Mục tiêu của lớp chuyên đề này là giúp các bạn làm quen với những bước đánh giá tác động, nắm bắt được cuộc tranh luận hiện nay về tài chính vi mô trong mối quan hệ với Khuôn khổ lý thuy
Trang 1(Nội dung gỡ băng)
ngày 1, sáng thứ hai ngày 22
tháng 7
Giới thiệu giảng viên và học viên (xem phần
lý lịch giảng viên và danh sách học viên ở
cuối chương)
[Laure pasquier-Doumer]
Chúng tôi sẽ đề cập vấn đề đánh giá tác động
trong trường hợp đặc thù là tài chính vi mô
Mục tiêu của lớp chuyên đề này là giúp các
bạn làm quen với những bước đánh giá tác
động, nắm bắt được cuộc tranh luận hiện
nay về tài chính vi mô trong mối quan hệ với
Khuôn khổ lý thuyết của lớp chuyên đề này bao gồm các nội dung sau:
- hôm nay, chúng tôi sẽ đề cập các thách thức của đánh giá tác động và những khó khăn về mặt phương pháp luận của nó, đặc biệt là việc tìm kiếm giá trị đối chứng và lựa chọn nhóm đối chứng Kết thúc ngày hôm nay, chúng tôi sẽ giới thiệu các phương pháp đánh giá định lượng chính – phương pháp thực nghiệm và bán thực nghiệm;
- thứ ba ngày 23 tháng 7 Chúng tôi sẽ phân tích vấn đề lựa chọn phương pháp đánh giá trên cơ sở các công cụ kinh tế lượng vi mô khác nhau để đánh giá tác động của một
dự án, ngoài ra cũng phải tính đến địa bàn thực hiện cũng như những điều kiện ràng buộc của dự án Các phương pháp định lượng mà chúng tôi trình bày là phương
2.3 Đánh giá tác động:
các phương pháp và ứng dụng trong lĩnh vực tài chính vi mô
Florent Bédécarrats – Ủy ban trao đổi nghiên cứu và thông tin
về các hệ thống tiết kiệm-tín dụng, Axel Demenet – IRD-DIAL,
Christophe Jalil Nordman – IRD-DIAL, Laure Pasquier-Doumer –
IRD-DIAL, François Roubaud – IRD-DIAL, Phùng Đức Tùng – Viện
Nghiên cứu phát triển Mê Kông, Bertrand Savoye – AFD
Trang 2pháp ghép cặp và các phương pháp khai
thác dữ liệu thời gian tuyến tính Các vấn
đề về khái niệm, thể chế và phương pháp
luận liên quan đến đánh giá tác động sẽ
được minh họa qua ví dụ của chương trình
135 về xóa đói giảm nghèo, nội dung này
được trình bày vào cuối buổi sáng, sau
đó chúng ta sẽ chuyển sang hội trường
lớn để nghe bài giảng từ Paris truyền qua
video-conference về những đặc thù của
việc đánh giá tác động các chương trình tài
chính vi mô;
- nội dung buổi sáng thứ tư sẽ là những khó
khăn của một nghiên cứu đánh giá tác
động trong lĩnh vực tài chính vi mô, tiếp
theo đó là vấn đề chuyển từ câu hỏi nghiên
cứu sang dạng bảng hỏi điều tra;
- hai ngày cuối cùng sẽ dành cho bài tập thực
hành Lớp học chia thành hai nhóm : nhóm
thứ nhất làm bài thực hành với phần mềm
Stata – ứng dụng các phương pháp ghép
cặp, khác biệt kép, biến công cụ, phân tích
kết quả và đánh giá ba phương pháp này – ;
nhóm hai, dựa trên dữ liệu và thông tin từ
hai đánh giá tác động (Al Amana và Adéfi),
sẽ xác định các tiêu chí dựa theo đó để xây
dựng đánh giá và phân tích các tác động
được trông chờ của chương trình và chuỗi
nguyên nhân-kết quả giữa các sản phẩm
của chương trình và tác động của chúng
– xác định các vấn đề đặt ra, lựa chọn
phương pháp, bảng hỏi, phân tích kết quả,
hạn chế và triển vọng, thảo luận để xây
dựng khung đánh giá tác động
Kết quả của mỗi nhóm sẽ được trình bày
trước lớp, sau đó chuẩn bị báo cáo thu
hoạch để trình bày vào thứ Bảy ngày 27
tháng 7
2.3.1 Các thách thức của đánh giá tác động: từ đánh giá nhu cầu tới phân tích chi phí-lợi nhuận Cần trả lời những câu hỏi nào khi thực hiện đánh giá?
Từ đầu những năm 2000, đánh giá tác động
là một vấn đề trọng tâm của chính sách công: các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDGs)
và tài liệu chiến lược về giảm nghèo (DSRP) đều coi đánh giá tác động – cùng với việc giám sát – là một nội dung chính thức.Các nguyên tắc mới của viện trợ phát triển (ODA) – tiêu chí lựa chọn, hỗ trợ ngân sách, tiếp quản dự án, v.v – cũng đều dựa trên
kết quả nghiên cứu đánh giá tác động (xem
thêm Tuyên bố, OECD, 2005) Hơn nữa, trên
quan điểm nghiên cứu và phương pháp luận, nhiều công cụ mới cũng đã được phát triển phục vụ cho công tác đánh giá
Đánh giá chính sách còn quan trọng hơn nữa
ở các nước đang phát triển, vì ở các nước này nguồn lực còn hạn chế trong khi nhu cầu lại rất lớn Vấn đề là dù nhu cầu ngày càng tăng nhưng những đánh giá tác động vẫn chưa được coi là nội dung chính trong việc thực hiện các chính sách phát triển Văn hóa đánh giá tác động một cách chặt chẽ vẫn còn trong giai đoạn chập chững Lý do là bởi người ta cho rằng đánh giá tác động quá tốn kém, phức tạp và đôi khi không chính xác Tuy nhiên:
- chi phí đánh giá nhìn chung chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong tổng chi phí thực hiện
dự án, trong khi đó, việc thực hiện đánh giá giúp tránh lãng phí nguồn lực khi đầu tư vào các dự án không hiệu quả;
- khó khăn về kỹ thuật thực tế không phải
là nhỏ, nhưng có thể giải quyết được một
Trang 3phần nếu xây dựng được một kế hoạch
chặt chẽ ngay từ đầu và được sự ủng hộ từ
phía các cơ quan lãnh đạo;
- thực hiện đánh giá tác động sẽ giúp cải
thiện, thiết kế xây dựng dự án hiệu quả hơn,
hoặc hủy bỏ các chương trình xây dựng
không hiệu quả (không thực sự hướng
tới đối tượng mục tiêu, lãng phí nguồn
lực, v.v ) Kiến thức tổng hợp được từ các
nghiên cứu đánh giá tác động sẽ là một
nguồn tài sản chung, có thể huy động khi
xây dựng các chương trình và dự án mới
Cần phân biệt hai cách tiếp cận trong đánh
giá định lượng các chính sách:
- « vi mô » và ex post – phương pháp chủ
động – : đánh giá tác động dựa trên dữ liệu
vi mô và các phương pháp thực nghiệm
hoặc bán thực nghiệm; có thể áp dụng để
đánh giá các chương trình mục tiêu như
chương trình an sinh xã hội (safety nets),
chương trình hòa nhập xã hội, v.v
- « vĩ mô » và ex ante – phương pháp quy
chuẩn – : mô hình mô phỏng trên cơ sở
phân tích giá trị đối chứng (EGC) dựa trên
các nhóm hộ gia đình đại diện, có thể áp
dụng vào các chính sách thương mại, chính
sách thuế, các chương trình cải cách cơ cấu,
v.v
Bây giờ chúng ta sẽ tập trung vào nhóm
phương pháp đánh giá tác động thứ nhất
Đánh giá tác động là một trong các bước cần
thực hiện của một nghiên cứu đánh giá tác
động hoàn chỉnh bao gồm ba mảng: đánh
giá nhu cầu (đâu là đối tượng mục tiêu? đánh
giá bản chất vấn đề cần giải quyết? chương
trình được thực hiện trong khuôn khổ nào?
