Cơ hội và thách thức phát triển Thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế, xã hội 10 năm 2001-2010 và Kế hoạch 5 năm 2006-2010, trong những năm qua Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu qu
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
SỞ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ
Phụ lục I
DỰ BÁO CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH
TẾ - XÃ HỘI VÀ CHÍNH SÁCH THU HÚT,
SỬ DỤNG ODA CỦA VIỆT NAM ĐẾN 2015,
TẦM NHÌN ĐẾN 2020
***
QUY HOẠCH THU HÚT, QUẢN LÝ SỬ DỤNG NGUỒN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA) PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH SÓC TRĂNG GIAI ĐOẠN 2010 – 2015
TẦM NHÌN ĐẾN 2020
Chuẩn bị bởi:
Công ty Nghiên cứu và Tư vấn Chuyển giao Công nghệ và Đầu tư CONCETTI
Sóc Trăng, Tháng 03/2010
Trang 2MỤC LỤC
1 Cơ hội và thách thức phát triển 3
1.1 Bối cảnh 4
1.2 Cơ hội, thách thức 7
2 Dự báo phát triển kinh tế, xã hội Việt Nam đến 2015 và tầm nhìn đến 2020 7
3 Tình hình thu hút, quản lý và sử dụng ODA của Việt Nam trong thời kỳ 2001-20109 3.1 Chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước về thu hút và sử dụng vốn ODA trong các kế hoạch 5 năm 2001-2005 và 2006-2010 9
3.2 Tình hình thu hút và sử dụng ODA trong những năm qua 10
3.3 Ý nghĩa của ODA đối với Việt Nam như một nguồn lực phát triển quan trọng: 12 3.4 Những mặt tích cực của việc sử dụng ODA hỗ trợ phát triển kinh tế, xã hội 13
3.5 Những mặt hạn chế của việc sử dụng ODA hỗ trợ phát triển kinh tế, xã hội 15
3.6 Công tác quản lý và thực hiện các chương trình, dự án ODA 15
3.7 Những bài học rút ra từ thực tiễn thu hút và sử dụng ODA trong thời gian qua.16 4. Dự báo chính sách thu hút và sử dụng ODA của Việt Nam đến 2015 và tầm nhìn đến 2020 16
4.1 Đánh giá xu thế chung của nguồn vốn ODA trên thế giới 16
4.2 Dự báo nguồn vốn ODA dành cho Việt nam trong thời kỳ 2011-2020 17
Trang 3PHỤ LỤC I
DỰ BÁO CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ CHÍNH SÁCH
THU HÚT, SỬ DỤNG ODA CỦA VIỆT NAM ĐẾN 2015,
TẦM NHÌN ĐẾN 2020
***
1 Cơ hội và thách thức phát triển
Thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế, xã hội 10 năm 2001-2010 và Kế hoạch 5 năm 2006-2010, trong những năm qua Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong lĩnh vực phát triển kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển quan hệ hợp tác nhiều mặt với nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới
Ngày nay, Việt nam được biết đến như một quốc gia hòa bình; chính trị, xã hội ổn định; kinh tế có mức tăng trưởng GDP cao và liên tục trong nhiều năm với mức bình quân năm trong thời kỳ 2001-2010 đạt trên 7%; đời sống nhân dân được cải thiên rõ rệt (GDP đầu người tăng gấp hơn 2 lần so với năm 2005 và đạt khoảng
1000 USD/người, thuộc Nhóm các nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình thấp ; tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh; nhiều chỉ số phát triển con người đạt mức trung bình cao của thế giới trong hoàn cảnh của nước nghèo và chậm phát triển (chỉ số phát triển con người từ thứ hạng 108 trên 177 nước năm 2005 lên hạng 105 trên 177 nước năm 2008); hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng với vị thế chính trị trên trường quốc tế và khu vực được tăng cường và ngày một rõ nét (là thành viên thứ
150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO); được bầu là ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc; tham gia nhiều cơ cấu hợp tác và điều ước quốc tế và khu vực như ASEAN, APEC ) và có quan hệ ngoại giao và kinh tế với hơn 100 nước trên thế giới và khu vực; 50 nước, các tổ chức quốc tế và liên chính phủ và các định chế tài chính quốc tế cung cấp viện trợ phát triển cho Việt Nam với tổng vốn ODA cam kết trong thời kỳ 1993 -2008 đạt hơn 48 tỷ USD
