1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Báo cáo ngành hàng chè quý III/ 2006

6 510 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo cáo ngành hàng chè quý III/ 2006
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm
Chuyên ngành Ngành hàng chè
Thể loại báo cáo
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 289,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Báo cáo ngành hàng chè quý III/ 2006

Trang 1

Báo cáo ngành hàng chè quý III/ 2006 (09/03/2007)

1 Diễn biến thị trường chè thế giới

Theo dự đoán của nhà phân tích F.O.Licht, sản lượng chè thế giới năm

2006 lần đầu tiên giảm sút sau 7 năm kể từ 1999, nguyên nhân chủ yếu

là do tình trạng hạn hán nặng nề ở các nước châu Phi hồi đầu năm

Trong 8 tháng đầu năm nay, sản lượng chè Kenya chỉ đạt 181,2 nghìn

tấn so với mức 209,4 nghìn tấn cùng kỳ năm 2005 Theo số liệu thống

kê của Uỷ ban Chè Kênia (TBK), sản lượng chè của nước này trong quý

III/06 đã tăng 8% so với cùng kỳ năm trước, đạt 75 nghìn tấn Tuy

nhiên, hậu quả tai hại của đợt hạn hán đặc biệt nghiêm trọng hồi quý I

vừa qua vẫn còn dai dẳng, khiến sản lượng chè của Kênia năm 2006 có

thể giảm tới 11% so với năm 2005 và chỉ ở mức 209.000 so với 236.000

tấn Giám đốc TBK, bà Sicily Kariuki, cho rằng, sản lượng trong quý I/

06 giảm mạnh đã dẫn tới sự sụt giảm sản lượng chè của cả năm nay

trong khi sản lượng quý III tăng là nhờ điều kiện thời tiết đã thuận lợi

hơn Dự báo, sản lượng chè của Kênia trong quý IV này sẽ còn tăng

mạnh hơn nữa

Sản lượng chè toàn cầu trong 8 tháng đầu năm 2006 đạt 1050,3 nghìn

tấn, thấp hơn so với 1069,3 nghìn tấn cùng kỳ năm ngoái Ngoài ra, việc

tăng giá dầu thế giới cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới sản lượng chè

thế giới do giá dầu tăng cao không những làm tăng chi phí nhiên liệu

đốt trong quá trình chế biến chè mà còn làm tăng chi phí của phân bón

-sản phẩm mà đầu vào chính là dầu mỏ

Hạn hán tại các nước châu Phi, đặc biệt là Kenya, một trong những

nước xuất khẩu chè hàng đầu thế giới, đã mang lại cơ hội cho ngành chè

của các nước xuất khẩu lớn khác như Ấn Độ và Srilanka Cụ thể, trong

thời gian từ tháng 1-8/2006, xuất khẩu chè Ấn Độ đã tăng từ 110,6

nghìn tấn cùng kỳ năm 2005 lên 114,1 nghìn tấn Trong khi đó, khối

lượng chè xuất khẩu của Sri Lanka tăng mạnh từ 188,6 nghìn tấn lên

210,5 nghìn tấn Theo ông Sujit Patra - thư ký của Hiệp hội chè Ấn Độ,

xuất khẩu chè của Ấn Độ sẽ tăng trưởng mạnh vào cuối năm nay

Do việc giảm sản lượng, giá chè có xu hướng đi lên trên thị trường toàn

cầu Giá chè hiện đang có xu hướng đi lên trên phạm vi toàn cầu Năm

2006, giá chè trung bình của Ấn Độ đạt 65,49 rupee/kg, tăng so với mức

58,23 rupee/kg cùng kỳ năm ngoái Giá chè Kenya tăng mạnh từ 63,83

rupee/kg lên 91,74 rupee/kg

Xét riêng trong quý III, diễn biến giá chè trên một số thị trường đấu giá

lớn như Kenya và Bangladesh biến đổi thất thường, phụ thuộc vào nhu

cầu mua của khách hàng Tuy nhiên, có thể thấy sau xu hướng tăng giá

trong quý II, đến quý III, giá chè trên cả hai thị trường trên có dao động

nhưng không lớn

Trên thị trường Bangladesh, sau việc giảm giá nhẹ trong 5 tuần đầu tiên

của quý III, nhìn chung giá chè các loại (bao gồm Broken, Fannings và

Dust) đều tăng lên trong 4 tuần tiếp theo, do sự tham gia của các khách

mua từ khối cộng đồng các quốc gia độc lập (CIS) và Pakistan Trong

các tuần còn lại của quý III, giá chè các loại trên thị trường Bangladesh

Văn kiện TW TQ

Văn kiện TƯ Đảng Trung Quốc năm 2004 Văn kiện TƯ Đảng Trung Quốc năm 2005

Tiêu điểm

Thông tin nông nghiệp nông thôn tại Trung Quốc

Nông nghiệp nông thôn Trung Quốc

Bản đồ về dịch cúm gia cầm

Hoạt động của Viện

Lần đầu tiên Việt Nam dự báo triển vọng ngành hàng Hợp tác IPSARD -CCAP trong NNPTNT