các nhu cầu khác là gì?); đánh giá tiến trình
thực hiện (các dịch vụ có được cung cấp?
các dịch vụ có đến được với đối tượng mục tiêu hay không? khách hàng có hài lòng hay không? các vấn đề gặp phải trong quá trình thực hiện?) ; một đánh giá tác động xác định liệu chương trình có những tác động mong đợi tới các cá nhân, hộ gia đình, cơ quan thể chế, tức là các đối tượng thụ hưởng chương trình hay không, hoặc nếu có tác động thì
đó có phải là tác động của chương trình hay không
Ngoài hai câu hỏi chính này, cũng nên tự hỏi
là chương trình tác động tới đối tượng thụ hưởng như thế nào, chương trình có mang lại những lợi ích mong đợi không, những tác động đó liệu có thể xảy ra nếu không có chương trình, các nguồn lực có được sử dụng hiệu quả hay không, v.v
Kết quả phân tích chi phí-lợi ích là kết quả của
ba bước phân tích này: đánh giá chi phí trong tương quan với lợi ích của chương trình và việc sử dụng hay không sử dụng nguồn vốn cam kết
Minh họa từ chương trình Sky triển khai tại Campuchia
Tài chính vi mô bao gồm cả tiết kiệm vi mô, bảo hiểm vi mô và tín dụng vi mô; Sky là một chương trình bảo hiểm vi mô
Đây là một chương trình bảo hiểm y tế vi mô được GRET – Tổ chức nghề nghiệp đoàn kết
và hợp tác quốc tế – và Bộ y tế Campuchia bắt đầu thực hiện vào năm 1998 Chương trình đặt mục tiêu đảm bảo an toàn kinh tế cho các hộ gia đình nông thôn thông qua hỗ trợ họ tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc y tế phù hợp và có chất lượng, thành lập một cơ quan địa phương để tiếp quản chương trình này sau khi GRET rút đi
Trang 4Bối cảnh chung của chương trình trong
những năm 2000:
- thiếu chính sách bảo hiểm y tế, tuy nhiên
người nghèo được miễn viện phí khi khám
chữa bệnh ở các cơ sở y tế công;
- hệ thống y tế công không đủ ngân sách
hoạt động, cán bộ nhân viên y tế thiếu hụt
và được trả lương thấp; chịu sự cạnh tranh
từ các cơ sở y tế tư nhân hoạt động thiếu
kiểm soát;
- hệ thống cung cấp dịch vụ y tế công được
tăng cường dần thông qua chính sách ký
hợp đồng contracting của các trạm y tế với
các tổ chức phi chính phủ NGO;
- chính sách bảo hiểm y tế cũng dần được
phát triển từ năm 2003 (quỹ hỗ trợ người
nghèo; bảo hiểm y tế tự nguyện cho khu
vực phi chính thức và chế độ bảo hiểm xã
hội bắt buộc đối với khu vực chính thức)
Đặc điểm của chương trình:
- Đóng bảo hiểm gia đình (sổ bảo hiểm có
dán ảnh) hàng tháng với mức 4,5 USD/
người/năm đối với khu vực nông thôn và
19 USD/người/năm ở Phnom Penh
- Đóng phí bảo hiểm hàng tháng
- Được sử dụng miễn phí tất cả các dịch vụ y
tế ở các trung tâm y tế, bệnh viện công của
huyện và tỉnh; hỗ trợ chi phí vận chuyển và
mai táng
- Thanh toán cho các trung tâm y tế và bệnh
viện huyện theo đầu bệnh nhân
- Hoàn bảo hiểm theo gói cho các bệnh viện
tỉnh
Bây giờ chúng ta sẽ cùng thực hiện đánh giá
nhu cầu và đánh giá tiến trình tác động
Theo các bạn, ai là đối tượng mục tiêu của
chương trình này?
Lê nguyễn Duy Oanh
Tôi nghĩ đối tượng của chương trình này là người nghèo nông thôn; nhu cầu cần thỏa mãn ở đây là nhu cầu cải thiện sức khỏe của những người có khó khăn về kinh tế
bùi thị hương trầm
Tôi nghĩ ở đây là toàn bộ các hộ gia đình ở nông thôn
phạm Minh tiến
Chương trình này nhằm hoàn thiện công
cụ bảo hiểm tại Campuchia, và có liên quan đến cả những người làm việc trong lĩnh vực bảo hiểm
[Laure pasquier-Doumer]
Để đánh giá nhu cầu, cần phải đặt một câu hỏi: hiện đã có chương trình bảo hiểm nào chưa? Chương trình này có trùng với chương trình nào đang triển khai hay không? Theo ý kiến chúng tôi, người nghèo đã được hưởng chính sách miễn tiền khám chữa bệnh từ
hệ thống các cơ sở y tế nhà nước rồi Như vậy, đối tượng mục tiêu của chương trình không phải là toàn bộ các hộ gia đình mà chỉ là những cá nhân thuộc diện cận nghèo, tức là những người có nguy cơ tái nghèo nếu phải gặp một sự cố nào đó Mục tiêu khác của chương trình là xây dựng một cơ chế bảo hiểm lâu dài, tức là có thể tự chủ
về tài chính sau khi chương trình kết thúc Đối tượng mục tiêu của chương trình phải được tiếp cận với các phương tiện đầy đủ để thanh toán bảo hiểm và đạt được mục tiêu thứ hai là đảm bảo tính bền vững cho cơ chế bảo hiểm tại địa phương
Một khó khăn nữa đối với lĩnh vực bảo hiểm
là lựa chọn theo chiều ngược lại: không nên
để xảy ra tình trạng là chỉ những người có
Trang 5vấn đề về sức khỏe mới đi đăng ký bảo hiểm
Cơ chế bảo hiểm phải làm sao thu hút được
cả người bệnh, người biết mình có bệnh và
những người khác, nếu không sẽ không thể đảm bảo được sự bền vững cho công cụ bảo hiểm này
Một khó khăn nữa ở bước đánh giá nhu cầu là
phải tìm câu trả lời cho các câu hỏi sau:
- Đâu là bản chất của vấn đề cần giải quyết?
• Đảm bảo an toàn kinh tế cho các hộ nông
thôn như thế nào? Làm sao để tránh tình
trạng vấn đề sức khỏe sẽ tác động tới kinh
tế gia đình họ, như giảm thu nhập hoặc nợ
nần?
