Lý Bí đang dồn quân đối phó ở biên giới phía bắc, đã đem quân đánh
33
Trang 35phá Đức Châu (Nghệ Tĩnh) Lý Bí đã cử tướng Phạm Tu mang quân vào phươngnam đánh tan quân Lâm Ấp
Mùa xuân năm Giáp Tý (544), Lý Bí xưng lên ngôi, xưng là Nam Việt đế,đặt niên hiệu là Thiên Đức, quốc hiệu là Vạn Xuân (với mong muốn xã tắc truyềnđược đến muôn đời) Đặt trăm quan, xây điện Vạn Xuân để làm nơi triều hội, lấyTriệu Túc làm Thái phó, Tinh Thiều làm tướng văn, Phạm Tu làm tướng võ1 Cuộc
khởi nghĩa của Lý Bí và sự ra đời của nhà nước Vạn Xuân được các sử gia đời saubình phẩm khá sâu sắc Sử thần Ngô Thì Sĩ viết: “Tiền Nam Đế là một nhà hào tộckhởi binh, có Tinh Thiều giúp việc mưu mô, có Triệu Túc chủ việc quân ngũ.Châu quận hưởng ứng, hào kiệt đồng tâm, trục xuát được Tiêu Tư, đánh duổi được
Tử Hùng, lại phá được quân Lâm Ấp ở Cửu Đức Uy binh vang dội, thế mạnh dần
lên, rồi lên ngôi vua xưng là Nam Việt Có nơi triều hội, có tướng võ tướng văn,
quy mô dựng nước hoàn chỉnh có thể coi được … Từ sau khi Hai Bà Trưng mất tới
đây là 490 năm nội thuộc làm châu phụ biên, một khi vùng lên chống chọi với binhhung tướng mạnh của Tam Ngô, khiến cho người trong nước có chỗ nương nhờ,quốc thống có nơi hệ thuộc…”
Sử thần Nguyễn Nghiễm bình rằng: “Tiền Lý Nam Đế trỗi dậy nơi đấtkhách, hăng hái mưu khôi phục đất nước, văn thì đã có Tinh Thiều bày mưu kế, võdũng thì đã có Triệu Túc ra chiến trường, vì thế mà đuổi được Tiêu Tư về phươngBắc, dẹp được Lâm Ấp ở phương Nam, dựng đô, đặt quốc hiệu, khôi phục bờ cõinước ta Nếu không phải là người văn võ toàn tài thì chưa dễ đã làm được…”2
Theo ghi chép của sử cũ thì mô hình tổ chức của bộ máy nhà nước VạnXuân tương đối rõ ràng, gồm hai ban văn võ, đầy đủ bách quan, có đài Vạn Thọ
làm nơi triều hội… Tuy nhiên, xét bối cảnh lịch sử lúc ấy thì việc đặt trăm quan là
cách ghi chép của sử thần đời sau chứ chắc hẳn cơ cấu tổ chức bộ máy Nhà nướccủa triều đình Vạn Xuân còn quá đơn giản và có lẽ phỏng theo hình thức nhà nướcphong kiến Trung Hoa Trong triều đình Vạn Xuân buổi đầu, chính sử chỉ chép tênmột số nhân vật như Triệu Túc (Thái phó), Tinh Thiều (tướng văn), Phạm Tu
1 Trong nội dung trên có một số chi tiết ghi chép thiếu nhất quán trong các bộ sử Đại Việt sử ký Toàn thư và Đại Việt sử ký tiền biên ghi là dựng điện Vạn Thọ; Khâm định Việt sử thông giám cương mục (tr.169) và Việt sử cương mục tiết yếu (tr.40-41) ghi là dựng điện Vạn Xuân và dưa
ra giả định : « nay ở xã Vạn Phúc, huyện Thanh Trì, có hồ Vạn Xuân, còn gọi là đầm Vạn Phúc Vậy điện Vạn Xuân có lẽ ở đấy ».