Hoạt động Bộ, ngành

Trang 2

lại giảm sút do thiếu vắng các khách mua nước ngoài

Tại thị trường Kenya, giá của hai loại chè BP1s và PF1s có dao động

đôi chút qua các tuần đấu giá, trong đó giá chè BP1s có xu hướng ổn

định hơn chè PF1s Có thể thấy, biên độ dao động của giá còn phụ thuộc

vào chất lượng chè

Nguồn: Tổng hợp tin từ Reuters, Quý III/2006

Nguồn: Tổng hợp tin từ Reuters, Quý III/2006

Ghi chú: BP1s: Brighter Best Pekoe Ones

PF1s: Brighter Pekoes Fanning One

2 Tình hình xuất khẩu và diễn biến thị trường chè Việt Nam

Sau thời gian tăng trưởng nhanh về cả lượng và giá trị xuất khẩu trong

quý II, sang đến quý III, xuất khẩu chè của Việt Nam có xu hướng

chững lại và giảm sút Xét về lượng xuất khẩu, sau 4 tháng tăng trưởng

liên tục (từ tháng 4 đến tháng 7/2006), khối lượng xuất khẩu chè đột

ngột giảm sút vào tháng 8/2006, từ mức 11 nghìn tấn của tháng 7 xuống

mức 9,4 nghìn tấn của tháng 8 Tuy lượng xuất khẩu có tăng lên nhẹ

vào tháng 9 (ở mức 9.5 nghìn tấn), nhưng do giá xuất khẩu trung bình

của tháng 9 giảm, nên giá trị xuất khẩu của các tháng trong quý III đều

giảm, từ mức 11,9 triệu USD của tháng 7 xuống 11,4 triệu USD của

tháng 8 và 10,7 triệu USD vào tháng 9 Tính đến hết tháng 9/2006, tổng

lượng chè xuất khẩu của Việt Nam đạt 74 nghìn tấn, tương đương với

77,5 triệu USD, tăng 30,7% về lượng và 28,2% về giá trị so với cùng kỳ

năm ngoái

Tuy nhiên, xét về mặt giá xuất khẩu, hiện giá chè của Việt Nam vẫn ở

mức thấp so với sản phẩm cùng loại của các nước trên thế giới Đơn giá

xuất khẩu của Việt Nam chỉ bằng 55-70% so với giá của nhiều nước tuỳ

theo mặt hàng chè Giá chè bình quân 9 tháng đầu năm nay đạt 1.051

USD/tấn, giảm so cùng kỳ năm trước khoảng 2%

Bộ Nông nghiệp và PTNT tổ chức giao lưu trực tuyến

Lễ ký kết hiệp định “Hỗ trợ Chương trình PTNNNT 2007-2012”

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn

Cần có đột phá

về tư duy KHCN trong ngành NN&PTNT

Nghiên cứu, trao đổi

KIST - Viện nghiên cứu theo hợp đồng Xây dựng và hoàn thiên hệ thống chỉ báo phát triển NNNT CCAP - DN mũ đỏ trong hệ thống nghiên cứu Trung Quốc

Theo dòng sự kiện

Kỳ học thứ nhất Quốc hội Khóa XII

Nên giải thể hoặc sáp nhập một số ban của Đảng

Sắp xếp các cơ quan tham mưu chính sách khối Đảng

Điều chỉnh tổ chức Chính phủ

và Bộ NN&PTNT

Dự thảo Nghị định về quyền hạn, cơ cấu của Bộ

Trang 3

Nguồn: Tổng hợp từ Tổng Cục Thống Kê, quý III/2006

Nguồn: Tổng hợp từ Tổng Cục Thống Kê, quý III/2006

Xét về cơ cấu xuất khẩu theo thị trường, trong quý III/2006, Đài Loan vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất với 5.574 tấn (tương đương 6.103 nghìn USD) Bên cạnh đó là các thị trường Ấn Độ (1.688 tấn), Nga (2.864 tấn) và Trung Quốc (2.526 tấn) Đặc biệt, lượng xuất khẩu chè