• Làm thế nào để giúp người dân tiếp cận
một cách thuận lợi với các dịch vụ y tế phù
hợp và chất lượng?
• Làm thế nào để hình thành một cơ chế
bảo hiểm y tế lâu dài? Tác nhân nào cần
phải tham gia vào chương trình? Xây dựng
chương trình ra sao để đảm bảo vừa hiệu
quả về kinh tế vừa đảm bảo mức bảo hiểm
hợp lý đối với đối tượng hướng tới của
- Khuôn khổ của chương trình?
• Có tình trạng thiếu hụt hay không? Hộ gia đình nào chưa có bảo hiểm y tế?
• Đã có chương trình nào đáp ứng nhu cầu này chưa?
• Còn nhu cầu nào khác hay không?
• Nếu đáp ứng được những nhu cầu đó thì
sẽ có những lợi ích gì? Các biến cố về sức khỏe có phải là nguyên nhân của tình trạng
dễ bị tổn thương hay không? Hiện nay ở Campuchia còn những nhu cầu cơ bản nào của người dân chưa được đáp ứng?
• Chương trình bảo hiểm vi mô cần mang lại lợi ích gì để chứng minh đây là một chương trình bền vững chứ không chỉ đơn thuần là một chương trình hỗ trợ?
Đối tượng hướng tới
+ khá gi (15%)
B o hi m vi mô
B o hi m t nhân
i tác SKY và các qu ng i nghèo
SKY = D ch v b o hi m y t cho ng i dân thu c khu v c
phi chính th c
Trung l u 50%
C n nghèo
+ nghèo (35%)
Nguồn: GRET.
26
Sơ đồ
Trang 6Chúng ta chuyển sang bước đánh giá tiến trình thực hiện Các câu hỏi chính yếu cần đặt ra được tóm tắt trong phần khung dưới đây:
Đánh giá nhu cầu phải cung cấp những thông tin gì?
Đánh giá tiến trình thực hiện
21
22
Khung
Khung
Đối tượng nhắm tới của chương trình phải được xác định rõ.
- Các hộ gia đình dễ bị tổn thương, đang phải đối mặt với nguy cơ nợ nần hoặc thua lỗ, mất vốn
- Các hộ gia đình có thể đóng phí bảo hiểm.
- Các hộ gia đình có nguy cơ mắc bệnh ít hơn hơn các hộ gia đình khác
Xây dựng chương trình phải rõ ràng.
- Các dịch vụ nào đang thiếu?
- Cung cấp như thế nào? Cung cấp bao nhiêu? Có thể gặp những trở ngại gì?
Hình dung được những lợi ích mà chương trình có thể mang lại.
- Chương trình có bù đắp được tình trạng thiếu hụt hay không ? Lợi ích có được mở rộng hay không?
Các giải pháp thay thế cũng phải được tính tới.
- Bảo hiểm vi mô có phải là giải pháp hiệu quả nhất, mang lại lợi ích kinh tế lớn nhất trong việc giảm thiểu mức độ dễ bị tổn thương của các hộ gia đình nông thôn và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế hay không?
Các dịch vụ có được cung cấp?
- Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh của các trung tâm y tế?
- Nguyên tắc miễn phí và bên thứ ba thanh toán có được áp dụng đối với mọi trường hợp hay không?
Tổ chức Gret, Bộ Y tế và các trung tâm y tế phối hợp với nhau như thế nào?
- Bộ Y tế có tham gia trực tiếp vào chương trình?
Bảo hiểm vi mô có đến được với đối tượng mục tiêu của chương trình hay không?
- Những người dễ bị tổn thương nhất có đăng ký mua bảo hiểm hay không?
- Tỷ lệ tham gia bảo hiểm có cao không?
- Chương trình chỉ thu hút được những người có vấn đề về sức khỏe?
- Ai không tiếp tục tham gia chương trình?
- Đâu là các yếu tố quyết định việc mua bảo hiểm, có khả năng áp dụng bảo hiểm rủi ro đồng chi trả hay không?
Các hộ gia đình có hài lòng về chương trình bảo hiểm của họ và dịch vụ chăm sóc y tế không?
Chương trình có tiếp tục đứng vững được không?
- Phí bảo hiểm có được nộp đều không?
- Mức hoàn bảo hiểm có được như mong đợi không?
Trang 7Chúng tôi giới thiệu bước đánh giá nhu cầu
và đánh giá tiến trình thực hiện nhằm giúp
các bạn phân biệt hai bước này với bước
đánh giá tác động
Vậy theo các bạn, đâu là những câu hỏi cần
đặt ra để đánh giá tác động của chương trình
Sky?
ngô Văn huấn
Những thay đổi trong thói quen khám chữa
bệnh của người dân ? Kết quả giảm nghèo
như thế nào? Chương trình có góp phần
nâng cao năng lực quản lý của hệ thống y tế
ở Campuchia ? Chương trình có giúp giảm
bất bình đẳng trong tiếp cận dịch vụ y tế hay
không?
[Laure pasquier-Doumer]
Bạn đặt câu hỏi là chương trình có góp phần
giảm nghèo và giảm bất bình đẳng trong
tiếp cận dịch vụ y tế hay không Nhưng đây
không phải là mục tiêu của chương trình
Mục tiêu chương trình hướng tới là giảm
thiểu mức độ dễ bị tổn thương Tức là số
người phải mắc nợ hoặc bán tài sản để trả
tiền khám chữa bệnh sẽ giảm đi Như vậy,
kết quả mong đợi là số người dễ bị tổn
thương do vấn đề chăm sóc y tế sẽ giảm đi
Còn lại, bạn hoàn toàn có lý khi đặt câu hỏi về chất lượng của hệ thống y tế cung cấp dịch
vụ chăm sóc
Lê thị hằng giang
Chương trình hướng tới mục tiêu giảm mức
độ dễ bị tổn thương của các hộ gia đình, do
đó tôi sẽ đặt các câu hỏi sau: số người mắc nợ hoặc phải bán tài sản để có tiền chữa bệnh
có giảm hay không? Nguyên nhân giảm là do chương trình hay do những người đó đã tự cải thiện được đời sống của mình ? Có cách nào khác để giảm bớt được số người phải mắc nợ hoặc bán tài sản để chữa bệnh hay không?
[Laure pasquier-Doumer]
Những câu hỏi của bạn đều hay
Một câu hỏi nữa cần đặt ra là viêc thay đổi mức phí bảo hiểm có tác động gì tới tỷ lệ tham gia bảo hiểm, và kết quả của chương trình Cuối cùng, cũng phải đặt câu hỏi liên quan tới tác động của việc cải thiện chất lượng dịch vụ gắn với chương trình
Ba câu hỏi chính cần phải đặt ra khi đánh giá tác động: biện pháp nào, đối tượng nào và khi nào cần phải trả lời các câu hỏi này?
Đánh giá tác động 23
Khung
Câu hỏi mấu chốt: bảo hiểm vi mô có tác động tới sức khỏe và kinh tế hộ gia đình?
Các câu hỏi liên quan:
- Đâu là hiệu quả của chương trình bảo hiểm y yế vi mô đối với việc giảm bớt các rủi ro
kinh tế liên quan đến tình trạng bệnh tật?
- Các hộ gia đình phản ứng thế nào trước các mức phí bảo hiểm khác nhau?
