1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc điểm lý, hoá của đất trong rừng ngập mặn trồng và rừng ngập mặn tự nhiên tại bãi bồi cửa sông ba lạt

79 64 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÝ, HOÁ CỦA ĐẤT TRONG RỪNG NGẬP MẶN TRỒNG VÀ RỪNG NGẬP MẶN TỰ NHIÊN TẠI BÃI BỒI CỬA SÔNG BA LẠT CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG VÕ VĂN THÀNH HÀ

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÝ, HOÁ CỦA ĐẤT TRONG RỪNG NGẬP MẶN TRỒNG VÀ RỪNG NGẬP MẶN TỰ

NHIÊN TẠI BÃI BỒI CỬA SÔNG BA LẠT

CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

VÕ VĂN THÀNH

HÀ NỘI, NĂM 2019

Trang 3

Cán bộ hướng dẫn chính: PGS.TS Mai Sỹ Tuấn

Cán bộ chấm phản biện 1: TS Mai Văn Tiến

Cán bộ chấm phản biện 2: TS Nguyễn Hùng Minh

Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại:

HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN THẠC SĨ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

Ngày 21 tháng 01 năm 2019

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu do cá nhân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Mai Sỹ Tuấn, không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Số liệu và kết quả của luận văn chưa từng được công bố ở bất kỳ một công trình khoa học nào khác

Các thông tin thứ cấp sử dụng trong luận văn là có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đầy đủ, trung thực và đúng qui cách

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Võ Văn Thành

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn thạc sĩ với tên đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lý, hoá của đất trong rừng ngập mặn trồng và rừng ngập mặn tự nhiên tại bãi bồi cửa sông Ba Lạt” Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Mai Sỹ Tuấn, PGS.TS Nguyễn

Thị Hồng Hạnh, TS Phạm Hồng Tính và TS Bùi Thị Thư đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và động viên giúp tôi hoàn thành bài báo cáo luận văn này

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn thầy Nguyễn Xuân Tùng – Cán bộ thuộc Trung tâm Nghiên cứu hệ sinh thái Rừng ngập mặn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội cùng với chính quyền địa phương xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình,

xã Giao Thiện, huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định và ban quản lý vườn Quốc gia Xuân Thuỷ đã tạo điều kiện tốt nhất để tôi có thể đi thực địa và cung cấp những kiến thức quý báu cũng như chia sẻ tài liệu, dữ liệu liên quan tới luận văn

Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến quý thầy cô Khoa Môi trường, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đã tận tình giảng dạy và truyền đạt những kiến thức quý giá trong suốt thời gian học cao học tại trường

Cảm ơn các anh chị, bạn bè cùng tất cả các em - Những người bạn đồng hành trong quãng thời gian học cao học, những người đã luôn sát cánh, giúp đỡ, động viên và là nguồn động lực để tôi vươn lên

Trân trọng cảm ơn đề tài “Nghiên cứu xây dựng mô hình dự báo xu hướng thay đổi hệ sinh thái rừng ngập mặn trong bối cảnh biến đổi khí hậu ở các tỉnh ven biển Bắc Bộ”, mã số TNMT.2018.05.06 đã hỗ trợ kinh phí thực địa, điều tra và phân tích mẫu

Do thời gian và kiến thức còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót vì vậy tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy – cô để luận văn được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 21 tháng 01 năm 2019

HỌC VIÊN

Võ Văn Thành

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC HÌNH vii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Nội dung nghiên cứu 2

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Tổng quan về rừng ngập mặn 4

1.1.1 Khái niệm 4

1.1.2 Sự phân bố và diện tích của rừng ngập mặn 4

1.2 Đặc điểm về hình thái và sinh thái ở một số kiểu rừng ngập mặn 7

1.3 Một số nghiên cứu về cấu trúc rừng ngập mặn 10

1.3.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới 10

1.3.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam 11

1.4 Một số nghiên cứu về ảnh hưởng của đặc điểm lý, hoá đến sự sinh trưởng và phát triển rừng ngập mặn 12

1.4.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới 12

1.4.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam 16

1.4.3 Tại khu vực cửa sông Ba Lạt 19

1.5 Tổng quan về địa điểm nghiên cứu 20

1.5.1 Vị trí địa lý 20

1.5.2 Đặc điểm địa hình, địa mao 20

1.5.3 Đặc điểm thổ nhưỡng 21

1.5.4 Đặc điểm khí hậu, thủy - hải văn 21

Trang 7

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 26

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 26

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 26

2.2 Thời gian nghiên cứu 27

2.3 Phương pháp nghiên cứu 27

2.3.1 Phương pháp tổng hợp và kế thừa 27

2.3.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 27

2.3.3 Phương pháp đo đạc, đánh giá một số đặc điểm cấu trúc của cây ngập mặn 29 2.3.4 Phương pháp lấy mẫu đất và phân tích các chỉ tiêu lý hóa của đất 30

2.3.5 Phương pháp phân tích, thống kê và xử lý số liệu 31

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33

3.1 Đặc điểm cấu trúc của các kiểu rừng ngập mặn khu vực cửa sông Ba Lạt 33

3.1.1 Đặc điểm về chiều cao 33

3.1.2 Đặc điểm về đường kính thân 34

3.1.3 Đặc điểm về mật độ cây rừng 35

3.2 Đặc điểm lý, hoá theo độ sâu tầng đất tại các kiểu rừng ngập mặn khu vực cửa sông Ba Lạt 37

3.2.1 Đặc điểm lý học 37

3.2.2 Đặc điểm hóa học 45

3.3 Đánh giá và so sánh các đặc điểm lý, hoá của đất trong các kiểu rừng ngập mặn tại bãi bồi cửa sông Ba Lạt 52

3.3.1 Đặc điểm lý học của đất ở các kiểu rừng ngập mặn 52

3.3.2 Đặc điểm hoá học của đất ở các kiểu rừng ngập mặn 56

3.4 Đề xuất một số giải pháp quản lý, bảo vệ rừng ngập mặn khu vực cửa sông Ba Lạt 59

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62

KẾT LUẬN 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO 63 PHỤ LỤC Error! Bookmark not defined

Trang 8

TN&MT Tài nguyên và Môi trường

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Thành phần loài cây rừng ngập mặn theo ngưỡng độ mặn Goa 13

Bảng 2.1 Tọa độ địa lý của các ô tiêu chuẩn tại khu vực khảo sát 28

Bảng 3.1: Đặc điểm về chiều cao của cây ở các kiểu rừng 33

Bảng 3.2: Đặc điểm về đường kính thân cây ở các kiểu rừng 34

Bảng 3.3: Đặc điểm về mật độ cây ở các kiểu rừng 36

Bảng 3.4: Đặc điểm về độ mặn của đất ở các kiểu rừng 38

Bảng 3.5: Đặc điểm về Eh của đất ở các kiểu rừng 39

Bảng 3.6: Đặc điểm về pH của đất ở các kiểu rừng 41

Bảng 3.7: Kết quả phân tích thành phần cơ giới của đất ở các kiểu rừng 43

Bảng 3.8: Đặc điểm về hàm lượng mùn của đất ở các kiểu rừng 46

Bảng 3.9: Đặc điểm về hàm lượng nito của đất ở các kiểu rừng 48

Bảng 3.10: Đặc điểm về hàm lượng photpho của đất ở các kiểu rừng 50

Bảng 3.11: Đặc điểm về hàm lượng kali của đất ở các kiểu rừng 51

Bảng 3.12: Một số đặc điểm lý học của đất ở các kiểu rừng 52

Bảng 3.13: Thành phần cơ giới của đất ở các kiểu rừng 55

Bảng 3.14: Một số đặc điểm hoá học của đất ở các kiểu rừng 56

Bảng 3.15: Kỹ thuật trồng khuyến nghị đối với một số loài cây RNM khu vực cửa sông Ba Lạt 60

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Sơ đồ các nội dung liên kết của luận văn 32

