Mục đích nghiên cứu của đề tài Nghiên cứu một số đặc điểm về cấu trúc sinh trưởng và của rừng Neem, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là những định hướng cho việc đề xuất các biện pháp k
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ SINH TRƯỞNG CỦA
RỪNG NEEM (Azadirachta indica A.Juss) TRỒNG NĂM 1998
TẠI NINH PHƯỚC – NINH THUẬN LÀM CƠ SỞ
ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP TỈA THƯA
Họ và tên sinh viên: ĐẶNG VĂN TRÍ Ngành: LÂM NGHIỆP
Niên khóa: 2006 - 2010
Tháng 7/2010
Trang 2NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ SINH TRƯỞNG CỦA RỪNG
NEEM (Azadirachta indica A.Juss) TRỒNG NĂM 1998
TẠI NINH PHƯỚC – NINH THUẬN LÀM CƠ SỞ
ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP TỈA THƯA
Tác giả ĐẶNG VĂN TRÍ
Khóa luận được đệ trình đề để đáp ứng yêu cầu
cấp bằng Kỹ sư ngành Lâm Nghiệp
Giáo viên hướng dẫn:
Thạc sĩ Trương Văn Vinh
Tháng ……… năm………
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để có được kiến thức như ngày hôm nay và hoàn thành khóa luận cuối khóa là nhờ công sức nuôi dưỡng và dạy dỗ của cha mẹ, gia đình và các thế hệ thầy cô giáo Bởi vậy, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc, trước hết đến cha mẹ, người đã nuôi nấng và giúp đỡ tôi mọi việc để tôi có được ngày hôm nay
Xin gởi lời cám ơn đến quý thầy cô trường Đại Học Nông Lâm, quý thầy cô Khoa Lâm Nghiệp, và quý thầy cô trong Bộ Môn Quản Lí Tài Nguyên Rừng đã đem lại cho tôi nhiều bài học quý báu, cho tôi có kiến thức làm hành trang để bước vào cuộc sống mưu sinh
Xin gởi lời cảm ơn tới Ban quản lý rừng phòng hộ ven biển Ninh Phước, cùng các anh chị phòng kĩ thuật, các anh trạm Phước Dinh đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập
Đặc biệt cho tôi bày tỏ lòng biết ơn đến thầy Ths.Trương Văn Vinh đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi rất nhiều trong thời gian làm khóa luận cuối khóa này
Cuối cùng tôi muốn gởi đến các bạn trong tập thể lớp Lâm Nghiệp DH06LN
Sự giúp đỡ, động viên của các bạn đã giúp tôi hoàn thành đề tài này
Thành phố Hồ Chí Minh 30/7/2010
Sinh viên thực hiện Đặng Văn Trí
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang tựa i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh sách các chữ viết tắt vi
Danh sách các bảng vii
Danh sách các hình viii
CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 2
1.3 Những đóng góp của đề tài 3
1.4 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu 3
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
2.1 Nghiên cứu sinh trưởng của cây rừng trên thế giới 5
2.2 Nghiên cứu sinh trưởng của cây rừng ở Việt Nam 7
2.3 Nghiên cứu mật độ và tỉa thưa rừng trồng 11
CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM ĐỐI TƯỢNG VÀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 14
3.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 14
3.1.1 Giới thiệu tổng quát về cây Neem 14
3.1.2 Quá trình dẫn nhập cây Neem vào việt nam 14
3.1.3 Đặc điểm thực vật 15
3.1.4 Giá trị kinh tế của cây Neem 17
3.2 Đặc điểm khu vực nghiên cứu 19
3.2.1 Vị trí địa lý 19
3.2.2 Địa hình 19
3.2.3 Đất 20
3.2.4 Thổ nhưỡng 20
3.1.5 Thực bì 21
3.2.6 Tài nguyên rừng 21
3.2.7 Khí hậu 22
3.2.8 Thuỷ văn 23
Trang 53.2.9 Giao thông huyện Ninh Phước 23
3.3 Phân tích đặc điểm kinh tế- xã hội 24
3.3.1 Hành chính 24
3.3.2 Dân sinh kinh tế 25
3.3.3 Ngành nghề 25
3.3.4 Tập quán canh tác 25
3.3.5 Thu nhập 25
CHƯƠNG 4.NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
4.1 Nội dung nghiên cứu 26
4.1.1 Đánh giá tình hình sinh trưởng của rừng Neem thông qua các quy luật phân bố của các chỉ tiêu sinh trưởng 26
4.1.2 Nghiên cứu sinh trưởng của các chỉ tiêu sinh trưởng theo tuổi thông qua phương trình tương quan 26
4.1.3 Nghiên cứu độ tàn che và độ giao tán của rừng 26
4.1.4 Biện pháp tỉa thưa rừng trồng 26
4.2 Phương pháp nghiên cứu 27
4.2.1 Ngoại nghiệp 27
4.2.2 Nội nghiệp 28
CHƯƠNG 5 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
5.1 Quy luật phân bố số cây theo một số chỉ tiêu sinh trưởng của loài Neem 33
5.1.1 Quy luật phân bố số cây theo cấp chiều cao (N/Hvn) 33
5.1.2 Quy luật phân bố số cây theo cấp đường kính (N/D1,3 ) 36
5.1.3 Quy luật phân bố số cây theo cấp đường kính tán (N/Dtán) 38
5.2 Qui luật sinh trưởng của rừng Neem trồng tại Ninh Phước – Ninh Thuận 41
5.2.1 Quy luật sinh trưởng về chiều cao (Hvn) của rừng Neem 42
5.2.2 Quy luật sinh trưởng về đường kính (D1,3) của rừng Neem 44
5.2.3 Quy luật sinh trưởng giữa chiều cao và đường kính của rừng Neem 46
5.2.4 Quy luật sinh trưởng thể tích thân cây của rừng Neem 48
5.3 Độ tàn che và độ giao tán của rừng 49
5.4 Đề xuất biện pháp tỉa thưa 53
CHƯƠNG 6 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 55
6.1 Kết luận 55
Trang 66.1.1 Quy luật phân bố số cây theo một số chỉ tiêu sinh trưởng của loài Neem 55
6.1.2 Đặc điểm sinh trưởng của rừng Neem trồng 1998 56
6.1.3 Độ tàn che và giao tán của rừng 56
6.1.4 Biện pháp tỉa thưa 56
6.2 Kiến nghị 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58 PHỤ LỤC
Trang 7DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
QLTNR Quản lý tài nguyên rừng
PCCCR Phòng cháy chữa cháy rừng
D1,3 Đường kính thân cây tại vị trí cao 1,3 m
Trang 8DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 5.1.1: Phân bố số cây theo cấp chiều cao (N/Hvn) 34 Bảng 5.1.2: Kết quả kiểm tra các tiểu chuẩn thống kê của một số hàm toán học mô tả
mối tương quan phân bố số cây với chiều cao (N/Hvn) 34
Bảng 5.1.3: tương quan số cây theo chiều cao vút ngọn (Hvn) 35 Bảng 5.1.4: Phân bố số cây theo cấp đường kính D1,3 36
Bảng 5.1.5: Kết quả kiểm tra các tiểu chuẩn thống kê của một số hàm toán học mô tả
mối tương quan phân bố số cây với đường kính (N/D1,3) 37
Bảng 5.1.6: Tương quan về số cây theo D1,3 37
Bảng 5.1.7: Phân bố số cây theo cấp đường kính tán (N/Dtán) 39
Bảng 5.1.8: Kết quả kiểm tra các tiểu chuẩn thống kê của một số hàm toán học mô tả
mối tương quan phân bố số cây đường kính tán (N/Dtán) 39
Bảng 5.1.9: Tương quan phân bố số cây theo đường kính tán (N%/Dtán) 40
Bảng 5.2.1: Bảng kiểm tra các tiêu chuẩn thống kê của một số hàm toán học mô tả
mối tương quan giữa tuổi A với chiều cao cây (Hvn) 43
Bảng 5.2.2: Tương quan giữa chiều cao (Hvn) và tuổi A 43
Bảng 5.2.3: Bảng kiểm tra các tiêu chuẩn thống kê của một số hàm toán học mô tả
mối tương quan giữa tuổi A và đường kính D1.3 45
Bảng 5.2.4: Tương quan giữa chiều cao (Hvn) và tuổi A 45
Bảng 5.2.5: Bảng kiểm tra các tiêu chuẩn thống kê của một số hàm toán học mô tả
mối tương quan giữa chiều cao Hvn và đường kính D1,3 46
Bảng 5.2.6: Tương quan giữa chiều cao Hvn và đường kính D1,3 47
Bảng 5.2.7: Bảng kiểm tra các tiêu chuẩn thống kê của một số hàm toán học mô tả
mối tương quan giữa thể tích thân cây V và tuổi A 48
Bảng 5.2.8: Tương quan giữa thể tích thân cây V và tuổi A 49
Trang 9DANH SÁCH CÁC HÌNH
Trang
Hình 5.1: Đường biểu diễn phân bố số cây theo cấp chiều cao (N/Hvn) 35
Hình 5.2: Đường biểu diễn phân bố số cây theo cấp đường kính (N/D1,3) 38
Hình 5.3: Đường biểu diễn phân bố số cây theo đường kính tán (N/Dtán) 40
Hình 5.4: Đường biểu diễn tương quan giữa chiều cao (Hvn) và tuổi A 43
Hình 5.5: Đường biểu diễn tương quan giữa đường kính (D1,3) và tuổi A 45
