1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất bãi bồi ven biển trên địa bàn huyện giao thuỷ, tỉnh nam định

146 237 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 146
Dung lượng 2,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI NGUYỄN ANH MINH ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT BÃI BỒI VEN BIỂ

Trang 1

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

NGUYỄN ANH MINH

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT BÃI BỒI VEN BIỂN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIAO THUỶ, TỈNH NAM ĐỊNH

CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

Hà Nội - Năm 2019

Trang 2

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT BÃI BỒI VEN BIỂN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIAO THUỶ, TỈNH NAM ĐỊNH

Chuyên ngành :Quản lý đất đai

Mã số :8850103

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS LÊ THỊ KIM DUNG

Hà Nội - Năm 2019

Trang 3

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

Cán bộ hướng dẫn chính: TS Lê Thị Kim Dung

Cán bộ chấm phản biện 1: TS Hoàng Xuân Phương

Cán bộ chấm phản biện 2: TS Nguyễn Thị Hải Yến

Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại:

HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN THẠC SĨ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

Ngày 20 tháng 01 năm 2019

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2019 Tác giả luận văn

Nguyễn Anh Minh

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Khoa Quản lý đất đai, Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu luận văn này

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS.Lê Thị Kim Dung, là người trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn UBND huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và cung cấp đầy đủ các thông tin, số liệu, trong quá trình nghiên cứu luận văn này

Cuối cùng, tôi xin trân trọng cám ơn các bạn học viên cùng lớp, những người thân trong gia đình và bạn bè đã giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn này

Tác giả luận văn

Nguyễn Anh Minh

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 5

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 7

1.1 Cơ sở khoa học 7

1.1.1 Khái niệm đất bãi bồi ven biển 7

1.1.2 Đặc điểm hình thành và tính chất đất vùng cửa sông đồng bằng Sông Hồng 11

1.1.3 Vai trò và ý nghĩa của đất bãi bồi ven biển trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp 14

1.1.4 Nguyên tắc sử dụng đất bãi bồi ven biển 15

1.1.5 Quan điểm sử dụng đất bãi bồi ven biển 15

1.1.6 Các xu hướng trong sử dụng đất bãi bồi ven biển 22

1.1.7 Một số vấn đề cơ bản về hiệu quả sử dụng đất bãi bồi ven biển 24

1.2 Cơ sở pháp lý 28

1.3 Cơ sở thực tiễn 29

1.4 Kinh nghiệm quốc tế về quản lý, sử dụng đất bãi bồi ven biển 29

1.5 Kinh nghiệm Việt Nam về quản lý, sử dụng đất bãi bồi ven biển 38

1.6 Kinh nghiệm Nam Định về quản lý, sử dụng đất bãi bồi ven biển 44

1.7 Các đề tài nghiên cứu có liên quan 46

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 47

2.1 Nội dung nghiên cứu 47

Trang 7

2.2 Phương pháp nghiên cứu 47

2.2.1 Điều tra thu thập số liệu 47

2.2.2 Phương pháp thống kê, tổng hợp và xử lý số liệu: 48

2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 48

2.3.1.Chỉ tiêu phản ánh tình hình biến động đất bãi bồi ven biển 48

2.3.2 Chỉ tiêu phản ánh điều kiện sản xuất trên đất bãi bồi ven biển 48

2.3.3 Chỉ tiêu về kết quả sản xuất trên đất bãi bồi ven biển, gồm 3 nhóm chỉ tiêu chính: 48

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 53

3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên- kinh tế xã hội của huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định 53

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 53

3.1.2 Tài nguyên thiên nhiên 60

3.1.3 Thực trạng môi trường 67

3.1.4 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, tài nguyên cho phát triển kinh tế xã hội của huyện 68

3.2 Thực trạng phát triển kinh tế, xã hội 69

3.2.1 Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 69

3.2.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế 70

3.2.3 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập 81

3.2.6 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Giao Thủy 82

3.3.Đánh giá tình hình quản lý sử dụng đất và đất bãi bồi ven biển trên địa bàn huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định 83

3.3.1 Hiện trạng sử dụng đất bãi bồi trên địa bàn huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định 83

3.3.2 Hiện trạng sử dụng đất đất nông nghiệp 87

3.3.3 Hiện trạng sử dụng đất phi nông nghiệp 88

Trang 8

3.3.4 Thực trạng biến động diện tích đất bãi bồi ven biển trên địa bàn huyện

Giao Thủy, tỉnh Nam Định 90

3.4.Đánh giá hiệu quả sử dụng đất 99

3.4.1 Các loại hình sử dụng đất bãi bồi ven biển 100

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 115

TÀI LIỆU THAM KHẢO 118

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Bảng phân cấp chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế các kiểu sử dụng

đất 49

Bảng 2.2 Chỉ tiêu phân cấp đánh giá hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất 50

Bảng 2.3 Chỉ tiêu phân cấp đánh giá hiệu quả môi trường của các loại hình sử dụng đất 52

Bảng 3.1 Đặc trưng các yếu tố khí tượng ở Nam Định 58

Bảng 3.2 Các loại đất chính của huyện Giao Thủy 61

Bảng 3.3 Tăng trưởng kinh tế 69

Bảng 3.4 Hiện trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế 70

Bảng 3.5.: Tăng trưởng và cơ cấu giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản 70

Bảng 3.6 Giá trị sản xuất và cơ cấu ngành thuỷ sản 74

Bảng 3.7 Một số chỉ tiêu chủ yếu khu vực dịch vụ 78

Bảng 3.8 Một số chỉ tiêu phát triển du lịch 79

Bảng 3.9 Một số chỉ tiêu vận tải của huyện 80

Bảng 3.10 Dân số phân theo giới tính và khu vực 81

Bảng 3.11 Lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân 82

và cơ cấu lao động 82

Bảng 3.12 Hiện trạng sử dụng đất phân theo mục đích sử dụng 86

đến 31/12/2017 86

Bảng 3.13 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp đến 31/12/2017 87

Bảng 3.14 Hiện trạng sử dụng đất phi nông nghiệp đến 31/12/2017 89

Bảng 3.15 Tình hình biến động sử dụng đất từ năm 2015 - 2017 93

Bảng 3.16 Các loại hình sử dụng đất bãi bồi 99

trên địa bàn huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định 99

Bảng 3.17 Hiệu quả kinh tế của các kiểu sử dụng đất 105

Bảng 3.18 Công lao động của các kiểu sử dụng đất 109

Trang 10

Bảng 3.19 Hiệu quả môi trường của các kiểu sử dụng đất 112Bảng 3.20 Kết quả đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của các kiểu sử dụng đất 114

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyện Giao Thủy 54 Hình 3.2 Hiện trạng sử dụng đất bãi bồi huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định 85 Hình 3.3 Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp năm 2017 88

Trang 12

THÔNG TIN LUẬN VĂN

1 Họ và tên học viên :Nguyễn Anh Minh

2 Lớp :CH3AQĐ Khóa: 3

3 Cán bộ hướng dẫn :TS Lê Thị Kim Dung

4 Tên đề tài:Đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất bãi bồi ven biển trên địa bàn huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định

5 Những nội dung chính được nghiên cứu trong luận văn và kết quả đạt được:

6 Nội dung chính được nghiên cứu: Đánh giá thực trạng sử dụng đất bãi bồi ven biển trên địa bàn huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất bãi bồi trên địa bàn huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định

- Xác định thực trạng các loại hình sử dụng đất đất bãi bồi ven biển chủ yếu

và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất đất bãi bồi ven biển trên địa bàn huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định

Trang 14

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết

Việt Nam là quốc gia có diện tích đất bãi bồi ven biển khá lớn, được bồi tụ từ hệ thống sông, ngòi dày đặc và phân bố từ Bắc đến Nam Nhu cầu sử dụng đất của xã hội ngày càng cao trong khi đất đai đang trong tình hạng bị suy thoái ngày càng nghiêm trọng bởi các nguyên nhân tự nhiên và con người Trước tác động ngày càng mạnh của biến đổi khí hậu và sử dụng đất thiếu họp lý, tình ừạng xói lở đất bãi bồi trên cả nước nói chung và tỉnh Nam Định nói riêng ngày càng nghiêm trọng làm diện tích đất bãi bồi dần

bị thu hẹp

Trước đây, do điều kiện dân số chưa đông, kinh tế - xã hội khó khăn,

kỹ thuật canh tác hạn chế, kèm theo vấn đề trị thủy không tốt nên đất BBVB

ít được quan tâm cả về gốc độ quản lý và sử dụng Những năm sau này, nhất

là từ khi thực hiện đường lối đổi mới, phát triển kinh tế thị trường, đất BBVB trở nên có giá trị hơn so với nhiều loại đất do được khai thác, sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau như: trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng rừng, du lịch sinh thái, bến bãi tập kết và sản xuất nguyên - vật liệu xây dựng, tham gia vào vận chuyển đường thủy