Hình 1.2: Sơ đồ vị trí địa lý khu vực nghiên cứu 20

Hình 2.1: Vị trí khu vực nghiên cứu 26

Hình 2.2: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 28

Hình 3.1: Đặc điểm về chiều cao của cây ở các kiểu rừng……… 33

Hình 3.2: Đặc điểm về đường kính thân cây ở các kiểu rừng 35

Hình 3.3: Đặc điểm về mật độ cây ở các kiểu rừng 37

Hình 3.4: Đặc điểm về độ mặn của đất ở các kiểu rừng 38

Hình 3.5: Đặc điểm về Eh của đất ở các kiểu rừng 40

Hình 3.6: Đặc điểm về pH của đất ở các kiểu rừng 42

Hình 3.7: Tỉ lệ thành phần cơ giới của đất ở các kiểu rừng 45

Hình 3.8: Đặc điểm về hàm lượng mùn của đất ở các kiểu rừng 47

Hình 3.9: Đặc điểm về hàm lượng nito của đất ở các kiểu rừng 49

Hình 3.10: Đặc điểm về hàm lượng photpho của đất ở các kiểu rừng 50

Hình 3.11: Đặc điểm về hàm lượng kali của đất ở các kiểu rừng 52

Hình 3.12: Độ mặn trung bình của đất ở các kiểu rừng 53

Hình 3.13: Eh của đất trung bình của đất ở các kiểu rừng 54

Hình 3.14: pH trung bình của đất ở các kiểu rừng 54

Hình 3.15: Tỉ lệ cấp hạt của đất ở các kiểu rừng 56

Hình 3.16: Hàm lượng mùn của đất ở các kiểu rừng 57

Hình 3.17: Hàm lượng nito của đất ở các kiểu rừng 58

Hình 3.18: Hàm lượng photpho của đất ở các kiểu rừng 58

Hình 3.19: Hàm lượng kali của đất ở các kiểu rừng 59

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Rừng ngập mặn (RNM) là hệ sinh thái chuyển tiếp giữa môi trường biển và môi trường nước ngọt, RNM có vai trò to lớn về kinh tế - xã hội, môi trường và sinh thái Hệ sinh thái RNM cho năng suất sinh học cao, là nơi cung cấp nguồn vật liệu hữu cơ cho hệ động vật, đảm bảo duy trì ổn đinh sự đa dạng sinh học của vùng biển

và ven biển, góp phần đảm bảo thực hiện đầy đủ các dịch vụ hệ sinh thái vốn có của chúng Có hệ sinh thái đa dạng đã giữ được ổn định cho các chuỗi và lưới thức ăn, đảm bảo tuần hoàn chu trình vật chất: Chu trình cacbon, nito, photpho, chu trình nước Đây là một trong các hệ sinh thái có năng suất sinh học cao nhất trong các hệ sinh thái, nên việc quản lý, bảo tồn và duy trì khả năng lưu giữ cacbon trong cây, trong đất và nước cần được nghiên cứu và làm rõ [12]

Rừng ngập mặn tại các địa điểm khác nhau thuộc ven biển Việt Nam hay các vùng khác nhau trên thế giới có sự đa dạng rất lớn về cấu trúc và chức năng, đây là kết quả của các yếu tố tổng hợp bao gồm địa hình vùng đất, thể nền, vĩ độ và chế độ thủy triều, thủy văn, khí hậu Do sự đa dạng về mật độ, chiều cao và đường kính thân nên sinh khối thực vật trên mặt đất có sự biến động rất lớn, từ khoảng 8 Mg/ha

ở các vùng RNM thấp lùn tới trên 500 Mg/ha ở các vùng RNM gần cửa sông tại vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương (Kauffman và cộng sự, 2011 [54]) Tương tự, sự biến động của sinh khối thực vật, các yếu tố lý hóa khác trong đất RNM cũng có các giá trị hoàn toàn khác nhau phụ thuộc vào thành phần loài, hình thái và cấu trúc rừng Các nghiên cứu đã cho thấy, RNM tích lũy cacbon và các chất dinh dưỡng nhiều nhất trong lớp đất có độ sâu từ bề mặt tới khoảng 3 m dưới mặt đất, đặc biệt trữ lượng cacbon trong đất chiếm từ 49 - 98% trong tổng trữ lượng cacbon của các

hệ sinh thái (HST) này (Donato và cộng sự, 2011 [45])

Ngoài việc tập trung nghiên cứu trữ lượng cacbon trong hệ sinh thái RNM (bao gồm cacbon trong sinh khối và cacbon trong đất), một số nghiên cứu trong nước và quốc tế đã có những nghiên cứu bước đầu về đặc điểm lý hóa của đất RNM Vì diện tích RNM phân bố ở nhiều vùng khác nhau với các yếu tố môi

Trang 12

trường rất đa dạng nên giá trị cacbon tích lũy cũng như các đặc điểm lý hóa của đất RNM biến đổi vô cùng đa dạng Ở phía Bắc Việt Nam, từ đầu những năm 2000 một

số nghiên cứu về cacbon tích lũy trong sinh khối và đất đã được tiến hành ở các vùng RNM mới trồng bởi Ha và cộng sự (2004) [48], Cuc và cộng sự (2009) [44], Nguyễn Thị Hồng Hạnh (2009) [8], Hien và cộng sự (2018) [50] Tuy nhiên, nghiên cứu về đặc điểm lý hóa học của đất RNM ven biển miền Bắc Việt Nam còn hạn chế, trong đó có RNM khu vực cửa Ba Lạt

Xuất phát từ nhận thức trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm lý, hoá của đất trong rừng ngập mặn trồng và rừng ngập mặn tự nhiên tại bãi bồi cửa sông Ba Lạt”

Nghiên cứu này tập trung đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của các kiểu rừng ngập mặn trong các điều kiện môi trường (thể nền) khác nhau Kết quả nghiên cứu cung cấp thông tin, nguồn tư liệu, là cơ sở cho các nhà hoạch định

và quản lý rừng trong việc lựa chọn cây, kiểu rừng như thế nào cho thực sự phù hợp

và hiệu quả

2 Mục tiêu nghiên cứu

Xác định và đánh giá được mối quan hệ giữa thực vật ngập mặn với đặc điểm

lý, hóa học của đất trong rừng ngập mặn trồng và rừng ngập mặn tự nhiên tại bãi bồi cửa sông Ba Lạt

Đề xuất được một số giải pháp về quản lý, bảo vệ rừng ngập mặn tại bãi bồi khu vực cửa sông Ba Lạt

3 Nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc của rừng ngập mặn trồng và rừng ngập mặn tự nhiên tại khu vực bãi bồi cửa sông Ba Lạt: Mật độ cây rừng, đường kính thân cây và chiều cao cây

Nghiên cứu đặc điểm lý, hóa của đất ở rừng ngập mặn trồng và rừng ngập mặn

tự nhiên tại khu vực bãi bồi cửa sông Ba Lạt: pH, Eh, độ mặn, thành phần cơ giới của đất; hàm lượng mùn, nito, photpho, kali trong đất

Trang 13

Xác định mối quan hệ giữa thực vật ngập mặn ở rừng ngập mặn trồng và rừng ngập mặn tự nhiên với các đặc điểm lý, hóa của đất tại bãi bồi của sông Ba lạt

Đề xuất một số giải pháp quản lý, bảo vệ rừng ngập mặn tại khu vực bãi bồi cửa sông Ba Lạt

Trang 14

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan về rừng ngập mặn

1.1.1 Khái niệm

Rừng ngập mặn là những quần xã thực vật hình thành ở vùng ven biển và cửa sông những nơi bị tác động của thủy triều ở vùng nhiệt đới và Á nhiệt đới Trên thế giới có nhiều tên gọi khác nhau về rừng ngập mặn như “rừng ven biển”, “rừng ở vùng thủy triều” và “rừng ngập mặn” (FAO, 1994) [47] Ở Việt Nam, hầu hết các nhà khoa học đều thống nhất tên gọi chung là “Rừng ngập mặn” (Ngô Đình Quế,

Võ Đại Hải, 2012) [24]

Theo Phan Nguyên Hồng (1997) [13], các cây ngập mặn sống ở vùng chuyển tiếp giữa môi trường biển và đất liền, tác động của các yếu tố sinh thái ảnh hưởng đến phân bố của chúng, cây ngập mặn là những cây gỗ và cây bụi thường xanh, thuộc nhiều họ không hề có quan hệ thân thuộc với nhau nhưng có những đòi hỏi như nhau về sinh cảnh RNM là kiểu thảm thực vật đặc trưng cho vùng ven biển nhiệt đới và á nhiệt đới Theo Thái Văn Trừng (1999) [37], giới hạn kiểu phụ thổ nhưỡng RNM vào đất mặn bùn lầy, bị ngập nước biển hàng ngày hoặc từng thời kỳ, trong đó có chứa chủ yếu muối NaCl và các loại muối khác với tỷ lệ ít hơn

1.1.2 Sự phân bố và diện tích của rừng ngập mặn

Các công trình nghiên cứu trên thế giới

Trên thế giới RNM phân bố chủ yếu ở vùng ven biển nhiệt đới và cận nhiệt đới hai bán cầu, trong khoảng 32º Bắc và 38º Nam, dọc bờ biển Châu Phi, Châu Đại Dương, Châu Á và Châu Mỹ

Năm 2010 các nhà khoa học cho biết sau khi phân tích dữ liệu từ Hệ thống

vệ tinh chụp ảnh Trái đất (Landsat) của NASA, họ ước tính RNM còn tồn tại chiếm 12,3% diện tích bề mặt Trái đất (tương đương khoảng 137.760 km²) và phân bố trên

123 nước trên thế giới Các rừng ngặp mặn phân bố trong phạm vi rộng ở các vùng biển ấm Vị trí xa nhất của RNM ở Bắc bán cầu là vịnh Agaba thuộc Hồng Hải (300B) và Nam Nhật Bản (320B); ở Nam bán cầu là Nam Autralia (380N), đảo

Trang 15

Chatham và phía Tây New Zeyland (440N) (Blasco F., 1984; Molony B và Sheaves M., 1995) [40]