Trang 4

sang Irắc tăng đột ngột, đưa Irắc trở thành một trong những thị trường xuất khẩu chính của sản phẩm chè Việt Nam (2.313 tấn trong quý III/2006) Riêng lượng xuất khẩu trong quý III chiếm tới 70% tổng lượng xuất sang Irắc tính đến hết tháng 9/2006 Ngoài ra, giá xuất khẩu trung bình sang các thị trường như Irắc, Thổ Nhĩ Kỳ, Đức tương đối cao hơn các thị trường như Đài Loan, Ấn Độ, Nga hay Trung Quốc Tính đến hết tháng 9/2006, các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam có thể được kể tới là Đài Loan, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc, Irắc, Đức, Hà Lan, Ba Lan, Thổ Nhĩ Kỳ và Anh Trong đó, Đài Loan chiếm 19% về lượng và 18% về giá trị, trong khi Ấn Độ đóng góp 8% về lượng và 11% về giá trị, Nga và Trung Quốc cũng đóng góp lần lượt 9% và 7% vào tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu chè của Việt Nam So sánh với các thị trường xuất khẩu chính của chè Việt Nam năm 2005, có thể thấy cơ cấu xuất khẩu theo thị trường của chè Việt Nam có sự biến động Ngoài

4 thị trường truyền thống là Đài Loan, Nga, Đức và Ba Lan, các nước nhập khẩu một lượng tương đối lớn chè Việt Nam trong năm 2005 bao gồm Pakistan, Ukraina, Mỹ, Singapore, Pháp và Nhật Bản được thay thế bởi các nước Ấn Độ, Irắc, Trung Quốc, Hà Lan, Thổ Nhĩ Kỳ và Anh trong năm 2006

3 Một số nhận định và dự báo

Theo dự báo của bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn, năm 2006 trị giá xuất khẩu chè của cả nước sẽ đạt khoảng 110 triệu USD, tăng 10 triệu USD so với năm 2005 Đây sẽ là lần đầu tiên kim ngạch xuất khẩu chè của Việt Nam vượt mức 100 triệu USD với số lượng khoảng 95 nghìn tấn chè các loại

Thống kê của Bộ NN-PTNT cho thấy, tại 20 tỉnh vùng chè tập trung của

cả nước có 240 cơ sở chế biến công nghiệp, tổng công suất trên 3.100 tấn búp tươi/ngày (600.000 tấn búp tươi/năm) Tuy nhiên, với sản lượng chè búp tươi như năm 2005 thì mới đáp ứng được 88% nhu cầu nguyên liệu chè búp của các cơ sở chế biến công nghiệp Đó là chưa kể, hàng trăm cơ sở chế biến chè thủ công, bán công nghiệp cũng tham gia thu mua nguyên liệu để sơ chế và nhiều cơ sở đấu trộn ướp hương đóng gói chè

Theo Bộ NN-PTNT, tại các tỉnh vùng chè miền núi phía Bắc, sự phát triển quá nhiều cơ sở chế biến không cân đối với nguyên liệu gây nên tình trạng tranh chấp nguyên liệu khá gay gắt trong nhiều năm qua, đặc biệt ở Phú Thọ, Thái Nguyên, Tuyên Quang Phú Thọ có 75 cơ sở chế biến Song, riêng nhu cầu nguyên liệu tại chỗ của các Công ty chè Phú Bền, Phú Đa và của tư nhân đã lên tới 175.000 tấn chè búp tươi/năm Trong khi đó, sản lượng chè búp năm 2005 mới đạt 63.700 tấn, chỉ đáp ứng được 36% nhu cầu nguyên liệu của các cơ sở chế biến trên địa bàn

Tại Hội nghị phát triển chè các tỉnh miền núi phía Bắc, Bộ NN-PTNT

đã yêu cầu các địa phương cần rà soát, sắp xếp lại các cơ sở chế biến chè một cách phù hợp nhất Các địa phương phải có kế hoạch rà soát, đánh giá năng lực thiết bị, công nghệ và khả năng cung cấp nguyên liệu của các cơ sở chế biến trên địa bàn Từ đó, kiên quyết đình chỉ hoạt

Trang 5

động hoặc thu hồi giấy đăng ký kinh doanh đối với các đơn vị không đảm bảo các điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm theo quy định Bộ khuyến khích các cơ sở áp dụng tiêu chuẩn về chất lượng, ATVSTP đối với chè như ISO-9001:2000 và HACCP Bên cạnh đó, từng địa phương phải đảm bảo điều tiết, phân vùng nguyên liệu của các cơ sở chế biến để khắc phục cả hai xu hướng: tranh chấp trong thu mua hoặc ép cấp (phẩm cấp chè), ép giá đối với người sản xuất