- Việc mở rộng chương trình bảo hiểm có tác động gì tới chất lượng dịch vụ của các cơ sở
y tế công?
Trang 8Bây giờ chúng ta sẽ xem xét đặc thù của lĩnh
vực tài chính vi mô trong đánh giá tác động
Từ khoảng 30 năm trở lại đây, lĩnh vực tài
chính vi mô, đặc biệt là tín dụng vi mô được
coi là công cụ của chính sách xóa đói giảm
nghèo – trường hợp quỹ tín dụng vi mô
Grameen Bank của Bangladesh là ví dụ điển
hình
Bắt đầu từ những năm 2000, tài chính vi mô,
đặc biệt là tín dụng vi mô tăng trưởng theo
cấp số nhân –13 triệu khách hàng năm 1997
và hơn 190 triệu khách hàng vào năm 2009
Đâu là lý do giải thích cho sự tăng trưởng
này? Ba lý lẽ có thể giải thích cho hiện tượng
này:
- mang đến cho người nghèo cơ hội phát
triển phương tiện sản xuất;
- giúp người nghèo giảm được mức độ
dễ bị tổn thương và tránh bị rơi vào bẫy
nghèo đói;
- « tăng cường quyền lực - empowerment »
cho phụ nữ, từ đó đầu tư nhiều hơn vào
chăm sóc sức khỏe và giáo dục con cái, hạn
chế được tình trạng nghèo đói cha truyền
con nối
Tuy nhiên, từ năm 2010, người ta đặt vấn đề
xem xét lại quan điểm này, các ý kiến đặc biệt
xoay quanh tác động của tài chính vi mô và
- lãi suất cao và không minh bạch;
- khách hàng không phải là người nghèo.Như vậy, hiện đang có tranh luận về các vấn
đề này và nhu cầu thực hiện các nghiên cứu đánh giá tác động một cách bài bản để xác định liệu các thiết chế tài chính vi mô này
có đến được với người nghèo (hoặc người nghèo nhất) hay không và liệu rằng các dịch
vụ cung cấp có góp phần giảm nghèo và mức độ dễ bị tổn thương của đối tượng mà các dịch vụ này nhắm tới hay không
Hoạt động tiến hành hàng ngày của các thiết chế tài chính vi mô phải được hỗ trợ
và ủng hộ Tuy vậy, việc phân loại nghèo đói của các nhà tài trợ/các nhà nghiên cứu không phải lúc nào cũng trùng khớp với thực
tế (những người không tiếp cận được với
hệ thống ngân hàng, người dân nông thôn vùng sâu vùng xa, nông dân, phụ nữ, v.v.); thêm nữa, thời gian thực hiện một đánh giá tác động thường kéo dài, không phù hợp với nhịp triển khai dịch vụ của các thiết chế tài chính vi mô (vốn ngắn hơn)
Trong tuần này chúng ta sẽ tìm hiểu đâu là những kết quả kéo theo của những lợi ích khác nhau này trong một nghiên cứu đánh giá tác động
Trang 9ngày 1, chiều thứ hai ngày 22
tháng 7
2.3.2 Khó khăn về phương pháp
luận trong đánh giá tác động:
tìm kiếm một đối chứng, lựa chọn
một nhóm đối chứng
[Christophe Jalil nordman]
Bây giờ chúng ta sẽ tìm hiểu cách thức tìm
kiếm, xác định và lựa chọn nhóm đối chứng
Sáng nay chúng ta đã nhắc đến sự cần thiết
phải xác định tác động của một dự án phát
triển tới một kết quả mà chúng ta cần phải
đánh giá
Để xử lý các vấn đề liên quan tới tác động,
cần phải đánh giá được kết quả của một
chương trình bằng cách đặt nó ở ngoài tất
cả các yếu tố khác có thể có tác động tương
tự Các vấn đề này không thể xử lý chỉ bằng cách đánh giá kết quả của dự án Tại sao? Trên thực tế, tác động chính là chênh lệch của kết quả thu được khi thực hiện chương trình và khi không thực hiện chương trình Tuy nhiên, cái khó là ta không thể cùng một lúc quan sát một đối tượng ở hai trạng thái khác nhau
Cụ thể, khi ta quan sát một chỉ số sau khi thực hiện chương trình, ta không thể đồng thời quan sát được chỉ số đó khi không có chương trình, tức là ở đây, giá trị đối chứng là không quan sát được
Tình huống này không có trong thực tế, nhưng người thực hiện đánh giá sẽ tìm cách xây dựng lại để thực hiện nghiên cứu đánh giá của mình Việc tìm kiếm giá trị đối chứng
có thể tóm tắt trong một câu hỏi : người tiếp nhận chương trình sẽ ra sao nếu không có chương trình?
Ở đây, trục tung biểu diễn giá trị kết quả của
chương trình YB Trục hoành biểu diễn biến
thời gian, t=0 Ở giá trị t=0, biến kết quả được
đo bằng giá trị YB Khi quan sát giá trị t=0, là
giá trị khi không có chương trình
Quan sát biến kết quả…
Nguồn: tác giả.
40 biểu đồ
Trang 10Một chương trình được thực hiện trong
khoảng thời gian t=0 và t=1, ta có kết quả
mới YP Có thể quan sát thấy biến kết quả tăng
trong khoảng thời gian trước và sau khi thực
hiện chương trình Vậy kết quả của chương trình có phải là chênh lệch giữa hai kết quả này hay không?
… và giá trị tăng sau khi thực hiện chương trình
Giá trị đối chứng là tình trạng của những
người không tham gia chương trình Có thể
các cá nhân không tham gia chương trình có
biến kết quả được đo ở giá trị Y*P, cao hơn giá
trị YP kể cả khi không có chương trình Đối với
các cá nhân không tham gia chương trình, khó có thể xác định được giá trị này Đây là yếu tố chúng ta tìm cách tái lập để có thể đánh giá được tác động của chương trình
Trang 11Tác động của chương trình như vậy không
phải là chênh lệch của hai giá trị YP và YB mà
là giữa hai giá trị YP và Y*P Để đánh giá tác
động của chương trình, ta quan sát sự chênh lệch giữa kết quả có được sau khi thực hiện chương trình và kết quả của nhóm đối chứng
… để có thể đánh giá được tác động của chương trình
Thay i tình hình (tác ng thô)
Trang 12Ở đây, trục tung biểu diễn tỷ lệ lao động có
việc làm của một nước và trục hoành biểu
diễn biến thời gian Lấy mốc thời gian là năm
làm cơ sở, tỷ lệ lao động có việc làm có giá
trị J0, giá trị này tăng lên mức có thể tương
đương với kết quả thu được sau khi triển khai
chính sách tạo việc làm Tỷ lệ lao động có việc
làm – giá trị đối chứng – là tỷ lệ những người
có việc làm không phải là đối tượng liên quan
đến chính sách tạo việc làm Giữa hai mốc thời
gian này, nhiều người thất nghiệp tìm được
việc làm hoàn toàn không phải nhờ chính
sách tạo việc làm được triển khai Ở đây, cần
hiểu rằng nếu đánh giá tác động của chính
sách tạo việc làm bằng cách tính toán chênh
lệch của hai giá trị Javec (avec là từ tiếng Pháp
tương đương với with trong tiếng Anh) và J0,
chúng ta không chỉ đánh giá tác động của
chính sách tạo việc làm mà cả các yếu tố khác
xảy ra ở thời điểm thực hiện chương trình
Vấn đề đặt ra với người thực hiện đánh giá
là xác định được hoàn cảnh đối chứng này, vì
cần phải xác định được tỷ lệ việc làm tại quốc
gia không có chính sách việc làm cùng lúc khi
quốc gia đã có chính sách tạo việc làm
Để đảm bảo xác định chính xác bài bản, khi
đánh giá tác động cần phải đánh giá được giá
trị đối chứng, tức là phải trả lời được câu hỏi:
điều gì xảy ra nếu không có chương trình?