Trong đó có khoảng 42% RNM trên thế giới được tìm thấy tại châu Á, theo sau là châu Phi với 21%, 15% thuộc Bắc và Trung Mỹ, 12% tại châu Đại Dương và cuối cùng là Nam Mỹ với 11% Diện tích RNM lớn nhất là tại Indonesia chiếm tới 21%, Brasil chiếm khoảng 9% và Úc chiếm 7% tổng diện tích RNM trên thế giới Con số trên sẽ tiếp tục giảm trong tương lai, RNM toàn cầu đang biến mất nhanh chóng do biến đổi khí hậu làm mực nước biển dâng cao, phá rừng để phát triển kinh

tế ven biển, làm nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản Theo báo cáo mới đây của Liên Hợp Quốc năm 2010, sự biến mất của các khu RNM nhanh hơn gấp 4 lần so với các khu rừng trên cạn

Theo Đài Quan sát Trái đất (EO) của NASA, Indonesia có 17.000 hòn đảo nhỏ và chiếm gần ¼ diện tích RNM trên thế giới Tuy nhiên, các khu rừng này đã bị giảm một nửa trong ba thập kỷ qua - cụ thể giảm từ 4,2 triệu ha năm 1982 xuống còn 2 triệu trong năm 2000 Trong phần rừng còn lại, có gần 70% là “trong tình trạng nguy kịch và bị thiệt hại nặng” [36]

Các công trình nghiên cứu tại Việt Nam

Theo Đề án phục hồi và phát triển rừng ngập mặn ven biển giai đoạn

2008-2015 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển ông thôn (đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Công văn số 405/TTg-KTN ngày 16/3/2009), vùng ven biển nước ta

có thể chia làm 5 vùng Tổng diện tích quy hoạch cho mục đích phát triển rừng ngập mặn là 323.712 ha [36]

Trong đó có 209.741 ha đã có rừng (152.131 ha là rừng trồng và 57.610 ha là rừng tự nhiên), phân bố tại các vùng như sau:

Vùng ven biển tỉnh Quảng Ninh và đồng bằng Bắc Bộ (QN&ĐBBB), gồm 5 tỉnh (Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình): 88.340 ha Trong đó, diện tích có rừng 37.651 ha Phân bố chủ yếu ở tỉnh Quảng Ninh

Trang 16

Vùng ven biển Bắc Trung Bộ (BTB), gồm 6 tỉnh (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh,Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế): 7.238 ha Trong đó, diện tích có rừng 1.885 ha Phân bố chủ yếu ở tỉnh Thanh Hóa

Vùng ven biển Nam Trung Bộ (NTB): gồm 6 tỉnh (Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và Khánh Hòa): 743 ha Trong đó, diện tích có rừng không đáng kể

Vùng ven biển Đông Nam Bộ (ĐNB): gồm 5 tỉnh (Ninh Thuận, Bình Thuận,

Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai và Thành phố Hồ Chí Minh): 61.110 ha Trong đó, diện tích có rừng là 41.666 ha Phân bố chủ yếu ở thành phố Hồ Chí Minh

Vùng ven biển đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL): gồm 8 tỉnh (Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Kiên Giang và Cà Mau): 166.282 ha Trong đó diện tích có rừng 128.537 ha Phân bố chủ yếu ở các tỉnh Cà Mau và Kiên Giang

Dựa vào các yếu tố địa lý, khảo sát thực địa và một phần kết quả ảnh viễn thám, Phan Nguyên Hồng, 1991 [12] đã chia RNM Việt Nam thành 4 khu vực và 12 tiểu khu:

- Khu vực I: Ven biển Đông Bắc, từ mũi Ngọc đến mũi Đồ Sơn

- Khu vực II: Ven biển đồng bằng Bắc Bộ, từ mũi Đồ Sơn đến mũi Lạch Trường

- Khu vực III: Ven biển Trung Bộ, từ mũi Lạch Trường đến mũi Vũng Tàu

- Khu vực IV: Ven biển Nam Bộ, từ mũi Vũng Tàu đến mũi Nải - Hà Tiên Khác với các hệ sinh thái rừng ở đồi núi, hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển

là một hệ sinh hở Trong quá trình di chuyển lên xuống hàng ngày của nước triều vùng ven biển, đặc biệt ở những nơi có biên độ triều lớn 3 m – 4,5 m đã mang ra khỏi rừng ngập mặn từ 20% - 40% tổng sản phẩm chất hữu cơ của rừng trả lại cho đất hàng năm qua cành rơi lá rụng

Tại khu vực cửa sông Ba Lạt

Cửa Ba Lạt là nơi tập trung các loài cây ngập mặn chủ yếu phân bố ở khu vực

ven biển đồng bằng Bắc Bộ, với các loài ngập mặn chủ yếu như trang (Kandelia

Trang 17

ovovata), sú (Aegiceras corniculatum), đước vòi (Rhizophora stylosa), mắm biển (Avicennia marina), bần chua (Sonneratia caseolaris), ô rô (Acanthus ilicifolius)

Chỉ tính riêng khu vực vườn Quốc gia Xuân Thuỷ, rừng ngập mặn chiếm diện tích khoảng 2.670 ha, được phân bố ở khu vực Cồn Lu, Cồn Ngạn và Bãi Trong Rừng phát triển từ các cây rừng ngập mặn trên đất phù sa, thường xuyên bị ngập lụt trong thủy triều

Vào những năm cuối thập kỉ 80, đầu 90 phong trào làm đầm nuôi tôm phát triển đã phá rừng ngập mặn làm đầm Từ năm 1997, được hội chữ thập đỏ Đan Mạch tài trợ trồng rừng ngập mặn, hiện nay khu vực có khoảng 1.600 ha rừng trồng mới Thành phần loài chủ yếu là trang, đước, bần chua (Phan Nguyên Hồng, 1999) [13]

1.2 Đặc điểm về hình thái và sinh thái ở một số kiểu rừng ngập mặn

1.2.1 Rừng thuần loài Bần chua (Sonneratia caseolaris)

Cây bần chua (Sonneratia caseolaris) thuộc họ Bần (Sonneratiaceae), bộ Sim (Myrtales) Đây là một trong 3 loài cây ngập mặn thuộc chi bần (Sonneratia),

phân bố ở vùng nước lợ cửa sông ven biển Việt Nam

Đặc điểm hình thái

Bần chua (Sonneratia caseolaris) là cây thân gỗ có chiều cao từ 5 – 15m (có

khi có cây cao tới 20m) Cây phân nhiều cành, tán rộng, rễ hô hấp hình chông phát triển, lan rộng quanh gốc theo hình phóng xạ, không có trụ mầm, tán rộng, thân cây trơn

Rễ gốc to, khoẻ, mọc sâu trong đất bùn Từ rễ mọc ra nhiều rễ thở thành từng khóm quanh gốc, rễ thở có chiều dài từ 50 đến 90cm, đường kính khoảng 7cm Vỏ cây màu xám, bong từng mảng

Lá đơn, mọc đối, dày, giòn, hơi mọng nước, hình bầu dục hoặc trái xoan ngược hay trái xoan thuôn, dài từ 5 - 13cm, rộng từ 3 - 5cm Lá non hình ngọn giáo, cuống màu đỏ nhạt Cuống và một phần gân chính màu đỏ, gân giữa nổi cả ở hai mặt, cuống dài 0,5 – 1,5cm

Trang 18

Hoa to dài 17,5 – 25mm, rộng 1,2mm, nhị dính vào ống dài, phần trên có màu trắng, phần dưới màu hồng đỏ, có nhị hình sợi dài 35 – 45mm khi non cuộn lại phía trong, khi nở các nhị bung ra làm cho hoa có kích thước lớn Quả hơi dẹp đường kính 3 – 5cm, trong mỗi quả có từ 500 – 2500 hạt (Nguyễn Hoàng Trí, 1999) [35]

Quả: quả mọng, đường kính 3 – 5cm, cao 1,5 – 2cm, gốc có thuỳ đài xoè ra Hạt nhiều, dẹt

Cây bần phù hợp với điều kiện sống trên nền bùn mềm, thiếu ôxy, chịu tác động của thủy triều, gió biển…đã có hình thức thích nghi độc đáo là phát triển hệ rễ

hô hấp dày đặc mọc ra từ các rễ bên nằm ngang ở gần mặt đất và đâm thẳng lên không khí

