Để so sánh hiệu quả của việc sử dụng THH và TSH trong trồng rau, tác giả đã sử dụng hệ thống các chỉ tiêu hiệu quả sản xuất, thông qua phỏng vấn trực tiếp 25 hộ sử dụng THH và 25 hộ sử d
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
SO SÁNH HIỆU QUẢ KINH TẾ GIỮA VIỆC SỬ DỤNG THUỐC SINH HỌC VÀ THUỐC HÓA HỌC TRÊN CÂY RAU XÃ XUÂN PHÚ HUYỆN XUÂN LỘC
TỈNH ĐỒNG NAI
PHẠM THỊ KIM NGÂN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỂ NHẬN VĂN BẰNG CỬ NHÂN CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 07/2010
Trang 2Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học Khoa Kinh Tế, trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “SO SÁNH HIỆU QUẢ KINH
TẾ GIỮA VIỆC SỬ DỤNG THUỐC SINH HỌC VÀ THUỐC HÓA HỌC TRÊN CÂY RAU XÃ XUÂN PHÚ HUYỆN XUÂN LỘC TỈNH ĐỒNG NAI” do PHẠM THỊ KIM NGÂN, sinh viên khóa 2006 – 2010, ngành KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG, đã vào vệ thành công trước hội đồng vào ngày
TS ĐẶNG THANH HÀ Người hướng dẫn
Ngày Tháng Năm
Chủ tịch hội đồng chấm báo cáo Thư kí hội đồng chấm báo cáo
Ngày Tháng Năm Ngày Tháng Năm
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Thời gian trôi qua thật nhanh, bốn năm đại học chỉ còn vài tháng ngắn ngủi để hoàn thành luận văn Sao bây giờ tôi lại thấy quý thời gian này vô cùng, một phần vì hoàn thành luận văn, một phần vì sắp xa bạn bè, ngôi trường Nông Lâm thân yêu và Thầy Cô bao năm dạy bảo Chỉ vài tháng nữa thôi bạn và tôi sẽ chia tay nhau, chúng ta sẽ rời ghế giảng đường và bước vào đời với hành trang mà Thầy Cô đã chuẩn bị cho chúng ta Trong thời gian ngắn ngủi này cho tôi gửi lời cám ơn đến những người thân yêu nhất của tôi
Lời đầu tiên, con xin gửi những dòng tri ân đến Ba Mẹ và gia đình, những người
đã sinh thành, nuôi nấng và tạo mọi điều kiện cho con có được ngày hôm nay
Xin được cảm ơn toàn thể quý Thầy Cô trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, đặc biệt là quý Thầy Cô Khoa Kinh Tế, đã truyền dạy cho em những kiến thức quý báu trong suốt thời gian qua
Cám ơn quý Thầy Cô trong Khoa Kinh Tế đã trang bị cho em những kiến thức vô cùng quí báu Đặc biệt em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy ĐẶNG THANH HÀ, đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt thời gian nghiên cứu thực hiện luận văn tốt nghiệp này
Cảm ơn các Cô Chú, Anh Chị công tác tại Ủy Ban Nhân Dân xã Xuân Phú đã tạo điều kiện thuận lợi cũng như giúp đỡ em trong suốt thời gian tực tập tại địa phương
Cho tôi gởi lời cảm ơn đến bạn bè, những người đã cùng tôi chia sẻ vui buồn trong bốn năm đại học, những người đã giúp tôi về mặt tinh thần cũng như đóng góp ý kiến để tôi hoàn thành luận văn Và cho tôi gửi một lời nhắn đến các bạn “dù cuộc sống có khó khăn mong bạn luôn lạc quan để vượt qua thử thách”
Xin chân thành cám ơn!
Sinh viên
PHẠM THỊ KIM NGÂN
Trang 4NỘI DUNG TÓM TẮT
PHẠM THỊ KIM NGÂN Tháng 07 năm 2010 “So Sánh Hiệu Quả Kinh Tế
Giữa Việc Sử Dụng Thuốc Hóa Học và Thuốc Sinh Học Trên Cây Rau Tại Xã Xuân Phú Huyện Xuân Lộc Tỉnh Đồng Nai”
PHAM THI KIM NGAN July 2010 “A Comparision of Economic Efficinecy
Between Vegetable Production Using Biological and Chemical Pesticides in Xuan Phu Commune – Xuan Loc District – Dong Nai Provine”
Khóa luận tìm hiểu về thực trạng sử dụng thuốc BVTV sinh học (TSH) tại xã Xuân Phú huyện Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai Tại xã, hiện có 60% nông dân sử dụng thuốc BVTV sinh học (TSH) trong trồng rau, 40% còn lại chủ yếu là đồng bào dân tộc do chưa tiếp cận được với khoa học kỹ thuật nên việc sử dụng TSH còn hạn chế Để so sánh hiệu quả của việc sử dụng THH và TSH trong trồng rau, tác giả đã sử dụng hệ thống các chỉ tiêu hiệu quả sản xuất, thông qua phỏng vấn trực tiếp 25 hộ sử dụng THH và 25 hộ sử dụng TSH tác giả đã xây dựng hàm năng suất rau phụ thuộc vào các yếu tố: lượng nước tưới, công chăm sóc, chi phí thuốc BVTV, chi phí phân bón Ngoài ra, để thấy được lợi ích của việc
sử dụng TSH trong trồng rau, tác giả đã sử dụng mô hình logit để ước lượng mức sẵn lòng trả thêm của người tiêu dùng cho 1kg rau xanh được trồng khi sử dụng TSH
Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc sử dụng TSH trong trồng rau mang lại hiệu quả cao hơn so với trường hợp dùng THH Cụ thể hơn là các chỉ tiêu: DT/CPSX, LN/CPSX của hộ sử dụng TSH cao hơn nhóm hộ sử dụng THH Về phía người tiêu dùng, họ sẵn lòng trả thêm 3900VNĐ/kg điều đó cho thấy người tiêu dùng sẵn lòng trả giá cao cho những sản phẩm an toàn, đảm bảo sức khỏe của họ Nghiên cứu cung cấp cho các cơ quan, ban ngành và chính quyền địa phương cái nhìn rõ hơn về lợi ích của việc sử dụng TSH trong nông nghiệp Từ đó, chính quyền địa phương có chính sách tạo mọi điều kiện thuận lợi để người nông dân được tiếp cận với sản phẩm sinh học
Trang 52.2 Đặc điểm tổng quát của địa bàn nghiên cứu 6
2.2.3 Khí hậu 7
2.2.5 Đặc điểm kinh tế xã hội và sản xuất 72.3 Tổng quan tình hình sản xuất rau tại địa phương 9CHƯƠNG 3.NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 103.1 Cơ sở lý luận 103.1.1 Một số khái niệm 10
Trang 63.1.2 Sơ lược tác dụng và tác hại của thuốc BVTV hóa học và thuốc BVTV sinh học
113.1.3.Vai trò của thuốc BVTV sinh học trong nền nông nghiệp 13
3.1.5 Quy trình sản xuất rau cải 15
3.2 Phương pháp phân tích hồi quy
3.2.2 Xây dựng mô hình ước lượng hàm năng suất 16
3.3.3 Những kỹ thuật khi xây dựng bảng câu hỏi 20
3.3.4 Chọn phương pháp lấy mẫu 21
3.3.6 Những quy tắc để một cuộc phỏng vấn có chất lượng tốt 22
3.4 Phương pháp nghiên cứu 23
3.4.1 Sử dụng mô hình logit để xác định mức sẵn lòng trả thêm của người tiêu dùng
23
3.4.3 Hệ thống các chỉ tiêu được đánh giá trong khóa luận 26
3.4.3 Phương pháp thu thập số liệu 27
3.4.5 Phương pháp xử lý số liệu 27
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28
4.1 Thực trạng sử dụng thuốc BVTV và tình hình sản xuất rau tại xã Xuân Phú 28
Trang 74.2 Phân tích ảnh hưởng của việc sử dụng BVTV sinh học và BVTV hóa học đến năng
4.2.2 Mô hình ước lượng hàm năng suất 334.2.3 Kiểm định mô hình ước lượng hàm năng suất 35
