1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LỊCH SỬ NGÀNH Y TẾ BÌNH DƯƠNG TẬP II (1975 – 2005)

117 222 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ban lãng đạo Sở y tế Bình Dương quyết định tổ chức biên soạn công trình "LỊCH SỬ NGÀNH Y TẾ BÌNH DƯƠNG 1975 - 2005" Cuốn sách "Lịch sử ngành y tế Bình Dương 1975 - 2005 nhằm tái hiện một

Trang 2

BAN CHỈ ĐẠO ( Theo Quyết định số 993/QĐ-TU ngày 01 / 02 /2005 của Tỉnh ủy Bình Dương) Trưởng ban: Huỳnh Văn Nhị, Tỉnh ủy viên - Giám đốc Sở Y tế

Phó ban: Khổng Trọng Khuê - Phó Giám đốc Sở Y tế

Các Ủy viên:

- Đinh Văn Khai, Phó Giám đốc Sở Y tế - Giám đốc Bệnh viện đa khoa tỉnh

- Đỗ Thị Thúy, Phó Giám đốc Sở Y tế

- Triệu Thị Liến, Chủ tịch Công đoàn ngành Sở Y tế

- Nguyễn Thị Chín, Trưởng phòng Tài chính - Kế toán Sở Y tế

Trang 3

LỊCH SỬ NGÀNH Y TẾ TỈNH BÌNH DƯƠNG

THỜI KỲ 1975 - 2005

LỜI GIỚI THIỆU

Dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng, cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 của quân và dân cả nước nói chung, Bình Dương nói riêng đã giành được thắng lợi vẻ vang, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, đưa đất nước ta bước vào thời kỳ mới, thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Ba mươi năm sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (1975 - 2005), một quãng thời gian không dài nối liền quá khứ oanh liệt với hiện tại sôi động của công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh tình hình quốc tế

có những biến động phức tạp, cùng với những khó khăn trong nước đã đặt Đảng bộ

và nhân dân Bình Dương trước những thử thách gay gắt

Dày dạn qua chiến tranh cách mạng trên một địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng cả về kinh tế, chính trị, quân sự, với những khó khăn gian khổ của "Miền Đông giao lao" đã tôi luyện cho Đảng bộ Bình Dương bản lĩnh chính trị vững vàng, sẵn sàng đương đầu và vượt qua thử thách Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong giai đoạn cách mạng mới, nhân dân Bình Dương trong đó có lực lượng y tế đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, khắc phục hậu quả chiến tranh, nỗ lực phấn đấu và đã giành được những thành tựu quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chế độ mới và con ngưới mới xã hội chủ nghĩa

Ghi lại thành quả của Ngành y tế tỉnh nhà trong việc triển khai các hoạt động công tác y tế bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân, nguồn nhân lực con người có chất lượng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của địa phương là việc làm thiết thực có ý nghĩa

Thực hiện chỉ thị Số: 39-CT/TU ngày 22-10-2004 về việc nâng cao chất lượng biên soạn lịch sử địa phương của Tỉnh uỷ Bình Dương Ban lãng đạo Sở y tế Bình Dương quyết định tổ chức biên soạn công trình "LỊCH SỬ NGÀNH Y TẾ BÌNH DƯƠNG (1975 - 2005)"

Cuốn sách "Lịch sử ngành y tế Bình Dương (1975 - 2005) nhằm tái hiện một thời kỳ xây dựng và phát triển Ngành y tế không kém phần khó khăn, thử thách, tập trung phản ánh một cách có hệ thống những sự kiện tiêu biểu, chân thật và sống động, làm rõ tinh thần hết lòng vì người bệnh, năng động sáng tạo và tinh thần đoàn kết, tự lực tự cường của cán bộ nhân viên y tế từ tỉnh xuống cơ sở Qua đó khơi dậy niềm tự hào của đội ngũ làm công tác y tế tỉnh nhà, góp phần giáo dục truyền thống

"Lương y như từ mẫu" cho đội ngũ cán bộ, y bác sĩ, nhân viên y tế

Trang 4

Quyển Lịch sử Ngành y tế Bình Duơng - tập II (1975 - 2005) được chia làm 2 phần với 6 chương như sau:

Chương mở đầu

Phần thứ nhất: Ngành y tế Bình Dương 10 năm xây dựng và phát triển - Góp

phần cùng nhân dân trong tỉnh xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa (1975 - 1985) có 2 chương gồm: chương1 và 2

Phần thứ hai: Y tế Bình Dương 20 năm đổi mới và hiện đại hoá (1986 - 2005)

có 3 chương gồm chương 3, 4 và 5

Trong quá trình biên soạn, cuốn sách được sự đóng góp tận tình của nhiều đồng chí lãnh đạo Sở, Ban Giám đốc Sở, của các thế hệ cán bộ công tác qua nhiều thời kỳ Mặc dù Ban Giám đốc Sở đã tập trung sức chỉ đạo, Ban biên tập đã có nhiều

cố gắng trong quá trình biên soạn, song chắc chắn cuốn sách khó tránh khỏi thiếu sót Chúng tôi mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các đồng chí để tiếp tục bổ sung, sửa chữa trong lần xuất bản sau đạt chất lượng hơn

Thay mặt lãnh đạo Sở Y tế, chúng tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các đồng chí cán bộ lão thành, các đồng cán bộ lãnh đạo của Sở qua các thời kỳ đã góp nhiều công sức để hoàn thành cuốn sách này Nhân dịp kỷ niệm 32 năm ngày giải phóng miền Nam (30-4-1975 - 30-4-2007) Ban Giám đốc Sở Y tế xin trân trọng giới thiệu

cuốn sách: Lịch sử ngành y tế Tỉnh Bình Dương (1975 - 2005) đến cán bộ, nhân

viên ngành y tế và cán bộ, đồng bào trong tỉnh

GIÁM ĐỐC

Trang 5

CHƯƠNG MỞ ĐẦU

Mùa thu năm 1945, nhân dân Bình Dương khởi nghĩa giành chính quyền cùng với cả nước Cuộc khởi nghĩa thành công tốt đẹp, chấm dứt ách thống trị của thực dân xâm lược Chính quyền nhân dân được thành lập từ tỉnh đến huyện xã, mở

ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội Lần đầu tiên trong lịch sử, nhân dân ta từ người nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình Ngành y tế cách mạng Bình Dương cũng được thành lập với nhiệm vụ chăm sóc sức khoẻ nhân dân và lực lượng cách mạng

Trong khi nhân dân ta đang nỗ lực xây dựng nước Việt Nam mới trong độc lập, hoà bình, thì thực dân Pháp từng bước thực hiện âm mưu xâm lược nước ta một lần nữa Được sự giúp đỡ của đế quốc Anh, 0 giờ ngày 23-9-1945, thực dân Pháp đã

nổ súng đánh chiếm đồng loạt các trụ sở, căn cứ của ta tại Sài Gòn, chính thức mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ 2 Cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược của nhân dân Bình Dương cũng bắt đầu từ mùa thu năm ấy Trải qua 9 năm kháng chiến trường kỳ gian khổ, quân và dân Bình Dương đã cùng với nhân dân cả

nước kháng chiến với quyết tâm sắt đá: "Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định

không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ" Dưới sự lãnh đạo tài tình của

Đảng, nhân dân ta lần lượt đánh bại các kế hoạch chiến tranh của thực dân Pháp mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta kết thúc với việc ký kết hiệp định Giơ-ne-vơ ngày 20 tháng 7 năm 1954, chấm dứt sự thống trị của thực dân Pháp trên đất nước ta

Thế nhưng, đế quốc Mỹ vốn có mưu đồ thôn tính nước ta từ lâu đã tìm cách hất cẳng Pháp, độc chiếm miền Nam, biến nơi đây thành thuộc địa kiểu mới và căn

cứ quân sự của chúng Cuộc chiến tranh này thật vô cùng ác liệt, đế quốc Mỹ đổ tiền của, bom đạn, chất độc hoá học, và tất cả những phương tiện vũ khí chiến tranh hiện đại cùng với 50 vạn quân viễn chinh Mỹ, 70 vạn quân ngụy và chư hầu

Địa bàn Bình Dương là một tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ, qua 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, lúc nào địch cũng tập trung trên địa bàn Bình Dương một lực lượng quân sự lớn với những đơn vị thiện chiến, sử dụng nhiều biện pháp chiến lược, thủ đoạn quân sự tàn bạo cùng những âm mưu thâm độc về chính trị và kinh tế Tất cả sự dồn sức về mọi mặt của kẻ thù chứng tỏ Bình Dương là một địa bàn chiến lược quan trọng đối với sự sống còn của chúng Đối đầu với cuộc chiến tranh hủy diệt này, nhân dân Bình Dương đã vững vàng bán trụ quyết tâm chống giặc đến cùng, dù phải hy sinh tính mạng và tài sản để giành lại quyền độc lập tự do cho dân tộc

Trải qua 21 năm dài chiến đấu chống Mỹ, nhân dân Bình Dương đã phải chịu nhiều đau thương, mất mát, hy sinh, bom đạn Mỹ không ngừng tàn phá quê hương, giết chóc, hủy hoại tài sản và cuộc sống con người Nhưng cuối cùng chính nghĩa vẫn thắng Nhân dân ta đã đánh cho Mỹ cút với chiến dịch Xuân Hè 1972 và đánh cho ngụy nhào với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn Miền Nam ngày 30/ 4/1975

Trang 6

Ngành y tế cách mạng Bình Dương từ khi ra đời đã hoà mình vào dòng thác đấu tranh của nhân dân, toàn tâm toàn ý phục vụ sức khoẻ nhân dân và lực lượng vũ trang, góp phần không nhỏ trong cuộc chiến đấu suốt 30 năm chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Vượt qua tất cả mọi thử thách gian lao nguy hiểm, những cán bộ y tế kháng chiến đã cùng với quân và dân trong tỉnh dũng cảm ngoan cường thực hiện nhiệm vụ quan trọng mà nhân dân và Đảng giao phó, bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ chiến sĩ, cán bộ và đồng bào Ngành y tế Bình Dương có thể tự hào đã làm tròn sứ mệnh lịch sử của mình, đóng góp một phần vào sự nghiệp cánh mạng giải phóng dân tộc chung của cả nước

Qua 30 năm kháng chiến chống xâm lược, ngành y tế Bình Dương đã có 152 liệt sĩ được Tổ quốc ghi công Còn rất nhiều anh chị em là thương binh, bệnh binh đã cống hiến một phần cơ thể của mình cho đất nước

Lịch sử đã sang trang mới, bắt đầu từ sau 30/4/1975, nhân dân Bình Dương cùng cả nước vui mừng hồ hởi đón chào một kỷ nguyên mới: nước nhà hoàn toàn độc lập tự do, nhân dân tự làm chủ vận mệnh của mình Nhân dân Bình Dương tiếp tục phát huy tinh thần cách mạng trong chiến đấu xây dựng lại quê hương từ những đổ nát, tang thương trong điều kiện hoà bình, thống nhất đất nước Cán bộ nhân viên ngành y tế tiếp tục phát huy truyền thống chiến đấu anh dũng đã cùng nhau bắt tay vào việc xây dựng và phát triển ngành y tế

Quá trình xây dựng và phát triển ngành y tế cùng song hành với quá trình xây dựng

và phát triển kinh tế xã hội của đất nước từ 1975 đến 2005 Điều đặc biệt ở đây là có

sự trùng hợp ngẫu nhiên về thời gian trong chiến tranh và hoà bình ta có 30 năm chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945 - 1975) và 30 năm hoà bình xây dựng đất nước (1975 - 2005 )

Trong 30 năm hoà bình xây dựng đất nước: từ (1975- 1985) 10 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội với đường lối phát triển kinh tế theo mô hình kế hoạch tập trung bao cấp, nền kinh tế quốc dân có phát triển nhưng chậm, đời sống nhân dân vẫn còn nhiều khó khăn, thiếu thốn Cùng với sự bao vây cấm vận kinh tế bên ngoài, ngành kinh tế nội địa không đủ sức đáp ứng được nhu cầu của người dân về lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng, thuốc chữa bệnh và các nhu cầu văn hoá khác

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI năm 1986 Đảng đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế, xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, thiết lập nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý điều tiết của Nhà nước Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng trong thời gian 20 năm (1986 – 2005), nền kinh tế Bình Dương phát triển với tốc độ cao, đã biến Bình Dương từ một tỉnh nghèo thuần nông, trở thành một tỉnh công nghiệp phát triển cao, sản phẩm nội địa hàng năm đều tăng thuộc loại cao nhất trong nước, năm 2005 bình quân đầu người 1.000 USD/năm

Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và tỉnh nhà, Ngành y tế thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, trước hết là đổi mới tư duy trong toàn thể cán

bộ nhân viên trong ngành, nhận thức và quán triệt sâu sắc đường lối đổi mới của Đảng trong công tác y tế Ngành đề ra mhững quan điểm, phương châm, giải pháp

Trang 7

thích hợp, sáng tạo trong từng thời gian cụ thể, từng bước phát triển bền vững tiến đến một ngành y tế hiện đại Hai mươi năm (1986 - 2005), ngành y tế đã thực hiện tốt đường lối đổi mới của Đảng và của Bộ trong công tác xây dựng hệ thống y tế XHCN, tích cực phát động các phong trào quần chúng phòng bệnh phòng dịch, trồng

và sử dụng thuốc nam tại chỗ Khắc phục mọi khó khăn thiếu thốn, ngành từng bước xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật đến cơ sở hạ tầng, đào tạo đội ngũ cán bộ y tế, tạo thuận lợi cho người dân tiếp cận với các dịch vụ y tế để chăm sóc sức khoẻ, khám chữa bệnh, cung ứng thuốc thông thường đến tận tay người dân, làm cho người dân

càng có lòng tin vào ngành y tế cách mạng và chế độ xã hội chủ nghĩa

Quá trình xây dựng đất nước, phát triển kinh tế xã hội được thực hiện trong những năm cuối thế kỷ XX và 5 năm đầu của thế kỷ XXI trong lúc cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển như vũ bão trên thế giới Công nghệ sinh học, công nghệ thông tin - tin học và các công nghệ khoa học khác đã làm đảo lộn cuộc sống con người từ trình độ thấp tiến lên trình độ cao trong khoảng thời gian vô cùng ngắn

Toàn ngành y tế cố gắng phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình qua từng giai đoạn lịch sử Hội nhập với thời đại, cập nhật những phát triển mới của thế giới để phát triển bền vững Tiếp nối truyền thống tốt đẹp của các bậc đàn anh đi trước, khắc phục khó khăn thách thức để đưa ngành y tế tiến lên phía trước, phục vụ ngày càng tốt hơn sức khoẻ nhân dân Góp công sức vào công cuộc đổi mới, thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh của Đảng

Trang 8

uỷ chỉ thị cho các địa phương trong tỉnh phát động quần chúng kết hợp cùng với quân chủ lực nổi dậy khởi nghĩa giải phóng quê hương, góp phần tạo thế và lực cho quân

và dân ta, nhất là các quân đoàn chủ lực tiến vào giải phóng Sài Gòn, giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà

Ngày 14/4/1975 bộ Chính trị quyết định đặt tên chiến dịch giải phóng Sài Gòn

là chiến dịch Hồ Chí Minh Với những nỗ lực phi thường "một ngày bằng hai mươi năm" quân và dân ta đã quyết tâm thực hiện Tổng tiến công và nổi dậy, kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh giải phóng trong thời gian ngắn nhất Ngày 30 /4/1975, chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng giải phóng Sài Gòn - Gia Định, giải phóng hoàn toàn miền Nam, mở ra cho thời kỳ mới cho cách mạng Việt Nam - thời kỳ cả nước thống nhất cùng đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội

I TIẾP QUẢN VÀ XÂY DỰNG MẠNG LƯỚI Y TẾ SAU GIẢI PHÓNG

I.1 Triển khai công tác y tế phục vụ chiến dịch giải phóng tỉnh nhà -Tiếp

quản và củng cố mạng lưới y tế sau giải phóng

Thực hiện quyết tâm chiến lược của Đảng, ngày 2/4/1975, Thường vụ Trung

ương Cục chỉ thị cho các Tỉnh uỷ và lực lượng vũ trang "Bằng tất cả khả năng sẵn

có của địa phương mà mạnh dạn, táo bạo phát động quần chúng nổi dậy khởi nghĩa,

ấp giải phóng ấp, xã giải phóng xã, huyện giải phóng huyện, Tỉnh giải phóng tỉnh bằng lực lượng của bản thân phối hợp với chiến trường chung" 1

Từ ngày 14 đến ngày 16 - 4 -1975, Tỉnh uỷ Bình Dương mở Hội nghị cán bộ lãnh đạo chủ chốt của tỉnh phổ biến nhiệm vụ của quân và dân toàn tỉnh trong chiến dịch tiến công và nổi dậy giải phóng tỉnh và nhiệm vụ phối hợp với các quân đoàn

chủ lực trong chiến dịch giải phóng Sài Gòn

Thực hiện chỉ thị của Tỉnh uỷ, ngành Y tế Bình Dương đã có những bước chuẩn

bị cho công tác phục vụ y tế trong chiến dịch giải phóng Tỉnh nhà

1 Chỉ thị 340-TW của Thường vụ Trung ương Cục ngày 02 -4 -1975

Trang 9

Tháng 4 -1975, Lãnh đạo Ban Dân y tỉnh Bình Dương gồm Bác sĩ Nguyễn Thanh Phong - Trưởng Ban; Bác sĩ Lê Minh Hoàng - Phó ban; Phạm Ngọc Ẩn - chính trị viên tổ chức thành lập một bệnh xá tại xã Tam Lập huyện Phú Giáo, bên bờ Sông Bé Văn phòng Ban và bệnh xá trên 45 cán bộ nhân viên

Căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ của chiến dịch, Bác sĩ Nguyễn Thanh Phong triệu tập khẩn cấp đơn vị bàn kế hoạch chuẩn bị phục vụ chiến dịch Hồ Chí Minh Ngay sau đó, Đội phẫu tiền phương được thành lập do Bác sĩ Lê Minh Hoàng phụ trách Một tổ y tế tiền phương do Bác sĩ Trần Hoài Đức phụ trách, có Y sĩ Phạm Văn Sen bệnh xá phó, đi cùng đoàn chính trị của tỉnh để tiếp quản theo ngành Bác sĩ Nguyễn Thanh Phong đi cùng Ban Chỉ huy chiến dịch do Bí thư tỉnh ủy chỉ đạo

Sáng ngày 29/ 4 /1975, đội phẫu tiền phương có mặt tại Sở cao su Phú Chánh triển khai đội hình chuẩn bị tiếp nhận thương binh Chiều 29/4/1975, cả đội trực tiếp xuống bám tại trường Tiểu học xã Phú Chánh

Ngày 30/ 4/1975 là ngày định mệnh của chế độ Mỹ ngụy, là ngày toàn thắng của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử giải phóng hoàn toàn Miền Nam Lịch sử đang sang trang mới

Trưa ngày 30/4/1975 Bác sĩ Trần Hoài Đức và Y sĩ Phạm Văn Sen trong tổ y tế Tiền phương theo chân các lực lượng vũ trang tiến vào Thị xã Hai anh đến ngay Bệnh viện tỉnh (số 211 đường Yersin Thị xã Thủ Dầu Một), tấm biển ngoài cổng vào

đề tên “Bệnh viện Phú Cường“ Tại đây, Bác sĩ Trần Văn Phú - Trưởng Ty Y tế kiêm Bệnh viện trưởng và Bác sĩ Nguyễn Hữu Hội - Phó Ty y tế cùng toàn bộ nhân viên của Bệnh viện ra đón tiếp Một vài giờ sau, Bác sĩ Lê Minh Hoàng đến, các anh tập hợp toàn thể cán bộ, nhân viên của Ty y tế và bệnh viện, nói rõ chủ trương chính sách của chính phủ Cách mạng Miền Nam là hoà hợp hoà giải dân tộc, kêu gọi mọi người yên tâm trở lại làm việc bình thường không bỏ nhiệm Sở Các anh được bác sĩ Phú và Hội dẫn đi xem toàn bộ Bệnh viện, các khoa phòng, trang thiết bị Toàn bộ cơ sở vật chất, dụng cụ, máy móc đều nguyên vẹn Toàn bộ nhân viên khoảng 200 người trong

đó bác sĩ và dược sĩ khoảng 10 người

Ông Võ Văn Bình y tá trưởng của Bệnh viện sau đó thổ lộ tâm tình: “ Ban đầu tôi rất lo sợ, không biết chuyện gì sẽ xảy ra, nhưng tôi yên tâm ngay khi nghe lời giải thích của các anh về chính sách hoà hợp dân tộc của Cách mạng và chính sách sử dụng nhân viên chế độ cũ, tôi và vợ tôi yên tâm trở lại làm việc ngay”2

Bệnh viện Phú Cường có lịch sử lâu đời, được người Pháp xây dựng vào năm

1898, cách nay gần 80 năm Nhiều hạng mục khoa phòng đã xuống cấp, trang thiết bị

cũ kỹ và không nhiều, năng lực thu dụng khoảng 300 giường bệnh Bệnh viện có 6 khoa và một khu ngoại chẩn khám bệnh thường ngày; ngoaị khoa có phòng cấp cứu

và phòng giải phẩu; khoa sản còn có bên cạnh là trường cô đỡ hương thôn đào tạo mỗi khoá 20 người; khoa Nhi, khoa Lây và khoa Lao Các khoa khác là khoa Dược, khoa xét nghiệm, khoa X quang, nhà giặt giũ, nhà bếp, nhà xe

2

Vợ ông là Đỗ Thị Liễu cán sự điều dưỡng khoa Nhi Hai anh chị sau này tích cực công tác trong bệnh viện cho đến tháng 6/1980 ông Bình xin nghỉ hưu

Trang 10

Ty Y tế ngoài Bệnh viện còn có Phòng y tế công cộng đồng chỉ đạo công tác các Chi y tế huyện Trưởng phòng y tế công cộng là cán sự y tế Nguyễn Nghiệp Triệu Trong phòng y tế cộng đồng có Ban diệt trừ sốt rét, Trưởng ban y tế chống sốt rét là cán sự y tế Sương.3

Số Bác sĩ hiện có: Khoa Nội có Bác sĩ Nguyễn Thị Minh Châu; Khoa sản -Bác

sĩ Huỳnh thị Thương; Khoa Ngoại - Bác sĩ Lê Mộng Hùng, Bác sĩ Lê Hữu Toàn và Bác sĩ Nguyễn Thị Minh; Khoa Dược: có dược sĩ Đỗ Hoà Bình; Khoa xét nghiệm có Dược sĩ Trần Văn Đáng và Dược sĩ Trần Đắc Dung; Phòng Dược: có Dược sĩ Hà Thanh Thu; Khoa lao: có Bác sĩ Lê Duy Minh

Hệ thống huyện gồm có Chi y tế các huyện Châu Thành, Lái Thiêu, Bến Cát, Dầu Tiếng, Phú Giáo, Phú Hoà (Củ Chi) Trưởng chi là 1 cán sự y tế với 2- 3 nhân viên

Cũng trong ngày 30/4/1975, lúc 16 giờ chiều, 3 xe ô tô Scow vào Trường Tiểu học Phú Chánh rước toàn bộ Ban và Bệnh xá về Bệnh viện tỉnh Số cán bộ kháng chiến cùng hoà nhập vào số cán bộ nhân viên mới tiếp quản, tiếp tục đưa hoạt động Bệnh viện trở lại bình thường, sẵn sàng phục vụ thương bệnh binh và nhân dân

Sau khi các huyện Dầu Tiếng, Bến Cát, Phú Giáo,Tân Uyên được giải phóng vào ngày 29/4/1975 Các huyện phía Nam Dĩ An, Lái Thiêu, Châu Thành, Thị xã

được giải phóng vào ngày 30/4/1975 Các đồng chí dân y ở các huyện tiếp quản ngay

các cơ sở y tế Huyện Lái Thiêu do Y sĩ Trần Mạnh Tường, Dĩ An do Y sĩ Út Hoà, ở Tân Uyên do Y sĩ Bảy Bình (Trần Trung Cận) tiếp quản và tổ chức lại cơ sở đi vào hoạt động bình thường Nhìn chung, những cơ sở hầu hết cũ kỹ, chật hẹp, trang thiết

bị đơn sơ

Theo chỉ đạo của Tỉnh uỷ và Ủy Ban Quân quản về việc tổ chức học tập cải tạo cán bộ nhân viên y tế chế độ cũ, các cán bộ Trưởng phó Ty, Trưởng phó phòng, Trưởng phó khoa được gọi đến Ủy Ban quân quản trình diện và đăng ký học tập cải tạo, địa điểm tại Trường Nữ Trung học Trịnh Hoài Đức, thời gian khoảng 60 ngày Còn lại tất cả nhân viên khác đều được học tập taị Bệnh viện thời gian khoảng 13 ngày Sau đợt học cải tạo, Bệnh viện thường xuyên tổ chức những buổi học chính trị

để nâng cao nhận thức của cán bộ nhân viên, đồng thời tổ chức những buổi biểu diễn văn nghệ tự biên tự diễn để khuyến khích mọi người hăng hái lao động và công tác trong thời kỳ hoà bình xây dựng đất nuớc

Nhằm ổn định, củng cố xây dựng bộ máy của ngành phù hợp với tình hình mới, công tác tổ chức cũng được sắp xếp lại:

Trưởng ty: Bác sĩ Nguyễn Thanh Phong - phụ trách chung

Phó Ty: Bác sĩ Lê Minh Hoàng - phụ trách mạng lưới y tế huyện và xã

Bệnh viện trưởng: Bác sĩ Trần Hoài Đức Phụ trách hệ điều trị

3

Năm 1972, Bộ Y tế Sài Gòn thành lập Trại Nhi Đồng kiểu mẫu cho 3 tỉnh Long An, Tây Ninh, Biên Hoà, Bình Dương, cơ sở được xây dựng trong khuôn viên Bệnh viện tỉnh một trệt một lầu, sức khoẻ khoảng 60 giường, chế độ cho ăn và uống thuốc theo giờ

Trang 11

Công tác tổ chức và công tác chính trị tại bệnh viện do Y sĩ Phạm Văn Sen -

Bí thư chi bộ phụ trách Các công việc của Bệnh viện do Bác sĩ Trần Hoài Đức phụ trách sắp xếp, bố trí, chỉ đạo công tác hàng ngày, đảm bảo khám và điều trị bệnh kịp thời

Bố trí lại cán bộ trưởng phó khoa Bệnh viện:

Ngoại khoa: Bác sĩ Trần Hoài Đức - Trưởng khoa

Khoa sản: Bác sĩ Nguyễn Thị Đức -Trưởng khoa

Khoa nhi: Bác sĩ Khổng Trọng Khuê - Trưởng khoa.4

Ban Quân y Tỉnh đội Bình Dương do Bác sĩ Mười Liêm, Bác sĩ Nguyễn Văn Tăng và Bác sĩ Trần Đăng phụ trách

Sau ngày giải phóng 30/4/1975, ta tiếp quản Bệnh viện dã chiến 4 tại Gò Đậu Bệnh viện trưởng Bệnh viện này là Trung Tá Bác sĩ Hảo đến giao chìa khoá Bệnh viện lại cho Ban Quân y Sau khi Bệnh viện được tiếp quản xong, Bác sĩ Hảo cùng một số Bác sĩ Thiếu tá Bác sĩ Phạm Văn Di, đại úy Dược sĩ Bích, Trung uý Dược sĩ Phạm Quang Trường được nhận làm việc taị Bệnh viện đa khoa tỉnh, và Bệnh viện tổ chức cho đi học cải tạo một thời gian ngắn rồi trở về làm việc

Sau khi học tập hiểu rõ chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đối với cán bộ công nhân viên chức làm việc dưới chế độ cũ, các anh chị em đều vui mừng trước chính sách khoan hồng độ lượng của Cách mạng, tất cả đều làm đơn xin được làm việc lâu dài tại Bệnh viện

Ngày 15-5-1975 tại Hà Nội, trước cuộc míttinh mừng thắng lợi vĩ đại của Cách mạng nước ta Đồng chí Lê Duẫn Tổng Bí thư đọc diễn văn, có đoạn nói về chính sách của Đảng đối với cán bộ công chức chế độ cũ như sau :

“Với tinh thần hoà giải và hoà hợp dân tộc, nhân dân đã tỏ rõ lượng khoan

hồng đối với tất cả những ai đã lầm đường lạc lối, bất kể quá khứ của họ như thế nào, nay trở về với dân tộc Miễn là họ thành tâm hối cải thành tâm mang hết tài năng ra phục vụ Tổ quốc thì vị trí của họ trong lòng dân tộc sẽ được bảo đảm, mọi sự

ô nhục mà kẻ tội phạm gây ra là đế quốc Mỹ sẽ được rửa sạch”.5

Với chủ trương chính sách của Đảng đã rõ ràng, tất cả anh chị em đều rất yên tâm, ra sức khắc phục mọi khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ được giao, phục vụ tốt hơn nữa cho nhân dân, cho đất nước, trút bỏ quá khứ hướng tới tương lai

Ngày 19-5-1975, một vụ nổ kho đạn trong doanh trại Tỉnh đội Bình Dương do anh em thu gom sơ ý làm nổ kíp đã làm bị thương một số đông anh em bộ đội Bệnh viện K.23 Tỉnh đội quá tải phải nhờ Bệnh viện đa khoa tỉnh nhận thương binh và điều trị Anh chị em nhân viên hết lòng chăm sóc không quản ngày đêm khi các thương binh được gởi đến, một số quá nặng phải chuyển về tuyến trên Bệnh viện Chợ Rẫy

4

Bác sĩ Khổng Trọng Khuê t ừ Đồng Nai được hai anh Nguyễn Thanh Phong và Lê Minh Hoàng sang đề nghị

về bổ sung cho Bệnh viện

5

Lịch sử Đảng Cộng sản VN, tập III Trích văn kiện Đảng trang 566 Nxb sách giáo khoa Mác Lê-Nin- Hà Nội 1979

Trang 12

Lúc này một số cán bộ nhân viên trong kháng chiến ra, quê quán ở các huyện trong tỉnh đều xin về quê nhà công tác Do đó, số cán bộ kháng chiến còn lại ở tỉnh rất mỏng, nhưng nhờ các anh chị em chế độ cũ còn ở lại làm việc đầy đủ, nên mọi công việc đều tiến hành thuận lợi

Cuối năm 1975, Trung ương Cục Miền Nam quyết định chia Miền Đông thành

3 tỉnh: Tây Ninh, Sông Bé, Đồng Nai Tỉnh Sông Bé do tỉnh Bình Dương và Bình Phước sát nhập lại Để chuẩn bị cho việc thành lập tỉnh mới, từ tháng 10 - 11/1975, nhiều đoàn cán bộ được đưa về Thị xã Thủ Dầu Một để bổ sung cho các ngành, trong

đó có ngành y tế

Đoàn cán bộ y tế từ Bình Phước về sớm nhất tại Bình Dương là đoàn của Dược

do sĩ Nguyễn Trung Trực và Dược sĩ Lý Thị Tiến phụ trách, đoàn có 12 đảng viên: Trần Trung Trực, Lý Thị Tiến, Bùi Văn An, Trần Thanh, Nguyễn Đức Thanh, Lê Thị Thủy, Lê Thị Nam, Nguyễn Thị Ngọc, Nguyễn Thành Lâm, Lưu Hoài Thu, Phạm Thị Thức, sau có thêm Y sĩ Huỳnh Văn Chưởng cán bộ tập kết mới từ Miền Bắc về và Dược sĩ Nguyễn Khắc Kế Để nhanh chóng ổn định tổ chức, Ty đã chỉ đạo thành lập chi bộ Dược và chỉ định Dược sĩ Lý Thị Tiến làm bí thư Với số cán bộ này, tiến hành thành lập Công ty Dược và bộ phận sản xuất

Về Đảng, Ngành y tế chịu sự lãnh đạo trực tiếp từ Tỉnh ủy và chỉ đạo Ngành từ Ban dân y Miền Đông, đối với Nhà nước chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Ủy Ban quân quản tỉnh Trưởng ban là Bác sĩ Lê Đức Đông và Phó ban là Bác sĩ Võ Phụng Biên

Về tổ chức và xây dựng cơ sở y tế:

Ở tuyến tỉnh, đến cuối năm 1975, Bệnh viện đa khoa tỉnh 300 giường với tổng

số nhân viên trên 250 người kể cả phòng khám đa khoa của Bệnh viện Văn phòng ty chưa thành lập các phòng Nghiệp vụ vì chưa đủ cán bộ Mới hình thành Công ty Dược với bộ khung, còn đang xây dựng cơ sở Ngoài ra, Tỉnh ủy còn giao cho Ty quản lý trại Dưỡng lão ở phường Hiệp Thành và Bệnh viện Phong ở Bến Sắn – Tân Uyên

Tuyến huyện cơ sở y tế đang trong giai đoạn củng cố và xây dựng Nhiều xã

có cán bộ y tế phục vụ, chưa thành lập được trạm

I . 2 Tình hình y tế, sức khoẻ, đời sống nhân dân sau ngày giải phóng:

Chiến tranh kết thúc nhưng nó cũng để lại nhiều hậu quả nặng nề trên mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội; nhu cầu và nguyện vọng của nhân dân ta lúc này là xây dựng lại quê hương đất nước, xoá bỏ nghèo nàn lạc hậu, mọi nguời có cuộc sống ấm no hạnh phúc

Bước vào thời kỳ mới, Đảng bộ, quân và dân Bình Dương có những thuận lợi

cơ bản nhưng cũng không ít khó khăn Thuận lợi lớn và cơ bản nhất là quê hương hoàn toàn giải phóng, thắng lợi có ý nghĩa trọng đại đối với Bình Dương qua mấy chục năm đấy tranh gian khổ Từ đây, quân và dân trong tỉnh được sống trong tự do hoà bình, phấn khởi bước vào xây dựng quê hương và cuộc sống mới Đảng bộ, nhân dân tỉnh Bình Dương vốn có truyền thống đấu tranh anh dũng, được rèn luyện thử thách trong quá trình đấu tranh cách mạng Sau ngày giải phóng, đội ngũ cán bộ được

Trang 13

tăng cường bổ sung từ nhiều nguồn, có sự hỗ trợ lẫn nhau, sớm đưa các mặt công tác từng bước ổn định Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chính phủ, Đảng bộ

và nhân dân toàn tỉnh càng quyết tâm đoàn kết xây dựng lại quê hương, đất nước

Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi cơ bản, Đảng bộ và nhân dân Bình Dương cũng phải đương đầu với rất nhiều khó khăn, trước mắt là phải khắc phục hậu quả chiến tranh, ổn định trật tư xã hội, ổn định cuộc sống nhân dân

Sau ngày giải phóng 30-4-1975, tình hình kinh tế xã hội của tỉnh rất khó khăn Trong chiến tranh hầu hết đồng bào các vùng nông thôn đều bị tập trung vào ấp chiến lược Ruộng đất bị hoang hoá đầy hố bom, pháo, đạn, mìn, không phát triển được sản xuất, đời sống người nông dân đều nghèo khổ, bệnh tật

Qua nhiều năm chiến tranh ác liệt chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nhân dân trong tỉnh chịu nhiều hy sinh mất mát về người và của, quê hương bị tàn phá, làng xóm tiêu điều, gia đình trôi dạt Nhất là vùng căn cứ kháng chiến ở Tân Uyên, Bến Cát, Dầu Tiếng, chiến khu Đ, bom đạn và chất độc hoá học đã tàn phá môi trường sinh thái, để lại nhiều hậu quả tai hại không sao lường được Đó là những thách thức to lớn đặt ra cho ngành y tế phải nhanh chóng khắc phục nhằm phục vụ tốt công tác khám và chữa bệnh cho nhân dân