Đặc tính sinh thái

Loài bần (Sonneratia caseolaris) là loài cây ưa sáng và mọc được ở nơi có

nước mặn hay nước lợ Đây là loài cây tiên phong điển hình để phát triển RNM ven biển và các bãi bồi ven sông Sự phong phú của quần tụ này tùy thuộc theo mức nước lợ và chế độ thủy triều Trên thế giới, bần mọc hoang và được trồng nhiều ở Châu Phi, Mianma, Thái lan, Việt Nam, Campuchia, Philippin, Indonesia, … Ở Việt Nam, cây bần mọc hoang và được trồng ở rừng ngập mặn ven biển từ Bắc vào Nam nơi có nhiều bùn và bãi bồi Ở Miền Bắc cây bần mọc thành rừng gần như thuần loài ven bờ biển và vùng cửa sông như ở Hải phòng, Nghệ An, Hà Tĩnh Ở Miền Nam cây bần là thành phần chính yếu của các rừng ngập mặn tự nhiên ven

biển và chúng mọc dày đặc ven sông rạch ở Đồng bằng sông Cửu Long

Giá trị sử dụng

Cây bần chua là nguồn cung cấp nguyên vật liệu cho ngành xây dựng, phục

vụ cho đời sống sinh hoạt hàng ngày của người dân thông qua các sản phẩm từ rừng như gỗ, củi, phấn hoa, mật ong, thực phẩm, làm thuốc… Cây bần chua còn là nơi cư trú, sinh sản của các loài chim nước, chim di cư và nhiều loài động vật quý hiếm khác Ngoài ra, cây bần chua còn cung cấp thức ăn cho nhiều loài thuỷ sản có giá trị kinh tế cao từ các sản phẩm của quá trình phân huỷ lượng rơi (cành, lá, hoa, quả)

Trang 19

rụng của cây Đặc biệt, cây bần chua còn là những loài cây ngập mặn có giá trị lớn

về mặt sinh thái như bảo vệ môi trường, bảo vệ đê biển, chống sạt lở, cố định đất lấn biển trước sự tàn phá của bão, gió mùa, các đợt thuỷ triều dâng và có khả năng

cố định một lượng lớn CO2 từ quá trình quang hợp

1.2.2 Rừng thuần loài trang (Kandelia obovata)

Loài trang (Kandelia obovata Sheue, Liu & Young) thuộc họ Đước (Rhizophoracease), bộ Sim (Myrtales) Đây là loài cây trồng chính ở rừng ngập

mặn miền Bắc Việt Nam

Đặc điểm hình thái

Cây trang là loại cây gỗ nhỏ có chiều cao trung bình từ 4 đến 10m, không có rễ khí sinh nhưng có gốc cây rộng, hình thành bạnh gốc, phía dưới có nhiều rễ xốp có tác dụng hút nước và chất dinh dưỡng

Lá cây mọc đối, hình thuôn dài, đầu lá thường bầu, hơi cong vào trong, kích thước khoảng từ 7 - 12 cm x 3 - 5,5 cm; cuống lá dài 1-1,5 cm Cụm hoa hình tán, thường cuống dài từ 2 - 4 cm, lá đài màu lục Hoa 5 cánh màu trắng mỏng, xẻ thùy nhỏ, đầu nhụy có 2 thùy

Hoa có đĩa mật và thụ phấn nhờ côn trùng Quả trang có lá đài tồn tại Hạt nảy mầm trong quả khi còn ở trên cây mẹ và phát triển thành trụ mầm

Trụ mầm của cây dài 15 – 35 cm, dạng trụ không đều, phía cuối phình to sau đó thon dần và nhỏ, trơn nhẵn, giữa quả và trụ mầm có một đoạn thắt gọi là “vòng nhẫn” màu lục nhạt, sau chuyển sang màu nâu vàng khi trụ mầm già

Khi trụ mầm chín tách khỏi quả rụng xuống đất, cắm vào bùn và phát triển thành cây con mới (Nguyễn Hoàng Trí, 1999) [35] Mùa ra hoa, kết quả của cây trang phụ thuộc vào vĩ độ Ở miền bắc nước ta, trụ mầm già vào khoảng cuối tháng

3 đến đầu tháng 5

Đặc tính sinh thái

Loài trang (Kandelia obovata) là loài có khả năng chịu lạnh, được trồng tương

đối phổ biến trong hệ thống rừng ngập mặn Sự phân bố của loài trang ở các nơi trên thế giới là khác nhau Phân bố chủ yếu ở Nhật Bản, Đài Loan, Thái Lan, Trung

Trang 20

Quốc, Indonesia, Ấn Độ, Bangladesh và miền Bắc Việt Nam Theo thống kê của Viện điều tra và quy hoạch rừng, tính đến năm 1999 tổng diện tích rừng ngập mặn được trồng của Việt Nam là 96,876 ha, trong đó tổng diện tích rừng trang là 16,876

ha, trồng phổ biến tại miền Bắc đặc biệt là Đông Bắc và Đồng bằng Bắc Bộ Cây có khả năng mọc trên nền cát và xốp (Nguyễn Thị Hồng Hạnh, 2009 [8])

Giá trị sử dụng

Là nguồn cung cấp nguyên vật liệu cho ngành xây dựng, cho đời sống sinh hoạt hàng ngày của người dân thông qua các sản phẩm từ rừng như: gỗ, củi, phấn hoa, mật ong… Là nơi cư trú của nhiều loài động vật như chim nước, chim di cư và nhiều loài động vật khác Tạo điều kiện cho một lượng lớn tôm, cua, cá và các loài thủy sản khác từ biển vào tìm nơi cư trú, tạo nên nguồn lợi thủy sản phong phú Cung cấp thức ăn cho nhiều loài thủy sản có giá trị kinh tế từ các sản phẩm của quá trình phân hủy lượng rơi (Phan Nguyên Hồng và cộng sự, 1997) [12] Bên cạnh đó,

hệ sinh thái rừng ngập mặn còn là địa điểm du lịch hấp dẫn, đem lại nguồn thu nhập cho người dân sống xung quanh khu vực

Rừng cây trang còn đem lại giá trị dịch vụ to lớn cho đời sống của người dân từ những vườn ươm Là lá chắn phòng hộ vùng ven biển, bảo vệ đê biển, chống sạt lở

cố định đất lấn chiếm dưới sự tàn phá của bão, thủy triều và lá phổi xanh hấp thụ khí CO2 góp phần điều tiết nhiệt độ, khí hậu, ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu

1.3 Một số nghiên cứu về cấu trúc rừng ngập mặn

1.3.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới

Mendoza and Alura, (2001) [58] đã nghiên cứu về cấu trúc rừng ngập mặn phía Tây đảo Samar, Philippine Các tác giả đã sử dụng ô mẫu 10m x 10m để xác định mật độ cây, chiều cao dưới tán, tiết diện ngang, mật độ cây con và tìm hiểu mối liên hệ đối với đất ở khu vực ven biển Phương pháp này giúp bảo vệ đường bờ biển, chống xói mòn ven biển, đặc biệt là khu bờ biển tiếp xúc trực tiếp với Thái Bình Dương

Mutsert và cộng sự, (2004) [58] đã nghiên cứu về cấu trúc rừng và sự tái sinh cây ngập mặn ở Everglade, Florida Các tác giả đã sử dụng 2 ô mẫu kích thước 20m

Trang 21

x 20m và 100 – 150 tuyến (transect) từ năm 1995 – 2003 để nghiên cứu về sự đa dạng cấu trúc rừng (chiều cao cây, đường kính ngang ngực và mật độ) Các tác giả phát hiện rằng cấu trúc khu rừng này được chiếm ưu thế bởi đước và cóc trắng ở Shark River và đước ở Taylor Slough

Bằng cách sử dụng một dãy các ô mẫu và tuyến cố định, Lovelock và cộng

sự, (2005) [55] đã phát hiện rằng các khu rừng tại Bocas del Toro được chiếm ưu thế bởi đước với rất ít cá thể mắm và bần Sự đa dạng loài ở đây thấp, nhưng vẫn có

sự phong phú về cấu trúc rừng theo các điều kiện thổ nhưỡng (độ mặn, N, P, S)

Kasawani và cộng sự, (2007) [51] đã nghiên cứu về cấu trúc rừng, chỉ số đa dạng và sinh khối tại khu rừng ngập mặn Tok Bali, Kelanta, Mã Lai Các tác giả đã tìm hiểu về cấu trúc của sự phân bố rừng ngập mặn ở đây cho chương trình quản lí

và phục hồi Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 7 đến tháng 11 năm 2006 để xác định thành phần loài, chỉ số đa dạng và sinh khối bề mặt trong 15,8 ha rừng ngập mặn hỗn giao Các tác giả đã công bố rằng loài bần trắng chiếm ưu thế với hơn 73

cá thể trong mỗi tuyến (31 cây lớn, 42 cây con và cây từ hạt) Trong đó, hầu hết cây hiện diện trong các tuyến khảo sát có chiều cao từ 10 - 14 m

Macintosh và cộng sự, (2002) [56] đã nghiên cứu phục hồi rừng ngập mặn và

đa dạng sinh học vùng cửa biển ở Ranong, Thái Lan bằng phương pháp thu thập số liệu trên thực địa với ô tiêu chuẩn là 100 m2 và xử lý số liệu bằng phần mềm PRIMER để xác định các chỉ số đa dạng sinh học Tác giả đã nghiên cứu đa dạng sinh học theo phương pháp này và đã phân tích, đánh giá, so sánh đa dạng sinh học dựa trên các chỉ số, giúp đánh giá cấu trúc sinh học cây ngập mặn theo yếu tố môi trường và lập địa