Việc này nhìn chung thực hiện được khi sử
dụng nhóm đối chứng – tức là các cá thể
không tham gia chương trình – nhóm này
sẽ được so sánh với nhóm xử lý (nhóm tham
gia chương trình) – tức là các cá thể được thụ
hưởng chương trình Các cá thể thuộc nhóm
đối chứng chỉ khác các cá thể trong nhóm xử
lý ở một điểm duy nhất là việc họ có tham gia
chương trình hay không
Xác định giá trị đối chứng là trọng tâm của các phương pháp đánh giá tác động
Ta có thể phân loại các phương pháp xây dựng giá trị đối chứng và nhóm đối chứng như sau:
• phương pháp thực nghiệm (ngẫu nhiên);
• phương pháp phi thực nghiệm: ghép cặp
(matching), khác biệt kép (diff-in-diff), mô
hình lựa chọn và biến công cụ;
• phương pháp lý thuyết ex ante.
Ban đầu, khung thống kê tổng quát phù hợp với quá trình đánh giá được các chuyên gia thống kê phát triển nhằm sử dụng trong đánh giá tác động của các biện pháp can thiệp y sinh – đặc biệt là dịch tễ học Hiện nay, các công cụ này đã được phát triển vượt ngoài phạm vi áp dụng trong các thử nghiệm lâm sàng Đặc biệt, các khái niệm và phương pháp này được sử dụng thường xuyên trong lĩnh vực kinh tế lượng vi mô để phân tích tác động của các chương trình dạy nghề và hỗ trợ xã hội, nhất là ở Mỹ
Khung thống kê tổng quát phù hợp với việc đánh giá tác động được phát triển từ mô hình chuỗi nguyên nhân-kết quả Rubin (1974)
Mô hình này cho phép xác định rõ tác động mang tính nhân quả của chính sách cần đánh giá và bản chất sai số lựa chọn Hai đặc điểm quan trọng của tác động nguyên nhân-kết quả, hiểu theo định nghĩa dựa trên lý thuyết thống kê, là tính không thể quan sát và tính không đồng nhất của quần thể Tính không thể quan sát của tác động nguyên nhân-kết quả buộc các nhà phân tích phải đặt ra các giả thiết để từ đó xác định được một số tham
số trong phân bố chuỗi tác động nguyên nhân-kết quả
Trang 13Việc tiếp cận với chương trình – tức là yếu
tố được xử lý – được biểu diễn bằng biến số
ngẫu nhiên T, có giá trị bằng 1 nếu cá thể có
tham gia chương trình và bằng 0 nếu cá thể
không tham gia chương trình Hiệu quả của
chương trình được đo bằng hai biến kết quả
tiềm ẩn là Y1 và Y0 tùy theo trường hợp cá thể
có tham gia (được xử lý) hay không tham gia
(không được xử lý) chương trình tức là (T=1)
- Đối với mỗi cá thể tham gia (được xử lý), Y1
quan sát được còn Y0 không quan sát được
- Trong trường hợp này, biến Y0 tương ứng
với kết quả có thể có nếu cá thể không
được xử lý (giá trị đối chứng)
- Trái lại, đối với một cá thể không được xử lý,
ta quan sát được biến Y0, còn biến Y1 không
quan sát được
Biến kết quả được quan sát có thể được
suy ra từ các biến tiềm năng và biến T theo
phương trình:
Y = T Y1 + (1–T)Y0
Chỉ có cặp biến (Y,T) là quan sát được đối với
mỗi cá thể
Tác động nguyên nhân-kết quả của chương
trình tới mỗi cá nhân được đo theo công thức:
Δ = Y1 – Y0
Kết quả này là hiệu số của kết quả có thể có
nếu cá nhân tham gia chương trình (được
xử lý) và kết quả có thể có nếu cá nhân
không tham gia chương trình Như vậy tác
động nguyên nhân-kết quả có hai đặc điểm
quan trọng: tính không thể quan sát, vì với mỗi
cá thể, ta chỉ có thể quan sát được một trong
hai biến tiềm năng; tính cá thể, và từ đó ta
thấy có sự phân bố tác động nguyên kết quả trong quần thể
nhân-Sự phân bố tác động nguyên nhân-kết quả không thể xác định được Tuy nhiên, từ các
giả thiết về quy luật kết nối của (Y0, Y1, T), ta có
thể xác định được vài tham số trên cơ sở mật
độ của các biến quan sát được (Y, T) Ngoài ra,
có hai tham số phải tính toán riêng:
- mức tác động bình quân của chương trình trong toàn bộ quần thể:
trình, tức là nếu (Y0, Y1) T, ta có thể xác định được hai biến lợi ích ΔATE et ΔATT đã được nhắc đến ở trên Trên thực tế, nếu điều kiện (đủ) này được thỏa mãn, giá trị của hai biến lợi ích này sẽ là:
ΔATE = ΔATT = E(Y | T=1) – E(Y | T=0)
Trong trường hợp này, hai tham số bằng nhau và có thể tính được dễ dàng bằng cách tìm chênh lệch giữa mức bình quân của các biến kết quả quan sát được trong nhóm cá thể được xử lý và nhóm cá thể không được
xử lý
Trang 14Khi điều kiện độc lập của biến không được
thỏa mãn, hàm ước lượng tự nhiên, được
hình thành bởi hiệu số các giá trị trung bình
của biến kết quả, sẽ chịu ảnh hưởng của sai
B ATT = E(Y0 | T=1) – E(Y0 | T=0)
Sai số này bắt nguồn từ việc mức xuất phát
điểm trung bình của các cá thể được xử lý
khi không có chương trình không giống
với mức xuất phát điểm trung bình của các
cá thể hoàn toàn không tham gia chương
trình Có sai số này là bởi hai quần thể không
hoàn toàn tương đồng, trừ trường hợp thực
nghiệm thuần, đã loại trừ hoàn toàn các yếu
tố ngoại lai
Lựa chọn nhóm đối chứng: minh họa
từ chương trình PDUI ở Djibouti
[Laure pasquier-Doumer]
Tôi muốn trình bày với các bạn những khó khăn trong việc tìm kiếm nhóm đối chứng qua trường hợp Dự án phát triển đô thị tổng thể (viết tắt tiếng Pháp là PDUI) thực hiện tại Djibouti: hạ tầng (đường giao thông, nước, điện); công trình công cộng (đồn cảnh sát, nhà chờ xe buýt, cơ sở dạy nghề); phát triển cộng đồng (dạy nghề, hỗ trợ nghề nghiệp,
hỗ trợ quản lý) Dự án được thực hiện từ năm
2010 đến 2013 tại ba thôn của xã Balbala, huyện Djibouti – 50.000 người dân liên quan đến dự án, 60% người dân thất nghiệp, nhà cửa đều lợp mái tôn, trong khi nhiệt độ cao nhất ở nước này có thể lên tới 50°C Với dự