2 Ngô Thì Sĩ: Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb KHXH, Hà nội, 1997, tr.110-111.
34
Trang 36(tướng võ) và Triệu Quang Phục (Tả tướng) Theo sắp xếp thứ tự thì Triệu Túcđứng đầu bách quan với chức Thái phó Vào thời điểm lập quốc, do phải đối phóvới quân Lương đang chuẩn bị kéo sang xâm lược và lo dẹp yên các cuộc nổi dậycủa một số tù trưởng địa phương nên Triệu Túc được giao toàn quyền về quânđội1, dưới ông là các tướng Phạm Tu, Triệu Quang Phục, Lý Phật Tử…
Chính sử không ghi chép cụ thể về chức quan của Phạm Tu nhưng qua một
số tài liệu khác cho biết ông từng giữ chức Thiếu úy, Thái úy Căn cứ vào cácnguồn tài liệu địa phương, đặc biệt là tài liệu văn bia và Thần tích cho biết Phạm
Tu chính là Lý Phục Man Năm 542, quân Lâm Ấp cướp phá Cửu Đức (miền NghệTĩnh), Phạm Tu được Lý Bí cử làm tướng cầm quân tiến đánh quân Lâm Ấp Khithắng trận trở về, ông được Lý Bí ban cho họ Lý, tên là Phục Man Lý Phục Manđược thờ làm Thành hoàng làng Cổ Sở (Hoài Đức) Làng Cổ sở về sau đổi tên
thành làng Yên Sở Sách Đại Nam nhất thống chí (tỉnh Sơn Tây) cho biết về vị
Thần được thờ ở đền thần Yên Sở như sau: “Thần người xã này, lúc còn trẻ, võnghệ hơn người, thờ Lý Nam Đế, nhiều lần lập công lớn, nổi tiếng trung liệt, đượclàm Đại tướng quân, lãnh hai miền Đỗ Động và Đường Lâm Người Di, Lão phải
xa lánh, dân địa phương được yên Lại nhiều lần đánh phá Lâm Ấp, Nam Đế khenthưởng Vì công lao chinh phục Man di, nên cho tên là Phục Man họ Lý, thăng
Thiếu úy, cho được tham dự quân cơ…”2 Lý Phục Man được thờ ở đình Yên Sở(nay là làng Đắc Sở hay còn gọi là Quán Giá, Đình Giá) Thần tích làng Yên Sở lạicho biết, sau khi chiến thắng quân Lâm Ấp, Phạm Tu được Lý Bí ban cho tên họ là
Lý Phục Man, gả cho công chúa Phương Dung làm vợ và phong chức Thái úy.
Triệu Quang Phục là con Thái phó Triệu Túc Khi Lý Nam Đế chạy về độngKhuất Lão đã “giao cho đại tướng là Triệu Quang Phục giữ việc nước điều quânđánh Trần Bá Tiên” Trong kỷ Triệu Việt Vương, Ngô Thì Sĩ cũng cho biết chứccủa Triệu Quang Phục là Tả tướng quân Chức này của Triệu Quang Phục cũng
được Lý Tế Xuyên chép ở mục Triệu Việt Vương và Lý Nam Đế trong Việt điện u
linh3 Ngoài ra, trong bộ máy quan lại triều đình Vạn Xuân còn có các chức Biệt súy
1 Trong Việt điện u linh có chép về sự kiện Lý Bí đem quân dẹp cuộc nổi loạn ở Bình Lâm (vùng Hà Trung, Thanh Hóa) được Bà Triệu ứng mộng phò giúp (Việt điện u linh trong Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam, tập I, Nxb Thế Giới 1997, tr 62
2 Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam nhất thống chí, tập IV, Nxb Thuận Hóa, Huế, 2006, tr.
277.
3 Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam, tập I, Nxb Thế Giới, 1997, tr 62.