4.3 Hiệu quả kinh tế của hai loại thuốc khi sử dụng 404.3.1 Kết quả và hiệu quả sản xuất rau của nhóm hộ sử dụng thuốc BVTV hóa học
4.3.2 Kết quả và hiệu quả sản xuất rau của nhóm hộ sử dụng thuốc BVTV sinh học
4.3.3 Phân tích kết quả và hiệu quả của hai nhóm hộ sử dụng thuốc BVTV hóa học
và thuốc BVTV sinh học 444.4 Đánh giá mức sẵn lòng trả của người tiêu dùng cho sản phẩm rau được trồng khi sử
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 535.1 Kết luận 535.2 Kiến nghị 545.2.1 Đối với cơ quan chức năng 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 4.1 Biểu Đồ Kết Quả Sản Xuất của Hai Nhóm Hộ Sử Dụng Thuốc BVTV Hóa Học
và Sinh Học 45
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 3.1 Kỳ Vọng Dấu Cho Hệ Số của Mô Hình Ước Lượng 17Bảng 4.1 Các Loại Thuốc BVTV Hóa Học Đang Được Sử Dụng Phổ Biến tại Xuân Phú
28
Bảng 4.5 Chi Phí Đầu Tư Trên Diện Tích 1 Sào của Hai Nhóm Hộ 31Bảng 4.6 Các Thông Số Ước Lượng của Hàm Năng Suất Cây Rau Khi Sử Dụng THH 33Bảng 4.7 Các Thông Số Ước Lượng của Hàm Năng Suất Cây Rau Khi Sử Dụng TSH 34
Bảng 4.9 Kiểm Tra Lại Dấu Hệ Số của Các Biến Số 39Bảng 4.10 Kết Quả Sản Xuất Rau Khi Sử Dụng Thuốc Hóa Học 41Bảng 4.11 Hiệu Quả Kinh Tế Sản Xuất Rau Khi Sử Dụng Thuốc Hóa Học 42Bảng 4.12 Kết Quả Sản Xuất Rau Khi Sử Dụng Thuốc Sinh Học 43Bảng 4.13 Hiệu Quả Kinh Tế Sản Xuất Rau Khi Sử Dụng Thuốc Sinh Học 43Bảng 4.14 Kết Quả Sản Xuất của Hai Nhóm Hộ 44
Bảng 4.16 Tỷ Lệ Người Tiêu Dùng Đồng Ý Mua Sản Phẩm “Rau Được Trồng Khi Sử
Bảng 4.17 Tỷ Lệ Người Tiêu Dùng Đồng Ý Mua Sản Phẩm “Rau Được Trồng Khi Sử
Trang 11Phụ lục 9 Kết Xuất Eview Ước Lượng Mức Sẵn Lòng Trả của Người Tiêu Dùng
Phụ lục 10 Kết Xuất Eview Ước Lượng Mức Sẵn Lòng Trả của Người Tiêu Dùng Sau Khi Bỏ Biến Số Người
Phụ lục 11 Khả Năng Dự Đoán của Mô Hình
Phụ lục 12 Bảng Giá Trị Thống Kê Mô Tả (Descriptive statistics) Các Biến của Mô Hình Logit
Trang 12
Do các loại thuốc BVTV thường là các chất hóa học có độc tính cao nên mặt trái của thuốc BVTV là rất độc hại với sức khỏe cộng đồng và là một đối tượng có nguy cơ cao gây
ô nhiễm môi trường sinh thái nếu không được quản lý chặt chẽ và sử dụng đúng cách Dư lượng thuốc BVTV quá giới hạn trong nông sản, thực phẩm là mối đe dọa đối với sức khỏe con người Vì vậy, giải quyết hài hòa giữa việc sử dụng thuốc BVTV để bảo vệ sản xuất nông nghiệp với bảo vệ sức khỏe cộng đồng và môi trường là một đòi hỏi và là thách thức lớn đối với cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ thực vật
Trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam các loại thuốc BVTV đã được sử dụng từ nhiều năm trước đây Tuy nhiên thời kỳ đó, do tình hình phát sinh, phát triển của sâu hại, dịch bệnh diễn biến chưa phức tạp nên số lượng và chủng loại thuốc BVTV chưa nhiều Những năm gần đây, do thâm canh tăng vụ, tăng diện tích, do thay đổi cơ cấu giống cây trồng nên tình hình sâu bệnh diễn biến phức tạp hơn Vì vậy số lượng và chủng loại thuốc BVTV sử dụng cũng tăng lên Nếu như trước năm 1985 khối lượng thuốc BVTV dùng hàng năm khoảng 6.500 đến 9.000 tấn thành phẩm quy đổi và lượng thuốc sử dụng bình
Trang 13quân khoảng 0,3 kg/ha thì thời gian từ năm 1991 đến nay lượng thuốc sử dụng biến động từ 25- 38 ngàn tấn Đặc biệt năm 2006 lượng thuốc BVTV nhập khẩu là 71.345 tấn Cơ cấu thuốc BVTV sử dụng cũng có biến động: thuốc trừ sâu giảm trong khi thuốc trừ cỏ, trừ bệnh gia tăng cả về số lượng lẫn chủng loại (www.office33.gov.vn)
Việc sử dụng quá nhiều phân và thuốc BVTV hóa học trong nông nghiệp đã làm ô nhiễm môi trường Nước ta là nước nông nghiệp, diện tích trồng trọt khá phổ biến ở mọi nơi nên sự ô nhiễm này có mặt ở hầu hết các tỉnh thành trong cả nước Do đó yêu cầu cấp thiết được đặt ra là phải tìm ra các sản phẩm mới thay thế vừa đảm bảo được các thuộc tính của thuốc BVTV hóa học vừa không gây ô nhiễm môi trường Đáp ứng được yêu cầu
đó nhiều công ty đã cho ra đời các chế phẩm sinh học có tác dụng phòng trừ sâu bệnh, tăng năng suất cây trồng, cải thiện đất và bảo vệ môi trường Tuy nhiên, nó gặp nhiều trở ngại trong phổ biến rộng rãi do chịu tác động từ nhiều phía nhất là sự ảnh hưởng của thuốc BVTV hóa học quá lâu đời, cũng như thiếu sự quan tâm của các cấp chính quyền cho nên nhiều đặc tính tối ưu của thuốc sinh học vẫn được rất ít người biết đến và sử dụng
mà chỉ được ứng dụng ở một vài địa phương
Vì vậy, tác giả đã tiến hành nghiên cứu đề tài:” So sánh hiệu quả kinh tế giữa việc sử dụng thuốc sinh học và thuốc hóa học trên cây rau tại xã Xuân Phú huyện Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai” thông qua nghiên cứu để so sánh được được ảnh hưởng của thuốc sinh học và thuốc hóa học đối với năng suất cây rau, so sánh các chỉ tiêu kinh tế khi sử dụng hai loại thuốc này Đồng thời xác định mức sẵn lòng trả thêm của người tiêu dùng cho rau được trồng khi sử dụng thuốc sinh học, từ đó cho thấy người tiêu dùng sẵn lòng trả giá cao cho rau được trồng khi sử dụng TSH sẽ tạo động lực để nông hộ sử dụng TSH vào hoạt động nông nghiệp và để phát triển một nền nông nghiệp bền vững
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
So sánh hiệu quả kinh tế giữa việc sử dụng thuốc BVTV sinh học (TSH) và thuốc
BVTV hóa học (THH) tại xã Xuân Phú
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Tìm hiểu tình hình sử dụng thuốc BVTV tại xã Xuân Phú
Trang 14- Ước lượng hàm năng suất cây rau (cải ngọt, cải xanh) khi sử dụng thuốc BVTV sinh học (TSH) và thuốc BVTV hóa học (THH)
- So sánh kết quả, hiệu quả giữa sử dụng TSH và THH
- Đánh giá mức sẵn lòng trả của người tiêu dùng để sử dụng sản phẩm rau được trồng khi sử dụng TSH
- Đề xuất các kiến nghị nhằm nhân rộng việc sử dụng TSH vào hoạt động nông nghiệp
1.3 Phạm vi nghiên cứu của khóa luận
1.3.1 Về không gian
Tiến hành điều tra ngẫu nhiên các hộ sử dụng THH và các hộ sử dụng TSH trong trồng rau tại xã Xuân Phú huyện Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai Điều tra về mức sẵn lòng trả của người tiêu dùng cho sản phẩm rau được trồng khi sử dụng TSH ở huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai
1.4 Cấu trúc của khóa luận
Đề tài nghiên cứu gồm 5 chương:
Chương 1 – Đặt vấn đề: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu, mục tiêu, phạm vi và nội dung nghiên cứu
Chương 2 – Tổng quan: Sơ lược về các nghiên cứu trước đây có liên quan và trình bày các điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội của xã Xuân Phú
Chương 3 – Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu: Trình bày một số khái niệm
và tiêu chuẩn về lĩnh vực nghiên cứu Tiếp theo là mô tả chi tiết về các phương pháp nghiên cứu, bao gồm phương pháp kinh tế lượng, phương pháp thu thập số liệu, phương pháp xử lý số liệu và các chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế
Trang 15Chương 4 – Kết quả nghiên cứu và thảo luận: Trình bày các kết quả thu được trong quá trình nghiên cứu: tình hình sử dụng TSH và THH tại địa bàn để đưa ra một đánh giá chung về tình hình sử dụng thuốc BVTV, tiếp đến là hệ thống các chỉ tiêu kinh tế so sánh hiệu quả khi sử dụng hai loại thuốc Đồng thời xác định mức sẵn lòng trả thêm của người tiêu dùng cho sản phẩm “rau được trồng khi sử dụng TSH” để thấy được tiềm năng về lợi nhuận khi nông hộ sử dụng TSH trong trồng rau
Chương 5 – Kết luận và kiến nghị: Tóm tắt các kết quả đã nghiên cứu và đề xuất các kiến nghị với mong muốn phát triển bền vững nền nông nghiệp, đáp ứng nhu cầu về nông sản an toàn cho người tiêu dùng để đảm bảo sức khỏe và môi trường sống cho con người
Trang 16CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN
2.1 Tổng quan về tài liệu nghiên cứu có liên quan
Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, 2007 “Đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội và môi trường khi
sử dụng thuốc sinh học cho lúa tại huyện Ngã Năm tỉnh Sóc Trăng” Tác giả đã phân tích các chi phí đầu tư trên diện tích 1 ha/vụ lúa thông qua phỏng vấn hai nhóm hộ dân: 30 hộ
sử dụng thuốc sinh học và 30 hộ sử dụng thuốc hóa - sinh kết hợp Kết quả cho thấy việc
sử dụng các chế phẩm sinh học không những đem lại hiệu quả phòng chống các loại sâu bệnh góp phần làm tăng năng suất, phẩm chất cây trồng Ngoài việc đem lại hiệu quả kinh
tế xã hội thì việc sử dụng các chế phẩm sinh học còn không gây hại đến sức khỏe con người và hạn chế ô nhiễm môi trường
Nguyễn Thị Thanh Trâm, 2008 Đánh giá mức sẵn lòng trả cho gà ta nuôi theo phương thức an toàn sinh học tại TP.HCM Tác giả đã sử dụng phương pháp thị trường thông qua phỏng vấn 558 hộ để biết được sở thích của người tiêu dùng, để cung ứng ra thị trường một sản phẩm thịt gà mới nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm không ảnh hưởng đến sức khỏe con người, bảo vệ môi trường sống Đồng thời xác định mức sẵn lòng trả thêm của người tiêu dùng TP.HCM cho sản phẩm gà an toàn Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 97% người tiêu dùng quan tâm đến chất lượng trong đó có 89% quan tâm đến tính an toàn của sản phẩm gà ta Thông qua mô hình logit tác giả đã tính toán được mức sẵn lòng trả thêm của người tiêu dùng cho sản phẩm gà ta nuôi theo phương thức an toàn sinh học là
49000 VNĐ/kg Tác giả cũng đã phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng trả cho đặc tính an toàn của sản phẩm gà ta đó là mức giá trả thêm, thu nhập, hiểu biết, gà
Trang 172.2 Đặc điểm tổng quát của địa bàn nghiên cứu
Xuân Phú là một xã nội địa của huyện Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai Những năm gần đây với sự quan tâm giúp đỡ của huyện và tỉnh cũng như nhà nước đã tăng cường đầu tư
mở rộng ngành nghề, đẩy mạnh sản xuất công nông nghiệp vì vậy mà đời sống nhân dân được cải thiện so với trước đây Tuy nhiên, Xuân Phú là một xã đông dân, 46% theo đạo Thiên chúa giáo, đời sống càng cải thiện thì yêu cầu về giáo dục, y tế, cũng như phát triển
để đáp ứng với việc nâng cao dân trí đảm bảo cho sự phát triển lâu dài Là một xã đông dân, thu nhập tính theo đầu người chưa cao so với mặt bằng thu nhập trong huyện Xuân Phú
2.2.1.Vị trí địa lý
Xuân Phú là một xã nội vi của huyện Xuân Lộc Có tổng diện tích tự nhiên 3855.4
ha toàn xã có 5 ấp
• Phía Bắc giáp Xuân Thọ, Long Khánh
• Phía Đông giáp Suối Cát, Xuân Thọ, Lang Minh
• Phía Tây giáp Bảo Hòa, Long Khánh
Trang 18• Phía Nam giáp Cẩm Mỹ
Lượng bốc hơi hàng năm trung bình 1100 – 1300 mm/năm, trong đó mùa khô thường cao gấp 2 – 3 lần mùa mưa, tạo nên sự mất cân đối nghiêm trọng về độ ẩm, nhất là trong các tháng cuối mùa khô nên hầu hết các cây trồng cần được tưới nước bổ sung mới cho năng suất cao
Gió: trong năm có 2 hướng gió chính là gió Đông Bắc hình thành trong mùa khô
và gió Tây Nam hình thành trong mùa mưa Tốc độ gió trung bình hàng năm từ 2,0 – 2,2 m/s lớn nhất là 2,5 – 3,0 m/s (9 – 10 km/h) và ít chịu ảnh hưởng của bão
2.2.4 Tài nguyên thiên nhiên
Xuân Phú là một xã nông nghiệp ruộng đất bình quân đầu người 1939 m2/ người Thu nhập đảm bảo đời sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp và công tác giao lưu với các địa phương
2.2.5 Đặc điểm kinh tế xã hội và sản xuất
Xuân Phú là một xã nông nghiệp, bình quân lương thực đầu người 1650 kg/người, toàn xã có 16496 nhân khẩu với 3150 hộ, đồng bào dân tộc chiếm 23,5%, nhiều nhất là dân tộc Choro
Toàn xã có 46% dân số theo đạo Thiên chúa giáo
Tỷ lệ tăng dân số 1.15%
Trang 19Diện tích gieo trồng toàn xã: cây hàng năm 600ha, cây lâu năm 300ha, rau 1000ha,
hệ số quay vòng đất 1,8 lần
Chăn nuôi: tại xã có đàn gia cầm với 300.000 con trong đó với 190.000 con gà
Gia súc: heo 3200 con, trâu bò 1700 con
Năm 2009 GPP/người là 14 triệu/người/năm
Hình 2.1 Cơ Cấu Kinh Tế Xã Xuân Phú Năm 2009
Nguồn: Ủy ban nhân dân xã Xuân Phú
phổ cập trung học phổ thông (trong độ tuổi) Toàn xã có 5 trường: một trường THPT, một trường THCS, ba trường tiểu học, một trường tiểu học
Là một xã nông nghiệp, có kinh nghiệm trong sản xuất hoạt động nông nghiệp của