Để quản lý và sử dụng đất BBVB hợp lý, hiệu quả, ngoài những quy định chung của Luật đất đai và các Nghị định hướng dẫn thi hành, các cơ quan quản lý nhà nước về đất đai với trách nhiệm của mình đã có các quy định cụ thể: từ năm 2013 đến nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật [1]; căn cứ văn bản chỉ đạo của trung ương, chính quyền các địa phương có đất BBVB cũng đã triển khai thực hiện Nhìn chung, các hoạt động nêu trên đã tác động và làm cải thiện đáng kể công tác quản lý, sử dụng đất BBVB trong phạm vi cả quốc gia và từng địa phương

Trang 15

Mặc dù vậy, cho đến thời điểm hiện nay công tác quản lý và sử dụng đất BBVB vẫn đã và đang bộc lộ nhiều bất cập như: Công tác quản lý chưa theo kịp với yêu cầu cuộc sống cũng nhu những diễn biến thực tế ở địa phương; chưa luật hóa đầy đủ các quy định để điều chỉnh mối quan hệ liên quan đến quản lý, sử dụng đất; còn có những điểm chưa thống nhất về quản lý đất BBVB trong các luật [2]; các cơ chế, chính sách liên quan còn thiếu và chưa toàn diện Những vấn đề trên đã dẫn đến hệ quả là công tác quản lý chưa chặt chẽ, sử dụng còn lãng phí và kém hiệu quả Nhiều nơi đất đai bị bỏ hoang, trong khi ở các khu vực khác lại bị khai thác, sử dụng quá mức gây tác động xấu đến môi trường Nguồn thu ngân sách từ sử dụng đất bãi bồi chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của đất Những hệ quả này không chỉ ảnh hưởng đến phát triển kinh tế của địa phương mà có lúc, có nơi đã ảnh hưởng trực tiếp tới an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội

Vùng cửa sông là nơi chuyển tiếp sông - biển có hệ sinh thái rất độc đáo và đa dạng về tài nguyên, đồng thời là một hệ đệm, song lại hoàn toàn khác với những hệ đệm khác trong đất liền do phụ thuộc vào thủy chế của dòng sông, hoạt động của thuỷ triều, với đặc điểm độc lập tương đối, đa dạng

về nguồn gốc và có tính mẫn cảm đối với các ảnh hưởng môi trường từ thượng nguồn cũng như ảnh hưởng tại chỗ [3] Hệ sinh thái cửa sông ven biển

là một mắt xích quan trọng trong chu trình trao đổi chất khép kín Bất cứ một tác động nào phá vỡ cấu trúc hệ sinh thái tối ưu của vùng, sử dụng đất đai và khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên không hợp lý trên từng điều kiện thành tạo đều dẫn tới hậu quả xấu: giồng cát di động, đất nhiễm mặn và nhanh chóng biến thành hoang hóa, đất glây hóa nặng do úng trũng chua phèn, nước triều và cả lũ sông không lưu thông sẽ gây thoái hóa rừng ngập mặn và giảm sút sản lượng thủy sản Do đó phát triển bền vững vừa là mục tiêu hướng tới, vừa là đòi hỏi cấp bách, sống còn đối với lãnh thổ cửa sông ven biển Phát

Trang 16

triển bền vững ở đây là sự phát triển dựa trên cơ sở đảm bảo cho các tài nguyên tái tạo có điều kiện phục hồi, duy trì sự đa dạng sinh học và các hệ sinh thái, sử dụng hợp lý các tài nguyên không tái tạo, cải thiện được môi trường sống của con người Tuy nhiên do sức ép của dân số, nhu cầu riêng của từng ngành, địa phương việc khai thác vùng cửa sông ven biển ngày càng được đẩy mạnh nhưng không được nghiên cứu đầy đủ về tiềm năng và định hướng sử dụng bền vững, nhiều nơi khai thác còn bừa bãi, tùy tiện đưa đến những hậu quả sinh thái làm giảm sút nguồn lợi của các đối tượng khai thác

có giá trị trong vùng

Vùng ven biển có bờ biển dài, địa hình khá bằng phẳng Một số nơi có bãi cát thoải mịn thích hợp với phát triển du lịch nghỉ mát tắm biển như Thịnh Long (Hải Hậu), Quất Lâm (Giao Thuỷ), Rạng Đông (Nghĩa Hưng) Nam Định có 3 sông lớn là sông Hồng, sông Đáy, sông Ninh Cơ Ngoài ra có sông Đào nối liền sông Hồng và sông Đáy cùng với nhiều sông nhỏ khác giúp cho giao thông đường thuỷ thuận lợi và bồi đắp phù sa, tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp và phát triển các vùng kinh tế biển

Diện tích rừng ngập mặn ở khu vực Cồn Lu, Cồn Ngạn, Cồn Xanh, Cồn Mở và Vườn quốc gia Xuân Thủy đã và đang suy giảm Tại Vườn quốc gia Xuân Thủy trong 12 năm trở lại đây, diện tích rừng ngập mặn trưởng thành đã giảm 70% Đường bờ biển bị sóng biển lấn trung bình 10m/năm Riêng đoạn từ

xã Hải Lý – Hải Triều, tỉnh Hải Hậu hàng năm xói lở 10 – 20 m

Hiện đất bãi bồi ven biển vẫn chủ yếu dùng để nuôi trồng thủy hải sản

và khai thác tự nhiên, với diện tích khoảng hơn 5.548 ha, chiếm 41% diện tích bãi bồi Việc khai thác và nuôi trồng thủy hải sản đã mang lại nhiều lợi ích kinh tế, tuy nhiên, vẫn còn manh mún, chưa đảm bảo chất lượng, cũng như chưa phát triển tương xứng với tiềm năng Riêng đối với ngành nuôi trồng thủy hải sản tại hai huyện ven biển Nghĩa Hưng và Giao Thủy, hiệu quả kinh

Trang 17

tế đem lại rất lớn nếu gặp điều kiện thời tiết thuận lợi, giá cả thị trường ổn định Nhưng khu vực này thường xuyên chịu ảnh hưởng của những cơn bão xâm nhập mặn, thay đổi môi trường sống của thủy hải sản, dẫn đến năng suất giảm đáng kể, hiệu quả kinh tế không cao

Hệ thống rừng ngập mặn (RNM) tự nhiên của 2 huyện đã tạo ra khu vực ĐDSH cao, có nhiều loài chim di cư quý hiếm tầm cỡ quốc tế có thể phát triển thành khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước, là vùng trọng điểm phát triển rừng, nhất là rừng phòng hộ ven biển Diện tích rừng của 2 huyện khoảng 1.213,18 ha, chiếm 8,3% diện tích bãi bồi, trong khi diện tích đất chưa sử dụng khoảng 2.576,53 ha, chiếm 18% diện tích bãi bồi

Đây cũng là một trong số những hệ sinh thái quan trọng nhất trên trái đất được ví như lá phổi xanh của một vùng với các giá trị đặc thù như đa dạng sinh học, phong phú nguồn gen, duy trì hệ sinh thái tự nhiên năng suất cao, điều hòa khí hậu, lọc sạch nước thải, bảo tồn các giá trị văn hóa lịch sử, du lịch sinh thái và nghiên cứu khoa học Nông, lâm, ngư nghiệp vẫn đóng vai trò chủ yếu trong sự phát triển kinh tế xã hội của vùng, đặc biệt là nuôi trồng

và khai thác thủy sản ở vùng bãi bồi ngoài đê, mặt khác nhiệm vụ bảo tồn đa dạng sinh học, duy trì bảo vệ môi trường cũng là trọng yếu Tuy nhiên xu hướng biến động sử dụng đất ở vùng đệm trong những năm qua phụ thuộc chủ yếu vào hiệu quả kinh tế, ít tính đến những tác động môi trường và xã hội

ở vùng đệm, việc sử dụng đất hướng tới mục tiêu phục hồi và bền vững ở vùng lõi chưa được như yêu cầu