35
Trang 37hạt Biệt tướng (Lý Phổ Đỉnh), Kiếp súy (Lý Thiên Bảo) và Chỉ huy sứ đại tướng Về
chức Chỉ huy sứ đại tướng được chép trong Thần tích về một bộ tướng của Lý Bí
Trong thời kỳ chuẩn bị khởi nghĩa, khi còn là Giám quân ở Cửu Đức, Lý Bí
ra sức tuyên truyền, chiêu tập và vận động nhân dân cùng các hào kiệt trong vùng.Chính vì vậy mà ảnh hưởng và uy tín của ông rất lớn Khi Lý Bí khởi nghĩa, nhiềuhào kiệt miền Cửu Đức đã đem quân theo ông chiến đấu Thần phả đình Yên Đê,
xã Kim Chung, huyện Hoài Đức kể lại một trường hợp như sau1:
Ở quận Cửu Đức xưa, có gia đình hai vợ chồng Trịnh Đoan và vợ là ĐàoHiểu, sinh được một người con trai tên là Trịnh Đô Trịnh Đô thông minh, cótài Năm 17 tuổi đã rất giỏi võ nghệ, sức địch nổi muôn người Năm 20 tuổi, bố
mẹ đều mất Trịnh Đô đem quân theo Lý Nam Đế, được phong là Chỉ huy sứ
đại tướng Trịnh Đô cũng đã tham gia cuộc kháng chiến giữ nước, chống quân
Trần Bá Tiên
Sau hai lần phản công đều thất bại, nhà Lương huy động một lực lượng lớnsang chinh phạt Giao Châu Nhân dân Vạn Xuân lại tiếp tục chiến đấu dưới sựlãnh đạo của Lý Nam Đế Hai bên kịch chiến, Lý Nam Đế bị thua, phải lui về miềnsông Tô Lịch, cuối cùng phải chạy về động Khuất Lão ở vùng Tân Xương2
Năm 548, Lý Nam Đế mất Anh ruột của Lý Nam Đế là Lý Thiên Bảo chạy vàoCửu Chân cùng với Lý Thiên Long đem hai vạn quân tiến đánh Đức Châu rồi tiến ravùng châu Ái, nhưng bị Trần Bá Tiên đánh bại Lý Thiên Bảo phải lui lên vùng thượng
du Thanh Hóa ngày nay, xưng là Đào Lang vương, đóng ở động Dã Năng Sự kiện này
được Trần thư chép lại: " Anh Lý Bí là Thiên Bảo trốn vào Cửu Chân cùng với
kiếp súy là Lý Thiên Long và hai vạn quân còn sót, giết thứ sử Đức Châu là TrầnVăn Giới, tiến vây Ái Châu "3 Triệu Quang Phục đóng quân ở đầm Dạ Trạch.Năm 555, Đào Lang vương mất ở Dã Năng, không có con, mọi người lại suy tôn
Lý Phật Tử lên nối ngôi, Sử cũ chép là kỷ Hậu Lý Nam Đế
1 Đỗ Văn Ninh (chủ biên) : Lịch sử Việt Nam từ khởi thủy đến thế kỷ X, Nxb KHXH, Hà Nội,
Trang 38Năm 557, Lý Phật Tử đem quân xuống phía Đông đánh nhau với TriệuQuang Phục ở huyện Thái Bình nhiều lần mà không phân thắng bại Sau hai bêngiảng hòa, chia địa giới ở bãi Quân Thần, Lý Phật Tử về đóng đô ở thành Ô Diên.Năm 570, Lý Phật Tử thôn tính được Triệu Quang Phục, vẫn xưng là Nam Đế, giữnguyên quốc hiệu là Vạn Xuân Hậu Lý Nam Đế rời đô từ thành Ô Diên về PhongChâu (tức Việt Vương thành, thành Cổ Loa), giao thành Ô Diên cho Lý Phổ Đỉnhquản giữ
Triều đình Vạn Xuân dưới triều Hậu Lý Nam Đế đóng đô tại thành Ô Diên (naythuộc làng Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng) Trong khu vực thành cổ Ô Diên xưa hiện còncác di tích như đình Vạn Xuân, miếu Hàm Rồng, đền Văn Hiến (thờ Tô Hiến Thành)
và đền Chính khí (tương truyền nằm trong phủ đệ của Hoàng tử Bát Lang)
Đình Vạn Xuân là một ngôi đình cổ còn khá nguyên vẹn, đã được xếp hạng