Ngày 30 tháng 4, đất nước được giải phóng, nhân dân rất vui mừng trong ngày hội lớn của dân tộc Nhiều nơi người dân tự đóng góp tổ chức ăn mừng chiến thắng tập thể với hàng trăm người tham dự Đồng bào sống trong các ấp chiến lược hoặc phải tản cư sống nơi khác nay lần lượt trở về quê cũ, xây lại nhà cửa, khôi phục sản xuất nhằm xây dựng lại cuộc sống

Chính quyền nhân dân được thành lập đến tận xã và thôn ấp, ra sức giữ gìn an ninh trật tự xã hội, tiếp tục truy quét bọn tàn dư ngụy quân ngụy quyền, tổ chức học tập cải tạo cho binh lính và nhân viên chế độ cũ, tổ chức tháo gỡ bom mìn, vận động nhân dân phục hoá khai hoang đất đai để đẩy mạnh sản xuất, từng bước ổn định đời sống Nhân dân rất tin tưởng cách mạng, mọi chủ trương đường lối của Đảng và chính quyền đều được mọi người chấp hành nghiêm túc

Tháng 9/1975 Hôị nghị Trung ương Đảng lần thứ 24 khoá III ra Nghị quyết về Cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới Từ chiến tranh chuyển sang hoà bình, từ 2 nhiệm vụ chiến lược Cách mạng dân chủ nhân dân và Cách mạng xã hội chủ nghĩa sang một nhiệm vụ chiến lược là làm Cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội

Thực hiện chủ trương của Ban chấp hành Trung ương Đảng, Tỉnh ủy mở hội nghị triển khai Quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 24 của Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam tới cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh, cấp huyện và đề

ra một số nhiệm vụ trước mắt là: nhanh chóng khôi phục kinh tế, đẩy mạnh sản xuất,

ổn định đời sống vật chất và tinh thần chủ nhân dân, phát triển các hoạt động văn hoá xã hội; phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính quyền và đoàn thể, tập trung vào việc phát triển sản xuất nông nghiệp Đồng thời triển khai các công tác giáo dục, y tế, chú trọng đến khâu phân phối lưu thông, tổ chức cung ứng lương thực thực phẩm và hàng tiêu dùng

Trang 14

Về lĩnh vực giáo dục và y tế, tỉnh đã tích cực tiếp thu, tiếp quản và triển khai công tác theo sự chỉ đạo của Trung ương Ngành y tế nhanh chóng đi vào hoạt động

để chăm sóc, phục vụ sức khoẻ cho cán bộ và nhân dân

I.3 Tăng cường công tác y tế các tuyến huyện, bổ sung cán bộ, xây dựng mạng lưới y tế cơ sở phục vụ nông thôn:

Thực hiện chỉ thị của Tỉnh uỷ, về tăng cường công tác y tế tại các tuyến huyện

và xã, bổ sung cán bộ, xây dựng mạng lưới cơ sở nhằm phục vụ nông thôn đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp đáp ứng nhu cầu vật chất cho đời sống của nông dân

Tháng 12/1975, Ty y tế thành lập trạm vệ sinh phòng dịch do Y sĩ Lâm Minh

Bé phụ trách Công tác vệ sinh được triển khai từng bước, trước mắt tuyên truyền vận động trong quần chúng thực hiện vệ sinh công cộng, giải quyết phân rác nước, thực hiện 3 công trình vệ sinh hố xí, giếng nước, nhà tắm, nắm lại tình hình các ổ dịch cũ trong tỉnh, lên kế hoạch phòng chống khi có dịch xảy ra

Tình hình y tế ở cơ sở sau ngày 30-4-1975, khoảng 50% số xã có trạm y tế từ 2

- 3 nhân viên, một số trạm không có cán bộ phụ trách, cơ sở còn tạm ở chung trong trụ sở của Ủy ban xã

Sau giải phóng, Trung ương Đảng chủ trương giãn dân xây dựng kinh tế mới Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, tại Bình Dương Tỉnh chủ trương giãn dân ở các xã, động viên đồng bào đi khai hoang làm ăn ở các điểm kinh tế mới Tỉnh tiến hành thành lập Ban vận động hồi hương xây dựng kinh tế mới, sau đổi lại là Ban xây dựng vùng kinh tế mới Nhiệm vụ của Ban là quy hoạch đất đai từng huyện, khai hoang cày ải, phân lô sản xuất, phân lô từng hộ cất nhà Xây dựng trường học, trạm y

tế Giao nhà cho từng hộ, cấp đất sản xuất, cấp lương thực 6 tháng đầu, cấp dụng cụ sản xuất, cây giống …

Từ tháng 7/1975, thành phố Hồ Chí Minh cũng thực hiện chủ trương đưa dân

đi xây dựng kinh tế mới ở các huyện Tân Uyên, Đồng Phú, Bến Cát Số dân đến vùng kinh tế mới ngày càng đông

Về Y tế kinh tế mới: tỉnh cất nhà kho chứa thuốc, y dụng cụ cấp cho các xã kinh

tế mới Nguồn thuốc và vật tư y tế đều quan hệ tổng kho B2 (Thành phố Hồ Chí Minh) để nhận Cán bộ y tế quan hệ Trường đào tạo thành phố (Bác sĩ Kiều) để cung cấp Trạm y tế ban đầu làm bằng tranh tre nứa lá, mỗi trạm có 2 y tá, 1 nữ hộ sinh Đến cuối năm 1975, số dân kinh tế mới có khoảng 50.000 người, số trạm y tế được thành lập khoảng 8 trạm có 2 Bác sĩ và 17 Y sĩ Hai Bác sĩ là Bác sĩ Đinh Văn Khai

và Bác sĩ Nguyễn Tấn Tờn được Ty Y tế cử đến công tác ở Ban Kinh tế mới

Tình hình bệnh tật ở vùng kinh tế mới chủ yếu là bệnh sốt rét, ghẻ ngứa Công tác tuyên truyền vận động nhân dân vệ sinh phòng bệnh, phòng dịch phòng chống sốt rét được phát động và duy trì thường xuyên Đời sống dân kinh tế mới dần dần ổn định

Sau ngày giải phóng 30/4/1975 đến cuối tháng 12/1975, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Bình Dương ra sức khôi phục lại sản xuất, hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng lại cuộc sống mới hoà bình và hạnh phúc Ngành y tế của Tỉnh dù

Trang 15

bước đầu có khó khăn trong triển khai công tác y tế, nhưng với sự nỗ lực của toàn thể cán bộ nhân viên, ngành đã đạt được những kết quả nhất định trong việc chăm sóc sức khoẻ nhân dân, góp phần từng bước ổn định đời sống xã hội

II XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN MẠNG LƯỚI Y TẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG

TỈNH (1976 - 1980)

II.1 Đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng nền y tế nhân dân:

Bước vào năm 1976, nước Việt Nam hoàn toàn độc lập và thống nhất, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân cả nước bước vào thời kỳ xây dựng, phát triển kinh tế với kế hoạch 5 năm lần thứ 2 (1976 - 1980) theo đường lối xây dựng kinh tế trong thời kỳ cách mạng xã hội chủ nghĩa

Đối với ngành Y tế, trên cơ sở đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa mọi người đều bình đẳng trong khám chữa bệnh Bộ Y tế đề ra đường lối y tế nhân dân với "5 quan điểm, 5 mục tiêu, 5 dứt điểm về công tác y tế" như sau:

- 5 quan điểm:

1.Y tế phải phục vụ sản xuất, đời sống và quốc phòng, phục vụ nhân dân lao động

2 Kiên trì phương hướng y học dự phòng

3 Kết hợp Đông tây y trong khám chữa bệnh

4 Sản xuất thuốc dựa vào nguồn dược liệu trong nước, sử dụng và phát triển thuốc Nam

5 Người thầy thuốc phải như mẹ hiền

3 Giải quyết vấn đề thuốc và phát triển phong trào thuốc nam trong nhân dân

4 Đẩy mạnh công tác bảo vệ bà mẹ trẻ em và sinh đẻ có kế hoạch, phấn đấu

hạ thấp tỷ lệ phát triển dân số đến năm 1980 còn 2,1%

5 Xây dựng tổ chức y tế trên cơ sở kết hợp y học hiện đại và Y học cổ truyền dân tộc Phát triển mạng lưới y tế rộng khắp từ tỉnh đến huyện và xã, y tế công nông lâm trường xí nghiệp, cơ quan

Trang 16

3 Quản lý sức khoẻ toàn dân, mỗi người đều được chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ

4 Tự túc thuốc Nam, phát triển thuốc Nam tại các cơ sở y tế, phổ biến 35 cây thuốc sử dụng trong nhân dân

5 Tổ chức mạng lưới y tế cơ sở xã Mỗi xã và cơ quan, công nômg lâm trường

xí nghiệp đều có trạm y tế

Biện pháp thực hiện trước mắt là tổ chức phát động phong trào 5 dứt điểm trong nhân dân một cách rộng rãi, tiến dần đi vào chiều sâu chất lượng Tăng cường công tác phòng chống dịch, công tác khám chữa bệnh, chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân thông qua hệ thống y tế hoàn chỉnh từ tỉnh đến huyện và cơ sở, xã Chăm sóc sức khoẻ ở mọi nơi, đảm bảo mọi người dân được tiếp cận với công tác y tế

II.2 Ngành y tế Bình Dương thực hiện thắng lợi Nghị quyết Tỉnh uỷ về công tác y tế - Tăng cường xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và hoạt động sự nghiệp:

Sau khi nước nhà thống nhất, ngày 3-1-1976, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 228-CT/TW về việc lãnh đạo cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung của

cả nước và nhấn mạnh: "Cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội tới đây là một dịp biểu

dương lực lượng đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc là cuộc biểu dương lực lượng chính trị quan trọng của toàn dân dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân nhằm xây dựng một nước Việt Nam hoà bình,, độc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội".6

Ngày 25-4-1976, cử tri cả nước nô nức đi bỏ phiếu bầu chọn đại diện của mình vào cơ quan quyền lực cao nhất của nước Việt Nam thống nhất Thắng lợi của cuộc tuyển cử bầu Quốc hội chung của cả nước là thể hiện ý chí và mong muốn của toàn dân ta đối với việc xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội

Từ ngày 24-6-1976 đến ngày 2-7-1976, Quốc hội của nước Việt Nam thống nhất họp kỳ họp thứ nhất tại Hà Nội Quốc hội quyết đinh đổi tên nước là Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Quốc kỳ: cờ đỏ sao vàng; Quốc huy hình tròn màu

đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng 5 cánh, xung quanh có bông lúa, có nửa bánh xe răng cưa

và dòng chữ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Quốc ca là bài Tiến quân ca; Thủ

đô ở Hà Nội; "Thành phố Gia Định" được vinh dự mang tên Bác "Thành phố Hồ Chí Minh"

Tháng 12 năm 1976, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng đã đề ra đường lối chung cách mạng XHCN nước Việt Nam thống nhất và thông qua kế hoạch

5 năm xây dựng CNXH (1976 -1980)

Trên cơ sở đó, tháng 4-1977 Đảng bộ Tỉnh Sông Bé tổ chức Đại hội lần thứ nhất (vòng 2) Đại hội đã quán triệt và vận dụng các mục tiêu, nhiệm vụ mà Đại hội Đảng toàn quốc đã thông qua vào thực tiễn cách mạng của địa phương Đại hội đề ra phương hướng nhiệm vụ cho toàn Đảng bộ và nhân dân Sông Bé trong 2 năm 1977 -

1978 và những mục tiêu phấn đấu đến năm 1980 là: "Tăng cường hơn nữa vai trò

6 Đảng cộn g sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 2004, t.37, tr4

Trang 17

lãnh đạo toàn diện của các cấp bộ Đảng, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động và kiện toàn thêm một bước tổ chức chính quyền nhân dân các cấp, nắm vững và thực hiện 3 cuộc cách mạng, nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế, văn hoá, dấy lên một phong trào thi đua lao động XHCN cần kiệm xây dựng nước nhà, lấy sản xuất nông nghiệp làm trung tâm, hoàn thành căn bản việc cải tạo xã hội chủ nghĩa, tổ chức lại lao động, bố trí lại cơ cấu cây trồng và các vụ lúa, cải tạo và phát triển các cơ sở công nghiệp và thủ công nghiệp, chế biến lương thực, thực phẩm, trang bị một bước cơ sở vật chất, kỹ thuật cho nông nghệp và các ngành kinh tế khác nhằm khai thác hợp lý các vùng đất đã quy định và xây dựng huyện thành một đơn vị kinh tế cơ bản kết hợp chắt cơ cấu nông công nghiệp hoặc nông - lâm - công nghiệp Đồng thới tiếp tục trấn áp bọn tàn dư phản động cách mạng, ra sức củng cố quốc phòng, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự xã hội ở cả nội địa và biên giới Trên cơ

sở tuyển chọn một đội ngũ cốt cán mới xuất hiện trong phong trào thi đua lao động

xã hội chủ nghĩa của quần chúng mà đào tạo thành cán bộ đảng viên, đoàn viên, hội viên, xây dựng Đảng, chính quyền và đoàn thể ngày càng vững mạnh về số lượng cũng như chất lượng" 7

Về nhiệm vụ công tác y tế, Nghị quyết Tỉnh uỷ chỉ rõ: " Cần mở rộng các cơ

sơ điều trị ở Tỉnh, xây dựng bệnh viện huyện, trạm xá và nhà hộ sinh xã, nhất là các huyện phía bắc tỉnh Khuyến khích và tổ chức thêm các cơ sở điều trị và dược liệu đông y, kết hợp tốt đông, tây y trong phòng chống các dịch bệnh, chú trọng giải quyết kịp thời các dịch bệnh xã hội Nghiên cứu bỏ những thủ tục phiền phức, xây dựng tinh thần phục vụ bệnh nhân vô điều kiện cho cán bộ, nhân viên y tế các cấp Tiếp tục vận động và tổ chức thực hiện sinh đẻ có kế hoạch Phát triển hệ thống nhà trẻ, đào tạo cô nuôi dạy trẻ, ưu tiên trước hết là cơ sở sản xuất và các cơ quan, đoàn thể" 8

Thực hiện Nghị quyết của Tỉnh ủy, Uỷ ban nhân dân tỉnh và chỉ đạo ngành của

Bộ Y tế trên cơ sở quán triệt đường lối, chính sách, chủ trương, quan điểm của trên,

Ty Y tế đã xây dựng chương trình hành động cụ thể qua từng năm trong kế hoạch

1976 - 1980, nhất là sự sắp xếp tổ chức, xây dựng mạng lưới cơ sở sau khi sát nhập 2 tỉnh Bình Phước - Bình Dương thành tỉnh Sông Bé, đẩy mạnh hoạt động sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân, phục vụ chiến đấu bảo vệ biên cương trong những năm chiến tranh biên giới Tây Nam và làm nghĩa vụ quốc tế giúp tỉnh bạn Kratié sau khi giải phóng Campuchia khỏi nạn diệt chủng của chế độ Ponpốt - Iêng xary

Để thực hiện thành công nghị quyết của Tỉnh uỷ về công tác y tế, đẩy mạnh sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ nhân dân Ty y tế Sông Bé đã lãnh đạo trong toàn ngành

tăng cường xây dựng cơ sở vật chất cho các huyện, xã và hoạt động sự nghiệp

II.2.1 Củng cố tổ chức ngành y tế tỉnh và các cơ sở y tế huyện, xã:

Trang 18

Ban lãnh đạo Ty y tế: tháng 02-1976, Bác sỹ Dương Quỳnh Hoa bổ nhiệm

Trưởng Ty Y tế Sông Bé Sau đó, Bộ Trưởng Bộ Y tế Chính Phủ Cách Mạng Lâm thời miền Nam ký quyết định điều động Bác sĩ Võ Phụng Biên - Phó ban Dân y Miền Đông làm Trưởng Ty y tế Sông Bé; Bác sĩ Nguyễn Thanh Phong - Trưởng Ty Y tế Thủ Dầu Một làm Phó Ty Y tế Sông Bé Tháng 5/1976 Bác sĩ Hồ Phương Thiếu tá Quân y được chuyển từ phòng Quân y Miền Nam về làm Phó Ty y tế Sông Bé

Đội ngũ cán bộ ty: Tháng 3/1976 số cán bộ được bổ sung từ Bình Phước về

có Dược sĩ Nguyễn Văn Đức, Nguyễn Phụng Hoàng, kế tiếp các đồng chí Trần Minh

Cừ, Nguyễn Thị Khấm, Laị Thị Minh Hoa, Phạm Thanh Dung, Nguyễn Kim Hoà, Lê Tuấn Anh, Mai Hoàng Tâm, Trần Thị Liễu, Phan Thuỳ Trang, Phan Thành lê, Trần Đức Khoa, Nguyễn Thị Nụ, Dương Đức Sen, Nguyễn Văn Trọng đến từ Bình Phước Các đồng chí này đa số là Dược sĩ, Y sĩ

Đến tháng 6 - 1976, 28 cán bộ có trình độ cao là Bác sĩ, dược sĩ, Y sĩ được bổ sung do Ty y tế Sông Bé gồm: Trương Thị Bích, Nguyễn Văn Hiệp, Nguyễn Thị Kim Anh, Lưu Thanh Hải, Nguyễn Bích Thảo, Hứa Thị Mỹ Liên, Trần Thị Nguyên, Trần Thị Xứng, Lê Minh Thức, Phạm Ngọc Thái, Lê Thị Kim Hồng, Đỗ Văn Trác, Nguyễn Thúc Năng, Trương Văn Tưng, Huỳnh Văn Dậu, Trần Doãn Năng, Đoàn Văn Nhậm, Nguyễn Văn Búng, Tống Văn Rụng, Vũ Tánh, Đoàn Thị Hạnh, Nguyễn Thị Hà Sinh, Trần Thị Ngọc Minh, Nguyễn Thị Cuộc, Nguyễn Văn Tư, Tống Đức Thu, Nguyễn Thị Chiến