Hình 5.6: Đường biểu diễn tương quan giữa chiều cao Hvn và đường kính D1,3 47
Hình 5.7: Đường biểu diễn tương quan giữa thể tích thân cây và tuổi A 49
Hình 5.8: Trắc đồ ô điều tra số1 50
Hình 5.9: Trắc đồ ô điều tra số 2 51
Hình 5.10: Trắc đồ ô điều tra số 3 52
Trang 10Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Diện tích rừng nước ta năm 1945 là 14,9 triệu hecta che phủ 44,8% diện tích đất
tự nhiên Năm 1981 còn khoảng 7,8 triệu hecta chiếm khoảng 24 % Đến năm 2001 diện tích đất có rừng tăng lên đáng kể độ che phủ khoảng 32% Những năm gần đây các thiên tai như hạn hán, lũ lụt thường xuyên xảy ra, môi trường không khí, đất, nước sạch ngày càng bị thu hẹp, nguyên nhân chủ yếu do mất rừng, khai phá đất rừng làm nông nghiệp và công nghiệp hóa Do đó nhiệm vụ cấp bách là khôi phục lại diện tích rừng, cải tạo môi trường, bảo về nguồn nước đầu nguồn Đây là một nhiệm vụ hết sức khó khăn, nhưng nó có ý nghĩa to lớn không chỉ về mặt kinh tế – xã hội mà còn về môi trường và quốc phòng Để thực hiện nhiệm vụ to lớn ấy, một mặt ngành lâm nghiệp đang cố gắng gây trồng những giống cây bản địa có năng suất và hiệu quả kinh tế cao Mặt khác, ngành Lâm Nghiệp cũng khuyến khích việc tìm kiếm và gây trồng các giống cây nhập nội, phù hợp với điều kiện tự nhiên và khí hậu ở Việt Nam Đồng thời những giống cây này phải có giá trị cao về kinh tế, xây dựng, xuất khẩu và khoa học
Vì thế, việc tìm kiếm khả năng gây trồng những loài cây nhập nội có hiệu quả kinh tế cao là một nhiệm vụ không thể thiếu của ngành khoa học lâm sinh
Trong dịp đi dự Hội nghị Lâm nghiệp quốc tế tại Senegal (Châu Phi) vào Tháng 2/1981, Giáo Sư Lâm Công Định đã chứng kiến trên dải cát khô nóng cận sa mạc Tây
Phi, những hàng cây Neem (Azadirachta indica A.Juss) chịu hạn đứng vững và luôn
xanh tốt, tỏa bóng mát cả một khu vực cát rộng lớn trong vùng Ông mang một ít hạt giống Neem về Việt Nam đã ươm và trồng tại sở Lâm nghiệp tỉnh Bình Thuận, nhưng sau chỉ còn lại một cây và đến tháng 6/1984 cây đã cho quả đầu tiên Từ đó cây Neem được trồng rộng rãi
Ninh Thuận là một tỉnh khu vực miền núi khí hậu của Nam Trung Bộ, nhiệt đới gió mùa, là vùng khí hậu khô hạn, mưa ít, nhiệt độ cao, gió mạnh, lượng nước bốc hơi
Trang 11cao Đặc biệt là vùng đất cát ven biển, đây là vùng đất cát khô nóng, ngoài khả năng thích nghi và chống chịu của cây phi lao quen thuộc Để phủ xanh đất cát ven biển, trong những năm gần đây được sự quan tâm của Tỉnh và sự lãnh đạo tập trung của ngành Lâm nghiệp và Sở Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn (NN&PTNT) đã nghiên cứu và gây trồng các loài cây nhập nội phù hợp với điều kiện tự nhiên và khí
hậu tại Ninh Thuận Trong các loài cây đó có cây Neem (Azadirachta indica A.Juss)
hay còn gọi là xoan chịu hạn, đây là cây có lá xanh quanh năm, gỗ cứng Ngoài điều đáng quí đó ra, tất cả các bộ phận của cây Neem đều là những nguyên liệu quí cho công nghiệp chế biến Đây là một loại cây đa năng, vừa có giá trị kinh tế nhất định, vừa cải thiện môi trường sinh thái rất khắc nghiệt của vùng cát nóng, nắng hạn nhất cả nước Do đó cây Neem trở thành cây chủ lực trong công tác trồng rừng của tỉnh Ninh Thuận
Để góp phần nghiên cứu sinh trưởng của cây Neem trên diện tích rừng trồng ở Ban quản lý rừng phòng hộ ven biển Ninh Phước, nhằm làm cơ sở cho việc qui hoạch
và phát triển loài Neem được tốt hơn Trong giới hạn của một luận văn tốt nghiệp cuối khóa Được sự cho phép của Bộ môn Điều Chế Rừng – Khoa Lâm Nghiệp, Thầy Trương Văn Vinh và lãnh đạo Ban Quản lý rừng phòng hộ ven biển Ninh Phước Tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và sinh trưởng của rừng Neem
(Azadirachta indica A.Juss) trồng năm 1998 tại Ninh Phước - Ninh Thuận làm cơ sở
đề xuất biện pháp tỉa thưa”.Với nguyện vọng kết quả đạt được của luận văn sẽ đóng góp một phần nhỏ trong việc kinh doanh, quản lý và phát triển loài cây Neem tại khu
vực nghiên cứu một cách bền vững
1.2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu một số đặc điểm về cấu trúc sinh trưởng và của rừng Neem, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là những định hướng cho việc đề xuất các biện pháp kỹ thuật nuôi dưỡng thích hợp, mà đặc biệt là tỉa thưa rừng trồng năm 1998 đã khép tán tại Ninh Phước, nhằm phục vụ công tác quy hoạch, thiết kế khai thác, quản lý kinh doanh rừng nhằm từng bước nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng
Trang 121.3 Những đóng góp của đề tài
Cây Neem là một loại cây mới đuợc nhập nội và được trồng chủ yếu tại Ban quản lý rừng phòng hộ ven biển Ninh Phước – Ninh Thuận, cho đến nay vẫn chưa có nhiều những nghiên cứu về cấu trúc và quy luật sinh trưởng của rừng Neem trồng Vì vậy những vấn đề mà luận văn sẽ đề cập đến và giải quyết chính là:
- Thiết lập xây dựng mô hình sinh trưởng của rừng Neem trồng, quy luật phân
bố số cây với các chỉ tiêu sinh trưởng như chiều cao vút ngọn (Hvn), đường kính cây tại vị trí 1,3m (D1,3), đường kính tán, bằng các mô hình toán biểu thị tốt nhất quy luật sinh trưởng của rừng Neem trồng, nhằm đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh như tỉa thưa, phục vụ cho quá trình kinh doanh rừng trồng Neem tại ban Quản lý rừng phòng hộ tỉnh Ninh Thuận
- Ngoài ra kết quả nghiên cứu của đề tài là một tài liệu tham khảo khi nghiên cứu phân bố, sinh trưởng cho loài Neem trồng tại một số khu vực lân cận
1.4 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu
* Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tiến hành nghiên cứu rừng Neem trồng trên địa bàn xã Phước Dinh Huyện Ninh Phước thuộc ban quản lý rừng phòng hộ ven biển Ninh Phước tỉnh Ninh Thuận Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những diện tích rừng trồng năm 1998 Đây
là những diện tích rừng từ khi trồng cho tới thời điểm nghiên cứu vẫn chưa có sự tác động từ bên ngoài, nên cấu trúc rừng vẫn còn ổn định
* Giới hạn của đề tài
Do có hạn về thời gian và điều kiện nghiên cứu, đối tượng mới nghiên cứu là loài cây mới nhập nội và được gây trồng ở nước ta trong những năm gần đây Có độ tuổi còn nhỏ, không liên tục, không tập trung, diện tích rừng không nhiều Vì vậy trong quá trình thực hiện đề tài gặp nhiều khó khăn trong công tác ngoại nghiệp, kết quả thu được còn hạn chế Kính mong quí thầy cô, các bạn đồng nghiệp đóng góp ý kiến để đề tài được hoàn thiện hơn
Trang 13Chương 2
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Pressler đã định nghĩa: "Tăng trưởng học là một bộ phận của lâm nghiệp, nó bao gồm các quy luật tăng trưởng, các phương pháp xác định tăng trưởng, trồng rừng
và tăng trưởng rừng" (trích dẫn từ sản lượng rừng, Vũ Tiến Hinh)
Từ trước đến nay, có nhiều khái niệm hoặc định nghĩa về sinh trưởng, nhưng theo V.Bertalanfly (Wenk, G 1990) thì sinh trưởng là sự tăng lên của một đại lượng nào đó nhờ kết quả đồng hoá của một vật sống
Sinh trưởng được hiểu là sự biến đổi theo thời gian của một đại lượng nào đó ở cây cá thể như D, H, V, Dt … Sinh trưởng gắn liền với thời gian, vì thế thường được gọi là quá trình sinh trưởng, đó là một dạng đường cong, được chia thành 3 giai đoạn:
từ khi hình thành rừng, rừng thành thục đến già cỗi và chết đi Sinh trưởng kéo dài liên tục trong suốt thời gian tồn tại tự nhiên của chúng Sinh trưởng của cây rừng nhanh hay chậm là phụ thuộc vào đặc tính nội tại của từng loài cây và điều kiện lập địa nơi chúng sinh sống Sự biến đổi theo thời gian của các đại lượng này đều có qui luật Để
mô tả sinh trưởng của cây rừng các nhà khoa học thường dựa vào các phương trình toán học để đánh giá mức độ sinh trưởng của chúng trên lâm phần hay trên một dạng lập địa cụ thể Tương ứng với các đại lượng, ta có khái niệm về sinh trưởng đường kính, sinh trưởng chiều cao, sinh trưởng thể tích…
Có thể mô tả quy luật sinh trưởng của mỗi đại lượng D, H, V bằng biểu thức toán học Trong biểu thức đó, Y là đại lượng sinh trưởng và được coi là một hàm của thời gian (t) cùng yếu tố môi trường (u):
Y = F(t, u) Yếu tố môi trường rất đa dạng, như: CO2, H2O, nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, pH… Trong đó điều kiện lập địa là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sinh trưởng Ở những điều kiện sống khác nhau thì sinh trưởng của rừng cũng khác nhau
Trang 14Vì khả năng sinh trưởng của cây rừng phụ thuộc vào các yếu tố: điều kiện lập địa, dinh dưỡng trong đất, mật độ cây và tổ thành loài cây… Cho đến nay, vẫn chưa đánh giá được ảnh hưởng tổng hợp của từng yếu tố cụ thể này đến sinh trưởng của cây như thế nào Do đó, yếu tố môi trường được coi là hằng số và sinh trưởng chỉ phụ thuộc và thời gian
Y = F(t) Tốc độ sinh trưởng là đạo hàm bậc nhất theo thời gian của sinh trưởng Nếu coi
Y là phương trình sinh trưởng, Y' là tốc độ sinh trưởng, ta có:
Y' = F'(t) = f(t)F Nhận biết sinh trưởng của cây bằng mô hình sinh trưởng Mô hình sinh trưởng
là mô hình toán học biểu thị mối quan hệ giữa từng đại lượng như đường kính, chiều cao, thể tích của cây với các yếu tố có liên quan như tuổi, diện tích dinh dưỡng, điều kiện môi trường Từ mô hình sinh trưởng, thông qua các biến cần thiết, ước lượng sinh
trưởng cho từng đại lượng
2.1 Nghiên cứu sinh trưởng của cây rừng trên thế giới
Nghiên cứu về sinh trưởng và tăng trưởng của rừng là một vấn đề mà được nhiều nhà lâm nghiệp đặc biệt quan tâm
Theo V Bertalanfly (1951), sinh trưởng là sự lớn lên của cơ thể thông qua đồng hóa những nguồn năng lượng của môi trường dưới ảnh hưởng của các quy luật vận động nội tại cũng như mối quan hệ giữa các nhân tố nội tại, ngoại cảnh trong suốt thời gian tồn tại của chúng Nghiên cứu sinh trưởng của cây rừng là cơ sở để đánh giá sức sản xuất của lập địa, điều kiện tự nhiên cũng như hiệu quả của các biện pháp tác động
đã áp dụng
Nghiên cứu quy luật sinh trưởng của cây rừng và quần thể là tìm hiểu và nắm bắt được những quy luật phát triển của chúng thông qua một số chỉ tiêu sinh trưởng như: Hvn, D1,3… theo thời gian Những quy luật này được mô tả bằng những phương trình toán học cụ thể và được gọi là các hàm sinh trưởng hay mô hình sinh trưởng
Về phương diện toán học, sinh trưởng của cây rừng được hiểu như một hàm số
có nhiều biến phụ thuộc; tuổi cây (A), các đặc trưng về nhiệt độ (TT), lượng mưa
Trang 15(VL), độ ẩm (W), lượng bức xạ (BX), dinh dưỡng trong đất (NPK), mật độ của rừng (N)… Nếu được biểu thị dưới dạng phương trình:
Y = f(A, TT, VL, W, BX, NPK, N,…) Trong đó f là dạng phương trình toán học thích hợp được xác định bởi các tiêu chuẩn thống kê và sự phù hợp với đặc tính sinh học của loài cây Nếu trong điều kiện
mà các yếu tố ngoại cạnh của rừng tương đối đồng nhất, sinh trưởng của cây rừng được coi là hàm số chỉ phụ thuộc vào tuổi:
Y = f(A) Cho đến nay, nhiều nhà khoa học lâm nghiệp trên thế giới cũng như ở Việt Nam
đã đi sâu nghiên cứu với sự ứng dụng rộng rãi thống kê toán học, để tìm ra các hàm toán học thích hợp cho việc mô tả quá trình sinh trưởng của các loài cây rừng ở các vùng sinh thái khác nhau trên các châu lục
Tiêu biểu và đại diện cho những kết quả nghiên cứu sinh trưởng của cây rừng được công bố trên thế giới là những hàm sinh trưởng mang tên các tác giả như:
0 *
A a e
e m
Y
- Hàm Backmann: Log(Y) = a0 + a1.Lg(A) + a2.Lg2(A)
- Hàm Korsun: (1935) Y = a0.e[a1 *Ln(A) – a1*Ln2 (A) ]
- Hàm Thomasius: (1964) Y = a0.[1-e –a1 *A(1-ea *2 A)]
- Hàm Mitscherlich: (1919) Y = a0.[1-e(-a1 A) 2]
Trong đó:
- Y: đại lượng sinh trưởng (chiều cao, đường kính…)
- m: giá trị cực đại có thể đạt được của Y
- a0, a1, a2: là các tham số của phương trình
- A : tuổi của cây rừng hay lâm phần
- e: số mũ tự nhiên Neper (e = 2,7182…)
Bên cạnh quá trình sinh trưởng, tốc độ sinh trưởng hay còn gọi là lượng tăng trưởng của cây rừng càng được các nhà nghiên cứu quan tâm, mộ tả và quy luật hóa quá trình tăng trưởng của cây rừng bằng những hàm tăng trưởng như:
Trang 16- Hàm Gompertz: Y = a0.e -a1 A
- Hàm Korf: Y= a0.A -a1
Trong đó:
- Y là đại lượng tăng trưởng của một nhân tố sinh trưởng
- a0, a1, là các tham số của phương trình
- A là tuổi của cây rừng hay lâm phần
- e là số mủ tự nhiên Neper (e = 2,7182…)
Từ những quy luật này, người ta sẽ có những đánh giá, nhận xét một cách khách quan về ảnh hưởng của các yếu tố ngoại cảnh (điều kiện tự nhiên, biện pháp tác động,…) tới quá trình sinh trưởng của cây rừng, để từ đó có được những biện pháp kỹ thuật thích hợp với từng giai đoạn phát triển của cây đứng, nhằm đưa rừng đạt được chất lượng tốt và năng suất cao nhất phù hợp với mục đích kinh doanh
Việc nghiên cứu về quy luật sinh trưởng của cây rừng về chiều cao, đường kính, đường kính tán đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học về sinh trưởng trên thế giới và Việt Nam Qua các kết quả nghiên cứu đó, các nhà khoa học đã đưa ra rất nhiều dạng phương trình toán học khác nhau để mô tả một cách chính xác các quy luật sinh trưởng của mỗi loài cây rừng khác nhau ở từng vùng sinh thái, lập địa khác nhau trên thế giới và cũng là cơ sở khoa học rất quý giá cho những nghiên cứu về sinh trưởng của cây rừng sau này Tuy nhiên, hàm toán học này chỉ phù hợp cho một số loài cây ở những vùng sinh thái cụ thể Với các loài cây khác nhau, ở các vùng sinh thái khác thì các hàm sinh trưởng này có phù hợp hay không cần có những nghiên cứu ứng dụng và kết quả mức độ phù hợp của chúng
2.2 Nghiên cứu sinh trưởng của cây rừng ở Việt Nam
Ở nước ta, cũng có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu quá trình sinh trưởng và tăng trưởng của cây rừng, và cũng đưa ra được một số phương trình sinh trưởng thích ứng với điều kiện nước ta Làm cơ sở cho việc định ra các biện pháp kĩ thuật lâm sinh thích hợp với từng giai đoạn phát triển khác nhau của rừng, đáp ứng kịp thời cho mục tiêu kinh doanh Dưới đây là một số phương trình sinh trưởng được tìm ra ở nước ta
Theo Lâm Xuân Sanh (1987), sinh trưởng là một biểu thị về động thái của rừng,
là căn cứ khoa học quan trọng để định ra những phương thức kỹ thuật lâm sinh thích
Trang 17hợp với từng giai đoạn phát triển khác nhau của rừng để đáp ứng các mục tiêu kinh doanh lâm nghiệp Sinh trưởng của quần xã thực vật rừng và các cá thể cây rừng là hai vấn đề khác nhau nhưng quan hệ chặc chẽ với nhau Sinh trưởng của cá thể cây rừng
có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của rừng
Đồng thời có nhiều nhà khoa học lâm nghiệp đã nghiên cứu định lượng quy luật sinh trưởng của cây rừng và đề nghị một số dạng hàm toán học mô tả quá trình sinh trưởng của một số loài hình rừng cũng như các mối quan hệ giữa các nhân tố sinh trưởng của chúng với nhau trong quá trình sinh trưởng của rừng