Di tích Lịch sử văn hóa cấp Quốc gia năm 1991 Hiện nay, tại đình còn một tấmbia khắc năm Vĩnh Trị 4 (1679) và cuốn Thần phả do Nguyễn Bính soạn năm
1572 Nội dung Thần phả cho biết : Hậu Lý Nam Đế giao cho nhân dân làng Hạ
Mỗ lập miếu thờ trên phủ đệ cũa của Hoàng tử Lý Bát Lang trong khu vực thành ÔDiên sau khi Hoàng tử qua đời Đó chính là miếu hàm Rồng
Trong đình còn lưu lại một số câu đối đáng chú ý :
南 帝 李 朝 國 號 萬 春 延 亭留 聖 跡
烏 鳶 境 勝 都 城 壹 世 貫 祀 顯 神 靈
Nam Đế Lý triều quốc hiệu Vạn Xuân, diên đình lưu thánh tích
Ô Diên cảnh thắng đô thành nhất thế, quán tự hiển thần linh
Tạm dịch:
Triều Lý Nam Đế nước Vạn Xuân, ngôi đình lớn còn lưu thánh tích
Đất Ô Diên thắng cảnh một thuở là kinh đô, việc thờ tự mãi linh thiêng
Tài liệu sớm nhất ở nước ta chép về thành cổ Ô Diên có lẽ là An Nam chí lược của Lê Trắc (biên soạn ở Trung Quốc khoảng đầu thế kỷ XIV) Trong mục Sự chinh
phạt của các triều đại trước, Lê Tắc có chép về thành Ô Diên như sau: “Năm Nhân
Thọ thứ 2 (602), Lý Phật Tử làm loạn, chiếm thành cũ của Việt Vương [tức thành Cổ
37
Trang 39Loa] Người con của anh là Đại Quyền chiếm thành Long Biên; còn tướng là Lý PhổĐỉnh chiếm cứ thành Ô Diên…1
Trong Việt điện u linh - tác phẩm của Lý Tế Xuyên được biên soạn xong vào năm Khai Hựu nguyên niên (1329) đời Trần Hiến Tông, ở mục truyện Triệu
Việt vương và Lý Nam Đế cũng có đoạn chép về thành Ô Diên như sau: “… Nam
Đế đã thôn tính xong Triệu Việt Vương, bèn thiên đô đến Lộc Loa và Vũ Ninh,phong anh là Xương Ngập làm Thái Bình Hầu giữ thành Long Biên, phong Đạitướng là Lý Tấn Đỉnh làm An Ninh Hầu giữ thành Ô Diên…” 2 So với một số tài
liệu chính sử sẽ dẫn dưới đây thì Việt điện u linh chép tên vị tướng giữ thành Ô
Diên là An Ninh Hầu Lý Tấn (晋) Đỉnh chưa không phải Lý Phổ (普) Đỉnh nhưphần nhiều các tài liệu khác
Nguyễn Trãi trong Dư địa chí (biên soạn năm 1434) khi chép về thời Tiền
Lý cũng cho biết: “Tiền Lý gọi nước là Vạn Xuân, đóng đô ở Long Biên, Triệu gọinước là Việt Triệu, đóng đô ở Chu Diên Đào Lang gọi nước là Dã Năng, Hậu Lýđóng đô ở Ô Diên rồi rời sang Phong Châu” Nguyễn Trãi cho biết thêm: Ô Diênthì ngày xưa thuộc Từ châu, bây giờ là huyện Từ Liêm 3 Tác giả Đặng Xuân Bảng
trong Sử học bị khảo cho rằng: “… sông Ô Diên (tức là Nhị Hà, Ô Diên là tên
huyện thời Hán, nay là đất huyện Từ Liêm) tức là sông Hát và cũng là tên khác củaNhị Hà4
Nửa cuối thế kỷ XV, Ngô Sĩ Liên biên soạn Đại Việt sử ký toàn thư kỷ
Triệu Việt vương có chép về thành Ô Diên như sau: “Đinh Sửu, năm thứ 10 (557)
… Lý Phật Tử đem quân xuống miền Đông, đánh nhau với vua [Triệu Việt vương]
ở huyện Thái Bình, năm lần giáp trận, chưa phân thắng phụ mà quân của Phật Tửhơi lùi, ngờ là vua có thuật lạ, mới giảng hòa xin thề Vua nghĩ rằng Phật Tử là họcủa Nam đế không nỡ cự tuyệt, bèn chia địa giới ở bãi Quân Thần (nay là hai xãThượng Cát, Hạ Cát thuộc huyện Từ Liêm) cho ở phía tây của nước, [Phật Tử] dời
1 Lê Tắc: An Nam chí lược, Nxb Thuận Hóa - Trung tâm văn hóa và ngôn ngữ Đông Tây, 2002,
tr 117.