Một trong các nguyên nhân đó là do thiếu những nghiên cứu chuyên sâu, thiếu cơ sở khoa học trong sử dụng đất bền vững cho vùng bãi bồi đặc thù này Tuy nhiên, kinh tế vùng ven biển tỉnh Nam Định chưa phát triển xứng đáng với tiềm năng, tài nguyên môi trường khai thác chưa hợp lí, môi trường chưa được quan tâm đúng mức Để góp phần nâng cao giá trị trong sử

Trang 18

dụng đất, từng bước cải thiện đời sống người dân thì việc đánh giá đúng tiềm năng và lợi thế so sánh của đất đai trên địa bàn tỉnh là rất cần thiết nhằm xác định được hướng bố trí, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên địa bàn tỉnh đạt tiềm năng cao và bền vững là mục tiêu quan trọng Chính vì vậy, để khắc phục những khó khăn đó và phát huy thế mạnh vùng ven biển việc

nghiên cứu đề tài “Đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng

cao hiệu quả sử dụng đất bãi bồi ven biển trên địa bàn huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định” có ý nghĩa thực tiễn và mang tính cấp thiết

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá thực trạng sử dụng đất bãi bồi ven biển huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định

- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất bãi bồi ven biển huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

Dựa trên nghiên cứu của các nhà khoa học về tiềm năng sử dụng đất bãi bồi ven biển và từ những kết quả nghiên cứu thu thập được từ đó đưa ra những đánh giá khách quan nhất về thực trạng sử dụng đất bãi bồi ven biển và

đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất bãi bồi ven biển trên địa bàn huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn tốt nghiệp khi hoàn thành có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho địa phương và cho các nghiên cứu khác trong quản lý và sử dụng đất bãi bồi ven biển cũng như trong công tác quy hoạch của địa phương

Góp phần hoàn thiện và cung cấp cơ sở cho huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định để từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất bãi bồi ven biển một cách hiệu quả và hợp lý

Trang 19

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Toàn bộ diện tích đất đất bãi bồi ven biển trên địa bàn huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định thuộc 6 xã ven biển

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian:

+ Đề tài được tiến hành tại huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định

+ Đề tài tập trung vào các loại hình sử dụng đất bãi bồi tại huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định

- Phạm vi thời gian: Hệ thống số liệu, tài liệu phục vụ đề tài được nghiên cứu từ năm 2015 trở lại đây

Trang 20

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở khoa học

Đất đai là một trong những yếu tố cơ bản để phát triển các ngành kinh

tế xã hội, mức độ ảnh hưởng của đất đai đến sự phát triển của các ngành khác nhau Việc đánh giá đất đai về mặt lượng và chất theo khả thích hợp đối với từng mục đích sử dụng đất lâu dài nhằm khai thác, sử dụng đất tiết kiệm và hợp lý

Đánh giá đúng hiện trạng và tiềm năng đất đai là căn cứ để xác định mức độ thích nghi của đất đai đối với một loại hình nào đó, việc đánh giá sẽ đưa ra dự báo khoa học về sự thích hợp của đất, nhằm mục đích phát huy đầy

đủ tiềm năng đất đai, xác định phương hướng sử dụng đất hợp lý, đem lại hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường Ngược lại nếu không đánh giá đúng hiện trạng và khả năng thích ứng của từng loại đất đối với các mục đích sử dụng thì hiệu quả sử dụng đất thấp, dẫn đến hủy hoại đất, gây hậu quả nghiêm trọng cho môi trường sinh thái cũng như sự tồn tại và phát triển của xã hội

Trên cơ sở nghiên cứu các công trình nghiên cứu khoa học của nhiều tác giả về đánh giá tiềm năng sử dụng đất bãi bồi ven biển, cũng như chính sách đất đai ở Việt Nam, học viên đúc kết những kinh nghiệm và đưa ra hướng nghiên cứu cho riêng mình

1.1.1 Khái niệm đất bãi bồi ven biển

1.1.1.1 Trên thế giới

Có nhiều định nghĩa khác nhau được dùng để diễn tả một cửa sông ven biển, các nhà khoa học trên thế giới đã đề nghị sử dụng một định nghĩa phù hợp của Fairbridge đã đưa ra năm 1980:

“Một cửa sông là một nhánh của biển đi vào một dòng sông đến nơi mà mực nước cao nhất của thủy triều còn vươn tới, thường được chia thành 3 phần khác nhau:

Trang 21

a) phần biển hay phần cửa sông thấp, nối liền với biển khơi;

b) phần cửa sông trung, nơi diễn ra sự pha trộn chính của nước biển và nước ngọt;

c) phần cửa sông cao, chi phối bởi nước ngọt nhưng còn tác động của thủy triều

Giới hạn giữa 3 phần này không cố định và biến động theo lượng nước ngọt đổ ra từ sông” (Fairbridge, 1980) [4]

Các cửa sông ven biển thường được phân loại dựa trên hai cơ sở chính là: chế độ dòng chảy của sông - biển và đặc điểm địa hình, địa mạo cửa sông Trên thế giới có các dạng cửa sông chính như sau: dạng cửa sông đồng bằng ven biển (châu thổ - Coastal plain), cửa sông dạng vịnh hẹp (hình phễu - Fjords), cửa sông dạng bao chắn (Bar-built), cửa sông dạng kiến tạo (Tectonic)

Nhìn chung tại các cửa sông ven biển đều được phân thành ba vùng đặc trưng như sau:

- Tiểu vùng trên triều là phần đất phía trên cao hơn mức triều cực đại, đất có một phần bị nhiễm mặn Nằm trong giới hạn của vùng cửa sông nhưng

do khoảng cách đối với nước mặn khác nhau, do sự cách ly khỏi biển sớm hay muộn bởi các hệ thống đê đập, do sức cải tạo của con người mà cấu trúc và đặc tính của đất thay đổi, hàm lượng tổng số muối tan giảm dần phù hợp với

sự canh tác của cây trồng hoặc các đầm nuôi thủy sản

- Tiểu vùng triều là nơi ngập nước có chu kỳ là các bãi bùn, bãi cát phẳng thích hợp với cây rừng ngập mặn, đầm nuôi thủy hải sản hoặc nhuyễn thể

- Tiểu vùng dưới triều chiếm diện tích lớn nhất, luôn ngập nước thuộc phần trong của thềm lục địa, chỉ thích hợp nuôi thủy sản dạng lồng bè hoặc đánh bắt thủy sản tự nhiên

Trang 22

1.1.1.2 Ở Việt Nam

Đất có mặt nước ven biển là đất có mặt nước biển ngoài đường mép nước (đường mép nước biển triều kiệt trung bình trong nhiều năm), không thuộc địa giới hành chính của tỉnh đang được sử dụng; bao gồm đất mặt nước ven biển nuôi trồng thủy sản, đất mặt nước ven biển có rừng, đất mặt nước ven biển có mục đích khác

Vùng biển ven bờ được tính từ bờ biển (ngấn nước khi thủy triều thấp nhất) đến đường nối liền các điểm cách bờ biển 24 hải lý và được phân thành hai tuyến: Tuyến bờ là vùng biển được tính từ bờ biển đến đường nối liền các điểm cách bờ biển 6 hải lý; tuyến lộng là vùng biển được tính từ đường cách

bờ biển 6 hải lý đến đường nối các điểm cách bờ biển 24 hải lý

Như vậy đất bãi bồi ven biển khái quát như sau: Đất bãi bồi ven biến là các khu vực đất được hình thành do sự bồi tích hoặc do hiện tượng biển thoái,

có vị trí liền kề hoặc gần với đất liền, được tính từ đê biển đến bờ biển (đường mép nước biển triều kiệt trung bình trong nhiều năm)

Ven biển là vùng sinh thái rất quan trọng, hết sức nhạy cảm và dễ bị biến đổi Xét về mặt hình dạng và các quá trình bồi tụ, có thể chia các vùng cửa sông thành 2 loại chính là:

- Vùng cửa sông châu thổ: Là những cửa sông dạng tam giác, cụ thể là cửa sông Hồng, và sông Cửu Long Vùng cửa sông châu thổ sông Hồng bao gồm các cửa sông như: Trà Lý, Ba Lạt, Đáy, Càn và cửa sông Mã Độ mặn trung bình vào mùa lũ tại các cửa sông nước hoàn toàn ngọt, vào mùa khô độ mặn trung bình tương đối cao Vùng cửa sông thuộc châu thổ sông Cửu Long khá bằng phẳng, độ nghiêng thấp (l cm/km), có chế độ bán nhật triều, hệ thống kênh rạch rất phát triển Thể nền sình lầy mạnh, đất bị nhiễm mặn và phèn khá rộng

