1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tập nhóm Luật tố tụng dân sự Việt Nam 10 điểm Đề bài số 05: “Thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án các cấp”

15 579 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 31,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc quy định thẩm quyền của tòa án trong giải quyết các vụ việc, vụ án dân sự có ý nghĩa hết sức quan trọng cả về phía tòa án và đương sự. Việc quy định rõ ràng thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyết các việc dân sự là cơ sở pháp lý để xác định một vụ việc cụ thể có thuộc thẩm quyền giải quyết của mình hay không. Tòa án sẽ phải căn cứ vào các quy định của pháp luật để xác định xem, đối với yêu cầu này thì mình có thẩm quyền giải quyết không. Từ đó, tòa án có thể thụ lý, giải quyết đúng các việc dân sự phát sinh trong xã hội thuộc thẩm quyền của mình, tránh trường hợp áp dụng không thống nhất gây kéo dài thời gian giải quyết do phải chuyển đi chuyển lại giữa các tòa án. Từ việc xác định được đúng thẩm quyền của mình, cũng tránh được trường hợp có tranh chấp thẩm quyền giữa các Tòa án cùng cấp với nhau. Bên cạnh đó, việc xác định thẩm quyền giữa các Tòa án một cách hợp lý, khoa học tránh được sự chồng chéo trong việc thực hiện nhiệm vụ giữa Tòa án với các cơ quan nhà nước, giữa các Tòa án với nhau. Từ đó, góp phần tạo điều kiện cần thiết cho tòa án giải quyết nhanh chóng và đúng đắn các việc dân sự, nâng cao được hiệu quả giải quyết việc dân sự. Ngoài ra, việc xác định thẩm quyền của Tòa án có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định những điều kiện về chuyên môn, nghiệp vụ cần thiết của đội ngũ cán bộ ở tòa án. Trên cơ sở đó có kế hoạch đáp ứng bảo đảm cho Tòa án phải thực hiện được chức năng, nhiệm vụ của mình.

Trang 1

MỤC LỤC

Trang:

MỞ ĐẦU NỘI DUNG 1

I Khái niệm và ý nghĩa của việc xác định thẩm quyền sơ thẩm dân sự 1

1 Khái niệm thẩm quyền sơ thẩm dân sự của tòa án……….1

2 Ý nghĩa của việc xác định thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án…… 1

II Quy định về việc xác định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa tòa án các cấp 2

1 Thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án nhân dân cấp huyện 2

2 Thẩm quyền sơ thẩm dân sự của tòa án nhân dân cấp tỉnh 5 III Đánh giá những quy định của bộ luật tố tụng dân sự 2015 về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của tòa án 7

1 Những điểm mới của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 so với Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) 7

2 Hạn chế của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và kiến nghị sửa đổi, bổ sung 8 KẾT LUẬN 10 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 2

MỞ ĐẦU

Việc quy định thẩm quyền của tòa án trong giải quyết các

vụ việc, vụ án dân sự có ý nghĩa hết sức quan trọng cả về phía tòa án và đương sự Việc quy định rõ ràng thẩm quyền của tòa

án trong việc giải quyết các việc dân sự là cơ sở pháp lý để xác định một vụ việc cụ thể có thuộc thẩm quyền giải quyết của mình hay không Tòa án sẽ phải căn cứ vào các quy định của pháp luật để xác định xem, đối với yêu cầu này thì mình có thẩm quyền giải quyết không Từ đó, tòa án có thể thụ lý, giải quyết đúng các việc dân sự phát sinh trong xã hội thuộc thẩm quyền của mình, tránh trường hợp áp dụng không thống nhất gây kéo dài thời gian giải quyết do phải chuyển đi chuyển lại giữa các tòa án Từ việc xác định được đúng thẩm quyền của mình, cũng tránh được trường hợp có tranh chấp thẩm quyền giữa các Tòa án cùng cấp với nhau Bên cạnh đó, việc xác định thẩm quyền giữa các Tòa án một cách hợp lý, khoa học tránh được sự chồng chéo trong việc thực hiện nhiệm vụ giữa Tòa án với các cơ quan nhà nước, giữa các Tòa án với nhau Từ đó, góp phần tạo điều kiện cần thiết cho tòa án giải quyết nhanh chóng