Cùng với khung cán bộ của Ty, Trường cán bộ y tế cũng nhanh chóng tổ chức Tháng 5 /1976, Lãnh đạo và khung cán bộ trường được thành lập Bác sĩ Nguyễn Văn Tranh - Hiệu trưởng, Bác sĩ Thái Văn Minh - Hiệu phó, Y sĩ Trần văn Ngãi - Bí thư Chi bộ Trường cán bộ y tế được thành lập cùng với khung trường gồm 13 đảng viên: Nguyễn Văn Tranh, Trần Văn Ngãi, Dương Quang Tập, Lê Văn Lập, Lương Thị Thoại, Nguyễn Mạnh Chi, Tạ Thị Nga, Nguyễn Thị Kiên, Trần Hữu Vị, Đỗ Thị Điểu,

Võ Thị Vân, Nguyễn Trọng Quần, Thái Văn Minh Bên cạnh Chi bộ trường, Chi bộ học sinh cũng được thành lập với 71 đảng viên

Đến tháng 7 – 1976, số cán bộ nhân viên y tế ở tuyến tỉnh và huyện lên đến 508 người, riêng tại Ty và các đơn vị trực thuộc hơn 400 người, trong đó số đảng viên là

147 đồng chí Hình thành 4 chi bộ ở 4 đơn vị: Văn phòng Ty, Bệnh viện đa khoa tỉnh, Công ty Dược, Trường Y tế

Theo qui định tại nghị định 15/CP, Hệ thống Ngành y tế được tổ chức các đơn

vị, cơ sở, và bố trí cán bộ theo sơ đồ sau :

+ Tuyến tỉnh :

1.Văn phòng ty và các phòng kế cận :

- Trưởng Ty: Bác sĩ Võ Phụng Biên phụ trách chung

- Phó ty Bác sĩ Nguyễn Thanh Phong – Phó Thường trực

- Phó Ty (2): Bác sĩ Hồ Phương phụ trách phong trào y tế cơ sở

- Phó ty (3): Bác sĩ Vũ Tánh phụ trách điều trị kiêm giám đốc Bệnh viện tỉnh

Trang 19

- Phó ty (4): Dược sĩ Trần Đức phụ trách khối Dược

- Phó ty (5): Đoàn Văn Nhậm phụ trách công tác chính trị BVĐK tỉnh

- Phòng tổ chức cán bộ: Bác sĩ Nguyễn Thúc Năng - Trưởng phòng, Dược sĩ Phạm Thanh Dung - Phó phòng

- Phòng nghiệp vụ: Bác sĩ Trần Ngọc Cang - trưởng phòng, Bác sĩ Trần Văn Trung năm 1978

- Phòng quản lý Dược: Dược sĩ Trần Trung Trực Trưởng phòng Dược sĩ Lã Ngọc Phạn - 1977

- Phòng hành chính quản trị: Y sĩ Huỳnh Văn Chưởng - Trưởng phòng, Bác sĩ Nguyễn Hồng Sơn năm 1977 Y sĩ Phạm Văn Sen năm 1979

2 Bệnh viện đa khoa tỉnh :

Năm 1976 Bệnh viện đa khoa tỉnh có số giường thực tế là 381 giường, đến năm 1980 số giường lên đến 510 giường Biên chế trên 450 cán bộ nhân viên (năm 1980) Số Bác sĩ trên 30 người, Dược sĩ đại học 3 người

Giám đốc: Bác sĩ Vũ Tánh

Phó giám đốc: Bác sĩ Phạm Ngọc Thái, Bác sĩ Trần Thị Ngọc Minh, Bác sĩ Lê Minh Thức

3 Trạm vệ sinh phòng dịch: biên chế 30 người

Trưởng trạm: Y sĩ Lâm Minh Bé; Phó trạm: Y sĩ Nguyễn Thị Tiến, Y sĩ Lê Song Hùng

4 Trạm phòng chống bệnh sốt rét: thành lập năm 1976, biên chế 30 người

Trưởng trạm: Bác sĩ Nguyễn Thế Lực; Phó trạm: Bác sĩ Nguyễn Văn Út

5 Trạm bảo vệ bà mẹ trẻ em và sinh đẻ có kế hoạch (BVBMTE-SĐCKH ):

Thành lập năm 1976, biên chế 35 người.Trưởng trạm: Bác sĩ Châu Minh Nguyệt

6.Trạm chống lao: Thành lập năm 1977, biên chế 12 người Trưởng trạm: Bác

sĩ Lê Minh Thức

7.Công Ty Dược: biên chế khoảng 150 người bao gồm xí nghiệp sản xuất

(1976), năm 1980 tăng lên 250 người, số dược sĩ có trình độ đại học 15 người Chủ nhiệm: Dược sĩ Nguyễn Văn Đức; Phó Chủ nhiệm: Dược sĩ Lý Thị Tiến, Dược sĩ Nguyễn Lục

8 Trạm kiểm nghiệm dược phẩm: Thành lập năm 1978 Trưởng trạm: dược sĩ

Nguyễn Khắc Kế; Phó trạm - Dược sĩ Huỳnh Thị Giảm Biên chế 10 người cán bộ, trong đó có 4 dược sĩ có trình độ đại học

9.Trạm nghiên cứu dược liệu: Thành lập năm 1978, Trưởng trạm: Dược sĩ

Huỳnh Văn Giỏi Biên chế 8 người, 3 dược sĩ có trình độ đại học

10.Trạm vật tư và sửa chữa thiết bị y tế: thành lập năm 1977, biên chế 12

người Trưởng trạm - Dược sĩ Lê Tuấn Anh; Phó trạm - Dược sĩ Lê Thị Duyên

Trang 20

11.Trường Trung học y tế: biên chế 74 người, trong đó số cán bộ có trình độ bác

sĩ 13, Dược sĩ có trình độ đại học 3, đại học sư phạm 1 Hiệu trưởng - Bác sĩ Nguyễn Văn Tranh; Hiệu phó - Bác sĩ Thaí Văn Minh Số học sinh bình quân 400hs/năm

12 Phòng Giám định Y khoa: do Bác sĩ Trần Ngọc Cang - Thường trực từ 1978

đến 1980

+ Tuyến huyện: 4 phòng y tế huyện thị (số liệu năm 1979)

1.Phòng y tế Thị xã Thủ Dầu Một: biên chế 53 người bao gồm nhà hộ sinh khu

vực 20 giường.Trưởng phòng - Bác sĩ Phạm Tuấn Anh; Phó phòng - Bác sĩ Phạm Thị Minh Huề

2.Phòng y tế huyện Thuận An: Biên chế 115 người bao gồm Bệnh viện đa khoa

huyện 50 người với 60 giường, cán bộ 8 Bác sĩ, 1 dược sĩ đại học Trưởng phòng - bác sĩ Phạm Diệp Đuộc; Phó phòng - Y sĩ Trần Mạnh Tường,Y sĩ Lê Thị Hoà Bệnh viện trưởng: Bác sĩ Nguyễn Văn Bạch

3 Phòng y tế Tân Uyên: Biên chế 110 người bao gồm Bệnh viện đa khoa huyện

60 giường, cán bộ 2 Bác sĩ,1 dược sĩ đại học.Trưởng phòng y tế: Y sĩ Trần Trung Cận (năm 1978) Bác sĩ Nguyễn Thanh Kiếm; Phó phòng: y sĩ Phan Văn Mung, Dược

sĩ Nguyễn Đức Hạnh Bệnh viện trưởng: Trưởng phòng kiêm nhiệm

4 Phòng y tế Bến Cát: Biên chế 126 người bao gồm Bệnh viện đa khoa huyện

60 giường, cán bộ 3 Bác sĩ Trưởng phòng: Bác sĩ Trương Văn Đây; Phó phòng - y sĩ

Hà Văn Hoàng Bệnh viện trưởng: Bác sĩ Đặng Văn Tài

Vào giữa năm 1979, Chính phủ quyết định sát nhập Phòng thể dục thể thao các huyện thị vào Phòng y tế thành lập Ban y tế thể dục thể thao huyện thị do Trưởng phòng y tế làm Trưởng ban và trưởng phòng thể dục thể thao làm Phó ban Ban y tế thể dục thể thao huyện thị chịu sự chỉ đạo nghiệp vụ chuyên môn trực tiếp từ Sở Y tế

và Sở thể dục thể thao tỉnh và chịu sự lãnh đạo của UBND huyện và huyện ủy

Ban y tế - Thể dục thể thao huyện thị triển khai các mặt hoạt động về y tế và Thể dục thể thao cùng một lúc, mỗi lĩnh vực do 1 Phó ban phụ trách Về mặt quản lý ngành, Sở y tế không liên quan đến các công tác về Thể dục thể thao Trong thời gian dài, hoạt động của Ban y tế - Thể dục thể thao huyện thị do công tác không đồng nhất nên kém linh hoạt và hiệu quả Đến năm 1984, Ban này được quyết định giải thể và

tổ chức trở lại hình thái cũ Ban y tế - Thể dục thể thao chia thành Trưởng phòng y tế

và Trưởng phòng Thể dục thể thao riêng biệt như trước giữa năm 1979 Sự chỉ đạo và quản lý chuyên môn nghiệp vụ trở lại theo từng ngành y tế và thể dục thể thao

Năm 1976 thành lập được một số trạm y tế xã, năm 1979 thành lập thêm, nâng

tỷ lệ gần 80% xã có trạm Các xã khác tuy chưa có trạm nhưng xã nào cũng có cán bộ

y tế hoạt động Có 8 xã có y sĩ, một số lớn xã chưa có nữ hộ sinh và đông y Nhận viện trợ UNICEF cấp xuống huyện 41 bộ y tế xã, 120 túi hộ sinh xã

Song song với công tác củng cố và xây dựng các cơ sở y tế, công tác tuyển dụng công ngân viên chức mới cũng được tiến hành Ngày 21-12-1976 Uỷ ban nhân dân tỉnh triển khai Quyết định 435/TTg của Thủ Tướng Chính phủ về việc tuyển dụng

Trang 21

công nhân viên chức mới giải phóng cho lãnh đạo Ty y tế Bình Dương và lãnh đạo Bệnh viện đa khoa tỉnh

Ngày 13-1-1977 tại Hội trường A Bệnh viện đa khoa, Ty Y tế triệu tập toàn thể cán bộ công nhân viên chức mới giải phóng để công bố kế hoạch tuyển dụng công nhân viên chức Dự buổi họp này có các ông Mười Nghĩa Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Ông Năm Liến Vụ phó Vụ Lao động tiền lương Bộ Y tế, Bác sĩ Võ Phụng Biên Trưởng Ty, Bác sĩ Nguyễn Thúc Năng -Trưởng phòng tổ chức cán bộ Ty, Bác sĩ Phạm Ngọc Thái bệnh viện phó Bệnh viện đa khoa tỉnh, Bác sĩ Trần Ngọc Minh Bệnh viện phó Bệnh viện đa khoa tỉnh

Việc tuyển dụng tiến hành trong suốt năm 1976 dưới sự chỉ đạo của lãnh đạo

Ty Y tế Ty đã quyết định giao cho Bác sĩ Phạm Ngọc Thái phụ trách Quá trình việc tuyển dụng công nhân viên chức mới giải phóng diễn tiến như sau: Toàn thể cán bộ công nhân viên chức của Bệnh viện đa khoa và Ty viết lý lịch, thời hạn trong một tuần lễ và nộp tại thường trực do Bác sĩ Phạm Ngọc Thái phụ trách Sau 2 tháng, với tinh thần trách nhiệm cao của các đồng chí lãnh đạo ty cùng với công an tỉnh rà soát đối chiếu xong gần 200 hồ sơn của công nhân viên chức sau giải phóng Từ 30 - 1 -

1977 số hồ sơ trên được nộp lên Uỷ ban nhân dân tỉnh xem xét và ra quyết định tuyển dụng và công bố từ tháng 2/1977 trước Tết âm lịch Việc làm này tuy có thận trọng nhưng với tinh thần nhân đạo, tránh không gây xáo trộn về mặt tâm lý đã tạo khí thế mới cho công nhân viên chức

II.2.2 Các hoạt động y tế chăm sóc sức khoẻ nhân dân trong 5 năm 1976 - 1980:

Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy và UBND tỉnh, được sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ

y tế, bám sát các quan điểm, mục tiêu về công tác y tế của ngành trong kế hoạch 1976 – 1980, các nhiệm vụ chính trị của tỉnh, ngành y tế Sông Bé đã hoàn thành một số lượng công tác lớn, nhằm phục vụ sức khoẻ và đời sống nhân dân cán bộ, công nhân, chiến sĩ trong lao động sản xuất, công tác và chiến đấu bảo vệ tổ quốc

Để hoàn thành công tác chuyên môn, Ty đã chỉ đạo tốt việc thực kế hoạch hoá công tác y tế Triển khai công tác này, năm 1977, Bộ đã triển khai công tác kế hoạch hoá y tế, xây dựng kế hoạch hàng năm và 5 năm Cuối năm 1977, Bộ y tế mở 1 lớp tập huấn 7 ngày về công tác kế hoạch hoá cho các tỉnh Miền Nam tại Vũng Tàu, thành phần tham dự là các Trưởng ty y tế và trưởng phòng thống kê kế hoạch của Ty Tình Sông Bé dự lớp này có bác sĩ Võ Phụng Biên Trưởng ty và y sĩ Nguyễn Thành

An cán bộ phòng kế hoạch nghiệp vụ vừa mới từ Ban quân y tỉnh đội chuyển sang Chủ trì lớp này là Bác sĩ Nguyễn Văn Cẩn Vụ trưởng Vụ kế hoạch Bộ y tế Tháng 8-

1977, Bộ y tế mở một lớp nghiệp vụ thống kê y tế tại Nha Trang (Khánh Hoà) 20 ngày cho cán bộ thống kê các tỉnh Miền Nam do Trường cán bộ quản lý y tế Trung ương và Vụ kế hoạch Bộ y tế chủ trì Ty y tế cử đ/c Nguyễn Thành An cán bộ phòng

kế hoạch đi dự học lớp này

Tháng 5 -1978, Phân hiệu Trường cán bộ quản lý y tế của Bộ tại thành phố Hồ Chí Minh mở 1 lớp quản lý kế hoạch cho các trưởng phòng kế hoạch của các tỉnh Miền Nam tại Cần Thơ (Hậu Giang) thời gian 25 ngày, Ty y tế quyết định 2 đ/c Trần Văn Trung Trưởng phòng kế hoạch và Nguyễn Thành An phó phòng đi dự học Công

Trang 22

tác kế hoạch hoá từ đó được triển khai cho các đơn vị y tế từ tỉnh đến huyện, xây dựng các kế hoạch ngắn và dài hạn, theo hệ thống chỉ tiêu của nhà nước và của Bộ

Kế hoạch được xây dựng từ cơ sở lên, bao gồm kế hoạch 5 năm, kế hoạch hàng năm nhằm thực hiện kế hoạch 5 năm Phòng kế hoạch của Ty có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch phát triển sự nghiệp y tế cho toàn ngành trong tỉnh kể cả ở huyện, xã, cơ quan công nông lâm trường xí nghiệp địa phương và Trung ương đóng trên lãnh thổ của Tỉnh

Những kế hoạch của Ty y tế đều phải phù hợp với những chỉ tiêu chỉ đạo của

Bộ, đồng thời cũng phải được Ủy ban kế hoạch tỉnh đồng thuận về các chỉ tiêu ngân sách, cán bộ, xây dựng cơ bản … Kế hoạch lập theo trình tự 2 xuống 1 lên: xuống lần

1 Bộ giao chỉ tiêu hướng dẫn để Ty xây dựng kế hoạch, l lên: kế hoạch địa phương xây dựng xong gửi về Bộ, xuống lần 2 Bộ giao chì tiêu chính thức trong đó có những chỉ tiêu pháp lệnh Báo cáo tổng kết công tác hàng quí, hàng năm, 5 năm đều dựa vào các chỉ tiêu được giao để đánh giá kết quả đạt được

Tất cả mọi hoạt động của ngành y tế đều được lập kế hoạch và được đưa vào

kế hoạch chính thức của Nhà nước, từ đó mọi cấp đều phải ra sức thực hiện đúng theo

kế hoạch được giao

Song song với thực hiện tốt công tác kế hoạch hoá công tác y tế, Ty đã chỉ đạo

thực hiện tốt Phong trào 5 dứt điểm

Phong trào 5 dứt điểm được tuyên truyền phổ biến rộng rãi trong nhân dân kể

từ quí 2 năm 1977 Phong trào có những đợt cao điểm làm chuyển biến về ý thức của nhân dân đối với phong trào, đặc biệt đối với cấp ủy và UBND địa phương ngày càng

có nhiều quan tâm hơn

Tổ chức các đợt hoạt động cao điểm phối hợp với trường Đại học y dược thành phố Hồ Chí Minh, Hôị chữ thập đỏ cùng các ban ngành ở các huyện thị trong 2 năm

1977 – 1978 nhằm vào cổ động phong trào 5 dứt điểm ở nông thôn, được đánh giá kết quả cao

- Dứt điểm về 3 công trình vệ sinh: năm 1977 dứt điểm 3 công trình vệ sinh xã Cây Trường 2 (Bến Cát) Năm 1978 dứt điểm xã Đông Hoà (Thuận An), đạt kế hoạch 1/15 (chỉ tiêu 15 xã)

Thực hiện 3 công trình vệ sinh đầy đủ trong toàn tỉnh đến năm 1980 đạt khoảng 50% trên Tổng số hộ nhân dân, nhưng số xã đạt dứt điểm không tăng thêm