án này, không thể thực hiện đánh giá theo phương pháp ngẫu nhiên, vì thế chúng tôi phải tìm kiếm nhóm đối chứng Các tác động mong đợi của chương trình liên quan tới vấn đề việc làm, nhà ở, y tế và an toàn trật tự công cộng
những tác động sau khi kết thúc dự án pDui:
Trang 15Mục đích của chúng tôi là thiết lập được bối
cảnh và trạng thái tham chiếu trước khi khởi
động dự án trên cơ sở điều tra hộ gia đình
Vùng đối chứng phải có đặc điểm tương
đồng với đặc điểm xuất phát của vùng thực
hiện dự án tính ở thời điểm khởi động dự án,
xét trên các khía cạnh điều kiện sống và vị
trí địa lý, vùng đối chứng cũng phải là vùng
không tham gia chương trình
Chúng tôi phát bảng hỏi cho 1.000 hộ – 700
hộ trong vùng dự án, 300 trong vùng đối
chứng; bảng hỏi gồm nhiều mô-đun, dành
cho các đối tượng khác nhau bao gồm chủ
hộ, người lớn, phụ nữ từ 15-49 tuổi
Việc lấy mẫu phải làm sao bảo đảm được
tính đại diện của đối tượng nhắm tới, kiểm
soát được mẫu đối chứng có đặc điểm tương
đồng, đo được độ khác biệt tùy theo mức độ
tham gia vào chương trình Ban đầu chúng
tôi lấy mẫu theo nhóm hộ từ 10-30 hộ; các nhóm mẫu được phân loại theo ba tiêu chí: khu vực dự án/khu vực đối chứng, điều kiện nhà ở và vị trí địa lý/mức độ thuận tiện về giao thông
Điều tra thống kê điều kiện nhà ở được thực hiện với bốn biến: vật liệu xây tường, nước sạch, chiếu sáng và tình trạng sử dụng Chúng tôi tính điểm về điều kiện nhà ở cho mỗi hộ ở Djibouti Điểm trung bình tính được
sẽ cho phép phân loại các hộ theo ba mức
độ ổn định về nhà ở: ổn định, trung bình và bấp bênh
Chúng tôi dùng ảnh vệ tinh để xác định tiêu chí thuận tiện về giao thông - tính toán khoảng cách giữa khu vực và đường giao thông, loại đường, xác định vị trí diện tích đất ở
Xác định vị trí diện tích đất ở và bản đồ vệ tinh để xác định vùng đối chứng và các tiêu chí về mức độ thuận tiện về giao thông
14 bản đồ
Trang 16Chúng tôi sử dụng dữ liệu vệ tinh trong hệ
thống thông tin địa lý (GIS) để định vị các
con đường giao thông chính và vị trí của các
nhóm hộ Mức độ thuận tiện về giao thông
được đo bằng khoảng cách trung bình từ
mỗi nhóm hộ tới các trục đường chính có
phương tiện giao thông công cộng Các
nhóm hộ được phân loại theo ba cấp độ
thuận tiện về giao thông đi lại Phân loại như
vậy sẽ giúp đo được mức độ tham gia hoặc
có liên quan đến chương trình
Cái khó đối với chúng tôi là chỉ đảm bảo
kiểm soát được đối với các đặc điểm liên
quan một phần tới dự án, như nhà ở hoặc
mức độ thuận tiện về giao thông/vị trí địa
lý Cụ thể là, nếu nhóm đối chứng bao gồm những người gốc Éthiopia, nói được tiếng Anh thì các cá thể trong nhóm đó dễ tìm được việc làm hơn ở các khu vực gần cảng, nhưng ở nhóm đối chứng, các cá thể lại chỉ nói được tiếng Ả rập Như vậy, sự khác biệt ngôn ngữ sẽ làm sai lệnh giá trị ban đầu của
Y0, tức là kết quả có thể có nếu các cá thể không tham gia chương trình Với điều tra này, chúng tôi xác định từ đầu là hai nhóm
có đặc điểm giống nhau nhưng sẽ có các dữ liệu/yếu tố không quan sát và cũng không đo đếm được Các khác biệt này có thể làm sai lệch kết quả; đây là một điểm khó giải quyết đối với một nghiên cứu đánh giá tác động
phân loại theo mức độ thuận tiện đường giao thông
Nguồn: PDUI.
15 bản đồ
Trang 17[phùng Đức tùng]
Nhìn chung các chương trình nhắm tới trước
hết là những nhóm dễ bị tổn thương và có
nguy cơ Ở Việt Nam, nhiều chương trình
giảm nghèo được triển khai nhằm cung cấp
thẻ bảo hiểm y tế miễn phí cho hộ nghèo,
giảm học phí để tăng tỷ lệ đến trường và thời
gian đi học của con em gia đình nghèo Tuy
nhiên, vấn đề là phải tìm ra được nhóm đối
chứng vì điều kiện sống của các hộ gia đình
rất khác nhau
Ví dụ: tỷ lệ đi học của con em các hộ thuộc
nhóm đối chứng thông thường cao hơn tỷ
lệ thuộc nhóm xử lý/nhóm tham gia chương
trình, vì nhóm đối chứng thường là các hộ gia
đình có điều kiện hơn Đối với các nhóm dân
tộc thiểu số, còn phải tính đến yếu tố ngôn
ngữ và mức độ thuận tiện về giao thông của
các thôn bản, vốn là hai trở ngại rất lớn
2.3.3 Các phương pháp định
lượng chính (ex-post) nhằm
đánh giá tác động: phương pháp thực nghiệm, bán thực nghiệm và phi thực nghiệm
[Christophe Jalil nordman]
Thực nghiệm có kiểm soát
Đánh giá tác động theo phương pháp thực nghiệm có kiểm soát (còn gọi là phương pháp thực nghiệm) được áp dụng nhằm mục đích loại bỏ sai số lựa chọn bằng cách chọn mẫu ngẫu nhiên (rút thăm) để chọn ra các cá thể (hoặc nhóm cá thể) thụ hưởng chương trình Phương pháp này thường được coi là hiệu quả nhất trong số các phương pháp đánh giá tác động Ưu điểm chính của kỹ thuật này là
dễ đọc kết quả: tác động của chương trình tới kết quả đánh giá là mức chênh lệch giữa kết quả bình quân của các mẫu trong nhóm mục tiêu và nhóm đối chứng
Ví dụ chương trình triển khai tại Kenya 24
Khung
Dự án phát sách giáo khoa cho 25 trường tiểu học ở nông thôn Kenya năm 1996 (Glewwe
et al., 2004) Đánh giá dự án phát sách giáo khoa ở Kenya được thực hiện theo phương pháp
lấy mẫu ngẫu nhiên tại các trường có thực hiện dự án, những người thực hiện đánh giá đã
tiến hành một điều tra cơ bản, lập nhóm đối chứng và sau đó triển khai dự án Việc lập nhóm
đối chứng và nhóm mục tiêu đã giúp xác định rõ tác động của việc phát sách giáo khoa tới
kết quả học tập của học sinh.