- Vùng cửa sông hình phễu là những cửa sông tồn tại ở những nơi đang

Trang 23

có sự lún chìm kiến tạo nhung không được đền bù, chịu ảnh hưởng của hoạt động thuỷ triều mạnh Quá trình xâm thực của nước biển, sự bào mòn bờ và thung lũng sông làm cho lòng sông sâu hơn, cửa sông ngày một mở rộng như cái phễu loe ra biển như cửa sông Bạch Đằng, cửa Soài Rạp (Đồng Nai)

Đối với Việt Nam, giai đoạn hước đây, khái niệm về đất BBVB hầu như chưa được đề cập và làm rõ trên phương diện văn bản hành chính, cũng như khoa học, tuy nhiên trong thời gian gần đây khái niệm này bắt đầu được quan tâm thảo luận nhưng cũng không nhiều:

Đất bãi bồi ven sông, ven biển bao gồm đất bãi bồi ven sông, đất cù lao trên sông, đất bãi bồi ven biển và đất cù lao trên biển [5] Đất bãi bồi là đất được hình thành ven sông, ven cù lao trên sông do phù sa bồi tụ [6] Ở góc độ khác, theo Viện Ngôn ngữ (2002): Bãi là khoảng đất bồi ven sông, ven biển hoặc nổi lên ở giữa dòng nước lớn Như vậy có thể thấy, đến nay khái niệm đất BBVB ở Việt Nam đã có, nhưng chưa thực sự rõ ràng và chưa có tiêu chí

để lượng hóa Như vậy việc thao tác, làm rõ khái niệm của đất BBVB là một yêu cầu đặt ra đối với luận án này

Hiện không có một khái niệm chính xác về đất bãi bồi ven sông ven biển Nhưng có thể hiểu đất bãi bồi là đất hoang hóa, đất mới do phù sa bồi đắp lên Có những vùng bãi bồi ven biển đã hình thành, ổn định và hoàn toàn không ngập nước; nhưng có những vùng bãi bồi ven biển nửa chìm nửa nổi, chỉ quan sát được tất cả hoặc một phần khi triều kiệt hoặc có những vùng bãi bồi ven biển ngập nước hoàn toàn Các vùng bãi bồi ven biển ổn định và hoàn toàn không ngập nước có thể phục vụ cho phát triển dân sinh và các mục tiêu kinh tế khác; còn phần bán ngập nước hoặc ngập nước hoàn toàn rất giàu dinh dưỡng về thổ nhưỡng, phong phú và đa dạng về tài nguyên sinh vật; biến động phức tạp về môi trường và chế độ thủy thạch động lực, đặc biệt là ở vùng các cửa sông Các vùng bãi bồi ven biển ngập nước hoàn toàn thường

Trang 24

kéo dài từ bờ biển ra đến độ sâu 6 m Đất bãi bồi đã được luật hóa và đưa vào Luật đất đai 2003 nhưng việc quản lý chưa thật sự hiệu quả và chặt chẽ, còn nhiều vướng mắc Luật đất đai 2013 đã có nhiều quy định khắc phục tình trạng này phân định rõ quyền quản lý, quyền sử dụng, quyền sở hữu đất bãi bồi

1.1.2 Đặc điểm hình thành và tính chất đất vùng cửa sông đồng bằng Sông Hồng

Đất vùng cửa sông ven biển vùng đồng bằng sông Hồng được hình thành do quá trình bồi tụ phù sa của sông Hồng và sông Thái Bình theo quy luật lắng đọng phù sa và hỗn hợp phù sa sông biển nơi có sự ảnh hưởng giữa nước phù sa ngọt và nước thủy triều mặn Ðất thường được phân bố ở địa hình hơi thấp trũng, khu vực ngoài đê chịu ảnh hưởng của thủy triều, thích hợp với nhiều loại cây trồng chịu mặn và nuôi trồng thủy sản; khu vực trong

đê đất được thục hóa, quá trình rửa trôi không xảy ra hoặc xảy ra rất yếu, trong khi quá trình tích tụ xảy ra khá phổ biến làm đất có độ phì tự nhiên cao.Tùy thuộc vào cấu tạo địa chất, địa hình, mẫu chất phù sa của lưu vực sông khác nhau đã hình thành ra các loại có thành phần khoáng vật, tính chất

lý và hóa học khác nhau bao gồm: đất mặn, đất phèn, đất phù sa và đất cát biển [7]

1.1.2.1 Đất mặn (M) – SalicFluvisols (FLS)

Nhóm đất mặn vùng cửa sông ven biển đồng bằng sông Hồng có diện tích 136.430 ha Đất thường có màu nâu tươi hoặc nâu nhạt do bị nhiễm mặn nên có sắc tím Nhìn chung đất có độ nhiễm mặn không cao, trừ đất mặn sú vẹt đước.Tính chất mặn do chịu tác động trực tiếp và thường xuyên của thủy triều tràn dâng hoặc do nước mạch theo mao quản leo lên các lớp mặt hoặc do muối tích lũy trong đất Phần lớn đất giàu chất hữu cơ, đạm tổng số trung bình, lân và kali tổng số cao, kali dễ tiêu rất giàu [8]

Trang 25

Sự hình thành đất mặn của vùng cửa sông ven biển Đồng bằng sông Hồng là sản phẩm bồi tụ phù sa của sông Hồng và sông Thái Bình có sự tương tác sông - biển Trong thành phần bùn cát của sông Hồng và sông Thái Bình giàu bùn sét và cát phấn li mông, bởi vậy trong đất ngập mặn ở đây có thành phần cơ giới từ thịt đến sét [9]

Thuộc loại đất ngập mặn không có phèn tiềm tàng, đất có phản ứng trung tính đến kiềm yếu (pHH2O 7-8),- Thành phần cơ giới của đất khá phức tạp, từ đất cát rời đến đất cát pha, đất thịt và có cả đất sét tùy theo vị trí địa lý

và tác dụng bồi lắng do ảnh hưởng của rừng ngập mặn Ngoài ra, nhiều nơi đất còn có tầng cát rời hoặc cát pha nằm xen lẫn trong các phẫu diện đất, ở các độ sâu khác nhau Đặc điểm này có ảnh hưởng lớn đến sự phân bố và sinh trưởng của rừng ngập mặn ven biển Độ thành thục của đất thể hiện rõ trên đất thịt và sét, vùng này không có đất ngập mặn thành thục, do tốc độ quai đê lấn biển thực hiện rất nhanh Độ thành thục của đất phổ biến ở mức thấp (sét mềm và sét) và rất thấp (bùn loãng) Độ thành thục của đất có quan hệ chặt chẽ tới sự phân bố và sinh trưởng của các loại rừng ngập mặn

Kết quả nghiên cứu của Hồ Quang Đức và cộng sự (2010) cho thấy tại vùng cửa sông ven biển đồng bằng sông Hồng, nhóm đất mặn được phân thành 3 loại chính là: Đất mặn sú vẹt đước (Mm), đất mặn nhiều (Mn), đất mặn trung bình và ít (Mi) tùy theo hàm lượng tổng số muối tan có trong đất

1.1.2.2 Đất phèn (S)-Thionic Fluvisols (FLT)

Nhóm đất phèn của vùng cửa sông ven biển đồng bằng sông Hồng có diện tích 78.616 ha Ðất có mực nước ngầm nông do đó thường xuất hiện quá trình glây hóa trong các tầng đất ẩm thường xuyên ở bên dưới, hiện tượng glây làm đất có màu xanh xám hay màu xanh nhạt được tạo bởi các hợp chất chứa Fe2+

trong điều kiện yếm khí thường xuất hiện ở địa hình trũng Quá trình glây mạnh làm đất bị mất cấu trúc và chứa nhiều chất độc ở dạng khử

Trang 26

Fe2+, Mn2+, H2S gây ra các ảnh hưởng xấu đối với cây trồng (Nguyễn Văn Cư, 2006).Trong điều kiện ngập nước quanh năm đất yếm khí, lưu huỳnh tồn tại dưới dạng H2S cùng với sắt hình thành FeS2 Khi môi trường ở trạng thái ôxy hóa FeS2 chuyển thành sunphat sắt và axit sunphuric làm cho đất trở nên rất chua hàm lượng nhôm di động cao [10]

Đất phèn tập trung ở hai bên hạ lưu của sông Thái Bình, phân bố chủ yếu từ cửa Hóa đến cửa Diêm Điền Đặc điểm nổi bật của nhóm đất này là có tầng tích phèn ở độ sâu 40-80 cm, chứa nhiều phèn màu gỉ sắt và trắng xám, lượng S042- hòa tan trên tầng mặt từ 0,24-0,35%, ở tầng phèn tới 0,5% với

pHKCl = 4 Chất dinh dưỡng trong đất nghèo và giảm theo độ sâu Song nhờ đất ở đây có thành phần cơ giới nhẹ, nhiều nơi là cát nên tính chất phèn không mạnh Khả năng bốc phèn kém nên trên đất phèn vẫn được trồng lúa, cói và hoa màu