và đúng đắn các việc dân sự, nâng cao được hiệu quả giải quyết việc dân sự Ngoài ra, việc xác định thẩm quyền của Tòa án có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định những điều kiện về chuyên môn, nghiệp vụ cần thiết của đội ngũ cán bộ ở tòa án Trên cơ sở đó có kế hoạch đáp ứng bảo đảm cho Tòa án phải thực hiện được chức năng, nhiệm vụ của mình

Vậy, để hiểu rõ hơn thẩm quyền của tòa án các cấp trong xét xử sơ thẩm vụ án, vụ việc dân sự, nhóm chúng em xin đi

vào tìm hiểu Đề bài số 05: “Thẩm quyền sơ thẩm dân sự của

Tòa án các cấp” làm đề tài nghiên cứu cho bài tập nhóm của

nhóm mình

Trang 3

NỘI DUNG

I Khái niệm và ý nghĩa của việc xác định thẩm quyền

sơ thẩm dân sự

1 Khái niệm thẩm quyền sơ thẩm dân sự của tòa án

Trong khoa học pháp lý, thẩm quyền được hiểu là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ hành động, quyết định của các cơ quan,

tổ chức thuộc hệ thống bộ máy nhà nước do pháp luật quy định, dùng để chỉ phạm vi, giới hạn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cá nhân hoặc cơ quan nhà nước trong việc thực thi quyền lực nhà nước theo pháp luật quy định Cụ thể về thẩm quyền của Tòa án là quyền xem xét và giải quyết các vụ việc và quyền

ra các quyết định khi giải quyết các vụ việc đó dựa trên quy định và tinh thần của pháp luật Thẩm quyền dân sự của tòa án

là quyền xem xét, giải quyết các vụ việc và quyền hạn ra các quyết định khi xem xét giải quyết các vụ việc đó theo thủ tục tố tụng dân sự Những vụ việc thuộc thẩm quyền dân sự của tòa

án phát sinh từ các quan hệ dân sự, liên quan đến tài sản, nhân thân, chủ yếu được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận giữa các chủ thể với nhau và được thực hiện theo thủ tục tố tụng dân sự

Pháp luật Việt Nam quy định nguyên tắc xét xử theo hai cấp: sơ thẩm và phúc thẩm Xét xử sơ thẩm là xét xử một vụ án

ở cấp xét xử thấp nhất, đây là cấp xét xử đầu tiên, qua cấp xét

xử sơ thẩm mới có thể xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Cơ sở để có thể mở phiên tòa xét xử sơ thẩm là khi có đơn khởi kiện của một cá nhân, cơ quan, tổ chức về vụ việc thuộc thẩm quyền dân sự của tòa án và được tòa án thụ lí

Như vậy, thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án được hiểu

là quyền xem xét, giải quyết các vụ việc dân sự và quyền hạn

ra các quyết định khi xem xét giải quyết các vụ việc đó trong lần xét xử đầu tiên của một vụ việc theo thẩm quyền của từng cấp tòa án

2 Ý nghĩa của việc xác định thẩm quyền sơ thẩm dân

sự của Tòa án:

Trang 4

Thứ nhất, việc xác định đúng thẩm quyền sơ thẩm dân sự

của tòa án sẽ là cơ sở để xác định đúng thẩm quyền phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm

Thứ hai, tránh tình trạng giải quyết không đúng thẩm quyền

hoặc đùn đẩy trách nhiệm giữa các Tòa trong việc thụ lý giải quyết

Thứ ba, việc xác định đúng thẩm quyền sơ thẩm dân sự của

tòa án sẽ tránh được vụ việc bị hủy để xét xử sơ thẩm lại gây mất thời gian, tốn phí vật chất cho cả Tòa án và đương sự