xã đã đáp ứng được nhu cầu lương thực cho người dân Đảng bộ luôn đạt vững mạnh, tình hình an ninh chính trị ổn định trật tự xã hội tốt, chính quyền địa phương là một xã mạnh, các đoàn thể trong khối quần chúng luôn được xếp vào loại khá của huyện, xã luôn luôn hoàn thành mọi chỉ tiêu của huyện và tỉnh Trong những năm vừa qua, với cơ chế thị trường, cộng với sự đổi mới của Đảng và Nhà nước, đời sống nhân dân được nâng cao rõ rệt, trình độ dân trí cũng tăng thêm một bước quan trọng, bộ mặt cảnh quan của xã ngày
càng được đổi mới
Trang 202.3 Tổng quan tình hình sản xuất rau tại địa phương
Xuân Phú là một xã nông nghiệp Diện tích đất nông nghiệp là 1900 ha chiếm 49,28% diện tích tự nhiên, trong đó diện tích trồng rau là 1000 ha chiếm 52,63% diện tích đất nông nghiệp Nhìn chung chủng loại rau khá phong phú bao gồm:
Rau ăn lá: cải ngọt, cải xanh, xà lách, mồng tơi, các loại rau thơm
Rau ăn quả: dưa leo, khổ qua, đậu cove
Từ năm 2008 xã Xuân Phú đã tổ chức các lớp tập huấn trồng rau theo quy trình tổng hợp phương pháp IPM, giảm thiểu tối đa lượng thuốc BVTV gây hại cho người sản xuất và người tiêu dùng, tránh ảnh hưởng xấu đến môi trường và xã hội Thông qua các
lớp học về IPM, người nông dân được cán bộ nông nghiệp tập huấn về kỹ thuật trồng rau,
hướng dẫn cách sử dụng thuốc BVTV, giới thiệu những loại thuốc mới đến nông hộ Cũng thông qua các lớp tập huấn người dân tiếp cận được với các sản phẩm BVTV mới của các nhà sản xuất Tiêu biểu như việc sử dụng thuốc BVTV sinh học trong trồng rau đã được người dân tích cực tham gia, kết quả hiện tại xã có 60% người dân sử dụng TSH trong trồng rau, số còn lại do trình độ học vấn còn thấp và chưa tham gia các buổi tập huấn do xã tổ chức nên chưa thấy được hiệu quả của việc sử dụng TSH Tại xã hiện có hợp tác xã rau Trường An, là tổ chức có thương hiệu duy nhất tại xã Từ năm 2007, các xã viên trong hợp tác xã đã đầu tư nhà lưới với diện tích 10 ha, khoan giếng, hệ thống tưới nước tự động, màng phủ nilon Đây là mô hình sản xuất với qui mô lớn, vốn đầu tư cao và kết quả đạt được rất đáng kể Hiện tại hợp tác xã chỉ tiêu thụ được 50% lượng rau của các
xã viên, số còn lại các xã viên phải tự tìm nguồn tiêu thụ Đây cũng là mối quan tâm của
các xã viên Ngoài ra, tại xã còn có Liên Hiệp câu lạc bộ năng suất cao Xuân Tiến, một đơn vị thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn cho bà con nông dân dưới sự chỉ đạo của
xã Sản phẩm rau của Liên Hiệp câu lạc bộ chưa được công nhận là rau an toàn nhưng hiện tại Liên Hiệp đã thành công trong việc khuyến khích người dân sử dụng TSH trong trồng rau Hiện nay, UBND xã Xuân Phú đang vận động người dân tham gia các câu lạc
bộ năng suất cao và tiến tới xây dụng câu lạc bộ thành hợp tác xã để có thể tìm được đầu
ra ổn định nâng cao thu nhập và mức sống của người dân
Trang 21
CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Cơ sở lý luận
3.1.1 Một số khái niệm
a) Đo lường kết quả và hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế đặc biệt quan trọng, nó thể hiện kết quả sản xuất trong mỗi đơn vị chi phí của ngành sản xuất Về mặt hình thức, hiệu quả kinh tế
là một đại lượng so sánh kết quả sản xuất với chi phí bỏ ra
Để đánh giá hiệu quả kinh tế chúng ta phải đứng trên quan điểm toàn diện, phải biểu hiện trên nhiều góc độ khác nhau và có quan hệ chặt chẽ với nhau theo không gian – thời gian – số lượng – chất lượng
+ Về mặt không gian: Khi xét hiệu quả kinh tế không nên xét một mặt, một lĩnh vực mà phải xét trong mối quan hệ hữu cơ hợp lý trong tổng thể chung
+ Về mặt thời gian: Sự toàn diện của hiệu quả kinh tế đạt được không chỉ xét ở từng giai đoạn mà phải xét trong toàn bộ chu kỳ sản xuất
+ Về mặt số lượng: Hiệu quả kinh tế phải thể hiện hiệu mối tương quan thu, chi theo hướng giảm đi hoặc tăng thêm
+ Về mặt chất lượng: Hiệu quả kinh tế phải đảm bảo sự cân đối hợp lý giữa các mặt kinh tế, chính trị, xã hội Việc xác định hiệu quả kinh tế là điểm xuất phát cho mọi tính toán trong kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân Đối với địa phương, nó là cơ sở để xác định đúng đắn một cơ cấu kinh tế hợp lý, tạo ra nguồn sản phẩm dồi dào đáp ứng nhu cầu xã hội đồng thời mang lại lợi ích thiết thực cho nhà sản xuất
Trang 22Kết quả - hiệu quả kinh tế có ý nghĩa to lớn trong lý luận, trong thực tiễn tổ chức sản xuất của các đơn vị sản xuất kinh doanh cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân Tùy vào qui mô, mục đích sản xuất mà các đơn vị sản xuất kinh doanh dùng chỉ tiêu kết quả hay hiệu quả làm mục tiêu hoạt động của mình
3.1.2 Sơ lược tác dụng và tác hại của thuốc BVTV hóa học và thuốc BVTV sinh học
a) Thuốc hóa học (THH)
• Tác dụng
Việc dùng thuốc BVTV được phối hợp chặt chẽ với các biện pháp phòng trừ khác trong hệ thống phòng trừ dịch hại tổng hợp bảo vệ cây trồng như: dùng thuốc kháng sâu bệnh, biện pháp canh tác, cơ giới và sinh học phòng trừ sâu bệnh Nếu việc dùng thuốc hóa học được thực hiện nghiêm túc theo đúng quy trình kỹ thuật thì sẽ đem lại lợi ích to lớn trong sản xuất nông nghiệp như:
Đẩy lùi tác hại của sâu bệnh, cỏ dại và các sinh vật gây hại khác đối với cây trồng
Trang 23Do vậy, thuốc BVTV là con dao hai lưỡi Sử dụng đúng đắn, biết phối hợp với các biện pháp phòng trừ khác thì thuốc là một vũ khí lợi hại không thể thiếu được trong nền sản xuất nông nghiệp tiên tiến, đem lại lợi ích cho nông dân Ngược lại, nếu ỷ lại vào thuốc BVTV, không dùng đúng kỹ thuật sẽ đưa lại những hậu quả tai hại trước mắt và lâu dài
b Thuốc sinh học (TSH)
Cũng như thuốc BVTV hóa học, thuốc BVTV sinh học có tác dụng tiêu diệt sâu bệnh, làm tăng năng suất và phẩm chất cây trồng nhưng điểm đặc biệt là chúng không gây hại cho con người và môi trường
sinh học do chúng có nguồn gốc từ các chất có trong tự nhiên, trong một số qui trình kỹ thuật chế biến mà tạo thành
Trang 243.1.3.Vai trò của thuốc BVTV sinh học trong nền nông nghiệp
a) Tạo ra một lượng nông sản sạch và an toàn: Nông sản sạch và an toàn là tiêu chí hướng đến của tất cả các nước sản xuất nông nghiệp và của cả những nước công nghiệp trên thế giới Nhu cầu lương thực ngày nay không những đáp ứng đủ về mặt số lượng mà còn phải quan tâm đến chất lượng của nó Hiện nay trên thị trường có nhiều loại nông sản không đảm bảo được về mặt vệ sinh an toàn thực phẩm cũng như việc sử dụng tràn lan các loại thuốc BVTV hóa học và phân bón trên cây trồng ngày càng làm tăng thêm nguy