1.1.2.3 Đất phù sa (P) - Fluvisols (FL)

Theo kết quả đánh giá chất lượng đất vùng ven biển đồng bằng sông Hồng của Bộ Tài nguyên và Môi trường (2010) cho thấy ở vùng cửa sông ven biển, nhóm đất phù sa chủ yếu là đất phù sa trung tính ít chua bị nhiễm mặn,

có phản ứng trung tính đến kiềm nhẹ, thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến trung bình Đất khá giàu đạm và lân tổng số, kali tổng số trung bình đến khá Loại đất này vẫn có thể trồng các giống lúa chịu mặn, các cây trồng rau màu (cà chua, dưa, bí xanh, đỗ, ngô…) và cây công nghiệp ngắn ngày như lạc, vừng

1.1.2.4 Đất cát (C) – Arenosols (AR)

Là nhóm đất chưa được ổn định do chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của thủy triều, sóng, lũ và dòng chảy ven bờ Đất có thành phần cơ giới nhẹ, có màu xám, xám trắng nhạt lẫn vảy mica, khi bị ngập nước dễ biến thành cát chảy, không có kết cấu và thường xuyên khô hạn; đất có phản ứng trung tính hoặc kiềm yếu, nghèo chất hữu cơ và đạm tổng số, dung tích hấp thu của đất rất

Trang 27

thấp, khả năng giữ nước và các chất dinh dưỡng kém; độ bão hòa bazơ cao Những cồn cát ngoài đê có thể bị nhiễm mặn do tác động của nước biển dâng hoặc triều cường

1.1.3 Vai trò và ý nghĩa của đất bãi bồi ven biển trong sản xuất nông, lâm, ngƣ nghiệp

Sử dụng đất bãi bồi để làm đất ở: Dân số ngày một tăng, mà quỹ đất

nội vùng thì cố định nên đất bãi bồi hình thành có vai trò quan trọng trong việc tạo thêm đất ở mới cho nhân dân, tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho nhân dân, xoá đói giảm nghèo Trong trồng trọt: Đất bãi bồi có những ưu điểm cơ bản là thành phần cơ giới thường là sét, sét pha cát, cát mịn, tơi xốp dễ làm đất lại phân bố ở vùng đồng bằng phù họp cho nhiều loại cây trồng phát triển nhất là các cây có đặc tính chịu mặn như cói

Trong chăn nuôi: Vùng đồng bằng ven biển có nhiều sông ngòi, đặc

biệt nơi có cửa sông lớn đổ ra biển thường hình thành các đầm phá, cồn bãi rất thích họp cho việc chăn nuôi gia cầm (nhất là thuỷ cầm như vịt, ngan) phải kể đến tiềm năng to lớn của vùng ven biển là NTTS

Trong lâm nghiệp: Đất bãi bồi thích họp cho việc trồng rừng phòng hộ

ven biển, những cây phù họp thường là sú, vẹt, sậy có tác dụng trong việc chắn sóng hạn chế thiên tai, tích tụ phù sa và là nơi cư trú cho rất nhiều loài chim, nhiều loài thuỷ sinh vật, thảm thực vật tạo nên sự đa dạng về sinh học

Trong các lĩnh vực khác: Tạo thêm cơ sở cho đầu tư thúc đẩy quá trình

công nghiệp hoá - hiện đại hoá (CNH - HĐH) và xây dựng nông thôn mới như: công nghiệp, xây dựng, giao thông, thuỷ lợi và có khả năng phát triển du lịch sinh thái biển, mang lại hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, tăng cường ngân sách cho địa phương Ngoài ra đất bãi bồi còn làm bàn đạp để tiến ra

Trang 28

biển, là căn cứ hậu phương của các hoạt động đánh bắt xa bờ, NTTS biến, hàng hải ven bờ và trên đại dương

1.1.4 Nguyên tắc sử dụng đất bãi bồi ven biển

Đất BBVB phải được sử dụng đầy đủ hợp lý Điều này có ý nghĩa là toàn bộ diện tích đất cần được sử dụng hết vào sản xuất, với việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù họp với đặc điểm kinh tế kỹ thuật của từng loại đất nhằm nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi đồng thời gìn giữ, bảo vệ và nâng cao độ phì nhiêu của đất

Đất BBVB phải được sử dụng đạt hiệu quả cao: Đây là kết quả của việc sử dụng đầy đủ, hợp lý đất đai, việc xác định hiệu quả sử dụng đất thông qua tính toán hàng loạt các chỉ tiêu khác nhau như: năng suất cây trồng, chi phí đầu tư, hệ số sử dụng đất, giá cả sản phẩm Muốn nâng cao hiệu quả sử dụng đất phải thực hiện tốt, đồng bộ các biện pháp kỹ thuật và chính sách kinh tế xã hội trên cơ sở đảm bảo an toàn về lương thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và nông lâm sản cho xuất khẩu

Đất BBVB cần phải được quản lý và sử dụng một cách bền vững Sự bền vững ở đây là sự bền vững cả về số lượng và chất lượng, có nghĩa là đất đai phải được bảo tồn không chỉ đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà còn cho thế hệ tương lai Sự bền vững của đất đai gắn liền với điều kiện sinh thái môi trường, vì vậy các phương thức sử dụng đất BBVB phải nên gắn liền với việc bảo vệ môi trường đất nhằm đáp ứng được lợi ích trước mắt và lâu dài

Như vậy để sử dụng triệt để và có hiệu quả đảm bảo cho quá trình sản xuất của đất được liên tục thì việc tuân thủ những nguyên tắc trên là việc làm hết sức quan trọng đối với bất cứ một lãnh thổ hay quốc gia nào

1.1.5 Quan điểm sử dụng đất bãi bồi ven biển

Trong thời đại ngày nay, hầu hết các nước có biển đều nhận định vai

Trang 29

trò của vùng ven bờ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và những vấn đề môi trường cấp bách

Vùng ven bờ biển là khoảng không gian chuyển tiếp giữa lục địa với biển Vùng ven bờ biển có bản chất khác hẳn vói các vùng biển và lục địa lân cận Vùng bờ biển là một hệ thống cân bằng động - hệ bờ biển Tại đây luôn xảy ra các quá trình tương tác biển - lục địa Đới ven bờ có chứa nhiều hệ tự nhiên cấp nhỏ hơn như: Hệ vùng cửa sông, đầm phá, vũng, vịnh nhỏ, các bãi cát biển, đất ngập nước, vùng đất ven biển Các hệ này có bản chất tự nhiên, có giá trị tài nguyên, môi trường đất khác nhau, do đó đòi hỏi phải

có những phương thức tiếp cận, khai thác, sử dụng, bảo vệ, phát triển và quản lý phù hợp

Theo tài liệu của Hội thảo khoa học: “Quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên và môi trường đất ngập nước cửa sông ven biển” do Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường - Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức năm 1999 thì: nghiên cứu về các vùng đất ven biển, các nhà khoa học trên thế giới tổng két vùng ven biển có một số đặc trưng quan trọng sau đây:

- Đa dạng các hệ sinh thái, phong phú nơi cư trú, giàu có các nguồn lợi tài nguyên Các đặc trưng về địa lý, động lực, thuỷ văn, môi trường ở vùng ven bờ thường xuyên thay đổi

- Là nơi lý tưởng cho mọi hoạt động của con người, từ du lịch, vui chơi giải trí, đánh bắt hải sản trên biển đến vận tải biển, phát triển khai thác dầu khí, khoáng sản và an ninh quốc phòng

- Là nơi tập trung dân cư, các trung tâm kinh tế, các khu công nghiệp

Xu thế đô thị hoá và công nghiệp, thương mại hoá vùng ven bờ ngày càng phát triển mạnh mẽ

- Luôn nảy sinh và tồn tại sự cạnh tranh, tranh chấp giữa các xu thế phát triển tự nhiên biển - lục địa, phát triển kinh tế - xã hội Luôn có mâu

Trang 30

thuẫn quyền lợi trong quá trình khai thác và sử dụng, đó là nguyên nhân và nguy cơ tiềm năng phá vỡ tính thống nhất các chức năng của hệ tài nguyên môi trường vùng ven bờ