Đồng Sỹ Hiền (1973), đã đưa ra dạng phương trình toán học bậc đa thức để biểu thị mối quan hệ giữa đường kính và chiều cao ở các vị trí khác nahu của cây, qua
đó mô tả được quy luật phát triển hình dạng thân cây của cây rừng, đặc biệt là cây rừng tự nhiên:
Y =b0 + b1.x1 + b2.x2 + b3 x3 + … + bn.xn
Phương trình này được tác giả sử dụng cho việc lập biểu thể tích và biểu độ thon cây đứng, nhằm xác định trữ lượng cùa rừng theo phương pháp cây tiêu chuẩn một cách nhanh chóng, giảm nhẹ công việc nội và ngoại nghiệp trong công tác điều tra rừng
Vũ Đình Phương và công tác viên (1973) khi nghiên cứu quy luật sinh trưởng của rừng bồ đề đã mô tả về quan hệ giữa chiều cao bình quân với tuổi của lâm phần bồ
đề (Styrax tonkinensis Pierre) trồng thuần loài đều tuổi bằng phương trình:
AH = a1 + a2*A + a3*A2 Trong đó:
- A: tuổi của cây rừng hay lâm phần
- AH: là tích số giữa tuổi và chiều cao bình quân lâm phần
- a1, a2, a3: là các tham số của phương trình
Ngoài những nghiên cứu trên, ở những năm gần đây trong một số công trình nghiên cứu của giáo viên và sinh viên cao học tại trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM
đã nghiên cứu về quy luật sinh trưởng của một số loài cây mọc nhanh ở các tỉnh phía Nam như: keo lá tràm, bạch đàn… các nghiên cứu này cũng đưa ra một dạng hàm sinh
Trang 18trưởng cho từng đối tượng cụ thể dựa trên cơ sở ứng dụng một số dạng hàm toán học đặc trưng của các tác giả đi trước Điển hình cho những nghiên cứu này là:
Bùi Việt Hải (1997) đã đưa ra kết quả nghiên cứu về quy luật sinh trưởng của loài keo lá tràm tại Vĩnh An, Đồng Nai bằng những hàm toán học tương đối phù hợp
để biểu diễn quy luật sinh trưởng của loài Keo lá tràm:
Y = a.e(-b/x) hay : lny = lna - b/xk
- x: biến số độc lập (tuổi cây)
- y: biến phụ thuộc, biểu thị sinh trưởng chiều cao, đường kính
* Hàm tăng trưởng chiều cao và đường kính thân cây:
Dạng phương trình:
Y = a.ex
Trong đó:
- x: biến số độc lập (tuổi cây)
- y: biến số biểu thị tăng trưởng chiều cao, đường kính bình quân
Hà Văn Nghĩa (1998), sau khi nghiên cứu và mô phỏng quá trình sinh trưởng của rừng trồng keo lá tràm tại Lâm trường Xuyên Mộc, Bà Rịa – Vũng Tàu đã đưa ra phương trình mô tả quan hệ giữa đường kính bình quân với tuổi như sau:
Dbq = 8,51913 * e -4,99096 * e
952434 , 0
Trong đó:
- Dbq là đường kính bình quân của lâm phần
- T là tuổi của lâm phần
Trang 19Huỳnh Hữu To (1999), đã mô phỏng quá trình sinh trưởng và dự đoán trữ lượng rừng bạch đàn trồng tại tứ giác Long Xuyên, Kiên Giang dựa vào hàm Gompertz, phương trình được xác lập như sau:
M = 44,7547.e -63349 * e0,7892.T
Trong đó:
- M là trữ lượng của lâm phần
- T là tuổi của lâm phần
Bùi Anh Tuấn (2003) đã nghiên cứu quy luật sinh trưởng và ảnh hưởng của diện tích sinh trưởng tới rừng Neem làm cơ sở đề xuất một số biện pháp kinh doanh tại rừng trồng của ban quản lý rừng phòng hộ ven biển Ninh Phước – Ninh Thuận
Để nghiên cứu quy luật sinh trưởng của cây cá thể và quần thể rừng trồng luận văn đã chọn và thử nghiệm một số hàm sinh trưởng như:
Trương Văn Vinh (2006) đã nghiên cứu động thái sinh khối của rừng Neem trồng tại huyện Ninh Phước – Ninh Thuận Để thiết lập phương trình biểu diễn quá trình sinh trưởng của các chỉ tiêu sinh trưởng, luận văn đã thử nghiệm một số dạng phương trình toán học thông dụng sau:
a) Y = a.e(-b/x) hay : lny = lna - b/xk b) Y = a + b.logx
c) Y = a.xb hay: logy = loga + b.logx d) Y = a + bx + cx2
e) Y = a.ex
f) Y = a + b/x
Trang 20g) Y = ae
k x
b /
(với k biến động từ 0,2 đến 0,9) Việc lựa chọn hàm toán học phù hợp để mô phỏng các mối quan hệ giữa các chỉ tiêu sinh trưởng hoặc giữa các bộ phận sinh khối với nhau dựa trên các tiêu chuẩn thống kê Qua kết quả thử nghiệm các dạng toán học trên cho thấy phương trình Y = a.xb hay: logy = loga + b.logx và Y = a.e(-b/x) hay : lny = lna - b/xklà mô tả tốt nhất mối quan hệ giữa các chỉ tiêu sinh trưởng với tuổi
Những nghiên cứu về sinh trưởng cây rừng của các tác giả trên là nguồn tài liệu tham khảo quý báo cho việc nghiên cứu sinh trưởng của các loài cây trồng trên các vùng sinh thái và lập địa khác nhau ở Việt Nam, và là cơ sở khoa học góp phần đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh cần thiết nhằm kinh doanh rừng có hiệu quả và ổn định
Từ những kết quả nghiên cứu của một số tác giả nêu trên, trên cơ sở học tập kinh nghiệm và cách thức nghiên cứu Trong khuôn khổ một luận văn tốt nghiệp tôi tiến hành nghiên cứu quy luật sinh trưởng của loài cây Neem trồng tại Ban quản lý rừng phòng hộ ven biển huyện Ninh Phước tỉnh Ninh Thuận, làm cơ sở đánh giá sinh trưởng của chúng trên vùng đất khô hạn này
2.3 Nghiên cứu mật độ và tỉa thưa rừng trồng
Khi lâm phần rừng trồng đến một cấp tuổi, tùy đặc điểm từng loài cây mà có độ tuổi khác nhau sẽ đến giai đoạn khép tán và không gian sinh trưởng không còn đáp ứng đủ cho các cá thể cây sinh trưởng mạnh và đạt hiệu quả năng xuất sản lượng Đến giai đoạn này cần có biện pháp tỉa thưa phù hợp và kịp thời để cây có thể sinh trưởng mạnh nhất trên lập địa đó, rút ngắn thời gian đạt mục đích kinh doanh rừng
Tỉa thưa trồng rừng là kỹ thuật lựa chọn và chặt hạ một số cây mang ra khỏi rừng để cải thiện sinh trưởng và phẩm chất cây trong rừng Các cây bị chặt hạ đem ra khỏi rừng được gọi là “cây bị tỉa thưa” Mục đích của tỉa thưa là giúp những cây chọn lựa giữ lại có điều kiện tốt hơn để sinh trưởng một cách tự nhiên do chúng thoát khỏi
sự cạnh tranh với các cây lân cận đã được mang ra khỏi rừng Các cây bị loại trừ là những cây sinh trưởng kém, hình dạng xấu, xoắn vặn vẹo, các cây bị ức chế ánh sáng sinh trưởng kém, cây bị sâu bệnh và đặc biệt là cây “chó sói” thân nghiêng nhưng mọc cao che bóng ảnh hưởng đến những cây lân cận
Trang 21Có nhiều phương mô hình xác định mật độ tối ưu đã được nghiên cứu như:
Mô hình mật độ tối ưu trên cơ sở diện tích dinh dưỡng tối ưu
Mô hình mật độ tố ưu trên cơ sở diện tích tán
Mô hình mật độ tối ưu trên cơ sở suất tăng trưởng thể tích
Xác định mật độ tối ưu từ độ đầy
Trong đó mô mật độ tối ưu trên cơ sở diện tích tán đơn giản hơn và dễ xác định hơn
Kairiukŝtis và Juodvalkis (Wenk, G.1990) xác định mật độ tối ưu trên cơ sở diện tích tán và độ giao tán tối ưu:
Với: Qmax: diện tích tán cây lớn nhất có thể có (m2/ha)
: diện tích hình chiếu tán bình quân tối ưu (m2/cây)
PTU: độ giao tán tối ưu (%) PTU dao động từ 9 – 18 %
Trong điều kiện rừng trồng nước ta, mỗi loài cây chưa có hệ thống ô nghiên cứu lâu dài để thu thập số liệu về tăng trưởng ở các công thức có mật độ khác nhau làm cơ
sở xác định mật độ tối ưu theo tuổi và cấp đất Từ đó, việc xây dựng mô hình mật độ tối ưu chủ yếu dựa vào khái niệm lâm phần chuẩn Từ công thức xác định mật độ tối
ưu cho thấy, các tác giả đều thống nhất khái niệm lâm phần chuẩn là lâm phần ở vào trạng thái mà tổng diện tích tán cây trên ha bằng 10.000 m2 Khái niệm này được chấp nhận trên cơ sở giả thuyết các cây phân bố đều trên diện tích mặt đất Như vậy, chỉ khi nào diện tích tán cây bằng diện tích mặt đất, thì tất cả cây rừng mới lợi dụng triệt để diện tích dinh dưỡng và chỉ nên tỉa thưa những lâm phần có diện tích tán cây trên ha lớn hơn 10.000 m2, đồng thời tỉa thưa cho đến khi diện tích tán giảm xuống còn 10.000