Thứ tư, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thi hành án dân sự ,

đảm bảo sự phối hợp giữa các Tòa và cơ quan thi hành án trong việc chuyển giao bản sao bản án, quyết định và giải thích bản

án quyết định

Thứ năm, tạo điều kiện thuận lợi cho các đương sự trong

việc tham gia bảo vệ quyền và lợi ích của mình trước Tòa án

Thứ sáu, giảm gánh nặng cho các cấp của tòa án, phân

công, phân cấp, phân quyền xét xử sơ thẩm cho tòa án nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh

II Quy định về việc xác định thẩm quyền sơ thẩm dân

sự giữa tòa án các cấp

Quy định về việc xác định thẩm quyền sơ thẩm dân sự là về việc xác định những loại việc nào thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của tòa án nhân dân cấp huyện và tòa án nhân dân cấp tỉnh

1 Thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án nhân dân cấp huyện

Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết sơ thẩm hầu hết các vụ việc dân sự của tòa án, trừ những vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền của tòa án nhân dân cấp tỉnh Theo

quy định tại Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì Tòa án

nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp, yêu cầu sau:

1.1 Các tranh chấp, yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình

Trang 5

Các tranh chấp về dân sự được quy định tại khoản 1, 2, 3, 4,

5, 6, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự

2015, như: Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc tịch

Việt Nam, tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản, tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự, tranh chấp về thừa kế tài sản, tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng,… sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa

án nhân dân cấp huyện theo thủ tục sơ thẩm Riêng đối với

tranh chấp được quy định tại khoản 7 - Điều 26 - Bộ luật tố tụng

dân sự 2015 là tranh chấp về bồi thường thiệt hại do áp dụng

biện pháp ngăn chặn hành chính không đúng theo quy định của pháp luật về cạnh tranh (thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án) thì không thuộc thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm của tòa án nhân dân cấp huyện

- Những yêu cầu về dân sự:

Những yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền sơ thẩm của tòa án nhân dân cấp huyện là các yêu cầu dân sự quy định tại

các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 27 Bộ luật tố tụng dân

sự 2015, như: yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại

nơi cư trú và quản lí tài sản của người đó; yêu cầu tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích; yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu,…

Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm

quyền sơ thẩm của tòa cấp huyện được quy định ở Điều 28 Bộ

luật tố tụng dân sự 2015, gồm: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con,

chia tài sản khi ly hôn; chia tài sản sau khi ly hôn; Tranh chấp

về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân; Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha, mẹ; Tranh chấp về cấp dưỡng; Tranh chấp về sinh con bằng kĩ thuật

hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo…

Những yêu cầu về hôn nhân gia đình quy định tại các khoản

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 10 và 11 Điều 29 của Bộ luật tố tụng dân

sự 2015csẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án nhân dân

cấp huyện, như: yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài

Trang 6

sản sau khi ly hôn, yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi, yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha, mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình,…

1.2 Tranh chấp , yêu cầu phát sinh trong kinh doanh, thương mại

Tòa án nhân dân cấp huyện chỉ có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm với tranh chấp về kinh doanh, thương mại

quy định tại khoản 1 – Điều 30 – Bộ luật tố tụng dân sự 2015:

“1 Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương

mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng kí kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận”.

Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết sơ

thẩm các yêu cầu về kinh doanh thương mại tại khoản 1 và

khoản 6 Điều 31- Bộ luật tố tụng dân sự 2015, là: yêu cầu hủy

bỏ nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông, nghị quyết của Hội đồng thành viên theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp; các yêu cầu khác về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền dân sự của tòa án

1.3 Những tranh chấp, yêu cầu về lao động

Điều 32 – Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định về những

tranh chấp về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án,

theo khoản 1 – Điều 35 – Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì tòa án

nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm đối với tất cả những tranh chấp lao động tại Điều 32, như: tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động về xử lí kỉ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động; tranh chấp lao động tập thể về quyền giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động theo quy định của pháp luật về lao động đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết mà tập thể lao động hoặc người sử dụng lao động không đồng ý với quyết định đó hoặc quá thời hạn mà Chủ tịch