Tuy nhiên, nhìn chung Việt nam hiện là nước nghèo và thu nhập thấp với những yếu kém và nhiều thách thức phải đối diện, chủ yếu là:
Việc đổi mới hệ thống chính trị và nền hành chính quốc gia tiến triển chậm, chưa tương xứng với nhu cầu và đòi hỏi của quá trình phát triển kinh tế và
xã hội và hội nhập quốc tế
Nền kinh tế kém hiệu suất và hiệu quả với năng lực cạnh tranh yếu
Năng lực thể chế và năng lực con người còn nhiều bất cập , nhất là năng lực
ở các cấp thực hiện chủ trương, chính sách
Sự phát triển nhanh về kinh tế làm suy thoái môi trường sinh thái, đe dọa sự phát triển bền vững trong tương lai
Trang 4 Cuộc khủng hoảng 3F (Tài chính- Năng lương –lương thực (Financ – Fuel-Food), đặc biệt cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ xẩy ra 2008 và kéo theo hệ lụy suy thoái kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng trực tiếp tới tình hình phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam và có nguy cơ gây tác động xấu đối với việc duy trì những tiến bộ kinh tế, xã hội đã đạt được và thực hiện các mục tiêu
mà Chiến lược phát triển 20 năm đã đề ra
Dự báo toàn cảnh tình hình trong nước và thế giới trong 10-15 năm tới và dài hơn là công việc khó khăn, phức tạp, đòi hỏi kiến thức, sự nỗ lực của nhiều ngành, nhiều cấp, của nhiều nhà khoa học và thực tiễn trong nước và quốc tế
Trong khuôn khổ những sự hiểu biết và thông tin hiện nay có thể phác họa một
số nét chính của bối cảnh trong nước và quốc tế cùng với những cơ hội và thách thức trong giai đoạn phát triển mới như sau:
Trong nước:
Bước vào thời kỳ 10 năm tới 2011-2020 và thực hiện Kế hoạch 05 năm phát triển kinh tế, xã hội 2011-2015, Việt nam đứng trước nhiều vận hội và thách thức đan xen
Nền chính trị tiếp tục ổn định, nhất là sau Đại Hội lần thức XI của Đảng định ra Chiến lược phát triển kinh tê-xã hội 10 năm để đưa Việt nam thành nước công nghiệp vào năm 2020, Đề án 30 cải cách thủ tục hành chính quốc gia phát huy hiệu lực góp phần làm cho bộ máy của Đảng và Nhà nước hoạt động có hiệu quả và hiệu suất cao hơn, hạn chế tệ quan liêu, bệnh tham nhũng, cải thiện dân chủ và tự do trong mội mặt đời sống kinh tế và xã hội Đây là cơ hội có ý nghĩa căn bản để đất nước phát triển ổn định trong thời
kỳ mới
Về kinh tế với những thành tựu phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội đạt được trong việc thực hiện kế hoạch 5 năm 2006-2010, Việt Nam ra khỏi Nhóm các nước đang phát triển có mức thu nhập thấp và chuyển sang Nhóm các
nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình thấp (Theo chuẩn của WB,
Nhóm các nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình (MIC) đạt GDP bình quân đầu người từ 936 đến 3705 USD)
Những tiến bộ xã hội đã đạt được trong thời kỳ 5 năm 2006-2010 khá ấn tượng với tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 20% năm 2005 dự kiến xuống còn 10-11% vào năm 2010; các dịch vụ giáo dục, y tế, sự nghiệp văn hóa tiếp tục được chú trọng và phát triển, nhất là tại các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc Nhờ những kết quả này Việt Nam được tổ chức
Trang 5Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) xếp hạng mức trung bình của thế giói về các chỉ số phát triển con người Những tiến bộ xã hội có thể sẽ tốt hơn nếu như Việt Nam không bị nhũng ảnh hưởng tiêu cực của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu trong các năm 2008, 2009