- Dứt điểm về sinh đẻ có kế hoạch: chưa có xã nào dứt điểm

- Dứt điểm về quản lý sức khoẻ: năm 1977 dứt điểm được xã Cây Trường 2 (Bến Cát) Năm 1978 dứt điểm 2 xã Đông Hoà, An Thạnh (Thuận An)

- Dứt điểm về trồng và sử dụng thuốc nam: tuy có tuyên truyền vận động nhiều, nhưng theo tiêu chí dứt điểm, chưa có xã nào đạt được

Trồng và sử dụng thuốc Nam được tuyên truyền, phổ biến rộng rãi trong nhân dân, cơ quan và trường học 35 cây thuốc trị 7 chứng bệnh thông thường, mỗi hộ gia đình trồng nhóm 7 cây thuốc để sử dụng taị nhà khi có đau ốm Nhiều gia đình đã

Trang 23

thực trồng cây thuốc, taị nhà, nhiều trạm y tế xã, cơ quan, Trường học đã có 1 vườn thuốc Nam

Riêng bệnh viện tỉnh năm 1978 tự túc về thuốc nam đã đạt tỷ lệ 1,6% so với tổng số tiền mua thuốc

- Dứt điểm về xây dựng mạng lưới: Thực hiện theo NĐ 15/CP, tuy có cố gắng nhiều nhưng còn 1 số trạm chuyên khoa chưa thành lập được, số có rồi chưa xây dựng được cơ sở vật chất kỹ thuật tốt để phát triển Tuyến huyện cơ sở khám chữa bệnh và đội vệ sinh phòng dịch chưa hoàn chỉnh Còn 10 xã chưa có trạm y tế

Thực hiện Nghị quyết tỉnh uỷ về việc chăm sóc tốt sức khoẻ nhân dân, hàng năm Ty đều có kế hoạch chỉ đạo trong toàn ngành phấn đấu đưa ngành y tế của tỉnh nhà ngày càng phát triển đáp ứng nhu cầu khám và chữa bệnh của nhân dân Tạo được lòng tin của nhân dân vào ngành y tế cách mạng và chế độ xã hội chủ nghĩa Cụ thể trên các mặt sau:

* Công tác vệ sinh phòng bệnh, phòng chống dịch:

Tuyên truyền phát động phong trào vệ sinh phòng bệnh xây dựng nếp sống mới bằng nhiều biện pháp kết hợp: báo chí, phát thanh, truyền hình, triển lãm tranh ảnh và khẩu hiệu rộng rãi trong nhân dân Năm 1977, tổ chức 2 đợt phát động cao điểm ở Thuận An, Bến Cát Trong các đợt này, lực lượng y tế địa phương hơn 200 người, phối hợp với 597 sinh viên Trường Đại học y Thành phố HCM Nội dung hoạt động nhằm vào 5 dứt điểm của Bộ Y tế đề ra Ý thức 3 sạch, 2 tốt dần dần được hình thành trong đời sống thường ngày của nhân dân Vận động nhân dân thực hiện 3 công trình

vệ sinh, tỷ lệ gia đình có 3 CTVS từ 40 đến 50% trên số hộ gia đình Cùng tham gia các đợt có cán bộ 3 Bệnh viện chuyên khoa TW, Phân viện SR và Viện vệ sinh dịch

tể TW

Năm 1977, Ty Y tế Sông Bé nhận viện trợ từ UNICEF 1000 tấn Ciment và 150 tấn thép, được làm ra 2.700 bộ hố xí 2 ngăn, cấp phát xuống các huyện để đưa vào sử dụng trong nhân dân ở nông thôn Triển khai nhiều công tác vào các xí nghiệp,khảo sát tình hình vệ sinh lao động, đề xuất ý kiến với xí nghiệp để đảm bảo vệ sinh an toàn cho người lao động Thực hiện công tác về vệ sinh dinh dưỡng, vệ sinh thực phẩm Tổ chức lấy mẫu nước xét nghiệm, xác định 56 nguồn nước ở 17 địa phương,

và các nhà máy nước đá, đề đạt các biện pháp làm trong sạch nguồn nước Kiểm tra nhiều cơ sở ăn uống, chế biến thực phẩm ở các chợ, thị trấn, tỷ lệ đạt tiêu chuẩn vệ sinh 56% ở 158 cửa hàng ăn uống

Phổ biến vệ sinh trường học cho các giáo viên cấp 2, cấp 3 trường phổ thông, Trường Cao đẳng sư phạm năm 1978 được 250 giáo viên của 180 trường học trong tỉnh Kiểm tra vệ sinh trường học ở Thuận An, Thị xã, Bến Cát

Năm 1979, xuất hiện 2 ca dịch tả, ngay sau khi phát hiện đã kịp thời phối hợp các biện pháp bao vây dập tắt dịch, ngăn chặn không cho lan tràn Bệnh dịch hạch năm 1976 có 20 ca, năm 1979 có 1 ca Các bệnh khác như thương hàn, bệnh đường ruột, bại liệt trẻ em, thủy đậu có giảm xuống từng năm Bệnh sốt xuất huyết có dịch xảy ra vào giữa quí 3 hàng năm, thường xuyên ở các huyện , Thuận An và thị Xã Thủ Dầu Một Năm 1979 có đến 476 người so với năm 1978 có 32 người

Trang 24

Áp dụng các biện pháp phun DDT diệt bọ chét, ruồi muỗi, diệt chuột bằng các biện pháp hoá học và dân gian Quản lý chặt chẽ các ổ dịch cũ ở huyện Thuận An, Tân Uyên Thực hiện điều tra chỉ số bọ chét ở huyện Thuận An, Tân Uyên, Thị Xã

Tiêm chủng 7 loại sinh hoá, tổ chức tiêm phòng vào tận các thôn xóm, ấp, trường học, cơ quan công nông lâm trường xí nghiệp ( CQ CNLTXN ): tả + TAB, dịch hạch, đậu mùa, bại liệt, bạch hầu + ho gà+ uốn ván, BCG sơ sinh đạt từ 60- 80%

kế hoạch Số người được tiêm chủng năm 1978 gấp 13 lần so với năm 1976

- Công tác phòng chống sốt rét: được triển khai trên qui mô ngày càng lớn Ty

tiến hành lập Ủy ban tiêu diệt sốt rét có sinh hoạt định kỳ chỉ đạo triển khai các biện pháp phòng chống sốt rét Mỗi năm đều có tổ chức phun DDT toàn bộ số dân vùng kinh tế mới (KTM) và các huyện phía Bắc là nơi lưu hành thường xuyên bệnh sốt rét Mỗi năm phun DDT 2 đợt

Điều trị dự phòng hàng năm sử dụng một số lớn thuốc phòng SR, mỗi năm có đến gần 4 triệu viên thuốc Tiến hành nhiều cuộc điều tra ở những địa điểm khác nhau khắp các huyện thị, xác định các vùng có sốt rét nhiều: Tân Uyên và Bắc Bến Cát Tỷ lệ số người mắc bệnh sốt rét trên tổng số dân là 3,9 % (chỉ tiêu năm 1980 phải hạ thấp đến tỷ lệ 5 %)

- Phòng chống các bệnh xã hội:

Phòng chống lao: Năm 1978 tiến hành điều tra lao 4.731 người ở Bình Long,

Dầu Tiếng, Đồng Phú, các quốc doanh cao su, tìm thấy tỷ lệ nhiễm lao bình quân trên 55% ở mọi lứa tuổi, tỷ lệ số người mắc bệnh trên 1,16 % dân số

Tình hình mắc bệnh lao và điều trị qua các năm:

Tổng số người mắc bệnh 2902 3630 2857 1373

Số người điều trị nội trú 738 910 650 1373

- Phòng chống các bệnh da liễu: Năm 1978 điều tra cơ bản xã Tây Nam (Bến

Cát) 13,2% dân số, tỷ lệ bệnh hoa liễu 5 % Số người phát hiện và điều trị tại các cơ

sở y tế còn quá ít, quản lý điều trị các năm qua khoảng 70 – 80 người

Điều tra cơ bản bệnh phong năm 1976 được 5.118 người, năm 1977: 3256 người, năm 1978 xã Tây Nam, phát hiện nhiều bệnh nhân mới Tổng số người mắc bệnh phong năm 1978 là 275 người, trong đó ngành y tế quản lý 94 bệnh nhân

- Phòng chống bệnh tâm thần: Số người mắc bệnh tâm thần năm 1978 là 153

người, trong đó điều trị nội trú 35 người, điều trị ngoại trú 118 người Bệnh tâm thần điều trị nôị trú tại Bệnh viện Tâm thần Biên Hoà năm 1977 là 671 người Bệnh viện

đa khoa tỉnh Sông Bé bố trí một y sĩ thường trực taị phòng khám bệnh viện để cấp thuốc cho những người điều trị ngoại trú tại tỉnh Tỷ lệ bệnh tâm thần tính theo dân số 1,18%

Trang 25

- Bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em và sinh đẻ có kế hoạch: Sinh đẻ có kế hoạch là

vấn đề được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm Trải qua 2 cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, số người chết vì chiến tranh ở cả 2 miền khoảng vài triệu người, nhưng dân số vẫn phát triển một cách nhanh chóng Tốc độ phát triển dân số cao đã ảnh hưởng nhiều đến tốc độ phát triển kinh tế không cân đối

Trong nghị quyết Đaị hội Đảng lần thứ IV về phương hướng nhiệm vụ kế

hoạch 1976- 1980 nêu rõ: “ Đẩy mạnh hơn nữa cuộc vận động SĐCKH, kiên quyết

giảm dần tốc độ tăng dân số hàng năm, phấn đấu đến năm 1980 tỷ lệ tăng dân số là trên 2% một ít Mọi ngành, mọi cấp phải coi cuộc vận động SĐCKH là công tác có tầm quan trọng to lớn, có ý nghĩa chính trị, kinh tế và xã hội góp phần tích cực vào việc nâng cao đời sống của nhân dân ta “

Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị 265/CP về việc đẩy mạnh cuộc vận động SĐCKH nhằm đạt mục tiêu hạ tỷ lệ phát triển dân số trong cả nước đến năm 1980 còn 2% hoặc trên 2% một ít, trong đó miền Bắc khoảng 1,5%, miền Nam khoảng

2,1% Hướng của cuộc vận động là :“ Phải nói rõ tác hại do sinh đẻ quá nhiều, sinh

đẻ dày và sinh đẻ sớm Đồng thời nêu rõ lợi ích và yêu cầu SĐCKH là phụ nữ sinh đẻ vừa phải (2,5con), sinh đẻ thưa (cách nhau 4 đến 5 năm)”

Năm 1978, Bộ Y tế ra Chỉ thị 10- BYT/CT quy định mức phấn đấu “Đối với miền Bắc tỷ lệ dân số phải đạt 1,5%, đối với miền Nam tỷ lệ phát triển dân số là 2,5%.”

Thực hiện nghị quyết về DS&KHHGĐ của Đảng, Nghị quyết 265/CP của Chính phủ, Chỉ thị 10 của Bộ Y tế và các chỉ thị của tỉnh, ngành Y tế Sông Bé ra sức phấn đấu trong các năm 1976 - 1980, thông qua trạm BVBMTE-&SĐCKH để làm hạ thấp tỷ lệ phát triển dân số của tỉnh Kết hợp cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch với các phong trào vận động gia đình văn hoá mới, phong trào 5 dứt điểm của Ngành y

tế, trong đó sinh đẻ có kế hoạch là một trong 5 dứt điểm mà toàn ngành phải phấn đấu

để đạt được

Ngành y tế phát động phong trào sinh đẻ có kế hoạch đến tận cơ sở và xã, tuyên truyền giaó dục, vận động nhân dân áp dụng các biện pháp sinh đẻ có kế hoạch song song với công tác BVBMTE&SĐCKH Nhiều áp phích, hình ảnh, tranh cổ động được phổ biến rộng rãi trong nhân dân, qua mô hình xây dựng một gia đình hạnh phúc có từ 1 đến 2 con Tổ chức nhiều đội công tác xuống chốt một số xã điểm để làm công tác dứt điểm SĐCKH, vận động đảng viên, cán bộ, công nhân viên chức Nhà nước áp dụng các biện pháp SĐCKH làm gương cho quần chúng nhân dân làm theo là không sinh con thứ 3 Phổ biến thực hiện các biện pháp SĐCKH như uống thuốc ngừa thai, dùng Capot, đặt vòng tránh thai, triệt sản, phá thai sớm Tuyên truyền trên 1300 buổi có hơn 1 vạn người dự Điều tra ở các xã điểm Đông Hoà, An Thạnh (Thuận An) để nắm tỷ lệ phụ nữ mang vòng so dân số (tỷ lệ là 0,4 – 0,7%) Trong các năm 1976 - 1979, số người mang vòng trong tỉnh thống kê được 3.026 người, trong đó số đặt vòng mới năm 1979 là 1348 người Tính tỷ lệ số phụ nữ mang vòng so dân số mới chỉ đạt gần 0,5 % Đồng thời làm tốt công tác khám chữa phụ khoa, bảo vệ bà mẹ và trẻ em, đi sâu dài ngày vào 7 quốc doanh cao su của Trung

Trang 26

ương và địa phương trong lãnh thổ Hàng năm khám gần 2 vạn phụ nữ, chữa phụ khoa gần 7.000 người ở khắp các cơ sở y tế Tỷ lệ mắc bệnh phụ khoa còn khá cao

Sản phụ hầu hết đều được đến có sở y tế sinh đẻ, hạn chế được tỷ lệ tử vong cho bà mẹ và trẻ em sơ sinh, hạn chế được tỷ lệ số người bị nhiễm trùng và 4 biến chứng trong thời kỳ hậu sản (băng huyết, nhiễm trùng, vỡ dạ con, sản giật) Các bệnh viện huyện đều có khoa sản nhi, mỗi trạm y tế xã có giường sản chiếm 2/3 số giường của trạm Việc tiêm chủng BCG sơ sinh được bảo đảm 100%

* Công tác khám và chữa bệnh cho nhân dân

- Công tác khám và chữa bệnh của Bệnh viên đa khoa tỉnh: Các chỉ tiêu khám

và chữa bệnh đã thực hiện vượt kế hoạch, số giường thực tế giữ vững 450- 500 giường trong 5 năm Tỷ lệ tử vong được hạ thấp dần, năm 1980 còn 2,1% Công tác điều trị tại bệnh viện được nâng cao chất lượng, có hướng phấn đấu thành một bệnh viện tiên tiến

Năm 1977 qua kiểm tra Bệnh viện đa khoa tỉnh có số điểm 1956 điểm, đạt 62,5%, xếp loại khá Năm 1978 đạt 64 % số điểm, xếp loại khá; năm 1979 đạt 71,7% xếp loại khá, năm 1980 đạt loại tốt

Ngoài ra, hàng năm bệnh viên đa khoa tỉnh đều có tổ chức họp tuyến với 7 bệnh viện huyện, thông báo những sự cần thiết về chuyên môn nghiệp vụ, trao đổi kinh nghiệm trong việc chuyển tuyến, giúp đỡ bệnh viện huyện bằng cách cử cán bộ đến bệnh viện huyện chỉ đạo công tác chuyên môn nghiệp vụ, xây dựng bệnh viện huyện trọng điểm

- Công tác khám và chữa bệnh của BVĐK huyện và hệ thống phòng khám khu

vực: Bệnh viện tuyến huyện đảm bảo được nhiệm vụ khám và chữa bệnh ở tuyến 3,

triển khai tương đối đầy đủ các khoa lâm sàng và cận lâm sàng: nội ngoại sản nhi, cấp cứu hồi sức 2 Bệnh viện huyện đều làm được trung phẩu, riêng 2 huyện Bến Cát, Thuận An làm được đại phẫu, cấp cứu được nhiều trường hợp hiểm nghèo Tổ chức khâu cấp cứu tốt, chăm sóc và theo dõi bệnh nhân chu đáo góp phần hạ thấp tỷ lệ tử vong năm 1980 giảm so với năm 1976 Số chuyên khoa tăng từ 4 đến 7 chuyên khoa

ở một số bệnh viện Qua kiểm tra bệnh viện huyện theo điểm chuẩn của Bộ, các bệnh viện huyện được xếp loại qua từng năm, từ đó nâng cao chất lượng khám chữa bệnh của bệnh viện.9

Những chỉ tiêu chủ yếu qua 5 năm, các Bệnh viện đa khoa huyện đã đạt được mức bình quân với số giường thực tế từ 60 - 80 giường cho một bệnh viện huyện Số ngày sử dụng giường bình quân trong tháng là 23,45 ngày Tỷ lệ tử vong là 1,4% Ngày điều trị trung bình một bệnh nhân ra viện từ 7 - 9 ngày

Các phòng khám đa khoa khu vực phân bổ ở các huyện thị, tăng cường công tác khám chữa bệnh và điều trị ngoaị trú, quản lý sức khoẻ toàn dân, hỗ trợ đắc lực cho tuyến xã và Bệnh viện đa khoa huyện

- Hoạt động của trạm y tế xã và cơ sở:

9

Năm 1977: 3 Bệnh viện đạt trung bình Năm 1978: 2 Bệnh viện đạt trung bình Năm 1979: 2 khá, 2 trung bình Năm

1980: 3 trung bình, 1 khá, 1 tốt

Trang 27

Khối lượng khám chữa bệnh ở tuyến xã ngày càng lớn, xấp xỉ với tuyến huyện Mỗi trạm y tế xã có từ 4 - 6 giường lưu đặc biệt dành cho sản phụ đến sinh đẻ Năm

1979 xã có 8 xã có y sĩ, còn lại đều do nữ hộ sinh trung, sơ học và y tế Một số xã có trang bị UNICEF, tỉnh đã cấp xuống huyện 41 bộ y tế xã, 180 túi hộ sinh xã