1.3.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam

Nguyễn Hoàng Trí, (1999) [34] đã nghiên cứu tổng quát về rừng ngập mặn Trong đó, tác giả cho rằng các hệ sinh thái rừng ngập mặn mang đặc điểm đa dạng sinh học về mặt thành phần thực vật, cấu trúc rừng và tỷ lệ tăng trưởng Đặc biệt, tác giả đã đề cập đến các nhân tố sinh thái chi phối đến sự hình thành và phát triển của rừng ngập mặn, đồng thời phân tích các tính chất thích nghi, đa dạng của rừng

Trang 22

ngập mặn Các vấn đề bảo tồn, quản lý hệ sinh thái này và sử dụng nó một cách bền vững

Trần Triết và cộng sự, (2007) [36] đã nghiên cứu các kiểu thảm thực vật rừng trong Khu Dự trữ sinh quyển Cần Giờ, Tp Hồ Chí Minh Các tác giả đã phân tích, so sánh sự khác biệt và tương đồng giữa các kiểu rừng cũng như giữa hai trạng thái rừng tự nhiên và trồng lại Các kết quả này có thể ứng dụng trong các nghiên cứu khác về cấu trúc thảm thực vật

Trương Thị Nga và Hà Chí Tâm, (2009) [21] đã đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đến thực vật ngập mặn tại rừng ngập mặn tự nhiên tại Cà Mau cho thấy các loài cây ưu thế thích nghi bởi một nhóm yếu tố môi trường Rừng ngập mặn tại cửa sông Cù Lao Dung có đa dạng sinh học cao và ưu thế là rừng ngập nước lợ với loài bần chua (Nguyễn Hà Quốc Tín, 2007) [27]

Hứa Mỹ Ngọc, (2011) [22] đã nghiên cứu cấu trúc cây thân gỗ rừng ngập mặn tại Cồn Trong cửa sông Ông Trang Tác giả đã bố trí 5 tuyến điều tra đại diện cho 5 khu vực phân bố của các loài cây ngập mặn tại Cồn Trong

Tác giả đã nghiên cứu cấu trúc sinh thái và cấu trúc theo không gian

Về cấu trúc sinh thái: tác giả đã xác định tổ thành loài thực vật tại cồn Ông Trang có 4 loài chính, gồm đước đôi, mấm trắng, vẹt tách và bần trắng Mối quan

hệ giữa các quần xả trong khu vực nghiên cứu ở mức tương đồng 80% có 3 quần xã cần được bảo tồn

Về cấu trúc ngang (phân bố số cây theo đường kính) Quy luật phân bố số cây theo cấp đường kính ngang ngực khác nhau ở từng tuyến Ở hầu hết các tuyến đường biểu diễn quy luật phân bố theo cấp kính có đỉnh lệch trái, đường biểu diễn

có xu hướng giảm về số lượng theo cấp tăng lên của đường kính ngang ngực

1.4 Một số nghiên cứu về ảnh hưởng của đặc điểm lý, hoá đến sự sinh trưởng

và phát triển rừng ngập mặn

1.4.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới

Trang 23

Theo Bộ lâm nghiệp của chính phủ Goa (2007) [27], cấu trúc và sự sắp sếp của các loài cây rừng ngập mặn ở cửa sông thay đổi theo ngưỡng độ mặn từ vùng cửa sông đến thượng nguồn, trong đó loài mắm trắng là loài có biên độ chịu mặn rộng từ 7 - 35‰, loài đước đôi thích nghi tương tự từ 6 - 37‰, trong khi đó loài bần trắng lại thích hợp ở vùng đất mặn hơn từ 10 - 37‰

Bảng 1.1: Thành phần loài cây rừng ngập mặn theo ngƣỡng độ mặn Goa

(Bộ Lâm nghiệp Goa, 2007) [27]

Trong các nhân tố sinh thái thì độ mặn là nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến tăng trưởng, tỷ lệ sống, phân bố các loài De Hann (1931) (Trích dẫn từ Aksornkoae, 1993) [39] cho rằng rừng ngập mặn tồn tại, phát triển ở nơi có độ mặn

từ 10 - 30‰ và các tác giả đã chia thực vật ngập mặn thành hai nhóm, nhóm phát

Trang 24

triển ở độ mặn từ 10 - 30‰ và nhóm phát triển ở độ mặn từ 0 - 10‰ Yếu tố giới hạn sự phân bố của rừng ngập mặn là sự thiếu vắng muối trong đất và nước Mỗi loại cây ngập mặn chịu đựng một độ mặn nhất định Khi độ mặn trong đất tăng và tầng bùn giảm thì cây còi cọc, cành ngắn, lá nhỏ và dày hơn (Rao A.N., 1986) [60] Nhiều nghiên cứu cho thấy, cây ngập mặn có thể tồn tại được trong nước ngọt một thời gian nào đó, nhưng sinh trưởng của cây giảm dần, sau vài tháng nếu không được cung cấp một lượng muối thích hợp thì cây sinh trưởng rất kém, lá cây có nhiều chấm đen và vàng do sắc tố bị phân hủy, lá sớm rụng Hầu hết các cây ngập mặn đều sinh trưởng tốt ở môi trường nước có độ mặn từ 25 - 50% độ mặn nước biển Khi độ mặn càng cao thì sinh trưởng của cây càng kém, sinh khối của rễ, thân

và lá đều thấp dần, lá sớm rụng (Saenger và cộng sự, 1983) (Trích dẫn từ Nguyễn Hoàng Trí, 1999) [34],.Khi nghiên cứu sự sinh trưởng của loài Trang (Kandelia

candel (L.Druce) liên quan đến độ mặn của môi trường, P Lin và X.M.Wei (1980)

(Trích dẫn từ Rao A.N., 1986) [60] đã nhận thấy chúng phát triển tốt ở nơi có nồng

độ muối từ 7,5 đến 21,2‰

Nhiều tác giả cho rằng đất là nhân tố chính giới hạn sự tăng trưởng và phân bố cây ngập mặn (Gledhill, 1963; Giglioli và King,1966; Clark và Hannonn, 1967; Aksornkoae S và cộng sự, 1985) (Trích dẫn Aksornkoae, 1993) [39]) Aksornkoae

S (1993) nghiên cứu đất ngập mặn ở Thái Lan, còn Karim A (1983, 1988) [52] nghiên cứu đất ngập mặn ở Sundarbans – Banglades có độ mặn của đất từ 3,3 - 17,3‰ và ông chia đất ra làm 3 loại: Loại có độ mặn thấp dưới 5‰, loại có độ mặn trung bình từ 5-10‰ và loại có độ mặn cao trên 15‰ Choudhury J.K., (1994) [43] nghiên cứu tính chất lý hóa của đất rừng ngập mặn ở Sundarbans – Ấn Độ cho thấy đất ở tầng 0 - 15cm có tỷ lệ cát từ 15,25 - 49,25%, độ pH: 7 - 8, N: 0,02 - 0,09%, P: 0,1 - 0,2%, CaO: 0 - 6%, C: 0,5 - 1,0%

pH và Eh của đất

pH đất là một trong những yếu tố môi trường quan trọng Theo English và

cộng sự, (1997) [46], nồng độ axit của đất có ảnh hưởng đến sự chuyển hóa các

dưỡng chất và các loài cây thích hợp Hầu hết đất rừng ngập mặn có giá pH trung

Trang 25

tính từ 6 – 7, nhưng cũng có nhiều nơi giá trị pH thấp hơn Williams and Gray, (1974) [63] cho rằng pH đất có ảnh hưởng đến hoạt động của các vi sinh vật trong đất Các vi sinh vật phân hủy vật chất hữu cơ phát triển tốt ở môi trường đất có giá trị pH gần trung tính và kém phát triển ở môi trường đất có tính axit

Do đó, ở những nơi có giá trị pH đất gần trung tính sẽ thuận lợi cho quá trình phân hủy vật chất xảy ra và lượng đạm được cung cấp cho môi trường nhiều hơn Trong các sinh vật phân hủy, vi sinh vật sống ở các màng nước trong đất dễ bị ảnh hưởng nhất đối với sự thay đổi giá trị pH, mặc dù phần lớn có sự thích nghi, được cho là chịu đựng sự thay đổi pH Trong nghiên cứu của Williams and Gray, (1974) [63], kết quả cho thấy rằng ở các giá trị pH thấp (thấp hơn 5,0), nhiều sinh vật phân hủy trở nên không hoạt động hoặc giảm hoạt động

Theo Boto, (1984) [41] khi đất bị ngập, tỷ lệ khuếch tán oxy bị suy giảm nghiêm trọng, nó phụ thuộc vào độ sâu của sự ngập và thời gian đất bị ngập, oxy cung cấp cho đất bị ngưng hầu như hoàn toàn Dưới những điều kiện này, vi sinh vật trong đất bị biến đổi nhanh chóng Bình thường đất thoáng khí, vi sinh vật ưa khí chiếm ưu thế, những loài này đòi hỏi oxy để hô hấp, khi thiếu oxy vi sinh vật bị giảm số lượng và những kiểu vi sinh vật khác không phụ thuộc oxy trở nên ưu thế