Bộ NN-PTNT cho biết, miền núi phía Bắc là vùng chè phát triển sớm nhất, có diện tích lớn nhất nước Tại đây, đã có những loại chè nổi tiếng trong nước và trên thế giới như Tân Cương (Thái Nguyên), Thanh Ba (Phú Thọ), Mộc Châu (Sơn La), Shan tuyết Suối Giàng (Yên Bái) Tổng diện tích chè toàn vùng năm 2005 xấp xỉ 90.800ha, chiếm 80,7% diện tích chè toàn quốc Trong đó, Thái Nguyên là địa phương có diện tích chè lớn nhất trong vùng với 16.400 ha (18,1%)

Mặc dù tốc độ tăng diện tích chè cao trong vòng 10 năm qua (1996-2005), lên tới gần 150%, nhưng sản lượng chè vẫn thiếu hụt do không chạy theo nổi số lượng nhà máy, cơ sở chế biến và do năng suất chè không cao Trên 70% diện tích chè hiện sử dụng các giống chè chất lượng trung bình Hầu hết diện tích chè phân tán của các hộ dân còn làm đất bằng thủ công Diện tích chè được tưới nước chỉ chiếm khoảng 2%

Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn dự báo trong vòng 3-5 năm tới lượng chè gói tiêu thụ trên thị trường Nga sẽ chiếm 30-35% tổng lượng chè tiêu thụ hàng năm, tăng khoảng 20-30% so với mức hiện nay Mỹ cũng là thị trường tiêu thụ chè lớn thứ 8 với cơ cấu chè đen chiếm tới 84% Còn lại khoảng 65% lượng chè chế biến dưới dạng tinh chế, các sản phẩm đặc sản phục vụ nhu cầu nội địa

Thị trường chè xuất khẩu của Việt Nam chưa thật sự ổn định, do chất lượng chè không cao và được bán dưới dạng nguyên liệu là chính Việc xây dựng thương hiệu cho chè cũng chưa được quan tâm Chỉ mới gần đây, chè của Việt Nam mới được các nhà nhập khẩu biết đến với biểu tượng chè ba lá - tên giao dịch là Vinatea Tuy nhiên, thương hiệu Vinatea của VITAS có vẻ chưa thực sự khẳng định được uy tín cho ngành chè đen xuất khẩu, biểu hiện ở việc nhiều doanh nghiệp xuất khẩu với khối lượng lớn mà không cần mang thương hiệu Vinatea, và ngược lại

Có thể thấy, các hoạt động như hội thi chất lượng chè được tổ chức tại Thái Nguyên tháng 9 vừa qua, hay Lễ hội Văn hoá chè sẽ diễn ra tại Đà Lạt, Lâm Đồng tháng 12 tới sẽ có tác dụng tích cực nhằm lựa chọn, tôn vinh những sản phẩm chè có chất lượng, giới thiệu sản phẩm trà Việt Nam, kỹ thuật sao tẩm, pha chế, giới thiệu nét văn hóa uống trà của Việt Nam Những hoạt động như thế sẽ tạo điều kiện để giới thiệu ra thế giới sự phong phú của sản phẩm chè Việt Nam nhằm hỗ trợ đẩy mạnh xuất khẩu, đưa trà vào hoạt động du lịch của địa phương, tạo ra nét văn hóa uống trà Việt Nam Đây cũng là dịp để các bên liên quan có cơ hội đối thoại trực tiếp, tìm giải pháp tối ưu cho việc giữ gìn, nâng cao uy tín

Trang 6

của chè Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế

Tài liệu tham khảo:

1 Thông tin thương mại hàng hoá - Bộ Thương Mại:

http://www.vinanet.com.vn/Eachofgoods.aspx?mh=TEA

2 Chuyên trang chè - Trung tâm tin học Nông nghiệp và thống kê (ICARD), Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn:

www.agroviet.gov.vn

3 Chuyên trang chè – Trung tâm thông tin PTNNNT, Viện Chiến lược

và chính sách nông nghiệp: http://agro.gov.vn/news/groups_news.asp

4 Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch tháng 9 và 9 tháng đầu năm

2006, ICARD, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

Các tin khác:

nhũng, lãng phí năm 2007 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (09/03/2007)

giới (02/03/2007)

Ngày đăng: 20/10/2012, 10:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w