cơ ngộ độc thực phẩm ảnh hưởng đến sức khỏe con người Do đó, việc tạo ra các chế phẩm sinh học trong nông nghiệp là một bước tiến và là một sự thành công góp phần đảm bảo tình hình an ninh lương thực và thực phẩm cũng như phát triển một nền nông nghiệp bền vững
b) Không gây hại cho con người và môi trường sinh thái trong quá trình sử dụng cũng như lưu trữ: khi sử dụng các chế phẩm hóa học người nông dân không tránh khỏi các tác dụng độc hại của chúng Các hiện tượng ngộ độc nhẹ thường xảy ra trong quá trình phun xịt hay tiếp xúc trực tiếp, những trường hợp nặng có thể ngay tử vong Đối với thuốc BVTV sinh học thì người nông dân có thể hoàn toàn an tâm về vấn đề này Tuy chưa có một kết luận cụ thể nào về độc tính của thuốc sinh học nhưng do nguồn gốc được tổng hợp từ thiên nhiên nên việc gây hại cho người trực tiếp sử dụng hay tiếp xúc là chưa từng xảy ra Vì thế, người sản xuất nông nghiệp có thể an tâm khi lựa chọn sản phẩm này c) Phù hợp với nhu cầu cấp thiết về vấn đề nông nghiệp hiện nay: xu thế của thế giới ngày nay là khuyến khích việc sản xuất lương thực thực phẩm an toàn, chất lượng phải được đảm bảo Đối với người tiêu dùng, mức sống của họ ngày càng được nâng cao thì nhu cầu về sản phẩm sạch lại được quan tâm nhiều hơn Do đó, việc sử dụng các chế phẩm sinh học là rất phù hợp với nhu cầu này Hơn thế nữa, nền nông nghiệp cả thế giới cững đang hướng đến một nền nông nghiệp phát triển bền vững
3.1.4 Đặc điểm của ngành trồng rau
Ngành trồng rau tương đối khác biệt với các ngành trồng trọt khác Rau có nhiều loại, nhiều giống khác nhau Mỗi loại đều có tính sinh học khác nhau và yêu cầu điều kiện
Trang 25nhất định để sinh trưởng và phát triển, do đó tiến trình kỹ thuật phương pháp gieo trồng cây con ở rau cần có những phương pháp riêng biệt để phù hợp với nhu cầu sinh trưởng
và phát triển của cây
Rau là loại cây thích hợp với chế độ trồng xen canh, trồng gói, gieo lẫn nhờ có độ phân cành, chiều cao và sự phân bố khác nhau Trồng xen, trồng gói là biện pháp kỹ thuật mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nghề trồng rau
Rau có thời gian sinh trưởng ngắn do đó một năm có thể trồng được 2 – 3 vụ đến 4 – 5 vụ, do đó rau cần nhiều công lao động trên đơn vị diện tích và đòi hỏi chăm sóc tỉ mỉ Yêu cầu thời vụ nghiêm ngặt, chặt chẽ: rau là loại cây trồng rất dễ mẫn cảm với sự thay đổi của điều kiện khí hậu, thời tiết như: nhiệt độ, ánh sáng Thời vụ không hợp lý sẽ ảnh hưởng đến năng suất cũng như chất lượng của rau Về nguyên tắc, cần bố trí sắp xếp thời
vụ sao cho rau đạt khả năng sinh trưởng tốt nhất Song do nhu cầu người tiêu dùng đối với rau là quanh năm, chính vì vậy mà người trồng rau phải gieo trồng vào lúc thời tiết không thuận lợi, sản xuất rau trái vụ thường gặp nhiều rủi ro, năng suất và chất lượng rau kém hơn sản xuất chính vụ, nhưng hiệu quả kinh tế cao đã tạo động lực sản xuất trái vụ cho người dân
• Khắc phục hiện tượng giáp vụ rau
Khí hậu nhiệt đới nước ta đã mang lại những thuận lợi nhưng cũng mang lại những khó khăn nhất định cho ngành trồng trọt Ở các tỉnh miền Nam thường có thời kỳ giáp vụ rau là tháng 4 – 5 và tháng 9 – 10 dương lịch đã gây ra khó khăn cho ngành trồng rau Để khắc phục hiện tượng giáp vụ rau cần:
Tăng cường việc chọn lựa các giống rau có khả năng thích nghi với điều kiện nhiệt
độ cao, chịu úng, chống chịu sâu bệnh tốt để trồng vào các tháng giáp vụ
Sắp xếp thời vụ gieo trồng hợp lý với nhu cầu sinh trưởng từng loại giống
Tăng cường biện pháp kỹ thuật như giảm lượng phân bón, luyện tính chịu nóng cho cây rau để khắc phục điều kiện ngoại cảnh bất lợi
Tăng cường công tác chế biến và bảo quản để kéo dài thời gian cung cấp
Trang 263.1.5 Quy trình sản xuất rau cải
i) Giai đoạn xử lý đất: (5 -10 ngày/1000m2)
Xới đất
Lên luống, cao 10 – 15 cm, rộng 1,5 – 2 cm
Bón vôi nông nghiệp 25kg/vụ, sau 5 ngày bón phân chuồng hoai mục, kết hợp 5kg
NPK 17-12-7-TE, 15kg lân nung chảy và 0,5kg nấm trichoderma
ii) Giai đoạn gieo sạ, chăm sóc (20 – 25 ngày)
Gieo 0,5 – 1kg/1000m2
• Chăm sóc
Tưới nước 1 – 3 lần/ngày
Phun thuốc trừ cỏ ngày thứ 2 sau khi gieo
Bón 10kg NPK 17-12-7-TE sau khi sạ được 10 ngày và 15 - 2 kg NPK 17-12-7-TE
sau khi sạ 15 ngày
Sau khi sạ 13 – 15 ngày tiến hành tỉa thưa mỗi cây cách nhau 10 – 12cm
Thường xuyên kiểm tra ruộng rau
Phun thuốc trừ sâu bệnh vượt ngưỡng cho phép 20%/m2, luân phiên sử dụng các
loại thuốc BVTV (theo tên hoạt chất)
Đảm bảo thời gian cách ly sau khi thu hoạch từ 7 – 10 ngày khi sử dụng thuốc
BVTV lần cuối
iii) Thu hoạch và vệ sinh ruộng rau (Nguyễn Nam, 2008)
3.2 Phương pháp phân tích hồi quy 3.2.1 Lý thuyết xây dựng phương trình hồi quy
“Phân tích hồi qui là nghiên cứu sự phụ thuộc của một biến - biến phụ thuộc, vào
một hay nhiều biến khác - biến giải thích, với ý tưởng là ước lượng hay dự đoán giá trị
bình quân (hay trung bình của tổng thể) biến phụ thuộc Trên cơ sở các giá trị biết trước
hay cố định của các biến giải thích” (Nguyễn Duyên Linh, Đại Học Nông Lâm TP.Hồ
Chí Minh, Giáo Trình Kinh Tế Lượng, 2000) Phân tích hồi qui được tiến hành theo các
bước sau:
Bước 1: Xác định và nêu các giả thiết mối quan hệ các biến kinh tế
Trang 27Kỹ thuật ước lượng hồi qui được sử dụng trong nghiên cứu này là phương pháp bình phương bé nhất (OLS-Ordinary Least Squares) dựa trên ba giả thiết của mô hình như sau:
- Mối quan hệ giữa các biến là phi tuyến (dạng hàm Cobb-Douglas)
- Xi là biến số ngẫu nhiên và các giá trị của nó không đổi Ngoài ra không có sự tương quan hoàn hảo nào giữa hai hay nhiều biến độc lập
- Số hạng sai số có giá trị kỳ vọng bằng không và phương sai không đổi (là hằng số) cho tất cả các quan sát, tức là E(εi) = 0 và E(ε2i) = δ2 Sai số của các biến số ngẫu nhiên εi là độc lập về mặt thống kê Như vậy, E(εi ,εj) = 0 với i≠ j, và các số hạng sai số có phân phối chuẩn
Bước 2: Thiết lập mô hình toán học để mô tả mối quan hệ giữa các biến số
Như đã trình bày phương trình hồi qui được sử dụng có dạng hàm Cobb-Douglas:
ε β β
β β
n .
.