Clough và cộng sự, (1983) [43], cho rằng, thế oxy hóa khử suy giảm từ hiếu khí

(+700 mV) đến yếm khí hoàn toàn (-300 mV) phạm vi trị số này phụ thuộc vào hóa học đất Khi trị số giảm, oxy bị giảm trước tiên, đến những mức thấp nhất, CO2 bị biến đổi thành CH4, tương tự những ion hoạt động như những chất nhận điện tử quyết định tiến trình trung gian: NO3- thành N2, Mn4+ thành Mn2+, Fe3+ thành Fe2+,

SO42- thành S2-

Hàm lượng chất hữu cơ và thành phần cơ giới đất

Đất rừng ngập mặn là đất phù sa bồi tụ có độ muối cao, thiếu O2, giàu H2S, rừng ngập mặn thấp và cằn cỗi trên các bãi lầy có ít phù sa, nghèo chất dinh dưỡng

Karim A và cộng sự, [52] cho biết sự phát triển của thực vật ngập mặn liên quan

đến số lượng phù sa lắng đọng và cây đạt chiều cao cực đại ở nơi có lớp đất phù sa dày

Trang 26

Bảng 1.2: Bảng phân loại đất theo thành phần cơ giới của Quốc tế

Loại

% Trọng lƣợng Cát

2 - 0,02 mm

Limon 0,02 - 0,002 mm

Sét 0,002 - 0,0002mm

- Độ mặn là một trong những nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, tỷ lệ sống của các loài và phân bố rừng ngập mặn Loại rừng này phát triển tốt ở nơi có nồng độ muối trong nước từ 10 - 25‰

Theo Thái Văn Trừng, (1998) [37] có 3 nhóm nhân tố sinh thái phát sinh rừng ngập mặn: Thứ nhất là tính chất lý hóa của đất, thứ hai là cường độ và thời gian ngập của thủy triều, thứ ba là độ mặn của nước

Trang 27

Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn khác nhau, điều kiện chiếu sáng, phân bón đến sự nảy mầm và sinh trưởng của bần chua ở giai đoạn vườn ươm thì khi che bóng bần chua tăng trưởng kém hơn không che bóng và cây tăng trưởng tốt hơn ở

độ mặn từ 5 - 10‰ (Hoàng Công Đăng, 1995 [5] ; Lê Xuân Tuấn, 1995) [31] Theo Hà Chí Tâm, (2005) [26] tại cồn trong cửa sông Ông Trang - Cà Mau, loài mắm trắng phân bố và chiếm ưu thế ở độ mặn trong đất từ 33 - 38‰, loài đước

30 - 35‰

Mai Sy Tuan, (1995) [57] đã nghiên cứu phản ứng sinh lý, sinh thái của mắm biển con trồng thí nghiệm ở các độ mặn khác nhau trong nhà kính cho thấy, trong điều kiện thí nghiệm ở độ mặn nước biển 25‰ thì mắm biển có sinh trưởng về đường kính và chiều cao tốt nhất Sự tăng trưởng về đường kính và chiều cao giảm dần khi độ mặn nước biển tăng lên Cây mọc ở môi trường không có muối thì tỷ lệ sinh trưởng thấp nhất Quá trình quang hợp tỷ lệ nghịch với độ mặn của môi trường:

Độ mặn càng cao thì quang hợp càng giảm nhưng cây ngập mặn vẫn duy trì năng suất quang hợp dương ở các độ mặn thí nghiệm kể cả ở 150% độ mặn nước biển

Thành phần cơ giới đất

Những quá trình có liên quan tới sự hình thành, chuyển hóa và tích lũy các hợp chất hữu cơ, các hợp chất khoáng trong đất phụ thuộc vào thành phần cơ giới Thành phần cơ giới đất gồm: cát, thịt, sét Thành phần cơ giới ảnh hưởng đến tính nhiệt, tính chất nước, tính chất vật lý nước, tính chất cơ lý, tính oxy hóa khử, tính hấp phụ, khả năng tích lũy mùn, các chất dinh dưỡng khoáng trong đất (Hà Quang

Khải và cộng sự, 2002) [18]

Nguyễn Đức Tuấn, (1994) [30] nghiên cứu về tăng trưởng và sinh khối đước, trang, vẹt dù lúc 1, 2, 3, 4 năm tuổi cho thấy trên thể nền bùn sét mềm và cát thô thì cây sinh trưởng tốt hơn thể nền bùn pha nhiều cát thô, đất cao cứng

Eh và pH của đất

Lê Văn Khoa và cộng sự, (2005) [17] cho rằng, trong đất luôn tồn tại chất oxy

hóa và chất khử, nên quá trình oxy hóa khử xảy ra phổ biến Ở trong đất, những chất oxy hóa là NO3-, Fe3+, Mn4+, Cu2+ và một số vi sinh vật hiếu khí Chất khử là

Trang 28

H2, Fe2+, Cu2+ và vi sinh vật kỵ khí Quá trình oxy hóa khử trong đất đều có thực vật

và vi sinh vật tham gia nên đây là quá trình sinh học Trong điều kiện oxy hóa hay khử, chất hữu cơ đều bị phân giải, tuy nhiên, cường độ, sản phẩm phân giải khác nhau Để đặc trưng cho cường độ oxy hóa khử của dung dịch đất thường được xác định bằng thế oxy hóa khử (Eh) Eh của đất thiếu khí là thường dưới -200 mV trong khi đất thoáng khí thì Eh thường trên +300 mV (Lê Huy Bá, 2003) [1]

Theo Nguyễn Ngọc Bình, (1999) [3] đặc điểm oxy hóa khử (Eh) của đất ngập mặn đều có liên quan đến quá trình nước triều, đến thành phần cấp hạt và hàm lượng chất hữu cơ đất Nhìn chung, đất ngập mặn có mức độ khử oxy càng cao thì càng có ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của cây rừng ngập mặn

Phan Hà Trang, (2018) [33] cho rằng: Eh thấp gây ảnh hưởng đến sự phát triển

và sinh trưởng của cây pH trong đất RNM trung tính và kiềm nhẹ thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây, đồng thời là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của vi sinh vật Phần lớn các thực vật đều có khả năng hấp thụ dinh dưỡng tốt ở độ

pH trung tính Đất có pH cao cây sẽ không hấp thụ các chất dinh dưỡng như Photpho, kali… do tính axit cao làm các nguyên tố này không thể hòa tan vào nước,

bị giữ lại trong đất làm ảnh hưởng đến sự phát triển của cây Đối với các vi sinh vật

pH cao thì các vi sinh vật sẽ không thể hoạt động để phân hủy các chất hữu cơ

Hàm lượng chất hữu cơ

Ngô Đình Quế, (2003) [23] và các cộng sự cho rằng: Chất hữu cơ là một trong những nhân tố quyết định đến sinh trưởng của rừng ngập mặn, nếu hàm lượng chất hữu cơ trong đất ngập mặn thấp hơn 1% thì sinh trưởng xấu, nhưng nếu quá cao, lớn hơn 15% thì cũng kìm hãm sinh trưởng của cây và cũng có thể làm cây trồng bị chết do môi trường đất bị ô nhiễm

Chất hữu cơ của đất là chỉ tiêu số một về độ phì và ảnh hưởng đến nhiều tính chất của đất Khả năng cung cấp chất dinh dưỡng, khả năng hấp thụ, giữ nhiệt và kích thích sinh trưởng của cây

Trang 29

Hàm lượng chất hữu cơ ảnh hưởng do chế độ thủy triều lên xuống tác động đến quá trình bồi lắng, rửa trôi các chất hữu cơ; đồng thời tùy vào vị trí, địa hình, địa thế khác nhau thì có sự rửa trôi hay bồi lắng ở mức độ khác nhau

Hàm lượng cacbon tổng số trong đất bao gồm tổng các dạng cacbon hữu cơ và

vô cơ, trong đó hàm lượng cacbon hữu cơ thường hiện diện trong chất hữu cơ của đất và cacbon vô cơ thì được tìm thấy chủ yếu ở các dạng khoáng cacbonat

Thành phần hữu cơ của đất được định nghĩa là các dư thừa thực vật, động vật

và vi sinh vật hiện diện trong đất ở tất cả các trạng thái phân hủy Chất hữu cơ của đất là thành phần liên kết với thành phần khoáng của đất, bao gồm các nguyên tố chính là C, H, O, N, S, P và một hàm lượng rất thấp các nguyên tố vi lượng

Hàm lượng cacbon hữu cơ trong đất thường được dùng để đánh giá hàm lượng thành phần hữu cơ hiện diện trong đất Một cách tổng quát, đất có hàm lượng hữu

cơ lớn hơn 18% được xếp vào nhóm đất hữu cơ Nhóm đất khoáng có hàm lượng cacbon nhỏ hơn 18% Hàm lượng chất hữu cơ trong đất do đó có mối tương quan với sa cấu của đất