2 Lý Tế Xuyên: Việt điện u linh trong Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam, tập I, Nxb Thế
giới, Hà Nội 1997, tr 64.
3 Nguyễn Trãi toàn tập (Dư địa chí), Nxb KHXH, Hà Nội 1976, tr 214.
4 Đặng Xuân Bảng: Sử học bị khảo Viện sử học & Nxb Văn hóa -Thông tin, Hà Nội 1997, tr.
263.
38
Trang 40đến thành Ô Diên (tức là xã Hạ Mỗ huyện Từ Liêm ngày nay, xã ấy nay có đền thờthần Bát Lang, tức đền thờ Nhã Lang)1
Thế kỷ XVIII, sử gia Ngô Thì Sĩ trong Đại Việt sử ký tiền biên, khi chép về
kỷ Hậu Nam Đế cho biết thêm về thành Ô Diên cũng như các sự kiện lịch sử diễn
ra trong thế kỷ VI và đầu thế kỷ VII: “Vua [Lý Phật Tử] đã diệt được Triệu, vẫnxưng hiệu là Nam Đế, đóng đô ở Ô Diên, rồi rời về Phong Châu… Nhâm Tuất,năm thứ 47 (602), Nam Đế sai con của anh mình là Đại Quyền giữ thành LongBiên, biệt súy là Lý Phổ Đỉnh giữ thành Ô Diên” 2
Sử gia Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục, phần Phong vực (trấn Sơn Tây)
khi chép về huyện Từ Liêm có đoạn viết: “Hai xã Thượng Cát và Hạ Cát, theo Sử
ký chép là chỗ phân chia địa giới giữa Triệu Việt vương và Hậu Lý Nam Đế, lúc
ấy gọi tên là Quân Thần châu Xã Hạ Mỗ theo sử nói tức là thành Ô Diên, chỗ ởcủa Triệu Việt vương Trong xã ấy có đền thờ Bát Lang, tức Lý Nhã Lang, con rểTriệu Việt vương3
Sang thế kỷ XIX, các sử thần triều Nguyễn khi biên soạn Khâm định Việt
sử thông giám cương mục cũng chủ yếu dựa vào Sử cũ mà chép về sự kiện tranh
chấp quyền lực giữa Triệu Việt vương và Lý Phật tử Từ năm 557, sau khi hai bêngiảng hòa, Lý Phật tử về đóng ở thành Ô Diên Năm 570, sau khi diệt nhà Triệu,
Lý Phật Tử tự xưng đế mới rời đô từ thành Ô Diên sang Phong Châu Theo nhiềutài liệu cho biết thì thành Phong Châu tức Việt Vương thành, hay thành Cổ Loa4,còn thành Ô Diên thì giao cho biệt tướng là Lý Phổ Đỉnh trong giữ5
Sách Đại Nam nhất thống chí được biên soạn vào cuối thời Tự Đức triều
Nguyễn xếp thành cổ Ô Diên vào mục Cổ tích c\của tỉnh Hà Nội Sách ấy chép:
“Thành cổ Ô Diên: ở địa phận huyện Từ Liêm, sau kh [Hậu] Lý Nam Đế giảng hòa
1 Ngô Sĩ Liên và sử thần triều Lê: Đại Việt sử ký Toàn thư, tập I, Nxb KHXH, Hà Nội 1967, tr.
122.
2 Ngô Thì Sĩ: Đại Việt sử ký Tiền biên, Nxb KHXH, Hà Nội 1997, tr 109 - 110.
3 Lê Quý Đôn: Kiến văn tiểu lục, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội 2997, tr 334.
4 Như Toàn thư, An Nam chí lược, An Nam chí nguyên, Phương dư kỷ yếu … Thời Đường, Cổ
Loa thuộc đất Phong Châu.
5 Quốc sử quán triều Nguyễn: Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập I, Nxb Giáo dục,
Hà Nội 1998, tr 177.
39