m2
là diện tích hình chiếu tán bình quân
NTU: mật độ tối ưu
Trang 22Khi xác định mật độ để lại nuôi dưỡng cho rừng Thông đuôi ngựa, Phạm Ngọc Giao (1989) đã sử dụng công thức:
Vì > , nên NTU xác định theo công thức trên sẽ lớn hơn mật độ xác định từ Vì thế, để kết quả xác định NTU từ phù hợp với kết quả xác định NTU từ , Syxtov, A.B (Nguyễn Văn Thêm, 1995) đã tính toán số cây để lại nuôi dưỡng theo công thức:
(Trích dẫn bởi Vũ Tiến Hinh, sản lượng rừng, trang 138, 139, 145)
Và tùy theo điều kiện lập địa mà có NTU khác nhau Lập địa tốt thì mật độ nhỏ hơn cấp đất xấu, tùy theo mục đích trồng rừng mà trồng mật độ khác nhau, rừng giống thì có mật độ thưa hơn để năng xuất quả hạt cao và chất lượng, rừng trồng lấy gỗ nhỏ thì mật độ lớn hơn gỗ lớn…
Tổng quát tỉa thưa rừng trồng hiện nay có 4 biện pháp tỉa thưa như:
Tỉa thưa tầng dưới
Tỉa thưa tầng trên
Tỉa thưa chọn lọc
Tỉa thưa cơ giới
Và biện pháp tỉa thưa sau cùng là tỉa thưa theo hệ thống chọn lựa Queenland phối hợp các cơ sở của 4 phương pháp tỉa thưa truyền thống trên
Phương pháp này đặt cơ sở trên sự lụa chọn sớm các cây tốt nhất để giữ lại và tỉa thưa dần các cây không được chọn còn lại Mục đích của nó là tạo ra một sự phân
bố đều các cây tốt nhất cho các lần tỉa thưa Hệ thống đã căn cứ vào nguyên tắc lâm học cơ bản và sự xác định trước một cách cơ giới của các lần tỉa thưa rừng
Trang 23Chương 3
ĐẶC ĐIỂM ĐỐI TƯỢNG VÀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
3.1.1 Giới thiệu tổng quát về cây Neem
Tên thông dụng: Neem hoặc xoan chịu hạn
Tên thực vật học: Azadirachta indica A, Juss
Cây Neem thuộc họ xoan Meliaceae, bộ Cam Rutales, tên Việt Nam xoan chịu
hạn hay còn gọi là Neem
Neem có nguồn gốc từ Ấn Độ và chính tại đây nó được sử dụng rộng rãi nhất
Nó được trồng từ cực nam Kerala có dãy Hymalaya, từ vùng nhiệt đới tới vùng cận nhiệt đới, từ vùng khô cằn đến vùng nhiệt đới, từ vùng mặt nước biển đến vùng có độ cao 700 m so với mặt nước biển Neem được đưa đến Châu Phi hồi đầu thế kỷ này và hiện nay đã được trồng tại ít nhất 30 quốc gia, đặc biệt những quốc gia trồng tại vùng ven phía nam sa mạc Sahara, nơi mà nó trở thành một nguồn cung cấp chất đốt và gỗ quan trọng Neem cũng được trồng ở Fiji, Mauritius, vùng vịnh Caribe và nhiều quốc gia khác ở Trung và Nam Mỹ
3.1.2 Quá trình dẫn nhập cây Neem vào việt nam
Tháng 02 - 1981: Lấy giống từ Senegal về Việt Nam
Tháng 05 - 1981: Chuyển giống từ Hà Nội vào Phan Thiết- Bình Thuận
Ngày 15 - 06 - 1981: Gieo ở Phan Thiết
Ngày 30 - 06 - 1981: Vài cây mọc đầu tiên mang thế hệ F1 (sau đó vài tháng chỉ còn lại một cây duy nhất còn sống cho đến ngày nay)
Từ tháng 06 - 1981 đến tháng 03 - 1984: Nuôi dưỡng cây mẹ chính gốc đầu tiên (f1) ở Phan Thiết để chờ cho quả
Từ tháng 03 - 1984 đến tháng 06 - 1984: Cây mẹ F1 cho quả đầu tiên
Trang 24Tháng 08 - 1984: Lấy quả từ cây mẹ F1 ở Phan Thiết đem trồng ở Tuy Phong – Bình Thuận Ở Tuy Phong chỉ còn sống được hai cây mang thế hệ F2
Từ năm 1985 – 1988: Nuôi dưỡng hai cây mẹ F2 ở Tuy Phong để chờ ra quả
Từ năm 1989 – 1990: Nhân rộng được vài trăm cây tại vùng cát nóng Tuy Phong với hạt giống lấy từ hai cây mẹ F2 ở Tuy Phong, từ đó quản lý và theo dõi
Năm 1995: Lấy giống từ cây mẹ F1 Phan Thiết nhân trồng được 2 ha tại vùng cát nóng Phước Dinh - Ninh Phước - Ninh Thuận
Năm 1996: Trồng được thêm một héc ta từ cây mẹ F1 Phan Thiết tại Phước Dinh - Ninh Phước - Ninh Thuận
Từ năm 1995 – 1998: Cây tại Phước Dinh sinh trưởng tốt, cây cao từ 2 – 3 m, đường kính 7cm Mặc dầu trong những năm đó, điều kiện khí hậu hết sức khắc nghiệt, hạn hán Elnino cây vẫn tồn tại và tiếp tục đứng vững
3.1.3 Đặc điểm thực vật
* Đặc điểm hình thái
Cây trung bình, ít thay lá vào mùa đông, vỏ thân màu nâu đen hoặc màu xám, nứt dọc nông Cành non ít bì khổng nổi rõ, lá kép lông chim một lần lẻ, lá chét phía trong mọc cách, phiến lá hình trứng dài Hoa tự chùm màu trắng, quả có đường kính 2cm Gỗ trắng nhẹ dùng như xoan nhà Phân bố vùng Nam Bộ và miền Đông Nam Bộ Cây có khả năng chịu hạn cao, mọc được trên đất xấu, (trích giáo trình Đặc sản thực vật rừng, Nguyễn Thượng Hiền, 2002)
Cây Neem luôn giữ màu xanh, có lá rộng và hấp dẫn, nó có thể lớn cao đến 30m Các cành chờm ra rất đều và tạo thành vòng, đường kính tán có thể rộng đến 10m tính từ bên mép lá này qua bên mép lá kia Nó có thể duy trì lá khi khô trừ những lúc trời quá hạn hán thì lá nó rụng Rễ cây đâm xuống rất sâu, và khi nó bị chặt thì nó mọc thêm chồi Đặc biệt ở những chỗ khô ráo các chồi này lại mọc ra rất nhiều
Neem có hoa nhỏ, trắng, lưỡng tính (vừa đực vừa cái) hoa mọc ra ở những nhánh mang từng chùm Hoa có một mùi hương giống như mật Ong và thu hút rất nhiều côn trùng
Trang 25Trái Neem trơn láng, hình bầu dục có hạt cứng ở trong, dài khoảng 2cm Khi chín, có màu vàng hoặc vàng hơi xám và có một lớp cơm ngọt bao quanh hột giống Quả Neem gồm có một vỏ bọc và một hạt nhân (có khi có 2 hoặc 3 nhân) Mỗi một hạt nhân nặng gần nữa quả Neem, chính hạt nhân này được dùng để làm chất sát trùng (các lá cũng chứa những chất liệu sát trùng nhưng không có hiệu quả nhiều bằng hạt nhân)
Cây Neem thường có trái sau 3 hoặc 5 năm, sản xuất nhiều trái lúc được mười năm tuổi và từ đấy có thể cho mỗi năm 50kg trái/cây Cây Neem có thể sống được hơn hai thế kỷ
* Đặc điểm sinh thái
Cây Neem được cho là có thể mọc lên “Tại bất cứ chỗ nào” ở đồng bằng các xứ
nhiệt đới Tuy nhiên, thường thường nó mọc tốt hơn ở các vùng có lượng mưa hàng năm từ 400 đến 1200 mm Nó mọc lớn mạnh ở những điều kiện thời tiết nóng nhất, mà nhiệt độ tối đa trong bóng mát có thể lên đến 500c, nhưng nó không thể chống lại với khí hậu đóng băng hoặc quá lạnh kéo dài
Neem mọc tốt ở các độ cao từ mặt nước biển lên đến gần 1000 m vùng gần xích đạo Rễ đâm xuống đất có thể dài quá hai lần chiều cao của cây (nhất là các cây mới lớn)
Cây Neem vốn nổi tiếng là loại cây mọc rất tốt tại các vùng khô, đất không màu
mỡ Là loài cây mọc tốt nhất so với các loại cây mọc trên những vùng đất khô cằn, có nhiều đá, và nông, hoặc ở đấy có một lớp tảng rắn (cứng) gần mặt đất Cây Neem cũng
có thể mọc tốt tại các chỗ đất chua phèn
Thật vậy, người ta cho rằng khi các lá của cây Neem rụng xuống, chúng có tính kiềm (pH = 8,2) nên chúng làm trung hoà rất tốt tính chua của đất Mặt khác, cây Neem không thể sống vững với phần gốc nằm trong chỗ đất ẩm ướt, và nó sẽ chết nếu gặp chỗ đất sũng và úng nước
Thường thì cây Neem mọc rất nhanh, có thể được chặt làm gỗ súc ngay khi nó tuổi từ 5 đến 7 năm Lượng gỗ súc tối đa được cho biết từ vùng phía bắc Nigiêria (Samaru) lên đến 169m3 gỗ chất đốt trên một ha, sau khi trồng 8 năm Số lượng gỗ lấy được tại Ghana được ghi nhận là từ 108 đến 137m3 gỗ chất đốt trên ha cũng trong một thời gian như trên
Trang 263.1.4 Giá trị kinh tế của cây Neem
* Công dụng của cây Neem
Tác dụng tiêu diệt côn trùng và chữa bệnh cho người, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy rằng cây Neem có hai đặc tính trừ khử vật có hại và là một loại thuốc chữa bệnh Người ta đã nhận thấy nó có tác dụng ngăn ngừa được trên 200 loại côn trùng và vật gây hại: như bướm đêm, gián, rệp vừng và nhiều loại khác
Neem là cây được dùng để giải quyết nhiều vấn đề của toàn cầu và chắc chắn