Những thành tựu kinh tế và tiến bộ xã hội đã đạt được nêu trên tạo ra thuận lợi cơ bản để Việt Nam tiếp tục phát triển tự tin và mạnh mẽ hơn trong thời kỳ 5 năm tới
Quốc tế:
thế lớn mà Đại Hội X của Đảng đã chỉ ra sẽ tiếp tục được duy trì và với những biểu hiện sâu và rộng hơn trong giai đoạn phát triển tiếp theo Tuy nhiên, có thể có một số biến động có tính chất cục bộ, song không ảnh hưởng tới cục diện tình hình chung (Tình hình Trung Đông vấn đề Palestin được giải quyết một bước với việc ra đời nhà nước Palestin cùng tồn tại với nhà nước Do Thái; Mỹ rút quân khỏi I-rắc và tình hình nước này có thể phát triển theo hướng ổn định dần Sau bầu cử năm 2009, tình hình Ap-ga-ni-stan có thể đi vào ổn định theo hướng hòa giải dân tộc; Một số điểm nóng
về xung đột sắc tộc và ly khai ở một số quốc gia và vùng lãnh thổ có thể được xử lý )
Mỹ tiếp tục tăng cường tiềm lực kinh tế và quốc phòng để duy trì và mở rộng ảnh hưởng trên tất cả các khu vực của thế giới trong bối cảnh ở châu Âu Nga nỗ lực khôi phục vị thế một cường quốc; EU trở thành một cộng đông hùng mạnh Ở chấu Á, Trung Quốc trỗi dậy trở thành nền kinh tế thứ hai của thế giới và sẽ tác động chi phối trong các vấn đề chính trị ngoại giao và quân
sự quốc tế và khu vực; Nhật Bản tiếp tục lớn mạnh và ngày càng có vai trò lớn hơn trong các công việc quốc tế với ý định trở thành một nước thành viên thường trực của Hội đồng bảo an của Liên Hợp Quốc; các nước khác như
Ấn Độ, Brazil, Hàn Quốc có nhiều tiềm lực hơn để phát huy vai trò khu vực và trên trường quốc tế Các nước đang phát triển khác cũng sẽ đạt được những tiến bộ kinh tế, xã hội quan trọng và có tiếng nói nhất định trong các quan hệ quốc tế Trong bối cảnh nêu trên, thế giới sẽ tiếp tục là một thế giới
đa cực
ra sâu rộng ở mọi cấp độ song phương, đa phương, khu vực cũng như trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội từ thương mại, đầu tư, lao động, công nghệ cho tới văn hóa và dân sự Trong xu thế đó, tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước và các nền kinh tế là phổ biến và cũng vì thế cạnh tranh hết sức gay gắt
Trang 6Các trung tâm kinh tế của thế giới như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, EU tiếp tục là những đầu tầu kinh tế của thế giới trong 10-15 năm tới
Các định chế tài chính quốc tế và khu vực (WB, IMF, ADB ) và một số cơ cấu hợp tác quốc tế (WTO, OECD, WEF ) tiếp tục được củng cố và mở rộng ảnh hưởng , kể cả việc cơ cấu lại và xác lập các chuẩn mực trong việc
sử lý các vấn đề quan hệ kinh tế quốc tế có liên quan sau cơn suy thoái kinh
tế toàn cầu 2008, 2009
Ở khu vực Đông Nam châu Á, trong đó ASEAN triển khai thực hiện Hiến chương của mình để trở thành một cộng đồng chính trị, kinh tế tương tự EU Các mô hình hợp tác trong khu vực, cũng như giữa các khu vực như ASEAN + 1, ASEAN + 3, ASEAN + 4 ; ASEM, APEC …đi vào hoạt động thực chất hơn; các khu vực mậu dịch tự do song phương và đa phương trong
và ngoài khu vực đi vào hoạt động sôi động , đẩy liên kết kinh tế lên một cấp độ mới, cao hơn; các mô hình hợp tác khu vực như các tam tứ giác phát triển, GMS phát huy tác dụng tạo ra những thị trường rộng lớn, liên thông giữa các quốc gia Đông Nam Á cho hàng hóa, đầu tư, công nghệ, dịch vụ và lao động
Khoa học và công nghệ khẳng định vai trò là một trong những lực lượng sản xuất chủ yếu của nền kinh tế thế giới và vì vậy xây dựng và phát triển nền kinh tế trí thức là ưu tiên hàng đầu trong chính sách phát triển của nhiều nước, nhất là các nước công nghiệp phát triển