Cơ sở y tế của các ngành trên địa bàn tỉnh năm 1978 có 8 trạm y tế với 200 giường bệnh của Bộ Nông nghiệp (94 trạm), Bộ lâm nghiệp (1 trạm), Bộ lương thực (

1 trạm), Bộ giao thông vận tải (1 trạm), Bộ Thương binh xã hội 1 trạm Các cơ sở này thực hiện công tác khám chữa bệnh, quản lý sức khoẻ cán bộ công nhân viên trong ngành

- Hoạt động Y tế kinh tế mới và y tế cơ quan công nông lâm trường xí nghiệp

Về Y tế kinh tế mới: Cuối năm 1976 đã có 143.395 người (25.141 hộ) từ thành phố Hồ Chí Minh lên xây dựng vùng kinh tế mới ở các huyện phía Bắc của tỉnh như Bến Cát, Tân Uyên Hình thành 57 xã kinh tế mới, phục vụ y tế cho kinh tế mới số cán bộ được huyện điều động 234 người gồm có 5 bác sĩ, 37 y sĩ, 1 dược sĩ ĐH, 2 DS Trung học, 177 y tá, 12 Đông y Trạm y tế 19 xã được xây dựng hoàn chỉnh, mỗi trạm có 15 - 20 giường bệnh

Năm 1978, tỉnh Sông Bé tiếp nhận thêm 8350 hộ bao gồm 19.000 lao động, 45.000 nhân khẩu của thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Thaí Bình, Hà Sơn Bình và một

số dân từ huyện Thuận An lên vùng kinh tế mới Trong 4 năm 1975 - 1978 số dân đến vùng kinh tế mới là 200.800 người phân bổ trên 5 huyện Ngành y tế kịp thời phục vụ khi đồng bào mới đến, hình thành ngay mạng lưới y tế triển khai phun DDT 100% hộ gia đình phòng bệnh sốt rét, cấp phát thuốc phòng kết hợp công tác với Hội chữ thập đỏ tỉnh Năm 1976, Ty y tế đã cử bác sĩ Lê Minh Hoàng nguyên phó ty y tế

về phụ trách triển khai công tác y tế vùng kinh tế mới Đến năm 1979 đồng chí được trở về nhận nhiệm vụ Trưởng phòng y tế huyện Tân Uyên Bác sĩ Đinh Văn Khai và Bác sĩ Nguyễn Tấn Tờn cũng được điều đến vùng kinh tế mới công tác Năm 1977 hai anh được rút Ty y tế Sông Bé nhận công tác tại bệnh viện đa khoa tỉnh với nhiệm

vụ Trưởng khoa và Trưởng phòng nghiệp vụ

- Y tế cơ quan công nông lâm trường xí nghiệp: Năm 1980 có 9 cơ quan Trung

ương đóng trên địa bàn tỉnh, thành lập 4 Bệnh viện và 2 bệnh xá, 1 phòng khám khu vực, 44 trạm y tế cơ sở với tổng số giường là 705 giường Trong đó Tổng cục cao su

có 6 bệnh viên, bệnh xá với 400 giường;19 trạm y tế nông trường với 215 giường; 1 Phòng khám khu vực có 25 giường Tổng cục đường sắt có1 bệnh viện (Dĩ An)với

50 giường Nhà máy giấy Dĩ An có1 Trạm y tế - 5 giường Nhà máy đường Bình Dương có Trạm y tế-5 giường.Đoàn địa chất 802 có trạm y tế - 5 giường Trường Mỹ thuật công nghiệp có Y tế cơ quan Trường Lâm nghiệp TW 2 có Y tế cơ quan; Xí nghiệp lâm sản Miền Đông - Y tế cơ quan

Ngành cao su là một ngành lớn nằm trên địa bàn tỉnh Đến năm 1980 tổng số công nhân cao su lên đến gần 5,0 vạn người Ngành y tế cao su đã có những hoạt động liên kết chặt chẽ với ngành y tế Sông bé triển khai các công tác vệ sinh phòng bệnh, phòng dịch, phòng chống các bệnh xã hội, khám chữa bệnh, sinh đẻ có kế hoạch, đào tạo cán bộ Các trạm vệ sinh phòng dịch, trạm sốt rét, trạm

Trang 28

BVBM&SĐCKH thường xuyên kết hợp với y tế cao su tiến hành điều tra cơ bản, khám chữa bệnh phụ khoa, phổ biến áp dụng các biện pháp SĐCKH Bệnh viện đa khoa tỉnh nhận điều trị một số trường hợp mà khả năng bệnh viện cao su chưa giải quyết được Mối quan hệ giữa y tế ngành và y tế cao su là quan hệ liên kết trên nhiều mặt, hỗ trợ nhau trong sự nghiệp bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ công nhân lao động trên địa bàn tỉnh Mối quan hệ ngày càng gắn kết chặt chẽ hơn, thường xuyên hơn Nhiệm vụ của ngành y tế Sông Bé ngay càng quan trọng và chủ động hơn đối với y tế

cơ quan CNLTXN, đặc biệt là y tế cao su

Tổng kết những hoạt động của hệ thống khám chữa bệnh trong 5 năm 1976 -

1980 bao gồm 3 tuyến tỉnh, huyện và cơ sở, xã, một số chỉ tiêu thực hiện đạt kết quả như sau: Số lần khám bình quân 1 người dân trong năm: 1,2 đến 1,28 lần (năm 1980)

Số ngày sử dụng giường bình quân trong tháng là 24 ngày Tỷ lệ tử vong là 1,4% Tổng số giường bệnh năm 1980 là 2170 giường, trong đó tuyến tỉnh 511 giường Bình quân giường bệnh trên một vạn dân là 32,83 giường

- Công tác giám định y khoa, khám tuyển nghĩa vụ quân sự:

Về giám định y khoa, thi hành thông tư 38/ CP của Hội đồng Chính phủ 1969) về việc giải quyết một số vấn đề trong công tác đối với thương binh, bệnh binh, thông tư số 44/TT/LB Liên bộ y tế và nội vụ ngày 26-11-1970 về việc kiện toàn hệ thống tổ chức Hội đồng Giám định y khoa

(3-3-Năm 1977, UBND tỉnh Sông bé quyết định thành lập Hội đồng giám định y khoa giao cho BVĐK tỉnh làm cơ quan khám xét thương tật và giám định khả năng lao động, chịu sự lãnh đạo toàn diện của UBND tỉnh và sự chỉ đạo về mặt chuyên môn nghiệp vụ của Ty Y tế và Hội đồng giám định Trung Ương

Hội đồng Giám định y khoa tỉnh gồm có: Chủ tịch là Bác sĩ Vũ Tánh Giám đốc bệnh viện đa khoa tỉnh; 1 phó Chủ tịch và 5 ủy viên là các Bác sĩ trong bệnh viện đa khoa tỉnh Ngoài ra còn có đại diện các Ban ngành tham dự trong Hội đồng như: Ty Lao động, Ty Thương binh xã hội, Liên hiệp công đoàn

Căn cứ vào số dân của tỉnh dưới 1 triệu người, Hội đồng giám định y khoa Tỉnh có 1 cán bộ chuyên trách là Bác sĩ Trần Ngọc Cang điều từ Phòng nghiệp vụ y của Ty y tế

Đối tượng khám xét thương tật và giám định khả năng lao động là những cán

bộ, công nhân viên chức, quân nhân xuất ngũ, những người được hưởng chính sách

ưu đãi như thương binh trong phạm vi tỉnh

Công việc khám thương tật, xếp hạng thương tật, khám sức khoẻ lập hồ sơ mất sức lao động được triển khai đều đặn Năm 1977 khám được 710 người, năm 1978 khám 326 người xếp hạng thương tật 120 người, năm 1979 khám và giám định 322 ngườ, năm 1980 số người được khám 239 trong đó giám định thương tật 95 người, mất sức lao động 71 người, tai nạn lao động 17 người

Công tác bảo đảm đúng thủ tục, tiến hành điều tra vết thương chiến tranh ở một số xã thuộc huyện Bến Cát, xã Tân Phước Khánh (Tân Uyên) và khám 860 vết thương cũ

Trang 29

- Khám tuyển nghĩa vụ quân sự :

Khám tuyển nghĩa vụ quân sự năm 1976 do y tế tuyến tỉnh thực hiện Từ năm

1977 do các phòng y tế huyện thị đảm nhận cho địa phương mình Tổ chức tốt việc khám tuyển, đáp ứng yêu cầu của trên đề ra

1976 1977 1978 1979 Tổng số người khám 8161 20099 10597 16748

Loại A 3554:43,5% 7891:32,2% 4509: 44%

Tỷ lệ loại A bình quân 41,4% Tỷ lệ bệnh tật cao nhất là răng chiếm 2,6% tổng

số người khám, kế đến là các bệnh về tai mũi họng

- Cung ứng thuốc cho phòng bệnh phòng dịch và khám chữa bệnh:

Dưới sự lãnh đạo của ty về việc cung ứng thuốc chữa bệnh trên toàn tỉnh, Công ty Dược phẩm xây dựng ngay hệ thống phân phối thuốc từ tỉnh đến các huyện thị theo hướng đưa thuốc đến tận tay người bệnh và các cơ sở khám chữa bệnh Mỗi huyện thị đều có hiệu thuốc trung tâm và những hiệu thuốc chi nhánh cạnh các phòng khám đa khoa khu vực Năm 1978 có 18 hiệu thuốc huyện và khu vực Năm 1978 có

23 hiệu thuốc,đảm bảo không để thiếu các loại thuốc thông thường Ngoài việc bán lẽ trực tiếp người bệnh, công ty còn tổ chức bán thêm giờ thêm ca và bán lưu động ở một số xã kinh tế mới, các vùng cao su công nghiệp kế hoạch lưu thông phân phối mua vào bán ra qua các năm đều vượt kế hoạch

Cùng với việc tổ chức lưu thông phân phối, kinh doanh mua vào bán ra, Công

ty còn xây dựng được một xưởng sản xuất Tân Đông Dược Sự sản xuất thuốc bảo đảm một phần quan trọng nhu cầu thuốc của nhân dân vừa có lãi đóng góp vào ngân sách Xưởng đã nghiên cứu sản xuất các dạng thuốc từ dược liệu trong tỉnh, sản phẩm

có nhiều người tín nhiệm như: dầu gió thác Mơ, Rượu tắc kè, ngũ gia bì, Pretnao… giá trị sản lượng qua từng năm đều tăng và vượt kế hoạch Năm 1978, sản xuất 12 mặt hàng chủ yếu dùng dược liệu trong địa phương và trong nước chiếm 7% tổng số nguyên dược liệu sản xuất, trong đó có 27 mặt hàng dược liệu thu mua trong tỉnh Chú trọng sản xuất nhiều mặt hàng phục vụ cho phụ nữ và trẻ em Thuốc phụ nữ chiếm 9% giá trị tổng sản lượng, thuốc trẻ em 11,8%

Ngoài việc thu mua dược liệu, việc nuôi trồng dược liệu có những cố gắng thực hiện kế hoạch Năm 1978, tiến hành điều tra dược liệu núi cậu (Định Hiệp) phát hiện hơn 150 cây thước, ở các xã Cây Trường 2, Long Chiểu (Bến Cát) Những cây có trữ lượng lớn là Hà thủ ô trắng, Hạ khô thảo, Hoài Sơn, Củ chi, Mã tiền, Mức hoa trắng,

Sa nhân

Năm 1979 thực hiện 4 đợt điều tra các xã của huyện Tân Uyên với sự cộng tác của 20 sinh viên Trường Đại học Dược khoa, phát hiện 200 loại cây, lấy 200 mẫu tiêu bản, sơ định vùng các cây có trữ lượng lớn Cũng năm này, nuôi trồng được liệu được

Trang 30

quan tâm, cố gắng đáp ứng nhu cầu dược liệu cho sản xuất và tiến tới có xuất khẩu Công ty Dược trồng được 15 Ha tại Tàu Ô (Chơn Thành) gồm có bạc Hà, Táo, Nghệ, gừng, ích mẫu; sản lượng thu hàng năm khoảng 8,5 tấn Toàn tỉnh thực hiện được (năm 1980) 80 ha trồng dược liệu Thu mua dược liệu ở địa phương hàng năm đều đạt và vượt kế hoạch các mặt hàng thu mua được gồm có 12 mặt hàng, trong đó Protnao chiến tỷ trọng cao

II.2.3 Đẩy mạnh công tác đào tạo nhân lực và hoạt động sự nghiệp:

- Công tác đào tạo nhân lực cho ngành:

Trường trung học y tế có nhiệm vụ đào tạo cán bộ y tế cho tỉnh và các vùng phụ cận bao gồm 2 ngành y và dược như: Ngành y có trung học và sơ học, nữ hộ sinh (trung học, sơ học); ngành dược có trung học, sơ học dược

Trường Trung học y tế khi mới thành lập có 4 y sĩ và 27 nhân viên phục vụ Qua từng năm, trường được bổ sung thêm cán bộ giảng dạy và cán bộ khung Lớp học đầu tiên trường đảm nhận là bổ túc văn hoá cho gần 100 anh chị em chiến sĩ từ trong kháng chiến ra, phần lớn là bộ đội xuất ngũ phục viên Trong số này có đến 71 đảng viên Sau khi học xong, đa số đăng ký học tiếp trung cấp chuyên môn tại trường

Năm 1976, Trường đào tạo được 110 y tá và 23 kỹ thuật viên sơ học Năm

1977, số lượng chiêu sinh đào tạo tăng lên đáng kể Đối tượng đào tạo đa dạng, đa ngành như y tá sơ học, mậu dịch viên, đông y sơ học và nhiều lớp tập huấn cho nhiều ngành khác nhau đó là y sĩ chuyên khoa, y tá xét nghiệm, nữ hộ sinh, nha tá, ngoại sản, chủ nhiệm hiệu thuốc, thống kê y tế, trưởng trạm y tế xã Lưu lượng bình quân hàng năm 450 học sinh

Do nhu cầu phát triển màng lưới y tế hoàn chỉnh từ tỉnh đến cơ sở, xã, số cán

bộ y tế do trường đaò tạo không đủ cung cấp cho nhu cầu này Đo đó, việc đào tạo y

tá sơ cấp được giao cho 5 BVĐK huyện có khả năng mở thêm 5 lớp y tá trong năm

1978, chiêu sinh 186 học sinh, mỗi lớp từ 50- 60 học sinh (Thuận An, Bến Cát)

Hàng năm trường được Bệnh viện đa khoa tỉnh hỗ trợ mở thêm một lớp tập huấn ngoại khoa cho bác sĩ, 1 lớp cho y sĩ Sự tham gia giảng dạy của Bệnh viện đa khoa tỉnh tại Trường được kết hợp chặt chẽ, cùng xây dựng được một đội ngũ giáo viên có kinh nghiệm về chuyên môn, chính trị và quản lý, đồng thời xây dựng được chương trình giảng dạy coi trọng cả chuyên môn và chính trị, phù hợp với nguyên lý giáo dục xã hội chủ nghĩa

Trong quá trình giảng dạy, Nhà trường cũng thường xuyên tổ chức nhiều đợt học tập chính trị và tình hình nhiệm vụ mới, đường lối y tế của Đảng, 5 quan điểm, 5 mục tiêu cuả Ngành, đạo đức cán bộ Y tế xã hội chủ nghĩa, cho cán bộ và học sinh

- Công tác nghiên cứu khoa học:

Các đề tài nghiên cứu khoa học do Hội y học phối hợp với BVĐK tỉnh, Trường Trung học Y tế, các trạm chuyên khoa, công ty Dược, phòng chẩn trị Y học dân tộc Thị xã thực hiện, nhưng BVĐk tỉnh có nhiều đề tài nhất và hàng năm chủ trì

mở hôị nghị tổng kết công trình nghiên cứu khoa học tại bệnh viện Số lượng đề tài

Trang 31

mỗi năm đều tăng, các năm 1976 - 1979 mỗi năm có khoảng 10 -1 5 đề tài, riêng năm

1979, số lượng tăng lên đến 35 đề tài

Nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật, cải tiến quản lý được áp dụng đã tiết kiệm làm lợi cho nhà nước hàng năm một số lượng tiền đáng kể

- Xây dựng cơ bản và viện trợ quốc tế:

+ Xây dựng cơ bản: Năm 1975 Văn phòng Ty y tế còn làm việc chung

với bệnh viện đa khoa tỉnh Năm 1976 Ty y tế được UBND tỉnh cho tiếp nhận cơ sở Bệnh viện dã chiến 4 của ngụy bàn giao lại từ Quân đoàn 3 Cơ sở này được sửa chữa lại chia làm 3 khu vực: khu văn phòng Sở và các trạm chuyên khoa, khu Trường Trung học y tế và khu Công ty dược phẩm

Năm 1978 xây dựng Văn phòng Ty ở khu quy hoạch các Ty ban ngành của tỉnh tại Phú Lợi gồm có 4 dãy nhà, đưa vaò sử dụng năm 1979 Trường y tế được ở rộng và sửa chữa lại tại cơ sở Bệnh viện dã chiến 4 cũ Bệnh viện đa khoa tỉnh, Công

ty Dược được sửa chữa và xây dựng thêm các kho dụng cụ, kho thuốc

Tuyến xã đã xây dựng được 12 trạm y tế xã năm 1980: xã Tây Nam, Định Thành, Lai Uyên, Đoàn Kết, Tân Vĩnh Hiệp, Lạc An, Thạnh Phước, Phước Hoà, Kiến Điền, Thanh Tuyền, Thanh An, An Bình

+Viện trợ quốc tế :

Nhận viện trợ UNICEF 1 bộ trang bị trạm vệ vinh phòng dịch, 1 bộ sản nhi, 25

bộ nha khoa, 10 bộ trang bị trạm y tế xã Quỹ hoạt động dân số Liên hiệp quốc UNFPA viện trợ xây dựng 70 trạm y tế xã Năm 1980 xây dựng xong 59 trạm theo

thiết kế chung của UNFPA

- Cải tạo y dược tư nhân:

Thực hiện đường lối cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội của Đảng, Tỉnh ủy

ra chỉ thị về cải tạo công thương nghiệp, đặt nhiệm vụ cải tạo nhông nghiệp lên hàng đầu, hoàn thành cơ bản đưa nông dân vào con đường làm ăn tập thể dưới 2 hình thức tập đoàn sản xuất và tổ đoàn kết từng bước chuyển dần lên hợp tác xã Các ngành công thương nghiệp cũng cải tạo đồng thời với cải tạo nông nghiệp

Thực hiện chỉ thị Tỉnh ủy và UBND tỉnh, ngành y tế tổ chức Ban cải tạo y dược tư nhân tại Ty y tế Ban cải tạo các huyện thị do phòng y tế thành lập cùng với các Ban cải tạo Công, Thương, Nông nghiệp của huyện triển khai các công tác cải tạo, đưa những người hành nghề y dược tư nhân vào trong y tế nhà nước hoặc dưới hình thức tổ hợp chuyên môn

Năm 1977 công tác cải tạo được chuẩn bị phương án đầy đủ, bước sang năm

1978 cải tạo bước 1 tổng số 80 hộ gồm có 32 hộ thuốc tây, 1 nhà thương, 2 phòng mạch, 17 hộ sinh, 29 y tá Các cơ sở này được sử dụng mở rộng hệ bán thuốc của Công ty dược: 17 quầy với cơ sở cũ và xây dựng 8 quầy mới Phòng mạch tư được cải tạo thành phòng khám đa khoa của Bệnh viện tỉnh, các nhà hộ sinh cải tạo sang hệ dân lập, chịu sự quản lý của y tế huyện và xã: Thuận An 4 hộ, Thị xã 2 hộ với 40 giường

Trang 32

Công tác bước 1 đã làm tốt, bước 2 triển khai kế hoạch cải tạo 40 hộ nha trong

đó 22 hộ người Việt, 18 hộ người Hoa, 107 hộ Đông y dược trong đó 80 hộ người Việt, 27 hộ người Hoa Trong đó Bác sĩ có 15 người, làm việc trong cơ sở y tế Nhà nước 14 người Dược sĩ Đại học: 14 người được làm việc trong cơ sở y tế nhà nước

05 người Nha sĩ có 05 người

- Phục vụ bảo vệ biên giới, chi viện cho bạn và phòng chống bão lụt:

Tháng 4 năm 1977, tập đoàn Pônpôt Iêngxary (Cămpuchia) bất ngờ tấn công lãnh thổ Việt Nam ở biên giới An Giang Cuộc chiến tranh biên giới Tây nam bắt đầu Suốt năm 1977 chúng tiếp tục đánh phá và lấn chiếm dọc theo các tỉnh biên giới

Hà Tiên, Tây Ninh, Đồng Tháp, Sông Bé, Gia Lai - KonTum

Trong tình hình có chiến tranh biên giới, tỉnh Sông Bé phải chiến đấu và bố phòng trên tuyến biên giới dài 240km Huyện Lộc Ninh là huyện biên giới phải đảm nhận mọi mặt về công tác tiền phương và là hậu cứ gần nhất

Toàn ngành y tế được động viên mọi nỗ lực, dồn sức vào công tác phục vụ chiến đấu bảo vệ biên giới Công tác cấp cứu phục vụ chiến trường và sức khoẻ cho dân công xây dựng bảo vệ biên giới, và nhân dân các huyện biên giới là một đòi hỏi cấp bách Từ giữa năm 1977 đã có sự chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân tỉnh và Bộ y tế

về tổ chức y tế phục vụ công tác chến đấu ở biên giới

Năm 1978, thành lập Ban y tế biên giới thường trực chỉ đạo công tác tổ chức màng lưới y tế và cấp cứu, tổ chức các đội phẫu thuật dã chiến, mở rộng bệnh viện Lộc Tấn (Lộc Ninh) tăng sức thu dụng thương bệnh binh từ 100 lên 150 - 200 giường Xây dựng kế hoạch thành lập một Bệnh viện dã chiến 150 giường

Ngành y tế kết hợp chặt chẽ với ngành Quân y Tỉnh và Quân khu 7 làm tốt nhiệm vụ tiếp nhận thương bệnh binh của quân đội gửi đến Đoàn cán bộ quân y Quân khu gồm nhiều bác sĩ, y sĩ thường trực tại Bệnh viện Lộc Tấn, trong đó có đ/c đaị úy Bác sĩ Nguyễn văn Trị, nguyên trưởng Phòng y tế Huyện Châu Thành tỉnh Bình Dương trong thời lỳ chống Pháp Sự kết hợp này được đánh giá cao, nhiều anh chị em trong bệnh viện thường trực ngày đêm, tận tụy phục vụ, cứu chữa thương binh không nề hà cực nhọc, gian khổ

Mạng lưới y tế biên giới hình thành, nòng cốt là hội viên Hội chữ thập đỏ 11 xã biên giới có chi hội hoạt động, thành lập nhiều tổ hội viên xung kích, 11 trạm y tế biên giới được cấp vốn sửa chữa và trang thiết bị đồng bộ Tăng cường thêm xe cứu thương và cán bộ chuyên khoa ngoại cho bệnh viện Lộc Tấn

Du kích xã được trang bị túi cưú thương đầy đủ, tổ chức cán bộ y tế đi phục vụ dân công các huyện làm nghĩa vụ xây dựng tuyến biên giới có đầy đủ thuốc men cho từng trung đội, đại đội dân công kịp thời phục vụ những tai nạn do bom mìn gây ra

Tỉnh Sông Bé tổ chức 1 đội phẫu thuật lưu động và hợp đồng với Bệnh viện Chợ Rẩy, Ty y tế Đồng Nai chuẩn bị sẳn sàng thêm 2 đội phẫu thuật khi cần chi viện cho tuyến biên giới Giao cho trường Trung học y tế chuẩn bị 1 đội phẫu thuật dự bị

và mở một lớp bồi dưỡng ngoại khoa cho bác sĩ và y sĩ

Trang 33

Sau khi thảm sát đồng bào ở 2 xã Thiện Hưng, Hưng phước (Lộc Ninh) của bọn phản động Pônpot, Iêng Xary, ngành y tế đã tổ chức nhiều đoàn phòng dịch đi tẩy uế chiến trường 2 lần, phun xăng đốt, phun thuốc sát trùng, chôn thi thể nam nhân Thường xuyên nắm tình hình dịch tể, làm vệ sinh phòng dịch ở các vùng sơ tán Tuyên truyền hướng dẫn vệ sinh phòng bệnh, cấp phát thuốc phòng cho nhân dân

Hội Chữ thập đỏ liên kết với ngành Y tế tổ chức huấn luyện 12 tổ cấp cứu có

480 cấp cứu viên Nhiều hội viên phục vụ nạn nhân, thương bệnh binh nằm tại Bệnh viện Hội chữ thập đỏ hỗ trợ trang bị dụng cụ, thuốc men, bông băng cho các đội phẫu dã chiến, tổ chức cứu trợ trên 400 đồng bào Thiện Hưng, Hưng Phước tại các điểm sơ tán Lập 1 chốt cấp cứu vận chuyển đủ trang bị thuốc men do 12 hội viên xung kích đảm trách

Bệnh viên đa khoa tỉnh hình thành 1 đội phẫu sẳn sàng làm nhiệm vụ khi xảy

ra chiến đấu, đảm bảo chi viện nhanh cho tuyến huyện Khoa hồi sức cấp cứu được tăng cường thêm, hình thành và xây dựng ngoaị khoa ở các Bệnh viện huyện để tiếp nhận thương binh, có trang bị tối thiểu để giải quyết các ca cấp cứu ngoại khoa và co thể can thiệp trung đaị phẫu thuật được Tập huấn ngoaị khoa cho tuyến huyện 15 người, huấn luyện phòng không nhân dân 40 xã thuộc 8 huyện thị mở 116 lớp có

2450 người tham dự, do sự phối hợp giữa các phòng y tế với 386 sinh viên Trường Đại học Y khoa thành phố Hồ Chí Minh

Phát động học tập quân sự trong ngành, tổ chức đội tự vệ cơ quan ở mỗi cơ sở,

tổ chức canh gác chặt chẽ và phòng gian bảo mật

Tháng 1 năm 1979, đáp lời kêu gọi của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Cămpuchia và yêu cầu của nhân dân Cămpuchia, quân tình nguyện Việt Nam đã cùng lực lượng vũ trang bạn tấn công đánh đuổi chế độ diệt chủng Pônpôt IêngXary giải phóng thủ đô Nông-Phenh và phần lớn đất nước, mở đường cho nhân dân Cămpuchia hồi sinh, góp phần cho Việt Nam ổn định để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Kể từ thời điểm này, ngành Y tế Sông Bé chuyển sang làm nghĩa vụ quốc tế giúp tỉnh bạn Ngành y tế đã cử một đoàn cán bộ sang giúp bạn xây dựng màng lưới y

tế tỉnh Kratíe 35 người do bác sĩ Hồ Phương phó ty y tế phụ trách, gồm 2 Bác sĩ, 6 Y

sĩ, 2 nữ hộ sinh trung học Đến tháng 9/1979 rút về một số, còn lại 16 đ/c Chi viện trang thiết bị bệnh viện 120 giường, 1 bệnh xá 50 giường, 1 số trạm y tế xã, dụng cụ

và thuốc men Ty y tế gởi một số tặng phẩm của cán bộ công nhân viên trực thuộc tặng anh chị em đồng nghiệp tỉnh bạn, tạo được tình cảm tốt đẹp giữa 2 tỉnh Bác sĩ Nguyễn Thanh Phong Phó ty y tế rút về Uỷ ban nhân dân tỉnh với tư cách là chuyên viên của Uỷ ban nhân dân tỉnh sang giúp bạn

Năm 1980, ngành y tế có nhiều đoàn công tác qua lại tỉnh bạn với hình thức đi thăm của các trạm vệ sinh phòng dịch, trạm sốt rét, trạm chống lao và giúp bạn về thuốc men, vật tư

Sau chiến tranh biên giới Tây Nam, lại xảy ra chiến tranh trên biên giới phía Bắc trong tháng 2,3 năm 1979 Ngành y tế được lệnh xây dựng kế hoạch chuyển hoạt động từ trạng thái hoà bình sang trạng thái chiến tranh

Trang 34

Ngày 5-3-1979, chủ tịch nước ra lệnh tổng động viên, toàn tỉnh dấy lên làn sóng căm thù và bừng bừng khi thế sẵn sàng chiến đấu bảo vệ biên giới của Tổ quốc Hàng trăm thanh niên trong tỉnh hăng hái khám sức khoẻ sẵn sàng đi bộ đội và chờ lệnh ra tuyền tuyến đánh giặc Các cơ quan y tế được quân sự hoá, tổ chức tự vệ canh gác cẩn mật, đề cao cảnh giác phòng gian bảo mật, xây dựng các hầm trú ẩn chống phi pháo chung quanh đơn vị

Tháng 7 - 1979, Ty y tế tổ chức một cuộc họp mở rộng theo chỉ thị của UBND tỉnh, nói rõ về mục đích chiến tranh của chủ nghĩa bọn bành trướng ở biên giới phía Bắc, động viên thanh niên trong toàn ngành làm nghĩa vụ quân sự đợt 3 năm 1979, đăng ký 100% Tổ chức quyên góp tiền bạc, đồ dùng gởi ra giúp đỡ đồng bào các tỉnh biên giới phía Bắc

- Phòng chống bão lụt :

Trong các trận ngập lụt lớn chưa từng thấy trong 2 năm 1977 - 1978, tỉnh Sông

Bé có 2 huyện Tân Uyên và Thuận An bị ngập lụt nặng vì nằm trên ven sông Đồng Nai và sông Sài Gòn Trận ngập lụt kéo dài và ngập đi ngập lại 2 lần, gây thiệt hại nặng nề lúa và hoa màu Ty Y tế đã cử trạm vệ vinh phòng dịch kết hợp với Chữ thập

đỏ trong suốt thời kỳ ngập lụt 3 tuần lễ, thăm viếng chăm sóc sức khoẻ đồng bào 9

xã, chuyển một thuốc men giúp đồng bào Tiêm phòng Tả - TAB 58.000 người, cấp 2

kg Cloramin B cho các hộ gia đình khử khuẩn giếng nước ăn Ngoài nhiện vụ trên, Ngành y tế còn làm tốt công tác ra bệnh viện

- Sản xuất tự túc lương thực:

Năm 1978, tỉnh ra chỉ thị về sản xuất tự túc lương thực trong cơ quan nhằm giải quyết những khó khăn về cung cấp lương thực và đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp

Các đơn vị sự nghiệp y tế đều ra sức làm công tác sản xuất để cố gắng tự túc một phần lương thực nhằm giảm nhẹ gánh nặng lương thực cho Nhà nước Ty y tế tổ chức 1 đội sản xuất rút từ văn phòng ra, phân công dươc sĩ Mai Hoàng Tâm chịu trách nhiệm về sản xuất Đội đi khai hoang làm ruộng tại Bông Trang trong 2 năm 1978-1979

II.2.4 Hoạt động công tác tổ chức cán bộ, công tác Đảng và công đoàn:

Trước hết là củng cố Bệnh viện đa khoa tỉnh, đây là một Bệnh viện do chế độ

cũ để lại, cơ sở cũ kỹ hơn 80 năm đã xuống cấp Năm 1976 bệnh viện được từng bước cải tạo lại cơ sở vật chất cũng như những hoạt động của bệnh viện đi vào nề nếp

và toàn diện hơn Tổ chức quán triệt 5 quan điểm của Ngành y tế cho cán bộ nhiều nguồn khác nhau, nhất là cán bộ mới sau ngày giải phóng, tạo sự đoàn kết gắn bó không phân biệt cán bộ cũ và mới trong nội bộ cán bộ công nhân viên của Bệnh viện Chỉnh đốn laị các khoa phòng, cải tiến lề lối làm việc và phục vụ bệnh nhân Xây dựng và phát triển các mặt hoạt động của bệnh viện mang tính chất một Bệnh viên đa khoa Trung tâm của tỉnh và là tuyến trên của các Bệnh viên đa khoa huyện Bệnh viện đề ra 5 chức năng mà BVĐK phải thực hiện theo chỉ đạo của ngành là: khám và chữa bệnh, phòng bệnh, nghiên cứu khoa học và phát huy sáng kiến chỉ đạo tuyến cơ

sở, đào tạo huấn luyện

Trang 35

Là cơ quan quản lý Nhà nước dưới sự lãnh đạo là cấp ủy Đảng và UBND cùng cấp Theo hệ thống ngang, ngành y tế chịu sự chỉ đạo của Bộ y tế xuyên suốt từ Bộ đến tỉnh và huyện, xã thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác y tế, đưa mọi hoạt động y tế đi đúng hướng đường lối của Đảng và Bộ đề ra Ra sức xây dựng

và phát triển ngành ngày càng lớn mạnh về mọi mặt, đáp ứng nhu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân, góp phần ổn định dời sống và phát triển kinh tế xã hội của đất nước Ty y tế tỉnh, phòng y tế huyện, trạm y tế xã sau một thời gian hoạt động được củng cố như sau:

Ban lãnh đạo Ty y tế gồm: Trưởng Ty - Bác sĩ Võ Phụng Biên; 5 phó ty: Bác

sĩ Nguyễn Thanh Phong, Bác sĩ Hồ Phương, Bác sĩ Vũ Tánh, Dược sĩ Trần Đức, đ/c Đoàn Văn Nhậm

Giúp việc cho lãnh đạo Ty có các phòng:

- Phòng Hành chánh quản trị: bộ phận phục vụ hàng ngày, y tế cơ quan, bộ

phận xe máy, bộ phận đánh máy, bộ phận kế toán tài vụ.Trưởng phòng đầu tiên là y sĩ Phạm Văn Sen (1975), kế tiếp là y sĩ Huỳnh Văn Chưởng (1976) Bác sĩ Nguyễn Hồng Sơn (1977) Nguyễn Thị Cách (1978), y sĩ Phạm văn Sen (1979)

- Phòng Kế hoạch nghiệp vụ gồm có: thống kế, kế hoạch, nghiệp vụ y, xây

dựng cơ bản Trưởng phòng: Bác sĩ Trần Ngọc Cang (1976), Bác sĩ Trần Văn Trung (1979) Phó phòng: Y sĩ Nguyễn Thành An (1977 – 1984)

- Phòng Quản lý Dược năm 1978 đổi tên là Phòng nghiệp vụ Dược:Trưởng

phòng Dược sĩ Trần Trung Trực (1976) Dược sĩ bác sĩ La Ngọc Phạn (1977) Dược sĩ Bùi Đức Tiến (1980)

- Phòng Tổ chức cán bộ: Trưởng phòng bác sĩ Nguyễn Thúc Năng (1976 -

1984); Phó phòng dược sĩ Phạm Thanh Dung

Biên chế của văn phòng ty: 44 người ,những đơn vị trực thuộc Ty: Bệnh viện

đa khoa tỉnh, Công ty Dược, Trường Trung học y tế và 7 trạm chuyên khoa

- Phòng Y tế huyện thị :

Lãnh đạo phòng gồm có trưởng phòng và phó phòng Các bộ phận trực thuộc: Đội vệ sinh phòng dịch - sốt rét, Đội y tế lưu động, Tổ chống lao, Bệnh viện đa khoa huyện, các phòng khám khu vực, nhà hộ sinh khu vực Phòng y tế chỉ đaọ trực tiếp về chuyên môn nghiệp vụ các trạm y tế xã Trưởng trạm y tế xã chịu trách nhiệm về công tác quản lý ngành tại cơ sở, xã