là nguồn cung cấp chất diệt trừ vật gây hại bằng phương pháp sinh học có sẵn trong thiên nhiên Thật ra, cây Neem đã phục vụ như một trạm phát thuốc trong làng ở những vùng nông thôn và đã chiếm một vị trí trong dược thư Ấn Độ nhiều bộ phận của cây Neem đã được sử dụng làm thuốc chữa bệnh ở Ấn Độ từ nhiều ngàn năm nay
Vỏ cây Neem được sử dụng để điều trị sốt, thấp khớp, đau lưng Dầu Neem được dùng chữa trị uốn ván, lở loét, bệnh tràng nhạc, unticaria và thời kỳ đầu của bệnh phong cùi Nước lá Neem được dùng để tẩy giun sán, chữa bệnh vàng da và các chứng bệnh về da khác Nhánh Neem non được dân làng sử dụng làm kem đánh răng và giúp bảo vệ răng
Ngọn gió thổi qua cây Neem được xem như rất có ích cho những người sống gần đó và người dân Ấn Độ chăm sóc cây này rất chu đáo Nếu kẹp lá Neem vào quần
áo bằng tơ hoặc lụa thì sẽ bảo quản được chúng khỏi bị côn trùng phá hoại Nước ép từ nhân hạt Neem đã được sử dụng để tiêu diệt côn trùng phá hoại mùa màng trước khi
có các loại thuốc trừ sâu nhân tạo Chim chóc rất thích phần thịt có vị ngọt của quả Neem và bỏ lại hạt và vỏ đắng Hầu hết những cây Neem ở Ấn Độ lớn lên từ hạt do chim gieo rắc
Đặc biệt, dầu Neem có tác dụng như một chất diệt tinh trùng rất mạnh, một phương pháp ngừa thai rẻ tiền có thể điều chế tại nhà Đó là một loại thuốc ngừa thai mới đầy tìm năng đối với phụ nữ Nó diệt tinh trùng chưa đầy 30 giây Chất chiết suất
từ lá Neem cũng cho thấy nhiều triển vọng tạo ra “thuốc ngừa thai” cho nam giới bởi
vì nó đã hạn chế khả năng làm thụ tinh ở rất nhiều loài động vật đực Nước ép từ lá Neem và dầu Neem đã được tìm thấy có khả năng làm giảm lượng đường trong máu rất đáng kể và ngăn ngừa adrenalins (kích thích tố) gây ra hàm lượng gluco cao trong máu ở một số động vật thí nghiệm
Trang 27* Các sản phẩm công nghiệp của cây Neem
Dầu Neem: Rất giống với các dầu thực vật khác chủ yếu bao gồm các higlicerede của Oleic, Stearic, Linoleic và acid Palmitic Dầu Neem được sử dụng trong đèn dầu, xà phòng và các sản phẩm không ăn được khác
Mỹ phẩm: Người Ấn Độ đã thấy được công dụng làm tăng vẻ đẹp của cây Neem Chẳng hạn, lá Neem được sấy khô thành bột là thành phần chủ yếu ít nhất một loại kem thoa mặt được sử dụng rộng rãi Dầu Neem tinh khiết còn được sử dụng trong dầu sơn móng tay – chân và các mỹ phẩm khác
Dầu nhờn: Dầu Neem có chất nhờn chống lại sự phân hoá tốt hơn hầu hết các loại dầu thực vật Ở vùng nông thôn ấn độ, nó được sử dụng rộng rãi để bôi trơn bánh
Gỗ xẻ: Gỗ Neem có đặc tính giống như gỗ gụ Nó khá nặng, nếu được xẻ khi còn tươi, có mùi nồng Mặc dù rất dễ cưa, dễ gia công, đánh bóng và ép, nhưng phải được phơi khô cẩn thận bởi vì gỗ thường nứt và cong Gỗ Neem rất bền ngay cả khi bị phơi ngoài trời, ít khi nào bị mối mọt đục khoét, có khả năng chống mọt và rất thích hợp cho việc sử dụng làm cột và sào chận trong xây nhà
Chất đốt: Neem tạo ra nhiều loại chất đốt hữu ích Dầu Neem được sử dụng để đốt đèn, gỗ Neem dùng làm củi Than củi tạo ra từ gỗ Neem có chất lượng tuyệt vời
Trang 283.2 Đặc điểm khu vực nghiên cứu
3.2.1 Vị trí địa lý
Đề tài này được thực hiện tại huyện Ninh Phước tỉnh Ninh Thuận Khu vực này
là một vùng cát khô nóng thuộc khu vực BQL Rừng PHVB Ninh Phước
Toạ độ địa lý
Từ 110 18’ 28’’ đến 110 28’28’’vĩ độ bắc
Từ 108053’17’’ đến 10901’50’’ kinh độ đông
Ranh giới
Phía bắc giáp: Xã Phước Dinh
Phía tây giáp: Xã Phước Nam Và Phước Dinh
Phía đông giáp: Biển đông
Phía nam giáp: Phước Diêm và biển đông
3.2.2 Địa hình
Khu phòng hộ ven biển Ninh Phước (PHVB) có kiểu địa hình là đồi núi thấp, đồi cao, đồi thấp và gò, đồng bằng đồi tích cổ
Đặc điểm các kiểu địa hình như sau:
Núi thấp: có độ cao tuyệt đối từ 300 – 650 m, chiếm tỷ lệ diện tích lớn nhất phân bố ở trung tâm khu PHVB Địa hình chia cắt mạnh, nhiều khe dốc Dộ cao trung bình giảm dần từ Nam đến Bắc, tiểu khu: 208, 209, 211, 212 và 213
Đồi cao: có độ cao trung bình từ 210 – 320 m, chiếm tỷ lệ diện tích nhỏ phân bố
ở phía Bắc núi Chà Bang và Mòi Dinh, độ chia cắt địa hình nhỏ, tại tiểu khu 200a và 201a
Đồng bằng bồi tích cổ: phân bố ven chân núi, dọc đường quốc lộ I kéo dài từ
Cà Ná đến đường ranh giới phía Bắc khu PHVB Chiếm tỷ lệ diện tích khoảng 30% tại tiểu khu 201b, 206a, 206b
Đồi thấp và gò: phân bố ven biển phía Đông và Đông Bắc khu PHVB, địa hình tương đối bằng phẳng, lượn sóng có một số gò và cồn cát ven biển, diện tích
chiếm tỷ lệ khoảng 15%
Trang 29Đất tại khu vực này có thành phần cơ giới nhẹ, kết cấu rời rạc, lượng cát trên tầng đất mặt chiếm tới 97,7% Hàm lượng hợp chất hữu cơ bình quân trong đất rất thấp chỉ chiếm khoảng 0,217%
Đất có pH thấp: chỉ số pH bình quân 4,87
Đạm tổng số bình quân là 0,028%, đạm dễ tiêu có chỉ số là 2,50mg/ 100g, qua
đó nhận thấy lượng đạm dễ tiêu rất nghèo hầu như không đáng kể
Lân tổng số bình quân là 0,009% trong đó lân dễ tiêu có chỉ số là 1,023mg/100g, so với các loại đất được đánh giá là lân trung bình (0,8 – 0,12%), thì hàm lượng lân tổng số và lân dễ tiêu trong đất này là rất nghèo
Kali tổng số bình quân là 0,09% trong đó chỉ số kali dễ tiêu là 2,21mg/100g
Thành phần trong đất còn có một lượng nhỏ Ca và Mg trao đổi, với độ chua thuỷ phân tương ứng là 0,083me/100g, 0,692me/100g
Trang 30 Từ kết quả phân tích đất trên chúng tôi nhận thấy việc lựa chọn các biện pháp
kỹ thuật lâm sinh thích hợp để xử lý các loại đất trong gieo ươm và gây trồng rừng là điều rất cần thiết
3.1.5 Thực bì
Loại thực bì: găng, cộng sản, táo rừng, ngũ sắc
Loài cây ưu thế: ngũ sắc, găng
Chiều cao bình quân: 0,5 – 1,5 m
Tình hình sinh trưởng: bình thường
tereticornis), keo lá tràm (Acacia auriculiformis), trôm đỏ (Sterculia cochinchinensis)
… Một vài loài cây trồng cho nông nghiệp như đào ghép, nhãn chịu hạn …
- Các trạng thái rừng: IIa, Ib, rừng lùn trên núi đá và rừng trồng
- Đặc điểm các trạng thái rừng: Loài cây như thị, gạo, săng trắng, bằng lăng,
săng ổi… Đặc điểm rụng lá, mùa rụng lá tháng 1 – 3 hàng năm
- Ảnh hưởng các yếu tố tự nhiên đến công tác PCCCR trên địa bàn, trên các
mặt: địa hình, thuỷ văn, thời gian mưa, lượng mưa, tốc độ gió, độ ẩm, không khí, nhiệt
Trang 31độ, đặc điểm của thảm thực vật trong lâm phần rất khắc nghiệt Do đó công tác triển khai PCCCR đặt ra hết sức khó khăn, đòi hỏi phải có các giải pháp cụ thể sát với thực
tế mới thức hiện tốt công tác PCCCR trong mùa khô năm 2008 – 2009
3.2.7 Khí hậu
Đặc trưng cơ bản của tiểu vùng khí hậu:
Khu vực trồng rừng năm 1998 là vùng phía Nam ven biển của tỉnh Ninh Thuận Đây là vùng chịu ảnh hưởng của khí hậu ven biển nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, mùa mưa rất ngắn chỉ tập trung trong 3 tháng bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 11 (mưa tập
trung nhiều vào tháng 9), mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 8 năm sau
Mùa khô: từ tháng 12 đến tháng 8 năm sau
Tổng số giờ nắng trong năm; 2861 giờ
Độ ẩm không khí bình quân năm: 71 %
Độ bốc hơi nước trung bình năm: 1327 mm/năm
Hướng gió thịnh hành: Gió thịnh hành theo hai hướng:
Gió Tây – Tây Nam thổi từ tháng 4 đến tháng 11
Gió Đông – Đông Bắc thổi từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau
Tốc độ gió bình quân 2.6m/s Gió mạnh nhất vào những tháng mùa khô có thể lên đến 14m/s tạo ra những luồng gió hanh khô, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của con người và sự sống của cây trồng trong khu vực