Bên cạnh những mặt thuận nêu trên của bối cảnh quốc tế, thế giới hiện và sẽ tiếp tục phải đối diện với nhiều nguy cơ và thách thức :
khăn do hậu quả của của suy thoái kinh tế 2008, 2009 thì kinh tế thế giới mới
có cơ hội cho những bước phát triển mạnh mẽ tiếp theo Nếu không thì nguy
cơ nhiều thành tựu phát triển mà các nước đã đạt được, nhất là các nước đang phát triển sẽ bị xóa sạch, mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDGs) trở nên
xa vời hơn đối với các nước đang phát triển và kinh tế thế giới có thể phải đối mặt với những khó khăn và thách thức mới
nước và giữa các nhóm người ngày càng tăng như một hậu quả không mong muốn của toàn cầu hóa Lưu ý rằng thế giới hiện còn khoảng 1 tỷ người sống dưới đáy của sự nghèo khổ Một ngày AIDS cướp đi sinh mạng của 6000 người 750 triệu người lớn trên thế giới hiện mù chữ
Trang 7 Thứ ba, các vấn đề môi trường, đặc biệt là hiện tượng biến đổi khí hậu là
hiểm họa lớn nhất đang đe dọa sự sống còn của nhiều quốc gia và nhiều vùng lãnh thổ
Bối cảnh quốc tế nêu trên mang lại cho Việt Nam những cơ hội, đồng thời cũng đặt
ra những thách thức can go trong giai đoạn 2011-2020
Những cơ hội chủ yếu là :
thế giới đa cực tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của Việt Nam
và lợi ích phát triển của quá trình này (Được đối sử bình dẳng trong quan hệ kinh tế quốc tế; có thị trường rộng mở cho hàng hóa, dịch vụ, lao động; được chuyển giao công nghệ hiện đại và kinh nghiệm quản lý tiên tiến )
thế giới Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển nhanh hơn thông qua thương mại, đầu tư, dịch vụ …
Bên cạnh đó Việt Nam cũng phải đối diện với nhiều khó khăn, thách thức, chủ yếu là :
kiện bên ngoài với những biến động khôn lường, tạo ra những rủi ro cho quá trình phát triển
Nếu muốn tồn tại và phát triển trong thời đại toàn cầu hóa chỉ có thể nâng cao năng lực cạnh tranh
công nghệ hợp lý, nếu không muốn trở thành bãi rác của công nghệ thế giới
vượt qua Đó là khoảng cách giầu nghèo; bất bình đẳng xã hội; thất nghiệp; môi trường bị hủy họai, trong đó những hậu quả của biến đổi khí hậu (nước dâng, bão, lụt và nhũng thảm họa thiên tại khác không theo quy luật … )
2 Dự báo phát triển kinh tế, xã hội Việt Nam đến 2015 và tầm nhìn đến 2020
Hiện nay, nhiều cơ quan nghiên cứu và quản lý đang tiến hành phân tích và đánh giá nhiều kịch bản phát triển khác nhau trong quá trình chuẩn bị cho Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2011-2020 và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5
Trang 8năm 2011-2015 để trình Đại hội toàn quốc lần thư XI của Đảng Dựa vào một số tài liệu nghiên cứu và hội thảo khoa học trong thời gian gần đây có thể khái quát hóa sự phát triển kinh tế, xã hội Việt Nam trong 5 năm tới và tầm nhìn đến năm
2020 như sau:
Việt Nam đặt mục tiêu phấn đấu về cơ bản trở thành nước công nghiệp theo định hướng XHCN vào năm 2020 trên cơ sở tiếp tục đổi mới toàn diện đời sống kinh tế,
xã hội , chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực , đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân
Theo một trong những kịch bản phát triển, trong 10 năm tới dự kiến tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân hàng năm 7-8 % và như vậy đến năm 2020 GDP sẽ tăng gấp 3 lần so với năm 2010 (theo giá thực tế) và GDP bình quân đàu người đạt 3000-3200 USD Cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa với tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ chiếm 85 % trong cơ cấu GDP Kết cấu hạ tâng tương đối đồng bộ và hiện đại Số dân đô thị chiếm trên 40% Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Môi trường được từng bước xây dựng tốt, bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế,xã hội và môi trường theo hướng phát triển bền vững Đời sông vật chất và tinh thần của người dân được cải thiện một bước quan trọng Với tầm nhìn chiến lược nêu trên, kế hoạch 05 năm 2011 - 2015 sẽ tập trung phát triển nhanh và bền vững với tốc độ tăng trưởng dự kiến khoảng 7% năm trong 5 năm 2011-2015 để có cơ sở đảy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia, cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự xã hội
Để đáp ứng được tốc độ tăng trưởng nêu trên, dự kiến tỷ lệ đầu tư trong GDP phải chiếm khoảng 40-41%, trong đó nguồn vốn trong nước chiếm khoảng 65% và nguồn vốn ngoài nước chiếm khoảng 25%
CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU VÀ DỰ BÁO CÁC CÂN ĐỐI LỚN GIAI ĐOẠN 2011-2015
(Dự thảo của Bộ KH&ĐT tháng 11/2009)
- GDP tăng bình quân 7-8%/năm
- GDP bình quân đầu người 2015 đạt 2.100 USD gấp 1,7 so với 2010
Trang 9- Năng suất lao động xã hội 2015 gấp 1,5 lần so 2010
- Tốc độ tăng tổng kim ngạch xuất nhập khẩu bình quân 12%
- Tỷ lệ huy động NSNN 28,5-29% GDP
- Tỷ trọng đầu tư toàn xã hội 40-41% GDP
- Tỷ lệ tiết kiệm nội địa trên GDP 31,4-31,7%
- FDI dự kiến 56 tỷ USD
- ODA khoảng 26-28 tỷ USD, Giải ngân 14-15 tỷ USD
3 Tình hình thu hút, quản lý và sử dụng ODA của Việt Nam trong thời kỳ 2001-2010
Việt nam đang thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm 2001-2010 với hai kế hoạch 5 năm 2001-2005 và 2006-2010 Kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế, xã hội 2001-2005 đã đuợc thực hiện thành công, tạo ra những tiền đề quan trọng để đất nước bước vào thời kỳ 5 năm tiếp theo với vị thế kinh tế và chính trị cao hơn so với các thời kỳ phát triển trước đây
Quan hệ kinh tế đối ngoại của Việt nam (xuất, nhập khẩu;đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ; hợp tác phát triển ; các dịch vụ tài chính, ngân hàng, du lịch ) không ngừng đuợc phát triển và mở rộng
dụng vốn ODA trong các kế hoạch 5 năm 2001-2005 và 2006-2010
Trong quá trình xây dựng phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước Việt Nam kiên định chủ truơng huy động nguồn lực ở trong và ngoài nước, trong đó nguồn lực trong nước có ý nghĩa quyết định và các nguồn lực từ bên ngoài có ý nghĩa quan trọng
Chính sách của Chính phủ trong các thời kỳ này là tích cực vận động, thu hút và sử dụng ODA để hỗ trợ đầu tư phát triển các lĩnh vực ưu tiên:- Phát triển nông nghiệp
và nông thôn, kết hợp xoá đói, giảm nghèo
Phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế Đối với thời kỳ 2006-2010, vốn ODA đuợc
ưu tiên sử dụng để phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế theo hướng hiện đại -Phát triển co sở hạ tâng xã hội như y tế, giáo dục và đào tạo
Bảo vệ môi trường và nguồn tài nguyên thiên nhiên - Tăng cường năng lực thể chế và phát triển nguồn nhân lực
Trang 103.2 Tình hình thu hút và sử dụng ODA trong những năm qua
Tình hình cam kết, ký kết, giải ngân, vốn ODA, cơ cấu ODA theo ngành và lĩnh vực, cơ cấu ODA theo vùng, lãnh thổ trong 16 năm qua (1993 – 2008) được thể hiện theo các bảng dưới đây:
BẢNG 1: CAM KẾT, KÝ KẾT VÀ GIẢI NGÂN VỐN ODA
THỜI KỲ 1993 – 2008
NĂM CAM KẾT KÝ KẾT GIẢI NGÂN
1993 – 1995 6.131,00 4.858,07 1.875,00
1996 – 2000 11.546,50 9.006,40 6.142,00
2001 – 2005 14.889,20 11.157,78 7.887,00
2006 – 2008 9.872,20 10.195,66 6.161,00
2006- 2009 17.936,07 16.327,04 10.266,00
Tổng số 50.502,77 41.349,29 26.170,00