Trang 18Về kỹ thuật thực hiện, nguyên tắc áp dụng
cũng giống với nguyên tắc trong thử nghiệm
y sinh – kê thuốc điều trị cho một số bệnh
nhân được lựa chọn ngẫu nhiên và không
phát thuốc cho nhóm còn lại
Trong nghiên cứu đánh giá này, chúng tôi có
thêm một thuận lợi nữa là có thể lựa chọn
ngẫu nhiên các làng và cộng đồng được
hưởng lợi từ dự án, trong một số trường
hợp việc lựa chọn này không quá khó Đối
với việc lựa chọn cá thể, cách làm phổ biến
nhất là trước hết những người có thể được
lựa chọn ngẫu nhiên phải được thông báo về
mục đích và nguyên tắc thực hiện của nghiên
cứu, người nào chấp nhận tham gia sẽ được
phân bổ vào hai nhóm – nhóm xử lý và nhóm
đối chứng – theo phương pháp rút thăm
Để dễ hình dung đặc điểm và hạn chế của
phương pháp thực nghiệm có kiểm soát này,
ta xét thêm hai biến chỉ số sau đây:
– biến T* có giá trị bằng 1 khi cá thể được lựa
chọn để tham gia chương trình (và có giá trị
bằng 0 nếu không tham gia);
– biến S có giá trị bằng 1 khi cá thể được
phân vào nhóm xử lý bằng phương pháp
rút thăm ngẫu nhiên (và có giá trị bằng 0
nếu không được rút thăm)
Để loại bỏ sai số ngẫu nhiên, xác suất được
lựa chọn tham gia chương trình không được
bị ảnh hưởng bởi việc coi rút thăm là điều
kiện tham gia chương trình Với điều kiện này,
chúng ta thấy tác động của biến T đối với các
cá thể được xử lý có giá trị là:
ΔATT = E(Y1 | T*=1, S=1) – E(Y0 | T*=1, S=0)
Nói cách khác, lợi ích bình quân của chương
trình đối với các cá thể mong muốn tham
gia có thể tính toán bằng cách tính hiệu số
chênh lệch giữa kết quả bình quân của các cá
thể thuộc nhóm xử lý và kết quả bình quân của các cá thể thuộc nhóm đối chứng Kết quả bình quân của nhóm đối chứng là kết quả bình quân của hoàn cảnh đối chứng,
được tính bằng E(Y0 | T=1) đối với trường hợp
phi thực nghiệm
Quyết định tham gia thực nghiệm được đưa
ra trước khi tiến hành rút thăm ngẫu nhiên sẽ đảm bảo cho việc các nhóm xử lý và nhóm đối chứng được lập ra gồm các cá thể được lựa chọn hoàn toàn ngẫu nhiên Nếu làm ngược lại, tức là rút thăm ngẫu nhiên trước khi các cá thể đưa ra quyết định tham gia hay không tham gia chương trình, ta sẽ không thể xác định được kết quả bình quân đối chứng
Ta hãy xem xét một vài hạn chế của phương pháp này
Trước hết, việc triển khai chương trình đối với các đối tượng được lựa chọn ngẫu nhiên
có thể bị coi là trái với quy định của pháp luật Thứ hai, về mặt chính sách, khó có thể thực hiện phát sách giáo khoa cho học sinh này mà lại không phát cho học sinh khác Thứ ba, phạm vi thực hiện chương trình nếu phủ rộng thì ta cũng không thể lập được nhóm đối chứng theo đúng tiêu chí – ví dụ trường hợp một thay đổi về chính sách có phạm vi ảnh hưởng rộng rãi, như vay cải cách cơ cấu hoặc các chương trình triển khai trên quy mô quốc gia Thứ tư, các cá thể trong nhóm đối chứng có thể thay đổi đặc điểm nhận diện trong quá trình tiến hành thực nghiệm, thay đổi này sẽ ảnh hưởng tới kết quả đánh giá : ví dụ, nếu một người di chuyển từ khu vực có dự án ra ngoài hoặc ngược lại, một người từ khu vực không có
dự án sang khu vực có dự án, như vậy, họ cũng di chuyển từ nhóm xử lý sang nhóm đối chứng hoặc ngược lại (tác động lây lan) ; hoặc, có những người từ chối lợi ích tham
Trang 19gia dự án và tìm kiếm các nguồn lợi khác
thay thế, hoặc có người lựa chọn tham gia
chương trình có thể không hưởng lợi ích từ
chương trình Thứ năm, khó có thể đảm bảo
được một sự lựa chọn thực sự ngẫu nhiên –
ví dụ có trường hợp người thực hiện đánh
giá quyết định loại các ứng viên có nguy
cơ cao để đảm bảo kết quả đánh giá được
thực hiện tốt hơn Cuối cùng, trong một số
trường hợp, phương pháp thực nghiệm này
có thể tốn kém và mất nhiều thời gian, đặc
biệt là khâu thu thập dữ liệu mới
Phương pháp bán thực nghiệm, thử nghiệm
tự nhiên và « Regression Discontinuity Design »
Thuật ngữ bán thực nghiệm hoặc thử nghiệm
tự nhiên được dành cho các nghiên cứu đánh
giá các giá trị bình quân của các biến kết quả
từ hai nhóm cá thể được lập theo phương
pháp đánh giá mức độ biến thiên ngẫu nhiên
của một biến ngoại lai
Biến ngoại lai này thường là một quy định hành chính, có thể được thay đổi vào một thời điểm nào đó (chẳng hạn: bỏ quy định nghĩa
vụ quân sự, sử dụng tiếng Ả rập trong giảng dạy các môn học, v.v ) Nguồn gốc biến thiên của một biến ngoại lai phải được xác định và
rõ ràng, về nguyên tắc, biến này không được gắn với các yếu tố khác quyết định tới sự biến thiên của các biến kết quả
Vì không mang tính thực nghiệm nên các phương pháp bán thực nghiệm phải xử lý rất
kỹ ở khâu lập nhóm đối chứng và nhóm xử
lý Nhóm xử lý bao gồm các cá nhân hoặc hộ gia đình có liên quan tới sự thay đổi của biến ngoại lai Phần khó nhất là xác định nhóm đối chứng, vì nó ảnh hưởng tới độ chính xác trong đánh giá tác động của sự biến thiên của biến ngoại lai Vì vậy nhóm đối chứng phải bao gồm các cá thể có đặc điểm tương đồng nhất có thể với các cá thể thuộc nhóm
xử lý, tức là nhóm chịu tác động từ sự biến thiên của biến ngoại lai
Ưu điểm và hạn chế 25
- Khó tìm được biến ngoại lai thực sự
- Sai số từ các biến bị bỏ qua
- Bỏ qua yếu tố xu hướng theo thời gian
Trang 20ngày 2, sáng thứ ba ngày 23
tháng 7
Laure Pasquier-Doumer trình bày nội dung
các bài tập nhóm Học viên đăng ký theo
một trong hai nhóm và lựa chọn đại diện
của nhóm mình để chuẩn bị báo cáo trước
lớp vào sáng thứ bảy.