- Tỉnh Hội Y học tỉnh Sông Bé: Năm 1977 thành lập Hội đồng tư vấn y học dân

tộc cho ngành y tế có 13 thành viên tiêu biểu có tay nghề khá, tư tưởng tiên tiến Hội đồng sinh hoạt thường kỳ và có những hoạt động thúc đẩy việc thừa kế, phát huy và phát triển vốn Y học cổ truyền, tăng cường công tác nghiên cứu khoa học kết hợp Đông Tây y trong các cơ sở điều trị

Đội ngũ lương y trong tỉnh có 19 người tại các cơ sở y tế dân lập, 82 người taị các cơ sở quốc lập (năm 1978) Trường Trung học y tế xây dựng bộ môn y học dân tộc, tập huấn ngắn ngày cho cán bộ y Bác sĩ về châm cứu và sử dụng 35 cây thuốc

Trang 36

Nam để trị 7 chứng bệnh thông thường, chiêu sinh nhiều lớp đào tạo đông y sơ cấp cho tuyến xã

Trong phòng bệnh và chữa bệnh taị các bệnh viện và cơ sở chữa bệnh đã có kết họp Y học hiện đại và y học cổ truyền dân tộc, áp dụng châm cứu, sử dụng thuốc Nam Năm 1977, 33 xã có cán bộ đông y, 4 phòng chẩn trị y học dân tộc hoạt động

có chất lượng, được đông đảo nhân dân tín nhiệm

Do nhu cầu phát triển khoa học kỹ thuật của ngành, Ty Y tế cử Bác sĩ Phạm Ngọc Thái Viện phó bệnh viện đa khoa tỉnh trong chuyến đi công tác ở Hà Nội năm

1977 có nhiệm vụ đến Tổng Hội Y học Việt Nam đề nghị hướng dẫn thủ tục thành lập tỉnh Hội Y học cho ngành Y tế tỉnh Sông Bé

Bác sĩ Hoàng Vĩnh Bảo Chánh văn phòng Tổng hội hướng dẫn quá trình thành lập Hội và giao một số cuốn điều lệ Hội để nghiên cứu để nghiên cứu thể thức thành lập Hội Sau một quá trình chuẩn bị, ngày 27 tháng 01 năm 1978 Tỉnh Hội y học Sông Bé được chính thức thành lập với 33 ủy viên Ban chấp hành do Bác sĩ Vũ Tánh Phó Ty Bệnh viện trưởng làm Chủ tịch, Bác sĩ Phạm Ngọc Thái Bệnh viện phó bệnh viện đa khoa làm Phó Chủ tịch thường trực

Ngày 01 tháng 03 năm 1978 đoàn Tổng Hội Y học Việt Nam đến thăm và làm việc tại Sông Bé gồm 4 người: Bác sĩ Đặng Văn Ấn thường vụ tổng hội, phó Tổng thư ký Ban biên tập tạp chí Y học Việt Nam; thượng tá Dược sĩ Đặng Hanh Khôi Viện phó Viện Y học quân sự thường vụ Tổng hội; Bác sĩ Phạm Khuê thường vụ Tổng hội phó Chủ tịch hội Nội khoa; đ/c Hoàng Vĩnh Bảo Chánh Văn phòng Tổng hội

Đoàn giới thiệu kỹ về nhiệm vụ, về tổ chức các Ban của Hội, quan hệ Hội và Tổng hội và đề nghị Sông Bé tham gia Hội nghị tổng kết khoa học kỹ thuật toàn ngành từ 1971 đến 1977 dự định vào tháng 8/1979

Các thành viên của Đoàn báo cáo khoa học các chuyên đề về lão khoa, phân tích 1.300 đơn Y học cổ truyền bằng máy tính điện tử, bệnh cao huyết áp ở những người trẻ tuổi Giáo sư Phạm Khuê giới thiệu khá kỹ phương pháp nghiên cứu khoa học và nội dung của một công trình nghiên cứu khoa học với các bước cụ thể cần phải làm

Qua 2 ngày làm việc, Đoàn đã nắm được tình hình hoạt động khoa học kỹ thuật còn mới mẽ của tỉnh, góp ý cho Tỉnh hội nhiều vấn đề thiết thực về nghiên cứu KHKT, tạo tiền đề cho các bước của những năm tiếp theo

- Công tác xây dựng Đảng: Cùng với việc củng cố công tác chuyên môn, công

tác củng cố tổ chức Đảng cũng được Ty quan tâm Năm 1976 có 147 đảng viên hình thành 4 chi bộ ở 4 đơn vị: văn phòng Ty, Bệnh viện đa khoa tỉnh, Công ty Dược và Trường Trung học y tế, 1 chi bộ học sinh Trường Từ 1976 – 1980, bí thư Đảng ủy đ/c Đoàn Văn Nhậm, trong thời gian này số kết nạp mới chưa nhiều Đảng ủy Ty y tế

từ 1975 - 1977 trực thuộc Đảng ủy Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, 1978 – 1980 trực thuộc Thị ủy Thị xã Thủ Dầu Một

Trang 37

Các chi bộ sinh hoạt đều, nâng cao vai trò lãnh đạo của đảng đối với ngành, nhằm thực hiện những nhiệm vụ của ngành y tế một cách toàn diện, thông qua các cơ quan quản lý và tổ chức công đoàn

- Công tác cán bộ: Đội ngũ cán bộ do từ nhiều nguồn tập hợp lại, gồm có cán

bộ kháng chiến, cán bộ taị chỗ, cán bộ mới đào tạo đã được sắp xếp sử dụng và từng bước bồi dưỡng về chính trị tư tưởng, về chuyên môn nghiệp vụ Đội ngũ được tăng dần về số lượng cũng như chất lượng qua các năm 1976 – 1978

1976 1977 1978

- Tổng số cán bộ CNV toàn ngành : 1502 1537 1708

trong đó : Bác sĩ 46 62 69 Dược sĩ Đaị học 19 26 35

Y tá trung học 29 37 49 Dược Trung học 34 43 47 NHS Trung học 25 59 64 KTV Trung học 11 12 14

Dược tá sơ học 62 70 76

Nữ hộ sinh sơ học 90 91 91 Đông y trung học 03 XNV sơ học 20 32 34 Bình quân Y Bác sĩ trên 1 vạn dân 3, 4 3,5 3,6 Bác sĩ đưa xuống huyện 12 18 22 Dược đại học đưa xống huyện 04 06 06

Y sĩ đưa xống huyện 68 73 91 Năm 1978, tỉnh tiếp nhận số cán bộ của Hà Sơn Bình và Thái Bình: Hà Sơn Bình có 15 cán bộ (1 Bác sĩ, 13 Y sĩ, 1 dược trung); Thái Bình có 21 cán bộ (20 y tá trung học, 1 dược trung)

Mạng lưới hội viên Chữ thập đỏ tổ chức được 5 huyện hội, 66 chi hội với 3.827 hội viên, 52 hội viên xung kích Màng lưới Chữ thập đỏ kết hợp với ngành y tế

đã góp phần đắc lực trong công tác phục vụ chiến đấu, bảo vệ biên giới và phòng chống dịch

- Hoạt động Công đoàn ngành:

Công đoàn ngành y tế tỉnh được thành lập từ năm 1977 với đơn vị 4 công đoàn

cơ sở: Văn phòng ty, bệnh viện đa khoa tỉnh, Công ty Dược và Trường trung học y

tế Công đoàn ngành liên hệ quan hệ thống ngang là Liên hiệp công đoàn tỉnh là sự

Trang 38

chỉ đạo của Công đoàn y tế Việt Nam ở Trung Ương Thư ký công đoàn ngành là dược sĩ Trần Trung Trực, phó thư ký bác sĩ Tổng Đức Thu

Công đoàn ngành đã cùng với Ty y tế phát động trong toàn ngành phong trào thi đua yêu nước, phấn đấu trở thành tổ lao động XHCN, tổ tiên tiến, cá nhân tiên tiến, đơn vị tiên tiến Duy trì hàng năm việc kiểm tra xếp loại các đơn vị trong ngành

ở tuyến tỉnh và các huyện Tham gia Hội đồng bình xét lương năm 1979 cho toàn bộ CNVC trong ngành Tổ chức tổ công đoàn ở 4 công đoàn cơ sở, kết nạp đoàn viên công đoàn và bồi dưỡng kiến thức về công tác công đoàn cho tổ công đoàn và đoàn viên Tổng số tổ công đoàn tại 4 cơ sở là 61 tổ, chia ra Công ty 18 tổ, BVĐK 25 tổ, Trường Trung học y tế 8 tổ và Văn phòng Ty 10 tổ

Phong trào đăng ký phấn đấu trở thành tổ, cá nhân, đơn vị tiên tiến được phát động hàng năm, số đăng ký ngày càng tăng Nhiều đơn vị có 100% cá nhân và đơn vị đạt danh hiệu tiến tiến Mỗi năm có tổng kết và đề nghị khen thưởng

Mở hội nghị cán bộ công nhân viên hàng năm có nội dung cụ thể, được đoàn viên bàn bạc, quy định rõ trách nhiệm từng vấn đề của 2 bên Công đoàn và giám đốc, Thủ trưởng đơn vị phải giải quyết Quần chúng đoàn viên tham gia bàn bạc các chỉ tiêu kế hoạch, ký kết hợp đồng tập thể cam kết thực hiện kế hoạch của cơ quan đơn vị đạt kết quả cao nhất

Công đoàn phát động phong trào phát huy sáng kiến và cải tiến kỹ thuật đã được công đoàn các cấp cơ sở quan tâm thực hiện Nhiều đơn vị đã xây dựng được

kế hoạch từ đầu năm chương trình nghiên cứu khoa học như bệnh viện đa khoa tỉnh, Công ty Dược, các trạm chuyên khoa tỉnh

Sau ngày giải phóng, Ngành tế ngay từ ngày đầu khi tiếp quản các cơ sở y tế của Mỹ ngụy để lại hầu như không có gì ngoài Bệnh viện tỉnh đã quá cũ đang xuống cấp trầm trọng Trang thiết bị cũ kỹ, ít oi Trải qua 5 năm (1975 - 1980) phấn đấu tích cực, cán bộ nhân viên dần dần được bổ sung ngày càng đông, mạng lưới y tế được hình thành và phát triển rộng khắp từ tỉnh đến huyện và xã Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân được tích cực triển khai trên cơ sở những quan điểm về y tế cách mạng phục vụ cho sản xuất, đời sống và quốc phòng, phục vụ nhân dân trong lao động Vừa mới ra khỏi cuộc chiến tranh trường kỳ gian khổ suốt 30 năm chống Pháp

và Mỹ giành độc lập tư do cho Tổ quốc Kinh tế chưa phục hồi, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn thì lại phải đương đầu với chiến tranh biên giới Tây Nam Những năm 1978 – 1979 thiên tai liên tiếp xẩy ra gây mất mùa liên tục càng làm cho đời sống nhân dân thêm nhiều khó khăn Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Sông Bé, toàn thể cán bộ công nhân viên chức của ngành y tế vẫn giữ vững tinh thần ý chí, kiên định lập trường, kiên trì công tác phấn đấu hoàn thành mọi nhiệm vụ trên lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ nhân dân với tấm lòng của người cán bộ y tế cách mạng xã hội chủ nghĩa: người thầy thuốc như mẹ hiền Những cống hiến ấy đã tạo ra những thành

quả tốt đẹp, góp phần vào việc xây dựng đất nước, ổn định đời sống vật chất và tinh

thần của nhân dân

**

*

Trang 39

CHƯƠNG HAI KHẮC PHỤC KHÓ KHĂN CHĂM SÓC TỐT SỨC KHOẺ NHÂN DÂN - GÓP

PHẦN ỔN ĐỊNH ĐỜI SỐNG KINH TẾ - XÃ HỘI (1981 – 1985)

I. NHỮNG CHUYỂN BIẾN MỚI CỦA NGÀNH Y TẾ TRONG CÔNG TÁC CHĂM SÓC

SỨC KHOẺ NHÂN DÂN (1981 - 1985)

Sau những năm phấn đấu vượt khó khăn giữ ổn định sản xuất và đời sống, tìm hướng phát triển kinh tế- xã hội, Đảng bộ và nhân dân Sông Bé bước vào thực hiện

kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ III (1981 - 1985) trong bối cảnh hết sức khó khăn Đất nước ở trong tình trạng vừa có hoà bình vừa có thể xẩy ra chiến tranh và kinh tế

- xã hội lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng

Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Sông Bé cũng gặp nhiều khó khăn, thậm chí

có mặt gay gắt Tài nguyên đất đai, lao động và ngành nghề chưa được phát huy; phát triển công nghiệp nhẹ, tiểu thủ công nghiệp và sản xuất hàng tiêu dùng, xuất khẩu chưa coi trọng đúng mức Công tác quản lý kinh tế chưa có kinh nghiệm và còn nhiều lúng túng, sơ hở, năng xuất lao động và hiệu quả kinh tế thấp Việc cải tiến kế hoạch hoá làm chậm, chưa bám sát Nghị quyết và Chỉ thị của Đảng, việc vận dụng các chính sách mới chuyển biến chậm Đời sống người lao động ăn lương còn khó khăn Các hiện tượng tiêu cực trong kinh tế và xã hội chậm được khắc phục

Về lĩnh vực sức khoẻ, sự nỗ lực của Ngành Y tế về các mặt vệ sinh phòng bệnh, phòng dịch, khám chữa bệnh đã đem đến cho đại đa số người dân sự chăm sóc sức khoẻ ban đầu, hạn chế được nhiều bệnh tật, đời sống sức khoẻ có những tiến bộ đáng kể Tuy nhiên hệ thống y tế ở cơ sở, nhất là vùng sâu vùng xa vẫn còn nhiều khó khăn, nhân dân chưa có điều kiện được chăm sóc y tế, một số ca bệnh hiểm nghèo như sốt rét, sốt xuất huyết chuyển về tuyến tỉnh quá muộn Thuốc men tuy có mở rộng mạng lưới phân phối xuống đến tận xã nhưng vẫn còn thiếu thuốc trị các bệnh thông thường, bệnh phụ nữ và trẻ em

Trước tình hình đó, Đại hội đaị biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng được tổ chức từ ngày 27 đến 31-3-1982 tại Thủ đô Hà Nội Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

V của Đảng phân tích những khó khăn to lớn của tình hình đất nước, phê phán tư tưởng nóng vội, bảo thủ và điều chỉnh một bước đáng kể về đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội Đây là sự nhận thức mới về công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, xác định chặng đường đầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Đặc biệt, Đại hội nhấn mạnh việc xây dựng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động theo cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ, coi đó là vấn đề có

ý nghĩa quyết định để hoàn thành những nhiệm vụ quan trọng và cấp bách trên

Đại hội đề ra nhiệm vụ, phướng hướng, mục tiêu chủ yếu về kinh tế - xã hội

1981 - 1985 và những năm 1980, đề ra 2 nhiệm vụ chiến lược trong giai đoạn mới là: Xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Trang 40

Dưới ánh sáng của Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V Đại hội đại biểu Đảng bộ Sông Bé lần thứ III được triệu tập Đại hội được tiến hành trong 2 vòng Vòng I từ ngày 12/1-21/1/19882 Vòng II từ 18/4- 22/4/1983, tại Thị xã Thủ Dầu Một Đại hội đánh giá, kiểm điểm quá trình thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ

II Quán triệt và cụ thể hoá Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, Đại hội

đã xác định phương hướng nhiệm vụ của tỉnh trong thời gian trước mắt cũng như

trong những năm 80 là "ra sức ổn định và cải thiện một bước các nhu cầu về ăn, mặc,

ở, trị bệnh, học hành và đi lại của nhân dân lao động, vừa tiến hành tổ chức và sắp xếp lại trật tự kinh tế, vừa xây dựng thêm cơ sở vật chất và kỹ thuật, bảo đảm phát triển thêm một bước cơ cáu kinh tế nông - lâm - công nghiệp, tiến lên xây dựng thành tỉnh công - nông - lâm nghiệp trong nhiều năm tới, đồng thời tăng cường công tác quốc phòng và an ninh, chống kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và tiếp tục làm tốt nghĩa vụ quốc tế đối với tỉnh bạn Kra-chê" 10

Đối với sự nghiệp y tế nghị quyết nêu rõ: "Đẩy mạnh hơn nữa phong trào5 dứt

điểm cả ở nông thôn, thị xã và thị trấn, nâng cao chất lượng khám và chữa bệnh ở các tuyến điều trị, từng bước giải quyết vệ sinh môi trường, phòng chống dịch bệnh, bảo vệ tốt sức khoẻ của nhân dân lao động Tiếp tục vận động quần chúng thực hiện sinh đẻ có kế hoạch Triệt để khai thác nguồn dược liệu trong tỉnh, bảo đảm sản xuất

đủ các loaị thuốc trị bệnh thông thường trong nhân dân Các đơn vị y tế trong tỉnh phải có cơ sở trồng cây thuốc nam, vừa đảm bảo nguyên liệu sản xuất thuốc nội địa, vừa mở rộng xuất để nhập khẩu Chỉ đạo chặt chẽ việc xây dựng các công trình trạm

xá xã, bệnh viện huyện, bệnh viện tỉnh, sớm đưa từng công trình vào sử dụng" 11

Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ V và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Sông

Bé lần thứ III tiếp thêm nguồn sinh khí mới vào cuộc sống lao động xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc của nhân dân Bình Dương nói chung, cán bộ công nhân viên ngành y tế nói riêng

Trong quá trình thực hiện, vận dụng thắng lợi đường lối của Đảng đối với từng địa phương, việc xác định đúng mục tiêu, phương hướng phát triển kinh tế, văn hoá-

xã hội là vô cùng quan trọng và có ý nghĩa quyết định Ngành y tế đã xác định đúng nhiệm vụ của mình để tìm ra bước đi thích hợp Từ nghị quyết 55 của Hội đồng Bộ trưởng về công tác y tế trong thời gian trước mắt và Nghị quyết Đại hội lần thứ III của tỉnh, ngành y tế đã đề ra phương hướng nhiệm vụ cho kế hoạch 5 năm 1981-

Ngày đăng: 01/03/2019, 20:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w