Ủy ban nhân dân không giải quyết, các tranh chấp liên quan đến lao động,…

Những yêu cầu về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết sơ

thẩm của tòa án nhân dân cấp huyện được quy định tại khoản 1

Trang 7

và khoản 5 – Điều 33 – Bộ luật tố tụng dân sự 2015 là: yêu cầu

tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu; các yêu cầu khác về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án

* Ngoài ra, tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải

quyết sơ thẩm trong trường hợp quy định tại khoản 4 – Điều 35

– Bộ luật tố tụng dân sự 2015: “Tòa án nhân dân cấp huyện nơi

cư trú của công dân Việt Nam hủy việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của

vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi

và giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam theo quy định của Bộ luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam” Các tranh chấp có yếu tố nước

ngoài xảy ra giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam thì tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp đó theo thủ tục sơ thẩm

Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 đã có những điểm mới so với

Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004 sửa đổi, bổ sung 2011 Theo Bộ luật tố tụng dân sự 2004 (sửa đổi, bổ sung 2011) thì tất cả các

tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình đều thuộc thẩm quyền

giải quyết của tòa án cấp huyện Còn ở Bộ luật tố tụng dân sự

2015 lại quy định có ngoại trừ một quan hệ tranh chấp dân sự

thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án nhưng không thuộc

thẩm quyền giải quyết của tòa án cấp huyện tại khoản 7 – Điều

26 – Bộ luật tố tụng dân sự 2015 tranh chấp về bồi thường thiệt

hại do áp dụng biện pháp ngăn chặn hành chính không đúng

theo quy định của pháp luật về cạnh tranh Bộ luật tố tụng dân

sự 2015 đã mở rộng thẩm quyền của tòa án cấp huyện trong

việc giải quyết các tranh chấp lao động khi quy định tất cả tranh chấp lao động quy định tại điều 32 đều thuộc thẩm quyền

của tòa án cấp huyện trong khi Bộ luật tố tụng dân sự 2004 (sửa đổi, bổ sung 2011) chỉ quy định những tranh chấp tại

khoản 1 Điều 31 về tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao

động với người sử dụng lao động

Trang 8

Bộ luật tố tụng dân sự 2015 là văn bản quy phạm pháp luật

lần đầu tiên ghi nhận tòa án cấp huyện được quyền giải quyết

các yêu cầu tại khoản 1, khoản 6 Điều 31 về yêu cầu hủy bỏ

nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông, nghị quyết của Hội đồng thành viên theo pháp luật doanh nghiệp và các yêu cầu khác về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền của tòa án; Ngoài ra tòa án cấp huyện được giải quyết những yêu cầu quy định tại

Khoản 1, Khoản 5 Điều 33 luật này về yêu cầu tuyên bố hợp

đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu và các yêu cầu khác về lao động thuộc thẩm quyền của tòa án

Bộ luật tố tụng dân sự 2015 có điểm mới nữa là quy định

tòa án cấp huyện được thành lập các tòa chuyên trách để giải

quyết các vụ việc tại Điều 36, gồm 3 tòa: tòa dân sự, tòa gia

đình và người chưa thành niên Tòa Dân sự giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động thuộc thẩm quyền của tòa án nhân dân cấp huyện được

quy định tại Điều 35 Tòa gia đình và người chưa thành niên có

thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền của tòa án nhân dân cấp huyện Như vậy, thẩm quyền sơ thẩm dân sự của tòa án nhân cấp huyện đã được mở rộng hơn so với Bộ luật cũ, thể hiện ở việc tòa án nhân dân cấp huyện đã được trao thẩm quyền giải quyết thêm một số các tranh chấp, yêu cầu, xây dựng được tính chuyên môn hóa của tòa án nhân cấp huyện thể hiện ở tòa chuyên trách sẽ giúp giảm bớt gánh nặng cho tòa án cấp tỉnh