1.4.3 Tại khu vực cửa sông Ba Lạt

Cửa Ba Lạt và cửa Đáy là hai cửa sông có lượng nước đổ từ sông Hồng ra biển với gần 114 tỉ m3 nước, 114 triệu tấn vật liệu cứng với hàm lượng phù sa trung bình 1 kg/m3

Trầm tích bãi triều là bùn sét pha cát mịn, tốc độ lắng đọng nhanh Với trầm tích có hàm lượng photpho (P) rất cao, ở tầng mặt gấp đôi, ở tầng sâu gấp nhiều lần Hàm lượng nito (N), photpho (P) tương đướng với phù sa sông Hồng và ít bị biến đổi Trầm tích được tạo thành trong môi trường thoáng khí, không có rừng ngập mặn

Chế độ thuỷ triều không thuần nhất, phần lớn là nhật triều, có 5-7 ngày trong tháng là bán nhật triều, biên độ 3-4m

Độ mặn phụ thuộc vào lưu lượng sông và thuỷ triều Về mùa lũ, độ mặn thấp, trung bình là 10‰, khi có lũ lớn, độ mặn ở cửa sông, ven biển giảm còn 5 - 1‰ [31]

Trang 30

1.5 Tổng quan về địa điểm nghiên cứu

1.5.1 Vị trí địa lý

Hình 1.1: Sơ đồ vị trí địa lý khu vực nghiên cứu

Cửa Ba Lạt là cửa biển ở miền Bắc Việt Nam nơi sông Hồng đổ ra vịnh Bắc

Bộ giữa tỉnh Nam Định ở hữu ngạn bờ nam và tỉnh Thái Bình ở tả ngạn bờ bắc Vị trí địa lý nằm giữa 20°15'1.77" kinh độ Bắc, 106°35'5.37" kinh độ Đông

- Phía Bắc giáp với xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình

- Phía Nam giáp với vườn Quốc gia Xuân Thuỷ, huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định

- Phía Tây giáp với xã giao Thiện, huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định

- Phía Đông giáp với Vịnh Bắc Bộ

1.5.2 Đặc điểm địa hình, địa mao

Nằm rìa châu thổ sông Hồng, khu vực bãi bồi cửa Ba Lạt có địa hình bằng phẳng, có một số cồn cát, các tuyến đê và một vài gò đống nằm rải rác Độ cao có

xu hướng nghiêng dần từ bắc xuống nam, từ tây sang đông

Dạng địa hình hỗn hợp sông - biển chiếm phần lớn diện tích, được hình thành trong quá trình tương tác sông - biển Vật liệu cấu tạo chủ yếu gồm bùn - cát, bùn - sét và sét…đặc trưng cho vùng bãi triều

Trang 31

Hiện nay, do đập Vọp đã được phá bỏ, nên lượng bồi tích từ sông Hồng qua sông Vọp cung cấp cho vùng triều thấp ở phía nam cửa Ba Lạt được tăng cường, tạo điều kiện cho qua trình tích tụ và lấp đầy diễn ra ở đây nhanh hơn

Hiện nay ở trước cửa Ba Lạt có doi bãi bồi cửa sông, song song với Cồn Lu

là Cồn Xanh Dải bờ biển từ Giao Hải trở lên phía bắc được xếp vào kiểu bờ bồi tụ

1.5.3 Đặc điểm thổ nhưỡng

Tại khu vực bãi bồi cửa Ba Lạt, các trầm tích bề mặt trải qua các quá trình mặn hóa, phèn hóa, bồi tụ và lắng đọng đã hình thành nên 4 nhóm đất chính với 12 loại

Nhóm đất phèn gồm: Đất phèn tiềm năng và đất phèn hoạt tính chiếm diện

tích khá lớn trong khu vực Chúng có thành phần cơ giới trung bình với lớp phủ chủ yếu là thực vật ưa mặn, chua như sú, vẹt

Nhóm đất mặn gồm 4 loại: Đất mặn ít, đất mặn trung bình, đất mặn nhiều và

đất mặn sú vẹt Tổng muối hoà tan từ 0,25 - 1%, thành phần muối kim loại kiềm chủ yếu là Cl-, SO42-, CO32-, HCO3- được ưu tiên để trồng RNM phòng hộ và NTTS Đất mặn ít chủ yếu để trồng lúa cho năng suất khá cao

Nhóm đất phù sa: Bao gồm đất phù sa được bồi giàu dinh dưỡng; đất phù sa

không được bồi, không glay hoặc glay yếu có thành phần cơ giới cát pha, thịt nhẹ hoặc thịt trung bình; đất phù sa không được bồi, glay trung bình hoặc mạnh; và đất phù sa không được bồi và ngập úng vào mùa mưa Loại đất này rất phù hợp để trồng lúa nước, cây xen canh và cây ăn quả

Nhóm đất cát: Được hình thành do tác động của biển, sông, dòng chảy nội

đồng và gió, phân bố ở các bãi cát và cồn cát ven biển Đất nghèo dinh dưỡng, có phản ứng ít chua (pHKCl = 5,5 - 6,0) bao gồm đất cát thô hình thành trên các cồn cát trẻ ở biển và các cồn cát cổ nằm sâu trong đất liền

1.5.4 Đặc điểm khí hậu, thủy - hải văn

- Khí hậu

Khu vực nghiên cứu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm gió mùa ở miền Bắc Việt Nam, phân hoá sâu sắc theo mùa trong năm: mùa gió Tây Nam, nóng

Trang 32

và ẩm, kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11 và gió mùa Đông Bắc, lạnh và khô, kéo dài

từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau Có nhiệt độ trung bình năm đạt 23 – 24o

C, mùa hè

có nhiệt độ trung bình 27,8o

C Tháng nóng nhất là tháng 7, nhiệt độ có thể đạt tới 39,6oC Tháng lạnh nhất là tháng 1 với nhiệt độ trung bình 16,7oC, đôi khi có thể xuống tới 4 - 5 oC Số giờ nắng trung bình 1.650 - 1.700 giờ/năm

Do nằm sát biển nên độ ẩm không khí cao, trung bình trong năm đạt 83,7%, nhưng phân bố không đều giữa các tháng, phụ thuộc vào chế độ mưa Mùa đông độ

ẩm không khí dao động trong khoảng 77 - 81%, mùa hè trung bình đạt 84 - 86%

- Chế độ mưa:

Khu vực có chế độ mưa phong phú và phân bố khá đồng đều; lượng mưa trung bình năm dao động từ 1.520 - 1.850 mm/năm; Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm tới 85 - 90% lượng mưa năm, tập trung chủ yếu vào tháng 7, 8

và 9 Tháng có lượng mưa nhỏ nhất là tháng 12 và tháng 1 Trong trường hợp có bão, áp thấp nhiệt đới hay hoạt động của dải hội tụ nhiệt đới thì lượng mưa cực đại trong 24 giờ có thể đạt 300 - 500 mm

- Chế độ gió:

Khu vực cửa sông Hồng, chịu sự chi phối của hệ thống gió mùa Mùa gió Đông Bắc với hướng gió thịnh hành là Bắc, Đông Bắc với tốc độ trung bình 4,0 - 4,5 m/s Mùa gió Tây Nam, hướng gió chính là Nam và Đông Nam với tốc độ gió trung bình đạt 3,2 - 3,9 m/s, cao nhất vào các tháng tháng 5 - 7

Vào mùa đông, gió có hướng Bắc - Đông Bắc và Đông - Đông Nam (tháng

10 - tháng 3 năm sau) tần suất 53,5 - 71,6%, trung bình 78,4% Trong nửa đầu mùa đông, các hướng Đông – Bắc có trội hơn một chút, nhưng từ tháng II trở đi các hướng Đông – Đông Nam lại chiếm ưu thế hơn

Mùa hè (tháng 6 - tháng 10), hướng gió chủ đạo ven bờ là Nam - Đông Nam

và ngoài khơi là Nam - Tây Nam tần suất 53,1 - 78,5%, trung bình 63,2%

Trong mùa chuyển tiếp, trường gió có tính chất trung gian với hướng gió chính là hướng Đông tần suất 53,9 - 80,5% Các tháng 4, 5 hướng gió chủ đạo ven

Trang 33

bờ là Đông - Đông Nam, ngoài khơi là Đông Nam và Đông Bắc Còn các tháng 10,

11 ở ven bờ là hướng Bắc và Đông, ngoài khơi là Đông Bắc

Chế độ thủy văn

- Đặc điểm thuỷ văn của hệ thống sông Hồng: Sông Hồng có tổng lượng nước bình quân là 114.109 m3/năm và dòng bùn cát là 115 triệu tấn/năm Dòng bùn cát này góp phần bồi đắp lên châu thổ sông Hồng với tốc độ tiến ra biển bình quân 17 đến 83 m/năm

Vào mùa lũ, lượng dòng chảy chiếm tới 75 - 90% tổng lượng nước cả năm và mang tới 90% lượng bùn cát, gây ra sự ngập úng của vùng đồng bằng, bồi lấp luồng lạch cửa sông và làm cho khu vực cửa sông bị ngọt hoá Ngược lại vào mùa kiệt, vùng cửa sông bị thu hẹp, thuỷ triều lên, đưa nước mặn xâm nhập sâu vào lục địa theo các dòng sông, làm tăng phạm vi bị nhiễm mặn (vào sâu trong lục địa tới trên