Với đặc điểm khí hậu trên cho thấy việc giữ nước đóng một vai trò hết sức quan trọng Khu vực trên có mật độ sông suối rất thấp, các suối đều ngắn và nhỏ, lưu vực hẹp, độ dốc bình quân lưu vực từ 7 – 15%, lưu lượng nước rất thấp, hầu hết các khe nước, suối đều cạn kiệt vào mùa khô, khả năng cung cấp nước trong tưới tiêu, sinh hoạt rất hạn chế
Trang 32Gió là một nguyên nhân tác động mạnh mẽ đến việc làm thoái hoá đất đai, cát bay, cát lấn, ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng cây trồng tại nơi đây
3.2.8 Thuỷ văn
Toàn bộ trong và ngoài lâm phần hệ thống sông suối, kênh mương, hồ đập vào mùa khô đều khô kiệt hoàn toàn vào mùa khô Không có khả năng sử dụng nước để chữa cháy rừng, kể cả các khu vực rừng trồng thuận tiện đường giao thông còng không
đủ nước để phục vụ công tác chữa cháy rừng nếu xảy ra
3.2.9 Giao thông huyện Ninh Phước
- Xã Phước Dinh: cả đường liên xã Phước Nam đi Sơn Hải dài 8 km, đường
liên thôn từ Bầu Ngứ đi Từ Thiện dài 7 km nối với đường Quốc phòng ven biển về xã
An Hải dài 12 km Đường từ Sơn Hải đến Núi Một dài 6 km và đường Quốc phòng ven biển từ Sơn Hải đi Mòi Dinh đã làm được 4 km
Về khả năng sử dụng đường giao thông của xã để phục vụ việc chữa cháy rừng
về cơ bản đã thuận lợi cho việc vận chuyển phương tiện, lực lượng chữa cháy đối với rừng trồng Địa điểm rừng trồng gần đường và gần khu vực dân cư là 2 km, xa nhất là
10 km
Khó khăn nhất vẫn là không có nước phục vụ cho chữa cháy nếu cháy rừng xảy
ra Rừng tự nhiên trong địa phận của xã không có đường giao thông, xa khu vực dân
cư tới 14 km
- Xã Phước Nam: có trục đường Quốc lộ I dài 5 km và đường liên xã Phước
Nam đi Phước Dinh dài 7 km Hệ thống đường mòn lớn từ quốc lộ I vào rừng tự nhiên
và rừng trồng có 2 nhánh từ quốc lộ I vào chùa Trà cang là 3 km và từ quốc lộ I vào Thơm Tàu là 2,5 km
Về khả năng sử dụng các tuyến đường để phục vụ chữa cháy rừng như vận chuyển phương tiện chữa cháy với cự ly như trên, khả năng tiếp cận đám cháy của các phương tiện rất khó, vì từ đường mòn lớn vào rừng trồng và rừng tự nhiên xa và không
có đường đi Chỉ huy động lực lượng nhân dân tại chỗ gần nhất là 2 km và xa nhất là
10 km
Trang 33- Xã Phước Minh: có quốc lộ I chạy dài Nam Bắc là 12 km, hệ thống đường
mòn lớn nhưng bị chia cắt bởi các hệ thống kênh xả lũ và cấp nước mặn để làm đồng muối Quán Thẻ, do đó các phương tiện không thể tiếp cận được Nếu cháy rừng xảy ra chỉ huy động lực lượng nhân dân tại chỗ và khu vực dân cư gần nhất để tham gia chữa cháy
- Xã Phước Diêm: có tuyến đường từ quốc lộ I về xã dài 7 km và các đường
liên thôn dài từ 2 – 4 km Đường mòn lớn từ các thôn đến chân núi đều có, do đó thuận lợi cho việc vận chuyển các phương tiện và lực lượng khi có cháy rừng xảy ra
- Xã An Hải: có đường liên thôn từ trung tâm xã đi thôn Hoà Thạnh dài 5 km
nối với đường quốc phòng ven biển nằm sát rừng trồng phi lao từ năm 1998 – 2002, đường liên thôn từ trung tâm đi Tuấn Tú – Nam Cương dài 4 km
- Xã Phước Hải: có đường liên xã từ Thành Tín đi Bầu Ngứ - Phước Dinh dài 6
km, nằm trung tâm rừng trồng năm 2002 – 2005 Từ đường liên xã đến điểm xa nhất rừng trồng là 2 km
- Khu vực trồng rừng cây Neem có các đường mòn tới chân núi
3.3 Phân tích đặc điểm kinh tế- xã hội
Kinh, Chăm
Kinh Kinh,
Chăm
Kinh, Chăm
Trang 343.3.2 Dân sinh kinh tế
Kinh tế của nhân dân còn nghèo, cơ sở vật chất ở các xã còn thiếu thốn, thuỷ lợi chưa được đầu tư đến các xã, nước sinh hoạt còn do dân tự đào giếng sử dụng Ngành nghề chủ yếu làm nông và chăn nuôi, sản xuất chỉ được một vụ vào mùa mưa, năng suất cây trồng thấp và thường mất mùa Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, lao động thiếu việc làm Do đó vẫn còn một số hộ nông dân vào rừng chặt củi hầm than, làm cây cảnh và săn bắt ong… để kiếm sống Riêng xã Phước Diêm đời sống kinh tế khá hơn, lao động chủ yếu là nghề biển, nuôi trồng và chế biến hải sản Tuy nhiên tại địa phương đòi hỏi một số lượng củi lớn để hấp cá xuất khẩu, do đó rất dễ xảy ra tình trạng chặt củi trái phép để bán cho các lò hấp cá
Với đặc điểm điều kiện tự nhiên và dân sinh kinh tế nêu trên, cho thấy vào mùa khô công tác quản lý bảo vệ và PCCC rừng trên địa bàn là hết sức khó khăn cho đơn
vị
3.3.3 Ngành nghề: Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản, dịch
vụ, nghề khác
3.3.4 Tập quán canh tác: trồng lúa nước, làm rẫy…
3.3.5 Thu nhập: chủ yếu từ nông nghiệp, chăn nuôi, nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản,
lâm nghiệp…
Trang 35Chương 4
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Nội dung nghiên cứu
Do điều kiện thời gian có hạn, và rừng trồng Neem vẫn còn đang trong giai đoạn trồng khảo nghiệm nên việc nghiên cứu chỉ tập trung vào nghiên cứu rừng Neem tuổi 11
Từ những mục tiêu nghiên cứu của đề tài đã đặt ra cũng như nhu cầu của thực
tế tại khu vực nghiên cứu, luận văn đi vào giải quyết những nội dung nghiên cứu cụ thể như sau:
4.1.1 Đánh giá tình hình sinh trưởng của rừng Neem thông qua các quy luật phân bố của các chỉ tiêu sinh trưởng
- Nghiên cứu quy luật phân bố số cây theo cấp đường kính (N/D1,3)
- Nghiên cứu quy luật phân bố số cây theo cấp chiều cao (N/Hvn)
- Nghiên cứu quy luật sinh trưởng số cây theo cấp đường kính tán (N/Dtán)
4.1.2 Nghiên cứu sinh trưởng của các chỉ tiêu sinh trưởng theo tuổi thông qua phương trình tương quan
- Quy sinh trưởng giữa đường kính D1,3
- Quy sinh trưởng quan giữa chiều cao Hvn
- Quy luật tương quan giữa đường kính và chiều cao ( D1,3 -Hvn)
- Quy luật tương quan giữa thể tích thân cây và tuổi A (V – A)
4.1.3 Nghiên cứu độ tàn che và độ giao tán của rừng
- Trắc đồ Davis Richard
4.1.4 Biện pháp tỉa thưa rừng trồng
Chọn lựa những cây giữ lại và những cây loại khỏi rừng để giành không gian cho các cây xung quanh sinh trưởng cho cây được giữ lại
Trang 364.2 Phương pháp nghiên cứu
Để đánh giá được quá trình sinh trưởng của rừng Neem trồng tại Ninh Phước, chúng tôi tiến hành điều tra, thu thập số liệu về các chỉ tiêu sinh trưởng cần thiết phục
vụ cho nội dung nghiên cứu của đề tài Qua việc thu thập số liệu luận văn tiến hành tổng hợp và phân tích, sử dụng phương pháp mô hình hóa để xây dựng phương trình tương quan giữa đường kính (D1,3), chiều cao (Hvn) và tuổi của cây Neem
Để phục vụ cho nội dung nghiên cứu như đã xác định ở trên, phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn là:
4.2.1 Ngoại nghiệp
Tiến hành sơ thám toàn bộ khu vực nghiên cứu, thu thập những tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài như: Điều kiện tự nhiên, tài liệu về khí tượng thủy văn, tình hình dân sinh kinh tế - xã hội (nguồn lấy từ UBND huyện Ninh Phước cung cấp) Từ kết quả thu được qua khảo sát, tiến hành lựa chọn các diện tích rừng mang tính đại diện cho từng tuổi rừng, sau đó chọn cách bố trí thu thập số liệu bằng cách lập ô điều tra đo đếm tạm thời có diện tích 500 m2 (20 x 25 m) tiến hành đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng cần thiết phục vụ cho nôi dung nghiên cứu của đề tài như: + Đo chiều cao vút ngọn (Hvn), chiều cao dưới cành (Hdc) bằng sào đo cao với sai số cho phép là 0,5 m
+ Đo chu vi tại vị trí 1,3 m sau đó suy ra đường kính 1,3m