3
2 2
1 1
Bước 4: Kiểm định các giả thiết đã đặt ra
Bước 5: Phân tích mô hình
3.2.2 Xây dựng mô hình ước lượng hàm năng suất
Áp dụng phương pháp hồi qui để xây dựng hàm năng suất rau (cải ngọt, cải xanh) tại xã Xuân Phú Mô hình được xây dựng dạng hàm Cobb-Douglas như sau:
Trang 28X3: Chi phí thuốc bảo vệ thực vật (1000VNĐ/1000m2 /vụ)
X4: Nước tưới (m3/1000m2 /vụ)
Bảng 3.1 Kỳ Vọng Dấu Cho Hệ Số của Mô Hình Ước Lượng
Nguồn: Kết quả tổng hợp
Lý giải
Phân bón (X1): phân là một yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất, nó giúp cho cây tăng trưởng nhanh, chắc khỏe, năng suất cao Biến này mang dấu dương (+) vì việc tăng sử dụng phân bón sẽ làm năng suất tăng, nhưng đến một mức nào đó sẽ không làm năng suất tăng nữa
Công chăm sóc (X2): Mang dấu dương (+) vì nếu cùng một diện tích mà diện tích nào được chăm sóc tốt hơn sẽ cho năng suất cao hơn
loại sâu, bệnh gây hại đến rau Nên nếu sử dụng thuốc BVTV ở mức thích hợp sẽ làm tăng năng suất cho nên biến này mang dấu dương (+)
Nước tưới (X4): nước là một trong những yếu tố quan trọng trong sản xuất Nếu lượng nước tưới được cung cấp đầy đủ sẽ làm cho sản lượng tăng lên, nhưng nếu nước quá nhiều thì có ảnh hưởng xấu đến năng suất Vì vậy, biến này có thể mang dấu âm (–) hoặc (+)
3.3 Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM)
3.3.1 Khái niệm về phương pháp CVM
Theo P.T.G.Tam (2008): “Phương pháp CVM là một hình thức nghiên cứu thị trường dùng kỹ thuật phỏng vấn cá nhân để định giá loại hàng hóa hay dịch vụ không có thị trường”
Trang 29Thị trường giả định gồm ba phần:(1) Một “kịch bản” được giới thiệu cho người được phỏng vấn một viễn cảnh tốt để họ sẽ trả lời các câu hỏi định giá (2) Mô tả một chính sách hay một chương trình sẽ được thực hiện mà phải bảo đảm cho người được phỏng vấn nhận xét đó là một chương trình tốt (3) Phương thức trả tiền phải được mô tả
kĩ nhằm để người trả lời tin rằng họ sẽ trả cho dự án hay chính sách đó Kịch bản, chính sách và phương thức trả tiền trong giả thuyết CV phải được thực hiện tốt trong bảng phỏng vấn nhằm cho người trả lời thấy được số tiền họ sẽ trả sẽ được sử dụng đúng
b) Xác định nên hỏi WTP/ WTA
thiện hoặc để bảo tồn một loại tài nguyên, một hàng hóa nào đó… và người dân sẽ sẵn lòng trả bao nhiêu tiền để các dự án hay hàng hóa nào đó được cải thiện
và người ta muốn biết người dân sẽ nhận một mức tiền đền bù là bao nhiêu để chấp nhận sống chung với ô nhiễm hay chấp nhận đền bù bao nhiêu khi dự án đó làm mất đi một khu rừng, mất đi một loài động vật mà họ thích ngắm, hoặc nhận đền bù để chấp nhận một rủi
ro về một loại thực phẩm nào đó,…
c) Xác định cách hỏi mức WTP/ WTA
Có 4 phương pháp hỏi mức sẵn lòng trả:
i) Open – ended question (câu hỏi mở)
Người trả lời sẽ được hỏi câu “anh/chị sẵn lòng trả bao nhiêu tiền…” và số tiền bao nhiêu là do người trả lời suy nghĩ và nói ra, phỏng vấn viên không đưa ra một mức giá nào cả
Trang 30ii) Payment card
Một loạt các mức giá được viết lên thẻ và người trả lời được yêu cầu chọn một mức giá Cách hỏi này thường đem lại mức sẵn lòng trả thấp, vì trong một loat mức giá được ghi trên thẻ thì các mức giá thấp thường được người trả lời chú ý hơn
iii) Bidding Games
Phỏng vấn viên đưa ra mức giá đầu tiên và yêu cầu người được phỏng vấn trả lời Nếu được trả lời “Có”, phỏng vấn viên sẽ đưa giá ngày càng cao hỏn cho đến khi người được phỏng vấn trả lời “Không” và ngược lại Đây chính là mức sẵn lòng trả tối đa của người trả lời Với cách hỏi này, thông thường trong các nghiên cứu, người tổ chức thường chia số mẫu phỏng vấn thành nhiều nhóm và mỗi nhóm sẽ có một mức giá khởi đầu khác nhau
Nhược điểm lớn nhất của phương pháp này là các sai lệch xảy ra trong mức giá khởi đầu Mức giá khởi đầu quá cao hay quá thấp đều ảnh hưởng đến kết quả cuối cùng của nghiên cứu
iv) Câu hỏi đóng (Dichotomous hay Close – Ended Question)
Có hai cách hỏi sau đây
• Single – bounded dichotomous choice: Tiến hành phân khoản từ mức WTP kì vọng cao nhất đến WTP kì vọng thấp nhất Tại mỗi mức giá này, sẽ tiến hành hỏi một nhóm đối tượng phỏng vấn, người được phỏng vấn sẽ được trả lời “đồng ý” hay “không đồng ý” với mức giá này
Ưu điểm của cách hỏi này: giúp người trả lời dễ quyết định
Nhược điểm: phải đảm bảo mức độ tin cậy trong việc lấy mẫu ngẫu nhiên
• Double – bounded dichotomous choice: Trong phương pháp này, người được phỏng vấn được hỏi một câu hỏi “Có – Không” về việc họ sẵn lòng trả một khoản tiền nhất định cho mục đích mà nó được mô tả Nếu họ trả lời “Có” thì câu hỏi này
sẽ được lặp lại với một số tiền lớn hơn, nếu học trả lời “Không” thì câu hỏi thứ hai
sẽ hỏi một khoản tiền nhỏ hơn Điều này được lặp lại cho đến khi WTP cuối cùng được xác định
Trang 31d) Ước lượng hàm cầu
Hàm cầu của phương pháp này thường là:
WTPi = (Ai, Ei, Yi, Mi,…)
Trong đó:
A: Tuổi
E: Trình độ học vấn
Y :Mức thu nhập
M: Biến môi trường
Phân tích hồi qui trong kinh tế lượng nhằm tìm ra mối quan hệ giữa biến phụ thuộc
và biến độc lập Thông thường, chúng ta thường gặp các biến phụ thuộc ở dạng liên tục
và các biến độc lập ở dạng liên tục hoặc không liên tục Tuy nhiên, trong phương pháp CVM biến phụ thuộc là biến định tính là có/không hoặc đóng góp/không đóng góp Các biến này được gọi là biến nhị nguyên Các phương pháp phân tích như mô hình hồi qui tuyến tính không thể áp dụng được cho các biến loại phụ thuộc định tính Theo Ramu Ramanathan (2000), đối với loại biến này, các loại mô hình lựa chọn rời rạc như: mô hình xác suất tuyến tính, mô hình đơn vị xác suất (mô hình Probit), mô hình Logit
e) Ước lượng WTP/WTP trung bình
Tính tích phân vùng diện tích dưới đường cầu đó suy ra thặng dư của người tiêu dùng hoặc WTP trung bình
f) Tính giá trị (tổng lợi ích thuần): WTP trung bình/cá nhân * tổng số cá nhân
Phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM) từng là đề tài của rất nhiều cuộc tranh luận, chỉ trích do phụ thuộc vào các thị trường giả định và thường gặp một số thiên lệch
Để khắc phục những vấn đề trên những nhà nghiên cứu cần phải thận trọng trong kỹ thuật xây dựng bảng câu hỏi, phương pháp lấy mẫu, tổ chức điều tra
3.3.3 Những kỹ thuật khi xây dựng bảng câu hỏi