2 Thẩm quyền sơ thẩm dân sự của tòa án nhân dân cấp tỉnh

Tại Điều 37 – Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định thẩm

quyền của tòa án nhân dân cấp tỉnh, tòa án nhân cấp tỉnh có thẩm quyền sơ thẩm trong việc giải quyết các tranh chấp, yêu cầu về dân sự, hôn nhân gia đình, lao động, kinh doanh thương mại mà không thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án cấp huyện; hoặc thuộc thẩm quyền của tòa án cấp huyện nhưng có đương sự, tài sản ở nước ngoài hoặc cần ủy thác tư pháp ra nước ngoài; hoặc những vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của tòa án cấp huyện mà tòa án cấp tỉnh tự mình lấy lên

Trang 9

để giải quyết Như vậy, tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền

sơ thẩm trong việc giải quyết các tranh chấp, yêu cầu trong những trường hợp sau:

2.1 Những vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết sơ

thẩm của Tòa án cấp tỉnh do yêu cầu chuyên môn, nghiệp vụ

Tranh chấp về dân sự quy định Khoản 7 – Điều 26 – Bộ luật

tố tụng dân sự 2015: “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do áp dụng biện pháp ngăn chặn hành chính không đúng quy định của pháp luật về cạnh tranh”

Tranh chấp về kinh doanh, thương mại tại Khoản 2, 3, 4, 5

điều 30 – Bộ luật tố tụng dân sự 2015 gồm: Tranh chấp về

quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, với người quản lí của công ty trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên trong công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, tổ chức lại, bàn giao tài sản, chuyển đổi hình thức của công ty,… và các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền của tòa án

Yêu cầu về kinh doanh, thương mại quy định tại Khoản 2, 3

Điều 31 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 là: yêu cầu liên quan đến

việc Trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết tranh chấp theo yêu cầu của pháp luật trọng tài, yêu cầu bắt giữ tàu bay, tàu biển theo quy định về hàng không dân dụng Việt Nam, về hàng hải Việt Nam

Yêu cầu về lao động quy định tại Khoản 2 Điều 33 Bộ luật tố

tụng dân sự 2015 là: yêu cầu xét tính hợp pháp của cuộc đình

công

2.2 Các vụ việc dân sự mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án nước ngoài

Trang 10

Theo Khoản 3 – Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy

định những tranh chấp, yêu cầu thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của tòa án nhân dân cấp huyện mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết

Đương sự ở nước ngoài là người Việt Nam hay người nước ngoài mà vào thời điểm Tòa án thụ lý vụ việc không có mặt tại Việt Nam; Tài sản ở nước ngoài là tài sản được xác định theo quy định của Bộ luật dân sự ở ngoài biên giới lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý

vụ việc

2.3 Các yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định về dân sự của Tòa án nước ngoài, trọng tài nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định đó

Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định về dân sự, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính, quyết định

về hôn nhân và gia đình, quyết định lao động, kinh doanh, thương mại của Tòa án nước ngoài hoặc không công nhận bản

án, quyết định về dân sự, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính, quyết định về hôn nhân và gia đình, quyết định lao động, kinh doanh, thương mại của Tòa án nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam; yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết kinh doanh, thương mại, lao động của trọng tài nước ngoài Những yêu cầu

trên thuộc các điều khoản: Khoản 5 Điều 27 Bộ luật tố tụng dân

sự 2015, Khoản 9 Điều 29 BLTTDS 2015, Khoản 4, Khoản 5 Điều

31 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Khoản 4 Điều 33 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

2.4 Những vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện nhưng Tòa án cấp tỉnh lấy lên đề giải quyết do sự phức tạp, khó khăn hoặc cần đảm bảo tính khách quan trong việc giải quyết.

Ngày đăng: 01/03/2019, 08:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w