+ Đo đường kính tán (Dtán) theo hai hướng vuông góc nhau, sau đó lấy giá trị trung bình
+ Xác định mật độ trồng ban đầu và hiện tại
+ Đo tính sơ bộ độ tàn che của ô tiêu chuẩn, vẽ phác thảo trắc đồ và ghi chú các cây cá thể có tán nằm trong ô để làm cơ sở tính lại độ tàn che
Từ số liệu đo đếm ngoài thực địa, tiến hành tính toán xác định các trị số trung bình về đường kính D1.3, chiều cao Hvn, đường kính Dtán… Trên ô điều tra chọn từ 2 –
3 cây tiêu chuẩn để tiến hành giải tích thân cây
Cây giải tích là những cây sinh trưởng và phát triển bình thường, không sâu bệnh, không gẫy ngọn, thân thẳng, đặc biệt là hình dáng tán lá phải đều Cây giải tích sau khi chặt hạ tiến hành đo chiều cao men thân (Lmt), chiều cao dưới cành (Hdc), chiều cao vút ngọn (Hvn) bằng thước dây Xác định các vị trí 1/10 trên thân cây, tại các vị trí
Trang 37này cưa các thớt giải tích cách đều 0m, 0,5m, 1m, 1,3m, 1,5m, 2m, 2,5m, 3m …cho đến thớt cuối cùng của ngọn cây khi nào không còn chiều dài đủ 1m nữa thì thôi Trên các thớt xác định số vòng năm, sự giảm vòng năm và vị trí kết thúc, qua đó suy được chiều cao cây tại các tuổi khác nhau bên trong Tại thớt D1,3 xác định số vòng năm, đo đường kính từng vòng năm theo 2 hướng vuông góc sau đó lấy giá trị trung bình, vòng ngoài cùng tiến hành đo có vỏ và không vỏ Từ những số liệu này ta xác định lượng tăng trưởng thực nghiệm về chiều cao, đường kính ở từng tuổi
4.2.2 Nội nghiệp
Từ số liệu thu thập được trên các ô tiêu chuẩn và cây giải tích được tổng hợp lại, tiến hành chỉnh lý, phân tích, xử lý và tính toán bằng phần mềm thống kê thông dụng như statgraphics plus 5.1 và chủ yếu trên phần mềm Excel nhằm xác định các chỉ tiêu thống kê cần thiết phục vụ cho nội dung nghiên cứu của đề tài
+ Vẽ lại trắc đồ, đặc biệt trắc đồ ngang (tán lá) làm cơ sở biện pháp tỉa thưa rừng
+ Phân chia số tổ được được xác định theo công thức:
m = 5log(n) n: là số cây đo đếm cho mỗi cỡ tuổi m: là số tổ được chia
+ Cự li tổ: K =
m
X
Xmax min
Xmax: giá trị cực đại
Xmin: giá trị cực tiểu k: cự li tổ
+ Tần suất: N% =
n
fi * 100 (với fi là tần số của tổ)
+ Tính toán các chỉ tiêu thống kê cần thiết như:
xi fi xi
fi
m
i
Trang 38- Phạm vi biến động: R = Xmax – Xmin
- Sai số tiêu chuẩn của số trung bình: S
n S
- Hệ số chính xác: P% =
n S%
- Tính thể tích thân cây ngã bằng công thức kép tiết diện bình quân
V = [(g0,0+ gn):2 + g0,5 + g1,0 + … + gn -2].L + 1/3 gn Ln
g0,0: tiết diện ngang tại vị trí 0,0 m
g0,5: tiết diện ngang tại vị trí 0,5 m
gn: tiết diện ngang tại vị trí thứ n
L khoảng cách giữa hai thớt liên tiếp trên cây ngã
Ln chiều dài của thớt cuối cùng đến đỉnh cây ngã
Nghiên cứu quy luật sinh trưởng của rừng:
Để tìm hiểu quy luật tương quan của các chỉ tiêu sinh trưởng, chúng tôi chấm toàn bộ số liệu thu thập được ngoài thực lên đồ thị tạo thành đám mây điểm Từ xu hướng phát triển của đám mây điểm tiến hành lựa chọn dạng phương trình thích hợp,
mô tả quá trình sinh trưởng của các chỉ tiêu theo tuổi A, Hvn với D1,3, thông qua cây giải tích
Các phương trình đã được đề tài thử nghiệm là một số dạng thông dụng sau:
a) y = a.e(-b/x^k) hay lny = lna - b/xk (với k biến động từ 0,2 đến 0,9) b) y = a + b.logx
c) y = a.xb hay logy = loga + b.logx d) y = a + bx2z
f) y = a +bx + cx2g) y = a.ebx h) Lny = a + blnx + cln2x i) Lny = a + blnx + cln2x + dln3x j) y = a + bx + cx2
Trang 39k) y = a + bx + cx3 Trong đó : - y là biến phụ thuộc hay hàm số
- x là biến số độc lập hay đối số
Từ kết quả thử nghiệm của các dạng phương trình trên, việc lựa chọn hàm toán học phù hợp để mô phỏng các mối quan hệ giữa các chỉ tiêu sinh trưởng với nhau được dựa trên các tiêu chuẩn thống kê như sau:
+ Mô hình phải mô tả tốt nhất mối quan hệ giữa biến số phụ thuộc với biến số độc lập
+ Phù hợp với đặc tính sinh học của đối tượng nghiên cứu
+ Mô hình dễ tính toán bằng các phần mềm thống kê chuyên dụng
+ Hệ số tương quan cao nhất và tổng bình phương sai số nhỏ nhất
Theo nguyên tắc trong việc lựa chọn các mô hình toán học nêu trên, phương pháp tính toán, phân tích hồi quy và tương quan của đề tài là:
+ Xác định các dạng phương trình toán học tối ưu nhất bằng cách so sánh và lựa chọn từ các dạng phương trình thử nghiệm theo các tiêu chuẩn như:
- Giữa đường lý thuyết và thực nghiệm phải bám sát nhau (với hệ số tương quan r cao)
- Có sai số tiêu chuẩn là nhỏ nhất
- Chỉ tiêu kiểm tra sự phù hợp của dạng phương trình phải tồn tại
+ Xác định các tham số của mô hình và sự tồn tại của chúng bằng phương pháp hồi quy
+ Đánh giá mức độ phù hợp của phương trình bằng các tham số
+ Kiểm tra sự tồn tại của hệ số tương quan r
Việc kiểm tra sự tồn tại của hệ số tương quan (r) để khẳng định các phương trình thử nghiệm có thực sự tồn tại trong tổng thể rừng hay không Sau khi kiểm tra, tiến hành loại ra những phương trình có hệ số tương quan không tồn tại
Khi phân tích mô hình nhiều lớp, ngoài việc kiểm tra sự tồn tại của hệ số tương quan R bằng tiêu chuẩn F, với R tồn tại khi Significance F (P-value) < 0,05; đồng thời phải kiểm tra sự tồn tại của các tham số gắn các biến số Xi bằng tiêu chuẩn tstat, tham
số tồn tại khi P-value < 0,05 (Thể hiện trong kết quả ở bảng cuối cùng (xử lý trên excel)) Nếu một tham số không tồn tại thì có nghĩa: Biến số (nhân tố) đó không ảnh
Trang 40hưởng đến Y, lúc này cần loại biến đó khỏi mô hình; hoặc dạng đường thẳng là chưa thích hợp (lúc này phải chuyển sang dạng phi tuyến để xem xét sự ảnh hưởng của nhân
tố này) Theo Bảo Huy “Bài giảng tin học thống kê trong QLTNR – Đại học”
Để đánh giá một cách khách quan sự phù hợp của một hàm lý thuyết nào đó với dãy số liệu quan sát thực nghiệm, đề tài tiến hành tính chỉ tiêu phù hợp χ2tính với χ2bảng ở mức xác xuất 0,05 và 0,01 được tính theo công thức: χ2tính = với độ tự
do df = m - j – 1, trong đó m là số lớp, j là số lượng tham số của hàm lý thuyết
Qua kết quả thử nghiệm các dạng hàm toán học trên cho ta thấy phương trình:
y = a.xb hay Logy = Loga + b.Logx và y = aeb/x^k hay Lny = Lna + b/xk (qua thử nghiệm cho thấy hệ số k biến động từ 0,2 đến 0,9) là mô tả tốt nhất mối quan hệ giữa các chỉ tiêu sinh trưởng với tuổi
Khi nghiên cứu xây dựng biểu sinh trưởng cho loài Neen trồng tại khu vực nghiên cứu, luận văn tham khảo và lựa chọn những phương trình phù hợp nhất, đơn giản, độ chính xác cao, và dễ dàng tính toán trên các phần mềm thống kê và thông dụng nhất là excel hỗ trợ phân tích số liệu khi tiến hành
Nghiên cứu độ tàn che và độ giao tán của rừng
+ Vẽ trắc đồ ngang tán lá, hình chiếu tán cây cá lẻ lên bề mặt ngang của rừng + Tính độ tàn che của rừng là phần tỉ lệ phần mười hoặc phần trăm diện tích hình chiếu nằm ngang tán rừng trên mặt phẳng nằm ngang của ô tiêu chuẩn nghĩa là C = St/S, độ tàn che có C 1
+ Tính độ khép tán của rừng bằng cách chia tổng diện tích hình chiếu nằm ngang của tất cả tán lá cây cá lẻ cho diện tích ô tiêu chuẩn
+ Dựa trên các kết quả nghiên cứu đề xuất tỉa thưa
Biện pháp tỉa thưa
Mục đích: Chọn lựa sớm các cây tốt nhất để giữ lại đến cuối luân kì và chỉ tỉa thưa dần các cây không được chọn còn lại
Cách tiến hành: Lựa chọn cây chừa, những cây còn lại thỉa thưa dần trong nhiều lần Tránh tạo khoảng trống cho cỏ dại phát triển và mất khả năng phòng hộ bảo vệ đất