Christophe Jalil Nordman điểm lại và làm rõ
một số nội dung đã trình bày trong ngày học
trước
Các phương pháp phi thực nghiệm
[Axel Demenet]
Chúng ta đã thấy rằng, để đánh giá được tác
động của một chính sách tới một yếu tố nào
đó (chẳng hạn yếu tố thu nhập), nếu chỉ lấy
hiệu số chênh lệch giữa hai kết quả của các
cá nhân thụ hưởng và các cá nhân không
thụ hưởng chính sách đó thì là không đủ So
sánh tình trạng sức khỏe của các bệnh nhân
được nhận điều trị ở bệnh viện và các bệnh
nhân không nhận điều trị – ví dụ cổ điển nhất
về đánh giá tác động –, ta có thể dẫn tới kết
luận sai lầm là việc điều trị có tác động tiêu
cực: những người đến bệnh viện là những
người đã có vấn đề về sức khỏe trước khi
nhận phác đồ điều trị, như vậy, kết quả đánh
giá sẽ có sai số vì hai nhóm (điều trị và không
điều trị) không có xuất phát điểm tương
đồng Chúng tôi cũng đã chứng minh là khi
áp dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên
(hay còn gọi là phương pháp thực nghiệm),
ta có thể đảm bảo sự đồng nhất trong đặc
điểm của hai nhóm và loại bỏ được sai số,
tiếp đó chúng ta đã nghe giới thiệu về các
phương pháp « bán thực nghiệm », phương
pháp này giúp thiết lập lại các điều kiện của
đánh giá ngẫu nhiên Tuy nhiên, trong phần
lớn các trường hợp, không thể triển khai các phương pháp như vậy hoặc thực hiện các thử nghiệm tự nhiên Ở phần này chúng tôi
sẽ giới thiệu kỹ một vài phương pháp đánh giá có thể giảm được sai số, các phương pháp này nằm trong nhóm « phi thực nghiệm » Các phương pháp này khai thác các giá trị của
biến lợi ích Y (thu nhập, tình trạng sức khỏe, v.v.) đối với các cá thể được xử lý (T=1) và các
cá thể không được xử lý (T=0).
Giải quyết sai số lựa chọn bằng cách tái lập giá trị đối chứng
Ta biết phương pháp đánh giá tác động
« ngây thơ », tức là tính giá trị kỳ vọng Y bằng
cách tính hiệu số giữa kết quả của các cá thể
được xử lý E(Y | T=1) và kết quả của các cá thể không được xử lý E(Y | T=0) (ở đây xin nhắc lại
ví dụ xác định tình trạng sức khỏe bình quân của những người đi khám bệnh và những người không đi khám bệnh), sẽ cho kết quả
có sai số vì sự chênh lệch trong tình trạng ban đầu giữa những người tham gia và những người không tham gia chương trình Sự khác biệt, chênh lệch trong tình trạng ban đầu của hai nhóm có thể quan sát được (giới tính, thu nhập, bị ốm, không bị ốm, v.v.) và không quan sát được (động cơ, tài năng) Các khác biệt này tạo ra sai số lựa chọn (BATT) khi điều kiện
độc lập giữa các biến kết quả tiềm tàng (Y0,
Y1) và điều kiện tham gia chương trình không được thỏa mãn:
[(Y0, Y1) T] E(Y0 | T=1) ≠ E(Y0 | T=0),
tức là ở mọi thời điểm, trừ trường hợp thực hiện đánh giá ngẫu nhiên.
Phương pháp ghép cặp (matching)
Có nhiều phương pháp cho phép loại bỏ hoặc giảm bớt sai số lựa chọn này Các phương pháp này đảm bảo hai nhóm (được
Trang 21xử lý và không được xử lý) có đặc điểm gần
nhau bằng cách sử dụng các biến kiểm soát
tác động tới xác suất tham gia xử lý và/hoặc
kết quả Giả thiết ban đầu gọi là giả thiết « độc
lập có điều kiện », rõ ràng yếu hơn so với giả
thiết trước, theo đó, tồn tại một tập hợp các
biến mà các kết quả ẩn và xác suất tham gia
chương trình độc lập với chúng, phụ thuộc
vào các biến kiểm soát :
[(Y0, Y1) T] | X
Giả thiết độc lập có điều kiện được hiểu là hai
nhóm xử lý và không xử lý cân bằng nhau xét
trên những đặc điểm quan sát được cùng có
tác động tới biến kết quả ; nói cách khác, đối
với những người có cùng đặc điểm giống hệt
nhau, việc người này tham gia và người khác
không tham gia hoàn toàn là do ngẫu nhiên
Từ đó ta có thể xác định được giá trị kỳ vọng
Y cho cả hai nhóm và như vậy tính được tác
động bình quân của chương trình (ΔATE), cũng
như tác động bình quân của chương trình đối
với các cá thể trong nhóm xử lý (ΔATT) Điều
kiện xác định đối với tham số này (tác động
bình quân đối với nhóm cá thể tham gia) ít
khắt khe hơn vì chỉ cần sự độc lập giữa kết
quả tiềm năng nếu không có chương trình và
kết quả khi có chương trình, tức là Y0 T | X.
Nguyên tắc đánh giá áp dụng ở đây là sử
dụng thông tin đã có về các cá thể không xử
lý để làm đối chứng cho các cá thể xử lý Hàm
ước lượng sẽ tính được mức chênh lệch trung
bình giữa mức xuất phát điểm bình quân của
các cá thể xử lý và các cá thể đối chứng:
theo đó I1 là giá trị của mẫu các cá thể xử lý và
N1 là số các cá thể xử lý
Việc ghép cặp « matching » cho phép giải
quyết được một phần sai số lựa chọn bằng cách sử dụng các biến quan sát được, tức là
các biến X để lựa chọn các cá thể của nhóm
đối chứng sao cho các cá thể đó có đặc điểm tương đồng với các cá thể thuộc nhóm xử lý Nói cách khác, ta thực hiện ghép các cá thể
xử lý với một hoặc nhiều cá thể thuộc nhóm không xử lý có đặc điểm tương đồng xét theo các biến có thể quan sát được, tức là các
biến X Để đánh giá tác động của một phác
đồ điều trị tại bệnh viện, ta không so sánh với những người không nhập viện nói chung mà
so sánh với các cá nhân mắc cùng một bệnh nhưng không khám chữa tại bệnh viện
Phương pháp này đòi hỏi với mỗi cá thể xử
lý, cần phải quan sát một hay nhiều cá thể không xử lý có đặc điểm tương đồng (« sinh
đôi »), trên cơ sở các biến X, tức là : Xĩ(i) = Xi
Từ đó ta tính được tác động đối với từng nhóm bằng cách tính chênh lệch mức xuất phát điểm bình quân của các cá nhân trong hai nhóm xử lý và không xử lý, mức tác động bình quân của mỗi nhóm sẽ giúp tính được giá trị ∆ATT Số lượng Yĩ(i) sẽ là hàm ước lượng
giá trị kỳ vọng của kết quả tiềm năng Y0i:
Như vậy giá trị tác động tiềm năng của chương trình đối với các cá thể xử lý (tham gia chương trình) sẽ được tính theo công thức:
Cần phải lưu ý là phương pháp này áp dụng được khi có các biến kiểm soát, tức là độ chính xác của nó sẽ phụ thuộc vào chất lượng
dữ liệu cũng như cỡ mẫu Hơn nữa, phương pháp này chỉ cho phép giải quyết được một