Đới ven bờ biển cung cấp mặt bằng, nguyên vật liệu, thực phẩm và bảo

vệ con người Hiện nay, bờ biển trở nên quan trọng trong phát triến công nghiệp, du lịch, nghỉ ngơi và bảo tồn Vùng ven bờ biến là nơi tập trung hầu hết các hoạt động kinh tế, xã hội, quân sự, là bàn đạp và cơ sở hậu cần cho các chương trình khai thác, phát triến các vùng biến và đại dương Hơn 50% dân số (khoảng 3,2 tỷ người) trên trái đất đang sống tập trung dọc theo bờ biển, có nghĩa là một nửa dân số đang sống tập tmng trong một vùng có diện tích chỉ chiếm 10% tổng diện tích trái đất Ở Việt Nam có khoảng 25% dân số tập trung ở vùng ven bờ trên diện tích khoảng 66 nghìn km2 (chiếm khoảng 20% tổng diện tích toàn quốc) Dự đoán đến năm 2025 có khoảng 75% dân số trên thế giới sẽ sống tập trung ở các vùng ven biển, chính vì vậy, vùng ven bờ

là nơi biếu hiện rõ nét, gay gắt các mâu thuẫn giữa khai thác, sử dụng và bảo

vệ tài nguyên, nguồn lợi và môi trường

Đánh giá về nguồn tài nguyên biến các nhà nghiên cứu trên thế giới chỉ

ra rằng, nguồn lợi ở vùng ven bờ, ở biển và đại dương không phải là vô tận, khả năng tự làm sạch của chúng là có giới hạn, do đó phương thức tập trung khai thác triệt để các nguồn lợi phong phú, đa dạng của biển đã không còn thích họp nữa trong giai đoạn hiện nay và tương lai mà phải thay đổi, lấy tư tưởng chủ đạo là khai thác, bảo vệ và phục hồi các nguồn lọi tài nguyên môi trường một cách bền vững Hiện trạng môi trường cũng như các biện pháp bảo vệ, nâng cao chất lượng môi trường đối với ven bờ rất phức tạp và đa dạng Tính phức tạp và đa dạng này vốn là bản chất của các vấn đề và được quy định bởi tính phức tạp và đa dạng của trình độ dân trí, văn hoá và phát triển kinh tế của từng khu vực Ngày nay khi nói đến vấn đề môi trường,

Trang 31

người ta thường nghĩ ngay đến các hiện tượng như cạn kiệt các nguồn lợi tài nguyên thiên nhiên, nạn ô nhiễm nặng nề về môi trường sống, sự suy giảm tầng Ozon, mưa axit, sa mạc hoá, tai biến thiên nhiên và thiên tai ngày càng gay gắt, đa dạng sinh học ngày càng suy giảm

Bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế là ước nguyện và mục tiêu của mỗi người dân Ngày nay, khi vấn đề môi trường đang trở nên cấp bách, nóng bỏng và khó giải quyết nhất trong quá trình phát triển thì nhu cầu thống nhất các tư tưởng chỉ đạo nghiên cứu, đánh giá hiện trạng môi trường và nhất quán

về quan điểm khoa học, kinh tế, xã hội trong việc đề xuất các giải pháp quản

lý, ngăn ngừa và cải thiện môi trường là hết sức cần thiết

Vì những lý do trên đây, quản lý tông họp vùng ven bờ được xem là cách tiếp cận hiệu quả, tích cực và hoàn thiện nhất Mặc dù có mâu thuẫn, nhưng sự kết hợp giữa mục đích kinh tế và bảo vệ môi trường cần được xác định một cách nhất quán, cần coi đó là nguyên tác cơ bản trong quá trình phát triển bền vững

Các biện pháp tổng họp đối với quản lý vùng ven bờ được biết đến dưới nhiều tên gọi và chữ viết khác nhau, trong đó gồm có: Quản lý tổng họp vùng ven bờ (ICZM-Intergrated Coastal Zone Managemment); quản lý tổng hợp ven biển (ICM- Intergrated Coastal Managemment); quản lý tổng họp vùng biển và ven biển (IMCAM- Intergrated Marine anh Coastal Area Managemment); quản lý tổng hợp vùng ven biển (ICAM- Intergrated Coastal Area Managemment) Mặc dù có rất nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý tổng họp vùng ven bờ nhưng sự khác nhau giữa chúng là rất ít Hầu hết các định nghĩa trên đều thừa nhận rằng quản lý tổng hợp vùng ven bờ là một quy trình có tính liên tục, tính tiên phong trong việc thực hiện và có khả năng thích nghi cao nhằm quản lý nguồn tài nguyên cho sự phát triển bền vững vùng ven bờ Quản lý tổng họp vùng ven bờ phải đạt được mục tiêu của nó

Trang 32

trong các điều kiện hạn chế về môi trường, kinh tế, xã hội và tự nhiên cũng như trong hạn chế của các hệ thống và thể chế về mặt pháp lý, tài chính và hành chính

Quản lý vùng ven bờ biển là quản lý mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, đa mục tiêu, đa chức năng, đa ngành Đó là mối quan hệ biện chứng: có sự hỗ trợ và xung đột, mâu thuẫn, về bản chất, quản lý tổng hợp vùng ven bờ là nghệ thuật lồng ghép các kế hoạch phát triển và các chưong trình bảo vệ môi trường, tài nguyên trong vùng Quản lý tống họp được thiết

kế để khắc phục phương pháp quản lý phân cấp tại vùng giáp ranh đất - biển

và bảo đảm sự phát triển hài hoà cho tất cả các ngành kinh tế và có thể chấp nhận được về mặt xã hội và chính trị vấn đề đặt ra là phải sử dụng các chính sách, phương pháp và công cụ quản lý họp lý, dung hoà được các mâu thuân

để phát triển bền vững Tư tưởng chủ đạo của chương trình quản lý tổng hợp

là phải tìm các công cụ thực hiện điều khiển các quá trình trong hệ sinh thái kinh tế biển, nhằm hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của các hoạt động kinh

tế đối với môi trường, tạo tiền đề để thiết kế một nền kinh tế tối ưu theo những tiêu chuẩn sau:

- Sử dụng tối thiểu sức lao động của xã hội trong quá trình khai thác và

sử dụng tài nguyên Phân bố và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên

- Bảo đảm chất lượng môi trường để vùng ven bờ, vùng biển và đại dương có điều kiện đáp ứng hoàn toàn những nhu cầu đời sống về vật chất ngay trong hiện tại và tương lai

a Quan điểm sử dụng đất bãi bồi ven biển của thế giới

Hiện nay trên thế giới có 2 quan điểm về khai thác, sử dụng đất BBVB

mà Việt Nam có thể tham khảo và rút ra bài học kinh nghiệm cho mình:

- Nhóm quan điểm thứ nhất cho rằng không nên khai thác, sử dụng đất ven sông, đất BBVB Các quốc gia ủng hộ quan điểm này cho rằng việc khai

Trang 33

thác, sử dụng loại đất này sẽ dẫn đến rất nhiều hậu quả không thể không quan tâm: Trước hết khai thác, sử dụng đất BBVB sẽ làm phá vỡ hệ sinh thái ven sông và gây ra nhiều rủi ro khó lường; Quá trình khai thác, sử dụng đất BBVB sẽ làm ô nhiễm trực tiếp và nhanh nhất đến nguồn nước các con sông

do sự rửa trôi của chất hóa học, chất cấm trong quá trình sử dụng đất làm nguy hại đến chất lượng nước và các nguồn lợi thủy sản Những hậu quả này khi xảy ra, muốn khắc phục nó sẽ tốn chi phí lớn hơn rất nhiều lần so với hiệu quả do quá trình tiến hành khai thác, sử dụng đất BBVB đem lại Để chứng

minh quan điểm này, Johnston et al (2015) đã thực hiện một nghiên cứu

với bộ công cụ đánh giá định lượng để đo lường, so sánh và rút ra kết luận nếu giữ nguyên hệ sinh thái tự nhiên và chỉ có những can thiệp vừa phải thì hiệu quả sẽ lớn hơn nhiều so với đem nó vào khai thác sử dụng vào mục tiêu kinh tế

- Nhóm quan điểm thứ 2 cho rằng cần phải khai thác, sử dụng loại đất này Một số quốc gia trong số này thừa nhận những hậu quả mà nhóm quan điểm thứ nhất đưa ra Tuy nhiên, do các áp lực khác nhau, cộng với những giá trị có thể đem lại từ đất BBVB (khai thác về cảnh quan, sinh thái; thực hành sản xuất nông nghiệp; phi nông nghiệp ) nên buộc phải sử dụng, vấn