20 km)

Chế độ hải văn

- Chế độ sóng : Thay đổi theo mùa phụ thuộc vào điều kiện khí hậu Vào mùa

đông, sóng dải ven bờ có hướng đông (34%), đông bắc (13%) và đông nam (18%);

ở ngoài khơi hướng sóng chính là đông bắc (61%), hướng đông và các hướng khác

có tần xuất nhỏ Mùa hè, hướng sóng thịnh hành ngoài khơi là hướng nam, tây nam

và hướng đông; dải ven bờ có hướng sóng chính là đông nam với tần xuất 24% Độ cao của sóng ở ngoài khơi trung bình 1,2 - 1,4 m, khi vào bờ giảm xuống còn 0,6 - 0,8 m Độ cao sóng cực đại tương ứng là 7 - 8 m và 5 - 6 m, thường xuất hiện khi có bão

- Thủy triều : Biển Giao Thủy có chế độ nhật triều đều Biên độ trung bình 150

- 180cm, lớn nhất 330cm, nhỏ nhất 25cm Trong tháng có 2 kỳ nước lớn, mỗi kỳ kéo dài 2 - 3 ngày Do biên độ triều lớn, độ dốc địa hình đáy nhỏ nên cả bãi biển và bãi triều đều có bề rộng đáng kể, có thể đạt tới 4 - 5 km

- Dao động mực nước biển: Sự dâng lên của mực biển làm thay đổi mức năng

lượng, địa hình đường bờ và độ dốc đáy biển, làm tăng khả năng xói lở bờ biển Sự thay đổi mực nước biển phụ thuộc vào các hoạt động kiến tạo hiện đại

Trang 34

- Các kết quả đo đạc độ mặn cho thấy độ mặn nước biển của khu vực cửa Ba Lạt biến thiên nhiều và phụ thuộc vào pha của thuỷ văn và chế độ lũ của sông Hồng Vào mùa đông, độ mặn trung bình của vùng nước cửa sông Ba Lạt và ven bờ Cồn

Lu tương đối đồng nhất trong khoảng 19,82 - 22,55‰ Vào mùa hè, độ mặn vùng nước cửa sông Ba Lạt và vùng nước ven bờ Cồn Lu thường thấp, dao động trong từ 0,18-10,58‰

Các số liệu về nhiệt độ, lương mưa, độ ẩm, lượng bốc hơi, số giờ nắng và kiểu thời tiết đặc biệt được thể hiện qua bảng 1.2

Bảng 1.2 Diễn biến thời tiết - khí hậu tại khu vực nghiên cứu năm 2018

Tháng

ẩm

Lƣợng bốc hơi

Tx Nhiệt độ không khí tối cao tuyệt đối (oC) e Tổng lượng bốc hơi tháng (mm)

R Tổng lượng mưa tháng (mm) S Tổng số giờ nắng tháng (giờ)

Rx Cường độ mưa ngày cao nhất trong tháng

Trang 35

N Số ngày có mưa trong tháng (ngày) Mƣa

phùn Số ngày có mưa phùn (ngày)

Kết luận: Khí hậu - thuỷ văn khu vực bãi bồi cửa sông Ba Lạt thuộc miền khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng, ẩm, phân hoá sâu sắc theo mùa trong năm Sự chênh lệch nhiệt độ giữa các mùa và các tháng trong năm tương đối lớn, lượng bức xạ; mưa phân bố theo mùa, lượng mưa tập trung vào mùa hạ, độ ẩm không khí trung bình cao, đây là điều kiện thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của rừng ngập mặn

Ngoài các tác động của thời tiết, khí hậu - thuỷ văn thuộc khu vực nghiên cứu Sự sinh trưởng và phát triển của rừng ngập mặn còn chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố ngoại cảnh như: Môi trường, thổ nhưỡng hay lập địa, Để có cái nhìn toàn diện hơn, cần nghiên cứu thêm về đặc điểm lý, hoá của đất Từ đó có những giải pháp trồng, bảo vệ và phục hồi rừng ngập mặn một cách bền vững

Trang 36

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

+ Một số đặc điểm cấu trúc của RNM: Chiều cao, đường kính, mật độ của

cây rừng ngập mặn trồng thuần loài trang (Kandelia obovata), thuần loài bần chua (Sonneratia caseolaris), hỗn giao trang (Kandelia obovata) với bần chua (Sonneratia caseolaris) và rừng ngập mặn tự nhiên tại bãi bồi cửa sông Ba Lạt

+ Đất rừng ngập mặn: Thành phần cơ giới, độ mặn, độ mùn, pH, Eh, N, P, K

của đất rừng ngập mặn trồng thuần loài trang (Kandelia obovata), thuần loài bần chua (Sonneratia caseolaris), hỗn giao trang (Kandelia obovata) với bần chua (Sonneratia caseolaris) và rừng ngập mặn tự nhiên tại bãi bồi cửa sông Ba Lạt

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi về không gian: Nghiên cứu được tiến hành tại xã Nam Phú, huyện

Tiền Hải, tỉnh Thái Bình và xã Giao Thiện, huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định (hình 2.1)

Hình 2.1: Vị trí khu vực nghiên cứu

Trang 37

Phạm vi về nội dung:

Nghiên cứu đặc điểm lý, hóa của đất rừng trồng thuần loài trang (Kandelia obovata); rừng trồng thuần loài bần chua (Sonneratia caseolaris); rừng trồng hỗn giao trang (Kandelia obovata) và bần chua (Sonneratia caseolaris) được trồng tại

xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình và rừng tự nhiên xã Giao Thiện, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định

Về cấu trúc của rừng ngập mặn khu vực nghiên cứu: Đề tài chỉ đề cập tới

chiều cao, đường kính thân cây và mật độ cây rừng

2.2 Thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 03 năm 2018 đến tháng 12 năm 2018 Trong quá trình thực hiện đề tài, tiến hành thực địa 2 đợt tại địa điểm nghiên cứu,

- Phân tích, lựa chọn các phương pháp nghiên cứu phù hợp;

- Phân tích, tổng hợp các kết quả nghiên cứu, các tư liệu liên quan đến nội dung của đề tài

2.3.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm

- Nghiên cứu được thực hiện trên các ô tiêu chuẩn thuộc các kiểu rừng khác

nhau Các ô tiêu chuẩn được bố trí theo phương pháp của Kauffman và Donato, (2012) [53]

Trang 38

- Trong đó: Mỗi kiểu rừng thiết lập 1 tuyến nghiên cứu đại diện vuông góc

với đường bờ biển, trên đó bố trí 1 ô tiêu chuẩn gồm 3 ô phụ hình tròn Mỗi ô phụ

có bán kính 7m Khoảng cách giữa tâm của hai ô phụ liên tiếp là 25m (hình 2.2)

- Sơ đồ thí nghiệm được mô tả như hình 2.2:

Hình 2.2: Sơ đồ bố trí thí nghiệm

Tọa độ địa lý của các ô tiêu chuẩn tại cửa Ba Lạt thuộc khu vực nghiên cứu được thể hiện tại bảng 2.1

Bảng 2.1 Tọa độ địa lý của các ô tiêu chuẩn tại khu vực khảo sát

Kinh tuyến (Đông) Vĩ tuyến (Bắc)

trang và bần chua

Trang 39

Kiểu rừng Ô tiêu chuẩn Tọa độ địa lý

Kinh tuyến (Đông) Vĩ tuyến (Bắc)

2.3.3 Phương pháp đo đạc, đánh giá một số đặc điểm cấu trúc của cây ngập mặn

Xác định đường kính thân và chiều cao cây:

Xác định đường kính thân cây bằng thước dây đo đường kính (Forestry Suppliers Metric Fabric Diameter Tape Model 283d/5m) tại vị trí 30 cm phía trên

bạnh gốc đối với các loài trang (Kandelia obovata) và vẹt dù (Bruguiera gymnorhiza), tại vị trí phía trên rễ chống cao nhất đối với đước vòi (Rhizophora stylosa)

Chiều cao thân cây được đo bằng thước mét, bắt đầu tính từ vị trí đo đường kính thân cây đến ngọn cao nhất của cây

Xác định mật độ của rừng:

Tiến hành đếm số lượng cây trong mỗi ô tiêu chuẩn (R = 7m) Dựa trên số lượng cây trung bình có một trong ô tiêu chuẩn, ta tính được mật độ cây của mỗi rừng

Số lượng cây trung bình của một ô tiêu chuẩn: (N)= (Ô1+ Ô2+ Ô3)/3

Mật độ cây ở mỗi tuổi rừng (số cây/ha) = (N x 10000)/S

Trong đó: Ô1, Ô2, Ô3: số lượng cây đếm được trong ô tiêu chuẩn 1,2,3

Ngày đăng: 01/03/2019, 11:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w