Kỹ thuật xây dựng kịch bản
a) Kỹ thuật Delphi
Theo Randall B Dunham (1996), mục đích của kỹ thuật Delphin dùng để thu thập thông tin và ý kiến của những người có liên quan hay của các chuyên gia để giải quyết
Trang 32những vấn đề khó khăn, hoạch định chính sách và đưa ra chính sách một cách dễ dàng hơn Kỹ thuật Delphin dễ dàng gây ảnh hưởng đến những người có liên quan với nhau và tạo thuận lợi cho họ phát biểu những suy nghĩ của mình Từ đó, những nhà làm chính sách có thể hạn chế được nhược điểm và phát huy tối đa ưu điểm của dự án chính sách
b) Kỹ thuật Verbal Protocol
Kỹ thuật Verbal Protocol được ứng dụng trong các nghiên cứu CV bởi Schkade and Payne (1994), Kramer and Mercer (1997), and Manoka (2001), đây được xem là bước khởi đầu trước khi hoàn thành bảng câu hỏi Đây là kỹ thuật “think aloud” – nói ngay suy nghĩ của mình khi vừa mới nghĩ ra Những người được hỏi sẽ nói ra suy nghĩ của mình một cách thành thật nhất đối với những câu hỏi được đưa ra (Manoka, 2001) Phỏng vấn viên không nhắn nhở hoặc gợi ý gì cho người được hỏi Tuy nhiên thỉnh thoảng phỏng vấn viên phải xen vào khi người trả lời ngừng phát biểu một vài giây (Boren và các cộng
sự, 2000)
c) Phỏng vấn thử (Pretesting)
Kỹ thuật này nhằm xem thử người phỏng vấn có trả lời được không? Để thêm những câu hỏi, những từ ngữ dễ hiểu trong bảng câu hỏi Đồng thời cũng xác định được mức sẵn lòng trả cao nhất
Ngoài ra việc sử dụng kỹ thuật PRA (Participatory Rural Appraisal) hay Focus Group Discussion (thảo luận nhóm) cũng là những công cụ rất hữu ích cho việc xây dựng tình huống giả định, xác định mức giá khởi đầu cũng như phương thức trả tiền cho các câu hỏi CVM
Bên cạnh đó, trong bảng thiết kế câu hỏi cần phải có các thông tin khác về người phỏng vấn như thu nhập, kiến thức về vấn đề nghiên cứu, mối quan tâm về vấn đề nghiên cứu, khoảng cách tới vùng nghiên cứu
3.3.4 Chọn phương pháp lấy mẫu
Ta cần phải xác định đối tượng lấy mẫu cho phù hợp với vấn đề nghiên cứu Ví dụ khi nghiên cứu về giá trị du lịch thì phỏng vấn khách du lịch, khi nghiên cứu về chức năng đa dạng sinh học, chức năng phòng ngừa thì phỏng vấn người dân ở đó, hay giá trị tồn tại thì bất cứ người nào
Trang 33Việc lấy mẫu phải tuân thủ nghiêm ngặt phương pháp lấy mẫu thống kê ngẫu nhiên phân tầng, mẫu ngẫu nhiên đơn giản,…; tuân thủ cách lấy mẫu, cỡ mẫu Theo Nguyễn Trí Hùng (1991) quy mô mẫu khảo sát tối thiểu được xác định dựa trên công thức sau:
n =
)1(
)1(
2 2
2
p p Z
Nd
p p
NZ
−+
3.3.6 Những quy tắc để một cuộc phỏng vấn có chất lượng tốt
Kết quả của các nghiên cứu CVM phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố Vì thế, để hạn chế thấp nhất những sai lệch trong quá trình nghiên cứu, đội ngũ nghiên cứu phải tuân theo những qui tắc nhất định nhằm khắc phục các hạn chế của phương pháp này Để một cuộc phỏng vấn có chất lượng tốt, các phỏng vấn viên phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
Trang 34(1) Đọc các câu hỏi chính xác như trong bảng câu hỏi, đừng thay đổi (2) Đọc câu hỏi đủ chậm để người nghe có thể hiểu được (3) Để cho người được hỏi có thời gian trả lời (4) Nếu người được hỏi không hiểu hãy lặp lại câu hỏi (5) Giữ nguyên thái độ đối với câu trả lời của người được hỏi (6) Đừng tỏ ra bối rối đối với những câu trả lời tế nhị (7) Đừng gợi ý câu trả lời (8) Đừng lặp lại câu trả lời (9) Phỏng vấn riêng đối với người được phỏng vấn (10) Không nên khuyên nhủ người nghe về vấn đề cá nhân của họ (11) trả lời bất cứ câu hỏi nào của người được phỏng vấn hỏi về mục đích của cuộc khảo sát (12) lắng nghe một cách cẩn thận các câu trả lời của họ (Amon, Joseph et al 2000, Martha Ainsworth, 2003).(trích dẫn luận văn Nguyễn Văn Hậu, 2008)
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Sử dụng mô hình logit để xác định mức sẵn lòng trả thêm của người tiêu dùng
a) Cơ sở lựa chọn mô hình
Bảng câu hỏi sử dụng cách hỏi Open – ended question để hỏi mức WTP, người được hỏi có hai lựa chọn “có đồng ý” hay “không đồng ý” trả thêm và số tiền trả thêm là bao nhiêu do người được phỏng vấn trả lời Đây là biến phụ thuộc mang tính chất đo lường nhị phân, còn các biến độc lập có thể liên tục hoặc không liên tục, tác giả muốn tìm hiều mối quan hệ giữa các biến độc lập với biến phụ thuộc Vì vậy tác giả đã chọn mô
hình logit để nghiên cứu
Theo Ramu Ramanathan (2000), trong trường hợp này biến phụ thuộc chỉ nhận giá trị giữa 0 và 1 Nếu một mô hình hồi qui thông thường nào đó được sử dụng trong trường hợp như vậy thì không có gì có thể đảm bảo giá trị dự đoán trước sẽ nằm trong khoảng 0
và 1 Để đảm bảo không xảy ra trường hợp như vậy, người ta thường áp dụng dạng hàm logistic
Trang 35b) Cơ sở lựa chọn các biến
Việc lựa chọn các biến đưa vào mô hình đòi hỏi người nghiên cứu phải có kiến thức
nền tảng nhất định về lý thuyết cung cầu hàng hóa, lý thuyết thỏa dụng, thu nhập, mối quan hệ giữa thu nhập và quyết định tiêu dùng Bên cạnh đó, việc tham khảo các kết quả nghiên cứu trước đây và từ khảo sát thực tế cũng là nguồn tài liệu quan trọng giúp tác giả đưa vào mô hình những biến phù hợp, có tính giải thích cao Mô hình được trình bày như sau:
WTP = f(MUCGIA,HIEUBIET, TTN, SONGUOI, TDHV)
+ Giá sẵn lòng trả thêm (WTP – willingess to pay)
Là biến phụ thuộc được hiểu là liệu người được hỏi có sẵn lòng trả thêm cho 1kg rau xanh hay không, điều này bị tác động bởi các yếu tố như: tổng thu nhập hàng tháng của hộ gia đình, trình độ học vấn và các yếu tố khác Được quy ước như sau:
WTP = 1, nếu người được phỏng vấn trả lời có đồng ý sẵn lòng trả thêm
= 0, nếu người được phỏng vấn trả lời không đồng ý trả thêm
+ Biến mức giá (MUCGIA)
Bảng câu hỏi được thực hiện khảo sát với 100 mẫu, người được phỏng vấn sẽ đưa
ra một mức giá để trả thêm cho việc tiêu dùng sản phẩm rau được trồng khi sử dụng TSH
Nó được kỳ vọng có tác động âm lên WTP, tức là việc đề nghị trả thêm làm giá sản phẩm cao hơn thì khả năng người được phỏng vấn trả lời đồng ý sẽ giảm xuống
+ Biến hiểu biết (HIEUBIET)
Sự hiểu biết của người tiêu dùng ảnh hưởng đến mức giá của sản phẩm Vì vậy khi người tiêu dùng hiểu biết càng nhiều thì họ càng trả mức giá cao, kỳ vọng hệ số này (+) HIEUBIET = Hiểu biết của người tiêu dùng về rau được trồng khi sử dụng TSH