đề là cần phải kiểm soát tốt để hạn chế các tác động bất lợi từ quá trình khai thác sử dụng

b Quan điểm sử dụng đất bãi bồi ven biển của Việt Nam

Đối với Việt Nam, cho đến thời điểm hiện nay tuy chưa thể hiện quan điểm cụ thể, nhưng thực tế đang diễn ra theo nhóm các quốc gia có quan điểm thứ 2 Bằng chứng cho thấy đến nay, Việt Nam chưa xác định, khoanh vùng được khu vực nào, con sông nào cần phải kiểm soát, hạn chế sử dụng đất BBVB và khu vực nào được khai thác sử dụng tối đa Chúng ta cũng chưa có một nghiên cứu sâu, tổng thể đánh giá kinh tế, kỹ thuật nào về việc so sánh

Trang 34

những giá trị mất đi và giá trị thu được khi cho phép sử dụng triệt để đất BBVB như hiện nay

Vì chưa có quan điểm riêng cho nên việc sử dụng đất BBVB hướng đến: Khai thác triệt để, sử dụng toàn bộ quỹ đất đai vào các mục đích cụ thể, không để tình trạng còn đất trống, hoang hóa Sử dụng đất họp lý, tiết kiệm, hiệu quả, đúng pháp luật, lấy giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích đất đai làm thước đo để bố trí cây trồng, vật nuôi, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển các khu công nghiệp, thương mại du lịch theo quy hoạch và kế hoạch Gắn khai thác sử dụng với nhiệm vụ bồi dưỡng tái tạo, làm tăng độ phì cho đất chống suy thoái đất, gắn lợi ích kinh tế với bảo vệ môi trường, bảo đảm sử dụng đất bền vững lâu dài ;Sử dụng đất BBVB gắn với bảo vệ

đê điều, nhất là hệ thống các sông lớn, có lưu vực rộng

Một số năm trở lại đây, Việt Nam đang tích cực đề cao quan điểm “Sử dụng đất bền vững”, áp dụng cho mọi loại đất, trong đó có đất BBVB Sử dụng đất bền vững [11] được xác định theo 5 nguyên tắc: Duy trì và nâng cao các hoạt động sản xuất (năng suất) Giảm mức độ rủi ro đối với sản xuất (an toàn) Bảo vệ tiềm năng của các nguồn tài nguyên tự nhiên, chống lại sự thoái hóa chất lượng đất và nước (bảo vệ) Khả thi về mặt kinh tế (tính khả thi) Được xã hội chấp nhận (sự chấp nhận) 5 nguyên tắc trên được coi là những trụ cột của sử dụng đất đai bền vững Neu thực tế diễn ra đồng bộ các mục tiêu thì khả năng bền vững sẽ đạt được Nếu chỉ đạt một hay vài mục tiêu mà không phải là tất cả thì khả năng bền vững chỉ mang tính bộ phận, đơn lẻ

Theo đề xuất của ủy ban thế giới về Môi trường và Phát triển đưa ra năm 1987, khái niệm bền vững được nhiều nhà khoa học trên thế giới và trong nước nêu ra hướng vào 3 yêu cầu sau: Bền vững về mặt kinh tế: cây hồng cho hiệu quả kinh tế cao, được thị trường chấp nhận, Bền vững về môi trường: sử dụng đất phải bảo vệ độ phì đất, ngăn chặn sự thoái hoá đất, bảo vệ

Trang 35

được môi trường tự nhiên, Bền vững về xã hội: Thu hút được lao động, đảm bảo đời sống xã hội, không tạo ra những tác động xấu đến xã hội

Tuy nhiên như đã nói ở trên, riêng với đất BBVB, việc đưa ra quan điểm cụ thể đối với sử dụng bền vững loại đất này như thế nào, vẫn chưa được thực hiện Đây là vấn đề cần được tiếp tục bàn thảo và đề xuất trong nghiên cứu này

1.1.6 Các xu hướng trong sử dụng đất bãi bồi ven biển

Sử dụng đất BBVB theo hướng thâm canh và tập trung Lịch sử phát triển của xã hội loài người cũng chính là lịch sử biến đổi của quá trình sử dụng đất Khi con người sống bằng phương thức săn bắn và hái lượm, dựa vào tự nhiên và thích ứng với tự nhiên để tồn tại, vấn đề sử dụng đất hầu như hình thành Xã hội phát triến cao hơn, ngành trồng trọt ra đời với những công

cụ sản xuất thô sơ, diện tích đất đai được sử dụng tăng lên nhanh chóng, cùng với đó là sức sản xuất và tầm quan trọng của đất đai trong đời sống xã hội, tuy nhiên trình độ sử dụng đất còn thấp, phạm vi sử dụng không lớn, đất khai phá nhiều nhưng thu nhập thấp Xã hội phát triển, cùng với sự tăng trưởng của dân số, sự phát triến của kinh tế và khoa học kỹ thuật thì quy mô, phạm vi và chiều sâu của việc sử dụng đất ngày một cao Các ngành nghề trong sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản cũng phát triển theo hướng phức tạp và đa dạng dần do đó phạm vi sử dụng đất ngày càng được mở rộng, thậm chí ở cả những vùng đất trước đây không sử dụng được Cùng với việc sử dụng đất theo không gian, trình độ sử dụng đất cũng được nâng lên thông qua đầu tư, thâm canh nâng cao sức sản xuất của đất

Sử dụng đất BBVB theo hướng đa dạng hóa và từng bước chuyển sang chuyên môn hóa: KHKT và kinh tế của xã hội phát triển, sử dụng đất BBVB

từ hình thức quảng canh chuyến sang thâm canh đã kéo theo xu hướng đa dạng hóa và chuyên môn hóa trong việc sử dụng đất Thực tế cho thấy khi

Trang 36

mức sống còn thấp, đất sử dụng chủ yếu vào sản xuất nông, lâm nghiệp nhằm giải quyết nhu cầu thường ngày với mục đích đủ cơm ăn áo mặc, nhà ở Khi đời sống cao hơn, nhu cầu hưởng thụ của con người nhiều hơn, sử dụng đất không chỉ thỏa mãn nhu cầu vật chất mà còn thỏa mãn nhu cầu vui chơi giải trí, điều này làm cho cơ cấu sử dụng đất BBVB đa dạng hơn Tiến bộ khoa học kỹ thuật cũng đã cho phép con người tăng khả năng chinh phục tự nhiên, các biện pháp khoa học kỹ thuật đã được áp dụng nhằm tăng sức sản xuất của đất đáp ứng nhu cầu xã hội Khi khoa học phát triển đất đai được sử dụng triệt

để hơn, ngay cả đất xấu cũng được khai thác sử dụng Hình thức sử dụng đa dạng và theo hướng toàn diện, triệt để, nâng cao sức sản xuất, tăng khối lượng sản phẩm phục vụ con người Hiện đại hóa nền kinh tế và phát triển theo hướng kinh tế hàng hóa dẫn đến sự phân công trong sử dụng đất theo hướng chuyên môn hóa Đe sử dụng họp lý đất đai, đạt được sản lượng và hiệu quả kinh tế cao nhất thì cần có sự phân công và chuyên môn hóa sử dụng đất theo khu vực

Sử dụng đất BBVB theo hướng phân công xã hội: Sự phát triển của KHKT và xã hội dẫn tới việc xã hội hóa trong sản xuất Trong một quốc gia hoặc ở một phạm vi lớn hơn, mỗi vùng đất có thể chỉ sản xuất chủ yếu một loại sản phẩm nào đó và hỗ trợ bổ sung cho các vùng khác để hình thành nên

sự phân công hợp tác mang tính xã hội hóa trong sản xuất, cũng như xã hội hóa trong việc sử dụng đất Đất đai là cơ sở vật chất và công cụ để con người sinh sống và xã hội tồn tại Vì vậy việc chuyên môn hóa theo yêu cầu của xã hội hóa sản xuất phải đáp ứng nhu cầu của xã hội, hướng tới lợi ích cộng đồng và tiến bộ xã hội Xã hội hóa việc sử dụng đất là sản phẩm tất yếu và yêu cầu khách quan của xã hội hóa sản xuất Muốn kinh tế phát triển và thúc đẩy xã hội hóa cao hơn trong sản xuất, cần phải thực hiện phân công xã hội trong việc sử dụng đất

Trang 37

1.1.7 Một số vấn đề cơ bản về hiệu quả sử dụng đất bãi bồi ven biển

a Khải niệm về hiệu quả

Hiệu quả là một quan hệ tương quan so sánh giữa kết quả đạt được theo mục tiêu đã được xác định với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó

- Quan niệm về hiệu quả

Khai thác bãi bồi cần đảm bảo hiệu quả kinh tế Trước đây khai thác các bãi bồi là để khai hoang di dân, tạo thêm đất nông nghệp và nơi ở cho số dân nghèo không có đất canh tác ở nội đồng Vào những thời kỳ đó hiệu quả nhằm đạt được là tạo dựng nơi sinh sống cho một bộ phận dân cư, lúc này hiệu quả kinh tế thường không được đặt ra mà quan trọng là đạt được hiệu quả xã hội Hiện nay trong khai thác các bãi bồi cần chú ý đến hiệu quả kinh

tế bên cạnh hiệu quả xã hội Trong việc khai thác bãi bồi hiệu quả kinh tế thể hiện ở sử dụng đất đai, mặt nước, sử dụng đồng vốn, sử dụng sức lao động mang lại lợi nhuận cao vốn đầu tư cần được thu hồi nhanh trong thời gian ngắn, hiệu quả kinh tế còn thể hiện ở sự lựa chọn ngành sản xuất, phương thức sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế cao Điều này khác với khai hoang lấn biển trước đây ở chỗ, trước kia người ta chỉ quan tâm đến trồng cây lương thực để đảm bảo đủ lương thực cho người dân đi khai hoang Ngày nay chúng

ta đã có điều kiện để lựa chọn loại sản xuất mang lại giá trị kinh tế cao hơn

mà đất đai mặt nước ở bãi bồi có những điều kiện thuận lợi để phát triển Hiệu quả kinh tế cần được tính cho các hộ nông dân đi khai thác bãi bồi, cho những người bỏ vốn đầu tư, cho địa phương và cho cả nước

Khai thác bãi bồi cần tính đền hiệu quả xã hội Dân số nước ta đang trên đà phát triển Vì vậy, dân số ngày càng tăng lên trong khi đất đai nông nghiệp trong nội đồng ngày càng giảm đi do phải chuyển mục đích sử dụng đất sang phát triển giao thông, xây dựng các công trình văn hóa, các công trình phúc lợi, công trình công nghiệp Do vậy diện tích đất nông nghiệp tính

Trang 38

bình quân cho mỗi người dân ngày càng giảm, cho nên bãi bồi là một ân huệ thiên nhiên ban tặng cần được sử dụng có hiệu quả, trước hết là để tăng diện tích đât sản xuất nông nghiệp cho nông dân Bãi bồi cần được khai thác để góp phần nâng cao đời sống nhân dân địa phương, đảm bảo cho họ cuộc sống

ổn định và ấm no

Bãi bồi ngày càng tiến ra biển, trở thành mảnh đất tiền tiêu của tổ quốc Cần sử dụng bãi bồi để làm bàn đạp làm điểm xuất phát để phát triển kinh tế biển, một lợi thế của địa phương và của nước ta mà cho đến nay đang ở dạng tiềm năng đang được khơi dậy Mặt khác, bãi bồi là căn cứ hậu cần của đánh bắt thủy sản xa bờ của hàng hải và nhiều hoạt động khác trên biển, trong đó

có các hoạt động an ninh và quốc phòng

- Nội dung bản chất của phạm trù hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế xã hội phản ánh mặt chất của các hoạt động sản xuất kinh doanh và là đặc trưng cho mọi hình thái xã hội Bản chất của hiệu quả kinh tế có thể được hiểu như sau:

Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế khách quan, nhưng nó không phải là mục đích cuối cùng của sản xuất Bản chất thực sự của nó chính là thước đo duy nhất chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh Hiệu quả kinh tế đóng vai trò phản ánh trình độ thực hiện các nhu cầu xã hội, vì vậy nền sản xuất có hiệu quả thì phải đạt được kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất trên cơ sở ứng dụng tiến bộ KHKT vào sản xuất, đây cũng chính là chất lượng của quá trình hoạt động sản xuất Muốn nâng cao chất lượng của hoạt động sản xuất thì không chỉ dừng lại ở việc đánh giá hiệu quả mà còn phải thông qua nó tìm ra giải pháp để thúc đẩy sản xuất phát triển ở mức độ cao hơn

Trong thực tế sản xuất, người sản xuất luôn mong đạt được nhiều lượng sản phẩm hữu ích với việc tiết kiệm ít nhất các yếu tố đầu vào, do vậy ta có

Trang 39

thể hiểu bản chất của hiệu quả kinh tế là việc thực hiện tối ưu quan hệ giữa yếu tố đầu vào và đầu ra

- Phân loại hiệu quả:

Hiệu quả bao gồm 3 bộ phận: hiệu quả xã hội, hiệu quả kinh tế và hiệu quả môi trường

+ Hiệu quả xã hội: là đại lượng phản ánh mức độ thực hiện các mục tiêu xã hội của Doanh nghiệp hoặc mức độ ảnh hưởng của các kết quả đạt được của một đơn vị sản xuất hay một tổ chức, cá nhân đến xã hội Nó đánh giá chủ yếu về mặt xã hội của hoạt động sản xuất

Hiệu quả Xã hội thường biểu hiện qua mức độ thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của xã hội, giải quyết việc làm, cải thiện điều kiện lao động

và bảo vệ môi sinh

+ Hiệu quả kinh tế: Là kết quả chỉ xét trên phương diện kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh Nó mô tả mối tương quan giữa lợi ích kinh tế

mà doanh nghiệp đạt được với chi phí đã bỏ ra để đạt được lợi ích đó Nó đánh giá hoạt động sản xuất chủ yếu về mặt kinh tế

+ Hiệu quả môi trường: là hiệu quả của việc làm thay đổi môi trường

do hoạt động sản xuất gây ra như xói mòn, ô nhiễm đất, nước

Trong ba loại hiệu quả trên, hiệu quả kinh tế đóng vai trò quyết định và

nó được đánh giá đầy đủ khi được kết họp với hiệu quả xã hội và môi trường

b Những nhân tổ ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất bãi bồi ven biển

- Điều kiện tự nhiên:

Đất BBVB là vùng đất mới được hình thành sau quá trình trầm tích hàng ngàn năm, thành phần chủ yếu là sét, sét pha cát và cát mịn dễ bị rửa trôi, khả năng chứa nước hầu như không có, nền đất thường yếu không thích hợp với những công trình có tải trọng lớn

Trang 40

Là vùng đất nằm ngay giáp biển nên chịu tác động trực tiếp của các buổi triều cường sóng to, nhất là khi bão gió xảy ra (hàng năm đồng bằng ven biển bắc bộ chịu ảnh huởng trực tiếp từ 3 - 5 cơn bão đổ bộ trực tiếp và chịu ảnh huởng gián tiếp từ 6 - 8 cơn bão khác) làm xói lở đất, phá vỡ đê kè, hủy hoại môi trường Nên ảnh hưởng rất lớn đến việc quản lý sử dụng các hoạt động, các quy trình sản xuất trên đất bãi bồi theo các mục tiêu phát triển đã đề

ra từ trước

- Kiến thức địa bàn và kỉnh nghiệm truyền thống

BBVB là địa bàn có truyền thống văn hóa và kinh nghiệm, tập quán sản xuất phong phú Phần lớn dân cư đã gắn bó với điều kiện sinh thái nông nghiệp, NTTS của địa phương cư trú từ nhiều đời Bởi vậy, mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc đều tích lũy và đúc kết được một hệ thống kiến thức sản xuất bản địa phù hợp với địa lý sinh thái và tập quán đời sống ở từng khu vực, cụ thể, trong hệ thống sản xuất bản địa có không ít kinh nghiệm, tập quán sản xuất mang tính tiến bộ thích nghi và hòa nhập cao giữa con người với các điều kiện tự nhiên

- Thị trường nông lâm thủy sản

Ớ Việt Nam thị trường nông lâm thủy sản cũng đang một đa dạng và lớn dần lên, nhất là hiện nay đang trong thời kỳ hội nhập vói quốc tế, đặc biệt sau khi nước ta trở thành thành viên của hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) năm 1995 và gia nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO Với việc gia nhập khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) thì nước ta lại càng có cơ hội để trao đổi hàng hóa, dịch vụ và thị trường lại càng được mở rộng yêu cầu về chủng loại và chất lượng hàng hóa nông, lâm, thủy sản cũng ngày một cao hơn

- Các chính sách

Hệ thống chính sách trong thời kỳ đổi mới nói chung và các chính sách

cụ thể về giao đất, giao rừng, chính sách bảo vệ và phát triển rừng, chính sách

Ngày đăng: 01/03/2019, 11:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w