= 1 Nếu người tiêu dùng có hiểu biết
= 0 Nếu người tiêu dùng không hiểu biết
Trang 36+ Biến tổng thu nhập hàng tháng của hộ gia đình (TTN)
Trong đề tài, tổng thu nhập hàng tháng của hộ được hỏi bằng cách hỏi mở, có đơn
vị là đồng/tháng, nó được kỳ vọng có tác động (+) lên biến phụ thuộc WTP, tức khi mức thu nhập tăng lên thì người tiêu dùng sẽ sẵn lòng trả thêm cho 1kg rau xanh nhiều hơn Tuy nhiên, rau xanh là nhu cầu thiết yếu hàng ngày, nên người tiêu dùng cũng có thể sẵn lòng trả thêm để mua một lượng rau sạch đảm bảo sức khỏe của họ mặc dù tổng thu nhập hàng tháng không cao
+ Biến số thành viên trong hộ (SONGUOI)
Biến này được xác định dựa theo số người đang sống trong hộ, được tính theo đầu người, cả người lớn lẫn trẻ em (người được xác định từ 15 tuổi trở xuống) Biến này được
kỳ vọng có tác động (+) đến WTP, tức là khi số người tăng lên thì nhu cầu rau xanh của gia đình cũng tăng, nên họ sẵn lòng trả nhiều hơn
+ Trình độ học vấn (TDHV)
Trình độ học vấn của những người được hỏi khác nhau thì mức sẵn lòng trả của họ cũng khác nhau Biến này được kỳ vọng có tác động (+) lên biến phụ thuộc, tức là khi người tiêu dùng có trình độ học vấn cao hơn người ta nhận thức hơn về việc tiêu dùng các sản phẩm an toàn và khả năng họ sẵn lòng trả cũng cao hơn
3.4.2 Một số phương pháp phân tích chung
Phương pháp so sánh Đề tài sử dụng phương pháp so sánh để đánh giá hiệu quả của TSH với THH
Phương pháp so sánh tuyệt đối (ký hiệu:±Δ) : là việc so sánh chênh lệch chỉ tiêu của kỳ phân tích (hay nhóm đối tượng này) và chỉ tiêu của kỳ gốc (hay nhóm đối tượng khác) bằng hiệu số giữa chỉ tiêu kỳ phân tích ( hay nhóm đối tượng này) so với chỉ tiêu
Trang 37của kỳ gốc (hay nhóm đối tượng khác) cho thấy độ lớn của tăng trưởng hay độ lớn của việc tăng (giảm) thiểu Ví dụ so sánh sự khác nhau về năng suất rau của nhóm hộ sử dụng RSH và nhóm hộ sử dụng THH Tuy nhiên, khi so sánh tuyệt đối một số chỉ tiêu nhạy cảm sẽ không được thể hiện hoặc thể hiện không chính xác Vì vậy, người ta sử dụng chỉ tiêu tương đối để khắc phục nhược điểm này
Phương pháp so sánh tương đối (ký hiệu: %): tỷ lệ phầm trăm của chỉ tiêu chênh lệch giữa kỳ phân tích (hay nhóm đối tượng này) với kỳ gốc (hay nhóm đối tượng khác)
Ở đây chúng ta cũng so sánh các chỉ tiêu trong sản xuất rau của hai nhóm hộ với hai phương thức sử dụng thuốc BVTV khác nhau trong việc bảo vệ cây trồng
3.4.3 Hệ thống các chỉ tiêu được đánh giá trong khóa luận
a) Các chỉ tiêu biểu hiện kết quả sản xuất
Năng suất: là số lượng sản phẩm cuối cùng của quá trình thu hoạch
Doanh thu: là chỉ tiêu được tính bằng tiền, bao gồm tất cả các khoản thu
Doanh thu = sản lượng*giá bán
Lợi nhuận: chỉ tiêu được tính bằng tiền, thể hiện giá trị còn lại sau khi trừ đi mọi khoản chi phí bỏ ra
Lợi nhuận = Σdoanh thu – Σchi phí
Chi phí sản xuất: là chỉ tiêu được tính bằng tiền gồm tất cả các chi phí đầu tư cho quá trình sản xuất
Thu nhập: là phần thu được từ bán các sản phẩm làm ra từ chi phí vật chất và chi phí thuê lao động Do đặc thù của sản xuất nông nghiệp nên nó được tính là khoản lợi nhuận trừ đi công lao động nhà Đây là chỉ tiêu rất quan trọng đối vói nông hộ, qua đó có thể đánh giá mức sống của họ:
Thu nhập = Lợi nhuận + Chi phí lao động nhà
b) Chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả kinh tế
Tỷ suất lợi nhuận theo chi phí sản xuất: Lơị nhuận/ ΣCPSX
Chỉ tiêu này cho biết 1 đồng CPSX bỏ ra thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận
Tỷ suất thu nhập theo chi phí sản xuất: Thu nhập/ ΣCPSX
Chỉ tiêu này cho biết 1 đồng CPSX bỏ ra thu được bao nhiêu đồng thu nhập
Trang 383.4.3 Phương pháp thu thập số liệu
Trang 39
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Thực trạng sử dụng thuốc BVTV và tình hình sản xuất rau tại xã Xuân Phú 4.1.1 Các loại thuốc BVTV hóa học đang được sử dụng tại Xuân Phú
Hiện nay, trên thị trường có rất nhiều loại sản phẩm thuốc BVTV Tuy nhiên, đại
đa số là các chế phẩm hóa học Các loại thuốc BVTV hóa học được nông dân sử dụng trên địa bàn chủ yếu là do người dân được người quen giới thiệu hoặc từ các đại lý bán thuốc tại xã Họ cho biết là ít khi thay đổi thuốc nếu vẫn còn hiệu quả và sâu bệnh không
bị lờn thuốc Đa số người dân có tâm lý sử dụng chuyên một loại thuốc và đó là lý do làm cho họ thường tăng liều dùng hơn là thay đổi thuốc Điều này cũng là một nguyên nhân làm cho thuốc BVTV sinh học (TSH) khó xâm nhập vào thị trường và ít được sử dụng
Bảng 4.1 Các Loại Thuốc BVTV Hóa Học Đang Được Sử Dụng Phổ Biến tại Xuân Phú
Nguồn: Điều tra và tổng hợp
Trang 40Trên đây là tổng hợp các loại thuốc BVTV hóa học (THH) được sử dụng nhiều ở địa phương Các hộ cùng sử dụng các loại thuốc này vì tập quán sản xuất và hình thức truyền thông tin cho nhau Và đây là các loại thuốc nằm trong danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng
4.1.2 Các loại thuốc BVTV sinh học đang được sử dụng tại xã Xuân Phú
Tại xã hiện có hợp tác xã rau Trường An và Liên Hiệp câu lạc bộ năng suất cao Xuân Tiến Hàng năm, dưới sự chỉ đạo của Ủy ban xã và cán bộ nông nghiệp đã tổ chức các buổi tập huấn kỹ thuật trồng rau an toàn và hướng dẫn sử dụng thuốc BVTV cho cây trồng Hiện nay, chỉ có hợp tác xã rau Trường An đảm bảo đầu ra cho các thành viên còn các hộ là thành viên của Liên Hiệp câu lạc bộ thì phải tự tìm đầu ra cho nguồn rau của
mình
Bảng 4.2 Các Loại Thuốc BVTV Sinh Học Đang Sử Dụng Phổ Biến Tại Xuân Phú
hại bắp cải
Nguồn: Điều tra và tổng hợp
thông qua hợp tác xã, Liên Hiệp câu lạc bộ khuyến nông của xã, cũng như sự giới thiệu quảng bá sản phẩm của công ty Theo như điều tra chủ yếu người dân sử dụng thuốc Abatimec 1.8EC, Brightin 1.8EC hai hay ba ngày trước khi thu hoạch rau, theo người dân các chế phẩm này sử dụng rất hiệu quả và không độc hại như THH
4.1.3 Hiện trang canh tác cây rau
Diện tích trồng rau tại xã là 1000 ha, diện tích được phân bố tập trung tại ấp Bình Tiến, Bình Hòa và Bình Xuân 1
Quy mô diện tích của các hộ điều tra được phân thành những khoản diện tích dưới đây theo số liệu thu thập thực tế từ nông hộ